1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thể hiện qua nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (hình học 12 ban cơ bản) luận văn thạc sĩ toán học

126 2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thể hiện qua nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (hình học 12 - ban cơ bản)
Tác giả Nguyễn Trần Mỹ Tân
Người hướng dẫn GVCC. TS. Lê Hiển Dương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN TRẦN MỸ TÂNKIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH BẰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN Hình học 12 - Ban cơ bản LU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN TRẦN MỸ TÂN

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

BẰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN

Trang 2

NGUYỄN TRẦN MỸ TÂN

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

BẰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN

(Hình học 12 - Ban cơ bản)

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học:

GVCC TS Lê Hiển Dương

Nghệ An, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GVCC TS Lê Hiển Dương, người thầy

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo của khoa Toán, Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn và trân trọng cảm ơn trường Đại học Sài Gòn đã

tổ chức khóa học Sau đại học cho chúng tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn các giáo viên thuộc Tổ Toán của trường THPT Tân Trụ 2 - tỉnh Long An, các đồng chí, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Do bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Nghệ An, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Trần Mỹ Tân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….…….…… ………. 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 5

1.1 Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học Toán………. 5

1.2 Một số vấn đề về kiểm tra trong dạy học……… 11

1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT trong dạy học……… 14

1.4 Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá……… 15

1.5 Kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ………. 15

1.6 Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ……… 32

1.7 Hệ thống mục tiêu chủ đề “Phương pháp tọa độ trong không gian”…… 36

1.8 Thiết kế ma trận hai chiều……… 40

1.9 Thực trạng về việc sử dụng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra đánh giá KQHT của HS ở các trường THPT 41 Kết luận chương 1……… 43

Chương 2: KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH BẰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THUỘC PHẦN PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN……… 44

2.1 Kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ trong bài “Hệ tọa độ trong không gian”……… 44

2.2 Kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ trong bài “Phương trình mặt phẳng”……….

58 2.3 Kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ trong bài “Phương trình của đường thẳng trong không gian”……… 73

2.4 Biên soạn một số đề kiểm tra trong chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”………. 89

Kết luận chương 2……… 102

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………. 103

3.1 Mục đích thực nghiệm………….……… 103

3.2 Nội dung tổ chức thực nghiệm……… 103

3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm……… 106

Kết luận chương 3……… 115

KẾT LUẬN………. 117

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 118

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra nhiệm vụ phát triển giáo dục nhưsau: “Thực hiện phương châm “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứukhoa học, lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với giađình và xã hội” v.v…” Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng để thựchiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh phổ thông

Luật Giáo dục năm 2005, điều 28.2, đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổthông phải pháp huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợpvới đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làmviệc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tìnhcảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh.”

Trước khi đổi mới giáo dục thì PPDH ở nước ta có những nhược điểm như sau:

- Thầy thuyết trình tràn lan

- Kiến thức được truyền dưới dạng có sẵn, ít yếu tố tìm tòi, phát hiện

- Thầy áp đặt, trò thụ động

- Thiên về dạy, yếu về học, thiếu hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo củangười học

- Không kiểm soát được việc học

Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, ngành Giáo dục và Đào tạo đang ra sức thựchiện công cuộc đổi mới giáo dục ở mọi cấp học, đổi mới đồng bộ cả nội dung, phươngpháp, phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá Đặc biệt chú trọng việc đổimới kiểm tra, đánh giá Phương hướng đổi mới kiểm tra đánh giá là kết hợp giữaphương thức kiểm tra truyền thống (hình thức tự luận) với kiểm tra bằng TN Donhững ưu điểm của phương pháp TN như tính khách quan, tính bao quát, tính chuẩnmực và tính kinh tế nên nếu như các bộ đề với hệ thống câu hỏi được chuẩn bị chu đáo,

Trang 8

cẩn thận thì hình thức thi, kiểm tra bằng phương pháp TNKQ sẽ phát huy nhiều tácdụng tích cực, góp phần thực hiện định hướng đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá.

Hiện nay có rất nhiều sách tham khảo môn Toán viết về câu hỏi TNKQ, chẳnghạn của các tác giả như: Phan Lưu Biên, Hà Thị Đức, Nguyễn Mộng Hy, Nguyễn SinhNguyên,… nhưng để phù hợp với thực tế dạy học thì mỗi GV cần biết tự biên soạn đềvới câu hỏi TNKQ để sử dụng trong kiểm tra đánh giá theo cách riêng của mỗi người,

có thể biên soạn theo từng nội dung bài học hoặc từng vấn đề trọng tâm

Tuy rằng trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học, Cao đẳng thìmôn Toán thi với hình thức tự luận hoàn toàn bởi vì môn Toán là một môn học rènluyện khả năng tư duy, sự suy luận lôgic và cả trí thông minh cho HS và việc đánh giátrình độ Toán học của HS thể hiện qua cách trình bày lời giải của các em nhưng việc tổchức kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ sẽ góp phần đổi mới PPDH nhằm theo dõiquá trình học tập của HS, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh phương pháp dạycủa thầy, phương pháp học của trò, giúp HS tiến bộ và đạt được mục tiêu giáo dục; gópphần củng cố, đào sâu, hệ thống hóa kiến thức của HS và có tác dụng giáo dục HS vềtinh thần trách nhiệm, thói quen đào sâu suy nghĩ, ý thức vươn lên trong học tập và thái

độ làm việc nghiêm túc, trung thực

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thể hiện qua nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (Hình học 12 - Ban cơ bản)”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu biên soạn hệ thống câu hỏi TNKQ và đề kiểm tra có sử dụng câuhỏi TNKQ về PPTĐ trong không gian nhằm góp phần hỗ trợ cho việc dạy - học cũngnhư kiểm tra đánh giá KQHT môn Toán của HS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kiểm tra đánh giá nói chung vàkiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ nói riêng, nghiên cứu chương trình nội dungPPTĐ trong không gian

Trang 9

- Trình bày cụ thể việc kiểm tra đánh giá KQHT của HS bằng câu hỏi TNKQthuộc phần PPTĐ trong không gian.

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi, tính hiện thực vàtính hiệu quả của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu chủ đề PPTĐ trong không gian thuộc chương III của SGK mônHình học 12 – Ban cơ bản, quan tâm đến nội dung kiến thức và chương trình củachương này

Nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ và đề kiểm tra một cách hoànchỉnh để dùng trong kiểm tra đánh giá KQHT của HS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu kiểm tra đánh giá KQHT của HS bằng câu hỏi TNKQ về PPTĐtrong không gian phần Hình học 12 - Ban cơ bản

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong côngtác giáo dục, Luật Giáo dục và các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, lý luận dạy họcmôn Toán

- Nghiên cứu các báo, tạp chí, SGK, sách tham khảo, sách bồi dưỡng GV về thựchiện đổi mới chương trình nội dung môn Toán cấp THPT

- Nghiên cứu các công trình Toán học đã công bố có liên quan trực tiếp đến đề tài

5.2 Phương pháp chuyên gia

- Gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực mà bàn thân nghiên cứu, từ

đó có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài

- Trao đổi trực tiếp với các GV dạy học môn Toán lớp 12 về hệ thống câu hỏiTNKQ và các đề kiểm tra đã biên soạn nhằm làm cơ sở chỉnh sửa và hoàn thiện bộ câuhỏi TNKQ và bộ đề kiểm tra

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 10

Sử dụng một phần hệ thống câu hỏi đã biên soạn để dạy trong một số tiết học và

sử dụng một đề kiểm tra 15 phút với phương pháp TNKQ hoàn toàn để kiểm tra mộtchương thuộc nội dung PPTĐ trong không gian tại một lớp thực nghiệm và một lớp đốichứng ở trường THPT Sau đó, đánh giá kết quả thực tiễn thông qua phiếu lấy ý kiến

HS, kết quả quan sát trên lớp thực nghiệm và bài kiểm tra

Đây là phương pháp quan trọng để đánh giá tính đúng đắn của giả thuyết khoahọc và mức đạt được mục đích của đề tài

6 Giả thuyết khoa học

Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn, đồng thời căn cứ vào mục tiêu, chương trìnhmôn Toán ở trường phổ thông hiện nay để có thể tổ chức kiểm tra bằng câu hỏi TNKQ

về PPTĐ trong không gian và nếu vận dụng tốt thì sẽ góp phần đổi mới PPDH mộtcách có hiệu quả

7 Những đóng góp của luận văn

- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận của việc sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy

học và trong kiểm tra đánh giá KQHT môn Toán của HS ở trường THPT

- Xây dựng được việc kiểm tra với câu hỏi TNKQ về PPTĐ trong không gian.

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.

Chương 2: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm

khách quan thể hiện qua nội dung Phương pháp tọa độ trong không gian

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng 38 tài liệu tham khảo

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học Toán

1.1.1 Khái niệm đánh giá

Có nhiều khái niệm về đánh giá, được nêu trong các tài liệu của nhiều tác giả

khác nhau Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị” Sau

đây là một số khái niệm thường gặp trong các tài liệu về đánh giá KQHT của HS:

Kevin Laws định nghĩa: “Đánh giá là tiến trình thu thập và phân tích bằngchứng, từ đó đưa đến kết luận về một vấn đề, một phẩm chất, giá trị, ý nghĩa hoặc chấtlượng của một chương trình, một sản phẩm, một người, một chính sách hay một kếhoạch nào đó” (dẫn theo [4, tr 215])

- Theo Jean Marie Deketele (1989): “Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợpthông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợpthông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điềuchỉnh trong quá trình thu thập thông tin; nhằm ra một quyết định” (dẫn theo [38, tr 144])

- “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thốngthông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dụccăn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biệnpháp và hành động giáo dục tiếp theo” [28, tr 13], [3, tr 19]

- “ Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lý thông tin

về trình độ, khả năng đạt được mục tiêu học tập của học sinh cùng với tác động vànguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáoviên và nhà trường để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn” (dẫn theo [2, tr 3])

Từ các quan điểm khác nhau nói trên, ta có thể xem xét đánh giá trong giáo dục

với những đặc điểm chủ yếu sau: i) Là một quá trình thu thập và xử lý thông tin về hiện trạng chất lượng, hiệu quả, nguyên nhân và khả năng của HS; ii) Gắn bó chặt chẽ với các mục tiêu, chuẩn giáo dục; iii) Tạo cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải

thiện thực trạng, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học và giáo dục

Trang 12

Từ các đặc điểm trên cho thấy đánh giá khác với phán xét hoặc nhận xét

Theo Xavier Roegiers, việc phán xét, nhận xét một con người hoặc một hànhđộng thường dựa trên một quá trình tự phát (có khi bản năng) và dựa trên những cảmtưởng hoặc những tiêu chí không tường minh [38, tr 145] Cũng theo tác giả, ngược với

sự phán xét, đánh giá là một quá trình có chủ đích, có hệ thống, dựa trên những tiêu chítường minh và hướng về việc ra quyết định [38, tr 145]

Đánh giá thực hiện đồng thời hai chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi vềquá trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này

Chuẩn đánh giá là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đánh giá, chuẩn đượchiểu là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt được trong việc xem xét chất luợng sản phẩm

KQHT là bằng chứng cho sự thành công của HS về kiến thức, kĩ năng, năng lực,thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục (James Madison University, 2003;James O Nichols, 2002) (dẫn theo [25], tr 155)

Chúng tôi thống nhất với quan điểm sau của [9]: Kết quả học tập môn học là mức độ đạt được mục tiêu học tập môn học đó của HS Trong đó, mục tiêu học tập môn học được cụ thể hóa thành các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học cần phải và có thể đạt sau một chủ đề, một lớp học nhất định.

1.1.3 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của đánh giá KQHT của HS

1.1.3.1 Mục đích của việc đánh giá

- Công khai hóa nhận định về năng lực và KQHT của mỗi HS và tập thể lớp, tạo

cơ hội cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình,khuyến khích động viên việc học tập

Trang 13

- Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu củamình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệuquả dạy học.

Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và địnhhướng, điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định rathực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

1.1.3.2 Ý nghĩa của việc đánh giá

Kiểm tra - đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với HS, GV và đặc biệt làđối với cán bộ quản lí

Đối với HS: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời nhữngthông tin “liên hệ ngược” giúp người học điều chỉnh hoạt động học

- Về giáo dưỡng chỉ cho HS thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào,còn thiếu sót nào cần bổ khuyết

- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp HS có điều kiện tiến hành các hoạtđộng trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức,tạo điều kiện cho HS phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giảiquyết các tình huống thực tế

- Về mặt giáo dục HS có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập, có ý chí vươnlên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ýthức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn

Đối với GV: Cung cấp cho GV những thông tin “liên hệ ngược ngoài” giúpngười dạy điều chỉnh hoạt động dạy

Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục nhữngthông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịpthời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảmthực hiện tốt mục tiêu giáo dục

1.1.3.3 Vai trò của đánh giá trong dạy học hiện nay

Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còndạy học như thế nào Đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để

Trang 14

nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới PPDH đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộđổi mới từ nội dung chương trình SGK, PPDH cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học.Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo.

Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt độnghọc và quản lý giáo dục Nếu kiểm tra đánh giá không trung thực dẫn đến nhận định sai

về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vậy đổimới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục ngày nay Kiểmtra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say,nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập

1.1.4 Chức năng, yêu cầu của việc đánh giá KQHT của HS

1.1.4.1 Chức năng của việc đánh giá

a) Chức năng xác nhận: Xác nhận mức độ mà người học đạt được mục tiêu họctập khi kết thúc một giai đoạn học tập

b) Chức năng điều khiển: Thông qua đánh giá KQHT giúp GV và HS xác địnhđược những gì đã làm được, khó khăn, vướng mắc gặp phải và xác định nguyên nhâncủa hiện trạng Đây chính là cơ sở để:

- Giúp GV đưa ra biện pháp dạy học phù hợp với các đối tượng trong lớp; điềuchỉnh PPDH của bản thân;

- Giúp HS biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chươngtrình, biết mặt mạnh, mặt yếu để từ đó điều chỉnh phương pháp học;

- Giúp các nhà quản lý đưa ra được các giải pháp quản lý phù hợp để nâng caochất lượng dạy và học

1.1.4.2 Yêu cầu của việc đánh giá

Việc đánh giá KQHT của HS cần đảm bảo 4 yêu cầu sau đây:

- Đảm bảo tính khách quan, chính xác: Phản ánh chính xác kết quả như nó tồn

tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đề ra, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quancủa người đánh giá

- Đảm bảo tính toàn diện: Đầy đủ các khía cạnh, các mặt cần đánh giá theo

yêu cầu và mục đích

Trang 15

- Đảm bảo tính hệ thống: Tiến hành liên tục và đều đặn theo kế hoạch nhất

định, đánh giá thường xuyên, có hệ thống sẽ thu được những thông tin đầy đủ, rõ ràng

và tạo cơ sở để đánh giá một cách toàn diện

- Đảm bảo tính công khai và tính phát triển: Đánh giá được tiến hành công khai,

kết quả được công bố kịp thời, tạo ra động lực để thúc đẩy đối tượng được đánh giá mongmuốn vươn lên, có tác dụng thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế mặt xấu

- Đảm bảo tính công bằng: Đảm bảo rằng những HS thực hiện các hoạt động

học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực sẽ nhận được kết quả đánhgiá như nhau

Nội dung kiểm tra đánh giá phải toàn diện, bao gồm cả kiến thức, kĩ năng vàphương pháp, không phải chỉ yêu cầu tái hiện kiến thức và kĩ năng mà cần có biệnpháp hướng dẫn HS tự biết cách đánh giá, có thói quen đánh giá lẫn nhau về cách học,phương pháp tự học, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong các tìnhhuống thực tế; mức độ thông minh, sáng tạo; chuyển biến thái độ và xu hướng hành vicủa HS Bên cạnh nâng cao chất lượng các hình thức kiểm tra truyền thống, GV cầntìm hiểu, áp dụng các phương pháp kiểm tra bằng câu hỏi TNKQ

Trong việc rèn luyện phương pháp tự học (để chuẩn bị cho HS khả năng học tập liêntục suốt đời, được xem như một mục tiêu giáo dục) có một nội dung quan trọng là hướngdẫn HS tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Đặc biệt trong PPDH hợp tác, GV cần tạođiều kiện để HS tham gia đánh giá lẫn nhau

Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật đang ngày càng phổ biến trong nhàtrường như hiện nay, GV và HS có điều kiện áp dụng các phương pháp kĩ thuật đánhgiá mới nhẹ nhàng hơn, kịp thời hơn, hiệu quả hơn Việc thay đổi khâu đánh giá có tácđộng thúc đẩy sự đổi mới PPDH Công cụ chủ yếu của đánh giá là kiểm tra với hìnhthức thông dụng là kiểm tra bằng câu hỏi TN: trắc nghiệm tự luận và TNKQ

1.1.5 Đánh giá KQHT môn Toán

Từ những đặc điểm của đánh giá trong giáo dục, quan niệm về đánh giá KQHT của

HS, trên cơ sở tổ hợp các tài liệu tham khảo, chúng tôi quan niệm:

Trang 16

“Đánh giá KQHT môn Toán của HS là quá trình thu thập và xử lý thông tin về hiện trạng KQHT môn Toán của HS, về tác động và nguyên nhân của hiện trạng đó nhằm làm cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân

HS để nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán ở trường phổ thông”.[9]

1.1.6 Quá trình đánh giá

Theo tài liệu [11, tr 326 - 331], đánh giá bao gồm 4 khâu sau đây:

a) Lượng hóa: Biểu thị mức độ thể hiện của một đặc điểm chung ở mỗi HS

trong những HS mà ta muốn so sánh

Có thể lượng hóa dưới các dạng:

- Xếp loại: Phân chia một tập hợp HS thành một vài loại theo tiêu chí nào đó Vídụ: Mỗi HS được xếp vào một trong năm loại: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém

- Thứ tự: Để phân hoá một cách “mịn” hơn đối với những HS ở cùng mộtmức xếp loại, GV có thể dùng cách sắp thứ tự Ví dụ: Xếp học sinh X thứ nhất, họcsinh Y thứ nhì,

- Cho điểm: Nhằm khắc phục sự sai khác, hơn kém nhiều ít đến mức độ nào

đó của việc lượng hóa theo cách sắp thứ tự, GV sử dụng cách cho điểm số theo thangđơn vị, theo thang tỉ lệ

Chú ý: Trong đánh giá học tập, cần cố gắng sao cho việc cho điểm ít nhất cũng phảithỏa mãn yêu cầu của thang đơn vị Ví dụ: Khi GV ra một đề kiểm tra gồm 10 câu hỏi độclập với nhau với mức độ khó khăn, phức tạp gần như nhau và quy định mỗi câu làm đúng thìđược 1 điểm thì có thể coi là ta đã dùng một thang đơn vị (cũng là một thang tỉ lệ)

b) Lượng giá: Giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ HS.

Có hai cách lượng giá:

- Lượng giá theo tiêu chuẩn: Giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ nănghoặc thái độ của HS được so sánh tương đối trong một tập hợp nào đó (chẳng hạn trongmột lớp, một khối lớp của một trường, của một huyện/quận, của một tỉnh/thành phố)

Ví dụ: Học sinh A trả lời đúng 7 câu hỏi trong bài kiểm tra, trong khi đa số các

HS trong lớp chỉ trả lời đúng 4 câu hỏi, vì thế ta có thể thấy rằng học sinh A thuộc vào

loại khá so với cả lớp

Trang 17

- Lượng giá theo tiêu chí: Giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ nănghoặc thái độ của HS đối chiếu với những tiêu chí nhất định.

Ví dụ: Trong một bài kiểm tra, đối chiếu của một HS so với điểm tối đa có thểđạt được: chẳng hạn so điểm của HS với số 10 (theo thang điểm 10 bậc)

c) Đánh giá: Đánh giá không dừng lại ở một sự giải thích thông tin về trình độ,

kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của HS mà còn gợi ra những định hướng “bổ khuyếtsai sót hoặc phát huy kết quả” [12, tr.18]

Đánh giá dựa vào ba giai đoạn với ba chức năng:

- Đánh giá chuẩn đoán (trước khi học một nội dung nào đó)

- Đánh giá từng phần (trong quá trình dạy học)

- Đánh giá tổng kết (sau quá trình dạy học)

Có thể đánh giá nhận thức của HS theo sáu mức độ: nhận biết, thông hiểu, vậndụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá

Trong dạy học ở nước ta hiện nay, đánh giá KQHT của HS chủ yếu trên ba lĩnhvực: kiến thức, kĩ năng, thái độ và theo ba mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng

d) Ra quyết định: GV quyết định những biện pháp cụ thể để giúp đỡ HS hoặc giúp

đỡ chung cho cả lớp về những thiếu sót phổ biến hoặc có những sai sót đặc biệt

Ví dụ: Khi chấm bài kiểm tra chương III về “Phương pháp tọa độ trong khônggian”, một HS bị điểm 2 và bị xếp loại yếu của lớp Vậy là KQHT của HS đó đã đượclượng hóa và lượng giá Nếu GV đó ghi nhận xét thêm rằng HS đó cần khắc phục thiếu sót

về cách lập luận, tính toán, kỹ năng chứng minh tức là GV đã đánh giá KQHT của HS đó.Sau các khâu trên, GV ra quyết định rằng HS đó cần ôn lại những kiến thức cơ bản như:cách tính tọa độ vectơ, tìm tâm và bán kính mặt cầu, viết phương trình mặt cầu, mp, đt,

1.2 Một số vấn đề về kiểm tra trong dạy học

1.2.1 Khái niệm kiểm tra

Theo từ điển Tiếng Việt thì “kiểm tra là sự xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”

Theo Trần Bá Hoành thì “kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá”.

Trang 18

Như vậy, kiểm tra và đánh giá trong học tập là hai công việc có thứ tự và đan xenvới nhau nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về thành tích học tập của HS Kiểmtra là phương tiện, là hình thức để đánh giá Muốn đánh giá được chính xác phải tiến hànhkiểm tra (hoặc thi) theo những quy định chặt chẽ Kiểm tra và đánh giá có mối quan hệmật thiết, trong đó kết quả của kiểm tra là cơ sở cho việc đánh giá, mục đích đánh giáquyết định nội dung và phương pháp kiểm tra.

1.2.2 Các hình thức kiểm tra

1.2.2.1 Kiểm tra miệng

- Mục đích: Đánh giá mức độ tiếp thu bài giảng của HS; tạo điều kiện để HS rènluyện khả năng diễn đạt, giao tiếp và ứng xử; những câu hỏi kiểm tra miệng sẽ hỗ trợ

HS nắm vững một cách tự giác kiến thức toán và ngăn ngừa “bệnh hình thức” trongdạy học môn Toán và thông qua đó mà kích thích hứng thú, tạo động cơ học Toán ở

HS

- Nội dung câu hỏi kiểm tra thường có 3 loại: (i) Kiểm tra HS hiểu định nghĩa,

khái niệm hoặc công thức toán như thế nào, có phát biểu chính xác định lý toán hay

không; (ii) Phát triển nhanh trí ở HS; (iii) Phát triển tính toán bằng miệng ở HS

- Mức độ yêu cầu: Đánh giá mức độ nhận biết và thông hiểu kiến thức toán củaHS

- Hình thức tổ chức: Có thể tiến hành đầu giờ, trong giờ hoặc cuối giờ học; thờigian khoảng 5- 10 phút, hình thức câu hỏi chủ yếu là tự luận, nhưng cũng có thể TNnhanh

1.2.2.2 Kiểm tra viết 15 phút

- Mục đích: Đánh giá trình độ nhận thức, kỹ năng của HS sau khi học xong một phầnhoặc một chủ đề nào đó trong một chương

- Nội dung câu hỏi tập trung vào: (i) Sự lựa chọn quy trình giải toán; (ii) Khả năng vận dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các công thức, định lý, hệ quả, tính chất,…;(iii) Kỹ năng:

tính toán chọn lựa lời giải,…

- Mức độ yêu cầu: Đánh giá mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng kiến thức

- Hình thức tổ chức: có thể thực hiện đầu giờ hoặc cuối giờ học với thời gian 15 phút

Trang 19

- Hình thức câu hỏi: Tự luận hoặc TNKQ, hoặc kết hợp cả hai.

Đối với tự luận, câu hỏi thường có hai dạng: (i) câu hỏi đóng (chỉ có một lời giải đúng), dùng để đánh giá mức độ nhận ra nhớ lại hoặc vận dụng kiến thức; (ii) Câu hỏi

mở (có nhiều lời giải đúng) để đánh giá mức độ thông hiểu và vận dụng kiến thức

Đối với TNKQ, câu hỏi thường có các loại: nhiều lựa chọn, ghép đôi, điềnkhuyết và đúng-sai

1.2.2.3 Kiểm tra viết từ 45 phút trở lên

Có hai hình thức kiểm tra từ 45 phút trở lên đó là: Kiểm tra định kỳ và kiểm tratổng kết

- Mục đích: Đánh giá trình độ tư duy, kỹ năng tính toán, trình bày lời giải và khảnăng vận dụng kiến thức của HS sau khi học xong một phần, một chương, một học kỳhoặc một năm

- Nội dung câu hỏi tập trung vào: (i) Sự lựa chọn quy trình giải toán, thực hiện phép tính; (ii) thao tác tư duy: so sánh, phân tich, tổng hợp,…tư duy thuận nghịch; giải quyêt vấn đề cụ thể hay tổng quát, trừu tượng; (iii) Kỹ năng: tính toán, dự đoán, phát

hiện và chọn lựa cách giải, tìm ra kết quả đúng

- Hình thức: Tự luận, TNKQ hoặc kết hợp cả hai

Đối với tự luận, câu hỏi thường có hai dạng: (i) câu hỏi có sẵn dàn ý trả lời, nhằm hướng vào thu thập thông tin cho một số nội dung cụ thể; (ii) câu hỏi mở, cho phép HS

tự quyết định nội dung và cấu trúc trả lời dựa trên các dữ kiện đã cho Có nhiều phương

án trả lời đúng (đa trị) Vì vậy, đối với câu hỏi mở, điều quan trọng hơn là tại sao và làmthế nào HS lại đi đến câu trả lời đúng và cần thiết ấy Câu hỏi mở thường là khó và đòihỏi trình độ phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tiến tới nhận thức lôgic thông qua quátrình suy ngẫm, trừu tượng hóa

Đối với hình thức TNKQ, thường có 4 dạng: nhiều lựa chọn, điền khuyết, ghépđôi, đúng – sai

Để đảm bảo đánh giá được toàn diện KQHT môn Toán của HS sau khi học xongmột chủ đề, một chương, một học kỳ hoặc một năm và đảm bảo độ chính xác, tin cậy

Trang 20

của kết quả đánh giá thì cần thiết phải kết hợp cả hai hình thức đánh giá tự luận vàTNKQ

Vấn đề đặt ra là tỉ lệ kết hợp giữa các câu tự luận và TNKQ như thế nào? Dođặc thù bộ môn, cần chú trọng quá trình đánh giá tư duy, khả năng suy luận, kỹ năngtrình bày lời giải, sử dụng ngôn ngữ, ký hiệu toán học và vẽ hình,…của HS, cho nênthời gian dành cho việc đọc, tìm tòi và trình bày lời giải của các câu hỏi tự luận có thểnhiều hơn hoặc bằng thời gian đọc và trả lời dành cho các câu hỏi TNKQ, dẫn tới tỷ lệđiểm dành cho chúng cũng phải tương thích Có thể đề xuất tỉ lệ điểm thích hợp giữ haidạng câu hỏi TNKQ và tự luận là 3:7; 4:6; 5:5

Riêng hình thức TNKQ sẽ có nhiều câu hỏi, căn cứ vào xác suất đoán của mỗidạng mà tỷ lệ mỗi dạng nên là: câu nhiều lựa chọn: 60%; Câu điền khuyết: 20%; Câughép đôi: 10%; Câu đúng - sai: 10% Nhưng nói chung, để tăng độ tin cậy mà người ta

có xu hướng thiết kế câu hỏi chủ yếu nhiều lựa chọn

Tuy nhiên, tùy theo điều kiện cụ thể, GV có thể chỉnh sửa các tỷ lệ sao cho phùhợp với yêu cầu cụ thể của sự đánh giá và phù hợp với đối tượng HS và đặc điểm củanhà trường nơi GV dạy học Toán

1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT trong dạy học

1.3.1 Phương pháp quan sát

Phương pháp này mang nặng tính chất định tính, thường được dùng trong đánhgiá kết quả thực hành và được giáo viên thực hiện thường xuyên trong suốt quá trìnhdạy học

1.3.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này vừa mang tính chất định tính vừa mang tính chất định lượng, độchính xác tương đối cao, có giá trị về nhiều mặt Nhưng không thích hợp cho việc đánhgiá một lượng lớn kiến thức, trên nhiều HS, trong một thời gian ngắn Do đó, GVthường sử dụng xen kẽ, phối hợp với các phương pháp khác khi tiến hành giảng dạymột bài cụ thể trên lớp

1.3.3 Phương pháp viết

Trang 21

Bao gồm hai loại: tự luận và TNKQ Có thể hình dung hệ thống các phương phápkiểm tra, đánh giá qua sơ đồ 1.1 sau đây:

1.4 Định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá

- Phải có sự hướng dẫn, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp quản lý giáo dục

- Phải có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhất là GV cùng bộ môn

- Cần lấy ý kiến xây dựng của HS để hoàn thiện PPDH và kiểm tra đánh giá

- Đổi mới kiểm tra đánh giá phải đồng bộ với các khâu liên quan và nâng caocác điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học

- Phát huy vai trò thúc đẩy của đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới PPDH

1.5 Kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi TNKQ

1.5.1 Khái niệm câu hỏi

Theo Đại từ diển Tiếng Việt – 1998 thì câu hỏi biểu thị sự cần biết hoặc không

rõ, với những đặc trưng ngữ điệu và từ hỏi, còn gọi là câu nghi vấn

Theo Từ điển Tiếng Việt (1992), hỏi tức là: nói ra điều mình mong muốn người

ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời, nói ra điều mình hỏi hay mong muốn yêu cầuđược đáp ứng

Nhiều lựa chọn

Ghép đôi

Điền khuyết

Các phương pháp kiểm tra, đánh giá

Phỏng vấn Viết

Trang 22

Theo Từ điển giáo dục học của Bùi Hiển - Nguyễn Văn Giao - Nguyễn Hữu Quýnh

- Vũ Văn Tảo thì câu hỏi là câu nói nêu lên vấn đề đòi hỏi phải suy nghĩ, cân nhắc, rồi đưa

ra câu trả lời tương ứng Tùy theo mục đích cụ thể trong dạy học, câu hỏi được chia ra làmnhiều loại: câu hỏi gợi ý, câu hỏi kiểm tra, câu hỏi thi,

Khác với câu hỏi thông thường, câu hỏi trong dạy học có chức năng cơ bản nhất

là tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức cho HS Bên cạnh đó, nó còn có chức năng kíchthích tư duy cho HS, đưa HS vào tình huống có vấn đề, giao cho HS một nhiệm vụ, đòihỏi HS phải tìm hiểu và giải đáp được vấn đề đó bằng các thao tác tư duy như phân tích,tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, tập cho HS suy luận, giải thích, chứngminh, trình bày GV thông qua hệ thống câu hỏi để thể hiện ý đồ sư phạm của mình làdẫn dắt HS tìm hiểu vấn đề theo hướng nào, nhằm đạt được kiến thức, kỹ năng gì, đưađến cho người học loại thông tin nào Thông qua hệ thống câu hỏi, GV rèn luyện tư duycho HS, lôi kéo HS tham gia tích cực vào quá trình học tập, huy động kiến thức, kinhnghiệm của HS để hình thành tri thức mới hay củng cố tri thức cũ đã biết

Trong dạy học, người hỏi thực ra biết nhiều hơn về câu hỏi so với người được hỏi

1.5.2 Khái niệm trắc nghiệm (TN)

“Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học cho phép dùng một loạt những động tác xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng thực nghiệm với mục đích đi tới những mệnh đề lượng hoá tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu”.[12, tr 341]

Trắc nghiệm (Test) trong Tiếng Anh nghĩa là “thử” hay “phép thử”, “sát hạch”;

trong tiếng Hán thì trắc có nghĩa là “đo lường”, nghiệm là “suy xét”, “chứng thực”.

Theo Gronlund N.E thì: “Trắc nghiệm” là công cụ hay một quá trình có hệ

thống nhằm đo lường mức độ mà một cá nhân đã làm được trong một lĩnh vực cụthể nào đó

Vậy có thể hiểu về TN như sau:

- TN là một phương pháp khoa học, TN được phát triển dựa trên những nguyêntắc có căn cứ khoa học;

- TN dựa trên một loạt những tác động xác định, dễ thao tác, dễ tiến hành;

Trang 23

- TN có thể được sử dụng để nghiên cứu, xác định một hay nhiều đặc điểm.Trường hợp nghiên cứu nhiều đặc điểm thì người ta gọi là bộ TN;

- Đối tượng nghiên cứu của TN là những đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng TN.Những đặc điểm này được hiểu rất rộng, thường là kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực, ;

- Mục tiêu là đi tới những mệnh đề lượng hóa tối đa có thể được, kết quảthường được biểu thị bằng số;

- Để phản ánh mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu, sựlượng hóa phải liên hệ với một giá trị chuẩn nào đó, chẳng hạn với giá trị trung bìnhcủa số bài làm đúng của lớp, với tổng số điểm

Về khái niệm TN, một số tác giả cho phép một bài TN có thể chứa đựng nhữngcâu hỏi tự luận, đòi hỏi các câu trả lời là một đoạn văn, một bài diễn giải, một tiểu luận,v.v Việc đánh giá kết quả trả lời những câu hỏi tự luận phụ thuộc vào khá nhiềungười chấm Do đó, có sự phân biệt giữa trắc nghiệm khách quan và TN chủ quan

Phương pháp TNKQ thường được dùng trong các trường hợp sau:

- Số thí sinh dự kiểm tra (thi) đông

- Muốn chấm bài nhanh

Trang 24

- Muốn có kết quả tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài.

- Muốn đảm bảo thực sự công bằng, khách quan, chính xác và muốn ngănchặn tiêu cực trong kiểm tra, đánh giá, thi

- Muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, ngăn ngừa nạn học tủ, học lệch,học đối phó, học vẹt của học sinh cũng như giảm thiểu sự may rủi

1.5.3.2 Ưu điểm của TNKQ

- Kiến thức và kỹ năng được kiểm tra đánh giá rộng hơn nhiều so với kiểm trađánh giá bằng tự luận:

+ Kiểm tra đánh giá theo diện rộng

+ Chấm điểm có thể theo hướng tự động hóa

- TNKQ thích hợp với giáo dục địa phương:

+ Đến từng cá nhân HS

+ Kết quả đáng tin cậy

+ Dễ cho điểm

+ Dễ thống kê

- Độ ngắn gọn của câu hỏi TNKQ tạo thuận lợi cho việc:

+ Gộp nhiều câu hỏi thành một bộ đề TN nên làm tăng độ tin cậy của kiểm trađánh giá

+ Bao quát nhiều chủ đề nên làm tăng lượng thông tin về HS sau mỗi đợt kiểmtra đánh giá

- TNKQ nếu được thiết kế đúng và có chất lượng thì sẽ tốt hơn nhiều so với tựluận

Nhận xét: Thực ra, TNKQ không tiết kiệm được bao nhiêu thời gian như chúng

ta thường nghĩ Vì nếu tiết kiệm thời gian ở khâu chấm điểm thì lại mất rất nhiều thờigian và công sức cho khâu chuẩn bị, soạn đề Muốn biên soạn một đề TNKQ, ngườisoạn phải hiểu sâu sắc chương trình nội dung dạy học, đồng thời phải dày công suynghĩ, nghiên cứu mục tiêu, nội dung, yêu cầu chương trình dạy học một cách chi tiết

- Muốn đề TNKQ đảm bảo được độ rõ ràng, không mơ hồ, có độ tin cậy cao cầnphải có người soạn đề có tính chuyên nghiệp;

Trang 25

- Cần dành nhiều thời gian cân nhắc trước, trong và sau khi soạn đề để nhất quán,tiết kiệm và hệ thống bộ đề;

- Trước khi đưa ra dùng đại trà, bộ đề nhất thiết phải được thử nghiệm để đánh giáhiệu lực của nó

1.5.3.3 Nhược điểm của TNKQ

- Loại đa lựa chọn chỉ yêu cầu HS nhận ra được khả năng trả lời đúng nhưng khôngbắt buộc HS nhớ và tự soạn ra câu trả lời Do vậy, cần hạn chế về mức nhận thức vì khôngrèn được kỹ năng ngôn ngữ như tạo lập câu và liên kết văn bản cho HS

- Nghiêng về kỹ năng đọc - hiểu đã vô tình hạn chế hiệu lực của kỹ năng viết

- Phương án “Nhiễu” trong TNKQ đa lựa chọn được xây dựng bằng:

+ Tạo ra lượng câu sai nhiều gấp 3, 4 lần câu đúng

+ Vẻ ngoài của câu sai khá hợp lý nên điều này đi ngược với nguyên lý giáodục: Chỉ dạy những điều tốt, đẹp và đúng trong nhà trường “Nhiễu” vô tình đã làm vẩnđục môi trường sư phạm

- Do hạn chế chủ quan của người soạn đề nên bộ câu hỏi thường rời rạc, chuyên biệt,không bao quát, không đánh giá được khả năng phân tích và tổng hợp của HS được đánh giá

- Khuyến khích HS đoán mò, nhất là loại TNKQ đúng - sai

- Nhận biết trong thang phân loại Bloom được coi là mức nhận thức thấp nhất

- Qua các cuộc điều tra cho thấy: HS nhớ tốt kiến thức thì sẽ nhận diện câu hỏiTNKQ tốt Ông Godshalk (1966), ông Choppin và Purves (1969) đã so sánh bài làmTNKQ với bài làm theo tự luận của cùng một nhóm HS và đi đến kết luận:

+ Kết quả kiểm tra nhờ TNKQ dự báo được thành tích chung mà kiểm tra tựluận đạt được Ngoài ra còn bổ sung được nhiều chi tiết mà tự luận không có

+ Ngược lại, kết quả kiểm tra tự luận không dự báo được kết quả qua TNKQ

1.5.4 Trắc nghiệm chủ quan

Trắc nghiệm chủ quan là dạng TN dùng những câu hỏi mở còn gọi là câu hỏi tựluận (ngược với TNKQ), đòi hỏi HS tự xây dựng câu hỏi trả lời Câu trả lời có thể làmột đoạn văn ngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giải hoặc một tiểu lụân Dạng nàyđược xem là TN chủ quan vì việc đánh giá, cho điểm câu trả lời có thể tùy thuộc rất

Trang 26

nhiều vào chủ quan người chấm, từ khâu xây dựng đáp án, biểu điểm, xác định các tiêuchí đánh giá đến khâu đối chiếu bài trả lời với đáp án, biểu điểm Vì vậy, việc chođiểm thường không có tính tin cậy cao.

Thông thường, một bài TN chủ quan gồm ít câu hỏi hơn một bài TNKQ nên chỉkiểm tra được phạm vi hẹp của kiến thức

Người ta thường phân biệt TN chuẩn hoá và TN do giáo viên tự thiết kế (TN tựtạo)

- TN chuẩn hóa: Là loại TN do các chuyên gia xây dựng một cách công phu, đãqua thử nghiệm, có thể dùng cho đại trà trong nhiều năm, phản ánh được yêu cầu chuẩnmực của chương trình, phù hợp với trình độ chung của HS cùng lứa tuổi, cùng khốilớp Khi sử dụng TN chuẩn hóa, GV cần tính đến đặc điểm HS từng địa phương, trongtừng thời gian xác định

- TN tự tạo: Trong quá trình dạy học, GV có thể tự mình xây dựng những TN để

sử dụng vào mục đích cụ thể, vào một thời điểm cụ thể

1.5.5 Trắc nghiệm giáo dục

Đó là một loại TNKQ dùng để khảo sát thành tích học tập của HS Tùy theo nộidung và cấu trúc cụ thể mà nó có thể dùng để kiểm soát chất lượng học tập của HS,cũng như hiệu quả của chương trình giáo dục hiện hành trên quy mô lớn từng khu vực,tỉnh, thành phố hay phạm vi quốc gia TN giáo dục cũng có thể dùng đánh giá KQHThàng ngày của HS, qua đó người GV có thể bổ sung, cải tiến nội dung, phương pháp vàyêu cầu giảng dạy

Việc sử dụng TN giáo dục trong giảng dạy và thi cử là rất phổ biến ở các nướcphương Tây trong trường hợp đảm bảo được các yêu cầu, quy định chung Việc sửdụng TN giáo dục có những tác dụng chính sau đây:

- Về ưu điểm:

+ Tính khách quan: sử dụng TNKQ sẽ giải phóng được ảnh hưởng chủ quan của

người chấm Tính chủ quan của người chấm thể hiện rõ trong việc chấm bài tự luận hiệnnay Chúng ta từng thấy các giám khảo khác nhau đánh giá khác nhau cùng một bàichấm Ngay cả khi cùng một giám khảo thì điểm số của một bài làm cũng có thể thay đổi

Trang 27

tùy theo từng lúc Ngược lại, khi sử dụng TNKQ thì khả năng tác động của ảnh hưởng xa

lạ đối với việc đánh giá thu lại đến mức tối thiểu do mỗi câu hỏi đều có câu trả lời sẵn,nên việc chấm được tiến hành một cách máy móc, không đòi hỏi chuyên môn của giámkhảo và có thể chấm bài TNKQ bằng bảng đục lỗ hoặc bằng máy

+ Quá trình tiến hành nhanh chóng, ít mất thời gian: Việc soạn thảo một bàiTNKQ là rất lâu và công phu, nhưng việc chấm bài lại rất nhanh chóng và thuận lợi.Nếu chấm bài tự luận, nhất là ở những lớp đông HS thì có khi phải mất hàng tuần hoặchơn thế nữa thì mới trả được bài Nhưng nếu chấm bài TNKQ thì một giờ có thể chấmhàng trăm bài, nhất là nếu sử dụng các máy chấm điểm thì có thể chấm được hàng ngànbài trong một giờ, như máy IBM 1230 Otical Mart Scoring Reader có thể chấm 1200bài trong một giờ Ưu điểm này dẫn đến tính kinh tế và phổ biến của TNKQ Người ta

có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên phạm vi lớn, số lượng lớn HS

+ Tính bao quát về nội dung: Do ưu điểm nổi bật của TNKQ là nhanh chóng,mất ít thời gian nên một bài TNKQ thường bao gồm nhiều câu hỏi Trong một bàiTNKQ người ta có thể đưa vào đó nhiều nội dung kiểm tra khác nhau cho mỗi mônhọc Đây là ưu điểm lớn của TNKQ so với dạng kiểm tra tự luận Hạn chế của dạng tựluận là ở chỗ: mỗi bài kiểm tra thường chỉ bao gồm vài câu hỏi nên chỉ có thể đề cậpđến một phạm vi hẹp kiến thức của HS về môn học đó Do đó, việc đanh giá có thểthiếu chính xác vì có em nắm được vấn đề này lại không nắm được vấn đề khác Trongthực tế, với thời gian 120 phút thì một bài TNKQ thường trên 60 câu hỏi với trên 200phương án trả lời, trong khi một bài tự luận thường chỉ gồm 5 hoặc 6 câu hỏi

+ Gây hứng thú và tính tích cực học tập cho HS: Với hình thức câu hỏi ngắngọn, việc trả lời đơn giản và kết quả bài làm thường được biết trong thời gian ngắn vàcũng là một hình thức kiểm tra mới nên các bài TNKQ thường gây cho các em sự hàohứng khi làm bài, dó đó thúc đẩy được việc học tập Nếu sau khi làm bài, HS được đốichiếu với đáp án thì các em có thể tự lý giải được các lỗi mà các em gặp phải ở nhữngcâu trả lời sai, những ý niệm sai lầm được sửa chữa một cách nhanh chóng và khắc sâutrong đầu Như vậy sẽ có hiệu quả hơn là phải chờ đợi hàng tuần, hàng tháng mới biếtđược những sai lầm ấy Đến lúc ấy thì HS chỉ chú ý, quan tâm đến điểm số chứ ít khi

Trang 28

chú ý đến sai lầm và sửa chữa sai lầm Dựa trên nguyên tắc này, người ta đã chế ranhững máy chấm TNKQ dùng cho loại câu hỏi nhiều lựa chọn, với những nút có sẵncâu trả lời Với máy này HS có thể biết ngay câu trả lời mà mình lựa chọn là đúng haysai và biết được số điểm toàn bài sau khi hoàn tất Giáo sư Mỹ Skinner và các cộng sựcủa ông đã chế tạo ra máy dạy học, giúp HS có thể tự học bằng cách theo dõi và trả lờitừng đơn vị nhỏ của bài giảng hiện ra trên máy Ở Việt Nam, cũng có một vài tác giảchế tạo ra các mẫu máy TNKQ khác nhau để kiểm tra HS và đã dùng thử có kết quả tốtgây hứng thú cho HS.

là nếu người biên soạn TNKQ có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm sư phạm phongphú thì các bài TNKQ sẽ đòi hỏi các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừutượng hóa, nhằm kích thích suy nghĩ sáng tạo chứ không phải chỉ đòi hỏi sự nhận dạng, táihiện kiến thức đã được học ở trên lớp

+ Các yếu tố may rủi, ngẫu nhiên do HS có thể đoán mò các câu trả lời, nhất làvới loại câu trắc nghiệm đúng – sai thì yếu tố may rủi lên đến 50% Tuy nhiên, vềnhược điểm này có những công trình nghiên cứu khoa học cho biết là việc đối chiếunhững kiến thức đúng – sai, trái ngược nhau sẽ giúp HS lật lại vấn đề, cảnh giác vớinhững sai lầm Dẫu sao thì TN kiểu câu đúng – sai vẫn có ý kiến cho rằng nên hạn chế

Trang 29

Theo tài liệu [10, tr 38 – 40] thì ta có bảng so sánh sau:

Về khả năng đo được

- HS chọn câu đúng nhấttrong số các phương án trảlời cho sẵn hoặc viết thêmmột từ đến một câu để trảlời

- Có thể đo những khảnăng suy luận như sắp đặt

ý tưởng, suy diễn, so sánh

và phân biệt

- Có thể kiểm tra và đánhgiá kiến thức của HS vềcác sự kiện một cách hữuhiệu

- HS có thể tự diễn đạt tưtưởng, câu văn nhờ kiếnthức và kinh nghiệm học tập

đã có

- Có thể đo lường khả năng suyluận, như sắp xếp ý tưởng, suydiễn, so sánh,

- Không đo lường kiến thức

về những sự kiện một cáchhữu hiệu

Về lĩnh vực

kiểm tra đánh giá

Có thể bao gồm nhiềulĩnh vực rộng rãi trong mỗibài thi, với nhiều câu hỏibao quát khắp nội dung,chương trình giảng dạy, độtin cậy của TN tăng lên

Có thể kiểm tra, đánh giá đượcmột lĩnh vực nhỏ trong mỗi bàithi Các câu trả lời thường dài,tốn thời gian nên trong khoảngthời gian hạn định một bài thi chỉ

có thể gồm một ít câu hỏi

Ảnh hưởng đối với HS

Khuyến khích HS pháttriển kiến thức hiểu biết vềcác vấn đề riêng biệt giữachúng Nếu được thiết kế tốt,

có thể khuyến khích pháttriển các kỹ năng suy luận ởmức cao hơn

Khuyến khích HS pháttriển khả năng tổ chức, sắpxếp, cách trình bày các ýtưởng một cách có hiệu quả

Việc soạn thảo đề thi - Có thể viết nhiều câu hỏi

cho mỗi bài kiểm tra hay

- Chỉ cần viết một số ít câuhỏi cho mỗi bài kiểm tra hay

Trang 30

Chấm điểm thường mấtnhiều thời gian, tính kháchquan không cao.

Qua việc phân tích trên, một câu hỏi đặt ra là: Trong hai phương pháp trên thìphương pháp nào tốt nhất? Trước hết, ta có thể khẳng định rằng dù hình thức, phươngpháp kiểm tra, đánh giá nào đó có tối ưu đến đâu đi nữa cũng không thể hoàn toàntuyệt đối; mỗi hình thức, phương pháp có các ưu điểm và nhược điểm nhất định Thôngthường, điểm yếu của phương pháp này lại là điểm mạnh của phương pháp kia vàngược lại Do đó, ta cần phải biết kết hợp các phương pháp trong quá trình kiểm tra,đánh giá sao cho hợp lý và có hiệu quả Và điều quan trọng là khi đứng trước một vấn

đề nào đó thì ta cần lựa chọn phương pháp nào để khi tiến hành thì có thể hạn chế đượcsai lầm một cách tối ưu nhất

Bảng so sánh sau đây cho thấy ưu điểm của từng phương pháp:

Vấn đề Ưu điểm của phương pháp

TNKQ Tự luận

Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là

Đề thi phủ kín nội dung môn học x

Ít may rủi do trúng tủ, trật tủ x

Áp dụng được công nghệ mới trong việc nâng

cao chất lượng kì thi, giữ bí mật đề thi, hạn chế

quay cóp khi thi, hạn chế tiêu cực trong chấm thi

và giúp phân tích kết quả thi

x

Có ý kiến cho rằng, phương pháp TN không đánh giá được những khả năng tưduy ở mức độ cao, nhất là tư duy trừu tượng; khó đánh giá được khả năng cảm thụ tình

Trang 31

cảm Nhưng thực tế chứng tỏ rằng có thể viết các câu hỏi TNKQ để đánh giá tất cả 6cấp độ nhận thức của HS (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánhgiá), tuy rằng việc viết được những câu hỏi TNKQ để đánh giá tư duy ở mức độ cao, tưduy trừu tượng, đánh giá khả năng cảm thụ là rất khó khăn vì đòi hỏi kỹ năng soạn câuhỏi, bài tập phải thuần thục Cũng phải thừa nhận rằng để đánh giá tư duy ở mức độcao, tư duy trừu tượng, đánh giá khả năng cảm thụ thì phương pháp tự luận có nhiều ưuthế hơn so với TNKQ vì việc trả lời câu hỏi TNKQ dù khó đến đâu cũng vẫn thực hiệnđược trong các phương án cho sẵn.

1.5.7 Các loại câu TNKQ

Có 4 hình thức đặt câu hỏi TN khác nhau, đó là:

- Câu hỏi đúng – sai

- Câu hỏi có nhiều lựa chọn

- Câu hỏi ghép đôi

- Câu điền khuyết

a) Câu hỏi đúng – sai:

Là những câu hỏi (hoặc câu xác định) được trả lời là “đúng” hoặc “sai”, cũng cóthể là những câu trả lời “có”, “không” Loại câu hỏi này thường đơn giản, ít tốn côngbiên soạn và có thể đạt được nhiều câu hỏi trong một khoảng thời gian nhất định

Ví dụ 1: Xác định tính đúng - sai trong các câu sau:

Trang 32

Khi viết loại câu TNKQ này cần lưu ý:

- Chỉ nên sử dụng loại câu này một cách dè dặt Trong nhiều trường hợp cóthể cải biến thành câu hỏi có nhiều lựa chọn mà không làm giảm tính chính xác củaviệc đo lường

- Không nên chép nguyên văn câu hỏi trong SGK vì làm như thế chỉ khuyếnkhích cho HS thuộc lòng một cách máy móc

- Cần đảm bảo tính đúng, sai của câu TN là chắc chắn, không phụ thuộc vàoquan niệm riêng của từng người

- Tránh dùng những cụm từ như “tất cả”, “không bao giờ”, “không một ai”,

“đôi khi”, có thể dễ dàng nhận ra là câu đúng hay câu sai

- Tránh số lượng câu đúng và câu sai bằng nhau trong một bài TNKQ, vị trícác câu đúng cần xếp đặt một cách ngẫu nhiên

- Đề phòng trường hợp mà câu trả lời đúng lại tùy thuộc vào một chữ, một từhay một câu tần thường, vô nghĩa

b) Câu hỏi có nhiều lựa chọn

- Thông thường trong các kỳ kiểm tra hoặc thi, người ra đề thường dùng loại câuhỏi TNKQ với nhiều lựa chọn Câu hỏi thuộc loại này gồm hai phần: Phấn gốc (phầncâu dẫn) và phần lựa chọn

+ Phần gốc: là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa được hoàn tất) Phần nàyphải tạo cơ sở cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay một ý tưởng rõ rànggiúp cho sự lựa chọn được dễ dàng Có khi phần gốc của câu TNKQ là một câu phủ

Trang 33

định, trong trường hợp này ta nên gạch dưới hay in đậm những chữ diễn tả ý phủ định

để HS khỏi nhầm lẫn vì vô ý

+ Phần ngọn: gồm có nhiều lựa chọn (thường 4 hoặc 5 lựa chọn), trong đó cómột lựa chọn dự định cho là đúng hoặc là đúng nhất) Những phần còn lại được xem làcâu “nhiễu” hoặc “mồi nhử” hoặc “ gài bẫy” HS phải nắm vững kiến thức mới phânbiệt được Điều quan trọng là làm sao những “mồi nhử” đều hấp dẫn ngang nhau đốivới những HS chưa đọc kỹ hay chưa hiểu kỹ bài học

- Loại câu hỏi có nhiều lựa chọn rất thông dụng, có khả năng áp dụng rộng rãi

và cũng là loại có khả năng phân biệt HS giỏi với HS kém nhiều nhất, mức độ tin cậycũng cao hơn nhiều so với câu đúng – sai Tuy nhiên, loại này tương đối khó soạn vìmỗi câu hỏi phải kèm theo một số câu trả lời, tất cả đều hấp dẫn ngang nhau nhưngtrong đó chỉ có một câu trả lời là đúng Vì vậy, cần tránh những điều sau đây:

+ Câu bỏ lửng không đặt ra vấn đề hay một câu hỏi rõ rệt làm cơ sở cho sự lựachọn

+ Những “mồi nhử” sai một cách rõ rệt hay quá ngây ngô, không hấp dẫn

+ Câu TN có hai lựa chọn đúng (hoặc không có câu nào đúng cả) trong khi ta dựđịnh chỉ có một câu đúng

+ Phần gốc quá rườm rà, gồm nhiều chi tiết không cần thiết

+ Khi soạn thảo những câu lựa chọn, vô tình tiết lộ câu dự định trả lời đúng qualối hành văn, dùng từ, cách sắp đặt, câu lựa chọn,

Ví dụ 2: Trong không gian Oxyz, cho ba điểm A(1;1; 3), B(-1;3;2) và C(-1;2;3).Mặt phẳng (ABC) có phương trình là:

Trang 34

c) Câu ghép đôi

Loại này thường gồm hai dãy (dạng cột, bảng) thông tin, một dãy là các câu hỏi(hay câu dẫn), một dãy là các câu trả lời (hay câu lựa chọn) HS phải tìm ra từng cặpcâu trả lời ứng với câu hỏi (có thể câu trả lời được dùng hai hay nhiều lần để ghép vớimột câu hỏi)

Khi soạn loại câu TN này, cần lưu ý một số điểm sau:

- Dãy thông tin đưa ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liênquan nhau

- Cột câu hỏi và câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lờinhiều hơn hoặc có thể dùng một câu trả lời cho hai hay nhiều câu hỏi

- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thức tự các câu hỏi để gây thêmkhó khăn cho sự lựa chọn

d) Câu điền khuyết

Loại này thì câu dẫn có thể để một vài chỗ trống, HS phải điền vào chỗ trống những

từ hoặc cụm từ thích hợp (có thể cho trước một số từ, cụm từ để HS lựa chọn)

Ví dụ 5: Đường thẳng có phương trình 8 2

x yz

  thì đi qua điểm M

có tọa độ là ……….… và có vectơ chỉ phương là …… ……

Trang 35

Đáp án: điểm M(0;8;-2), vtcp u     ( 1; 2;3)

Lẽ ra loại câu TN điền khuyết không nên dùng trong câu TN hoàn toàn kháchquan Tuy nhiên nếu câu trả lời ngắn và tiêu chuẩn đúng, sai rõ rệt, ta có thể xemnhững loại câu này trong bài TNKQ Trong câu điền khuyết, câu dẫn có thể để một vàichỗ trống

Khi lập câu TNKQ loại câu này cần chú ý:

- Bảo đảm cho mỗi chỗ để trống chỉ có thể điền một từ hoặc một cụm từ thíchhợp

- Tránh lấy lại ý tưởng, câu văn của bài học hay SGK

- Chữ phải điền là chữ có ý nghĩa nhất câu

Trong 4 kiểu câu nói trên, kiểu câu đúng – sai và kiểu câu nhiều lựa chọn cócách trả lời đơn giản nhất Với nhiều loại câu hỏi TNKQ như thế, GV phải hiểu rõ đặcđiểm, công dụng của mỗi loại để lựa chọn loại nào là có lợi nhất, thích hợp với mụctiêu khảo sát, hay loại nào mà giáo viên thấy có đủ khả năng sử dụng một cách hiệuquả nhất Từ sự phân tích từng loại câu hỏi TN trên, tốt nhất là GV nên sử dụng loạicâu hỏi nhiều lựa chọn vì:

- Phạm vi sử dụng rộng rãi, dễ thực hiện đối với HS

- Đo được nhiều mức độ nhận thức khác nhau: biết, hiểu, vận dụng,…

- Khả năng phân biệt HS giỏi với HS kém

- Đánh giá được kiến thức của HS thu nhận được trong quá trình học tập trênmột diện rộng Hạn chế được khả năng học tủ, học lệch của HS

- Chấm điểm khách, nhanh chóng, chính xác (có thể chấm bằng máy cho khối lượnglớn HS) Có độ tin cậy cao hơn hẳn các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác

- Đảm bảo tính kinh tế: Khi đã lập được bộ test thì có thể sử dụng ở nhiều địaphương Có thể áp dụng những phương tiện hiện đại vào các khâu làm bài thi, chấm điểm,lưu trữ và xử lý kết quả Đảm bảo tính khách quan, chính xác và tiện lợi

1.5.8 Độ khó và độ phân biệt

Để đánh giá chất lượng của từng câu TN hoặc của toàn bộ đề thi TN, người tathường dùng một số đại lượng đặc trưng đó là độ khó và độ phân biệt

Trang 36

1.5.8.1 Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm

Độ khó của mỗi câu hỏi được tính bằng tỉ số giữa số HS trả lời đúng câu hỏi đótrên tổng số HS tham dự Công thức tính độ khó của câu hỏi TN như sau:

Tổng số HS trả lời đúng câu hỏi

p =

Tổng số HS trả lời câu hỏi

Một nhược điểm là giá trị của độ khó sẽ phụ thuộc vào đối tượng được chọn Ta

có thể thấy rằng, với cùng một câu hỏi, nhưng đối với nhóm HS giỏi thì sẽ có độ khóthấp, ngược lại với nhóm HS yếu thì sẽ có độ khó cao hơn

Khi soạn thảo xong một câu hoặc một bài TN, người soạn chỉ có thể ước lượng độkhó hoặc độ phân biệt của nó theo cảm tính Độ lớn của các đại lượng đó chỉ có thể tínhđược cụ thể bằng phương pháp thống kê sau lần TN thử, dựa vào kết quả thu được từ các

câu trả lời trong bài làm của HS Việc sử dụng hệ số p để đo độ khó là rất khó ý nghĩa.

Ngoài ra, cách định nghĩa này cũng cho ta một đại lượng chung phản ánh độ khó, dễ của cácbài TN thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau

Các câu hỏi của một bài TN thường phải có các độ khó khác nhau Theo công

thức tính độ khó như trên, nếu giá trị p mà càng bé thì câu hỏi TN càng khó và ngược lại Như vậy thì p có giá trị như thế nào thì có thể xem là câu hỏi TN đó có độ khó

trung bình? Để trả lời vấn đề này thì ta cần phải lưu ý đến xác suất mà HS làm đúngcâu hỏi trắc nghiệm đó

Giả sử một câu hỏi TN nào đó có 4 phương án lựa chọn thì xác suất làm đúngcâu đó là 25% Vậy độ khó trung bình của câu hỏi này nằm ở giữa khoảng tối thiểu

25% và tối đa 100% số HS trả lời đúng câu hỏi đó, tức là bằng 1(25% 100%) 62,5%

Trang 37

Theo TS Dương Thiệu Tống, có thể phân loại độ khó theo kết quả trả lời của

HS như sau: 70% trở lên: là câu dễ; 60% đến 70%: là câu có độ khó vừa phải; 40% đến60%: là câu có độ khó trung bình; 30% đến 40%: là câu có độ khó tương đối; dưới30%: là câu khó

Khi tiến hành lựa chọn câu TNKQ, căn cứ theo độ khó của nó trước hết ta cầnphải bỏ đi những câu nào mà tất cả HS đều không trả lời được, bởi vì như thế là quákhó hay tất cả HS đều làm được vì như thế là quá dễ Những câu hỏi ấy sẽ không cho

ta thấy được sự phân biệt HS giỏi với HS kém Một bài TNKQ có hiệu quả và đáng tincậy thường bao gồm những câu hỏi có độ khó vừa phải

1.5.8.2 Độ khó của bài TNKQ

Để xét độ khó của một bài TNKQ, người ta có thể đối chiếu điểm trung bình củabài TNKQ với điểm trung bình lý tưởng của nó Điểm trung bình của bài TNKQ là điểmtrung bình cộng của điểm số tối đa có thể có được và điểm may rủi mong đợi Điểm mayrủi mong đợi bằng số câu hỏi của bài TNKQ chia cho số lựa chọn của mỗi câu

Giả sử một bài TNKQ có 50 câu, mỗi câu có 4 phương án lựa chọn Khi đó: điểm

số tối đa của bài kiểm tra đó bằng 50 điểm, điểm may rủi là 50 : 4 = 12,5 và điểm trungbình lý tưởng là: (50 + 12,5) : 2 = 31,25 Nếu điểm trung bình thực sự của bài TNKQ đótrên hay dưới quá xa 31,25 thì bài TNKQ ấy là quá dễ hay quá khó đối với HS

1.5.8.3 Độ phân biệt các câu trắc nghiệm

Độ phân biệt là khả năng phân biệt của một câu hỏi TNKQ đối với người cónăng lực cao với người có năng lực thấp Độ phân biệt của câu hỏi TNKQ thường đượctính là hệ số tương quan giữa tổng số điểm của các HS với việc trả lời đúng câu hỏi đó.Trong việc thiết kế để xây dựng cấu trúc câu hỏi, đòi hỏi phải có độ phân biệt dương(tức là các HS có tổng số điểm cao có khả năng trả lời đúng câu hỏi này hơn là những

Trang 38

K 2 : là số HS trả lời đúng của nhóm thấp.

n : là số HS trong mỗi nhóm.

Theo [21, tr 123], chỉ số E của một bài TNKQ: Từ 40% trở lên: là rất tốt; Từ 30%

đến 39%: là khá tốt nhưng có thể làm cho tốt hơn; Từ 20% đến 29%: là tạm được, có thểcần phải hoàn chỉnh; Dưới 19%: là kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại cho tốt hơn

Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi tốt là câu hỏi đó phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Độ khó: 40% < p < 60%

- Độ phân biệt E: từ 0,3 trở lên là thoả mãn về độ phân biệt.

Trong thực tế, công việc phân tích các số liệu sẽ thực hiện dễ dàng nhờ các phầnmềm vi tính (như chương trình QUEST & BIGSTEP [27] ) và các chỉ số thống kê trênchỉ có ý nghĩa tương đối Việc so sánh bản thân nội dung của các câu hỏi với các mụctiêu dạy học mới có ý nghĩa quyết định

1.6 Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ

1.6.1 Căn cứ vào nội dung

Để xây dựng đề kiểm tra với câu hỏi TNKQ trước hết phải căn cứ vào nội dung cụthể của từng chương trình phải biên soạn Nội dung đó bao gồm chương trình và yêucầu của chương trình Hiện nay, có hai bộ SGK cho bậc THPT đó là SGK cơ bản vàSGK nâng cao cùng tồn tại và được sử dụng song song tùy vào điều kiện cụ thể từngtrường, từng nơi Vì thế, yêu cầu của chương trình cần phải căn cứ vào yêu cầu cơ bản

và yêu cầu nâng cao

Chẳng hạn với nội dung chương “Phương pháp toạ độ trong không gian” củaHình học 12 thì chương này được quy định dạy với thời lượng 17 tiết đối với SGKHình học 12 ban cơ bản và 20 tiết đối với SGK Hình học 12 nâng cao Chương này baogồm các nội dung sau:

- Hệ tọa độ trong không gian:

+ Toạ độ của điểm và của vectơ;

+ Biểu thức tọa độ của các phép toán vectơ;

+ Tích vô hướng;

+ Phương trình mặt cầu

Trang 39

- Phương trình mặt phẳng:

+ Vectơ pháp tuyến của mặt phẳng;

+ Phương trình tổng quát của mặt phẳng;

+ Điều kiện để hai mặt phẳng song song, vuông góc;

+ Khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng

- Phương trình đường thẳng trong không gian:

+ Phương trình tham số của đường thẳng;

+ Điều kiện để hai đường thẳng song song, cắt nhau, chéo nhau

1.6.2 Các dạng toán

Căn cứ vào nội dung chương trình của SGK Hình học 12, người biên soạn phảiđưa ra được các dạng toán phù hợp để từ đó viết nội dung sao cho sát thực và hợp lý.Với chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”, chúng ta có thể phân thành 4dạng toán như sau:

- Các bài toán tính toán: khoảng cách (giữa hai điểm, từ một điểm đến một mp, từmột điểm tới một đt, giữa hai đt chéo nhau), góc (giữa hai vectơ, giữa hai đt, giữa hai

mp, giữa đt và mp)

- Các bài toán về mặt cầu: xác định tâm và bán kính mặt cầu khi biết pt mặt cầu,viết pt mặt cầu khi biết các điều kiện xác định nó, viết pt tiếp diện của mặt cầu, xácđịnh vị trí tương đối của mặt cầu với mp

- Các bài toán về mp: tìm vtpt của mp, điểm mà mp đi qua, viết pt của mp khi cácbiết các điều kiện xác định nó, vị trí tương đối của hai mp, các vị trí đặc biệt của mp

- Các bài toán về đt: tìm vtcp của đt, viết pt tham số, pt chính tắc (nếu có) của đt,xác định các hệ thức vectơ, hệ thức tọa độ biểu diễn vị trí tương đối của đt và mp, vị trítương đối giữa hai đt

Tương ứng với 4 dạng toán trên, việc kiểm tra để đánh giá KQHT của HS bằng câuhỏi TNKQ trong chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” tập trung ở 3 mức độ:nhận biết, thông hiểu, vận dụng được phân thành 3 dạng sau đây:

- Dạng “đọc” phương trình: Đây là dạng cho trước pt của một đt hoặc một mpnào đó rồi yêu cầu HS “đọc” các yếu tố từ pt đó

Trang 40

- Dạng “viết” tọa độ, “viết” phương trình: Dạng này yêu cầu HS viết tọa độ củađiểm, của vectơ trong một hệ tọa độ vuông góc đã được xác định; viết được pt của mp,

đt, mặt cầu khi biết các điều kiện xác định

- Dạng kết hợp cả “đọc” và “viết”: Dạng này khi soạn câu hỏi có thể dựa vàocác bài toán ở hình thức tự luận rồi chuyển hoá thành các câu hỏi TNKQ

1.6.3 Một số vấn đề kỹ thuật trong soạn thảo đề kiểm tra với câu hỏi TNKQ

Để viết được một bài TNKQ tốt cần: (i) Định rõ các mục tiêu dạy học; (ii) Viết

các câu hỏi TNKQ gắn chặt với các mục tiêu này

Để tiến hành soạn thảo một bài TNKQ, người ta theo các bước sau:

- Xác định các mục tiêu khảo sát trong bài TN: cần phải biết rõ những điều sẽphải khảo sát và những mục tiêu nào đòi hỏi HS phải đạt được Muốn vậy, ta phải liệt

kê các mục tiêu giảng dạy cụ thể hay các năng lực cần phải đo lường Sau đó phải xácđịnh là cần bao nhiêu câu hỏi cho từng mục tiêu Số lượng câu hỏi cần thiết sẽ tùythuộc vào mức độ quan trọng của từng mục tiêu và các vấn đề khác nhau cần phải đượckiểm tra Trong một bài TNKQ cũng cần phải lưu ý đến hai yếu tố quy định số câu hỏicần thiết đó là: thời gian dành cho bài TNKQ và sự chính xác của điểm số trong việc

đo lường kiến thức hay học lực mà chúng ta muốn khảo sát

- Lập ma trận hai chiều: ma trận hai chiều là một công cụ hữu ích có thể giúpcho những người soạn thảo TN chuẩn bị các câu hỏi phù hợp với các mục tiêu giảngdạy Người ta phân loại từng câu hỏi TNKQ ra thành hai chiều cơ bản: một chiều làchủ đề dạy học, các đề mục hay nội dung quy định trong chương trình; một chiều là cácmục tiêu giảng dạy hay các năng lực đòi hỏi ở HS

- Dựa vào ma trận hai chiều để soạn thảo đề kiểm tra với các câu hỏi TNKQ.Khi soạn thảo các câu hỏi TNKQ cũng cần lưu ý tới một số điểm sau:

+ Câu TNKQ cần được diễn đạt chính xác, gọn, không gây hiểu lầm, sai

+ Không nên đưa vào câu TNKQ nhiều thông tin, nhất là những thông tinkhông cùng thuộc một loại kiến thức

+ Tránh cung cấp những thông tin đầu mối, gợi ý dẫn đến câu trả lời

+ Tránh những câu dẫn rập khuôn SGK vì sẽ khuyến khích HS học vẹt

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phan Lưu Biên (2003), 500 câu hỏi trắc nghiệm tổng hợp môn Toán, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 500 câu hỏi trắc nghiệm tổng hợp môn Toán
Tác giả: Phan Lưu Biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình phát triển giáo dục trung học (2011), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn Toán cấp trung học phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn Toán cấp trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình phát triển giáo dục trung học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển Giáo dục THCS II (2006), Tài liệu đánh giá cho các lớp tập huấn của Dự án Phát triển THCS II, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đánh giá cho các lớp tập huấn của Dự án Phát triển THCS II
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển Giáo dục THCS II
Năm: 2006
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2006), Kỷ yếu hội thảo khoa học - Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học - Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học Sư phạm
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
[5]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[6]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996), Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[8]. Nguyễn Hải Châu, Phạm Đức Tài, Nguyễn Thế Thạch (2008), Chuẩn bị kiến thức ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng môn Toán, NXB Giáo dục, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị kiến thức ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng môn Toán
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Phạm Đức Tài, Nguyễn Thế Thạch
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[9]. Phạm Xuân Chung (2012), “Chuẩn bị cho sinh viên ngành sư phạm Toán học ở trường đại học tiến hành hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông”, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuẩn bị cho sinh viên ngành sư phạm Toán học ở trường đại học tiến hành hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông”
Tác giả: Phạm Xuân Chung
Năm: 2012
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” – Tạp chí NCGD, 2/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” – "Tạp chí NCGD
[11]. Phạm Gia Đức (1995), “Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường phổ thông”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường phổ thông”, "Tạp chí nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Phạm Gia Đức
Năm: 1995
[12]. Phạm Gia Đức, Đỗ Huy Thái, Đề cương giáo trình Phương pháp giảng dạy môn Toán - Tủ sách sư phạm, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương giáo trình Phương pháp giảng dạy môn Toán
[13]. Hà Thị Đức (1991), “Kiểm tra đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh một khâu quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông”, Tạp chí thông tin khoa học, (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh một khâu quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông”, "Tạp chí thông tin khoa học
Tác giả: Hà Thị Đức
Năm: 1991
[14]. G.Polya (1975), Sáng tạo Toán học (Tập 1,2,3), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo Toán học (Tập 1,2,3)
Tác giả: G.Polya
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1975
[15]. G.Polya (1975), Giải một bài toán như thế nào, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán như thế nào
Tác giả: G.Polya
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1975
[16]. Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên), Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên (2008), Hình học 12, NXB Giáo dục, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học 12
Tác giả: Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên), Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[17]. Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên), Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên (2008), Hình học 12- Sách giáo viên, NXB Giáo dục, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học 12- Sách giáo viên
Tác giả: Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên), Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[18]. Nguyễn Thị Thu Hằng (2008), “Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học về phương pháp tọa độ trong không gian – Lớp 12 THPT”, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học về phương pháp tọa độ trong không gian – Lớp 12 THPT”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2008
[19]. Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan (1999), Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[21]. Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên (2008), Bài tập Hình học 12, NXB Giáo dục, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Hình học 12
Tác giả: Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 - Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thể hiện qua nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (hình học 12   ban cơ bản) luận văn thạc sĩ toán học
Sơ đồ 1.1 (Trang 20)
Bảng so sánh sau đây cho thấy ưu điểm của từng phương pháp: - Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thể hiện qua nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (hình học 12   ban cơ bản) luận văn thạc sĩ toán học
Bảng so sánh sau đây cho thấy ưu điểm của từng phương pháp: (Trang 30)
Bảng xếp loại các câu hỏi TNKQ trong đề kiểm tra - Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thể hiện qua nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (hình học 12   ban cơ bản) luận văn thạc sĩ toán học
Bảng x ếp loại các câu hỏi TNKQ trong đề kiểm tra (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w