Thực chất của kiểm soát chấtlượng là chủ yếu nhằm vào quá trình sản xuất gồm các yếu tố sau : - Kiểm soát con nguời + Được đào tạo, + Có kỹ năng thực hiện, + Được thông tin về nhiệm vụ đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA KINH TẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU VÀO PHỤC
VỤ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Giáo viên hướng dẫn : Trần Văn Hào Sinh viên thực hiện : Trịnh Thị Hoài Thương Lớp : 48B1 – Quản trị kinh doanh
VINH - 2011
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã và đang
phát triển nền kinh tế thị trường đầy năng động với tốc độ phát triển ngàycàng cao và bền vững Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đã vươnlên trở thành một trong những nước đang phát triển trên thế giới Trở thànhthành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, các doanh nghiệpViệt Nam đã có nhiều cơ hội để vươn lên khẳng uy tín và vị thế của mình trêntrường quốc tế Có được thành tựu đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ củalĩnh vực ngoại thương mà cụ thể là hoạt động xuất khẩu hàng hóa Đây cũng
là một điểm sáng kinh tế những năm gần đây, góp phần tăng thu nhập quốcdân và là nhân tố động lực cho sự tăng trưởng kinh tế đất nước Tuy nhiên,hoạt động xuất khẩu luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt và những rủi
ro trên trường quốc tế do phạm vi hoạt động vượt qua biên giới quốc gia Bởivậy, để hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam có được lợi thế cạnh tranhkhi đưa ra thị trường nước ngoài cần phải có một quy trình kiểm định chấtlượng nghiêm ngặt và hoàn chỉnh
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Công ty Cổ phần Xuấtnhập khẩu Nghệ An đã trưởng thành, đứng vững trong nền kinh tế thị trường.Vinh dự với tư cách là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của Việt Namtrong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, là cầu nối đưa hàng hóa của ViệtNam ra thị trường quốc tế, công ty cổ phần xuất nhập khẩu Nghệ An thựchiện sứ mệnh của mình là mang thương hiệu Việt khẳng định với thế giới.Trong những năm qua, công ty luôn chú trọng tới việc kiểm soát chất lượngđầu vào của hàng hóa để phục vụ hoạt động xuất khẩu - một trong những hoạtđộng chủ yếu của công ty
Trên thực tế, công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nghệ An đã có một sốbiện pháp để kiểm soát, nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu nhưng hiệu
Trang 3quả và tính khả thi của nó vẫn chưa thực sự cao bởi sự tác động của các nhân
tố như môi trường, điều kiện tài chính, khả năng của công ty cũng như đối thủ
cạnh tranh Vì vậy, em chọn đề tài " Kiểm soát chất lượng đầu vào phục vụ hoạt động xuất khẩu tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nghệ An" để có
thể tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về kiểm soát chất lượng
- Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chất lượng đầu vào tại công ty
Cổ phần xuất nhập khẩu Nghệ An từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoànthiện hơn công tác này
3 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp kiểm soát chất lượng nông sản xuất khẩu của công ty cổphần Xuất nhập khẩu Nghệ An
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như nghiên cứutổng hợp, phân tích tài liệu, so sánh và đối chiếu với thực tiễn, quan sát, thuthập và xử lý số liệu
5 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động kiểm soát chất lượng đầu vào nông sản xuất khẩu tại công ty
Cổ phần Xuất nhập khẩu Nghệ An
6 Kết cấu đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 : Tổng quan về kiểm soát chất lượng
Chương 2 : Thực trạng công tác kiểm soát chất lượng đầu vào tại công
ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nghệ An
Chương 3 : Giải pháp kiểm soát chất lượng đầu vào tại công ty Cổ phầnXuất nhập khẩu Nghệ An
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG
1.1 Khái niệm
Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệpđược sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng
Thuật ngữ “Kiểm soát chất lượng” xuất hiện ngay từ sớm trong thế kỷ
20 (Radford 1917, 1922) Ý tưởng là mở rộng cách tiếp cận để đạt được chất
lượng, từ cách thanh tra xử lý sự đã rồi đến cách được gọi là “ngăn ngừa
khiếm khuyết” Trong một số thập kỷ, từ “kiểm soát” (control) có một nghĩarộng, bao hàm cả ý lập kế hoạch chất lượng Sau đó xuất hiện các sự kiện thuhẹp lại ý nghĩa của “kiểm soát chất lượng” Xu hướng “kiểm soát chất lượngthống kê” xuất hiện từ ý tưởng kiểm soát chất lượng bằng các phương phápthống kê Xu hướng “độ tin cậy” (reliability) đòi hỏi rằng kiểm soát chấtlượng chỉ được áp dụng cho thời điểm kiểm thử (test), tức vào cuối một côngđoạn sản xuất nào đó mà không áp dụng trong suốt thời gian thực thi củacông đoạn sản xuất
Tại nước Mỹ, thuật ngữ “kiểm soát chất lượng” giờ có nghĩa như cáchhiểu trên: kiểm soát chất lượng chỉ áp dụng cho thời điểm kiểm thử mà thôi.Thuật ngữ “quản lý chất lượng toàn diện” - TQM, được sử dụng như mộtthuật ngữ bao quát tất cả hoạt động chất lượng Tại Châu Âu, thuật ngữ “kiểmsoát chất lượng” còn có nghĩa hẹp hơn Tại Nhật Bản, thuật ngữ “kiểm soátchất lượng” có nghĩa rộng hơn Thuật ngữ “kiểm soát chất lượng toàn diện”(total quality control) tương đương với thuật ngữ TQM tại Mỹ Năm 1997,Liên hiệp các Nhà khoa học và Kỹ sư Nhật Bản (JUSE, Japanese Union ofScientists and Engineers) đã thay thế thuật ngữ “kiểm soát chất lượng toàndiện – TQC” bằng thuật ngữ “quản lý chất lượng toàn diện – TQM” để thốngnhất cùng một cách hiểu của thế giới
Trang 5Để kiểm soát chất lượng, cần thiết phải kiểm soát được các yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Thực chất của kiểm soát chấtlượng là chủ yếu nhằm vào quá trình sản xuất gồm các yếu tố sau :
- Kiểm soát con nguời
+ Được đào tạo,
+ Có kỹ năng thực hiện,
+ Được thông tin về nhiệm vụ được giao, yêu cầu phải đạt được,
+ Có đủ tài liệu, hướng dẫn cần thiết,
+ Có đủ phương tiện, công cụ và các điều kiện làm việc,
- Kiểm soát phương pháp và quá trình
+ Lập quy trình, phương pháp thao tác, vận hành ,
+ Theo dõi và kiểm soát quá trình,
- Kiểm soát đầu vào
+ Người cung ứng,
+ Dữ liệu mua nguyên vật
- Kiểm soát thiết bị
+ Phù hợp yêu cầu,
+ Được bảo dưỡng, hiệu chỉnh,
- Kiểm soát môi trường
+ Môi trường làm việc
+ Điều kiện an toàn
Đối với kiểm soát chất lượng thì ngoài việc kiểm tra đầu vào và đầu racủa quá trình sản xuất thì việc kiểm tra chi tiết sản phẩm trong quá trình sảnxuất rất quan trọng và do nhân viên đang thực hiện quá trình đó đảm nhiệm.Thông qua việc kiểm tra này người kiểm tra có thể nhận dạng và xử lý ngaynhững vấn đề gây ra sai lỗi Nếu những vấn đề này vượt quá khả năng của
Trang 6người thực hiện kiểm tra thì quá trình sản xuất sẽ được ngưng lại tránh tổnthất lớn khi sản phẩm cuối cùng được tạo ra.
1.2 Vai trò của hoạt động kiểm soát chất lượng
Theo quan điểm của quản lý chất lượng toàn diện, người ta nhấn mạnhđến các hoạt động thiết kế, hoạch định chất lượng nhằm thực hiện đúng ngay
từ đầu, nhưng kiểm soát chất lượng vẫn luôn là một trong những chức năngquan trọng không thể thiếu được trong quản lý chất lượng của các doanhnghiệp Tuy nhiên hoạt động kiểm soát chất lượng được hiểu rộng hơn, tíchcực hơn nhằm đảm bảo cho hệ thống quản lý chất lượng trong doanh nghiệphoạt động ổn định, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng đáp ứng những tiêuchuẩn thiết kế đặt ra, những đòi hỏi trong đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế
Kiểm soát chất lượng được hiểu là hoạt động theo dõi, thu thập pháthiện và đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch chấtlượng đã đề ra trong mọi quá trình mọi hoạt động và các kết quả thực hiện củadoanh nghiệp
Kiểm soát chất lượng thực hiện xuyên suốt quá trình từ thiết lập hệthống mục tiêu, chỉ tiêu chất lượng, thiết kế sản phẩm, quá trình sản xuấtchuyển hoá đầu vào thành đầu ra cho đến quá trình phân phối và tiêu dùngsản phẩm Nội dung của kiểm soát bao gồm kiểm soát chất lượng sản phẩmthiết kế, kiểm soát các điều kiện sản xuất, kiểm soát nguyên vật liệu đầu vào,bán thành phẩm trong từng công đoạn, sản phẩm cuối cùng và việc bảo quản,vận chuyển và chất lượng các hoạt động dịch vụ thực hiện trước và sau khibán
Kiểm soát tập trung vào các hoạt động xác định, đánh giá khả năng củacác quá trình, tình hình và mức độ biến thiên của quá trình và khả năng chấpnhận quá trình, đánh giá chất lượng sản phẩm và khả năng chấp nhận lô sản
Trang 7phẩm đó, kiểm soát xác định được kết quả đạt được về chất lượng và pháthiện nguyên nhân không đạt để kịp thời đề ra các biện pháp khắc phục.
Kiểm tra chất lượng để tìm kiếm phát hiện những sai lệch trong quátrình thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu chất lượng
Đánh giá mức độ phù hợp của sản phẩm với các thông số kỹ thuật vớicác tiêu chuẩn thiết kế và với các yêu cầu của hoạt động mua bán
Kiểm soát chất lượng là một đòi hỏi tất yếu vì không có kiểm soát chấtlượng thì không biết quá trình thực hiện đến đâu, kiểm soát chất lượng chính
là hoạt động kiểm tra đánh giá hiệu quả của công tác quản lý chất lượng trongdoanh nghiệp
Cơ sở quan trọng nhất trong kiểm soát chất lượng là hệ thống chỉ tiêuchất lượng, tiêu chuẩn chất lượng, các điều kiện, yêu cầu kỹ thuật, các bản vẽthiết kế, các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán đơn đặt hàng Căn
cứ kiểm soát các quy trình và kỷ luật công nghệ, kỷ luật lao động
Kiểm soát chất lượng là một đòi hỏi có tính thiết yếu vì không có kiểmsoát sẽ không biết được quá trình thực hiện như thế nào Thông qua kiểm soátchất lượng đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý chất lượng của một cơ sởkinh doanh, đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ có đạt được với nhữngyêu cầu, tiêu chuẩn đề ra, hoặc với các yêu cầu của hợp đồng mua bán Kiểmsoát đầu vào của các nguyên vật liệu sẽ đánh giá được khả năng và độ biếnthiên của quá trình và ảnh hưởng của nó đến chất lượng sản phẩm dịch vụ.Với những thông tin phản hồi thu được từ hoạt động kiểm soát sẽ là cơ sởquan trọng nhất cho việc ra các quyết định chấp nhận hay bác bỏ lô sản phẩm,
và các hoạt động bác bỏ nếu cần thiết
1.3 Quy trình kiểm soát chất lượng
Quy trình kiểm soát chất lượng được thực hiện theo sơ đồ sau:
Trang 8Hình 1.1 Quy trình kiểm soát chất lượng.
Đạt?
Không đạt?
Lựa chọn đối tượng kiểm soát
Thiết lập đo lường
Thiết lập các tiêu chuẩn về hiệu năng
Đo lường hiệu năng hiện tại
So sánh với tiêu chuẩn
Hành động để san bằng sự khác biệt
Trang 9Lựa chọn đối tượng kiểm soát: Mỗi đặc tính của sản phẩm (hàng hóahoặc dịch vụ) hoặc mỗi đặc tính của quy trình đều trở thành một đối tượng
kiểm soát - một tâm điểm mà quanh đó vòng lặp phản hồi được xây dựng.
Bước then chốt đầu tiên là lựa chọn đối tượng kiểm soát Các đối tượng kiểmsoát được dẫn từ nhiều nguồn khác nhau gồm:
Nhu cầu của khách hàng mục tiêu về đặc tính của sản phẩm
Phân tích kỹ thuật để chuyển nhu cầu khách hàng thành các đặc tínhcủa sản phẩm và đặc tính của quy trình
Đặc tính quy trình ảnh hưởng trực tiếp tới đặc tính sản phẩm
Các chuẩn công nghiệp và chuẩn của chính phủ
Nhu cầu bảo vệ sự an toàn của con người và môi trường
Nhu cầu tránh các hiệu ứng phụ như làm phiền nhân viên hoặc cộngđồng
Đối với nhân viên làm việc trực tiếp, đối tượng kiểm soát chủ yếu gồmcác đặc tính sản phẩm và quy trình được viết thành các đặc tả trong sổ tay sảnxuất Đối với nhân viên quản lý, thì đối tượng kiểm soát được mở rộng hơn vàđịnh hướng các vấn đề kinh doanh, họ quan tâm chủ yếu là nhu cầu kháchhàng và cách thức đáp ứng khách hàng của đối thủ cạnh tranh
Thiết lập sự đo lường: Sau khi đã chọn đối tượng kiểm soát, bướctiếp theo là lắp đặt các công cụ để đo lường hiệu suất hiện tại của quy trìnhhoặc mức độ chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ Đo lường là một trongnhững tác vụ quan trọng nhất của kiểm soát chất lượng Khi lắp đặt công cụ
đo lường, chúng ta cần đặc tả rõ ràng công cụ đo, bao lâu thì đo một lần, cách
dữ liệu được lưu trữ, khuôn dạng dữ liệu được báo cáo, cách phân tích dữ liệu
để có được thông tin hữu ích, ai sẽ thực hiện việc đo
Trang 10Thiết lập các tiêu chuẩn hiệu suất: Đối với mỗi đối tượng đo lườngcần thiết lập một tiêu chuẩn về hiệu suất – một mục tiêu chất lượng Mục tiêutối cao của sản phẩm là đáp ứng nhu cầu khách hàng Các mục tiêu chất lượngmức khái quát nhất đã được đặt ra ngay từ sớm khi phát triển sản phẩm Dầndần cùng quá trình phát triển sản phẩm, dịch vụ, các mục tiêu chất lượngđược cụ thể hoá thành việc đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu khách hàng, đápứng cạnh tranh, duy trì cải tiến chất lượng chặt chẽ, cải tiến hiệu suất của quytrình nghiệp vụ, xem xét lại quy trình lập kế hoạch sao cho tránh tạo ra cácquy trình mới và các sản phẩm, dịch vụ mới mang tính hút lỗi.
Đo lường hiệu suất hiện tại: Bước then chốt trong kiểm soát chấtlượng là đo lường hiệu suất hiện tại của sản phẩm hoặc của quy trình Để đolường, chúng ta cần một thiết bị đo Thiết bị đo là một thiết bị phát hiện đặcchủng Nó được thiết kế để nhận ra sự xuất hiện và cường độ của một hiệntượng nào đó và chuyển đổi dữ liệu thu thập được thành “thông tin” Thôngtin này sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định Tại các cấp độ thấp hơn của tổchức, thông tin mang tính thời gian thực và được dùng để kiểm soát các hoạtđộng hiện tại Tại các cấp độ cao hơn của tổ chức, thông tin được tổng kếttheo những cách khác nhau để có được các chiều kích rộng lớn hơn của thựctại, để phát hiện các khuynh hướng, để xác định các vấn đề ít xuất hiện Sự đadạng của đối tượng kiểm soát đòi hỏi sự đa dạng của thiết bị đo Một loại hìnhcăn bản là các công cụ đo đặc tính của sản phẩm và đặc tính của quy trình Ví
dụ như nhiệt kế, đồng hồ, đo chiều dài Một loại hình khác là các hệ thống dữliệu và các báo cáo liên quan cung cấp thông tin tóm tắt cho cấp quản lý Cácbảng hỏi, phỏng vấn cũng là một hình thức của thiết bị đo
So sánh với tiêu chuẩn: Hành động so sánh với tiêu chuẩn thườngđược coi là công việc của một trọng tài Trọng tài có thể là một người hoặc là
Trang 11một thiết bị Công việc của trọng tài là thực hiện bất cứ hoạt động nào trong
số dưới đây:
So sánh hiệu suất chất lượng hiện tại với mục tiêu chất lượng
Diễn giải sự khác biệt thu thập được, xác định liệu chất lượng đolường được có tuân theo mục tiêu
Quyết định hành động sửa chữa cần thực thi
Khởi động hành động sửa chữa
Thực hiện hành động để san bằng sự khác biệt: Trong bất kỳ hệthống kiểm soát chất lượng tốt nào, chúng ta đều cần một phương tiện để thựchiện hành động san bằng sự khác biệt giữa hiệu suất đo lường được và hiệusuất mong muốn – đó là một bộ điều chỉnh Thiết bị này có thể là con ngườihoặc là công cụ máy
1.4 Phương pháp kiểm soát chất lượng
Có nhiều phương pháp xác định chất lượng sản phẩm, dịch vụ Mỗiphương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Tuỳ thuộc vào mụcđích và yêu cầu kiểm tra, người ta lựa chọn áp dụng các phương pháp khácnhau cho phù hợp
1.4.1 Phương pháp kiểm tra bằng cảm quan
Đây là phương pháp kiểm tra đánh giá một cách định tính tình hìnhthực hiện các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Người ta sử dụng con người nhưmột phương tiện cơ bản để đánh giá kiểm tra chất lượng sản phẩm Thông qua
sự cảm nhận của các cơ quan cảm giác về các thuộc tính chất lượng của sảnphẩm để đưa ra những kết luận về tình hình thực hiện các chỉ tiêu chất lượng.Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các chỉ tiêu khó lượng hoá nhưmàu sắc, hương vị, độ thích thú
Để phản ánh mức độ chất lượng đạt được người ta thường dùng cáchcho điểm đối với từng chỉ tiêu chất lượng Do khả năng nhận biết, phân biệt
Trang 12của các cơ quan cảm giác có những hạn chế nhất định nên người ta thường lập
ra các hệ thống thang điểm khác nhau như:
+ Thang điểm sắp xếp theo thứ tự
+ Thang điểm phân khoảng theo các khoảng bằng nhau tương ứng với
sự nhận biết của cơ quan cảm giác
+ Thang điểm tỷ lệ chia theo các tỷ số bằng nhau
Phương pháp cảm quan đơn giản, cho kết quả nhanh, tiết kiệm thời gian
và các nguồn lực vật chất trong công tác kiểm tra, tuy nhiên thường mang tínhchủ quan và không mang lại kết quả cao Để khắc phục nhược điểm nàyngười ta thường thành lập hội đồng kiểm tra hoặc kết hợp với một số máymóc, phương tiện để nâng cao sự cảm nhận của các cơ quan cảm giác
1.4.2 Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp này được tiến hành trong các phòng thí nghiệm vớinhững thiết bị máy móc chuyên dùng và kết quả thu được là những số liệudưới dạng những quan hệ về số liệu rõ ràng Nó được áp dụng chủ yếu đối vớicác thuộc tính chất lượng công nghệ có đơn vị đo phần cứng của sản phẩm.Phương pháp này còn được áp dụng rộng rãi trong trường hợp các chỉ tiêukinh tế – kỹ thuật của sản phẩm cũng chính là các thông số phản ánh chấtlượng trong quá trình tiêu dùng hoặc khi trình độ chất lượng được đánh giágián tiếp thông qua các chỉ tiêu đó Ví dụ như công suất, động cơ, tốc độ gió,
độ mài mòn của sản phẩm… Phương pháp này có thể thực hiện bằng cách đotrực tiếp hoặc phân tích thành phần lý hoá, sinh học của sản phẩm
Phương pháp đo sử dụng các phương tiện đo để thu thập thông tin vềmột chỉ tiêu chất lượng nào đó, so sánh với tiêu chuẩn hoặc vật mẫu để xácđịnh mức chất lượng đạt được của sản phẩm Phương pháp phân tích lý hoánhằm xác dịnh thành phần hoá học, hàm lượng các chất, tính chất hoá học củasản phẩm theo các đơn vị đo xác định
Trang 13Kết quả của phương pháp này phản ánh một cách khách quan, chínhxác tình hình thực hiện các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Tuy nhiên phươngpháp này đòi hỏi phải có những phương tiện kỹ thuật kiểm tra hiện đại, chínhxác, vốn đầu tư trang bị lớn và chi phí kiểm tra cao Kết quả kiểm tra phụthuộc rất lớn vào trình độ kỹ thuật của các phương tiện kiểm tra, đánh giá chấtlượng Vì vậy, để đảm bảo độ chính xác của các kết quả, kiểm tra chất lượng,người ta thường sử dụng kết hợp các phương pháp thí nghiệm và cảm quan.
1.4.3 Phương pháp chuyên viên.
Dựa vào kết quả thu được từ phương pháp thí nghiệm và cảm quankinh nghiệm, người ta tiến hành thành lập hội đồng chuyên gia đánh giá, chođiểm từng thuộc tính và chỉ tiêu chất lượng, phân cấp hạng sản phẩm Đây làphương pháp hỗn hợp được sử dụng phổ biến trên thế giới Phương phápchuyên viên tiến hành theo hai cách là phương pháp Delphy và Paterne.Trong phương pháp Delphy, các chuyên gia không trực tiếp trao đổi với nhau
mà các ý kiến đánh giá, kiểm tra được trả lời qua các phiếu điều tra đã đượcsoạn thảo sẵn Còn phương pháp Paterne là phương pháp mà trong đó cácchuyên gia trao đổi trực tiếp với nhau để đi đến nhất trí về mức độ đạt đượccủa các chỉ tiêu chất lượng
Phương pháp chuyên viên được thực hiện qua hàng loạt các bước lặp đilặp lại nhằm đảm bảo tính chính xác của kiểm tra Phương pháp này nếu được
sử dụng tốt sẽ đem lại kết quả khá chính xác trong kiểm tra, đánh giá chấtlượng sản phẩm Do đó nó được sử dụng khá rộng rãi Tuy nhiên nó cũng vẫnmang tính chủ quan, phụ thuộc vào kinh nghiệm, độ nhạy cảm và khả năngcủa các chuyên gia, chi phí lớn và tốn kém về thời gian
1.5 Hình thức kiểm soát chất lượng
Trang 14Để triển khai các hoạt động kiểm tra chất lượng, người ta sử dụngnhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức kiểm tra chất lượng đều khai thác,ứng dụng rộng rãi các kỹ thuật thống kê.
Có hai hình thức kiểm tra chất lượng được sử dụng phổ biến là kiểm tratoàn bộ hoặc kiểm tra chọn mẫu
1.5.1 Kiểm tra toàn bộ
Trong kiểm tra toàn bộ, người ta tiến hành kiểm tra tất cả mọi sản
phẩm, 100% sản phẩm được kiểm tra, đánh giá theo các chỉ tiêu chất lượngquy định Hình thức này chỉ áp dụng cho những sản phẩm có giá trị lớn, quíhiếm, những lô hàng nhỏ và trong trường hợp kiểm tra không phá huỷ
Hình thức kiểm tra này khá tốn kém và không phải lúc nào cũng có thểkiểm tra toàn bộ cũng cho kết quả tốt hơn các hình thức khác
1.5.2 Kiểm tra đại diện
Kiểm tra đại diện hay kiểm tra chọn mẫu, người ta chỉ tiến hành kiểmtra một lượng sản phẩm được gọi là mẫu rút ra từ lô sản phẩm Kết quả được
sử dụng để xác định khả năng chấp nhận hay bác bỏ một lô sản phẩm căn cứvào một tổng thể mẫu ngẫu nhiên Hoạt động kiểm tra này nhanh, gọn, chokết quả sớm, tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, kiểm tra chọn mẫu có lượng thôngtin thu được ít hơn nên đòi hỏi thông tin phải chính xác Một đặc điểm củakiểm tra chọn mẫu là luôn gắn với rủi ro trong việc chấp nhận hoặc bác bỏ lôsản phẩm Hơn nữa kiểm tra chọn mẫu chỉ có kết quản đáng tin cậy, chấpnhận được khi mẫu chọn đại diện được cho chất lượng của lô sản phẩm, đảmbảo đúng quy trình lấy mẫu và quy trình kiểm tra không được có sai sót
1.6 Công cụ kiểm soát chất lượng
1.6.1 Tầm quan trọng của các công cụ kiểm soát chất lượng
Một trong những nội dung cơ bản của quản lý chất lượng là sử dụngcác công cụ thống kê để phân tích, đánh giá và kiểm soát chất lượng sản
Trang 15phẩm, quá trình Việc sử dụng các công cụ thống kê trong kiểm soát chấtlượng do Shewhart đề xuất và đã được đưa vào sử dụng trong các doanhnghiệp ở Mỹ từ thập kỷ XX Do lợi ích to lớn đem lại, các công cụ thống kê
đã nhanh chóng mở rộng phạm vi ứng dụng sang các nước khác Từ đó đếnnay việc sử dụng các công cụ thống kê trong kiểm soát chất lượng đã trởthành phổ biến và là một nội dung không thể thiếu trong quản lý chất lượng
Thực chất của kiểm soát chất lượng chính là việc sử dụng các kỹ thuậtthống kê trong thu thập, phân loại, xử lý, trình bày dữ liệu dưới một dạng nào
đó cho phép mọi người nhận biết được thực trạng của quá trình, nhờ đó tạo cơ
sở khoa học và thực tiễn cho việc ra các quyết định về chất lượng
Dùng công cụ thống kê để kiểm soát sự biến động của quá trình, từ đóđưa ra những biện pháp giải quyết Quá trình là tổng hợp sự phối hợp củangười cung ứng, người sản xuất, thiết bị, nguyên liệu, phương pháp và môitrường trong sự kết hợp thống nhất để tạo ra sản phẩm, hoặc dịch vụ cung cấpcho khách hàng
Dùng công cụ thống kê sẽ giúp mọi người tìm được nguyên nhân gốc
rễ của vấn đề gây nên sự biến động của quá trình Nguồn gốc của sự biếnthiên của quá trình là các yếu tố đầu vào, người thực hiện, thiết bị và phươngpháp thực hiện Những biến động trong các yếu tố trên là tiềm ẩn Điều quantrọng là chúng ta có thể nhận biết các biến động đó thông qua sử dụng cáccông cụ thống kê Sử dụng các kỹ thuật thống kê kiểm soát chất lượng chochúng ta biết được quá trình có ổn định không và có được kiểm soát không,mức độ biến thiên của quá trình có nằm trong giới hạn cho phép hay không
Có hai loại biến thiên gây nên sự biến động của quá trình là nguyênnhân chung phổ biến và nguyên nhân đặc biệt Nguyên nhân chung phổ biếnxảy ra thường xuyên và nằm trong bản thân của mỗi quá trình Chúng sẽkhông mất đi nếu quá trình đó vẫn được duy trì Khi chỉ có những nguyên
Trang 16nhân chung phổ biến gây ra thì quá trình ổn định và có thể kiểm soát bằngthống kê Sự biến thiên do những nguyên nhân này gây ra phản ánh khả năngcủa quá trình đó Nó thể hiện sự thực hiện tốt nhất của quá trình trong trạngthái kiểm soát thống kê.
Loại nguyên nhân thứ hai là nguyên nhân đặc biệt Đó là nguyên nhânlàm cho quá trình biến động đột biến vượt quá mức cho phép và quá trình sẽkhông bình thường Những nguyên nhân này nếu được khắc phục thì quátrình sẽ trở lại ổn định
1.6.2 Các công cụ được sử dụng trong kiểm soát chất lượng.
Công cụ kiểm soát gồm có 2 nhóm là nhóm công cụ truyền thống vànhóm công cụ hiện đại
1.6.2.1 Các công cụ truyền thống
Các công cụ này đã được áp dụng một cách hiệu quả từ những năm củathập niên 60 và đã được người Nhật áp dụng rất thành công Cơ sở của cáccông cụ này là lý thuyết thống kê Các công cụ bao gồm:
1/ Sơ đồ lưu trình (Lưu đồ)
Sơ đồ lưu trình là hình thức thể hiện toàn bộ các hoạt động cần thựchiện của một quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm và dịch vụ thôngqua những sơ đồ khối và các ký hiệu nhất định
Lưu đồ được sử dụng để nhận biết, phân tích các hoạt động nhờ đó pháthiện ra những hạn chế, hoạt động thừa, lãng phí không tạo ra giá trị gia tăng
để tìm cách loại bỏ chúng Sơ đồ lưu trình là một công cụ đơn giản nhưng rấttiện lợi, giúp những người thực hiện hiểu rõ quá trình, biết được vị trí củamình trong quá trình và xác định được những hoạt động cụ thể cần sửa đổi
Để xây dựng lưu đồ cần tuân thủ những nguyên tắc:
- Người xây dựng lưu đồ phải là người liên quan trực tiếp đến quátrình
Trang 17- Các nhân viên trong quá trình đều phải tham giá vào quá trình.
- Dữ liệu và thông tin phải được trình bày rõ ràng, cụ thể
- Xác định đủ thời gian cần thiết để không làm gián đoạn quá trình.2/ Sơ đồ nhân quả
Sơ đồ nhân quả còn gọi là sơ đồ Ishikawa hoặc sơ đồ xương cá
Là một sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa kết quả và nguyên nhân tạo rakết quả đó (kết quả là chỉ tiêu chất lượng cần theo dõi, đánh giá Còn nguyênnhân là yếu tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu chất lượng đó)
Mục đích của sơ đồ nhân quả là tìm kiếm xác định các nguyên nhângây ra các vấn đề về chất lượng Từ đó đề xuất những biện pháp khắc phụcnguyên nhân nhằm cải tiến và hoàn thiện chất lượng
Trong doanh nghiệp, những trục trặc về chất lượng thường xảy ra do rấtnhiều nguyên nhân như: nguyên liệu, phương tiện, thiết bị, và phương phápsản xuất
Hình 1.2: Sơ đồ nhân quả
MEN -THIẾT BỊ MATERIALS-CON
NGƯỜI
MACHINES-PHƯƠNG PHÁP METHODS-NGUYÊN VẬT LIỆU
Trang 18Sơ đồ này lần đầu tiên được ông Ishikawa đề xuất với 4 nhóm yếu tố
chủ yếu gọi là sơ đồ 4M (Men, Materials, Machines, Methods) Sau đó được
bổ xung thêm nhóm yếu tố đo lường (Measurement) thành 5M và ngày nay
nó được hoàn thiện bổ sung với nhiều yếu tố nữa trong đó có môi trường bênngoài
3/ Biểu đồ Pareto
Trong thực tế doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều vấn đề để cải tiếnchất lượng, nếu không có phương thức xác định những vấn đề quan trọng đểtập trung giải quyết sẽ dẫn đến phân tán, lãng phí nguồn lực, thời gian vàhiệu quả không cao
Biểu đồ Pareto là một đồ thị hình cột phản ánh các dữ liệu chất lượngthu được theo thứ tự từ cao xuống thấp để chỉ rõ các vấn đề cần ưu tiên giảiquyết trước Nhìn vào biểu đồ người ta thấy rõ kiểu sai sót phổ biến nhất, thứ
tự ưu tiên khắc phục vấn đề cũng như kết quả của hoạt động cải tiến chấtlượng Nhờ đó có thể kích thích, động viên đợc tinh thần trách nhiệm củangười lao động trong hoạt động cải tiến đó
4/ Phiếu kiểm tra chất lượng
Mục đích là thu thập, ghi chép các dữ liệu về chất lượng theo nhữngcách thức nhất định để đánh giá tình hình chất lượng và đưa ra những quyếtđịnh xử lý hợp lý
Phiếu kiểm tra được thiết kế theo hình thức khoa học để ghi số liệumột cách đơn giản bằng cách ký hiệu các đơn vị đo về các dạng sai sót,khuyết tật của sản phẩm mà không cần phải ghi một cách chi tiết các dữ liệuthu thập được và sau đó dùng các phiếu này để phân tích, đánh giá tình hìnhchất lượng sản phẩm
5/ Biểu đồ phân bố mật độ
Trang 19Biểu đồ phân bố mật độ là một dạng biểu đồ cột cho thấy bằng hìnhảnh sự thay đổi, biến động của một tập hợp các dữ liệu theo những hình dạngnhất định Căn cứ vào dạng phân bố bằng đồ thị đó ta thấy được những kếtluận chính xác về tình hình bình thường hay bất thường của các chỉ tiêu chấtlượng hoặc của quá trình.
6/ Biểu đồ phân tán
Biểu đồ phân tán thực chất là một đồ thị biểu hiện mối tương quan giữanguyên nhân và kết quả hoặc giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
7/ Biểu đồ kiểm soát
Biểu đồ kiểm soát biểu thị dưới dạng đồ thị sự thay đổi của chỉ tiêuchất lượng để đánh giá quá trình sản xuất có ở trạng thái kiểm soát hay chấpnhận được không
Biểu đồ kiểm soát có các đường giới hạn kiểm soát và có ghi các giá trịthống kê đặc trưng thu thập từ các nhóm mẫu được chọn ra liên tiếp trong quátrình sản xuất
1.6.2.2 Các công cụ hiện đại.
Các công cụ mới được phát triển và sử dụng từ những năm đầu củathập niên 80 Các công cụ này hỗ trợ rất đắc lực cho quá trình phân tích đểtìm ra nguyên nhân gây ra chất lượng kém cũng như tìm giải pháp để cải tiếnchất lượng 7 công cụ này bao gồm:
1/ Biểu đồ tương đồng (Affinity diagram): Phân tích vấn đề dựa trêncảm giác
2/ Biểu đồ quan hệ (Relation diagram): Phân tích vấn đề dựa trên logic3/ Biểu đồ ma trận (Matrix diagram): Phát hiện mối quan hệ giữa mụctiêu và chiến lược, giữa giải pháp đề ra và khả năng thực hiện
Trang 204/ Phân tích dữ liệu theo phương pháp ma trận: Tìm ra mức độ ưu tiêncho các giải pháp đề ra
5/ Biểu đồ cây (Tree diagram): chia một mục tiêu thành các mục tiêunhỏ hay một phương án thành các phương án chi tiết có thể thực hiện đượctrong thực tế Biểu đồ này cũng có thể sử dụng để phân tích nguyên nhântương tự như biểu đồ nhân quả ở nhóm công cụ truyền thống
6/ Biểu đồ mũi tên (Arrow diagram): Sử dụng để để xác định rõ các sựkiện, các nguyên nhân của vấn đề nhằm tăng hiệu quả hoạch định giải pháp
7/ Sơ đồ quá trình ra quyết định (PDPC): Công cụ lập kế hoạch ngẫunhiên và dự báo sự không chắc chắn qua việc phối hợp thông tin tại mọi giaiđoạn của quá trình
Trong số các công cụ này, biểu đồ cây và biểu đồ ma trận thường được
sử dụng kết hợp hiệu quả nhất với 7 công cụ truyền thống nói trên
1.7 Một số hệ thống kiểm soát chất lượng hiện hành
1.7.1 Hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ _TQM
1.7.1.1 Khái niệm.
Theo ISO 8402: 1994 “TQM: cách quản trị một tổ chức tập trung vàochất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên, nhằm đạt tới sựthành công lâu dài nhờ việc thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho cácthành viên của tổ chức đó và cho xã hội.”
Theo John L.Hradesley: “TQM là một triết lý, là một hệ thống công
cụ, và là một quá trình mà sản phẩm đầu ra của nó phải thoả mãn khách hàng
và cải tiến không ngừng Triết lý và quá trình này khác với triết lý và quátrình cổ điển ở chỗ là mỗi thành viên trong công ty đều có thể và phải thựchiện nó”
1.7.1.2 Vai trò của TQM
Trang 21TQM giúp các tổ chức đáp ứng tốt hơn mọi nhu cầu của khách hàngdưới ảnh hưởng của sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng của khoa học,công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin, thúc đẩy kinh tế-xã hội pháttriển,người tiêu dùng có nhiều khả năng lựa chọn sản phẩm theo mong muốn,dẫn đến cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, các doanh nghiệp muốn tồn tại vàphát triển phải lấy chất lượng làm vũ khí cạnh tranh TQM đã giúp cho các tổchức cung ứng cho khách hàng những sản phẩm chất lượng.
TQM giúp cho các tổ chức quản trị hiệu quả hơn: với phương châm “làm đúng, làm tốt ngay từ đầu là hiệu quả nhất, kinh tế nhất”, “người đồngnghiệp tiếp sau trong quá trình hoạt động là khách hàng “ và quản trị trên tinhthần nhân văn sẽ tạo văn hoá mới trong hoạt động kinh doanh giảm chi phíẩn… Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng
1.7.1.3 Nội dung của TQM
a Các luận điểm cơ bản của TQM
Một điều có thể coi như tiền đề là không tài nào đảm bảo được chấtlượng bằng cách kiểm nghiệm tức là dùng các biện pháp kiểm tra kỹ thuật,chất lượng cần phải nhập thêm vào chế phẩm ngay từ những bước nghiên cứuthiết kế đầu tiên
Tất cả các nhà khoa học đều nhấn mạnh rằng trong số các vấn đề cóliên quan đến chất lượng, chỉ có từ 15 đến 20% là phát sinh từ lỗi của ngườitrực tiếp thi hành và công nhân, còn 80-85% thì do hệ thống quản lý sản xuấtkhông hoàn hảo mà trách nhiệm vận hành hệ thống này thì thuộc về ban lãnhđạo cấp cao
Quá trình hình thành chất lượng bao trùm lên toàn bộ hoạt động kinh
tế sản xuất của xí nghiệp và trong đó còn có sự tham gia thực tế của hết thảymọi phòng ban, ban chức năng và toàn bộ công nhân, nhân viên của hãng
b Quan điểm quản trị chất lượng đồng bộ
Trang 22Khi vận dụng việc quản trị chất lượng đồng bộ trong xí nghiệp, côngnhân trực tiếp sản xuất được quán triệt rằng mục tiêu cuối cùng của sản xuất
là chất lượng cao của sản phẩm Khẩu hiệu “bảo đảm chất lượng ở từng vị trílàm việc” phản ánh chính xác nhất thực chất quan điểm quản trị chất lượngđồng bộ Đối với công nhân viên khẩu hiệu này có nghĩa là những sai sót mà
họ mất phải cần được phát hiện và khắc phục ngay tại vị trí làm việc
Khi mà công tác kiểm tra chất lượng được tiến hành ngay tại vị trí làmviệc thì cái kết quả kiểm tra gây ra một tác động trở lại rất nhanh chóng đốivới mức phế phẩm Công nhân kiểm tra chất lượng sản phẩm ngay sau khichế tạo Nếu sản phẩm có khuyết tật thì người công nhân ắt phải biết ngay và
do đó phải quan tâm hơn tới các vấn đề sản xuất và nguyên nhân gây ra cácvấn đề từ phía công nhân Kết quả là từng công nhân, rồi cả đến đội và ngườiđốc công cũng như các kỹ sư và các nhân viên khác được mời trợ giúp, tất cảđều góp sức với nhau đưa ra những ý kiến về phương pháp ngăn chặn phếphẩm Dùng những phương pháp mới này sẽ thúc đẩy giảm khuyết tật vànâng cao chất lượng toàn bộ chu kỳ lại tái diễn, kết hợp với chu kỳ “đúng thờihạn”
c Chất lượng khởi đầu từ việc tổ chức quản trị
A.Fêigenbaum thừa nhận rằng “trách nhiệm kiểm tra chất lượng làthuộc về chính những người làm ra sản phẩm ” tuy nhiên người Nhật lại chorằng: trách nhiệm về chất lượng thuộc về người làm ra sản phẩm Cách nói
“trách nhiệm kiểm tra sản phẩm” mang sắc thái một quan điểm thụ động; nói
"trách nhiệm về" đã làm thay đổi rõ ý nghĩa của công tác chất lượng, biếnviệc kiểm tra chất lượng thành mục tiêu sản xuất cơ bản, mà muốn đạt đượcphải có một chính sách tích cực, một chiến lược và phương pháp hữu hiệu
d Các mục tiêu
Trang 23Hệ thống quản trị chất lượng đồng bộ có hai mục tiêu liên quan vớinhau là: Thói quen cải tiến và kỳ vọng hoàn thiện Mục tiêu chủ yếu là kỳvọng hoàn thiện Mục tiêu này được giải quyết nhờ việc giáo dục trong côngnhân thói quen khong ngừng cải tiến sản phẩm Thói quen của tiến là nhằmđạt đến sự hoàn thiện.
Hệ thống quản trị chất lượng đồng bộ của Nhật nhằm tạo ra sản phẩmhoàn thiện gắn liền với việc phân công lại triệt để trách nhiệm đảm bảo chấtlượng và dựa trên nhiều nguyên tắc quan niệm, phương pháp và phương tiện
hỗ trợ để đạt tới mục tiêu đó
1.7.1.4 Các nguyên tắc cơ bản
Trong thực tiễn quản trị chất lượng đồng bộ của Nhật người ta trước hếtnói đến việc kiểm tra chất lượng trong tiến trình được tiến hành ở tất cả cácgiai đoạn của quan trọng sản xuất
Nguyên tắc thứ hai, sự trực quan của các kết quả đo các chỉ tiêu chấtlượng, là sự phát triển tiếp nguyên tắc đã được thừa nhận rộng rãi ở phươngTây “ tính chất có thể đo đếm được của các chỉ tiêu chất lượng ” Tại các nhàmáy của Nhật các giá trưng bày sản phẩm mẫu được đặt khắp nơi Chúng giảithích cho công nhân, cán bộ quản trị, khách đặt mua sản phẩm và cả kháchtham quan về những chỉ tiêu chất lượng nào đang được kiểm tra, kết quả kiểmtra hiện tại ra sao, các chương trình nâng cao chất lượng nào đang được thựchiện…
Nguyên tắc thứ ba, tuân thủ các yêu cầu về chất lượng Để đảm bảonguyên tắc này ban lãnh đạo xí nghiệp chỉ cần ra thông báo cho các đơn vịsản xuất rằng trước hết là phải đảm bảo chất lượng, còn khối lượng sản xuấtchỉ là nhiệm vụ thứ hai, và giữ vững nguyên tắc đó
Nguyên tắc thứ tư, tạm dừng dây chuyền sản xuất lại Đối với ngườiNhật, nhiệm vụ đảm bảo chất lượng đứng ở hàng thứ nhất, còn việc hoàn
Trang 24thành kế hoạch sản xuất đứng thứ hai Mỗi công nhân có thể tạm sừng dâychuyền sản xuất lại để sửa chữa những khuyết tật phát hiện được Trong điềukiện tự động hoá quá trình sản xuất, thì việc dừng dây chuyền sản xuất có thểđược thực hiện tự động nhờ các thiết bị kiểm tra chất lượng.
Nguyên tắc thứ năm, tự sửa chữa các sai hỏng Một người thợ hay mộtđội đã gây ra phế phẩm, tự mình phải làm lại các chi tiết hỏng
Nguyên tắc thứ sáu, kiểm tra 100% nghĩa là phải kiểm tra từng sảnphẩm một chứ không phải một mẫu trong hàng Đối với những sản phẩm màviệc kiểm tra bằng tay quá tốn kém, mà kiểm tra tự động không thể thực hiệnđược thì phải dựa vào nguyên tắc “N = 2”, tức là kiểm tra hai sản phẩm: “đầu
và cuối ”còn mục tiêu lâu dài là ở chỗ nhằm hoàn thiện quá trình để có thểthực hiện được việc kiểm tra chất lượng của tất cả các chi tiết
Nguyên tắc cuối cùng là cải tiến chất lượng ở từng giai đoạn nhờ các
dự án
1.7.2 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu và các nhà Quản lý rấtquan tâm đến việc xây dựng hệ thống chất lượng nhằm đáp ứng các nhu cầuhay mục tiêu khác nhau
Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 do tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO)ban hành lần đầu tiên vào năm 1987 nhằm đưa ra một mô hình được chấpnhận ở cấp quốc tế về hệ thống đảm bảo chất lượng và có thể áp dụng rộng rãitrong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
1.7.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bộ tiêu chuẩn ISO - 9000.
ISO - 9000 là sự thừa kế của các tiêu chuẩn đã tồn tại và được sử dụngrộng rãi trước tiên là trong lĩnh vực quốc phòng
Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 đề cập đến các lĩnh vực chủ yếu trong Quản
lý chất lượng như chính sách chất lượng, thiết kế triển khai sản xuất và quá
Trang 25trình cung ứng, kiểm soát, quá trình bao gói, phân phối, kiểm soát tài liệu, đàotạo ISO-9000 là tập hợp kinh nghiệm quản lý tốt nhất đã được các quốc giatrên thế giới và khu vực chấp nhận thành tiêu chuẩn quốc tế.
1.7.2.2 Cách tiếp cận và triết lý của bộ tiêu chuẩn ISO - 9000.
a.Cách tiếp cận của bộ tiêu chuẩn ISO-9000 được thể hiện bằng một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất: ISO - 9000 cho rằng chất lượng sản phẩm và chất lượngquản trị có mối quan hệ nhân quả Chất lượng sản phẩm do chất lượng quảntrị quy định Chất lượng quản trị là nội dung chủ yếu của QLCL
- Thứ hai: Phương châm chiến lược của ISO - 9000 là làm đúng ngay từđầu, lấy phòng ngừa làm phương châm chính Do đó, doanh nghiệp cần tậptrung đẩy đủ vào phân hệ thiết kế và hoạch định sản phẩm mới
- Thứ ba: Về chi phí, ISO - 9000 khuyên các doanh nghiệp tấn côngvào các lãng phí nảy sinh trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, đặcbiệt là các chi phí ẩn Cần có kế hoạch loại trừ và phòng ngừa các lãng phíbằng việc lập kế hoạch thực hiện, xem xét và điều chỉnh trong suốt quá trình
- Thứ tư: ISO - 9000 là điều kiện cần thiết để tạo ra hệ thông “mua bántin cậy” trên thị trường trong nước và quốc tế Các cơ quan chất lượng có uytín trên thế giới sẽ đánh giá và cấp giấy chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩnISO - 9000 cho các doanh nghiệp Và đó là giấy thông hành để vượt qua cácrào cản thương mại trên thương trường đi tới thắng lợi
b Nguyên tắc xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO-9000
- Thứ 1: Phương hướng tổng quát của bộ tiêu chuẩn ISO-9000 là thiếtlập hệ thống QLCL hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ có chấtlượng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng
- Thứ 2: Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 là các tiêu chuẩn về hệ thống đảmbảo chất lượng, nó không phải là tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật về sản phẩm
Trang 26Tuy nhiên những thuộc tính kỹ thuật đơn thuần của sản phẩm không thểđảmbảo thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Hệ thống chất lượng của bộtiêu chuẩn ISO - 9000 sẽ bổ sung thêm vào các thuộc tính kỹ thuật của sảnphẩm nhằm thoả mãn tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng.
- Thứ 3: Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 nêu ra những hướng dẫn để xâyđựng một hệ thống chất lượng có hiệu quả, chứ không áp đặt một hệ thốngchất lượng đối với từng doanh nghiệp Vì vậy, hệ thống chất lượng của từngdoanh nghiệp tuỳ thuộc vào tầm nhìn, văn hoá, cách quản trị, cách thực hiện,ngành sản xuất dinh doanh, loại sản phẩm hay dịch vụ và phù hợp với từnghoàn cảnh cụ thể Do đó mô hình này rất linh hoạt, có thể áp dụng trong tất cảcác lĩnh vực hoạt động, cả trong sản xuất kinh doanh lẫn trong các lĩnh vựcdịch vụ, hành chính và các tổ chức xã hội
Hệ thống QLCL theo ISO - 9000 dựa trên mô hình Quản lý theo quátrình lấy phòng ngừa làm phương châm chủ yếu trong suốt quá trình, suốtvòng đời sản phẩm từ thiết kế, sản xuất, phân phối, tiêu dùng
1.7.2.3 Kết cấu của bộ tiêu chuẩn ISO - 9000.
Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 không phải là một tiêu chuẩn duy nhất màgồm 26 tiêu chuẩn khác nhau
Trong đó có thể nói, các yêu cầu của hệ thống đảm bảo chất lượng baogồm 3 tiêu chuẩn chính của bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 là các tiêu chuẩn
- ISO - 9001: tiêu chuẩn về hệ thống đảm bảo chất lương trong thiết kế,triển khai, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ
- ISO - 9002: Hệ thống chất lượng - mô hình đảm bảo chất lượng trongsản xuất, lắp đặt và dịch vụ
- ISO - 9003: Hệ thống chất lượng - mô hình đảm bảo chất lượng trongkiểm tra và thử nghiệm cuối cùng
Trang 271.7.2.4 Lợi ích của việc chứng nhận hệ thống đảm bảo chất lượng theo ISO - 9000.
Ba lợi ích quan trọng nhất của ISO - 9000 có thể nhận thấy rõ là:
- Kiểm soát quản lý tốt hơn
- Nhận thức một cách đầy đủ hơn về các vấn đề mang tính hệ thống
- Có giá trị quảng cáo, giới thiệu công ty đối với xã hội và quốc tế
1.7.3 Hệ thống quản lý chất lượng GMP
GMP là cách đề cập mang tính hệ thống đối với tất cả các yếu tố, cácđiều kiện sản xuất đảm bảo cho quá trình chế biến thực phẩm có chất lượng
Hệ thống này đặt ra những đòi hỏi cơ bản trong thiết kế xây dựng và quản lý
hệ thống sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến thực phẩm phải đảmbảo các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm từ vị trí đặt doanh nghiệp, kiếntrúc, cấu trúc xây dựng các nhà xưởng, công trình và phương tiện trong doanhnghiệp, đến việc xử lý phụ phẩm và chất thải và yêu cầu về tuyển chọn, sửdụng lao động nhằm đảm bảo không gây nhiễm bẩn các thực phẩm sản xuất
ra Cụ thể, GMP đưa ra những yêu cầu đối với điều kiện sản xuất như:
- Vị trí doanh nghiệp không đặt quá gần đường giao thông hoặc cácnguồn có thể gây tích tụ bụi và chất bẩn, mất vệ sinh;
- Nhà xưởng và phương tiện chế biến phải được đặt ở vị trí cao so vớimặt bằng chung của khu vực, có hệ thống thoát nước chủ động tránh úng lụt
- Các cấu trúc hạ tầng phải thiết kế và xây lắp sao cho không nhiễmbẩn thực phẩm, dễ kiểm tra và làm sạch
- Vật liệu bao bì làm bằng các chất không độc hại và đảm bảo các biệnpháp kiểm soát an toàn thực phẩm;
- Thiết bị dụng cụ phải được chế tạo từ các vật liệu không gây nhiễmbẩn thực phẩm và dễ làm sạch
Trang 28- Tổ chức sản xuất thích hợp hoặc thiết kế phù hợp nhằm tách rời cáchoạt động có thể gây nhiễm bẩn trong dây chuyền sản xuất
- Nguồn nước sử dụng phải sạch, đảm bảo vệ sinh, có nhiệt độ phùhợp với yêu cầu của chế biến Nước thải phải được thoát triệt để không ứđọng
- Đảm bảo đủ độ sáng thích hợp với yêu cầu của từng công đoạn chếbiến
- Các chất tẩy rửa, chất khử trùng phải được bảo quản ở các khu vựcbiệt lập, cách ly hoàn toàn với khu vực xử lý thực phẩm;
- Chất thải phải được xử lý thích hợp trước khi đưa ra ngoài doanhnghiệp Lưu giữ ở khu vực biệt lập, đảm bảo không lây nhiễm đến thực phẩm
- Nguyên vật liệu có lượng vi sinh vật ở mức gây hại cho sức khoẻphải được khử trùng xử lý trước khi đưa vào sản xuất Chỉ đưa vào sản xuấtcác nguyên vật liệu có mức nhiễm côn trùng, tạp chất lạ dưới mức quy định
Đối với hoạt động sản xuất phải kiểm soát toàn bộ quá trình chế biến kể
cả khâu bao gói, vận chuyển, bảo quản, tiêu thụ Kiểm soát các thông số nhưthời gian, nhiệt độ, độ ẩm, pH, áp suất, các công đoạn xử lý như đông lạnh,làm khô, gia nhiệt, axit hoá để đảm bảo không làm hỏng sản phẩm
Về lao động, nhất thiết phải kiểm tra sức khoẻ của tất cả mọi ngườitrước khi tuyển vào làm việc tại cơ sở chế biến thực phẩm Trong quá trìnhlàm việc cần tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, đảm bảo chỉ có những người đủtiêu chuẩn sức khoẻ mới được tiếp xúc làm việc trong cơ sở sản xuất thựcphẩm Tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm kể cả với nguyênliệu và với các nguyên liệu bao gói đều phải thực hiện nghiêm túc các yêu cầu
vệ sinh thân thể
Trang 29Với những đòi hỏi đó, GMP trở thành một hệ thống đảm bảo các điềukiện cần thiết cho chế biến thực phẩm đạt chất lượng tốt và là tiền đề cho ápdụng HACCP
1.7.4 Hệ thống quản lý chất lượng HACCP
HACCP ( Hazard Analysis Critical Control Points- Phân tích các mốinguy và xác định các điểm kiểm soát tới hạn ) là hệ thống kiểm soát an toànthực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm mang tính chất phòngngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông quaviệc phân tích các mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểmkiểm soát tới hạn
Xét riêng về phương diện quản lý an toàn và chất lượng, HACCP là hệthống đang được toàn thế giới công nhận như là một hệ thống quản lý an toàn
và chất lượng thực phẩm hữu hiệu nhất Trước những yêu cầu ngày càng tăngcủa người tiêu dùng cùng như trách nhiệm của các nhà sản xuất, chế biến thựcphẩm, các quốc gia trên toàn thế giới mà đặc biệt là Liên minh Châu Âu (EU),
Mỹ, Nhật … đều chính thức ban hành các quy định bắt buộc chỉ cho phép đưa
ra thị trường những sản phẩm thực phẩm phải có chứng nhận HACCP
1.7.4.1 Các bước để xây dựng và áp dụng hệ thống HACCP
Thành lập đội HACCP
Mô tả sản phẩm
Xác định các phương thức sử dụng sản phẩm
Lập sơ đồ qui trình công nghệ
Kiểm tra sơ đồ qui trình công nghệ trên thực tế
Phân tích mối nguy - Biện pháp phòng ngừa
Xác định các điểm kiểm soát tới hạn
Thiết lập các giới hạn tới hạn cho mối CCP
Thiết lập chương trình giám sát cho mỗi CCP
Trang 30 Đề ra hành động sửa chữa
Xây dựng các thủ tục thẩm tra
Thiết lập thủ tục lưu trữ hồ sơ
1.7.4.2 Bảy nguyên tắc của hệ thống HACCP
Xác định các mối nguy và các rủi ro liên quan tới mọi mặt của sảnphẩm được sản xuất có xét đến mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm
Xác định các điểm kiểm soát tới hạn CCP để kiểm soát nhằm loại trừhoặc giảm thiểu các mối nguy đáng kể đã được nhận dạng
Thiết lập các giới hạn tới hạn tại mỗi điểm kiểm soát tới hạn để đảmbảo chắc rằng CCP đã được nhận dạng
Thiết lập các thủ tục giám sát tại mỗi điểm kiểm soát tới hạn để đảmbảo chắc chắn rằng CCP đã được kiểm soát
Thiết lập hành động sửa chữa (khắc phục) để tiến hành mỗi khi giớihạn tới hạn bị vi phạm Hành động sửa chữa này này được thiết kế để đưa sảnphẩm và tiến trình trở lại tầm kiểm soát
Thiết lập thủ tục thẩm tra đảm bảo hệ thống đang hoạt động nhưchức năng đã định
Thiết lập hệ thống lưu trữ các hồ sơ ghi chép
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU VÀO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XNK NGHỆ AN2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Nghệ An
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Tên gọi : Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nghệ An
- Địa chỉ : 15- Quang Trung - Thành phố Vinh - Nghệ An
- Điện thoại : 038.3845928/3844842 - Fax : 038.3842778
- Website : http://www.unimexna.com.vn
- Loại hình doanh nghiệp : Công ty cổ phần không có vốn Nhà nước
- Cơ sở pháp lí : Ngày 20/8/2004, Công ty xuất nhập khẩu Nghệ Anđược chuyển đổi thành Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Nghệ An theo quyếtđịnh số 5018/QĐ-UV của UBND tỉnh Nghệ An, với vốn điều lệ là 5 tỷ đồng
- Các đơn vị thành viên :
+ Trung tâm thương mại Vinh Đ/C: Số 1 - Đường Quang Trung - TP Vinh+ Xí nghiệp kim khí điện máy Đ/C: Số 40 - Đường Lê Lợi - TP Vinh+ Xí nghiệp sản xuất bao bì Đ/C: Ngã 3 Quán Bàu - Đường NguyễnTrãi - TP Vinh
+ Tổng kho ngoại thương Đ/C: Số 8 - Đường Trường Chinh - TP Vinh+ Chi nhánh ngoại thương Diễn Châu Đ/C: Diễn Thịnh - Diễn Châu -Nghệ An
+ Siêu thị mỹ phẩm Đ/C: Số 40 - Đường Lê Lợi - TP Vinh
+ Inter shop rượu nhập khẩu Đ/C: Số 1 - Quang Trung - TP Vinh Nhiệm Vụ của doanh nghiệp: Công ty được thành lập với các chứcnăng là kinh doanh hàng Xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng phục vụ sảnxuất và tiêu dùng Công ty xuất các mặt hàng nông, lâm, hải sản và các đặcsản địa phương hiện có Những mặt hàng xuất khẩu chính như: lạc, ớt quả
Trang 32khô, vừng, hành đỏ Mặt khác Công ty nhập các loại tư liệu sản xuất và hàngtiêu dùng như: xe máy, tủ lạnh, điều hoà, ô tô Ngoài ra, Công ty còn có dịch
vụ xuất nhập khẩu, vận tải hàng hoá, kinh doanh lương thực, kinh doanh vậtliệu xây dựng và trang trí nội thất, xăm lốp ô tô Công ty thực sự xuất khẩunhững sản phẩm thuộc thế mạnh của tỉnh và nhập khẩu những hàng hoá màđiều kiện chưa cho phép sản xuất tại chỗ
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nghệ An (tên viết tắt là UnimexNghệ An) được thành lập từ năm 1950, là tiền thân của Công ty phát triểnhàng hoá xuất nhập khẩu trực thuộc Bộ Ngoại thương Sau chiến tranh, tỉnhNghệ Tĩnh được tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nên năm 1985 Công
ty được chuyển thành Liên hiệp xuất nhập khẩu Nghệ An Khi đất nước ta
bư-ớc vào thời kỳ đổi mới, với cơ chế mới nên các doanh nghiệp cần được tạo sựlinh hoạt trong kinh doanh, từ lý do đó ngày 13/12/1992 theo Quyết định
1858 QĐ/UV của UBND tỉnh Nghệ An, Công ty Xuất nhập khẩu Nghệ Anchính thức được thành lập
Công ty Xuất nhập khẩu Nghệ An là doanh nghiệp trực thuộc SởThương mại Nghệ An, có tư cách pháp nhân, sản xuất kinh doanh và hạchtoán độc lập Tuy nhiên do yêu cầu của việc hội nhập và mục tiêu xây dựngnước ta thành nước công nghiệp nên Đảng - Nhà nước ta đang từng bước thựchiện cổ phần hoá toàn doanh nghiệp
Căn cứ luật tổ chức HĐND và UBND được Quốc hội thông qua ngày
26 tháng 11 năm 2003 và Căn cứ Nghị định số 64/2002/NĐ - CP ngày19/6/2002 của Chính phủ về chuyển Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty
cổ phần, thông tư số 79/2002/TT - BTC ngày 12 tháng 9 năm 2002 của BộTài chính về hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá Doanhnghiệp Nhà nước Do đó ngày 01 tháng 3 năm 2005 Công ty Xuất nhập khẩuNghệ An được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần XNK Nghệ An theo quyết
Trang 33định số 5017/QĐ - UV của UBND tỉnh Nghệ An, với vốn điều lệ của Công ty
là 5 tỷ đồng và 150 Cán bộ công nhân viên
Công ty phát hành bán cổ phần đợt I từ ngày 14 tháng 12 năm 2004 đếnngày 14 tháng 01 năm 2005, với số tiền là: 5.000.000.000 đồng Tỷ lệ cổ phầnbán cho người lao động trong DN : 100% vốn điều lệ
Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh
Kiểm tra giám sát việc quản lý và sử dụng vốn, tài sản, thực hiện cácchế độ, chính sách, phương thức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh củavăn phòng công ty và các đơn vị thành viên theo điều lệ của công ty đã đượcphê chuẩn và theo quy định hiện hành của pháp luật
Nhiệm vụ
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh
- Quản lý tốt đội ngũ cán bộ công nhân viên, thực hiện phân phối thunhập hợp lí nhằm chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động
- Chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề chocán bộ công nhân viên và nhiều lao động
- Kinh doanh các mặt hàng đã đăng ký, đa dạng hoá các mặt hàng nhằmcung cấp cho khách hàng trong và ngoài tỉnh
- Thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đối với Nhà nước
- Hợp tác đầu tư liên doanh liên kết với nước ngoài, mở rộng bạn hàng,thị trường, mạng lưới kinh doanh
Trang 34 Mục tiêu
- Tối đa hóa lợi nhuận
- Đứng vững trên thị trường cạnh tranh hiện nay, vượt qua mọi đối thủcạnh tranh để đưa công ty vươn lên tầm xa hơn nữa trong tương lai Nâng caođời sống của người lao động, góp phần thúc đẩy tỉnh Nghệ An ngày càng giàuđẹp, đất nước phồn vinh
Phương hướng hoạt động của công ty
- Mở rộng chi nhánh ra các tỉnh bạn để phục vụ cho việc giới thiệu vàbán sản phẩm
- Không ngừng triển khai nghiên cứu các biện pháp mở rộng thị trườngđẩy mạnh hoạt động sản xuất, tiêu thụ, nâng cao hiệu quả SXKD của công ty
- Không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ trong công tácquản lý, nâng cao nghiệp vụ Marketing cho cán bộ nghiệp vụ kinh doanhnhằm nâng cao hiểu biết về thị trường nội địa và xuất nhập khẩu
Ngành nghề kinh doanh
- Mua bán hàng Nông - Lâm - Hải sản, hàng tiêu dùng, hàng kim khíđiện máy, điện tử - điện lạnh, hàng dược liệu, hàng công nghiệp địa phương,máy móc thiết bị, phương tiện vận tải - du lịch, vật tư nông nghiệp, vật liệuxây dựng, trang trí nội thất, xăng dầu, gas các loại, khoáng sản, dệt may
- Lắp ráp các loại động cơ dạng SKD, CKD, IKD
- Sản xuất bao bì, chế biến gỗ, xây dựng các công trình dân dụng vàcông nghiệp, giao thông
- Kinh doanh bất động sản, nhà hàng, khách sạn, du lịch, vận tải, khobãi, quá cảnh
- Giao nhận xuất nhập khẩu
- Xuất khẩu lao động
Trang 35BAN GIÁM ĐỐCHỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy
bộ máy quản lí được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng như sau :
Sơ đồ 2.1 : Tổ chức bộ máy quản lí của công ty
- Xí nghiệp sản xuất bao bì
- Xí nghiệp kim khí điện máy
- Trung tâm thương mại
Vinh
- Chi nhánh ngoạithương Diễn Châu
-Hợp doanh cung cấp lắp đặt, bảo hành bảo trì thang máy
Trang 36
Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định cácvấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của Công ty phù hợp với pháp luậtViệt nam và Nghị quyết của đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị chịutrách nhiệm trước đại hội đồng cổ đông và báo cáo với Đại hội đồng cổ đông
về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả năm tài chính, nhiệm vụ
và kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tới, phương án sản xuất kinh doanh,huy động vốn, tăng vốn điều lệ (nếu dưới 30%), phương thức phát hành cổphiếu, trái phiếu, phương án đầu tư liên doanh, dự kiến phân phối lợi nhuận,chia lại cổ phần, xây dựng quy chế tuyển dụng, hợp đồng lao động, phương
án tiền lương, tiền thưởng cho cổ đông trong Công ty, bổ nhiệm, miễnnhiệm, giám sát hoạt động Giám đốc điều hành, Phó giám đốc, Kế toántrưởng, quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy, quy chế quản lý, quỹ lương và cáchoạt động liên quan khác …
- Giám đốc kiểm Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đứng đầu Công tytrực tiếp chỉ đạo bộ máy quản lý, có quyền ra quyết định trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của đơn vị, có quyền uỷ quyền, uỷ nhiệm
- Phó Giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc điều hành, có chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng với các phần hành công việc đượcGiám đốc uỷ quyền Giám đốc có thể uỷ quyền có thời hạn theo từng mảngcông việc hoặc uỷ quyền từng công việc cụ thể Phó giám đốc được uỷ quyềnchịu trách nhiệm trước Giám đốcvà pháp luật về những phần hành được uỷquyền
- Phòng Tổ chức hành chính tổng hợp: Chịu trách nhiệm trước BanGiám đốc Công ty về việc công tác tổ chức bộ máy cán bộ, bổ nhiệm, miễnnhiệm, khen thưởng, kỷ luật, điều chuyển lao động Xây dựng kế hoạch đàotạo, tuyển dụng, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động, côngtác tổ chức mạng lưới kinh doanh, xây dựng chế độ tiền lương, tiền thưởng
Trang 37cho người lao động Thực hiện công tác bảo mật, bảo quản hồ sơ, con dấutheo chế độ quy định của Nhà nước, công tác quản trị hành chính văn phòngcông ty Thực hiện chế độ bảo hiểm cho người lao động, đôn đốc việc thu nộpbảo hiểm kịp thời Theo dõi và bảo quản hồ sơ của người lao động, hồ sơ đấtđai và các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty theo chế độ quyđịnh của Nhà nước Cán bộ quản lý hồ sơ phải ký nhận biên bản khi nhận và
ký giao khi bàn giao hồ sơ cho người khác
- Phòng Nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu: Tham mưu cho BanGiám đốc về diễn biến giá cả thị trường trong và ngoài nước các mặt hàng,ngành hàng kinh doanh Hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn cho các Đơn vị, Phòng ban
về chính sách, chế độ, các thủ tục chứng từ hàng hoá theo quy định của Nhànước Chịu trách nhiệm giao nhận, kiểm tra, kiểm soát chất lượng, số lượnghàng hoá XNK theo hợp đồng đã ký và hoàn tất các thủ tục, chứng từ liênquan; theo dõi thanh quyết toán các hợp đồng Xuất nhập khẩu đã thực hiện
- Phòng Kế toán tài vụ là trung tâm giao dịch và thanh toán của Công
ty Tổ chức quản lý tài chính, quản lý vốn, cung ứng vốn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của toàn Công ty Theo dõi, kiểm tra, giám sát các khoản tiềnvốn, tiền vay, các biến động tài sản, hàng hoá, vật tư, cân đối tiền - hàng kịpthời, chính xác Kiểm tra việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới hoạt độngkinh tế tài chính trong toàn Công ty, kiểm tra tính trung thực, đầy đủ, chínhxác, hợp lý, hợp lệ của chứng từ theo quy định của pháp luật và tính chất côngviệc cụ thể, thực hiện nghiệp vụ kế toán tài chính, kế toán quản trị theo đúngyêu cầu của pháp luật và công tác quản lý trong toàn Công ty Chịu tráchnhiệm theo dõi, kiểm tra việc hạch toán của các Đơn vị thành viên, hoànthành các báo cáo thống kê, tài chính theo quy định Phân bổ và lập kế hoạchnộp các khoản thuế phát sinh đúng chế độ và thời hạn theo quy định Thựchiện thanh quyết toán, thu chi tài chính theo chế độ đối với các hoạt động tài
Trang 38chính và các thương vụ kinh doanh của các Phòng, Ban Phòng Kế toán tài vụđược quyền và có trách nhiệm cử kế toán viên thực hiện công tác chuyênquản đối với các đơn vị để thực hiện việc giám sát, kiểm tra, hướng dẫn các tổ
kế toán Đơn vị thực hiện nghiệp vụ chuyên môn theo pháp lệnh thống kê kếtoán của Nhà nước và chế độ quy định của Công ty
- Các đơn vị trực thuộc: Là các đơn vị cơ sở của công ty, có chức năng,nhiệm vụ riêng Tuy nhiên mỗi đơn vị có thể tự khai thác các mặt hàng Khi
có khách hàng ngoài thì vẫn được phép kinh doanh trùng với ngành của đơn
vị khác nhưng giá nội, giá ngoại phải thống nhất trong toàn công ty, khôngđược phá giá và cạnh tranh lẫn nhau Công ty có 06 đơn vị thành viên, gồm:
+)Xí nghiệp Sản xuất bao bì
+)XN Chế biến kinh doanh hàng xuất nhập khẩu
+)XN Chế biến gỗ thủ công mỹ nghệ
+)Chi nhánh Ngoại thương Diễn Châu
+) Trung tâm thương mại Vinh
- Liên doanh
· Hợp doanh Khai thác và chế biến đá xuất khẩu được liên doanh theohình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực khai thác, chế biến vàxuất khẩu đá theo giấy phép đầu tư của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An
· Hợp doanh UNIMEX NGHEAN - MECO HA NOI
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty đã sắp xếp rất hợp lý, gọnnhẹ, phù hợp với yêu cầu quản lý trong cơ chế thị trường Ban giám đốc công
ty bao gồm giám đốc và phó giám đốc là nơi quyết định cao nhất trong mọihoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo đường lối, cơ chế và kế hoạchcủa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị giao Các phòng ban hoạtđộng theo chức năng có nhiệm vụ phối hợp theo dõi kiểm tra và hướng dẫncác đơn vị trực thuộc trong các hoạt động kinh doanh và kịp thời tham mưu
Trang 39cho ban giám đốc trong phạm vi và chức năng, nhiệm vụ của phòng Các đơn
vị trực thuộc được xây dựng tại các địa điểm tại các vùng kinh tế để thuận lợitrong việc đẩy mạnh bán ra làm tăng doanh số hiệu quả cho Công ty
2.1.3 Đặc điểm về nguồn nhân lực
Tính cho đến nay Công ty có số cán bộ công nhân viên là 160 ngườitrong đó trình độ khác nhau, cụ thể qua bảng sau :
Bảng 2.2: Bảng cơ cấu nguồn nhân lực của công ty CP XNK NA
Trang 40Qua bảng thống kê về nguồn nhân lực trong công ty, ta có thể đưa ramột số nhận xét cơ bản như sau:
Theo độ tuổi và giới tính: Dựa vào bảng số liệu ta thấy số nhân viên nữ
và số nhân viên nam khá cân bằng Đó là điều dễ hiểu vì đây là đặc thùchung của công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, do hệ thống các phòngban nhiều nên số lượng các nhân viên nữ cũng khá hợp lý Nhưng tuổi bìnhquân người lao động trong Công ty lại rất cao
Vì hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu bên cạnh yêucầu về sức trẻ, sự nhạy bén, năng động, sáng tạo thì không thể phủ nhận vaitrò của những người cán bộ gắn bó lâu năm với công ty rất giàu kinh nghiệm
- Theo trình độ chuyên môn
Qua bảng trên xét về tổng số lao động thì số liệu năm 2008, 2009 và
2010 không chênh lệch nhiều lắm nhưng trình độ của các các bộ công nhânviên trong công ty đã được cải thiện hơn nhiều Điều này chứng tỏ đội ngũcán bộ quản lý trong công ty đã ý thức được vai trò to lớn của trình độ độingũ cán bộ công nhân viên với sự phát triển của công ty
Qua bảng thống kê về trình độ nguồn nhân lực của công ty, ta thấyđược đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty có trình độ khá cao, phùhợp với xu thế hội nhập hiện nay Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn làhiện nay cán bộ, nhân viên thuộc phòng ngiệp vụ Xuất nhập khẩu có trình độTiếng anh chưa cao, hiện chỉ có 2 người đã từng du học ở nước ngoài là có