1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông huyện anh sơn tỉnh nghệ an luận văn thạc sỹ ngữ văn

103 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm Tra, Đánh Giá Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn Ở Trường Trung Học Phổ Thông Huyện Anh Sơn Tỉnh Nghệ An
Tác giả Hồ Quang Trung
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Tứ
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 702,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn củahọc sinh trung học” [27, 59].“Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình dạy học và học tập; vì một mặt, nó nhằm

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Trường Đại học Vinh, Khoa Ngữ văn, các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia học tập, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Tôi xin bầy tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Văn Tứ đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo Ban giám hiệu và tập thể giáo viên bộ môn Ngữ văn của các trường THPT huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, các bạn bè đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành khoá học và luận văn.

Mặc dù trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi đã nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót.

Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Hồ Quang Trung

Trang 3

2 Lịch sử nghiên cứu các vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản 9

1.1.1 Môn Ngữ văn 9

1.1.2 Trường trung học phổ thông 10

1.1.4 Kiểm tra, đánh giá 13

1.2.1 Quy trình nhận thức kiến thức môn Ngữ văn và hoạt động kiểm tra, đánh giá việc tiếp nhận kiến thức môn Ngữ văn 15

1.2.2 Những yêu cầu của chương trình dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 26

1.2.3 Những vấn đề về hiệu quả của giáo dục và yêu cầu bám sát đối tượng trong dạy học 31

1.3 Cơ sở thực tiến của vấn đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 33

1.3.1 Đặc điểm tình hình kinh tế-xã hội và chất lượng giáo dục của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 33

1.3.2 Thực trạng chung về hoạt động dạy học môn Ngữ văn và việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn các trường THPT ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 41

1.3.3 Những yêu cầu về bám sát đối tượng trong dạy học môn Ngữ văn và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn trong các trường THPT ở huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An 46

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ YÊU CẦU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ANH SƠN 47

2.1 Những nguyên tắc chung 47

2.1.1 Nguyên tắc bám sát mục tiêu 47

2.1.2 Nguyên tắc bám sát nội dung, chương trình dạy học 49

2.1.3 Nguyên tắc bám sát địa bàn đối tượng học sinh 49

Trang 4

2.2 Những yêu cầu, nội dung cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học

môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn Nghệ An 50

2.2.1 Những yêu cầu cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá 50

2.2.2 Những nội dung cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 53

2.3 Hình thức và quy trình của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn trường THPT ở huyện Anh Sơn Nghệ An 56

2.3.1 Hình thức kiểm tra, đánh giá 56

2.3.2 Quy trình thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn 67

Chương 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ TƯ LIỆU PHỤC VỤ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN 69

3.1 Thiết kế các bài kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn 69

3.1.1 Yêu cầu của đề kiểm tra 69

3.1.2 Mục tiêu, nội dung, hình thức của đề kiểm tra 70

3.1.3 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 71

3.2 Thiết kế tiêu chí đánh giá năng lực môn Ngữ văn cho học sinh THPT ở huyện Anh Sơn 82

3.3 Thiết kế tích hợp kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn trong các môn học khác và các hoạt động khác 84

3.3.1 Yêu cầu chung 84

3.3.2 Tích hợp đánh giá môn Ngữ văn trong các môn học khác và các hoạt động ngoài giờ lên lớp 85

3.4 Thực nghiệm, thăm dò về tính khả thi, tính hiệu quả của các thiết kế nói trên trong các trường THPT huyện Anh Sơn Nghệ An 87

3.4.1 Mục đích thực nghiệm, thăm dò 87

3.4.2 Nội dung thực nghiệm, thăm dò: thực nghiệm về nội dung, hình thức và quy trình sử dụng 87

3.4.3 Phương pháp thực nghiệm, thăm dò 87

3.4.4 Kết luận qua thực nghiệm, thăm dò 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

hóa Nghị quyết TW 2 Khóa VIII xác định “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững ” Bởi vậy, “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ” [44, 6].

Quán triệt thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 ngày 03/12/2004 củaQuốc hội về giáo dục “tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng gọn nhẹ,hiệu quả thiết thực”, ngành giáo dục và đào tạo chủ trương: Nâng cao chấtlượng thi cử, kiểm tra, đánh giá để đảm bảo đây là khâu quan trọng, tác độngtích cực, mạnh mẽ trong quá trình dạy và học; phải đồng thời vừa đổi mớikiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì ở các bậc học, vừa đổi mới kì thi tốtnghiệp THPT, thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyênnghiệp “Đối với một số môn khoa học xã hội và nhân văn như: Ngữ văn,Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, cần coi trọng đổi mới kiểm tra, đánh giá

Trang 6

theo hướng hạn chế yêu cầu học sinh chỉ ghi nhớ máy móc, không nắm vữngkiến thức, kĩ năng môn học Trong quá trình dạy học, cần từng bước đổi mớikiểm tra, đánh giá bằng cách nêu vấn đề, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổnghợp kiến thức, kĩ năng và biểu đạt chính kiến của bản thân” [13].

1.2 Về thực tiễn

Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổimới sâu sắc và toàn diện: từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sangnền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lícủa nhà nước Chuyển từ chính sách “đóng cửa” sang chính sách “mở cửa”làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới Với công cuộc đổi mới, chúng

ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế, văn hóa - xãhội, trong đó giáo dục đã có một cuộc cách mạng thực sự

Khác với những lần cải cách giáo dục trước đây (năm 1950, 1956,1980), lần này ngành giáo dục chỉ tập trung đổi mới chương trình giáo dụcphổ thông (từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông) Tuy nhiên,cần hiểu chương trình theo quy định của Luật Giáo dục: “Chương trình giáodục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng,phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông; phương pháp và hình thức

tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với cácmôn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” [44, 18] Nhưvậy, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải là quá trình đổi mới từmục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chấtlượng giáo dục, kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình, từ quan niệmcho đến quy trình kĩ thuật và đổi mới hoạt động quản lí cả quá trình này Kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì ở trường THPT nói chung và bộmôn Ngữ văn nói riêng bao gồm các hình thức: kiểm tra miệng (vấn đáp),kiểm tra viết (15 phút, một tiết, học kì,…) là khâu quan trọng của quá trìnhdạy học, có quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học, góp phần đáp ứngyêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo các mục tiêu giáo dục Hoạt

Trang 7

động kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện nghiêm túc, khách quan, minhbạch nhằm thu được kết quả chính xác, cung cấp những thông tin phản hồicần thiết để điều chỉnh quá trình dạy học.

Tuy nhiên hoạt động kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở các trườngTHPT hiện nay nói chung và các trường THPT ở huyện Anh Sơn nói riêngcòn tồn tại khá nhiều bất cập, cần được nhanh chóng khắc phục

- Thứ nhất biểu hiện chạy theo thành tích khá dài, tạo ra những lệch lạctrong kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì trong quá trình dạy học

- Thứ hai nền kinh tế thị trường phát triển, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội do vậy hoạt động kiểm tra, đánh giá ở một số trườngTHPT không chú ý đến chất lượng mà chỉ chú ý đến hình thức, chiếu lệ

- Thứ ba biểu hiện của tình trạng đối phó “thi thế nào thì học thế ấy”trái với nguyên lí giáo dục

Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên cần phải xác định thật rõmục đích yêu cầu của đổi mới kiểm tra, đánh giá cũng như những biện phápđổi mới hoạt động này trong quá trình dạy học môn Ngữ văn Chính vì vậy,

chúng tôi chọn đề tài “Kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An” nhằm góp phần giải quyết vấn

đề trên trong phạm vị các trường trung học phổ thông ở địa bàn một huyệncủa tỉnh Nghệ An

Trang 8

Nó thu hút sự quan tâm không chỉ của người dạy, người học, người quản lígiáo dục mà còn thu hút sự quan tâm của các bậc phụ huynh và dư luận xãhội Chính vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc nghiên cứu vềkiểm tra, đánh giá trong dạy nói chung và môn Ngữ văn nói riêng để tìm racác giải pháp, các cách thức để kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn nhằm thúcđẩy quá trình dạy học bộ môn nói chung và phương pháp dạy học nói riêngđạt hiệu quả cao

Hơn nữa, “đánh giá là công cụ quan trọng chủ yếu để xác định năng lựcnhận thức của người học điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổimới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạocon người theo mục tiêu giáo dục” [2, 5]

“Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình

độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyênnhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáoviên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến

bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra Đổimới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới củamục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng pháttriển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạtcác kiến thức kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ nhữngcảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cánhân, gia đình và cộng đồng Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoátkhỏi qũy đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực”[34, 36]

Thống nhất với quan điểm đổi mới đánh giá như trên việc kiểm tra, đánhgiá sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mụctiêu giáo dục của môn học ở từng lớp từng cấp Các câu hỏi bài tập sẽ đođược mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định

Hướng tới yêu cầu kiểm tra, đánh giá công bằng, khách quan kết quả học

Trang 9

tập của học sinh, bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giákhác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá

cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tíchcực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thứcmới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm Điều này đòi hỏi giáo viên bộ môn đầu tưnhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn

Nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu tham khảo, của tập thể, cá nhân,của các cơ quan quản lí giáo dục ở Bộ, Sở, đã đề cập đến vấn đề kiểm tra,đánh giá, khảo thí, kiểm định chất lượng trong giáo dục và dạy học Đó lànhững tài liệu quan trọng định hướng cho việc kiểm tra đánh giá môn Ngữvăn ở trung học phổ thông

2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu vấn đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT nói chung và các trường THPT ở huyện Anh Sơn Nghệ An nói riêng

Trong công trình Phương pháp dạy học văn, GS Phan Trọng Luận đã

đề cập tới vai trò của đánh giá trong dạy học bộ môn “đánh giá là khẳng địnhgiá trị nhiều mặt của tác phẩm trong quá trình phân tích và sau phân tích Giátrị đó bao gồm: giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, đóng góp của nhà văn, bàihọc cho cuộc sống Kết quả đánh giá tác phẩm phụ thuộc vào giá trị kháchquan của tác phẩm, chủ thể hoạt động đánh giá, điển hình được chọn vàothước đo để đánh giá tác phẩm Những thế hệ độc giả khác nhau xuất phát từtâm lí xã hội, trình độ và nhu cầu cá nhân khác nhau, sẽ đi đến những kết luận

về giá trị tác phẩm không giống nhau” [32, 460]

Tác giả Nguyễn Thúy Hồng trong một chuyên khảo về đổi mới kiểmtra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn, đã khẳng định: “Đổi mới đánh giákết quả học tập của học sinh ở trường THCS, THPT là một điều cần thiết Vềmặt lí thuyết, khi mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học ở các cấp họcnày đã thay đổi thì không thể không thay đổi cách kiểm tra, đánh giá Về mặtthực tiễn, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh có sức mạnh

Trang 10

hết sức to lớn trong việc điều chỉnh, uốn nắn cách dạy, cách học môn họctrong nhà trường Những đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn củahọc sinh trung học” [27, 59].

“Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình dạy học

và học tập; vì một mặt, nó nhằm đánh giá, phân loại chất lượng giảng dạy vàhọc tập vào những thời điểm cụ thể dựa trên những mục tiêu và những yêucầu cụ thể của chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình môn học;mặt khác còn có thể điều chỉnh trở lại nội dung, phương pháp dạy học theochiều hướng tích cực hơn” [45]

Cốt lõi của đổi mới nội dung và phương pháp dạy học để đáp ữngnhững yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục là hướng tới hoạt động học tập,chống lại thói quen học tập thụ động Vì thế, chừng nào việc kiểm tra, đánhgiá chưa thoát khỏi quý đạo học tập thụ động, một chiều thì chưa thể pháttriển dạy và học tích cực, chưa thể nói tới sự triệt để trong đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn Điều đó có nghĩa là khi mục tiêu nội dung chươngtrình và phương pháp dạy học đã thay đổi thì không thể không thay đổi cáchkiểm tra, đánh giá

“Đổi mới kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc trưng của môn Ngữvăn Tăng cường ra đề kiểm tra theo hướng “mở” nhằm phát huy năng lựcsáng tạo của học sinh, hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực củamình Coi trọng kiểm tra đánh giá kĩ năng diễn đạt và bồi dưỡng tình cảmhứng thú học tập, hạn chế tối đa tình trạng ra đề kiểm tra yêu cầu học sinhhọc thuộc lòng, ghi nhớ máy móc” [48]

Như vậy các nhà nghiên cứu về đổi mới kiểm tra, đánh giá nóichung về bộ môn Ngữ văn nói riêng đều quan tâm tới vấn đề kiểm tra,đánh giá nhằm thúc đẩy phương pháp dạy học đạt hiệu quả tốt nhất Trongnhững năm qua ở địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, các thầy cô giáocũng không ngừng nghiên cứu để tìm ra phương pháp kiểm tra, đánh giánhằm đạt hiệu quả tốt nhất cho các em học sinh ở trên địa bàn, nhằm mục

Trang 11

đích nâng cao hiệu quả giáo dục Tuy nhiên, với đặc trưng riêng của họcsinh THPT ở một huyện miền núi, những nghiên cứu, tìm kiếm có tínhchất sáng kiến - kinh nghiệm ấy chỉ dựng lại ở những nét phác thảo, chưatạo ra được một giải pháp có tính thực tiễn và tính khả thi phù hợp với địabàn của huyện Anh Sơn.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, làm rõ hơn mụctiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp và quy trình kiểm tra, đánh giá trongdạy học môn Ngữ văn ở trường THPT và các trường THPT ở huyên Anh Sơn,Nghệ An, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Ngữvăn ở các trường THPT huyện Anh Sơn Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề kiểm trađánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở THPT; từ đó xác định mục tiêu, yêucầu, nội dung, phương pháp và quy trình kiểm tra, đánh giá trong dạy họcmôn Ngữ văn phù hợp với các trường THPT ở huyện Anh Sơn Nghệ An

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra, đánh giá trong dạy học

môn Ngữ văn ở các trường THPT huyện Anh Sơn Nghệ An

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát

các vấn đề liên quan đến mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp và quytrình kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyệnAnh Sơn Nghệ An

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lí luận, nhằm tìm hiểu những cơ sở khoa học, tổng hợp ý kiến của các nhà khoa học về vấn đề nghiên cứu Chúng tôi cũng đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để khảo sát thực trạng, thăm dò ý kiến của các giáo viên

Trang 12

và các nhà quản lí, thực nghiệm dạy học về vấn đề nghiên cứu Đồng thời,

chúng tôi cũng sử dụng phương pháp thống kê để tổng hợp, đánh giá các số

liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là nghiên cứu đầu tiên, có hệ thống về vấn đề kiểm tra, đánhgiá trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT huyện Anh Sơn, tỉnhNghệ An Vì vậy, luận văn góp phần cụ thể hoá những cơ sở lí luận của vấn

đề kiếm tra, đánh giá, khảo sát và đánh giá thực tiễn vấn đề này trong hoạtđộng dạy học, đồng thời cung cấp những nội dung cơ bản góp phần đổi mớicông tác kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPThuyện Anh Sơn hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có bachương:

Chương 1 Cơ sở khoa học của vấn đề kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn trường trung học phổ thông

Chương 2 Yêu cầu, nội dung, phương pháp và quy trình kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An Chương 3 Thiết kề một số tư liệu phục vụ kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn Nghệ An

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ

TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Môn Ngữ văn

Là một trong ba môn học (Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ) có số giờ học caonhất trong trường THPT Ngoài tính chất là một môn học công cụ, góp phầnhình thành bốn kĩ năng cơ bản, thiết yếu cho học sinh (nghe, nói, đọc, viết),môn Ngữ văn còn có những đặc thù riêng Nó giữ một vai trò quan trọngtrong việc thực hiện những mục tiêu giáo dục chung của trường THPT, trang

bị cho học sinh công cụ để giao tiếp trong học tập và sinh hoạt nhận thức về

xã hội và con người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đặc biệt góp phần hìnhthành những con người có trình độ học vấn phổ thông Bên cạnh việc hìnhthành và phát triển ở học sinh các năng lực nghe, nói, đọc, viết, phân tích,cảm nhận và bình giá các tác phẩm văn học, môn Ngữ văn còn giúp học sinh

có được những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp như: biết yêu quý các giá trị chân thiện - mĩ, căm ghét cái ác, cái giả dối, xấu xa… biết yêu thương, quý trọnggia đình, bạn bè; có tình yêu thiên nhiên, có lòng yêu nước, tinh thần tôntrọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, ham muốn đemtài trí của mình cống hiến cho đất nước, cho nhân loại…

-Việc thay đổi tên gọi từ môn Văn (chương trình trước đây) sang Ngữvăn đã nói lên tính tổng hợp của môn học bao gồm cả kiến thức, kĩ năng củatiếng Việt, giảng văn, tập làm văn Môn Ngữ văn ở THPT có nhiệm vụ cungcấp cho học sinh một khối lượng tri thức văn học tương đối có hệ thống, baogồm các tác phẩm, tác giả, của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài,ngôn ngữ hoc, văn học sử, lí luận văn học và một số tác phẩm thuộc nhữngloại khác như: sử kí, văn nhật dụng Từ đó, giúp các em học sinh mở rộng

Trang 14

khả năng đọc - hiểu và tiếp xúc với đời sống xã hội Đồng thời, rèn luyện chohọc sinh năng lực đọc độc lập, bắt đầu từ đọc đúng, hiểu đúng văn bản tiếngViệt, tiến tới hiểu đúng nội dung, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm, biết phântích đánh giá tác phẩm một cách có phương pháp và sáng tạo Bên cạnh đó,các em cần biết viết các văn bản thông dụng như: tự sự, thuyết minh, hànhchính công vụ, đặc biệt là văn bản nghị luận xã hội và nghị luận văn học mộtcách mạch lạc, khúc chiết và có nội dung cần thiết

1.1.2 Trường trung học phổ thông

Trường trung học phổ thông, là một loại hình đào tạo chính quy ở ViệtNam dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18 không kể một số trường hợp đặc biệt Nógồm các khối học: lớp 10, lớp 11, lớp 12 Sau khi tốt nghiệp hệ giáo dục này,học sinh được nhận bằng Tốt nghiệp phổ thông trung học, có một tên gọi kháccho loại bằng này là “Bằng Tú tài” “Cấp THPT gồm ba năm học từ lớp 10đến lớp 12, là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, nối tiếp cấp trunghọc cơ sở và có trách nhiệm hoàn thành việc đào tạo tiếp thế hệ học sinh đãqua các cấp học trước đó của nhà trường phổ thông Đây là cấp học vừa trựctiếp tạo nguồn cho bậc Cao đẳng, Đại học nói riêng, vừa góp phần quantrọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước nói chung” [34, 11]

Nói cụ thể hơn, cấp học này một mặt, cần chuẩn bị cho học sinh nhữngtri thức và kĩ năng về khoa học xã hội, nhân văn, toán học, khoa học tự nhiên,

kĩ thuật để họ có thể được tiếp tục đào tạo ở bậc học tiếp theo, mặt khác cầnhình thành và phát triển cho họ những hiểu biết về nghề phổ thông cần thiếtcho cuộc sống, tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội và khi có điềukiện có thể tiếp tục học lên

Văn bản chương trình giáo dục cấp THPT đã trình bày mục tiêu củagiáo dục phổ thông: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng

cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện họcvấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp,

Trang 15

có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tụchọc Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộcsống lao động” [44, 17].

1.1.3 Hoạt động dạy học

Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các

kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có

khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học.

Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường, diễn

ra theo một quá trình nhất định gọi là quá trình dạy học Đó là một quá trình

xã hội bao gồm và gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học trong đó họcsinh tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều kiển và điều chỉnh hoạtđộng nhận thức của mình dưới sự điều khiển chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn củagiáo viên nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học

Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy, hành động củangười dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng khônggian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học

a Hoạt động dạy

- Dạy học được hiểu là một hình thức đặc biệt của giáo dục (nghĩarộng), xem như là một trường hợp riêng của nó (của giáo dục) Dạy học là conđường đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ biện chứng và phối hợp với cáccon đường, các hoạt động khác trong quá trình giáo dục để thực hiện các mụctiêu và nhiệm vụ giáo dục đặt ra

- Dạy học là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức,kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học nhằm hình thành và pháttriển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng Dạy học bao

Trang 16

hàm trong nó sự học và sự dạy gắn bó với nhau, trong đó sự dạy không chỉ là

sự giảng dạy mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo và điều khiển sự học

- Dạy học là một mặt của quá trình dạy và học do người giáo viên thựchiện theo nội dung, chương trình đào tạo đã định, nhằm giúp người học đạtđược các mục tiêu học tập theo từng bài học hoặc toàn khóa đào tạo Hoạtđộng dạy học không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành

kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn gópphần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

- Dạy là hoạt động của giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ chohọc sinh những nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề ra, mà hơn nữa làhoạt động giúp đỡ chỉ đạo và hướng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội Chỉkhi nào nắm bắt được các điều kiện bên trong (hiểu biết, năng lực, hứng thú,

…) của học sinh thì giáo viên mới đưa ra được những tác động sư phạm phùhợp để hoạt động học đạt được kết quả mong muốn

b Hoạt động học

- Học, theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự pháttriển nhân cách trong hoạt động của con người, là sự lĩnh hội những “sứcmạnh bản chất người” đã được đối tượng hóa trong các sản phẩm của hoạtđộng con người Đó là hoạt động phản ánh những mặt nhất định của hiện thựckhách quan vào ý thức người học Tuy nhiên nó chủ yếu hướng người học vàolĩnh hội những chân lí đã được loài người phát hiện nhưng chúng lại là mớiđối với họ

- Hoạt động học là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học,thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng

có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thựckhách quan

Hoạt động dạy học gồm hai mặt của quá trình đó là dạy và học luôn đikèm biện chứng với nhau Hoạt động dạy - học có các đặc trưng sau đây:

* Thể hiện vai trò chủ đạo của giáo viên

Trang 17

* Là một hoạt động có mục đích rõ ràng

* Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể

* Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, phòng thí nghiệm)

* Sử dụng các phương tiện đa dạng (ngôn ngữ, thiết bị, tài liệu)

* Đa dạng về hoạt động: nhận thức, trí tuệ, vận động, thao tác, …

* Kết quả hoạt động dạy được đánh giá thông qua kết quả hoạt động học tập

1.1.4 Kiểm tra, đánh giá

a Kiểm tra

Trong Từ điển tiếng Việt, đã định nghĩa như sau: kiểm tra là xem xét

thực chất, thực tế Theo tác giả Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra

là soát xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá,nhận xét Còn theo tác giả Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữkiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá

“Kiểm tra là một hình thức và phương tiện đánh giá có tầm quan trọngđặc biệt trong cung cấp thông tin hay cơ sở dữ liệu cho đánh giá Lợi thế củakiểm tra là có thể tiến hành đánh giá ở quy mô nhỏ (trong nhóm học, lớp học,

ở từng trường), có thể đánh giá được những kết quả không thể đo trên quy môrộng, hỗ trợ thu thập những thông tin có tính chất tức thời để giáo viên có thểlập kế hoạch giảng dạy, học sinh có thể nhận được nhanh những phản hồi vềkết quả học tập Trong kiểm tra, mỗi học sinh có thể làm riêng hoặc chungmột đề Nhà trường Việt Nam hiện đang sử dụng các hình thức kiểm tra:miệng, 15 phút, 1 tiết, học kì, cuối năm” [27, 27]

Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểmtra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lạicông việc thực tế để đánh giá và nhận xét Trong giáo dục, kiểm tra cócác hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hàng ngày), kiểm trađịnh kì (kiểm tra hết chương, hết phần ) và kiểm tra tổng kết (kiểm tracuối học kì)

Trang 18

b Đánh giá

Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kếtquả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu vớinhững mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp

để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc

Theo Từ điển tiếng Việt, đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị Theo Từ điển tiếng Việt (của Văn Tân) thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một

người hoặc một vật

Đánh giá trong giáo dục, theo tác giả Dương Thiệu Tống, là quá trìnhthu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáodục Căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biệnpháp và hành động trong giáo dục tiếp theo Cũng có thể nói rằng đánh giá làquá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằmxác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh Đánhgiá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính

“Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợp thông tin đủ thích hợp có giátrị và đáng tin cậy; xem xét sự phù hợp giữa tập hợp thông tin này với một tậphợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu nhằm đưa ra một quyếtđịnh” [27, 7]

Trong định nghĩa này, tầm quan trọng của đánh giá không phải ở việc thuthập những thông tin để phán xét giá trị đối với kết quả đo đạc cũng không phải

ở việc đưa ra một ý nghĩa cho một kết quả so với khung đối chiếu với các mụctiêu

Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét vềtrình độ học sinh Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầutiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau

đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa

ra một quyết định Do vậy kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh làhai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để

Trang 19

đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thànhmột quá trình thống nhất là kiểm tra, đánh giá.

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông

1.2.1 Quy trình nhận thức kiến thức môn Ngữ văn và hoạt động kiểm tra đánh giá việc tiếp nhận kiến thức môn Ngữ văn

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nông nghiệp về cơ bảntrở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tốquyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về sốlượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Việc này cầnđược bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết phải bắt đầu từ việc xácđịnh mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được (đối với ngườihọc) sau một quá trình đào tạo Nói chung, phẩm chất và năng lực được hìnhthành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn

Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoahọc công nghệ thể hiện ở sự ra đời nhiều lí thuyết, thành tựu mới cũng nhưkhả năng ứng dụng chúng vào thực tế cao, rộng và nhanh, buộc chương trình,sách giáo khoa phải luôn được xem xét, điều chỉnh Học vấn mà nhà trườngphổ thông trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn, vì vậyphải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới tri thức với loài người,trên cơ sở đó tiếp tục học tập suốt đời Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiệnđại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đãlĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụngtri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới,các tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, tronglao động và trong quan hệ với mọi người Nội dung, chương trình giảng dạytrong nhà trường phải phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh;

Trang 20

cung cấp cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dụcsau này Chương trình và sách giáo khoa mới đã góp phần tích cực trong việcthực hiện yêu cầu đó

Chương trình Ngữ văn THPT mới được biên soạn theo nguyên tắc dạyhọc tích hợp và phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo trong hoạt động họctập Theo đó, cấu trúc của bài học Ngữ văn có những thay đổi nhất định sovới kiểu bài học tách rời từng phân môn Văn học - Tiếng Việt - Làm văntrước đây: Đọc văn và làm văn không tách rời nhau Đọc hiểu văn bản thật tốt

sẽ giúp học sinh hiểu cách sắp xếp bố cục, liên kết bài văn, cách hành văn sửdụng từ ngữ,… do đó sẽ góp phần nâng cao năng lực làm văn Có năng lựclàm văn tốt, học sinh thuận lợi trong việc đọc hiểu văn bản, biết cách tóm tắt,khái quát, diễn đạt chính xác những điều tâm đắc khi đọc văn Kết hợp đọcvăn và làm văn là một cách học văn hiệu quả; đồng thời “phần tiếng Việt sẽcung cấp một hệ thống bài tập tích hợp với phần đọc văn và làm văn, nhằmnâng cao năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh”

Việc đổi mới chương trình và SGK đòi hỏi đổi mới về phương phápdạy học Thông thường sau khi thay sách thì kèm theo các lớp tập huấn về nộidung và phương pháp Sự khác biệt giữa chương trình sách giáo khoa mới vớichương trình sách giáo khoa cũ cũng kéo theo những sự thay đổi về kiểm tra,đánh giá

Kiểu bài giảng văn - còn gọi là phân tích tác phẩm văn học trong nhàtrường hoặc bài dạy học tác phẩm văn chương trong chương trình cũ, là kiểubài lấy tác phẩm văn học để làm đối tượng hình thành và phát triển nhân cáchcho học sinh

Kiểu bài giảng văn là một hình thức cảm thụ và tiếp nhận văn học đặcbiệt, diễn ra trong hoạt động sư phạm của nhà trường phổ thông với những tácphẩm văn học được lựa chọn giảng dạy phù hợp với sự phát triển tâm sinh lícủa học sinh Mục đích của bài giảng văn là tổ chức và hướng dẫn cho họcsinh hiểu, rung cảm trước cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương để từ đó

Trang 21

thay đổi bản thân, thay đổi quan niệm về cách sống theo hướng tốt đẹp, vươntới chân - thiện - mỹ của một cuộc sống hữu ích.

Thuật ngữ giảng văn được dùng chính thức trong nhà trường với tưcách là một phân môn khoa học khoảng 50 năm nay GS Đặng Thai Maiquan niệm: “Giảng văn trước hết là theo dõi trong nếp áng văn, tất cả các tinh

vi về tư tưởng, cái độc đáo về nghệ thuật của một tác giả Hiểu như vậy, giảngvăn trước hết là chỉ rõ sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kĩ thuật

và tư tưởng trong một tác phẩm văn chương”

Từ quan niệm trên của học giả Đặng Thai Mai về môn giảng văn,nhiều nhà chuyên môn đã nghiên cứu trên nhiều bình diện phong phú củagiảng văn GS Phan Trọng Luận cho rằng: “Việc tiếp nhận một tác phẩm vănchương trong nhà trường lại mang tính tập thể và có sự hướng dẫn trực tiếpcủa giáo viên, lao động của người giáo viên văn vừa mang tính nghệ thuật

vừa mang tính sư phạm”

Ở đây sự hướng dẫn của giáo viên nhằm tác động, định hướng vào quátrình phân tích, tiếp nhận của học sinh, chứ không hàm nghĩa giáo viên mặcnhiên quyết định hoàn toàn, áp đặt cách tiếp nhận tác phẩm cho học sinh Những quan điểm như trên về bộ môn giảng văn trong nhà trường phổthông của các nhà nghiên cứu chuyên môn đã định hướng cách dạy cho cáctác phẩm giảng văn trong nhà trường Tuy nhiên trong một thời gian dài cáchphân tích tác phẩm văn học vẫn còn diễn ra theo một chiều thụ động : giáoviên giảng, học sinh nghe và tái tạo kiến thức của thầy Cách phân tích tácphẩm văn học như trên diễn ra ở mọi cấp học

Những năm gần đây, nhiều hội thảo, hội nghị thường xuyên đề cập đếncách dạy, cách học môn giảng văn, đề cao mối quan hệ chính: quan hệ giữatác phẩm văn chương và học sinh Trong đó tác phẩm là đối tượng, học sinh

là chủ thể trước đối tượng đó Giảng văn theo phương pháp mới là chuyểnhóa năng lực của người học văn trong tác phẩm, thành năng lực văn cho từnghọc sinh, coi trọng khả năng tiếp nhận văn bản của học sinh, coi trọng phân

Trang 22

tích chi tiết tác phẩm, song song với việc không phá vỡ tính chỉnh thể của mộttác phẩm văn học, chú trọng giảng dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động họctập của học sinh, coi học sinh là chủ thể của hoạt động học.

Những cách đánh giá mới về phương pháp dạy học văn, sự đổi mới tíchcực cho môn giảng văn của giới nghiên cứu chuyên môn nhằm mục đích nângcao chất lượng giảng dạy, khắc phục tình trạng yếu kém môn văn của họcsinh phổ thông Tuy nhiên trên thực tế các phương pháp mới áp dụng trênchương trình SGK cũ chỉ như “bình mới rượu cũ”, chất lượng dạy và họckhông được nâng cao như mong đợi của nghành giáo dục và toàn xã hội, vìthế giáo dục phổ thông đứng trước đòi hỏi cấp bách: phải đào tạo những conngười phát triển mọi mặt, đặc biệt là năng lực sáng tạo, nhạy bén trong mọihoạt động

Trong khi chương trình SGK cũ đã lạc hậu không còn đáp ứng nhu cầucủa xã hội đòi hỏi, bộ môn giảng văn cũng không còn phù hợp với sự pháttriển tâm sinh lí của học sinh Chương trình giảng văn cũ chỉ thiên về một loạivăn bản: văn bản nghệ thuật với những tác phẩm văn học kinh điển, đã quathẩm định nghiêm ngặt của thời gian và nhiều thế hệ độc giả Và dù có dạyhọc giảng văn theo phương pháp cũ (thầy giảng trò nghe) hay theo phươngpháp mới (học sinh là chủ thể của hoạt động học, thầy chỉ là người hướngdẫn) với nội dung vẫn là một loại văn bản duy nhất thì học sinh cũng chỉ đượchọc kĩ năng tiếp nhận và phản hồi đối với tác phẩm văn chương mà thôi Đây

là thế mạnh của môn giảng văn nhưng đồng thời cũng trở thành điểm yếu,kiểu bài giảng văn trong chương trình SGK cũ chỉ cho học sinh làm quen tiếpcận với tác phẩm văn chương, nên học sinh chỉ được học và rèn luyện cáchphân tích tác phẩm văn học Khi tiếp xúc với thực tiễn, không phải mọi vănbản mà học sinh tiếp xúc trong suốt một đời người không phải chỉ thuần túy làcác tác phẩm văn chương, trên thực tế số văn bản phi nghệ thuật mà học sinhđược đọc lớn hơn rất nhiều lần so với số lượng văn bản là tác phẩm vănchương Do vậy hạn chế của bộ môn giảng văn cũ nằm ở tính chất hàn lâm về

Trang 23

mặt tri thức, xét theo mối quan hệ đời sống nó không phục vụ tích cực chocuộc sống người đọc ngoài đời Vì hạn chế này mà một số giáo viên đã nảysinh khuynh hướng: quá coi trọng vấn đề phân tích tác phẩm văn học, tronggiờ giảng văn tác phẩm văn học được giáo viên “mổ xẻ”, phân tích kĩ đếntừng chi tiết, từng yếu tố và coi như vậy là đã dạy cho học sinh cách phântích tác phẩm văn học Với cách dạy như vậy giáo viên phải luôn dựa vàosách giáo viên, tài liệu tham khảo, có giáo viên soạn giáo án rất chi tiết, cụ thể

và năm học này qua năm học khác chỉ sử dụng một giáo án đã soạn sẵn đó.Cảm xúc và sự sáng tạo cứ bị bào mòn dần, khiến cho học sinh không cònhứng thú đối với tác phẩm mình phải học Khi phương pháp mới được ápdụng theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh thì trong một vài giờdạy, có giáo viên hiểu “tích cực hóa hoạt động của học sinh” là phải có thậtnhiều câu hỏi, càng hỏi nhiều học sinh trong một tiết dạy là thành công

Các hình thức dạy và học văn như vừa đề cập ở trên không còn phù hợpvới xã hội hiện đại Học sinh ngoài việc cần làm quen với kĩ năng phân tíchtác phẩm văn học, còn phải được dạy kĩ năng phân tích các loại văn bản khác

để các em có được những kĩ năng cần thiết, mọi mặt sau này khi ra ngoài đờihoặc tiếp tục học lên cao, các em có thể sử dụng các kĩ năng một cách hữuích

Quan niệm mới về kiểu bài đọc hiểu trong chương trình sách giáo khoamới đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định Khi kiểu bài phân tích tácphẩm không còn thích hợp do phạm vi quá hẹp, chỉ thiên về loại văn bản nghệthuật, kiểu bài đọc hiểu được thay thế trên cơ sở kế thừa những ưu việt củamôn giảng văn cũ và khắc phục hạn chế của môn học này

Đối với kiểu bài đọc hiểu văn bản văn học, mục đích dạy học cơ bảncũng giống giờ giảng văn cũ, tức là tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hiểu cáihay, cái đẹp của tác phẩm văn chương, để từ đó hoàn thiện bản thân thay đổiquan niệm sống theo chiều hướng tốt đẹp hơn Còn đối với những văn bảnkhông phải là tác phẩm văn chương, bộ môn đọc hiểu giúp người đọc nắm

Trang 24

được nội dung văn bản, các thủ pháp diễn đạt để có thể hiểu đúng nội dungvăn bản (điều chú ý ở đây là các thủ pháp diễn đạt nội dung của một tác phẩmvăn học, hoàn toàn khác với một văn bản quảng cáo, văn bản hành chính ).Nếu như giảng văn chỉ chú trọng rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích tácphẩm văn học, học sinh chỉ làm quen với các tác phẩm nghệ thuật, thì đếnkiểu bài đọc hiểu theo chương trình mới được mở rộng ra nhiều thể loại vănbản khác nhau: văn bản nghệ thuật với những tác phẩm thuộc thể loại văn họcdân gian, văn học trung đại và văn học Việt Nam hiện đại, ngoài ra còn có cácloại văn bản thuyết minh, văn bản hành chính, văn bản nhật dụng với nhữngthể loại phong phú như trên học sinh được làm quen và phân tích, tiếp nhậnnhiều loại văn bản khác nhau, nhận ra được những điểm giống và những điểmkhác của các loại văn bản đó.

Kiểu bài đọc hiểu không chỉ giúp học sinh cách nhận biết và phân tíchtác phẩm như đã đề cập ở trên mà quan trọng hơn là rèn cho học sinh kĩ năng

tự đọc để văn bản thể hiện rõ tinh thần đề cao hoạt động sáng tạo của họcsinh, khám phá chú trọng vào yêu cầu hiểu văn bản, hiểu các mối quan hệgiữa các chi tiết, các sự kiện trong văn bản Các em được giáo viên hướng dẫn

và nêu nhận xét, cảm xúc của mình về văn bản đang học

Kiểu bài đọc hiểu ngoài việc hướng dẫn học sinh phân tích văn bảnnghệ thuật về mọi mặt: nội dung ngôn từ, giá trị tư tưởng và nghệ thuật cònchú ý rèn luyện kĩ năng tự khám phá của học sinh Người giáo viên phải tôntrọng cảm nhận chủ quan của học sinh trước văn bản và biết uốn nắn, địnhhướng những cảm xúc ấy không đi quá xa khỏi nội dung văn bản đang học.Đối với những văn bản là tác phẩm văn học, phương pháp dạy học được bộmôn đọc hiểu văn bản sử dụng trong việc phân tích nội dung văn bản, chủ yếuvẫn là khai thác và khám phá nội dung ý nghĩa của văn bản dựa trên sự rungđộng của bản thân người đọc, đồng thời giúp học sinh biết diễn đạt cảm xúcrung động đó Đối với những văn bản không thuộc văn bản văn học, bộ mônđọc hiểu tập trung vào phương pháp phân tích lí tính

Trang 25

Đây là yêu cầu khách quan, khoa học để hướng dẫn học sinh nắm đượcnội dung văn bản, xác định chính xác mục đích văn bản, tìm ra các thủ phápchính mà tác giả sử dụng để diễn đạt nội dung, mục đích văn bản.

Kiểu bài đọc hiểu so với bài giảng văn còn có ưu điểm là mỗi bài đọchiểu còn được dạy theo tinh thần tích hợp Chúng ta đã biết chương trìnhSGK Ngữ văn mới được soạn theo hướng tích hợp ba môn: Đọc hiểu - tiếngViệt - Tập làm văn, đều lấy văn bản làm trục chính và sử dụng ngữ liệu từ vănbản để giảng dạy Dạy học đọc theo kiểu quan điểm tích hợp tạo điều kiện hỗtrợ học sinh tiếp cận sâu và hiểu văn bản hơn

Ở kiểu bài phân tích tác phẩm văn học, học sinh chỉ được học kĩ năngtiếp nhận giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Còn cách diễn đạt cảmthụ kết quả của chính mình thì trong giờ học các em không có cơ hội rènluyện Đến bài đọc hiểu nhấn mạnh vấn đề rèn luyện cho học sinh cách lí giải

về nội dung văn bản, cách xác định và tìm ý trong văn bản, cũng như mụcđích của văn bản muốn đề cập đến Sau đó tổng hợp và đánh giá nhận xét nộidung ý nghĩa của văn bản

Như vậy trong giờ đọc hiểu văn bản học sinh được rèn luyện cách diễnđạt cảm xúc chủ quan của mình thông qua kĩ năng tổng hợp Những kiến thức

về ngôn ngữ môn Tiếng Việt, cách thức phân tích bình giá một văn bản theomột thể loại nhất định trong môn Làm văn, những tri thức, kĩ năng của vănhọc cùng các kiến thức về lịch sử, địa lý, được lồng ghép trong văn bản.Đọc và hiểu tác phẩm văn học là một hành động tự do, mỗi người có mộtcách thức riêng, tùy theo trình độ, thói quen, thị hiếu, sở thích của mình,nhưng nếu nhìn nhận một cách khái quát chúng ta vẫn thấy được những cấp

độ nhất định trong cách thức tiếp nhận văn học Cần phân biệt đọc với tiếpnhận Tiếp nhận rộng hơn đọc (có thể dùng thính giác), còn đọc buộc phảidùng thị giác (trừ những người khiếm thị có những cách đọc riêng) Đốitượng học sinh THPT cần quan niệm quá trình đọc tác phẩm chính là cơ sởcủa quá trình tiếp nhận văn học Tiếp nhận văn học chính là quá trình người

Trang 26

đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệthuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởngthức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo Bằng trí tưởngtượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọckhám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh,hình tượng, nhân vật, dõi theo diễn biến của câu chuyện, làm cho tác phẩm từmột văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút.Như vậy, tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí ngườiđọc nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình.

Sách giáo khoa Ngữ văn với những quan điểm mới trong quá trình biênsoạn như vậy đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy

Để có một giờ dạy đọc hiểu văn bản có hiệu quả, giáo viên cần đáp ứng

được các yêu cầu sau: nắm vững đặc điểm bài học, đặc điểm lớp học.

Hơn ai hết người giáo viên phải nắm thật vững bài học, trọng tâm củabài dạy, đặc trưng của thể loại văn bản thì mới có thể dạy tốt Để làm đượcđiều đó, giáo viên phải đọc kĩ SGK, các sách có liên quan đến bài học, xácđịnh rõ trọng tâm của bài học trong sự kết hợp hài hòa với những hiểu biết vớitừng đặc trưng của thể loại Đặc biệt, giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi

rõ ràng, dự định sẵn tình huống trả lời của học sinh thì mới có thể dẫn dắt các

em hiểu đúng trọng tâm của bài học

Dạy học đọc hiểu là dạy học theo “quan điểm giao tiếp” Do đó, ngườidạy cần phải nắm thật vững tâm lí của học sinh, khả năng hứng thú của từnghọc sinh, đặc điểm và nhu cầu của lớp học muốn vậy giáo viên phải gần gũi,quan tâm học sinh, tìm hiểu đặc điểm học tập của lớp, tạo mọi điều kiện thuậnlợi để kích thích, động viên các em tham gia học tập

Có ý thức sử dụng phương pháp đọc hiểu có chọn lọc Tính chọn lọccủa việc vận dụng phương pháp này ở chỗ, người dạy cần xoáy sâu vào trọngtâm bài học, phát huy những ưu thế của phương pháp đọc hiểu Cố gắng vậndụng khai thác bài học bằng hệ thống câu hỏi hợp lí Không nên lạm dụng, sử

Trang 27

dụng quá nhiều câu hỏi sẽ tạo ra áp lực cho học sinh Cần tạo ra những tìnhhuống, hoàn cảnh có vấn đề để học sinh giải quyết, phát hiện trong bài học Bản chất của việc dạy học đọc hiểu là giúp học sinh hình thành phươngpháp, kĩ năng học tập, để các em có thể tự học, tự nhận thức và chiếm lĩnh tácphẩm Học để biết là cần nhưng biết cách để biết còn quan trọng hơn nhiều vàdạy đọc hiểu là dạy người tiếp nhận cách thức đọc ra nội dung trong nhữngmối quan hệ ngày càng bao quát trọn vẹn của văn bản Mỗi tác phẩm vănchương đều có những đặc sắc riêng về nội dung tư tưởng và nghệ thuật đểlàm nên sức sống vĩnh hằng của nó Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm,tức là phải dẫn dắt học sinh vào quá trình đọc, cảm thụ, hiểu biết và sáng tạo

để nhận ra “giá trị độc đáo của cách trình bày cuộc sống theo một quan niệmthẩm mĩ nhất định của nhà văn và tạo nên vẻ đẹp chân chính, mới lạ của tácphẩm” và giá trị nhân văn sâu sắc để thanh lọc và bồi đắp tâm hồn người đọc Chính vì vậy mà vai trò của giáo viên hướng dẫn đọc hiểu là hết sứcquan trọng Nó giúp học sinh tự đọc và hiểu tác phẩm một cách cơ bản đồngthời là phương tiện hình thành và rèn luyện kĩ năng tự đọc, tự học cho họcsinh

Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong quá trình giáo dụcnhằm cung cấp những thông tin chính xác về chất lượng sản phẩm của ngànhgiáo dục cho xã hội, vừa là động lực để đổi mới phương pháp dạy và học phùhợp với mục tiêu giáo dục đề ra Để nâng cao chất lượng dạy và học, giáoviên phải xem kiểm tra, đánh giá là quá trình và là một phần không thể thiếutrong hoạt động giảng dạy Một số giáo viên nhận thức không đúng ý nghĩa,tác dụng của việc kiểm tra, đánh giá nên tiến hành nhiều hình thức kiểm traquá chặt chẽ, nghiêm khắc làm cho học sinh lo sợ, tìm cách đối phó hoặc cónhững biểu hiện gian lận Từ đó, dẫn đến tình trạng học sinh học tập thụđộng, thiếu tự tin, thiếu chủ động sáng tạo Ngược lại cũng có những giáoviên dễ dãi, thậm chí cẩu thả, tắc trách trong việc kiểm tra, đánh giá nên dẫnđến tình trạng học sinh xem thường và lơ là với môn học

Trang 28

Trong giai đoạn hiện nay, khi mà ngành giáo dục đang bước vào thời kìhội nhập Để xây dựng một nền giáo dục hiện đại, từng bước bắt nhịp với nềngiáo dục tiên tiến của thế giới, một trong những vấn đề cần làm ngay là phảithay đổi phương thức đánh giá học sinh ở trường THPT Việc thay đổiphương thức đánh giá sẽ làm thay đổi quan niệm và cách dạy học trong nhàtrường phổ thông hiện nay Kiểu dạy truyền thụ, “rót” kiến thức, kiểu giáodục và đánh giá tạo điều kiện cho tâm lý khoa cử phát triển cần cấp bách đượcchuyển đổi thành cách dạy và đánh giá thúc đẩy sự phát triển năng lực vàphẩm chất nhân văn của người học Trong số những hạn chế và cái khó chungcủa việc đổi mới kiểm tra, đánh giá đối với các môn học thì có lẽ đổi mớikiểm tra, đánh giá nói riêng và đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nóichung gặp nhiều trở ngại nhất.

Bản chất của văn chương là sự sáng tạo, Nam Cao trong tác phẩm Đờithừa đã phát biểu: “…văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu,biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”.Điều này không chỉ đúng với nhà văn mà còn đúng với cả người đọc (nhữngngười đồng sáng tạo tác phẩm) Nếu giá trị của một tác phẩm văn chương màchỉ đóng khung trong vài ba cách hiểu (cho dù là uyên bác) của một vài nhànghiên cứu, đó là một tác phẩm chết Một tác phẩm đích thực phải sốngnhững đời sống riêng trong lòng mỗi độc giả; và nhiệm vụ của môn Ngữ văntrong trường THPT là phải góp phần đem đến cho tác phẩm cơ hội được sốngmột cách tự nhiên, chân thực nhất trong lòng các thế hệ học sinh Để làmđược điều đó, một trong những yêu cầu cơ bản nhất là phải để học sinh đượcđánh giá tác phẩm bằng chính sự cảm nhận sáng tạo của mình Tất nhiên, sựcảm nhận chủ động của học sinh không thể vượt lên trên mọi giới hạn củachân lí Người thầy vẫn phải đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở cho học sinh đi tìmcách hiểu của mình trên cơ sở thực tế tác phẩm Muốn vậy, việc kiểm tra,đánh giá phải tạo cơ hội để học sinh được trình bày quan điểm cá nhân củamình chứ không phải là ép học sinh vào những đáp án có sẵn; điều này liên

Trang 29

quan trực tiếp đến việc đặt câu hỏi, ra bài tập, ra đề thi, đề kiểm tra trong quátrình dạy học.

Trước khi bàn về việc đổi mới kiểm tra, đánh giá, hay đổi mới phươngpháp chúng ta cần phải thấy rằng đặc thù của môn Ngữ văn nói chung đó là

sự không rõ ràng, rành mạch về kiến thức, cái cần đạt tới trong dạy học Ngữvăn không phải là kiểu ghi nhớ máy móc, công thức mà chính là sự cảm nhận

tự giác của người học M Gorki nói: “văn học là nhân học”, nhận thức bảnchất của văn chương là giúp học sinh hiểu thêm về cuộc đời để có thái độsống tốt hơn Đặc biệt, văn chương luôn gắn liền với cái hay, cái đẹp Dạyvăn là dạy học sinh biết yêu cái hay, cái đẹp, cái cao cả; ghét cái dở, cái xấu,cái thấp hèn Do đó kiểm tra, đánh, giá phải hướng học sinh đến đúng với bảnchất của môn Ngữ văn

Ngữ văn là môn học có tính chất công cụ và là một trong những mônhọc có sự ứng dụng sâu, rộng nhất trong cuộc sống Tuy nhiên cái điều tưởngchừng hiển nhiên đó lại đang được nhiều người xem nhẹ Trong khi chờ đợimột chính sách từ những nhà hoạch định chiến lược giáo dục, bản thân mỗingười giáo viên Ngữ văn cần phải xác định rõ điều đó Chúng ta đang dạy vănvới tư cách là một môn học trong chương trình phổ thông chứ không phải lànhững chuyên đề chuyên sâu, lí luận của những nhà nghiên cứu Chính vì vậy,khi đánh giá học sinh nên chú trọng vào đánh giá năng lực (nhận thức và thựctiễn) và phẩm chất nhân văn của người học hơn là đánh giá về kiến thức hànlâm, kinh viện Từ các tác phẩm văn chương, hãy để cho học sinh rút ranhững bài học sống động về cuộc sống Thông qua kiển tra, đánh giá nóiriêng và dạy học tác phẩm văn chương nói chung phải hướng học sinh tớinhững thị hiếu thẩm mĩ tích cực; phải biết phân biệt đúng sai, hay dở, phảihình thành cho bản thân những kinh nghiệm văn hoá, ứng xử Trên phươngdiện ngôn ngữ, giúp học sinh rèn luyện phương pháp tiếp cận văn bản nghệthuật nói riêng và văn bản ngôn từ nói chung Vì vậy, yêu cầu và nội dungkiểm tra, đánh giá không phải là hệ thống kiến thức về tác phẩm mà phải là kĩ

Trang 30

năng đọc hiểu văn bản Trên phương diện này, giáo viên nên mạnh dạn đưanhững văn bản mới (không có trong chương trình) vào đề bài để học sinh tìmhiểu Tất nhiên, yêu cầu tối thiểu chỉ là mức độ thông hiểu, tức là nắm đượcnhững nội dung cơ bản nhất, cao hơn một chút là khả năng lí giải, đánh giá vềvấn đề được nêu; đánh giá về cách thức tổ chức văn bản… Nếu làm được điềunày, sự phụ thuộc của học sinh vào những chân lí có sẵn sẽ được loại bỏ Từ

đó dần dần sẽ khắc phục được tình trạng đọc chép, quay cóp, gian lận trongkiểm tra, thi cử

1.2.2 Những yêu cầu của chương trình dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông

Chương trình dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT trước tiên phảixuất phát từ mục tiêu chung của giáo dục phổ thông

- Yêu cầu của chương trình xuất phát từ mục tiêu đào tạo của cấp học Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông đã định rõ các phẩm chất và

năng lực cần phát triển cho học sinh nhằm trước hết đáp ứng được yêu cầuđào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội mới của đấtnước, giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đến năm 2020 đưa nước tatrở thành một nước công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hoá, mở rộng giaolưu hội nhập quốc tế với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức,đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển đa dạng của mỗi cá nhân

- Chương trình đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việc hoàn thiện, phát triển nội dung học vấn phổ thông

Chương trình các môn học của cấp trung học phổ thông nói chung và mônNgữ văn nói riêng Phải góp phần củng cố nội dung giáo dục của các cấp, bậchọc trước đồng thời bổ sung, phát triển nâng cao hơn nhằm hoàn thiện họcvấn phổ thông Hệ thống kiến thức cần bao gồm các kiến thức nhằm chuẩn bịcho việc đào tạo tiếp tục sau khi tốt nghiệp phổ thông, các kiến thức trực tiếpphục vụ cho cuộc sống hiện tại của người học, các kiến thức cần thiết chođịnh hướng nghề nghiệp trong tương lai, tăng cường loại kiến thức về phương

Trang 31

pháp hoặc có tính phương pháp, loại kiến thức giàu khả năng ứng dụng Vớiyêu cầu kế thừa, cần khai thác tối đa những ưu điểm của chương trình trunghọc phổ thông hiện hành.

- Chương trình tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam

So với cấp trung học cơ sở, các yêu cầu này ở cấp trung học phổ thôngvẫn tiếp tục được đặt ra với mức độ phù hợp trình độ của học sinh cấp trunghọc phổ thông Nội dung dạy học môn học phải phản ánh được những thànhtựu khoa học mới (tự nhiên - kinh tế - xã hội và nhân văn - kĩ thuật - côngnghệ) của thế giới cũng như của nước ta; cùng những vấn đề đang được cảloài người quan tâm (môi trường, dân số và những vấn đề khác); đồng thờilưu ý tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài trong xâydựng chương trình

Tiếp tục quán triệt nguyên tắc tích hợp mà trước hết là đảm bảo mốiquan hệ liên môn một cách chặt chẽ để bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, tránh trùnglặp trong chương trình các bộ môn và các hoạt động

- Chương trình đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hoá

Để đảm bảo một học vấn phổ thông chung của cấp trung học phổ thôngtrước hết cần xây dựng một chương trình phù hợp, vừa sức với đa số học sinh

và được xem là “chương trình chuẩn” với những mức độ yêu cầu mà mọi họcsinh phải đạt Từ chương trình chuẩn trên, tuỳ theo mục tiêu của từng ban hoặctừng loại trường mà định hướng chuyên sâu hoặc mở rộng kiến thức và kĩ năngcủa một số môn hoặc lĩnh vực qua các môn phân hoá và chủ đề tự chọn

- Chương trình phải góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Đây là một trong những yêu cầu hàng đầu của việc đổi mới chương

trình giáo dục phổ thông nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, đã được thểhiện trong chương trình tiểu học và trung học cơ sở Đổi mới phương phápdạy học môn học ở trung học phổ thông cần được đẩy mạnh theo định hướng

Trang 32

chung Do đặc điểm và trình độ của học sinh nên cần chú ý nhiều đến việcphát triển năng lực tự học, đa dạng hoá các hình thức học tập, tạo điều kiện đểhọc sinh được tự nghiên cứu, chủ động trong việc phát hiện và giải quyết vấn

đề Chương trình của từng môn học đều cần chỉ ra định hướng và các yêu cầu

cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học bộ môn

- Chương trình thể hiện việc tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học không chỉ dừng ở mức minh hoạ nội dung dạy học

mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phươngpháp và nội dung dạy học Do yêu cầu tăng hoạt động thực hành, thí nghiệmcũng như yêu cầu ứng dụng nên khi xây dựng chương trình cần đặt đúng vị trícủa thiết bị dạy học trong quá trình dạy học bộ môn Khi nêu lên yêu cầu vềmặt này cần lưu ý đến sự kết hợp giữa các thiết bị thông thường đã được và sẽphải trang bị cho các trường với các thiết bị hiện đại; giữa các thiết bị phảimua sắm với các thiết bị tự tạo Cần lưu ý tới vai trò của công nghệ thông tin

và việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học bộ môn

- Chương trình có quan hệ mật thiết với việc đổi mới đánh giá kết quả quá trình học tập

Chương trình từng bộ môn cần nêu rõ những yêu cầu đổi mới đánh giákết quả môn học Việc đảm bảo đánh giá khách quan, đủ độ tin cậy sẽ làmcho hoạt động quan trọng này đạt hiệu quả mong muốn Đổi mới đánh giá kếtquả môn học sẽ bao gồm đổi mới nội dung, hình thức và quy trình đánh giá,

kể cả đánh giá ở từng thời điểm hoặc cả quá trình Cần tạo điều kiện để họcsinh và tập thể học sinh tham gia vào quá trình đánh giá kết quả học tập

- Chương trình cần chú ý tới các vấn đề của địa phương

Trong chương trình của một số môn học cần có phần dành cho địaphương nhằm trực tiếp góp phần hướng việc học tập của học sinh gắn vớicộng đồng, với thực tiễn phát triển cộng đồng vốn hết sức đa dạng trên cácvùng miền của đất nước ta Cần nêu rõ yêu cầu này và đưa ra gợi ý cụ thể khi

Trang 33

xác định vấn đề, mức độ cần đạt được và cách thức thực hiện Việc dạy học

và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở các trường THPT huyện Anh Sơn cũngcần chú ý tới đặc trưng địa phương này

“Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở trường THPT là trên cơ sở đã đạtđược của chương trình Ngữ văn trung học cơ sở, bồi dưỡng thêm một bướcnăng lực Ngữ văn cho học sinh, bao gồm năng lực đọc hiểu các văn bản thôngdụng (văn, thơ, truyện ), năng lực viết một số văn bản thông dụng và giaotiếp bằng lời nói trước công chúng đồng thời, cung cấp một hệ thống tri thứcphổ thông về văn học dân tộc và văn học thế giới, về ngôn ngữ và tiếng Việt,

về lí luận văn học, lịch sử văn học và văn hóa, tạo một phần tích lũy ban đầu

để hình thành các năng lực đọc, viết, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, phát triển tưduy Học sinh cũng nắm được phương pháp học tập bộ môn, tạo thành tậpquán tự học Ngữ văn, biết tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ, giải quyết vấn đề, làm

cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách suốt đời” [27, 77]

Với đặc trưng riêng của mình, môn Ngữ văn THPT hướng tới bồidưỡng cho học sinh lòng yêu tiếng Việt, yêu văn hóa, văn học nước nhà vàniềm tự hào về kho tàng văn hóa, văn học nhân loại; giáo dục lòng yêu nước

và tự hào dân tộc, tinh thần nhân văn, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức caothượng, thị hiếu thẩm mĩ tốt, hình thành cá tính lành mạnh, góp phần hìnhthành nhân cách người lao động trong thời đại mới

Hiện nay, để đáp ứng những nhu cầu và nguyện vọng học tập khácnhau, chương trình môn Ngữ văn THPT được chia thành hai bộ phận làchương trình chuẩn (dành cho đại đa số học sinh) và chương trình nâng cao(dành cho những học sinh có nhu cầu học sâu hơn, cao hơn môn học) Giữahai chương trình có sự thống nhất mục tiêu về thái độ, các mục tiêu về kiếnthức và kĩ năng tuy nhiên chương trình nâng cao thực chất là chương trìnhchuẩn + 20% nâng cao (trên các phương diện kiến thức và kĩ năng môn học).Điều này được cụ thể hóa vào từng chương trình như sau:

Trang 34

Với chương trình chuẩn Ngữ văn THPT, sau khi học xong chươngtrình, học sinh đạt được những yêu cầu cụ thể sau trên các mặt kiến thức, kĩnăng và thái độ:

Về kiến thức

- Học sinh có được tri thức tổng quát, tương đối hệ thống về các tácphẩm văn học tiêu biểu, về một số tác gia văn học lớn, về các thể loại văn họctiêu biểu của văn học Việt Nam và văn học thế giới, bước đầu có một số trithức cơ bản về lí luận văn học, văn hóa và ngôn ngữ văn học

- Học sinh có tri thức chung về văn bản, phong cách văn bản và giaotiếp, về lịch sử tiếng Việt, đặc điểm loại hình tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt

- Học sinh có tri thức về quá trình làm văn, có tri thức về các phép suyluận lôgic, về các hình thức nghị luận văn học và nghị luận xã hội, biết thêm

về các thể văn ứng dụng chưa học ở trung học cơ sở

Về kĩ năng

- Học sinh có năng lực đọc hiểu độc lập các loại văn bản thông dụng,

có năng lực cảm thụ thẩm mĩ đáng tin cậy, biết phân tích, đánh giá tác phẩmvăn học theo trình độ phổ thông có phương pháp và sáng tạo

- Học sinh biết sử dụng chuẩn xác vốn từ vựng tiếng Việt thông dụng,biết khai thác, sử dụng vốn từ tiếng Việt trong đọc văn, làm văn

- Hoàn thiện kĩ năng làm văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, đặcbiệt là kĩ năng làm văn nghị luận xã hội và văn học, thể hiện được quan điểm

cá nhân trong khi làm bài

Về thái độ tình cảm

- Ý thức làm phong phú sự giàu đẹp, trong sáng của tiếng Việt, giaotiếp, tư duy tiếng Việt thành thạo, có hiệu quả, có văn hóa

- Lòng yêu tiếng Việt, yêu văn hóa, văn học Việt Nam và thế giới

- Tinh thần nhân văn, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cao thượng,thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh, biết tu dưỡng phẩm chất văn hóa cá nhân, hìnhthành cá tính lành mạnh

Trang 35

Với chương trình nâng cao Ngữ văn THPT, ngoài việc thống nhất vớichương trình chuẩn, chương trình nâng cao có một số điểm khác biệt và nângcao hơn Cụ thể như sau:

Về kiến thức, học sinh được học tập thêm:

- Một số văn bản văn học Việt Nam và nước ngoài có cùng thể loạinhưng chưa được học trong chương trình chuẩn

- Một cách hệ thống và hoàn chỉnh hơn những kiến thức về các tác giả,tác gia văn học lớn, tác phẩm lớn của văn học dân tộc, những kiến thức lịch

sử văn học, lí luận văn học và văn hóa

- Một vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là vốn từ biểu đạt các biểu tượng,điển cố, khái niệm để đọc hiểu các văn bản

- Một số kiến thức lí thuyết về tạo lập văn bản về tư duy lôgic và vậndụng được các lập luận như phản bác, tranh luận vào các vấn đề văn học, xãhội, tư tưởng

- Một số kiến thức thực hành tiếng Việt

Về kĩ năng, học sinh được chú trọng rèn luyện hơn:

- Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt ở mức độ thành thạo, cókhả năng thích ứng cao với các yêu cầu khác nhau trong việc đọc hiểu và tạolập văn bản

- Các kĩ năng đọc hiểu, khái quát, phân tích, tóm lược, trích dẫn, ghinhớ, sáng tạo đáng tin cậy đối với nhiều loại văn bản

- Các kĩ năng cảm thụ vẻ đẹp không chỉ của văn chương hình tượng,

mà của cả văn chương chính luận, khoa học, phê bình

- Các kĩ năng diễn đạt chuẩn mực và bước đầu có cá tính trong các bàivăn tự sự, thuyết minh, nghị luận

1.2.3 Những vấn đề về hiệu quả của giáo dục và yêu cầu bám sát đối tượng trong dạy học

Một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách giáo dục phổ thông làđổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ

Trang 36

động và sáng tạo của học sinh Để thực hiện mục tiêu này, trong thời gian quanghành giáo dục đã có nhiều nỗ lực để xây dựng lại chương trình theo hướng cậpnhật và giảm tải, áp dụng phương pháp giáo dục chủ động với triết lí lấy ngườihọc làm trung tâm và biên soạn lại sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy để đảmbảo chuyển tải được những nội dung mới và thực hiện được theo phương phápmới một cách thành thạo Ở một số trường THPT trên cả nước đã có điều kiệngiảng dạy và học tập tốt, ngày càng có nhiều học sinh chứng tỏ được năng lực tự

tổ chức và quản lí được các hoạt động học tập trong nhà trường, khả năng tự học,làm việc độc lập và tư duy sáng tạo ở mức khá cao Điều này cho thấy công cuộccải cách giáo dục hiện nay đã đạt được những hiệu quả bước đầu

Tuy nhiên, bên cạnh một số thành tựu bước đầu có thể thấy hiệu quảgiáo dục trong thời gian qua còn nhiều hạn chế Phương pháp giáo dục chủđộng dù đã được đưa vào áp dụng, nhưng đa số giáo viên hiện nay vẫn chỉ sửdụng phương pháp cũ “thầy đọc trò ghi” Kết quả thực tế của việc giảm tảichương trình hầu như không đáng kể Hai điểm nóng nổi bật của giáo dụcViệt Nam trong nhiều năm qua là sức ép thi cử và bệnh thành tích hết sứctrầm trọng với những tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống, cho đến nay vẫnchưa có dấu hiệu giảm sút Điều đáng lưu ý là trong khi triết lí, mục tiêu, nộidung và phương pháp giáo dục đã và đang được thay đổi trong qúa trình cảicách, thì việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lại hầu như không thay đổi.Một vài thay đổi đang được thử nghiệm chỉ thiên về kĩ thuật của kiểm tra,đánh giá, còn nhìn chung cách đánh giá hiện nay vẫn nặng về kiến thức sách

vở mà chủ yếu là ở mức độ ghi nhớ và tái hiện kiến thức, chu kì đánh giá chỉchú trọng điểm cuối của quá trình dạy - học và mục đích của kiểm tra, đánhgiá vẫn chủ yếu phục vụ công tác quản lí như: xếp loại học sinh, xét lên lớp,cấp chứng chỉ, bằng cấp Trong khi đó chức năng cung cấp thông tin phảnhồi cho học sinh và giáo viên về quá trình dạy - học của quá trình kiểm tra,đánh giá hầu như luôn bị bỏ qua ở các môn học nói chung và môn Ngữ vănnói riêng Chính việc chậm đổi mới kiểm tra, đánh giá trong giáo dục hiệ nay

Trang 37

đã và đang là nguyên nhân cơ bản khiến hiệu quả giáo dục không đạt đượcnhư mong muốn.

1.3 Cơ sở thực tiến của vấn đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

1.3.1 Đặc điểm tình hình kinh tế-xã hội và chất lượng giáo dục của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

1.3.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội

Huyện Anh Sơn hôm nay được thành lập từ tháng 4 năm 1963, tách ratừ huyện lớn Anh Sơn theo Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm

1963 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Huyện được cấu thành từ 20 xã và 1thị trấn: Thị trấn Anh Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Thành Sơn, BìnhSơn, Thọ Sơn, Hùng Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Hội Sơn, Hoa Sơn, ThạchSơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Vĩnh Sơn, Lĩnh Sơn,

Lạng Sơn (xem bản đồ huyện).

a Vị trí địa lý

Là một huyện miền núi thuộc

miền Tây Nghệ An, trải dọc

theo đôi bờ sông Lam và

Quốc lộ 7, phía Đông giáp

với huyện đồng bằng Đô

Lương, phía Bắc giáp với

huyện miền núi Tân Kỳ và

huyện vùng cao Quỳ Hợp,

phía Tây giáp với huyện vùng

cao Con Cuông và nước bạn

Lào, phía Nam giáp với huyện

miền núi Thanh Chương

Cách thành phố Vinh 100 km

về phía Tây Bản đồ hành chính huyện Anh Sơn

Trang 38

b Địa hình.

Vùng đất Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm caonhất là đỉnh núi Kim Nhan ở vùng núi Cao Vều Huyện Anh Sơn có địa hìnhđồi núi, địa hình có những phức tạp riêng điều này không những ảnh hưởngtối cuộc sống của người dân nói chung mà còn ảnh hưởng tới việc học tập củahọc sinh, trong đó có học sinh các trường THPT

- Đào tạo, công tác Y tế ngày càng được củng cố và phát triển

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do quan niệm xã hội, việc họctập của học sinh được định hướng theo thị hiếu thị trường Việc dạy học Ngữvăn ở các trường THP huyện Anh Sơn có những khó khăn riêng

d Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

- Lĩnh vực kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 14 - 15%, cơ cấu kinh tế: ngànhnông - lâm -ngư nghiệp: 37%, công nghiệp xây dựng: 33%, dịch vụ thươngmại: 30%, thu nhập bình quân đầu người hàng năm 15 - 16 triệu đồng, tăng2,45 lần so với năm 2005 Đảm bảo diện tích một số cây trồng chủ yếu, như:chè công nghiệp 3 nghìn ha, mía nguyên liệu 9 trăm ha, cam hàng hoá 3 trăm

ha Chăn nuôi trâu bò 45 ngàn con, lợn 65 ngàn con,

Trang 39

- Lĩnh vực văn hoá xã hội

Hoàn thành xây dựng huyện điểm văn hoá, phấn đấu số xã chuẩn Quốcgia về y tế là 60%, tiếp tục xây dựng thiết chế văn hoá đồng bộ, thể dục thểthao trên địa bàn huyện Phấn đấu tỷ lệ phát triển dân số đến năm 2010 đạtdưới 0,6% Xây dựng 41 trường đạt chuẩn Quốc gia Đảm bảo chăm lo sứckhoẻ cho nhân dân, loại trừ các loại dịch bệnh xã hội, phấn đấu đến năm 2010

có 80% hộ dùng nước hợp vệ sinh, 100% số xã có điện thoại đến trung tâm

xã, phủ sóng truyền hình, xây dựng hệ thống truyền thanh và có điện lướiQuốc gia Phấn đấu tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống còn 20%

và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15,2% theo chuẩn mới

e Định hướng phát triển kinh tế huyện Anh Sơn trong giai đoạn đến

năm 2015

Để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế, ổn định tình hình xã hội, giữ vữngquốc phòng an ninh giai đoạn (2010 - 2015), huyện Anh Sơn xác định cầnkhai thác có hiệu quả các tiềm năng về đất đai, tài nguyên, lao động, vận dụngnăng động các cơ chế chính sách của Trung ương, của Tỉnh và tăng cườngđẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, tiếp tục khắc phục những yếukém, tồn tại trong phát triển kinh tế, nâng nhịp độ phát triển kinh tế cao hơnnhịp độ của thời kỳ 2006- 2010 Tạo bước chuyển biến về sản xuất và hiệuquả trong phát triển Nâng cao hiệu quả vận dụng tiến bộ khoa học, côngnghệ, giáo dục đào tạo, coi trọng và phát huy lực lượng lao động, chăm lo giảiquyết các vấn đề bức xúc về việc làm, xoá đói giảm nghèo, các chính sách xãhội, cải thiện đời sống của nhân dân, từng bước tăng cường cơ sở hạ tầngKinh tế - Xã hội, giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội, bảo đảm anninh vững mạnh, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống Phấn đấu đến năm

2015 huyện Anh Sơn trở thành một trong những huyện khá nhất của Tỉnh vềmọi mặt

Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Từng bước thực hiện cơ giới hoá các

Trang 40

khâu trong Sản xuất nông nghiệp, gắn sản xuất với công tác chế biến sauthu hoạch

Mở rộng và thâm canh các loại cây: Ngô, chè, mía, đậu Lấy chỉ tiêugiá trị thu nhập trên một đơn vị canh tác làm thước đo trong việc chuyển đổi

cơ cấu cây trồng và mùa vụ

Phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc theo hướng chăn nuôi côngnghiệp và trang trại, tăng nhanh đàn bò hướng thịt để tham gia chương trìnhxuất khẩu

Phát triển Công nghiệp chế biến chè, mía đường ; Công nghiệp Ximăng theo hướng công nghệ cao, đảm bảo môi trường sinh thái; Phát triểnTiểu thủ công nghiệp gắn với việc chuyển đổi đất trong nông nghiệp để xâydựng nhiều làng có nghề, phát triển tiểu thủ công nghiệp

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục phổ thông và dạy nghề; Tiếptục nâng cao chất lượng giáo dục, trên cơ sở nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên nhằm đáp ứng được yêu cầu đặt ra

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, các chủ trưngchính sách của Đảng, Nhà nước, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh,nâng cao chất lượng các làng bản, đơn vị văn hoá Quan tâm công tác giảiquyết đơn thư, khiếu tố; xử lý kịp thời các vướng mắc, mâu thuẫn trong nhândân, không để đơn thư vượt cấp, đảm bảo “Yên dân”

Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn bằng cách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển mạnh kinh

tế nông thôn, chú ý phát triển các cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoácủa từng vùng kinh tế, hình thành các vùng cây công nghiệp tập trung vàmạng lưới chế biến Ưu tiên đầu tư, kêu gọi đầu tư để phát triển các ngànhcông nghiệp, như: Xi măng - Đường - Chè công nghiệp - Khai thác đá, cát,sỏi - Sản xuất gạch - Xây dựng các làng nghề, nhất là nghề truyền thống.Từng bước kêu gọi đầu tư để phát triển dịch vụ, du lịch trên địa bàn, nhất là

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số trường, lớp, cán bộ giáo viên, học sinh trên địa bàn  huyện Anh Sơn (năm học 2010 - 2011) - Kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông huyện anh sơn tỉnh nghệ an luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 1 Số trường, lớp, cán bộ giáo viên, học sinh trên địa bàn huyện Anh Sơn (năm học 2010 - 2011) (Trang 39)
Bảng 2: Bảng thống kê cơ sở vật chất các trường THPT  trong toàn huyện Anh Sơn - Kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông huyện anh sơn tỉnh nghệ an luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2 Bảng thống kê cơ sở vật chất các trường THPT trong toàn huyện Anh Sơn (Trang 40)
Bảng 5: Kết quả tốt nghiệp THPT hàng năm của huyện Anh Sơn - Kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông huyện anh sơn tỉnh nghệ an luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 5 Kết quả tốt nghiệp THPT hàng năm của huyện Anh Sơn (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w