Với việc thực hiện đề tài Kiểu nhân vật hành trình trong tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik của Haruki Murakami, chúng tôi đưa ra một cái nhìn mới về tiểu th
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
=== ===
ngô viết hoàn
kiểu nhân vật hành trình trong tiểu thuyết
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: văn học nớc ngoài
Vinh, 2010
= =
Trang 2Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
=== ===
kiểu nhân vật hành trình trong tiểu thuyết
biên niên ký chim vặn dây cót
khóa luận tốt nghiệp đại học
Trang 3thống nguyên tắc sáng tạo của nhà văn, bao gồm: các thủ pháp tổ chức chất liệungôn từ, phương thức xây dựng nhân vật, thời gian - không gian nghệ thuật,…Tất
cả những điều đó hình thành nên phong cách của một nhà văn Lẽ dĩ nhiên, đối vớinhững nhà văn bậc thầy, việc khám phá thế giới nghệ thuật của họ là một công việchoàn toàn không đơn giản và đòi hỏi nhiều thời gian, trí lực
Với việc thực hiện đề tài Kiểu nhân vật hành trình trong tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik của Haruki Murakami, chúng
tôi đưa ra một cái nhìn mới về tiểu thuyết của ông, góp thêm một tiếng nói nhỏ vàoviệc khẳng định tài năng và tên tuổi của nhà văn xứ sở Phù Tang
Để hoàn thiện đề tài,chúng tôi nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của cácthầy cô giáo là giảng viên khoa Ngữ văn - ĐH Vinh, các bạn bè của chúng tôi ởkhoa Ngữ văn - ĐH SP Huế và ĐHSP TP Hồ Chí Minh; đặc biệt là những gợi mở
và hướng dẫn tận tình của PGS TS Nguyễn Văn Hạnh Nhân dịp khóa luận đượchoàn thành, chúng tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến tất cả quý vị Hy vọng rằng, đây
sẽ là một tài liệu tham khảo tốt với những ai yêu mến Haruki Murakami
Tác giả đề tài Ngô Viết Hoàn
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học lâu đời và giàu có,
nảy sinh trong môi trường rộng lớn từ thủa bình minh của các bộ tộc Nhật Bản,trước khi quốc gia này ra đời Chúng ta không biết ngọn nguồn của văn học thànhvăn Nhật Bản khởi điểm chính xác từ khi nào, chỉ có thể ước định qua những tác
Trang 4phẩm khởi nguyên của văn học Nhật Bản vẫn được đánh giá là kiệt tác cổ điển như
Vạn diệp tập (thế kỷ thứ 8) - thi tuyển tập hợp ba thế kỷ thi ca trước đó của Nhật Bản và các cuốn Cổ sự ký, Nhật Bản thư ký,…Chúng ta cũng biết đến Genji monogatari (Truyện kể Genji) - một trường thiên tiểu thuyết của nữ sĩ cung đình
Nhật Bản Murasaki Shikibu, được xem là tác phẩm đỉnh cao của văn xuôi Nhật Bảnmọi thời đại Và không chỉ có thế, chúng ta còn biết đến những nhà văn kiệt xuấtcủa đất nước mặt trời mọc được nhận giải Nobel văn học như Yasunari Kawabata(vào năm 1968) và Oe Kenzaburo (vào năm 1994) Đến với văn chương Nhật Bảnđương đại, chúng ta lại có dịp thưởng thức những sản phẩm nghệ thuật độc đáo củaHaruki Murakami
1.2 Với hàng loạt tiểu thuyết thuộc vào hàng “Best seller”, tên tuổi của nhàvăn Nhật Bản hiện đại này nhanh chóng trở thành một điểm nóng của văn chươnghậu hiện đại thế giới Sức sống mới từ văn hóa, văn học phương Tây hòa quyện với
Mĩ học thiền và triết lí nhân sinh Nhật Bản đã tạo nên những đặc sắc vô cùng quyến
rũ cho tiểu thuyết của Murakami Ông không chỉ được độc giả phương Đông yêumến mà còn được độc giả phương Tây đón chào nồng nhiệt Điều đó chứng tỏ tàinăng văn chương bậc thầy của nhà văn xứ sở Phù Tang này Ẩn sau lớp phủ của cáichết, tình yêu, nhục thể,…tiểu thuyết Haruki Murakami phản ánh những khát khao
về một sự tồn tại đích thực, sự bình yên trong cuộc sống, sự thăng hoa của tình yêu
và mối quan hệ hòa hợp giữa bản thể với tha nhân
1.3 Văn học hậu hiện đại thế giới có bước chuyển mình mạnh mẽ trong mấychục năm trở lại đây Cùng với đó là sự xuất hiện của những thủ pháp nghệ thuậtkhá mới mẻ như: dòng ý thức, sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, tính đa thanh trongngôn ngữ, những mô típ nhân vật con người với hành trình tìm kiếm bản thể, thiênkhiếu, tình yêu cũng được các nhà văn quan tâm phản ánh Haruki Murakami với
tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik cũng đã xác lập
một thế giới nghệ thuật với những nhân vật hành trình độc đáo, hấp dẫn theo cáchlàm của riêng ông
Dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Murakami nhưng
nó chưa đủ sức để tạo nên một cái nhìn hệ thống cho thi pháp tiểu thuyết của nhàvăn này Trong hiện trạng đó, việc khảo sát kiểu nhân vật hành trình trong tiểu
thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik của Haruki Murakami
Trang 5là hết sức cần thiết, nhằm góp thêm một tiếng nói nhỏ vào việc khẳng định tài năngkiệt xuất của ông.
2 Phạm vi của đề tài
Như tên đề tài đã xác định, phạm vi khảo sát của khóa luận là kiểu nhân vật
hành trình trong hai tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik
Về tư liệu khảo sát, chúng tôi chọn bản dịch Việt ngữ của các dịch giả Trần
Tiễn Cao Đăng (Biên niên ký chim vặn dây cót, Nxb Hội nhà văn, 2006) và Ngân Xuyên (Người tình Sputnik, Nxb Hội nhà văn, 2008).
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Qua việc khảo sát một số kiểu nhân vật hành trình trong hai tác phẩm nóitrên, chỉ ra được những đặc trưng của kiểu nhân vật này trong tiểu thuyết củaHaruki Murakami và ý nghĩa của nó trong việc thể hiện tâm thức Nhật Bản hiện đại
Từ đó thấy được những quan niệm mới của nhà văn về cuộc sống và về con người
3.2 Nhiệm vụ
Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, chỉ ra những tiền đề làm nảy sinh kiểu nhân vật hành trình trongtiểu thuyết Murakami
Thứ hai, Khảo sát, phân loại nhân vật vào một số dạng thức hành trình tiêubiểu, từ đó phân tích khái quát những đặc trưng của kiểu nhân vật hành trình trong
hai tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik.
Thứ ba, Phân tích một số thủ pháp nghệ thuật cơ bản mà nhà văn đã sử dụng
để xây dựng nhân vật hành trình trong tác phẩm
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận của chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: khảosát thông kế, phân loại, phân tích, so sánh đối chiếu, tổng hợp Bên cạnh đó, chúngtôi còn sử dụng phương pháp liên ngành, tức là sử dụng tri thức của Triết học hiệnsinh, Phân tâm học để giải mã đối tượng nghiên cứu của mình
5 Lịch sử vấn đề
Haruki Murakami được xem là một hiện tượng của văn chương Nhật Bảnđương đại Các tác phẩm của ông luôn nhận được sự quan tâm theo dõi của bạn đọc
Trang 6cũng như giới phê bình trên toàn thế giới Trên những tờ báo danh tiếng như New York Observer, The New York Times, Independent on Sunday,…người ta dành cho nhà văn xứ sở hoa anh đào này rất nhiều lời khen ngợi: “Một sự dụng tâm lớn lao
cho nghệ thuật không gì có thể so sánh!” (New York Observer), “Làm thế nào
mà Murakami có thể đạt tới thi ca khi viết về cuộc sống và những cảm xúc đương
đại tôi cảm thấy run rẩy vì ngưỡng mộ” (Independent on Sunday), “Các nhà phê
bình cứ so sánh ông với Raymond Carver, Raymond Chandler, Arthur C.Clarke, Don Delillo, Philip K.Dick, Bret Easton Ellis và Thomas Pynchon, một tập hợp không mấy thuần nhất, chỉ để nói rằng Murakami thực tế là một cái gì thật độc đáo” (The New York Times),
Bên cạnh đó hàng loạt các bài nghiên cứu của các tác giả khác cũng đồng
loạt xuất hiện Từ Katherine Knorr với Một tiểu thuyết gia Nhật Bản trong hành trình tìm kiếm những lý tưởng đã mất đăng trên Diễn đàn Người đưa tin Quốc tế đến Khoảng không gian tinh thần – Những điều kì lạ bên trong những thế giới Haruki Murakami đăng trên Báo thành phố Philadelphia, Mĩ, tháng 12.1997… Tất
cả đều hướng đến việc công nhận tài năng của Murakami Các bài luận văn nghiên
cứu về Murakami cũng xuất hiện khá nhiều, đáng kể nhất có thể nói là Haruki Murakami và Nhật Bản ngày nay của Aoki Tamotsu xuất bản tại Xưởng in Đại học
Hawaii – tháng 12.1996
Tính đến nay, có khoảng 10 cuốn sách có giá trị viết về Haruki Murakami và
các tác phẩm của ông Từ Tiểu thuyết mới Nhật Bản: Văn hóa đại chúng và văn học truyền thống trong sáng tác của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto của Giorgio Amitrano (NXB Cheng & Tsui, 26.01.1996), Khiêu vũ với cừu: Đi tìm sự đồng nhất trong tiểu thuyết của Haruki Murakami của Matthew Carl Strecher (Trung tâm Nhật Bản, Đại học Michigan, tháng 03.2002) đến Haruki Murakami và
âm nhạc của ngôn từ của Jay Rubin (NXB Vintage, 06.01.2005)…
Ở Việt Nam, vào năm 1996, Rừng Nauy là tác phẩm đầu tiên của HarukiMurakami được chuyển ngữ và giới thiệu Tác phẩm ngay lập tức thu hút sự quantâm của độc giả cũng như giới nghiên cứu trên các diễn đàn của văn chương Việt.Tiếp sau đó, các cuốn tiểu thuyết của ông liên tục được chuyển ngữ và ra mắt bạnđọc
Trang 7Ngày 17/03/2007, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo về việc chuyển dịch và xuấtbản các tác phẩm của hai tác giả Nhật Bản với chủ đề “Thế giới của HarukiMurakami và Banana Yoshimoto” Tại đây, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số ý
kiến đáng chú ý sau đây: “Khi nhắc đến văn học Nhật Bản, người ta thường nghĩ đến Kimino và hoa anh đào Tuy nhiên, Murakami là nhà văn của thế kỷ 21 và ông viết những gì đang diễn ra ở Nhật Bản Tác phẩm của ông thấm đẫm bản sắc Nhật Bản” (Nhật Chiêu) và “Nói đến văn học Nhật Bản, điều đầu tiên người ta nghĩ đến
là võ sĩ đạo, trà đạo, Kimono Cũng như nói đến Việt Nam, người ta sẽ liên tưởng đến chiến tranh Việt Nam Các nhà văn Việt Nam nên lấy các tác phẩm của Murakami làm tiền lệ để suy nghĩ xem bản sắc là cái gì và làm thế nào để có được một tác phẩm lớn” (Trần Tiễn Cao Đăng).
“The Wind – Up Bird Chronicle” là bản dịch tiếng Anh của “Nejimaki-dori kuronikuru” , tức Biên niên ký chim vặn dây cót, xuất bản ở Nhật năm 1992 Jay
Rubin chuyển ngữ sang Anh ngữ, xuất bản ở Mỹ cuối năm 1994 đầu năm 1995(NXB Knopf ấn hành) Dường như ngay lập tức tên tuổi của Murakami được nânglên tầm thế giới và có lẽ người đọc ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương tôn sùngông như một nhà tiểu thuyết Nhật Bản đáng được nhắc đến nhiều nhất Các động
thái tiếp nhận "The Wind - Up Bird Chronicle" gần như thuần nhất, độc giả thế giới
nhận ra được những giá trị “vượt ngưỡng” mà một tác phẩm văn học có thể đạt
được "The Wind - Up Bird Chronicle", do vậy, đã làm tốn khá nhiều giấy mực của
các tạp chí lớn trên thế giới Các trang Web về sách đưa tên ông lên hàng đầu, cácbài giới thiệu, các cuộc trả lời phỏng vấn, các bài luận văn ở giảng đường đại học…
tất cả đều muốn nói đến "The Wind - Up Bird Chronicle" của Murakami: “Tác phẩm
là một sự khó hiểu có chủ ý, một sự khó hiểu của hình ảnh phi lý, thế giới phi lý Nó không dễ đọc, nhưng không bao giờ không hấp dẫn” (Phoebe – Lou Adams,
“Nguyệt san Đại Tây Dương”), "Biên niên kí chim vặn dây cót" có trong nó những
cơn bão, chủ yếu trong sự sáng tạo không bằng phẳng của nó” (Jamie James, “The
New York Times”)…Diễn đàn văn chương Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu “nhập cuộc” khi bản dịch “Biên niên kí chim vặn dây cót” của Trần Tiễn Cao Đăng được
nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Nhã Nam ấn hành năm 2006 Dịch giả của cuốn sách
đã đánh giá: “…có lẽ chỉ với một tiểu thuyết “nặng kí” như “Biên niên kí chim vặn dây cót”, tầm vóc của Murakami như một nhà văn của thứ “văn chương lớn” mới
Trang 8bộc lộ đầy đủ trước người đọc tất cả sự đồ sộ và phức tạp của nó” Một số nhà
nghiên cứu khác cũng đồng tình với Trần Tiễn Cao Đăng về giá trị của cuốn sách và
ra sức giới thiệu nó như một cuốn sách “đáng đọc”
Người tình Sputnik thì được nhắc đến ít hơn, nhưng cũng hết sức được ca
ngợi Guardian bày tỏ: “Người tình Sputnik đã khiến tôi xúc động và đẩy trí tưởng tượng của tôi đi xa hơn bất cứ cuốn sách nào tôi từng đọc trong suốt một quãng thời gian dài” Sunday Heral lại cho rằng: “Một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời, nhẹ tựa lông hồng nhưng cũng buồn đến nao nòng” Trên các diễn đàn văn học ở Việt Nam
và một số báo chí, chúng ta cũng thấy xuất hiện những bài giới thiệu hay nghiên
cứu như: Người tình Sputnik - Sự cô độc của kiếp người (Hạnh Linh) hay Con người đa ngã trong Người tình Sputnik (Trần Tố Loan),…
Như vậy, có thể thấy rằng, tiểu thuyết Haruki Murakami nói chung, Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik nói riêng được các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước hết sức quan tâm Tuy vậy vấn đề mà chúng tôi đề cập - kiểunhân vật hành trình trong các tiểu thuyết này còn khá mới mẻ và chưa được quantâm nghiên cứu
6 Đóng góp mới của khóa luận
Đặt hai tác phẩm vào hoàn cảnh xã hội, triết học trong một cái nhìn chỉnh
thể, luận văn chỉ ra được các kiểu nhân vật hành trình xuất hiện trong Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik Và phân tích các mô hình kiểu nhân vật
này trên hai phương diện: giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mỹ
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những tiền đề cho sự xuất hiện kiểu nhân vật hành trình trongtrong tiểu thuyết Haruki Murakami
Chương 2: Các kiểu nhân vật hành trình trong Biên niên ký chim vặn dây cót
và Người tình Sputnik của Haruki Murakami
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật hành trình trong Biên niên ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik
Trang 9Chương 1 Những tiền đề cho sự xuất hiện kiểu nhân vật hành trình
trong tiểu thuyết Haruki Murakami
1.1 Những tiền đề xã hội
Trang 101.1.1 Hoàn cảnh hậu hiện đại
Thời hiện đại, cái từ đó có âm hưởng chừng như sẽ tồn tại mãi mãi đã nhanhchóng trở thành một điều thuộc về quá khứ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóavới quy mô lớn và nhịp độ ngày càng cao đã mở ra những chân trời mới vô tận, mởlối cho Hậu – công nghiệp hóa, hiện đại hóa Lao động chân tay trong các côngxưởng, nhà máy đang chuyển dần về các văn phòng với những thiết bị kĩ thuậtchuyên dụng công nghệ cao Trong lĩnh vực văn hóa, xu hướng quốc tế hóa nền vănhóa của các quốc gia, dân tộc, vùng lãnh thổ đang dẫn đến sự kết hợp của nhiềutruyền thống trong một nền văn hóa Ngay cả những người tự cho mình là nhữngnghệ sĩ và kiến trúc sư của mọi thời đại cũng đang nhìn ngoái ra sau hay hai bêncạnh để quyết định xem những phong cách và giá trị nào họ sẽ tiếp tục Và đó chính
là những dấu ấn khách quan đưa đến sự hình thành và phát triển của các khái niệm
“Chủ nghĩa hậu hiện đại”, “tâm thức hậu hiện đại” và “hoàn cảnh hậu hiện đại”
Về phương diện lí thuyết, chủ nghĩa hậu hiện đại đến từ phương Tây với cácđại diện tiêu biểu là J.F Lyotard, P Anderson, T Eagleton, F Jameson, J.Baudrillard, I Hassan,…Có thể hiểu hậu hiện đại ra đời vào thập kỉ 60 của thế kỉ 20như là một sự phản ứng lại chủ nghĩa hiện đại, phản ứng lại những mô thức địnhsẵn Tiền tố “Post” (sau) ở đây, không có nghĩa chỉ một tiến trình lịch sử, cái này rađời thì cái kia biến mất mà là một sự phản ứng trở lại Cho nên, theo nhiều nhànghiên cứu, “Hậu hiện đại” là một khái niệm phi thời, nghĩa là trong bất kì xã hộinào, thời kì nào có sự khủng hoảng tinh thần cũng có thể tồn tại tinh thần hậu hiệnđại, có chăng, ở những giai đoạn gần đây, tinh thần ấy nổi trội, đậm đặc và ở nhiềunơi trở thành chủ đạo mà thôi Hậu hiện đại mang tinh thần thời đại chứ không chỉthuần là văn nghệ như một số trào lưu khác (Tượng trưng, Siêu thực,…) Vì lẽ đó,
J.F Lyotard khẳng định: “Tâm thức của một thế hệ bộc lộ rõ rệt nhất trong các loại hình nghệ thuật cùng với sự phê bình nghệ thuật và mỹ học Tuy nhiên, cũng cần đặt nó vào trong bối cảnh chính trị - xã hội rộng lớn hơn của thời đại , để từ đó, có thể hiểu mối quan hệ giữa “hiện đại” và “hậu - hiện đại” một cách đúng đắn hơn
so với cách hiểu vội vã và đơn giản về chữ “hậu” như nhát cắt về phân kỳ lịch sử, qua đó “hiện đại” trở thành cái bung xung cho tất cả những gì cũ kĩ, còn “hậu- hiện đại” là cái gì mới mẻ, hấp dẫn” [32,13].
Trang 11Từ đó, ông tiếp tục nhấn mạnh: “Điều quan trọng nhất ở đây là không được đánh đồng khái niệm “Hiện đại” với những giá trị của thời Hiện đại: Sự khai minh, Chủ nghĩa nhân đạo, Sự khai phóng,…Chỉ có như thế, khái niệm “Hậu-hiện đại” mới chứng tỏ là một khái niệm “chiến lược” để giữ khoảng cách với những biện pháp đã được thử nghiệm suốt mấy thế kỉ nhằm hiện thực hóa các giá trị của hiện đại” [32,13].
Vào thế kỉ 16, châu Âu bước vào một tiến trình hiện đại hóa đến nay vẫnchưa kết thúc Hạt nhân của tiến trình hiện đại hóa là giải phóng cá nhân ra khỏinhững bối cảnh tiền-hiện đại và cá nhân tự do trở thành điểm xuất phát của mọi biếnđổi về cấu trúc kinh tế, xã hội cùng với nhu cầu “hợp thức hóa” chúng về mặt triếthọc và hệ tư tưởng Trước hết là những phong trào cách mạng giải phóng quốc gia,dân tộc khỏi sự áp bức, đô hộ của quốc gia dân tộc khác Các phong trào này diễn rasôi nổi ở nhiều nơi trong những khoảng thời gian dài và thực sự nó đã làm thay đổidiện mạo chính trị, hình thái xã hội toàn cầu, hình thành cái gọi là “thế giới mới”.Tuy vậy, vấn đề cốt lõi nhất là cá nhân tự do vẫn chưa được giải quyết Trong tìnhhình đó, những cuộc cách mạng về khoa học kĩ thuật được phát động rầm rộ và pháttriển nhanh chóng với ham muốn giải phóng sức lao động của con người, đồng thờitạo ra nguồn của cải vật chất to lớn Cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra mộtkhối lượng vật chất to lớn hơn tất cả lượng vật chất của các xã hội trước đây cộnglại Thế nhưng, nó cũng làm nảy sinh những vấn đề mới, cản trở quá trình tự do hóacon người, đó là sự bóc lột về giá trị thặng dư, sự lũng đoạn và thao túng về nguyênliệu sản xuất, về thị trường của chủ nghĩa tư bản; kéo theo đó là những vấn đề như:cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu,…
Bên cạnh đó, nhiều hình thức cách tân về xã hội và hệ tư tưởng mang danh
“hiện đại”, nhưng thực chất là “tiền-hiện đại”, hay nói khác đi, vẫn chưa thực sự cóđược những hình thức xã hội thích hợp của những cá nhân tự do Những phong tràođòi tự do nhân quyền, dân quyền liên tục diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới và cảnhững bộ luật nhân quyền cũng đã ra đời, thế nhưng những quyền cơ bản nhất củacon người vẫn chưa được đảm bảo, thậm chí còn bị xâm phạm nặng nề hơn
Trong giáo dục, yếu tố nhân văn có nhiều phai nhạt, bởi vì dường như conngười ngày nay chỉ cần ngồi trước máy vi tính nối mạng là có thể thu nhập hầu hếtcác thông tin và tri thức Thượng đế đã chết, con người trở nên rất hoài nghi Nhà
Trang 12phê bình Hoa Kì gốc Ai Cập-Charles Newman-cho rằng, “Chúng ta đã giết chếtthần thánh của mình…, chúng ta không còn gì hết, cái gì cũng tạm thời, không hoàn
chỉnh, do mình làm nên, chúng ta xây dựng sự phát ngôn trên cõi hư vô” (Sự chuyển hướng về hậu hiện đại-Dẫn theo Phương Lựu) Ông cũng khẳng định rằng:
“Tri thức tăng vọt, khiến mắt người không dễ nhận thấy, phát hiện ra vạn sự vạn vậtvới biết bao nhiêu cách nhìn khác nhau đều có thể biện minh được tất, cảm thấy khó
mà nắm bắt được tất cả” (Không khí hậu hiện đại-Dẫn theo Phương lựu) [6, 72].
Đánh giá khái quát về quá trình hiện đại hóa của nhân loại trong suốt thế kỉ
qua, PGS TS Trương Đăng Dung cho rằng: “Một thế kỉ đã khép lại Một thế kỉ mà trí năng đã tỏ ra bất lực trước đời sống và mọi sự lí giải về đời sống dường như chống lại đời sống Một thế kỉ đối diện với nghèo đói, bạo lực, ô nhiễm môi trường
và cô đơn tập thể cùng với sự bất khả kháng của con người đã trở thành trạng thái phổ biến của thế giới, sự phân cực nhanh chóng của các hệ thống quyền lực Trật
tự thế giới luôn luôn được điều chỉnh trước những biến động chính trị, nhưng con người hiện đại thì bị lãng quên ngay trong chính những việc mà người ta vẫn thực hiện nhân danh lợi ích của con người Một thế kỉ mà loài người vẫn chưa tìm ra chìa khóa đích thực mở đường cho tiến bộ xã hội; và bản thân đời sống hiện đại, về một phương diện nào đó, vẫn chỉ là sự kéo dài của những giá trị thời Trung cổ, trong những hình thức mới của nó mà thôi Sự khủng hoảng của thế kỉ 20 không chỉ
là sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu, không chỉ là cuộc chiến tinh thần đích thực…” [Có một thời kì văn học như thế ở Hungary, Tạp chí nghiên cứu văn
học, Số 10-2005, tr.5]
Rõ ràng, tiến trình hiện đại hóa ấy luôn bị cản trở và đe dọa bởi những môhình tiền-hiện đại chưa chịu chết hẳn Thay chỗ cho những mối quan hệ tiền-tư bảnchủ nghĩa và tiền-hiện đại là giá trị trao đổi, nay trở thành hình thức của sự tha hóa
“bản tính con người” (K Marx) và nảy sinh nhu cầu kêu đòi những hình thức “nhânđạo hơn” trong các quan hệ xã hội Trong bối cảnh đó, “tâm thức-hậu hiện đại” làmột nỗ lực mới nhằm thức tỉnh trước những nguy cơ và cám dỗ để tiếp tục suytưởng và kiến tạo những hình thức mới, phù hợp hơn, để “cứu vãn” và bảo vệnhững giá trị đích thực của hiện đại: sự tự do và sự khai phóng của cá nhân Vậy
“Tâm thức hậu-hiện đại” hay “Hoàn cảnh hậu-hiện đại” được xác định như thế nào?
Và nó đã làm nảy sinh những chuyển biến gì?
Trang 13J.F Lyotard cho rằng: “Việc hợp thức hóa cho tri thức khoa học đã biến đổi tận gốc rễ…Tri thức này không còn có thể quay trở lại cầu viện các đại tự sự (Grands récits) của Hiện đại, tức các hệ thống lí luận làm vai trò của các “siêu ngôn ngữ” hay “siêu-tự sự” để chứng thực, để mang lại tính chính đáng, hay, nói cách khác, để hợp thức hóa cho nó, bởi các đại-tự sự này không còn đáng tin nữa Điều nghịch lý ở đây là: chính bản thân khoa học,- tự hợp thức hóa hay đi tìm tính chính đáng của mình trong khuôn khổ các “đại-tự sự” ấy – ddaxddawtj nghi vấn
về tính chính đáng hay tính tin cậy cảu các “đại-tự sự” này Lí do thật đễ hiểu: Khoa học, ngay từ đầu, đã xung đột với những tự sự (hay những chuyện kể) so với các tiêu chuẩn riêng của nó, hầu hết những tự sự đều là huyền thuyết” [32, 22-23].
Trên cơ sở đó, ông chỉ ra những đặc điểm của “Hoàn cảnh hậu hiện đại” trên hai nét
lớn: Sự thay đổi mô hình “hợp thức hóa” khoa học từ thời cận đại và Sự khủng hoảng và không còn đáng tin của các “Đại-tự sự” Trong đó, ông chú ý đến ba
“đại-tự sự”: Phép biện chứng của tinh thần; Thông diễn học (herméneutique) về ýnghĩa; Sự giải phóng chủ thể lý tính và lao động
Dùng nhóm chữ “Grands récits”, Lyotard nói đến những hệ thống ý thức chủ
đạo như những cái khung bao trùm và chi phối mọi vận động tinh thần của một haynhững thời đại khác nhau nổi bật và còn ảnh hưởng đến hôm nay là niềm tin rằng trithức giải phóng con người ; niềm tin vào sự tiến hóa qua nhãn quan Darwin; ý thức
hệ duy vật chủ nghĩa Marxist, phân tâm học của Freud,…Lyotard nhìn thấy rằng,
những Grands récits có khả năng trói buộc thân xác và tư tưởng con người vào những hạn chế chật hẹp và mù lòa Trong sự kiềm tỏa của những Grands récits con
người không thể nhìn thấy và phát biểu một cách độc lập Cái “hiện thực” họ chứngkiến, lĩnh hội và mô ta không phải cái hiện thực như nó là, mà là cái “hiện thực” bị
gò ép phải nhìn thấy, hiểu và kể lại qua những “Grands récits” Ông thấy cần phảiđánh đổ những “Grands récits” và thay vào đó bằng những “petits récits” (tiểu tựsự), qua đó con người “tự kể chuyện mình”; tự tư duy và hành động như một phảnứng riêng tư trước những vấn đề cụ thể và cấp thiết chứ không nhắm đến một thứ trithức mang tính quy luật, phổ quát Trong lĩnh vực hành ngôn, điều ấy tương ứngvới ý nghĩa rằng: trong trò chơi với cuộc sống, con người đóng trọn vai trò củamình với tất cả năng lực và điều kiện có trong tầm tay Tựu trung lại, khát vọng về
Trang 14sự giải phóng của tự ngã khỏi sức mạnh mù lòa của vô thức tập thể, chính là đặctrưng của cảm thức con người hậu hiện đại.
Văn học lấy hiện thực cuộc sống làm chất liệu sáng tạo đồng thời cũng là đốitượng phải ánh và hướng đến Bởi vậy, đứng trước những biến chuyển to lớn của xãhội hậu-hiện đại, nhất là về mặt cảm quan và tư tưởng; tự thân văn học phải cónhững thao tác làm mới mình trên tất cả mọi phương diện từ chủ đề, đề tài, quanđiểm sáng tạo, nhân vật, cốt truyện,… mà rõ rệt nhất là những phương thức hay thủpháp thể hiện Thao tác chuyển hóa từ “Grands récits” sang “petits récits” đượcbiểu hiện khá rõ rệt qua hai hành động của văn học: trước tiên là hành động đập vỡthành từng mảnh những hình ảnh, ý niệm, hệ thống và giá trị của trật tự cũ; kế đến
là hành động xếp những mảnh vụn ấy theo một trật tự mới-một trật tự chủ quan đầytính sáng tạo và bất khả đoán, chứ không phải thứ trật tự dựa trên những ý niệm vềvăn thể và thi pháp cũ
Rõ ràng, những sự chuyển dịch, những sự phủ định, các cuộc hành trình kiếmtìm những chân trời mới nhằm thực hiện tự do hóa cá nhân một cách triệt để đã vàđang được phải ánh ngày một nhiều thêm trong văn học, định hình những kiểu-hìnhthức sáng tác mới, những motif và thủ pháp nghệ thuật mới Hơn bao giờ hết, thể tàitiểu thuyết tỏ ra có một năng lực dồi dào và mạnh mẽ trong việc phản ánh đời sống,nhất là đời sống tinh thần con người hậu hiện đại một cách hiệu quả nhất
Con người hậu hiện đại hay con người toàn nguyên đã được các học thuyết tưtưởng và triết học hậu hiện đại xác lập với những bản thể: lí tính, bản năng, vô thức,tiềm thức cũng đã và đang được thể hiện trong văn chương rõ rệt hơn bao giờ hết
Sự “mổ xẻ”, cắt lớp, tách phân những hiện tượng tinh thần của con người ngày càngtrở thành đề tài thú vị đối với các nhà văn Chính trong hoàn cảnh ấy, văn học tínhdục, văn học hiện sinh hay kiểu nhân vật hành trình, kiểu nhân vật con người bất an
và xa lạ trước cuộc sống, kiểu nhân vật con người tha hóa được hình thành và trởthành những hiện tượng văn học hết sức độc đáo và quyến rũ
1.1.2 Tâm thức Nhật Bản sau thế chiến thứ hai
Nhật Bản, với những tên gọi diễm lệ như “đất nước mặt trời mọc”, “xứ sởhoa anh đào”, “đất nước hoa cúc” hay “xứ Phù Tang” là một quốc gia hải đảo hìnhvòng cung, nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa Á châu, được biết đến như là
Trang 15dân tộc có nền văn hóa đa dạng, phong phú và đặc sắc bậc nhất thế giới với nhữngTrà đạo và Kimono, Nghệ thuật vườn cảnh và Ikebana, kịch No và Geisha,…NhậtBản còn được biết đến trong tư cách là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học côngnghệ và là nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu.
Xứ sở hoa anh đào
Có nhiều huyền thoại Nhật Bản đã trả lời cụ thể câu hỏi- Quốc gia Nhật đượchình thành từ bao giờ? Jimmu, vị hoàng đế đầu tiên của Nhật lên ngôi ngày 11tháng hai năm 660 (TCN) trước cung điện của nhà vua ở Yamato Lịch sử Nhật Bảnqua các thời kỳ Nara, Heian, Ashikaga, Kamakura, Tokugawa, Minh Trị cho đếnNhật Bản hiện đại cũng như nhiều quốc gia khác trải qua nhiều biến động và thăngtrầm, mỗi thời kì lại có những đặc điểm riêng biệt, nhiều lí thú Trong khuôn khổkhóa luận, chúng tôi không đi vào phân tích một cách cụ thể lịch sử Nhật Bản quatừng thời kì mà chỉ điểm xuyết trên những nét cơ bản nhất về lịch sử, xã hội và tâmthức con người Nhật Bản từ sau thế chiến thứ hai, để thấy được những tiền đề quan
Trang 16trọng góp phần vào việc hình thành những đặc trưng của văn học hiện đại-hậu hiệnđại Nhật Bản mà trước hết là kiểu nhân vật hành trình.
Tuy nhiên, trước hết hãy ngược trở lại nước Nhật dưới thời Minh Trị vớinhững chính sách hiện đại hóa Trên bối cảnh 300 năm thời đầu lịch sử Nhật Bảnhiện đại, triều đại Minh Trị hoàng đế (1867-1912) nổi lên như một thời đại quyếttâm hiện đại hóa một cách thận trọng Suốt trong thời kì Tokugawa, một số điềukiện đi trước cho hiện đại hóa đã được phát triển Tuy cực kì quan trọng nhưngnhững điều kiện đi trước đó chỉ là ngẫu nhiên, vì những khái niệm như hiện đại hóa
và tiến bộ chưa bao giờ được đặt ra một cách có ý thức làm mục tiêu của chínhquyền Đến thời Minh Trị, chính quyền và nhân dân Nhật Bản đã tự đặt cho mìnhnhiềm vụ đầy tham vọng là quyết tâm đuổi kịp những quốc gia tiên tiến về mặt kĩthuật ở phương Tây và trong quá trình cố gắng thực hiện mục tiêu trên, quân thầnNhật Bản đã thu hút đầy đủ nền văn minh phương Tây để tác động sâu sắc đến mọitầng lớp Sự thay đổi từ chấp nhận không suy nghĩ những thái độ, cách làm truyềnthống cũ, đến thận trọng học theo những mục tiêu mới, đã đánh dấu một bước quyếtđịnh, cắt đứt với quá khứ Những bước chuyển mình “thần kỳ” về kinh tế, văn hóa,
xã hội,nhất là về khoa học-công nghệ đã đưa Nhật Bản lên hàng những cường quốcthế giới như chúng tôi đã trình bày ở trên Song cũng chính những thành tựu to lớn
ấy đã khắc sâu trong tâm trí người Nhật sự tự tin thái quá, niềm kiêu ngạo và coithường các quốc gia khác Cái giá mà họ phải trả cho hành động đó của mình quảthực là quá đắt
Suốt trong mười lăm năm kể từ 1937 đến 1952, Nhật Bản đã trải qua mộtthời kì đầy biến động với biết bao nhiêu sự kiện đáng ghi nhớ Mở đầu là cuộc xâmlấn Trung Hoa, một việc làm đầu tiên trong lịch sử lâu dài của Nhật Bản, tiếp theo,vào tháng Chạp 1941, một trận đột kích bất thần bằng vũ khí không lực tối tân đểtấn công vào một cường quốc kinh tế mạnh nhất thế giới cùng việc đưa quân đếnnhững vùng xa xôi hẻo lánh như Miến Điện, Sumatra, New Guinea và quần đảoSolomon Trong những năm cuối thập kỉ 30 và đầu thập kỉ 40, các nhà lãnh đạoNhật Bản thường dùng vũ lực để giải quyết những vấn đề có liên quan đến mốibang giao của Nhật với các quốc gia khác Việc đánh giá sai lầm về ý chí chiến đấuchống lại xâm lăng của người nước ngoài cộng với lòng tin quá đáng không kémvào tinh thần của người Nhật Bài thuyết giảng về trật tự đạo đức mới ở Đông Á và
Trang 17một vùng rộng lớn, nhiệt tình sôi nổi của những người dân tộc chủ nghĩa cực đoanbùng lên tiếp theo những trận ra quân đầu tiên và sự ủng hộ cho cái đà tiến lên củaquân lực Nhật, tất cả đã sụp đổ sau khi Nhật bị thất bại Lực lượng của Nhật gặpnhững lực lượng mạnh hơn trên không, dưới biển và trên đất liền, đã đưa đất nướcđến thất bại thảm hại vào tháng Tám năm 1945 Nhật Bản hiện đại đã phải chứngkiến những ngày mà cả dân tộc rơi vào tình trạng buồn thảm do tác động của sự bạitrận trong thế chiến thứ hai và sự sụp đổ của chủ nghĩa quân phiệt Nước Nhật bị tànphá, tâm lí thất vọng, hoài nghi ám ảnh mọi người dân.
Bảy ngày sau khi Mĩ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Đếquốc Nhật Bản kí giấy đầu hàng vô điều kiện và kết thúc chiến tranh với phe Đồng
Minh bằng tuyên bố Potsdam Thiên hoàng Hirohito đã nói: “Hơn nữa quân thù đã bắt đầu đem ra sử dụng loại bom kinh khủng mới nhất mà sức mạnh tàn phá của nó thực sự không lường được đã gây ra cái chết của nhiều sinh mạng vô tội Nếu chúng ta tiếp tục chống trả, không chỉ quốc gia Nhật Bản bị sụp đổ nhanh chóng và
bị tiêu diệt mà có thể dẫn đến sự tuyệt chủng hoàn toàn văn minh của loài người Nếu điều đó xảy ra, Trẫm sẽ phải cứu lấy hàng triệu con dân như thế nào và trả lời sao trước giông linh của liệt tổ hoàng triều? Chính vì lí do này Trẫm đã ra lệnh chấp nhận các điều khoản trong tuyên bố chung của các cường quốc”
Kể từ nỗi đau khắc khoải đó, bằng những chính sách phù hợp, kinh tế NhậtBản đã nhanh chóng phục hồi trong giai đoạn 1945-1954; tăng trưởng cao trongnhững năm 1955 -1973 Và đúng như Tướng Douglas MacAthur, tư lệnh tối cao lựclượng Đồng Minh tại tây nam Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai
sau này có phát biểu về chính quyền mới và thời kì mới của Nhật Bản như sau: “Kể
từ khi chiến tranh, nhân dân Nhật Bản đã trải qua một cuộc cải tổ lớn lao nhất được ghi trong lịch sử hiện đại Bằng một lí trí đáng phục, sự hăng say học hỏi, khả năng hiểu biết đáng ghi nhận, họ đã từ đống tro tàn để lại sau cuộc chiến vươn lên thành những dinh thự đại diện cho sự siêu đẳng của tự do cá nhân và phẩm chất
của con người…”
Đất nước Nhật Bản - cái thân xác bề ngoài - đã tái sinh và trở nên rạng rỡhơn bao giờ hết trước ánh nắng mặt trời Thế nhưng, dân tộc Nhật Bản - cái phầnhồn sâu thẳm bên trong - liệu đã thực sự hồi sinh? Sự thật là biết bao năm sau khichiến tranh kết thúc, nước Nhật bước những bước dài trong lịch sử nhân loại và trở
Trang 18thành niềm ngưỡng mộ, là ước mơ của nhiều quốc gia khác, nhưng bên trong cáisiêu cường ấy, những cơn đau vẫn âm ỉ từng ngày, những ung nhọt vẫn hành hạkhông nguôi Không còn nữa hình ảnh những Samurai oai hùng, một thời là niềm tựhào kiêu ngạo của người dân Nhật Bản Thay vào đó là hình ảnh ngày một nhiềuthêm những thanh niên Nhật sống không mục đích, không lí trí và thậm chí là lốbịch Thảm bại nặng nề của đất nước “mặt trời mọc” tưởng rằng sẽ được vá lành,được xua tan bởi sự tăng trưởng “thần kỳ” về mặt kinh tế Thực tế hoàn toàn ngượclại, nó thực sự đã trở thành nỗi nhục khôn cùng, một chấn thương tâm lý đau đớn
mà có lẽ là đau đớn nhất trong toàn bộ chiều dài lịch sử của nước Nhật Thiên địabốn mùa xuân qua thu lại, cái lạnh băng giá mùa đông hay cái nóng nực oi bức mùa
hè rồi cũng sớm qua đi và thay vào đó là một bầu trời trong xanh đầy sức sống Vàcái xứ sở này những tưởng đã có thể quên đi chấn thương ấy bằng việc tự thỏa mãnvới những bước phát triển thần tốc về kinh tế xã hội trong thập niên 80 của thế kỉ
20 Nhưng như một điển hình cho sự rối loạn tinh thần tập thể, ở bên cạnh và ở bêntrong sự tự mãn Nhật Bản ấy, vẫn phổ biến một tâm trạng vỡ mộng, chia cắt vàhoang mang
Tân thế kỉ với những biến chuyển trên tất cả mọi phương diện, mọi lĩnh vực
ở quy mô toàn cầu đã rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, dân tộc Hơn bao giờhết, quốc gia này có thể chạm tới và tiếp thu những văn hóa mới của quốc gia khác.Nhật Bản cũng cuốn mình mạnh mẽ trong dòng đối lưu ấy một cách hết sức chủđộng Xứ sở hoa anh đào hồ hởi mở mình hết cỡ để đón nhận văn hóa Tây phương.Người ta vui mừng vì Nhật Bản giờ đây hiện đại và văn minh chả kém gì Âu châuhay Mĩ quốc; nhưng rồi người ta lại hoang mang, lo sợ tột cùng Bởi chưa bao giờvăn hóa truyền thống Nhật Bản lại mong manh và dễ vỡ hơn thế Người ta tìm lạivới cố đô xưa, với trà đạo, geisha hay kịch No mong được thấy mình là một ngườiNhật thực sự và sống trong bầu không khí Nhật thực sự Nhưng phút giây ấy nào cóbao nhiêu, rồi người ta lại hối hả với đầu tư, với chứng khoán, bất động sản hayxuất nhập khẩu và biết bao lo toan thường nhật Trong vòng xoáy điên cuồng ấy, cónhững lúc người ta đã tạm quên đi về một Nhật Bản diễm lệ thủa nào Rồi chợtngười ta bừng tỉnh và thấy mình xa lạ với chính mình, thấy mình dường như thiêuthiếu một cái gì đó Thế là thanh niên Nhật đi tìm, cả xã hội Nhật đi tìm, mỗi ngườimột mục đích, mỗi người một hướng đi, nhưng tất cả họ đều thiết tha một ngày
Trang 19được cười tiếng cười nước Nhật và thở bầu không khí Nhật Bản Nhưng tiếc rằng,
bộ Kimono thủa nào đã bị bỏ quên một thời gian quá lâu rồi, người ta chẳng thể nàotìm thấy lại một cách trọn vẹn cái hồn xa xưa Nhật Bản Và vì vậy, người ta chớivới, phân vân và mất phương hướng Thanh niên Nhật hoảng hốt kiếm tìm cảm giácxác thực về sự tồn tại của bản thân, tìm cái tôi đích thực của chính mình Và đóchính là tâm thức Nhật Bản sau thế chiến thứ hai, cũng là cái hoàn cảnh hậu-hiệnđại mang tên “đất nước hoa cúc”
Một cách tự nhiên, cái tâm thức thời đại ấy đã đi vào văn chương Nhật Bảnthật nhẹ nhàng, tinh tế mà vô cùng sâu sắc Nhà văn đạt giải Nobel văn học đầu tiêncủa nước Nhật – Y Kawabata cũng đã từng thảng thốt rằng: “từ bây giờ tôi sẽ chỉviết bi ca” Và trong diễn từ Nobel, đọc ngày 12.12.1968, J Kawabata tự nhận mình
là người “sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản” Ông thường hay nói đến vẻ đẹp Nhật Nhàvăn muốn nhấn mạnh không phải cái cảm giác bình thường, mà cảm giác đặc biệt
về cái đẹp Có cảm tưởng như mục đích chủ yếu của đời ông là đi tìm cái đẹp.Thậm chí không phải đi tìm , mà là nhìn vào , nhìn một cách tò mò chăm chú đểphát hiện ra cái đẹp bên trong
Trong các sáng tác của mình, J kawabata đã xây dựng hình ảnh những người
lữ khách ra đi tìm kiếm cái đẹp và chân lý của cuộc sống, của số phận mỗi conngười Theo những cuộc hành trình ấy của các nhân vật trong tác phẩm của ông,người ta trở về với một cố đô cổ kính và xinh đẹp, người ta thấy được những mĩ nữgeisha duyên dáng, nhẹ nhàng với những vẻ đẹp trong trắng đầy bí ẩn,…Có thể nói,
J Kawabata đã dụng công hết sức có thể cái tài năng thiên bẩm của mình để phục
sinh văn hóa truyền thống Nhật Bản như những gì ông đã nói: “Trong những lời này có thể nhận thấy tư tưởng của Nhật Bản, hay đúng hơn của phương Đông, về
“Hư vô”, “Không tồn” Và trong những tác phẩm của tôi các nhà phê bình cũng tìm thấy cái Hư vô đó Nhưng cái Hư vô này hoàn toàn không phải cái mà người ta
thường hiểu ở chữ chủ nghĩa hư vô (nihilism) của phương Tây…” [46, 975].
Và như một sự nối tiếp, trong các sáng tác của nhà văn hậu-hiện đại HarukiMurakami, người đọc cũng sẽ tìm thấy những cuộc hành trình đầy thú vị của cácnhân vật Nhưng một điểm khác biệt là các nhân vật của Haruki Murakami khôngcòn là những lữ khách phiêu lãng kiếm tìm vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản; mà lànhững con người dấn thân trong cuộc “truy tìm” bản thể chính mình hay sợ hãi và
Trang 20trốn chạy khỏi bức màn vô thức tập thể Để rồi nhận thấy, một cá nhân đơn lẻ khôngthể tồn tại ngoài những liên hệ chằng chịt với cộng đồng dân tộc trong toàn bộ kí ức
và hiện tại của nó; thậm chí, cá nhân chỉ có thể biết mình là ai, mình phải làm gì,khi đã tự đặt mình vào mạng lưới liên hệ rộng lớn ấy
Khái quát hoàn cảnh xã hội và xu thế phát triển của thời đại là việc làm quantrọng đầu tiên, giúp chúng tôi tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình, thấy được cơ
sở xã hội làm nảy sinh nó để từ đó có được những định hướng và kết luận đúng đắntrong quá trình khảo sát và thực hiện đề tài
1.2 Tiền đề triết học
1.2.1 Triết học hiện sinh
Trong lời tựa cuốn Triết học hiện sinh xuất bản tháng 5 năm 2008, Trần Thái
Đỉnh chỉ rõ rằng: “Triết học hiện sinh đã ghi dấu đậm trong lịch sử triết học Nói gì thì nói, nó đã là triết học nổi bật nhất thế kỉ 20 Trước nó, những năm đầu thế kỉ 20 cho đến khi nó chào đời, Âu châu đã trải qua những năm sinh hoạt triết học trầm trầm và buồn tẻ Triết học hiện sinh đã xuất hiện rầm rộ, gần như một tiếng sấm vang động cả trời đất, lay động xã hội phương Tây cách mạnh mẽ như chưa từng thấy trong lịch sử” [18, 8].
Tạp chí Văn học nước ngoài số 3, tháng 6 năm 2004, trong bài viết Lược khảo về triết học hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn học cũng khẳng định:
“Triết học hiện sinh vừa là sự phát triển tiếp tục, vừa là sự đối lập với triết học cổ truyền Triết học cổ truyền từ Platon, Aristote đến Descartes, Kant, Hegel là thứ triết học thuần túy tư biện và xa cách con người Thay vì giúp con người suy nghĩ
về thân phận và định mệnh của mình thì triết học này, lại khuyến khích con người quên mình đi để hiểu lẽ huyền vi của con tạo Vì lẽ đó mà triết học Aristote và triết học kinh viện trung cổ có tên là triết học tự nhiên, tức triết học là khoa học của vạn vật, nghĩa là lấy nguyên nhân tối cao để giải thích vạn vật Trong triết học này, vì thế con người không có chỗ đứng riêng, con người cũng được coi là một trong hàng vạn vật Không bàn đến tự do, không bàn đến cá nhân, không bàn đến những gì đợi
ta sau khi chết: vũ trụ lớn quá, át tất cả con người, con người bị bỏ quên.
Triết học hiện sinh ra đời để bù đắp vào chỗ thiếu vắng đó Đây là triết học
về ý nghĩa cuộc nhân sinh, tức triết học về con người Nó chỉ chú trọng đến thân
Trang 21phận của con người, tìm hiểu ý nghĩa cuộc sống và cái chết Không gì tha thiết với con người bằng chính con người…”
Chính vì thế, việc chọn Triết học hiện sinh là một trong những tiền đề về mặttriết học, tư tưởng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ bởi nó là triết học nổi bật nhấtthế kỉ 20, mà còn bởi nó là triết học về con người Tìm hiểu Triết học hiện sinh, mộtphần giúp chúng tôi thấy được một cách có định hướng mảng màu to lớn nhất củavăn chương hậu hiện đại-văn học hiện sinh, mặt khác giúp chúng tôi có được những
cơ sở vững chắc để lí giải các hiện tượng cần khảo sát
Khái lược lịch sử Triết học hiện sinh, người ta nhắc đến những tên tuổi lớncủa triết học này, như: Kierkegaard-ông tổ hiện sinh trung thực; Nietzsche-ông tổhiện sinh vô thần; Husserl-ông tổ văn chương triết lí hiện tượng học; Jaspers-hiệnsinh và siêu việt; Marcel-hiện sinh và huyền nhiệm; Sartre-hiện sinh phi lý;Heidegger-hiện sinh và hiện hữu; Albert Camus-cái phi lí và sự nổi loạn,…Tất cả
họ bằng những tác phẩm triết học thuần túy hay những sáng tác nghệ thuật đã làmnên những nội dung cơ bản của triết học hiện sinh Với mỗi nhà hiện sinh ấy, cầnthiết phải có sự khảo sát và nghiên cứu một cách nghiêm túc mới có thể hiểu đượcmột cách trọn vẹn và cặn kẽ những nội dung mà họ đưa ra Tuy nhiên, trong phầnnày, chúng tôi chỉ xin khảo sát trên những nét khái quát ba hiện tượng của Triết họchiện sinh mà chúng tôi cho là gần gũi và thiết thực nhất với đề tài của mình, đó là:Marcel-hiện sinh và huyền nhiệm; Heidegger-hiện sinh và hiện hữu; Albert Camus-cái phi lí và sự nổi loạn
“Huyền nhiệm trùm lên tất cả những gì Marcel muốn dùng óc thông minh của ông để truy tầm Huyền nhiệm về tôi Huyền nhiệm về anh Huyền nhiệm của vũ trụ Huyền nhiệm của thượng đế…Tóm lại, khi nói hiện sinh của tôi là một huyền nhiệm, Marcel đã chỉ nói lên một sự thực: chúng ta không thể sống theo thuyết duy tâm nữa, vì chúng ta không có quyền gói gém hiện sinh của con người vào trong những quan niệm đơn giản…” [18, 257] Đó là những dòng khái quát của Trần Thái
Đỉnh về Marcel và triết học hiện sinh của ông Từ đây ta thấy được hai vấn đề nổitrội mà Marcel quan tâm đó chính là Hiện sinh và Hiện hữu; Hiện sinh và Huyềnnhiệm
“Marcel đã lấy Socrate làm gương mẫu trong việc đi tìm chân lý Theo ông,
ta phải tránh xa những quyết định vội vàng và hình thức, vì sẽ làm tê liệt tất cả sức
Trang 22truy tầm và óc tiến thủ của con người; không bao giờ được phép cho rằng mình đã đạt tới chân lý toàn vẹn, không bao giờ được phép an nghỉ, như thể mình đã biết tất
cả những gì có thể biết về mình, về vũ trụ, và về siêu việt Đối với Marcel, thái độ
an nghỉ là thái độ phản triết lý, vì bản tính của triết lý là truy vấn, là tra hỏi về chính mình; và mỗi câu trả lời của ta mới chỉ là một ánh sáng nhợt nhạt chiếu vào
cõi thăm thẳm của cuộc đời…” [18, 259] Như vậy, có thể thấy Marcel coi sự hiện
hữu của con người, tức hiện sinh, là những cuộc kiếm tìm, truy vấn không điểmdừng về bản thể của chính con người và vạn vật xung quanh Chừng nào con ngườicòn ý thức rằng, mình vẫn còn quá nhiều điều chưa thông tỏ và nhất thiết phải làmcho nó ngày thêm sáng rõ thì khi ấy con người mới có sự hiện hữu bằng không chỉ
là một cái vỏ rỗng Từ đó ông khẳng định: “Người tự do là người tự tìm lấy đường
mà đi-hoặc đảm nhận lấy con đường đạo lý của tiền nhân làm con đường của mình, sau khi đã suy nghĩ và nhận xét kỹ càng Không phải ai cũng có khả năng tìm ra một cách sống thích hợp với địa vị cao quý của con người, nhưng ai cũng có thể và phải sống tự do dân chủ, nếu không thì không đáng gọi là người” [18, 284]
Tiếp nối vấn đề này, Heidegger gọi con người là Dasein (hiện hữu) Da là hiện diện, sein là hiện hữu, Dasein là hiện hữu như một hiện diện Cho nên bản chất
con người là hiện hữu Và theo ông: chỉ mình con người có bản chất đó thôi, cho
nên chỉ mình con người được coi là “một hữu thể mà bản chất là mở ra đón chào ý nghĩa của vạn vật” [18, 351] Ông khẳng định: “Hiện hữu là tự vượt qua mình để đạt tới cái khả hữu của mình, Ek-sister C’est se despasser vers son pouvoir-eetre.
Tự vượt mình là bỏ cái mình hiện nay để đi tới một hiện hữu đang ẩn hiện trước mắt mình Cái hiện hữu ẩn hiện trước mắt con người đó gọi là khả hữu Chính đây
là chỗ phát sinh ra dự phóng (Projet), hay nói đúng ra, chính là cái khả năng phóng mình về phía trước như thế là dự phóng…” [18, 357].
Như vậy, nói bản chất con người là hiện hữu cũng có nghĩa là con người là ý nghĩa Mọi cái nhìn, mọi hành vi của con người, ngay cả những hành vi vô thức
cũng đều là những ý nghĩa, và đều là những phản ứng của ta với môi trường bí ẩnxung quanh Tâm lý học hiện đại, nhất là Phân tâm học cho thấy chính những phảnứng vô thức của con người mới là những phản ứng chân thành, và mới thực sự vạch
rõ chân tướng con người Như thế mọi sự của con người đều mang nặng ý nghĩahiện hữu: lời nói, cử chỉ, điệu bộ và ngay cả sự im lặng cũng biểu lỗ những thái độ
Trang 23và cảm xúc của ta; tại sao ta hoảng sợ, tại sao ta vui mừng, tại sao ta lo âu,…tất cảnhững câu hỏi tại sao ấy chỉ được giải đáp thỏa mãn khi nào ta biết được những ýnghĩa mà ta đã tiếp thông từ những người và sự vật xung quanh Đây chính là điểmchúng ta xác nhận mối tương đồng và sự lệ thuộc bản thể giữa con người với môitrường, giữa nhất thể với tha nhân.
Rõ ràng, để hiện hữu, mỗi Dasein phải tự tìm ra con đường đi riêng của
chính mình mà không thể đi chung với bất kì ai, giống như bạn chẳng thể nào sống
trong ngôi nhà của người khác vậy Nhưng để tìm thấy lời giải đáp, mỗi Dasein
không thể tách biệt mà phải đặt mình trong các mối quan hệ Và cũng chỉ khi ấy,
Dasein mới nhìn thấu chính mình cũng như bản chất của sự vật xung quanh Đó
chính là điểm cốt lõi trong triết học hiện sinh của Marcel và Heidegger
Albert Camus không viết những tác phẩm hiện sinh thuần túy tư biện, nhưngtriết lí hiện sinh thấm đẫm trong những tác phẩm văn học của ông Có thể nói, bằngkinh nghiệm sống thật, con người triết gia ở Camus hòa vào con người nhà văn.Ông là nhà văn hiện sinh tiêu biểu nhất Tư tưởng hiện sinh của ông xoay quanh hai
khái niệm mấu chốt là cái phi lí và sự nổi loạn Cuộc đời, thực ra tự thân nó không
phi lí, cũng như tự thân con người không phi lí Nhưng tính chất phi lí nằm ở chỗmột bên là cuộc đời đầy rẫy trái tai gai mắt mà bên kia con người sáng suốt lại đòihỏi mọi sự phải rạch ròi Qua các tiểu thuyết của mình, Camus muốn nói rằng tínhchất phi lí này là sự thật chủ yếu của cuộc đời chúng ta Cảm nhận bản chất vônghĩa của cuộc đời và tính chất phi lí của nó, con người phải cố gắng tìm kiếm chomình một thái độ sống phù hợp với tình cảm phi lí đó Ứng xử khôn ngoan nhất làsống hết mình, tận hưởng hết mình tất cả những gì hiện hữu trên trái đất Và theoCamus đây cũng là một cách thức nổi loạn, là sự tích cực phản kháng lại tình cảmphi lí Bởi trong hành xử này của con người, tự nó đã hàm chứa một giá trị vượt lênchính nó Giá trị này là bản chất của con người Như vậy, trên hành trình tư tưởngcủa mình, Albert Camus đã khởi đi từ cảm giác phi lý trước cuộc đời, bước qua tâmtrạng nổi loạn nhằm mục đích bảo vệ các giá trị người, để cuối cùng đi tới chủ nghĩanhân bản đặc biệt của ông: con người phải là mục đích tự tại và duy nhất của nó.Giá trị của tư tưởng hiện sinh của Camus, vì thế, là ở chỗ ông đã biết đưa ra ánhsáng những vấn đề cấp thiết trước lương tâm nhân loại ngày nay như đánh giá trong
Trang 24lời tuyên bố của viện Hàn lâm Thụy Điển, nhân dịp trao tặng giải Nobel Văn họccho Camus ngày 7 tháng 10 năm 1957.
Trên đây chúng tôi đã cố gắng thâu tóm một số vấn đề của Triết học hiệnsinh qua một số hiện tượng lớn của triết học này Chúng tôi hoàn toàn không cótham vọng phác họa một bức tranh toàn cảnh về Triết học hiện sinh mà chỉ nêu ravai trò to lớn của nó đối với đời sống xã hội hậu-hiện đại, đồng thời trình bày nộidung của một số hiện tượng hiện sinh quan trọng có tác động to lớn đến văn họchiện đại, hậu-hiện đại, trong đó có văn học Nhật Bản
Một điều dễ nhận thấy là, các nhà hiện sinh dù đề xuất tư tưởng của mìnhdưới hình thức tác phẩm triết học thuần túy hay tác phẩm văn chương thì Triết họchiện sinh và Văn học cũng có một mối quan hệ hết sức khăng khít Bởi triết họchiện sinh, như đã trình bày, là triết học nhân sinh, tức là lấy con người làm trungtâm, và đó cũng chính là đối tượng của văn chương
Qua các sáng tác của các nhà văn đương đại như F Kafka, Cao Hành Kiện,Haruki Murakami và rất nhiều tác phẩm của các nhà văn khác nữa, dễ dàng bắt gặpkiểu nhân vật dấn thân trên hành trình kiếm tìm cái tôi đích thực của chính mìnhhay những con người đóng vai trò như những lữ khách khát khao đốn ngộ chân lí.Cũng dễ thấy những nhân vật luôn mang trong mình tâm trạng lo âu, buồn bã, sợhãi, sống không mục đích, không lí tưởng; đắm mình trong thú vui xác thịt nhưnhững con nghiện hoặc tìm đến cái chết như một sự chạy trốn hèn hạ Rồi có nhữngnhân vật triền miền trong dòng suy tư chiêm nghiệm, mải miết đi tìm những hạtnhân hợp lí cho những câu hỏi vì sao,…Tất cả những điều đó chính là biểu hiện độcđáo, đa dạng và tinh tế của cái nhìn hiện sinh qua lăng kính văn học Phải thấy rõđiều đó, mới có thể khái quát được những quan niệm nghệ thuật mà nhà văn gửigắm trong tác phẩm nhất là qua các nhân vật
1.2.2 S Freud và Phân tâm học
Phân tâm học ra đời đã được hơn 100 năm nếu tính từ khi Freud tuyên bố vớiChi hội y học thành Vienne vào tháng 5 năm 1896, rằng ông đã khám phá đượcphương pháp chi phối bệnh tâm thần mà không cần thôi miên họ như Breuer đã làm.Cũng chính ông là người có công lớn nhất làm cho môn học từ chỗ chỉ đơn giản làmột phương pháp điều trị nhiều chứng bệnh tâm thần có hiệu quả trở thành một lí
Trang 25thuyết xã hội được nhiều người biết đến như một phát minh lớn trong đời sống khoahọc cũng như trong đời sống tinh thần của con người.
Trong đời sống tinh thần của con người, ý thức hay còn gọi là cái hữu thức(conscient) đã được con người biết đến từ lâu Loài người đã khám phá được nhiều
bí ẩn về cái hữu thức và con người đã phát huy được vai trò to lớn của nó trong mọihoạt động hàng ngày Con người cũng biết đến một hiện tượng tinh thần khác Dó làcái vô thức (inconscient) Nhưng chính người ta lại cho rằng cái vô thức là cáikhông có nội dung gì cả, và vì thế, nó cũng không có vai trò gì trong đời sống tinhthần của con người Do đó các nhà triết học, các nhà xã hội học, các nhà tâm lí họctrước Freud nói chung chẳng quan tâm gì đến việc tìm hiểu về hiện tượng này
Sigmund Freud sinh năm 1856 tại Fribourg – Moravie, năm 3 tuổi ông theogia đình sang sống tại thành Vienne Cũng tại thành phố này, năm 1873, ông ghi tênvào học ngành y tại đại học thành Vienne Trong thời gian đầu ông chuyên về thầnkinh học và đã có những đóng góp quan trọng bằng những nghiên cứu trong phòngthí nghiệm Những công trình đó đã được xuất bản vào năm 1885 và năm 1886 ôngcòn cho xuất bản một số nghiên cứu về bệnh viện học Trong quá trình nghiên cứu
và điều trị nhiều bệnh nhân bị bệnh thần kinh, Freud đã cộng tác chặt chẽ vớiBreuer và học được nhiều điều bổ ích ở các bậc thầy chuyên về bệnh thần kinh tạiPháp như Charcot và Bernheim Đó là những người thầy thuốc nổi tiếng trong lĩnhvực điều trị những chứng bệnh thần kinh vào thời điểm đó Đây chính là những tiền
đề quan trọng để Freud đề xuất phương pháp điều trị Phân tâm học
Công lao to lớn của Freud như nhiều nhà nghiên cứu đã ghi nhận là ông đã
mở rộng khoa tâm lí học trên bề mặt (Psychologie des surfaces) sang tâm lí học vềsâu (Psychologie des profondeurs) hay còn gọi là siêu tâm lí học, tâm lí học bậc cao(Super psychologie) Đó là một ngành tâm lí học hoàn toàn mới mẻ và vô cùngphức tạp mà Freud là người khởi xướng đầu tiên
Không đi sâu phân tích những thăng trầm của Freud và phân tâm học, sauđây chúng tôi đi vào một số nội dung chính yếu của học thuyết này, một trongnhững tiền đề quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà văn cùng sáng tạo của họtrong mấy chục năm đã qua và chắc chắn sẽ còn tiếp tục có nhiều tác động tới diệnmạo văn học trong thời gian tới, đó là lí thuyết về cái vô thức và vai trò của cái tôi
Trang 26Các nhà triết học, xã hội học, tâm lí học thời đó đã chia những hiện tượngtinh thần làm ba loại với những đặc điểm khác nhau Đó là cái vô thức, cái tiềmthức và cái hữu thức hay ý thức Freud không bác bỏ cách phân loại trên nhưng ông
có cách phân loại theo yêu cầu của riêng Phân tâm học, ông chia những hiện tượngtinh thần ra làm vô thức - tiền ý thức - ý thức
Người ta thường hiểu tiền ý thức hay tiềm thức là một hiện tượng tinh thầnkhông còn thuộc ý thức nữa nhưng cũng chưa hoàn toàn thuộc vô thức Freud lạicho rằng, nó là một hiện tượng tinh thần xét theo chiều ngược lại, tức, nó không còn
là vô thức nữa nhưng cũng trở thành ý thức Nó là một hình thức tinh thần trunggian trong quá trình chuyển biến cái vô thức thành cái hữu thức, thành ý thức
Đến ngày nay, mọi người đều thừa nhận rằng vô thức là cái mang tính sinh lí
tự nhiên, là cái mang tính bản năng di truyền bẩm sinh từ đời nọ sang đời kia Freudđồng ý như vậy Nhưng cái vô thức, theo ông, không chỉ có vậy, tức là, ngoài nguồngốc có tính sinh lí bẩm sinh do cơ quan sinh lí phát động, vô thức còn có sự tácđộng bên ngoài xã hội Nghĩa là, ngoài mặt sinh lí bẩm sinh, bản năng, cái vô thứccòn có mặt khác, đó là hoàn cảnh sống của mỗi người trong xã hội Nội dung củacái vô thức bao gồm tất cả những biến cố, những kỉ niệm mà con người dã trải quatrong quá trình sống từ trước tới đây, những tình cảm có được sau những biến cố, vàcuối cùng, là tất cả những ước muốn chưa được thực hiện Tuy nhiên cái vô thức màPhân tâm học quan tâm nhiều hơn cả là cái trước đây đã từng là cái hữu thức nhưng
bị dồn vào vô thức nên đã trở thành cái vô thức mà đương sự cũng không hề haybiết Phân tâm học còn cho rằng cái vô thức không chỉ chứa đầy nội dung phức tạp
mà cường độ hoạt động của nó còn rất mạnh Nó luôn tìm cách phá rào ngoài ýmuốn của chủ thể nhưng con người lại có đầy đủ khả năng và biện pháp để kiểmsoát nó và hướng nó vào những hoạt động có ích
Khởi đầu về cái vô thức, cũng là khởi đầu của Phân tâm học là những côngtrình nghiên cứu của Freud về một loạt những hiện tượng trong đời sống thường đốivới những con người lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần Những hiện tượng đóFreud gọi là “những hành vi sai lạc” và ông coi đó là những đối tượng rất cầnnghiên cứu một cách nghiêm chỉnh vì theo ông đó là trạng thái bệnh lí của đời sống
vô thức bình thường Ông khẳng định: “Người ta cho rằng những hành vi sai lạc là
vô nghĩa và chẳng liên quan đến một cái gì Nó là thứ đầu Ngô mình Sở không có gì
Trang 27đáng quan tâm là một sai lầm Trái lại, ông cho rằng: những hành vi sai lạc vô nghĩa, đầu Ngô mình Sở và vô tội vạ đó thực ra lại có một ý nghĩa nào đó mà người
có hành vi đó không hay biết và cũng không hề có một ý định gì” [33, 64]
Không chỉ dừng lại ở những kết quả đã đạt được thông qua việc nghiên cứunhững hành vi sai lạc, Phân tâm học còn đi vào những vấn đề phức tạp hơn xét cả
về hai phương diện bản thân lí thuyết và thành kiến xã hội Đó là việc nghiên cứu vàgiải thích những giấc mơ Khác với những hành vi sai lạc là cái mỗi người có thểnhận biết được một cách dễ dàng, vì nó lồ lộ ra trước mặt thiên hạ Còn giấc mơ làcái không ai nhìn thấy cụ thể Trong tâm lí học cổ điển người ta cũng nói đến giấc
mơ Các nhà y học lại coi giấc mơ là kết quả của một sự kích thích đơn thuần về
mặt sinh lí Freud thì cho rằng: “Một khi các hành vi sai lạc cũng có một ý nghĩa thì chẳng có gì ngăn cấm các giấc mơ cũng có một ý nghĩa và trong nhiều giấc mơ chúng ta đã thấy là quả thực chúng có ý nghĩa mà khoa học không tìm ra được”
[33, 90] Phân tâm học cho rằng: Giấc mơ hình thành là do sự hoạt động của một cái
gì đó mà người nằm mơ biết nhưng lại không hay biết điều đó Đó là một biến cố
mà người nằm mơ biết rất rõ và đã xảy ra từ trước đó nhưng đến nay người nằm mơlại không hay biết vì bị cấm đoán không thể thực hiện được nên đã bị đẩy vào trong
kí ức và trở thành vô thức
Dễ nhận thấy, trong văn chương hậu-hiện đại, các nhà văn rất chú ý đến việcthể hiện “các hành vi sai lạc” cũng nhưng những “giấc mơ” của các nhân vật và coichúng như những điểm nhấn nghệ thuật quan trọng, một trong những thủ pháp hiệuquả để phác họa hình ảnh con người toàn nguyên Chỉ có điều, “các hành vi sai lạc”hay “những giấc mơ” trong văn chương không còn là cái gì đó chung chung huyền
ảo khó nắm bắt, khó xác định mà chính là những hành động có ý thức do nhà văntạo ra thông qua hệ thống nhân vật của mình Từ đó cái “vô thức” theo cách hiểucủa Phân tâm học khi đi vào văn học lại có một giá trị vô cùng sâu sắc
Bên cạnh cái “vô thức”, một vấn đề nữa cũng được Freud và phân tâm họcđặc biệt quan tâm, đó là vai trò của “cái tôi” hay Tâm lí học về cái tôi Freud cho
rằng: “Cái tôi được cấu tạo từ hệ thống tri giác, hệ thống tri giác là cái nhân, rồi đến tiền ý thức dựa vào những dấu vết bảo thức năng Ngoài ra chúng ta còn biết rằng cái tôi cũng có phần không ý thức được” [38, 478].
Trang 28Phân tâm học cho rằng, tâm thần con người có một cái vô thức không biết
được, trên cái mặt vô thức có một cái tôi, cái tôi thoát từ hệ thống tri giác Muốn
hình dung những sự kiện ấy dưới hình thức một biểu đồ, chúng ta bảo rằng tôi chỉ
bao phủ vô thức bằng cái mặt của nó, cái mặt ấy là hệ thống tri giác giữa cái tôi và
vô thức không có sự phân biệt dứt khoát nhất là phía dưới cái tôi muốn lẫn lộn với
vô thức.
Freud cũng chỉ ra rằng: “Sự thoát thai cái tôi và sự tách rời nó khỏi vô thức còn phụ thuộc một yếu tố khác ngoài ảnh hưởng của hệ thống tri giác Thân thể của con người, nhất là bề mặt của thân thể, là nơi vừa phát sinh những tri giác bên ngoài vừa phát sinh những tri giác bên trong Đôi với cái tôi thân xác bị coi là một vật lạ, nhưng thân xác cho giác quan biết hai thứ cảm giác, một thứ có thể đồng hóa với tri giác bên trong…Rất dễ nhận thấy cái tôi là một phần của vô thức đã biến cải dưới ảnh hưởng trực tiếp của ngoại giới và nhờ sự trung gian của hệ thống ý-thức-tri-giác Trong một phạm vi nào cái tôi đại diện cho sự phân hóa bề ngoài nối dài ra Cái tôi cũng cố gắng bắt cái vô thức và ý hướng vô thức chịu ảnh hưởng của ngoại giới, lấy nguyên tắc thực tại thay thế nguyên tắc khoái lạc, nguyên tắc khoái lạc độc quyền trong thế giới vô thức Sự tri giác đối với cái tôi cũng như bản năng và xung động bản năng đối với vô thức Cái tôi đại diện cho lí trí và đức độ, trái lại vô thức bị đam mê ngự trị Tất cả những sự kiện ấy” [38, 481].
Không chỉ thấy cái tôi đại diện cho một phần của vô thức, Phân tâm học còn khẳng định rằng cái tôi còn có một phần quan trọng nữa, gọi là lí tưởng tôi hay siêu ngã Theo Freud, siêu ngã không phải chỉ là cái gì còn lại nhân việc lựa chọn đối
tượng đầu tiên của vô thức mà còn có ý nghĩa một kiến tạo dùng để chống đối lại sự
lựa chọn ấy một cách mạnh mẽ Siêu ngã có hai sắc diện như thế là vì nó dùng hết
sức lực để dồn nén mặc cảm và nó chỉ được thoát thai nhân có sự dồn nén ấy màthôi Chính vì vậy, ông cho rằng, siêu ngã là kết quả của hai yếu tố sinh vật rất quantrọng, đó là: tình trạng ấu trĩ, bất lực trong một thời gian khá lâu và mặc cảmOepide xuất hiện vì sự phát triển libido bị cản trở, nói khác đi là tính cách lưỡngứng của dục tính (Oepide hay Oedipus tức Edip là một trong những anh hùng nổitiếng nhất trong thần thoại Hy Lạp Chàng là người giết cha, cưới mẹ, thắng connhân sư quái ác rồi trở thành vua xứ Thebes (Hy Lạp) Freud đã mượn truyền thuyếtnày để đặt tên cho một đặc điểm tâm lí ở trẻ nhỏ từ 3 đến 5 tuổi mang tên mặc cảm
Trang 29Oepide: đứa trẻ thể hiện sự quý mến người sinh thành ra mình, thuộc giới tính khácmình nhưng lại đố kị và căm ghét bậc phụ huynh cùng giới tính với mình – NVH)
Nhờ sự trung gian của tôi lí tưởng mà cái tôi làm chủ được mặc cảm Oepide
và đồng thời cũng nghe theo vô thức Cái tôi đại diện chính yếu cho ngoại giới, cho thực tại; siêu ngã chống lại nó vì siêu ngã đại diện cho quyền hạn của nội tâm, của
vô thức.
Những điều đã trình bày ở trên tưởng như mơ hồ và chẳng dính dáng gì đếnvăn chương nghệ thuật Thực chất, vấn đề hoàn toàn ngược lại Chúng tôi phân tích
kĩ lưỡng cái tôi và vô thức trong quan niệm của Phân tâm học nhằm chỉ ra rằng các
nhà văn hiện đại, hậu-hiện đại đã dựa vào học thuyết này và coi nó như một công cụhữu hiệu trong việc thể hiện hành vi cũng như mô tả những xung đột nội tâm,những phản ứng tinh thần của các nhân vật Điều này lí giải tại sao, trong văn họchậu-hiện đại, kiểu nhân vật đắm mình triền miên trong dòng chảy tâm thức và kiểunhân vật khát khao yêu đương, ham muốn nhục cảm trở nên đông đảo hơn bao giờhết Chính vì vậy, tìm hiểu những nội dung của Phân tâm học có ý nghĩa quan trọngtrong việc tiếp nhận và thấu hiểu các hiện tượng nhân vật được xem là rất mới nóitrên
Ở trên, chúng tôi đã khái quát những đặc điểm cơ bản của Triết học hiện sinh
và Phân tâm học, những tiền đề về mặt triết học, tư tưởng mà theo chúng tôi là quantrọng nhất trong hoàn cảnh hậu-hiện đại Lẽ dĩ nhiên, trong bất kì thời đại nào, cácnhà văn, đặc biệt là những nhà văn bậc thầy không bao giờ chỉ chịu ảnh hưởng củamột hay vài học thuyết tư tưởng, nhưng chắc chắn vẫn có những học thuyết, tưtưởng được xem là chủ đạo Trong phạm vi đề tài chúng tôi nghiên cứu khảo sát,những tiền đề về mặt triết học, tư tưởng nói trên, thực sự có vai trò quan trọng, giúpchúng tôi nắm bắt vấn đề một cách trọn vẹn (theo nghĩa tương đối) từ gốc rễ của nó
1.3 Haruki Murakami trên hành trình sáng tạo
1.3.1 Thể tài tiểu thuyết trong văn nghiệp Haruki Murakami
Haruki Murakami sinh năm 1949 tại Kyoto, là một trong những tiểu thuyếtgia Nhật Bản được biết đến nhiều nhất hiện nay cả trong lẫn ngoài nước Nhật Từthời điểm nhận giải thưởng Nhà văn mới Gunzo năm 1979 đến nay, hơn một phần
tư thế kỉ hoạt động và viết lách, tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 38 thứtiếng trên thế giới, đồng thời, trong nước ông là người luôn tồn tại ở tiền cảnh sân
Trang 30khấu văn học Nhật Bản Murakami trở thành hiện tượng văn học Nhật Bản đươngđại với những mĩ danh “nhà văn được yêu thích”, “nhà văn best - seller”, “nhà văncủa giới trẻ”,…
Nhà văn Haruki Murakami
Theo Scott Reyburn, New Statesman: “Haruki Murakami là một trong những giọng nói hấp dẫn nhất trên văn đàn quốc tế…Murakami cách này hay cách khác, chính là hình vóc của văn chương thế kỉ 21 Sử dụng lối mô tả của tiểu thuyết đen kiểu Hollywood, ông đã khám phá, qua lối siêu thực, những lo âu của thời đại chúng ta trong lúc vẫn giữ lại sự kinh ngạc cay đắng trước cái thực tại của tiêu- thụ-đại-chúng Văn ông không thuộc trường phái nào, nhưng lại có chất gây nghiện của loại văn chương tuyệt hảo nhất” [Dẫn theo Rừng Nauy, Nhã Nam và NXB Hội
nhà văn, 2008 - Sđd]
Philip Weiss, The New York Observer, lại nhận định rằng: “Tiểu thuyết gia Nhật Bản Haruki Murakami giành được sự quan tâm tầm cỡ thế giới bởi các câu chuyện của ông đã tới lui thật dễ dàng giữa bề mặt hiện thực cuộc sống vật chất của những cô cậu trẻ tuổi mang hoài bão và những nỗi kinh hoàng của một trí tưởng tượng nhạy cảm Đồ nghề của ông là loại văn xuôi hiện thực thẳng băng và
Trang 31cái mà anh có thể gọi là một thứ siêu hình học tâm lí Những nhà kể chuyện thứ-nhất của ông ngay lập tức đáng tin và đều điên khùng” [Sđd].
ngôi-“Tại Nhật Bản, Haruki Murakami là một tiểu thuyết gia có ảnh hưởng và được bắt chước nhiều nhất trong thế hệ của ông Tôi sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu như các tiểu thuyết của ông, những thứ mang trong mình sự nhẹ bỗng và dễ tiếp nhận của nền văn hóa đại chúng mênh mông của ca nhạc và phim ảnh, lại có được một ảnh hưởng tương tự ở phương Tây Murakami đã viết ra những suy tưởng mượt mà, trôi chảy và mê hoặc về sự lạ lẫm của đời thường, đã khêu gợi một cách thông minh mối cộng sinh của cái tầm thường và cái huyền ảo” [Sđd] Đó chính là những
khẳng định của Tait, Sunday Telegraph Dễ hiểu rằng, một nhà văn thế giới như ôngluôn là một sức hút mạnh mẽ, thú vị và mới lạ đối với giới phê bình văn học Liệt kê
ra đây tất cả những bình luận, nhận định, phê bình về Haruki là một việc làm khôngtưởng và theo chúng tôi cũng không cần thiết Bởi tất cả những gì quan trọng nhấtnằm trên những trang sách diệu kì đã được nhà ảo thuật ngôn từ thiên tài sáng tạo
ra, chứ không phải nằm trên mặt báo với những phán xét mà phần nhiều là có nộidung giống nhau Bởi thế chúng tôi điểm ra ba nhận định được xem là có ý nghĩakhái quát nhất khi nói về tiểu thuyết gia Nhật Bản này và coi đó như những gợi ý bổích trong quá trình nghiên cứu các sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Khởi nghiệp từ năm 1979 với tiểu thuyết Kaze no uta o kike, tức Lắng nghe gió hát, qua các sáng tác Pillball-1973 (1980), Xứ sở kì diệu lạnh lùng và nơi tận cùng thế giới (1985), Rừng Nauy (1987), Phía nam biên giới phía tây mặt trời (1992), Biên niên ký chim vặn giây cót (1992-1995), Người tình Sputnik (1999), Kafka bên bờ biển (2002); gần đây nhất là Hợp tuyển bí ẩn Tokyo (2005) và 1Q84
(2009) Cứ mỗi một tác phẩm ra đời, Haruki lại nhận được ngày một nhiều thêm sựyêu mến, trông đợi của độc giả bốn phương và ngay lập tức những cuốn tiểu thuyết
ấy trở thành tâm điểm của giới phê bình văn học khắp trong và ngoài nước Nhất là
vào năm 1987, sau khi tiểu thuyết Rừng Nauy ra đời, Haruki Murakami đã trở thành
một thần tượng văn hóa đại chúng Ông đã xây dựng nên một sự nghiệp văn họcphong phú và trở thành nhà văn quan trọng nhất, được đọc nhiều nhất của Nhật Bảnsau những tên tuổi lớn như Yasunari Kawabata hay Kenzauro Oe Cũng chính từ
mốc Rừng Nauy, Haruki lần lượt cho ra đời những “quả bom tấn” công phá nền văn
học hậu hiện đại thế giới và để lại những tiếng vang lớn trong suốt một thời gian
Trang 32dài, tạo nên một hiệu ứng trong nền văn chương nhân loại, chúng tôi gọi đó là “hiệuứng Haruki”.
(Bìa) Tiểu thuyết Rừng Nauy - Tác phẩm đánh dấu bước ngoặt lớn
trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Haruki Murakami
Bên cạnh mười ba cuốn tiểu thuyết đặc sắc (bắt đầu là Lắng nghe gió hát
(1979) tới điểm kết thúc tạm thời là 1Q84 (2009) – NVH), Haruki còn là tác giả của
nhiều truyện ngắn thú vị như: Chiếc thuyền chậm đến Trung Quốc (1980); Thảm họa khai mỏ New york, Chim lặn (1981); Bài cỏ cuối cùng của buổi chiều, Cái
gương (1982); Đom đóm (1983); Sân vận động (1984); Cây liễu mù, Người đàn bà
ngủ (1995); Nơi tôi có thể tìm thấy (2005);…Tuy vậy, xét trong chỉnh thể văn
nghiệp Haruki Murakami, truyện ngắn không phải là thể tài chiếm ưu thế và có vaitrò quan trọng nhất Vị trí ấy thuộc về tiểu thuyết
Steven Moore, The Washington Post, khi bàn về tiểu thuyết của Haruki đã
nhận xét: “Ông đã làm ra những tiểu thuyết kì lạ, đậm chất triết học và hậu hiện đại, khiến người ta đọc thì thích thú Ông nghiêm túc hơn Tom Robbins và bớt đậm đặc hơn Thomas Pynchon Giống như hai người đó, ông pha trộn cả văn hóa cao cấp lẫn đại chúng, đặc biệt là những gì của thời đại chúng ta” [Sđd] Và quả thực
là như vậy, điểm qua một số tiểu thuyết của ông sẽ thấy rõ cái tài năng thiên bẩmcủa người canh giữ vườn văn nhân loại thế kỉ 21, cũng như ý nghĩa to lớn của thểtài tiểu thuyết trong sự nghiệp đồ sộ của Haruki
Trở lại với tác phẩm đầu tay Lắng nghe gió hát (1979), cuốn tiểu thuyết mà
theo như Haruki nói là được nảy sinh ý tưởng khi đang xem một trận bóng chày
Trang 33Nhà văn viết cuốn tiểu thuyết này trong vòng vài tháng rồi gửi đến một cuộc thi vănhọc duy nhất chấp nhận một tác phẩm ngắn cũn như vậy và dành giải nhất Và ngaytrong tác phẩm đầu tay này, nhiều yếu tố căn bản tạo nên những tác phẩm sau nàycủa Haruki cũng đã thành hình: phong cách phương Tây, kiểu hài hước thâm thúy
và nỗi nhớ quê hương sâu sắc Sự thành công của Lắng nghe gió hát đã khuyến
khích nhà văn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cầm bút Một năm sau đó ông xuất bản
cuốn Pillball-1973, rồi Săn cừu hoang Ông chia sẻ: “Săn cừu hoang là cuốn đầu tiên tôi cảm nhận một sự xúc động, một niềm vui khi kể câu chuyện Khi bạn đọc một câu chuyện hay, bạn cứ ngấu nghiến đọc Khi tôi viết một câu chuyện hay, tôi ngấu nghiến viết”.
Sau sự thành công của “bộ ba chuột”, vào năm 1985, ông viết cuốn Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, một câu chuyện tưởng tượng mơ mộng
đưa những yếu tố ma thuật trong tác phẩm của ông lên một tầm cao mới Và năm
1987, với Rừng Nauy-câu chuyện về thời quá khứ của mất mát và tình dục, Haruki
đã gây ra một cơn địa chấn lớn, tạo được sự đột phá mạnh mẽ trong sự nghiệp sáng
tác của mình Một cách lạ thường, Rừng Nauy nhanh chóng trở thành Best seller và
cho đến tận bây giờ, đây vẫn là một cuốn sách “hot” được rất nhiều người tìm đọc
Glasgow Herald đã bình luận về cuốn tiểu thuyết này như sau: “Một câu chuyện xúc động đến ngạt thở…Không nghi ngờ gì, Murakami là một trong những tiểu thuyết gia tinh tế nhất thế giới” [Sđd] Time Out lại nói rằng: “Khêu gợi, thú vị, Sexy và hài hước, nếu không Murakami đã chẳng là một trong những nhà văn hay nhất” [Sđd]
Rõ ràng, chính tiểu thuyết Rừng Nauy chứ không phải bất kì cuốn nào trước
đó, đã đưa tên tuổi của Haruki lên tầm nhà văn thế giới Tiếng sét lớn này đã chiếusáng diện mạo của văn đàn Nhật Bản trong suốt một thời gian dài Đồng thời, nó làtiếng nói quan trọng chứng tỏ rằng, Haruki đã nắm bắt được nhịp đập của thời đạiông, và rằng sáng tác của ông có một sức hút, quyến rũ đến lạ thường mà khó ai cóthể khước từ
Không chỉ dừng lại ở đó, Haruki Murakami như một con hổ dũng mãnh tiến
về phía trước bằng những bước đi nhanh lẹ mà vững chắc của mình Năm
1994/1995, ông xuất bản Biên niên ký chim vặn dây cót Tiểu thuyết này hợp nhất
khuynh hướng hiện thực và tưởng tượng, chứa đựng cả yếu tố bạo lực Nó cũng
Trang 34được sự chú ý rộng rãi từ xã hội hơn các tác phẩm trước đây, do nó liên quan đến đềtài nhạy cảm về tội ác chiến tranh ở Mãn Châu (Mãn Châu Quốc) Và với tác phẩmlớn này, Haruki đã nhận giải Yomiuri, người trao giải cho ông là một trong nhữngngười phê bình ông gay gắt nhất – Kenzaburo Oe
Về cuốn tiểu thuyết này, The Washinton Post Book World bình luận: “Mê
hoặc…Nỗ lực hết mình của Murakami để đưa tất cả những vấn đề của xã hội hiện đại Nhật Bản vào trong một chỉnh thể kiến trúc ngôn ngữ duy nhất” Còn New York Obsever thì cho rằng: “Một sự dụng tâm lớn lao cho nghệ thuật…không có gì
có thể so sánh!” Chính vì thế Biên niên ký chim vặn giây cót được coi là tác phẩm
lớn nhất, tham vọng nhất của Murakami, được ca ngợi không chỉ ở châu Á mà cảphương Tây, chinh phục cả độc giả đại chúng lẫn giới phê bình văn học
Năm 2002, sự xuất hiện của Kafka bên bờ biển - tác phẩm mà theo Matt
Thome, The Independent: “có thừa huyền bí để làm những người hâm mộ sung sướng và sẽ chiêu mộ thêm cả những người mơi”- tiếp tục đánh một dấu mốc quan
trọng trong sự nghiệp sáng tạo của Haruki Murakami Và với tác phẩm này, vàonăm 2006, ông trở thành nhân vật thứ sáu nhận Giải thưởng Franz Kafka Điều này
đã khẳng định thêm một lần nữa, khả năng sáng tạo đặc biệt của Haruki, đưa ônglên thành một trong những ứng cử viên sáng giá nhất của giải Nobel văn học
(Bìa) Biên niên ký chim vặn dây cót - cuốn tiểu thuyết được xem là
tác phẩm lớn nhất của nhà văn Nhật Haruki Murakami
Trang 35Người tình Sputnik – cuốn tiểu thuyết xuất bản lần đầu năm 1999, và là tác
phẩm đầu tiên nhà văn Haruki Murakami viết về đề tài đồng tính Không đồ sộ về
mặt dung lượng như Rừng Nauy, Biên niên ký chim vặn dây cót hay Kafka bên bờ biển, cuốn tiểu thuyết chỉ vẻn vẹn gần 300 trang khổ nhỏ, song lại chứa đựng những
ý nghĩa hết sức sâu sắc và giá trị nhân văn cao cả “Người tình Sputnik đã khiến tôi xúc động và đẩy trí tưởng tượng của tôi đi xa hơn bất cứ cuốn sách nào tôi từng đọc trong suốt một quãng thời gian dài” – Guardian.
Trên đây, chúng tôi đã phác thảo sơ lược văn nghiệp của nhà văn NhậtHaruki Murakami; qua việc điểm lại những tác phẩm lớn gắn với những dấu mốcquan trọng trong sự nghiệp của ông, chúng tôi nhấn mạnh vai trò to lớn của thể loạitiểu thuyết đối với toàn bộ sáng tác của ông Cái nhìn khái quát có ý nghĩa quantrọng, giúp ta định hình được phong cách nghệ thuật của nhà văn, xác lập những đặcđiểm thi pháp cơ bản của tiểu thuyết Haruki Murakami Từ đó có một định hướngđúng đắn khi đi vào khảo sát các tác phẩm cụ thể
1.3.2 Quan niệm về con người trong tư tưởng nghệ thuật của Haruki Murakami
Dịu dàng, quyến rũ như thơ, căng thẳng như bi kịch và gợi dục một cách mêđắm hay một lối cấu tứ tinh tế, nhẹ bỗng,…Đó là những gì mà người ta đã nói khi
đề cập đến tiểu thuyết của Haruki Murakami Lẽ dĩ nhiên là không chỉ có thế.Chúng ta đều biết rằng, đằng sau mỗi nhà văn kiệt xuất luôn là những quan niệmhay cách nhìn độc đáo về con người, về cuộc đời và về những lẽ nhân sinh trongcuộc sống Tất cả những điều đó được nhà văn gửi gắm một cách sâu sắc trong cáctác phẩm của mình thông qua hệ thống nhân vật, biến cố, sự kiện, Và khi đó, mỗitác phẩm trở thành những sinh mệnh nghệ thuật hay thực thể nghệ thuật mang tínhquan niệm Tính quan niệm ấy ở mỗi nhà văn lại có những khác biệt, cái mà chúng
ta gọi là phong cách nghệ thuật Với Haruki Murakami, điều đáng ngại và cũng làđiều hấp dẫn nhất trong những cuốn sách của ông là chúng luôn được nhiều hơnphần của mình Chúng kháng cự lại những cố gắng định nghĩa, chúng nhân danhcho một cái gì đó không gọi được thành tên, chúng dường như có được một cuộcđời ở bên ngoài chúng
Dennis Lim, The Village Voice đã nhận định: “Murakami từ lâu đã bị ám ảnh với những thực tại nằm dưới tầng sâu kín; những câu chuyện của ông thường
Trang 36quanh co trong những địa tầng của thể xác và tâm lý Và cái nhân tĩnh lặng của cuốn tiểu thuyết tầng tầng lớp lớp nhất của ông là một mệnh lệnh bất di bất dịch: Mang ý nghĩa tới cho sự vô nghĩa…Murakami không chỉ là người kể ra những chuyện vô vị của cuộc sống đời thường với một sự chân xác khiến người ta như chạm tới được, ông còn gợi nên sự cộng sinh của một cái gì đó không thể đặt tên,
và vì vậy mà càng trở nên kỳ lạ” [Sđd] Cái không được gọi hay không thể đặt
thành tên ấy chính là quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tạo của HarukiMurakami, cái đích cuối cùng mà chúng ta hướng đến và nhất thiết phải làm rõ khi
đi vào khảo sát các tác phẩm của nhà văn
Nguyễn Lan Anh trong bài viết “Sự ám ảnh Murakami Haruki” đã chỉ ra rằng: “Nhân vật trong sáng tác của Murakami luôn mang theo sự hoài nghi của thời đại, sự ám ảnh về thân phận con người giữa thế giới Họ tìm nhau, đồng cảm, san sẻ, rồi lại ngập sau trong sự phi lí không dứt ra được và những lí tưởng rỗng tuếch Thậm chí họ không biết họ sống vì cái gì, băn khoăn cái gì, và vì sao lại phải chết? Những câu chuyện nho nhỏ về cuộc sống, đàn bà, về tình yêu, cái chết, và sự
nỗ lực của lớp người trẻ đang tồn tại Trong trạng thái của sự cô đơn, trơ trọi, mệt mỏi và buồn bã, cả nhân vật của cuốn sách lẫn độc giả đều cảm nhận rằng: Chết không đối lập với sống mà là cái ẩn ngầm phía dưới cuộc đời ta đang sống”.
Chúng tôi cho rằng đây là một khái quát rất hợp lí và có ý nghĩa sâu sắc Cũng cách
hiểu đó sina.com đã khẳng định: “Hiểu được Murakami, thì cũng như đang hiểu chính bản thân mình, nếm trải tất cả những gì đã mất trong cuộc đời mình…”
[Sđd]
Những câu hỏi liên tiếp hiện ra trong tâm trí Hajime trong Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời, về ý nghĩa cuộc đời cũng như của từng trải nghiệm dù là nhỏ
nhất hay sự hoang mang về ranh giới giữa thực và hư, chân thành và giả tạo, quy tắc
và ngoại lệ,…Những hồi ức đau buồn về cái đã qua đi và cái có thể xảy ra, những
suy tư sầu thảm về sự bất khả của tình yêu trong Rừng Nauy Hay những lực đẩy tiềm thức, sự trống rỗng đầy hoan lạc trong Kafka bên bờ biển; những cuộc hành
trình vào những địa tầng xa xôi nhất của tinh thần con người trong sự đối diện với
bản thể, nỗi đau, sự sống cái chết,…trong Biên niên ký chim vặn dây cót,…Tất cả
những điều kì diệu và huyền hoặc đó, là những minh chứng cụ thể và sinh độngnhất cho những luận điểm mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên Haruki Murakami muốn
Trang 37gửi gắm điều gì khi thể hiện những bức tranh phi lí ấy trong tác phẩm của mình?
“Điều khiến tôi quan tâm là chủ đề bóng tối sống động nào đó ở trong chính con người” Đó là câu trả lời của nhà văn và cũng chính là quan niệm của ông về con
người giữa chốn nhân gian đầy bí hiểm này
Nhưng tại sao những sự hụt hẫng, mơ hồ, hy vọng, ảo tưởng, thất vọng ấy lạixuất hiện trong tiểu thuyết của nhà văn xứ Phù Tang này và lặp đi lặp lại như một
ám ảnh sâu sắc nhất của thời đại chúng ta? Chính Haruki Murakami đã từng nói
rằng: “Một trạng thái tâm lí chung của con người trong thế giới đương đại, ấy là
họ trở nên băn khoăn liệu thế giới họ trông thấy là thực hay không thực Tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ ngày 11/9/2001, những vụ tấn công ở New York trong quang cảnh hồ như không thực…Khi đoạn video tòa tháp sụp đổ được chiếu đi chiếu lại liên miên, vài người có thể vô thức và nhất thời cảm thấy họ đang lạc vào một thế giới lạ lùng nơi hai tòa tháp ấy không tồn tại Họ có thể nghĩ có một thế giới nơi Tổng thống George W Bush không tái đắc cử và cuộc chiến Iraq không bùng nổ Tôi nghĩ trận động đất lớn ở Hanshin tháng Giêng năm
1995 và vụ tấn công bằng khí độc hệ thống tàu điện ngầm Tokyo tháng Ba cùng năm đó khiến nhiều người Nhật trải qua cảm thức tách biệt khỏi thực tại trước người dân các nước khác Họ tự hỏi, "Chúng ta ở đây làm gì?" Các tiểu thuyết của tôi, ngoại trừ Rừng Na Uy, đều không đại diện cho những gì chúng ta gọi là thực tế,
mà dường như đã bắt đầu được chấp nhận trên toàn thế giới như là các tác phẩm đại diện cho chủ nghĩa thực tế mới - đặc biệt từ sau 11/9” Đọc những lời này của
Haruki, chúng ta hiểu rõ tại sao những nhân vật của ông lại thường xuyên chìm vàosuy tư, chiêm nghiệm hoặc kiếm tìm những cảm giác xác thực về sự tồn tại củamình bằng những chuyến đi, bằng vũ lực, bằng quan hệ xác thịt và cả bằng cái chết
Bởi đối với nhà văn “cái chết không phải là sự đối lập của cuộc sống mà là một phần của nó”.
Trong một thế giới nơi sự vô vị tầm thường trộn lẫn một cách hài hòa với cáibất thường và bóng tối, những nhân vật của Haruki Murakami tác động đến nhauhoặc trực tiếp hoặc gián tiếp Họ đánh vật với cái nội tâm bên trong và đôi lúc thoát
ra ở ranh giới bí ẩn nào đó Những câu chuyện hấp dẫn, hoài cổ mang tính chấtchiêm nghệm tâm lí, triết học và hầu như là đụng đến cả thế giới tâm linh Đó là tất
cả những gì nhà văn đã trải ra trên trang giấy của mình, một cách nhẹ nhàng, thầm
Trang 38lặng; những dòng kí ức trong ông dần thấm sâu vào tâm trí người đọc, tạo ra mộtcảm giác bâng khuâng, đôi khi trống trải
Bằng trí tưởng tượng siêu việt của mình, Murakami đã đưa người đọc đếnnhững thế giới cực kì phức tạp và lạ lùng, thực và ảo, quá khứ và hiện tại đan quyệnvào nhau; nơi những con người kì quặc vừa sống vừa tự hỏi không biết có phảimình đang sống không; nơi những giá trị tư tưởng như hiển nhiên của cuộc sốngđương đại chỉ được vọng đến như những tiếng ồn từ mặt đất xuống đáy giếng cạnhay khúc xạ như ánh mặt trời buổi trưa chiếu qua lỗ hẹp ở miệng giếng trên xa mạc
Kỳ quặc như vậy, phi hiện thực như vậy nhưng vẫn ôm trọn hầu như tất cả cuộcsống đương đại của xã hội Nhật Bản đang đầy hoang mang
Haruki Murakami đã đẩy nhân vật của mình vào giữa ranh giới của sự sống
và cái chết; mặc cho anh ta kêu la thảm thiết, mặc cho anh ta sợ hãi và tuyệt vọng
Kể ca khi mọi hy vọng trong những con người kia đã tắt ngấm, nhà văn cũng khôngđưa tay ra để cứu vớt họ Tác giả tỏ ra là người có sự kiên nhẫn đáng khâm phục,khi ông để cho các nhân vật hồi tưởng về quá khứ của mình trong những phút giâykinh hoàng nhất, để rồi gạt đi tất cả mọi sự hư vô của cuộc đời; đứng lên, thoát ra vàbắt đầu cuộc sống mới với nguyên vẹn tình yêu Đó chính là ý nghĩa nhân bản sâusắc của tiểu thuyết Murakami
Phải chăng con người có thể thấy được chính mình khi xa lánh cộng đồng,trốn mình trong bóng tối của giếng sâu hay bình yên nơi hòn đảo xa vắng? Mọi conđường đều dẫn các nhân vật của Haruki trở về với thực tại cuộc sống của anh ta.Bởi một điều giản đơn, giữa chốn nương thân trần thế này, không chỉ có “ngã” màcòn có “tha nhân” Chính vì lẽ đó, những con người trong tác phẩm của nhà vănluôn cố gắng xích lại gần nhau hoặc ngẫu nhiên, hoặc như một định mệnh Họ mangđến trong nhau chút hơi ấm đồng loại, khỏa lấp những thiếu vắng và khoảng trống
trong nhau Như Haruki Murakami đã từng nói trong một tác phẩm của ông: “Nói cho cùng, có thể nào một con người có thể hiểu được một người khác trọn vẹn” Và
vì chưa hiểu nhau nên phải tìm đến bên nhau để cảm thông, chia sẻ; để cùng nhauvượt qua mọi đớn đau, thù hận, khổ ải
J Kawabata du hành trên những nẻo đường xa xôi để tìm kiếm và cứu rỗi cáiđẹp - một cái đẹp trinh nguyên thủa ban đầu Nhật Bản; đắm chìm trong thinh khôngcủa sự nhẹ nhàng, thanh khiết của trà đạo, thơ Haiku và Thiền đạo Haruki
Trang 39Murakami lại dấn thân giữa dòng đời xuôi ngược để tự mình cảm nhận về cuộcsống và tái hiện nó trên từng trang viết Nhạc Jazz và những tách cà phê, cuộc sốngđơn điệu và sex,… tất cả những thứ đó khiến người ta nghĩ rằng Murakami dườngnhư đang tỏ ra sùng kính văn hóa phương Tây Thế nhưng, mảnh đất và con ngườitrong tiểu thuyết của ông chẳng phải nơi nào xa xôi trên địa cầu rộng lớn này màchính là nước Nhật với những con người giữa lòng xã hội ấy Có chăng, J.Kawabata thì viết về một nước Nhật truyền thống còn Haruki Murakami lại đi tìmhình bóng của xứ Phù Tang ở hiện tại và cả trong tương lai Đó cũng chính là điểmhấp dẫn của nhà văn Nhật Bản đương đại này.
Nghệ sĩ đích thực là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ranhững tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá quan niệm nghệthuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giáđúng thành tựu của họ Tìm hiểu quan niệm về con người trong tư tưởng nghệ thuậtcủa Haruki Murakami cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó
Chương 2
Các kiểu nhân vật hành trình trong Biên niên ký chim vặn dây cót
và Người tình sputnik
Trang 402.1 Giới thuyết chung
Trong chương 1, chúng tôi đã khảo sát trên những nét lớn, những tiền đề xãhội; triết học, tư tưởng trong hoàn cảnh hậu-hiện đại và quá trình sáng tạo của nhàvăn Haruki Murakami Từ đó, chúng tôi chỉ ra những điều kiện nảy sinh kiểu nhânvật hành trình trong văn học thế giới nói chung, văn học Nhật Bản nói riêng, trong
đó có tiểu thuyết Murakami Những khái quát đó vừa là nền tảng, vừa là định hướng
giúp chúng tôi xác lập các kiểu nhân vật hành trình trong hai tiểu thuyết Biên niên
ký chim vặn dây cót và Người tình Sputnik.
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier, Alain Gheerbrant,NXB Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 2002) khi đề cập đến “Hành trình”,
phong phú, nhưng tựu chung đó là sự tìm chân lý, hòa bình, bất tử, là tìm kiếm và phát hiện một trung tâm tinh thần…Những cuộc hành trình ấy biểu đạt một ước muốn sâu sắc về những chuyển biến nội tâm, một nhu cầu về những trải nghiệm mới, hơn là một sự di chuyển cục bộ…Như thế biểu tượng cuộc hành trình khôngchỉ gắn với những sự chuyển dịch đơn thuần trong không gian địa lí Cái sâu xa mà
nó muốn nhắm tới là những sự chuyển biến tâm hồn; những cuộc du hành trong tâmtưởng, trong vô thức,…của một cá nhân bất kì nào đó hoặc của cả một cộng đồngngười
Trong văn học Việt Nam cũng như văn học thế giới, không ít lần ta bắt gặpnhững cuộc hành trình Và, “cuộc hành trình” qua ngòi bút tài năng của các nhà văn
đã trở thành những biểu tượng văn học mang nhiều giá trị sâu sắc Chúng ta bắt gặpmột cuộc hành trình tìm đến với vinh quang và cái chết của đội quân hơn 60.000người trong cuộc nội chiến Mĩ, được tác giả E.L Doctorow tái hiện qua cuốn tiểu
thuyết “The March” (Tháng Ba) Cuộc hành trình kiếm tìm chân lí cuối cùng của
Đông Juăng , được Giorgio Bairơn thể hiện thành công qua cuốn tiểu thuyết bằngthơ cùng tên Đó cũng là cuộc hành trình kiếm tìm một xã hội giàu có về của cải,dạt dào tình thương, lẽ công bằng và lòng nhân đạo của Jăng van Jăng trong
“Những người khốn khổ”- V Hugo Hay cuộc hành trình kiếm tìm chân lí của
Fauxt để khẳng định cái bản ngã đích thực của con người đã được Johan VônFgăng
Gơt thể hiện thành công trong vở bi kịch xuất sắc-Fauxt Cuộc hành trình tìm về với