1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng sử thi trong tiểu thuyết của trần hiếu minh

65 685 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuynh Hướng Sử Thi Trong Tiểu Thuyết Của Trần Hiếu Minh
Tác giả Lê Thị Yến
Người hướng dẫn Ngô Thái Lễ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn Văn học viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta hay nói cách khác thi pháp của Văn học Việt Nam giai đoạnsau cách mạng 1945 - 1975 là thi pháp sử thi

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh Khoa Ngữ Văn

-

 -Lê Thị Yến

Khuynh hớng sử thi trong tiểu thuyết của trần hiếu minh

Khoá luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: văn học Việt Nam hiện đại

Vinh - 2007

- -Lời cảm ơn

Trang 2

Để hoàn thành đợc tốt khóa luận này tôi xin chân thành cảm ơn Thầygiáo: Ngô Thái Lễ đã hớng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thu thậptài liệu và hoàn thành khóa luận.

Nhân đây, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáotrong khoa Ngữ văn, thầy cô giáo trong trờng Đại học Vinh trong nhiều nămqua đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý báu

1.1 Cái đẹp là cuộc sống, là sự vĩnh hằng Đứng trớc cái đẹp, sự uy

nghi, sự hoành tráng, chúng ta thờng hỏi “Tại sao họ có thể làm đợc? ” hay

“Làm thế nào mà có kết quả đạt nh thế ? ”

Giờ đây, sống trong thời bình, con ngời Việt Nam của thế hệ trẻ cũng đãhỏi: Tại sao cha ông ta có thể giành lấy Tổ quốc từ những kẻ thù tàn bạo vàhung hãn, mạnh mẽ nhất ? Sức mạnh nào đã giúp ông cha ta dựng nớc và giữnớc vững vàng Trong mấy ngàn năm khói lửa chiến tranh của lịch sử ?

Đất nớc Việt Nam để tồn tại đợc nh ngày nay đã phải trải qua bao nhiêu

đau thơng và tang tóc khi phải đối đầu với những cuộc chiến tranh ghê ghớmnhất của lịch sử nhân loại trong đó nổi bật lên là hai cuộc chiến tranh chống

Trang 3

thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lợc trong vòng 30 năm sau khi cách mạngtháng Tám - 1945 thành công.

Với nhiệm vụ phản ánh hiện thực lịch sử - xã hội, trong vòng 30 năm ấyVăn học Việt Nam phát triển liên tục, có sự cân đối, hài hòa Đặc biệt trongnhững năm kháng chiến chống Mỹ, văn xuôi phát triển với tốc độ nhanh, phản

ánh nhanh nhạy và trung thực cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc

Tác phẩm Văn học cách mạng miền Nam viết về cuộc kháng chiếnchống Mỹ xuất hiện ngày càng nhiều, góp phần đáng kể vào việc bồi dỡng đạo

đức cách mạng cho nhân dân ta Qua tác phẩm, những hình ảnh sáng ngờiphẩm chất yêu nớc và anh hùng của đồng bào ta ở miền Nam đã có khả năngkhơi dậy mạnh mẽ trong chúng ta những rung động và những tình cảm tíchcực Chúng ta tự hào có những ngời anh, ngời chị kiên cờng, bất khuất, chiến

đấu hy sinh không tiếc thân mình, đứng mũi chịu sào nh bức tranh thành đồngbảo vệ Tổ quốc, hiên ngang trên tuyến đầu chống giặc nh ngọn đèn biển trên

đại dơng Chúng ta yêu thơng nghĩ đến những chịu đựng, những tổn thất to lớncủa bà con, của đồng chí - những ngời đi trớc về sau mà vẫn sắt son chungthủy

Tại sao tác phẩm Văn học cách mạng miền Nam lại phản ánh đợc nhthế và nhanh nhạy trung thực nh thế ?

Dễ thấy rằng đội ngũ những ngời sáng tạo nghệ thuật đều xuất thântrong hai cuộc kháng chiến và đặc biệt họ hầu hết đã từng tham gia chiến đấu,từng là ngời lính, đã là những ngời cầm súng Nhà văn Anh Đức cũng đã nói:

“Những ngời cầm bút chúng tôi có thời vận khá đặc biệt Chúng tôi hầu

nh lọt gọn vào cuộc trờng kỳ kéo dài ba thập kỷ”

Vì vậy và hơn ai hết họ là những ngời sẽ hoàn thành xuất sắc nhất việcphản ánh hiện thực lịch sử - xã hội một cách chân thực nhất, xúc động nhất

1.2 Khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn là một trong những

đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

Giai đoạn Văn học viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ của dân tộc ta hay nói cách khác thi pháp của Văn học Việt Nam giai đoạnsau cách mạng 1945 - 1975 là thi pháp sử thi, tác phẩm mang khuynh hớng sửthi hớng tới khai thác những đề tài chung của tập thể, của dân tộc, của cộng

đồng thiên về khẳng định, ngợi ca với giọng điệu hào hùng Chất sử thi trongtác phẩm không mâu thuẫn với hiện thực Sự hòa quyện giữa khuynh hớng sửthi và chất lãng mạn trong các tác phẩm đã tạo nên chủ nghĩa lãng mạn anhhùng

Trang 4

Nền Văn học 1945 - 1975 là Văn học của những sự kiện lịch sử, của sốphận toàn dân của chủ nghĩa anh hùng Vì vậy nhân vật trung tâm nói cáchkhác là quan niệm nghệ thuật về con ngời của nhà văn là những con ngời đạidiện cho giai cấp, cho dân tộc, cho thời đại và kết tinh của những phẩm chấtcao quý của cộng đồng và cái riêng, cái cá nhân không có đất để tồn tại “Đờisống cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống đoàn thể” (Hoài Thanh - BáoTiền Phong 2 - 1945) tiêu chí sáng tác của họ là phục vụ chính trị, cổ vũ chiến

đấu, hớng về đại chúng công - nông - binh Khuynh hớng sử thi và cảm hứnglãng mạn trở thành một khuynh hớng chung của Văn học giai đoạn 1945 -1975

Khái niệm sử thi và khái niệm lãng mạn cũng đã đợc nhiều ngời quantâm nghiên cứu vì hầu hết các tác phẩm thuộc giai đoạn này đều đợc viết theokhuynh hớng này

Văn học cách mạng miền Nam nổi bật lên các tác giả tiêu biểu: Anh

Đức, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Nguyễn Đức Thuận… Đặc biệt Đặc biệtphản ánh trung thành nhất, chân thật nhất chúng ta không thể không nói đếntác giả Trần Hiếu Minh

Nghiên cứu đề tài “Yếu tố sử thi trong tiểu thuyết Trần Hiếu Minh” đểthấy đợc nét chung và nét riêng làm nên phong cách nghệ thuật của tác giả

đồng thời nghiên cứu tính sử thi trong Văn học giúp chúng ta hiểu đợc nhữngvấn đề lý luận cơ bản của thi pháp sử thi

1.3 Nguyễn Văn Bổng là tên thật đồng thời cũng là bút danh của ông trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Trong thời kỳ hoạt động ở miền Nam những năm chiến tranh chống đế

quốc Mỹ ông lấy bút danh là Trần Hiếu Minh , Là một trong những tác giả

tiêu biểu của Văn học thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ Không những thế,

Trang 5

của nhân dân miền Nam suốt một quá trình đấu tranh những ngày oi ngộttrong thế bị kìm kẹp đến cái hả hê của một cuộc đồng khởi và khí thế đánhgiặc rộn ràng của “cuộc ra trận lớn lao” Có lẽ do ngời viết luôn có ý thứcmuốn nhìn và thể hiện cuộc sống đa dạng cô đúc nhất của nó Đây là lý do đểngời viết chọn đề tài này.

Mặt khác là công dân của một nớc Việt Nam độc lập, không đợc chứngkiến không khí hào hùng sôi sục của toàn Đảng toàn dân toàn quân ta trongnhững năm kháng chiến trờng kỳ, không đợc chứng kiến những đau thơng mấtmát của dân tộc, chúng tôi chỉ đợc chứng kiến qua sử sách, qua Văn họcnhững tàn d của cuộc chiến còn để lại Để hiểu hơn về lịch sử của dân tộc, vềtruyền thống bốn nghìn năm dựng nớc và giữ nớc Thiết nghĩ cách tốt nhất làtìm hiểu qua Văn học mà ở đây chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu tác phẩm của TrầnHiếu Minh

Thêm nữa, nghiên cứu đề tài này cho ta thấy đợc nét chung và nét riênglàm nên phong cách nghệ thuật của tác giả, hiểu thêm những vấn đề lý luận cơbản trong thi pháp sử thi đồng thời thấy đợc sự vận động trong quá trình sángtác của ông, thấy đợc lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn chống Pháp và chống

Mỹ cứu nớc

2 Lịch sử vấn đề

Trần Hiếu Minh là một tác giả có quá trình sáng tác qua hai chế độ tr ớc

và sau cách mạng tháng Tám, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ Sự nghiệp sáng tác của ông với một khối lợng khá nhiều

Trớc cách mạng, có truyện ngắn “Chuyện ba ngời bạn” (1942 - 1943) tácphẩm nói về sự bế tắc, cùng quẫn, bất lực của thế hệ trẻ trớc cách mạng đặcbiệt là sự bế tắc của tầng lớp trí thức cùng lớp với tác giả Trong hoàn cảnh bếtắc họ luôn luôn cố vơn lên làm lại mình, “làm lại cuộc đời”

Sau cách mạng

Các sáng tác chính: Về tiểu thuyết: “Con trâu” (1952); “Bếp đỏ lửa”(1955); “Rừng U Minh” (1965 - 1966); “áo trắng” (1970 - 1972); “Sài Gòn67” (1972 - 1982); “Tiểu thuyết cuộc đời” (1986 - 1991) Các truyện ngắn:

“Cái bắt tay của ngời tù binh” (1949); “Cắm thẻ đồng câu” (1954); “Ngời chị”(1954 - 1959); “Chuyện bên cầu chữ Y” (1968 - 1984)

Bút ký: “Sài Gòn ta đó” (1968 - 1969); “Nhập vào đám đông” (1945);

“Cửu Long cuộn sóng” (1963 - 1964); “Đờng đất nớc” (1975); “Ghi chép vềTây Nguyên” (1977 - 1978); “Bên lề những trang sách” (1966 - 1980); “Thời

đã qua” (1966 - 1991)

Trang 6

Sáng tác sau cách mạng chủ yếu là những sáng tác phục vụ khángchiến, phản ánh những vấn đề trọng đại của lịch sử dân tộc, viết về những conngời sống và chiến đấu trong thời cuộc Ông đã có nhiều thành tựu sáng táctrong Văn học, đợc nhận các giải thởng tiêu biểu: Giải thởng văn nghệ (1954 -1955) với tác phẩm “Con trâu”; giải thởng Văn học nghệ thuật Nguyễn ĐìnhChiểu (1965) với bút ký “Cửu Long cuộn sóng”, giải thởng Hồ Chí Minh vềvăn học nghệ thuật đợt 2 năm 2000, khẳng định sự thành công trong sự nghiệpvăn học của ông.

Tác phẩm của ông đợc nhiều bạn đọc yêu thích, nhiều nhà văn quantâm

Sự đóng góp của tác giả cho nền Văn học nớc nhà, cho việc thể hiệnlịch sử dân tộc đợc các nhà nghiên cứu thể hiện trên các tạp chí Văn học vàtrong một số cuốn giáo trình giảng dạy ở miền Nam, có thể kể đến một số bàiviết sau:

- Phạm Văn Sỹ, Văn học Giải phóng miền Nam, NXB Đại học và Trunghọc chuyên nghiệp, H, 1976

- Nam Mộc, đọc lại Cửu Long cuộn sóng; TCVH 1965, số 7, trang 71

- Tô Hoài nói chuyện với một nhà văn đang ở Sài Gòn về tập cửu Longcuộn sóng; TCVH 1965, số 4, trang 48

- Tất Thắng, ngòi bút chân thật của Trần Hiếu Minh, TCVH 1975, số 2,trang 51

Nhìn chung, các bài viết đều có những phát hiện độc đáo về sáng táccủa Trần Hiếu Minh Đặc biệt, Tất Thắng với “ngòi bút chân thật của TrầnHiếu Minh” đã đề cập đến phong cách nghệ thuật của Trần Hiếu Minh mộtcách xuất sắc

Tất Thắng viết: “… Đặc biệtHiện thực mà Trần Hiếu Minh tái hiện nh còn ở cái

vẻ nguyên dạng của nó, dù ở thể ký hay truyện anh vẫn lấy cái chân chất củacuộc sống làm đầu Và chính cái chân chất ấy kích thích rất mạnh cảm hứngsáng tạo của anh… Đặc biệt” Và cũng trong công trình ấy anh cũng viết:

“Luôn bám chắc lấy những sự kiện lớn lao làm rung chuyển đất nớc củacách mạng miền Nam, những trang viết của Trần Hiếu Minh ở thể ký đã đành

mà ở cả truyện và tiểu thuyết đều nóng bỏng tình thời sự chính trị do đó sắcbén tính chiến đấu và đó cũng chính là cái hạt nhận của tính chân thật, gần với

đời sống trong sáng tác của anh” [22; 54]

Trong bài: “Nói chuyện với nhà văn đơng ở Sài Gòn” in trên TCVH số

4, 1965, Tô Hoài viết: “Ngọn lửa ấy từ đâu nhen lên ? Đế quốc Mỹ nhất định

Trang 7

bảo đấy là súng và ngời của Miền Bắc đã vào nổi lửa lên ở Bến Tre Nhng tấtcả những ngời bình thờng, trung thực của chúng ta thì quá rõ ràng, không còn

điều gì giản dị hơn, đâu có áp bức thì vùng lên, xa nay và bao giờ cũng thế”[21; 48]

Nam Mộc với công trình: “Đọc lại Cửu Long cuộn sóng của Trần HiếuMinh” TCVH số 7; 1965 cũng viết:

“Đọc lại Cửu Long cuộn sóng lần đầu thấy ngồn ngộn sự việc và có cảmgiác thích thú nghe nh chính miệng một bạn miền Nam báo cáo về tình hìnhmiền Nam Sau mỗi nhận định khái quát lại có minh họa bằng mẫu chuyện cụthể, những tấm ảnh hoặc những mẫu phim sinh động Đọc lần thứ hai đã thấysau sự việc hiện lên là những con ngời khá rõ nét Đọc lần thứ ba càng thấymỗi trang sách tỏa ra một thứ ánh sáng mới làm bật lên bản chất của con ngờimiền Nam anh hùng và tất thắng” [20; 29]

Những bài viết ấy đều có những đóng góp tích cực đối với việc nghiêncứu và tìm hiểu nhà văn Trần Hiếu Minh cũng nh những sáng tác của ông vàthi pháp sử thi trong tiểu thuyết

Mỗi bài viết đều đi vào một khía cạnh khác nhau, cụ thể, một tác phẩm

cụ thể… Đặc biệtNhng tựu trung lại vẫn cha có bài viết nào đánh giá khái quát về cảmhứng sử thi trong tiểu thuyết của nhà văn Vì vậy đề tài “Khuynh hớng sử thitrong tiểu thuyết Trần Hiếu Minh” là vấn đề có ý nghĩa và rất cần đợc nghiêncứu

3 Nhiệm vụ và giới hạn đề tài

- Đề tài này có nhiệm vụ khái quát lại hệ thống khái niệm sử thi,khuynh hớng sử thi, đồng thời tái hiện có hệ thống nội dung tiểu thuyết củaTrần Hiếu Minh từ thời ký kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống

Mỹ Phân tích những đặc sắc nghệ thuật từ đó khái quát lên khuynh hớng sửthi trong tiểu thuyết Trần Hiếu Minh đợc biểu hiện một cách sống động, dồndập mang nét riêng, nét độc đáo với một phong cách hoàn toàn khác

Đóng góp của tác giả làm cho đặc điểm sử thi trong Văn học 1945 - 1975nổi bật hơn đa dạng hơn, phong phú hơn

- Giới hạn đề tài:

Trần Hiếu Minh sáng tác có nhiều thể loại: Truyện ngắn, bút ký, tiểuthuyết Sáng tác ở nhiều giai đoạn trớc cách mạng, sau cách mạng: Thời kỳchống Pháp và chống Mỹ

Nhng, do nhiều yếu tố còn hạn chế: thời gian, năng lực bản thân… Đặc biệtchúng tôi chỉ nghiên cứu ở phạm vi tính sử thi trong tiểu thuyết của ông, Cụthể là các tiểu thuyết viết trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở chiến trờng

Trang 8

miền Nam với bút danh là Trần Hiếu Minh.Các tác phẩm thuộc các thể loạitruyện ngắn, tùy bút, bút ký xin đợc dùng làm t liệu tham khảo.

Cụ thể là nghiên cứu trên các tiểu thuyết tiêu biểu: “Rừng U Minh”(1965 - 1966); “áo trắng” (1970 - 1971); “Gài Gòn 67” (1972 - 1982)

Nói về tiểu thuyết của mình, Ông nói: “Tiểu thuyết của tôi có động đếnnhững vấn đề lớn của thời đại, hòa bình hay chiến tranh, chính trị hay vũ trangtôi cố gắng giải quyết vấn đề ấy trong phạm vi diễn biến t tởng và tình cảmcủa nhân vật” [2; 354]

4 Phơng pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu cần đặt đối tợng trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể,lịch sử dân tộc và lịch sử Văn học trong mối quan hệ nhiều chiều Do vậychúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau:

Phơng pháp tiếp cận hệ thống: Nhằm khái quát những mặt biểu hiện củatính sử thi trong tiểu thuyết của Trần Hiếu Minh - tiểu thuyết thời kì chốngMỹ

Phân tích, miêu tả - đây là phơng pháp truyền thống và cũng là phơngpháp chính mà chúng tôi sẽ sử dụng trong công trình này Việc phân tíchnhững tác phẩm, những chi tiết tiêu biểu điển hình nhằm chứng minh cụ thể để

từ đó rút ra những kết luận khái quát

Phơng pháp so sánh: Đây là phơng pháp chủ đạo

Cảm hứng sử thi là cảm hứng chung của Văn học cách mạng miền Nam

1945 - 1975 Trần Hiếu Minh là nhà văn trởng thành từ hai cuộc kháng chiến,cũng nh các nhà văn khác cùng thời, ông góp phần phản ánh khí thế hào hùngcủa dân tộc Song mỗi nhà văn có những nét riêng trong cách phản ánh Dovậy khi so sánh với các nhà văn cùng thời sẽ thấy rõ đợc nét riêng trong phongcách sáng tác của Trần Hiếu Minh trong cái chung của nền Văn học dân tộc

Mặt khác, là nhà văn trởng thành trong hai cuộc kháng chiến Sử dụngphơng pháp so sánh cúng để thấy đợc quá trình vận động trong nghệ thuật quahai cuộc chiến của tác giả

Ông từng viết: “Tôi thuộc thế hệ những ngời viết văn ở nớc ta mà phầnlớn đi từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực Trớc, chúng tôi cho trítởng tợng là tất cả Bớc vào thời đại mới với hiện thực vĩ đại của cách mạngtháng Tám - 1945… Đặc biệt” [3; 354]

5 Cấu trúc khóa luận

* Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

Trang 9

3 Nhiệm vụ và giới hạn đề tài

4 Phơng pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc khóa luận

* Phần nội dung

A Một số vấn đề lý luận chung

1 Một số vấn đề về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

2 Khuynh hớng sử thi trong Văn học 1945 - 1975

2.1 Khái niệm sử thi

2.2 Khái niệm khuynh hớng sử thi

2.3 Văn học mang khuynh hớng sử thi

ơng 2 : Khuynh hớng sử thi trong tiểu thuyết Trần Hiếu Minh xét trên

phơng diện nội dung

2.3.3 Phản ánh khí thế cách mạng hào hùng, tình thần giữ đất giữ làngcủa con ngời miền Nam

2.3.4 Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng

2.3.5 Phản ánh chủ nghĩa nhân đạo của cách mạng miền Nam

Trang 10

3.3 Ngôn ngữ trong sáng mang độ nét địa phơng nam bộ

3.4 Những hạn chế trong cách thể hiện của Trần Hiếu Minh

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phần nội dung

A Một số vấn đề lí luận chung

1 Một số vấn đề về tiểu thuyết trong Văn học Việt Nam hiện đại

Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận

đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểuthuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phongtục, đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp tái hiệnnhiều tính cách đa dạng [387; 5]

Trang 11

Với giới hạn rộng rãi ấy, tiểu thuyết hiện đại đã đem lại nhiều thànhcông cả tiểu thuyết tâm lý, xã hội, tiểu thuyết viết trong thời kỳ chiến tranh

Đặc biệt thể loại tiểu thuyết đã đem lại thành công rực rỡ cho các tác giả vănhọc cách mạng trong đó có các tác giải văn học cách mạng miền Nam nh: Anh

Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Trần Đình Vân; Đặc biệt là TrầnHiếu Minh… Đặc biệt các tác phẩm đã phản ánh đợc xã hội Việt Nam trong nhữngnăm khói lửa chiến tranh Tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa đã xây dựng

đợc những nhân vật điển hình có tính cách, mang tầm khái quát rộng lớn:Núp,Chị Sứ, Anh Trỗi, Chín Kiên… Đặc biệt những nhân vật tiêu biểu cho một giai cấp, mộtthời đại Sự kết hợp giữa tính lý tởng và tính hiện thực trong tiểu thuyếtXHCN… Đặc biệt Sự vận động tâm lý và những bớc ngoặt trong tính cách nhân vật

Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã có quá trình thai nghénmang nặng đẻ đau, có quá trình chuyển biến và trởng thành từ cuộc sống

Kết cấu và cốt truyện hấp dẫn: kết cấu nhiều tuyến, nhiều bình diện,theo trình tự thời gian, theo quy luật tâm lý… Đặc biệt đồng thời có mối liên hệ giữatuyến sự kiện lịch sử và tuyến nhân vật, cốt truyện hấp dẫn, rõ ràng thu hút ng-

2 Khuynh hớng sử thi trong Văn học 1945 - 1975.

2.1 Khái niệm sử thi

Là thể loại tự sự dài xuất hiện sớm trong lịch sử Văn học của các dântộc nhằm ngợi ca sự nghiệp anh hùng có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng

đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử [4; 285]

2.2 Khái niệm khuynh hớng sử thi

Văn học mang khuynh hớng sử thi đề cập đến những vấn đề lịch sửmang tính chất toàn dân Nhân vật trung tâm thờng là những ngời đại diện chogiai cấp dân tộc với những tính cách dờng nh kết tinh đầy đủ những phẩm chấtcao quý của cộng đồng Ngời cầm bút nhân danh cộng đồng để khẳng đinh,ngợi ca những anh hùng với những chiến công chói lọi Lời văn sử thi thờngtrang trọng, đẹp một cách tráng lệ, thể hiện không khí của toàn dân tộc

2.3 Văn học mang khuynh hớng sử thi

Trang 12

Dân tộc Việt Nam trải qua bao đau thơng, bao thăng trầm của lịch sửdựng nớc và giữ nớc hơn bốn nghìn năm Nhng cha bao giờ trong lịch sử dântộc, độc lập tự do lại phải trả bằng xơng bằng máu nhiều nh hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Nhng đó cũng chính là những nămtháng hào hùng nhất của lịch sử bốn nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dântộc ta Cả đất nớc hành quân ra trận Văn học cách mạng ra đời trong hoàncảnh ấy và luôn theo sát bớc đờng của lịch sử dân tộc đang đi Do vậy, một

đặc điểm lớn, quan trọng và nổi bật nhất đó là khuynh hớng sử thi và cảmhứng lãng mạn

Cách mạng tháng Tám thành công mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên

độc lập dân tộc Từ đây độc lập tự do không còn là giấc mơ hão huyền nữa mà

nó đã là hiện thực, hiện thực mà bao đời nay ngời dân Việt Nam mong đợi.Nhng, để cái quyền độc lập tự do ấy đợc trọn vẹn nhân dân ta phải tiến hànhcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài 30 năm

Một năm sau ngày Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập tại vờn hoa Ba Đìnhlịch sử, kẻ thù đã quay trở lại hòng khuất phục dân tộc ta bằng sức mạnh đạnbom Vậy là mặc dù yêu hòa bình, ghét chiến tranh đến mấy, kẻ thù đã buộcnhân dân ta phải cầm súng Không còn con đờng nào khác ngoài con đờng

đứng lên cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù Các chiến sỹ vệ quốc quân ở thủ đô đãanh dũng ôm bom ba càng tiêu diệt xe tăng địch sẵn sàng “quyết tử cho Tổquốc quyết sinh” theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh: “Thà hy sinh tất cả chứnhất định không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến tháng 12 - 1946) theo chân lý “Không có gì quý hơn

độc lập tự do” (Hồ Chí Minh - 1967) đó là quyêt tâm, đó là lẽ sống còn củacon ngời Việt Nam

Đây là những năm tháng hào hùng, đồng thời cũng là những năm tháng

đau thơng gian khổ Yêu cầu đặt ra là tất cả mọi ngời phải sát cánh bên nhau,tạo thành sức mạnh tổng hợp đè bẹp kẻ thù “Dân ta có một lòng nồng nàn yêunớc đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta Mỗi khi bị xâm lăng thì tinhthần ấy lại dấy lên sôi nổi Nó kết thành một làn sóng vo cùng mạnh mẽ, nhấnchìm tất cả lũ cớp nớc và lũ bán nớc hung bạo” (Theo Hồ Chí Minh)

Chúng ta có niềm tin tất thắng của những con ngời chính nghĩa đứng lênbảo vệ độc lập tự do của dân tộc Sức mạnh và niềm tin càng đợc nhân lên khi

có sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ, kết hợp với sức mạnh của dân tộc

và của thời đại Có lẽ đây là cội nguồn làm nảy sinh khuynh hớng sử thi trongsáng tác của văn học thời kỳ này

Trang 13

Từ khi Đảng thành lập thì văn nghệ đợc xem là một mặt trận Năm

1943, bản “Đề cơng văn hóa” do Trờng Chinh soạn thảo đợc xuất bản nhằm

định hớng, chỉ đờng cho văn hóa, văn nghệ phát triển Đặt văn hóa, văn họcnghệ thuật phát triển dới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đờng lối, chính sáchnày đã lôi kéo các văn nghệ sỹ tham gia vào sự nghiệp cách mạng

Cách mạng tháng Tám thành công là cơ hội để các nhà văn có điều kiệnthuận lợi để “lột xác” Thắng lợi của cuộc cách mạng đã mở ra kỷ nguyênmới, một ánh sáng mới, một nền văn học thống nhất dới sự lãnh đạo của Đảng

là mẫu số chung mà các nhà văn đã tìm thấy cho riêng mình

Ngay từ những ngày đầu của cuộc cách mạng, các nhà văn đã đa vănhọc hòa nhập vào cuộc sống mới của nhân dân, đất nớc Bên cạnh những nhàvăn lớp trớc đã xuất hiện đội ngũ nhà văn trởng thành trong hai cuộc khángchiến chống giặc giữ nớc với phơng châm “Sống rồi hãy viết” (Nam Cao) và

“Viết cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn” Nhiều thế hệ nhà văn đã nối tiếpnhau ra trận Họ đi tìm cảm hứng của mình trong khói lửa chiến tranh trongnhịp khẩn trơng của những công trình xây dựng, những cái “tôi” của thời kỳvăn học lãng mạn (1930 - 1945) bây giờ đã bắt nhịp vào không khí hào hùngcủa dân tộc Dù khác nhau ở dung lợng, cách thể hiện nhng những sáng táctrong thời kỳ này đều gặp nhau ở một điểm, đó là hớng về những sự kiện trọng

đại của dân tộc Từ truyện ngắn “Rừng Xà Nu” (Nguyễn Trung Thành) đến bộtiểu thuyết dài nh “Cửa biển” (Nguyên Hồng); Từ “Dấu chân ngời lính”(Nguyễn Minh Châu) đến “Tiếng hát con tàu” (Chế Lan Viên) hay “Việt Bắc”(Tố Hữu) đều là những cuộc hành quân vĩ đại Những cuộc chia tay mang đậmdấu ấn dân tộc “lớp cha đi trớc, lớp con đi sau đã thành đồng chí chung nhaucâu quân hành” (Dấu chân ngời lính -Nguyễn Minh Châu)

Dân tộc anh hùng đã sản sinh ra những anh hùng trên cái nền hào hùngcủa dân tộc ấy đã sinh ra những con ngời u tú: Núp (Đất nớc đứng lên -Nguyên Ngọc); Tnú (Rừng Xà Nu - Nguyễn Trung Thành) Họ là những conngời bình dị và khát khao tự do, nhng mang trong mình ý chí bất khuất củacon ngời Tây Nguyên Họ là những ngời phụ nữ bình thờng nh bao ngời phụnữ bình thờng khác Nhng khi có giặc, khi sứ mạng lịch sử cần đến họ thì lậptức những con ngời bình thờng ấy trở thành những con ngời anh hùng Chị útTịch (Ngời mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức); Má Ba,má Chín, chị hai Ngoan, út Hảo… Đặc biệt (Rừng Xà Nu - Nguyễn Trung Thành);… Đặc biệt

Họ là kết tinh truyền thống anh hùng của ngời phụ nữ Họ xứng đáng với 8chữ vàng: “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang” mà Hồ Chí Minh

đã tặng

Trang 14

Những con ngời anh hùng, họ đại diện cho phẩm chất cao đẹp ViệtNam Viết về nhân vật lý tởng, các nhà văn thờng ít chú ý đến cái riêng biệtcủa họ mà chỉ thiên về khám phá những nét đẹp chung Chị Trần Thị Lý anhhùng nhng trong cái nhìn của Tố Hữu, đó là hiện thân của khí phách Việt Nam

đợc kết tinh từ bà Trng, bà Triệu và đây chị đại diện cho toàn phụ nữ “Ngờicon gái Việt Nam - ngời con gái anh hùng” Sự hi sinh của anh giải phóngquân trên đờng băng Tân Sơn Nhất trong thơ Lê Anh Xuân không còn là cánhân cụ thể nữa mà đã trở thành “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” Đóchính là biểu hiện sinh động của khuynh hớng sử thi trong văn học cách mạngViệt Nam

Hình ảnh tập thể, nó cũng là một biểu hiện trong khuynh hớng sử thi

Đó là hình ảnh bộ đội, dân công tập trung ra tiền tuyến, đó là “những binh

đoàn nối nhau ra tiền tuyến” (Phạm Tiến Duật), là “Cả làng Xô Man ào ào

đứng lên” (Rừng Xà Nu - Nguyễn Trung Thành), đó cũng là sức mạnh của tinhthần bất khuất, là sức sống mạnh mẽ của con ngời Việt Nam trong một giai

đoạn lịch sử hào hùng, hoành tráng của dân tộc

Ba đặc điểm lớn của Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là: Vănhọc phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu; Văn học hớng về đại chúng, trớc hết làcông - nông - binh và Văn học sáng tác theo khuynh hớng sử thi Các đặc

điểm đều là biểu hiện của khuynh hớng sử thi và nó đợc biểu hiện trên các

ph-ơng diện sau:

2.3.1 Đề tài

Văn học mang khuynh hớng sử thi tập trung phản ánh những sự kiệnmang ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Thời ký 1945 - 1975 đó là Tổquốc và Chủ nghĩa xã hội Đây là đề tài riêng biệt và cao cả của nền Văn họcmới Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Mỗi nhà văn đều mong muốn khám phá,phản ánh ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Viết những trang sử bằngthơ trong cuộc sống lao động và chiến đấu của họ, của dân tộc ta Văn họcthời kỳ này là bức tranh chân thực đẹp đẽ lịch sử dân tộc Mỗi tác phẩm Vănhọc đều chất chứa trong đó một khí thế hào hùng của dân tộc Các nghệ sỹ đềumuốn viết những trang lịch sử bằng những sáng tác văn học

Tuy nhiên ngoài Tổ quốc XHCN ra, Văn học thời kỳ này còn phản ánh

đời t, đời thờng: Núp (Đất nớc đứng lên Nguyên Ngọc), Tnú (Rừng Xà nu Nguyễn Trung Thành) là những ngời đời thờng của núi rừng Tây Nguyên Chị

-út Tịch (Ngời mẹ cầm súng - Nguyễn Thi); Má Ba, má Chín, chị hai KimDung (Rừng U Minh)… Đặc biệt là những ngời phụ nữ bình thờng, có những ớc mơ,khát vọng bình thờng Vấn đề cuộc sống hạnh phúc, có đất, có nhà ở… Đặc biệt họ

Trang 15

không chỉ đấu tranh để giành cho riêng họ mà cho toàn thể mọi ngời, vì mọingời Họ cha nghĩ đến bản thân mà luôn nghĩ cho đồng bào, luôn cầu cứu

đồng bào và đoàn kết cùng đồng bào đấu tranh, gác lại những nỗi đau riêng,những hi sinh mất mát riêng vì việc lớn Núp đại diện cho toàn dân tộc tâyNguyên dứng lên chống giặc ngoại xâm Chị út Tịch, chị Sứ, các Mẹ, các emgái đại diện cho ngời phụ nữ đánh giặc Rồi anh Trỗi, chị Trần Thị Lý… Đặc biệt họ

đều là những con ngời rất đời thờng nhng chính hị cúng đại diện cho cả mộttập thể, một dân tộc

2.3.2 Nhân vật

Con ngời trong Văn học Việt Nam (1945 - 1975) vì tập thể, vì sự nghiệpchung, những con ngời xả thân vì sự nghiệp lớn và cụ thể ở đây là vì CNXH,vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc Họ sẵn sàng hi sinh lợiích cá nhân, hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp chung

Con ngời sống theo lý tởng, lẽ sống của thời đại với những khẩu hiệu

“Tất cả vì tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” hay mình vì mọi ngời, mọingời vì mình, đó là lẽ sống của con ngời Việt Nam trong Văn học 1945 - 1975

ý thức đợc lẽ sống của mình, nhân vật thờng giải quyết mâu thuẫn riêng

- một cách nhẹ nhàng nhanh chóng Anh Nguyễn Văn Trỗi sẵn sàng hi sinhhạnh phúc cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ Chị Sứ mặc dù trong hoàn cảnh éo

le vẫn chỉ lo lắng cho các chiến sĩ trong hang hòn Chị Hai Kim Dung phảichịu bao cảnh hiểu lầm, chịu sự khinh bỉ của em, của ngời đời để làm nhiệm

vụ, chịu sự đau thơng âm thầm khi mất cha để bảo đảm an toàn cho cách mạng(“Rừng U Minh”) út Hảo sẵn sàng quên đi nỗi đau mất cha, vợt qua nỗi đau

đó đẻ làm việc chung Ông Hai Biền vì cách mạng, vì sự nghiệp sẵn sàng đuổiNăm Thắm là đứa con gái cng ra khỏi nhà Vợ chồng Năm Ao - út Mịn hisinh hạnh phúc, nhờng buồng cới dấu Chín Kiên trong đó để hoạt động cáchmạng Diệu Thúy đã từ bỏ cuộc sống vơng giả, quyền quý của tiểu th đài cácSài Gòn để đi theo cách mạng, theo ngời yêu (“Sài Gòn 67”)… Đặc biệt

ở đây, ta thấy các nhân vật đều giải quyết các vấn đề giữa lợi ích cánhân và lợi ích tập thể một cách nhanh chóng Các nhân vật thành công thờng

nh những hòn ngọc không hề có vết xớc Núp, anh Trỗi, Tnú, Trần Thị Lý, chị

út Tịch, chị Hai Kim Dung… Đặc biệtđều là những viên ngọc lung linh trên bầu trờiVăn học Việt Nam và trở thành mẫu ngời lý tởng cho mọi ngời nêu gơng họctập

2.3.3 Nhà văn

Trang 16

Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra một chân trời mới cho cácnghệ sỹ; từ chỗ “Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” (Xuân Diệu) từ chỗ “Ta làmột, là riêng, là duy nhất” đến nay có sự lãnh đạo của Đảng, có cách mạngtháng Tám mở ra con đờng, họ đã cónguồn cảm hứng vô tận đó là nhân dân,

đó là cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đó là cuộc xây dựng CNXH ởmiền Bắc, là cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam đang rực lửa Các nhà vănhăm hở lao vào những nơi nóng bỏng nhất của Tổ quốc, họ đi tìm nguồn cảmhứng sáng tạo trong lao động, trong chiến đấu Họ vừa lao động, vừa sáng tác,vừa chiến đấu vừa sáng tạo nghệ thuật Cuộc kháng chiến trờng kỳ đã sản sinh

ra các thế hệ nhà văn chiến sỹ Họ vừa cầm bút, vừa cầm súng Chính vì vậy,hơn ai hết họ chính là những ngời phản ánh chân thực nhất, sinh động nhất khíthế hào hùng của dân tộc Phản ánh đầy đủ nhất ớc mơ, tâm t của tâm hồn ViệtNam Trong lớp nhà văn chiến sỹ ấy không ít ngời đã trở thành anh hùng củathời đại

2.3.4 Giọng điệu

Văn học viết theo khuynh hớng sử thi có giọng điệu hết sức trang trọng,bay bổng, lạc quan Đặc biệt là không hề có giọng bi ca Nếu có nói đến sự hisinh mất mát thì đó là cái chết bất tử (Hãy nhớ lấy lời tôi - Tố Hữu) và chínhgiọng điệu mang tính hoành tráng, bay bổng, lạc quan này đã làm nên đặc

điểm lớn của Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Đó là Văn học mang

đậm khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn Chất sử thi và chất lãng mạnquện chặt vào nhau đó tạo nên đặc điểm lớn của Văn học Việt Nam 1945 -1975

Trang 17

B Khuynh hớng sử thi trong tiểu thuyết

Lúc nhỏ, ông học tiểu học trong tỉnh, rồi ra Huế học tiểu học và tú tài

Đỗ tú tài toán, ông dạy trờng t Thuận Hóa (Huế) ở Huế, ông bắt đầu viết văn,

đã đăng báo Sài Gòn, Hà Nội ba bốn bút ký, truyện ngắn rút ra từ tập “Chuyện

ba ngời bạn” (1942 - 1943)

Ông tham gia cách mạng tháng Tám - 1945 tại Đà Nẵng

Cách mạng tháng Tám thành công, đất nớc ta mở ra kỷ nguyên mới, kỷnguyên độc lập dân tộc Nhng nền độc lập ấy chỉ kéo dài đợc một năm, Thựcdân Pháp đã quay lại xâm lợc nớc ta lần thứ hai gây tang tóc, đau thơng trên n-

ớc ta một lần nữa Để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mà chúng ta phải đổbao nhiêu xơng máu mới giành đợc, theo tiếng gọi của Đảng, của Hồ Chủ tịch

“Thà hi sinh tất cả chứ nhất quyết không chịu mất nớc, nhất quyết không chịulàm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Hồ Chí Minh) Cả nớc anhdũng đứng lên chống Thực dân Pháp xâm lợc, không kể già, trẻ, gái, trai Vớimọi vũ khí trong tay, cả nớc bớc vào cuộc trờng chinh kéo dai chín năm đầygay go ác liệt

Sống trong hoàn cảnh ấy Trần Hiếu Minh đã sớm giác ngộ đợc lý tởngcách mạng, hòa nhập vào dòng thác cách mạng, không còn t tởng bi quan yếmthế, bế tắc của tầng lớp trí thức tây học trớc cách mạng, ông đi theo cáchmạng, làm công tác tuyên truyền, giáo dục văn hóa cứu quốc ở môi trờng này

đã làm trau dồi cho ngòi bút Trần Hiếu Minh nhanh chóng trởng thành Từmột trí thức lâm vào bế tắc trớc thời cuộc, luôn muốn cải tạo “làm lại cuộc

đời” nhng vẫn rơi vào hố bùn đen tối của thực tại, từ thái độ chán chờng, mỉamai cuộc sống, qua tôi luyện trong chiến tranh Trần Hiếu Minh đã trởng thành

Trang 18

lên trong nhiều mặt, trở thành ngời chiến sĩ cách mạng thực thụ, trở thành mộtnhà văn đợc nhiều ngời biết đến Ông viết tiếp tập bút ký “Nhập vào đám

đông” (1945) với tinh thần lạc quan, dũng cảm, đầy khí thế của ngời cáchmạng

Hè năm 1946, ông ra hà Nội viết báo Tiền Phong của Hội Văn hóa cứuquốc Việt Nam Sắp sửa kháng chiến, ông trở về Đà Nẵng tham gia khángchiến

Từ năm 1948, ông chuyên làm công tác văn nghệ, là chi hội phó chi hộivăn nghệ Liên khu V ông thờng đi các chiến trờng Quảng Nam - Đà Nẵng,Tây Nguyên viết tập truyện ngắn “Cái bắt tay của ngời tù binh” (1949) và tiểuthuyết “Con trâu” (1952)

Cuối năm 1953, ông ra Việt Bắc dự Hội nghị tuyên huấn cải cách ruộng

đất tại Thái Nguyên Năm 1954, hòa bình lập lại trên Miền Bắc, ông về HàNội làm báo nhân dân Năm 1956, ông về Hội văn nghệ Việt Nam, là phóTổng th ký Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam

Năm 1962, do yêu cầu của nhiệm vụ lịch sử, ông trở về Miền Nam côngtác, là trởng ban văn nghệ, ban tuyên huấn Trung ơng cục Miền Nam, phó chủtịch Hội văn nghệ giải phóng với bút danh là Trần Hiếu Minh

Băng qua dãy trờng Sơn những ngày ác liệt nhất cảu chiến tranh, ông vềmiền Nam, nơi quê hơng đồng khởi, ông đã chứng kiến cảnh bom đạn giặc tànphá, nhân dân chịu đau thơng tang tóc, chứng kiến cảnh miền Nam trongnhững năm đen tối nhất dới bàn tay vấy máu của bọn Mỹ - Diệm nhân dânmiền Nam vùng lên đánh giặc với khí thế quật cờng, với sức mạnh vô biên củacon ngời nơi đây Những điều đó đã dợc thể hiện rất rõ trong sáng tác của TrầnHiếu Minh thời kỳ này Bọn xâm lợc từ xa đến Việt Nam tàn sát cả côn trùngcây cỏ, tàn sát những ngời cách mạng, những ngời dân vô tội… Đặc biệt

Những năm tháng đen tối nh vậy, trớc kẻ thù tàn bạo, khát máu nh vậy,nhân dân miền Nam đã không chịu khuất phục, họ đứng lên đánh giặc với tấtcả lòng anh dũng sáng tạo, với tất cả vũ khí gì có trong tay đòi lại quyền sống,quyền làm ngời cho một ngời, một gia đình, một xóm ấp, cho dân tộc, cho Tổquốc Họ biết giá trị cuộc sống phải đổ bằng máu, không kì kèo tiếng một,tiếng hai với kẻ thù, tất cả già, trẻ, gái, trai đều vùng lên đánh giặc Am hiểu

và chứng kiến những con ngời với việc làm anh hùng của họ Trần Hiếu Minh

đã phản ánh trong tập bút ký “Cửu Long cuộn sóng” và viết tiểu thuyết “Rừng

U Minh” về nhân dân Bến Tre, Cà Mau anh hùng

Cuối năm 1966, ông vào công tác ở Sài Gòn, bí mật vận động các gớivăn hóa, văn nghệ, báo chí tham gia chống Mỹ cứu nớc Ông viết báo tin văn,

Trang 19

tờ báo công khai của phong trào Ông có mặt trong cuộc tiến công vào Sài Gòntết Mậu Thân (1968), viết các bút ký và truyện ngắn trong tập “Sài Gòn ta đó”.

Cuối năm 1968, ông trở ra hà Nội, tiếp tục tham gia Ban thờng vụ hộinhà văn Việt Nam và nhiều lần làm Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ

Cuối năm 1974, ông trở về miền Nam gặp chiến dịch Buôn Mê Thuột,chiến dịch Hồ Chí Minh và theo chân bộ đội vào đến Sài Gòn giữa tra30/04/1975

Sau đó ông lại ra Hà Nội, tiếp tục viết về các vùng mới đợc giải phóng ởmiền Nam và viết nhiều tập bút ký, truyện ngắn khác

Nh vậy, nhà văn Trần Hiếu Minh đã trởng thành trong hai cuộc chiến

đấu thần thánh của dân tộc Sáng tác của ông luôn theo kịp bớc tiến của lịch sửxã hội, phản ánh nhanh nhạy hiện thực miền Nam trong những năm khói lửachiến tranh cũng nh phản ánh khí thế hào hùng của dân tộc trong cuộc chiếntranh ái quốc vĩ đại

Ông mất ngày 9 tháng 7 năm 2001 đợc Nhà nớc phong tặng giải thởng

Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt II năm 2000

1.2 Sự nghiệp sáng tác

Là nhà văn trởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ xâm lợc Cuộc đời văn nghiệp của ông đã có điều kiệnthuận lợi để phát triển năng khiếu, tài năng Đó là ảnh hởng của truyền thốngquê hơng đất nớc đến nguồn cảm xúc vô tận trong tâm hồn tác giả Ông đinhiều nơi, đến nhiều chỗ, là một trong những ngời lãnh đạo văn nghệ khángchiến của Đảng tạo cho ông có vốn sống, vốn hiểu biết dồi dào, sớm đợc tắmmình trong phong trào cách mạng

Sống chủ yếu trong các tổ chức văn nghệ của Trung ơng và địa phơng,

đợc tiếp thu trực tiếp đờng lối văn nghệ của Đảng, là một trong những ngờilãnh đạo văn hóa văn nghệ, là Trởng ban văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung ơngcục miền Nam, phó chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng Tiếp thu đợc nhữngkinh nghiệm quý báu của đồng chí, đồng nghiệp, ông trở thành một trongnhững ngời đầu tiên phát động phòng trào văn nghệ cứu quốc, mở đờng chovăn nghệ cứu nớc đi đúng hớng, phát triển và sớm thu đợc những thành quảsáng tác của mình

Theo sát những chặng đờng của lịch sử dân tộc, ông đã có nhiều tácphẩm đợc bạn đọc yêu thích, gây ấn tợng khó quên trong lòng độc giả Thời

kỳ trớc cách mạng, ông viết: “Chuyện ba ngời bạn” (1942 - 1943) là sự bế tắc,

Trang 20

trăn trở, muốn cải tạo mình, cải tạo xã hội của ông nói riêng và tầng lớp tríthức yêu nớc trớc cách mạng nói chung.

Sau cách mạng, trong thời kỳ chống Pháp, ông viết các truyện ngắn

“Nhập vào đám đông” (1945); “Cái bắt tay của ngời tù binh” (1949); “Contrâu” (1952); “Cắm thẻ đồng cân” (1954), tiểu thuyết “Bếp đỏ lửa” (1955);

“Ngời chị” (1954 - 1959) Đặc biệt tiểu thuyết “Con trâu” đợc tặng giải nhìgiải thởng Văn học nghệ thuật (1945 - 1955) Tác phẩm là bài ca ca ngợi nhândân chiến tranh du kích vừa lao động sản xuất

Trong chống Mỹ và sau chống Mỹ; giai đoạn này là sự thành công rực

rỡ của tác giả với một loạt tác phẩm ra đời phản ánh trung thực và chân thànhcuộc sống chiến đấu trên mặt trận, công cuộc đấu tranh giải phóng của nhândân miền Nam

Các tác phẩm: “Chuyện bên cầu chữ Y” (truyện ngắn), truyện ngắn vàbút ký “Sài Gòn ta đó” (1968 - 1969); bút ký “Cửu Long cuộn sóng” (1963 -1964): Viết về con ngời miền Nam trong đau thơng tột cùng đã vùng lên đấutranh kiên cờng bất khuất, sục sôi khí thế căm thù quân giặc, sục sôi khí thế

ời miền Nam trong phong trào đồng khởi

Tiểu thuyết “Rừng U Minh” trả lời cho câu hỏi lớn mà ông luôn đặt ra

và luôn day dứt: “Làm thế nào mà đồng bào tay không của ta đã vùng dậy lật

đổ đợc bộ máy kìm kẹp của ngụy, súng đạn của Mỹ lúc bấy giờ ? thật khóhiểu” [3; 355]

Tiểu thuyết “Sài Gòn 67” viết về cuộc sống thật, giả lẫn lộn của nhữngcon ngời Sài Gòn lúc này Cảnh Sài Gòn có xe máy, hon đa, phim màu ngũ sắccủa giặc Mỹ đem lại Cảnh Sài gòn xô bồ giữa chiến tranh, đấu tranh chính trị

và đấu tranh vũ trang của đồng bào chống lại kẻ thù Cảnh Sài Gòn đang trongcuộc đấu tranh tranh cử tổng thống và đấu đá lẫn nhau giữa các phe tranh cử:Tớng Thiệu, tớng kỳ và tin tức mỉa mai, chế diễu của Mỹ, ngụy Sài Gòn trongloạn lạc xô bồ với một bên là tiếng súng, tiếng đạn bom, trực thăng, rốc kétcủa quân giặc thực hiện các cuộc càn quét, các chiến dịch, công cuộc dồn dậplập ấp với tiếng khóc, tiếng chửi, tiếng kêu van của ngời dân, tiếng giằng conhau, cấu xé nhau khi ngời dân không muốn vào trại tập trung và bọn lính Mỹthì cứ dồn, đuổi, cộng vào đó là tiếng eo éo của loa phát thanh kêu gọi mọi ng-

Trang 21

ời trở về với lòng mẹ Việt Nam, trở về với chính phủ quốc gia, chính phủ bùnhìn, chính quyền Sài Gòn Mỹ - Diệm mà đại diện là thiếu tá Trần ThanhHiệp, tỉnh trởng tỉnh Bình Dơng.

Tiểu thuyết “áo trắng” (1970 - 1971) viết về thành phố Sài Gòn vớinhững cuộc mít tinh, biểu tình, xuống đờng của học sinh, sinh viên về chiếntranh và ngừng chiến tranh Cảnh Sài Gòn đợc dựng lên bằng những gian nhàlao, nhà giam, những con ngời vô danh, không tên không tuổi mà suốt đời lầm

lũ với một màu áo tù, một biển số… Đặc biệt Nhng những ngời cán bộ cách mạngtrung kiên, anh dũng khoác trên mình bộ cánh học sinh, giáo viên để hoạt

động cách mạng… Đặc biệt

Trong thời kỳ này ông đã sáng tác đợc nhiều tác phẩm có giá trị đợc

đánh giá cao Sự phản ánh chân thật, trung thành giai đoạn lịch sử đầy đau

th-ơng tang tóc nhng đầy hào khí của con ngời và nhân dân miền Nam

Ông đã đợc nhận giải thởng Nguyễn Đình Chiểu với tập “Cửu long cuộnsóng” sau năm 1975 là truyện ngắn, bút ký: “Chuyện bên cầu chữ Y” (1968 -1984); Bút ký “Đờng đất nớc” (1975); “Ghi chép về Tây Nguyên” (1977 -1978); “Bên lề những trang sách” (1966 - 1980); “Thời đã qua” (1966 - 1991)

và “Tiểu thuyết cuộc đời” (1986 - 1991) Sáng tác thời kỳ này mang đậm yếu

tố tự nguyện

Đi suốt chặng đờng 30 năm kháng chiến của dân tộc tác phẩm của ôngluôn bám sát, phản ánh hiện thực, đề cập đến những vấn đề trọng đại của dântộc, của vận mệnh đất nớc, tác phẩm của ông luôn mang đậm chất sử thi vàcảm hứng lãng mạn hào hùng

1.3 Đánh giá trên những nét lớn về phong cách nghệ thuật của Trần Hiếu Minh

Tiểu thuyết củaTrần Hiếu Minh để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độcgiả mà cái tạo nên dấu ấn ấy không thể không nói đến phong cách nghệ thuậtcủa ông

Đọc tác phẩm của ông ngời đọc có thể khái quát đợc những nét lớn vềphong cách nghệ thuật mà đặc sắc nhất vẫn là một “ngòi bút chân thật” sống

động nh hiện thực tơi nguyên của cuộc sống đợc bê vào ngay trong tác phẩm

Nh tác giả Tất Thắng đã viết: “Hiện thực mà Trần Hiếu Minh tái hiện

nh còn ở cái vẻ nguyên dạng của nó, dù ở thể ký hay truyện anh vẫn lấy cáichân chất của cuộc sống làm đầu… Đặc biệt” [48; 22] và Nam Mộc với công trình

“Đọc lại Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh” TCVH số 7, 1965 cũngviết:

“Đọc lại Cửu Long cuộn sóng lần đầu thấy nguồn nguộn sự việc và cócảm giác thích thú nghe nh chính miệng một bạn miền Nam báo cáo về tình

Trang 22

hình miền Nam Sau mỗi nhận định khái quát lại có minh họa bằng mẫuchuyện cụ thể, những tấm ảnh hoặc những mẫu phim sinh động… Đặc biệt”

“Luôn bám chắc lấy những sự kiện lớn lao làm rung chuyển đất nớc củacách mạng miền Nam những trang viết của Trần Hiếu Minh dù ở thể ký đã

đành mà cả ở truyện và tiểu thuyết đều nóng bỏng chất thời sự chính trị” [48;22]

Miêu tả chân thật và giản dị những con ngời miền Nam trong cuộcchiến hàng ngày với kẻ thù điều mà tác giả quan tâm là làm cho khoảng cáchgiữa đời thật và cuộc đời tái hiện không còn nữa hoặc có thì cũng chẳng làbao

Khác với các tác giả cùng thời, Trần Hiếu Minh viết về những sự việcnhững con ngời và tự thân những sự việc, những con ngời ấy sẽ nói hộ anhtừng suy nghĩ những câu hỏi mà anh đặt ra và cả tác phẩm sẽ trả lời cho câuhỏi đó: Viết “Rừng U Minh” trả lời cho câu hỏi vì sao đồng bào ta tay không

đuổi đợc giặc ?

Ngòi bút thật của Trần Hiếu Minh phản ánh sát sao chân thực không khí

và tinh thần thời đại cụ thể hơn là không khí chiến tranh đau thơng và hàohùng của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến đồng thời cũng là biểu hiện củatính sử thi trong sáng tác của ông

Chơng 2

khuynh hớng sử thi trong tiểu thuyết Trần Hiếu Minh

xét trên phơng diện nội dung

2.1 Vị trí nhà văn

Trang 23

Có thể nói rằng, nhà văn Anh Đức đã khái quát đúng nhất, chính xácnhất vị trí của một tầng lớp nhà văn trong giai đoạn này: “Những ngời cầm bútcủa chúng tôi có thời vận khá đặc biệt Chúng tôi hầu nh lọt gọn vào cuộckháng chiến trờng kỳ kéo dài ba thập kỷ”.

Với Tô Hoài, trong bài “Hòn đất - Hòn ngọc” in trên tạp chí văn học số

1 - 1968 thì viết: “Không giám chắc Anh Đức tham gia trận càn ấy không nh

có một điều cái nhìn của Anh Đức là cái nhìn của ngời trong cuộc”

Với Trần Hiếu Minh, tuy không trực tiếp những ngày đồng khởi nghĩa ởNam Bộ nhng cái nhìn của ông cũng giống nh cái nhìn của ngời trong cuộc.Sáng tác của ông cũng đã phản ánh chân thật trung thành lịch sử xã hội quacác giai đoạn trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ Sự kiệnlịch sử những chi tiết hình ảnh và cả cuộc sống đời thờng xuất hiện ngồn ngộn

và ngổn ngang trong tiểu thuyết của ông

Trong “Ngòi bút chân thật của Trần Hiếu Minh” TCVH số 2 - 1075, Tấtthắng đã viết: “Hiện thực mà Trần Hiếu Minh tái hiện nh còn ở cái vẻ nguyêndạng của nó, dù ở thể ký hay truyện, anh vẫn lấy cái chân chất của cuộc sốnglàm đầu” Và cũng trong công trình ấy anh cũng viết “Luôn bám chắc lấynhững sự kiện lớn lao làm rung chuyển đất nớc của cách mạng miền Nam,những trang viết của Trần Hiếu Minh ở thể ký đã đành mà nh ở thể truyện vàtiểu thuyết đều mang đậm tính thời sự chính trị do đó sắc bén tính chiến đấu

và đó cúng là hạt nhân của tính chân thật, gần với đời sống trong sáng tác củaanh… Đặc biệt” (22; 54)

Cái nhìn của Trần Hiếu Minh là cái nhìn của ngời trong cuộc Nhữngchi tiết, hình ảnh nh những thớc phim ông quay chậm quay lại khung cảnhnhân dân miền Nam, Sài Gòn chiến đấu: Vùng vàm cái Tàu, vùng Khánh An,vùng tam giác sắt, vùng Bến Súc, Bến Tre trong ngày đồng khởi nhà tù, cảnhtra tấn tù đày của giặc trong các phòng giam hiện diện thật rõ nét trong tácphẩm của ông Vì thế ông cũng đã hai lần đợc nhận giải thởng Văn học nghệthuật

Cùng với các tác giả cùng thời, Trần Hiếu Minh đã xây dựng thành cônggiang sơn Văn học cách mạng miền Nam sừng sững, từ tuyến đầu Tổ quốctrong hoàn cảnh lịch sử đầy đau thơng và đầy tự hào dân tộc

2.2 Hoàn cảnh xã hội

Cách mạng tháng Tám thành công rồi chiến tranh lại trở lại Cả nớc anhdũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lợc kéo dài 9 năm đầy gay go ác liệt

Cách mạng thắng lợi, Hiệp định Giơnevơ đợc ký kết, một nửa đất nớc

đ-ợc giải phóng, miền Bắc bớc vào thời kỳ xây dựng XHCN

Trang 24

Trong thời gian này, ông viết không nhiều nhng đã để lại gia trị Vănhọc sâu sắc, với tiểu thuyết “Con trâu” (1952) đã đợc tặng giải thởng văn nghệ

1954 - 1955 và tiểu thuyết “Bếp đỏ lửa” (1955) là những tác phẩm đợc pháttriển trên cơ sở những kết quả của cách mạng hóa t tởng, quần chúng hóa sinhhoạt đã trả lời cho những câu hỏi lớn đợc đặt ra hồi đầu cách mạng: Viết cho

ai ? Viết cái gì? Viết nh thế nào? Luôn luôn thôi thúc và bản thuyết trình xâydựng nền văn nghệ nhân dân mà Tố Hữu đã đề ra vào tháng 9 - 1949 nhữngtác phẩm của ông trong thời kỳ này cũng đánh dấu bớc thành công và chuyểnmình của văn xuôi sau một thời gian dài mò mẫn tìm đờng

Đặc biệt “Con trâu” (1952) là đóng góp nổi bật của phong trào sáng tác

địa phơng, là sự nhận thức về đề tài nông thôn, là sự mô tả những hình thái độc

đáo về cuộc chiến tranh nhân dân ở các vùng địch hậu khu năm

Năm 1962 ông về miền Nam, là trởng ban tuyên huấn Trung ơng cụcmiền Nam, phó chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng Lấy bút danh là Trần HiếuMinh, ông có điều kiện đi nhiều nơi, khám phá nhiều cảnh và đồng thời cũngchứng kiến đợc nhiều cảnh đau thơng tang tóc đã xảy ra ở miền Nam Cảnhbom đạn giặc tàn phá cảnh miền Nam loạn lạc xô bồ trong những ngày đen tốinhất dới bàn tay vấy máu của Mỹ - Diệm Những điều đó đợc thể hiện rõ nhấttrong sáng tác của Trần Hiếu Minh thời kỳ này

Bọn xâm lợc từ xa đến Việt Nam tàn sát cả côn trùng cây cỏ, tán sát cảnhững ngời cách mạng, những ngời dân vô tội Bọn chúng thi hành những đạoluật dã man, luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam sát hại những ngờikháng chiến cũ, những chiến sĩ cách mạng, những ngời dân vô tội với luận

điệu sặc mùi khát máu “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” ở đất Mũi Cà Mau, ởBến Tre ngày nào cũng có máu của những ngời cách mạng hòa vào dòng kênhnớc mặn Ngày nào cũng có bom đạn giặc dày xéo trên những cánh đồng quêhơng Chúng thi hành những chính sách thâm độc “Dùng ngời Việt trị ngờiViệt; Tiêu diệt Việt cộng trong từng nớc” Chúng lập hệ thống ấp chiến lợc,dồn dân lên ấp để “Tách cá ra khỏi nớc” nhằm cắt đứt quan hệ giữa nhân dân

ta và lực lợng vũ trang nhân dân, thực hiện theo âm mu “Tìm và diệt” bằng sứcmạnh của vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất, có sức hủy diệt ghê ghớm nhất vànhững thủ đoạn tàn bạo nhất, dã man nhất để “chinh phục khối óc và trái tim”nhân dân Việt

Tội ác của kẻ thù còn rành rành ở đó Còn đó xơng máu của nhữngchiến sĩ bị chúng giết hại rồi liệng xuống bàu, còn đó tiếng kêu ai oán của chịcán bộ bị giặc đóng đinh sát hại đòi trả thù, tàn bạo hơn chúng còn bắt ngờidân lành hại chính những ngời đấu tranh đòi quyền sống, quyền độc lập tự do

Trang 25

cho họ Buộc chị em có chồng tập kết ra Bắc phải ký đơn từ bỏ chồng, chà đạplên lòng chung thủy của họ, đây là việc làm trái với đạo đức, trái với đạo lýdân tộc Những năm tháng đen tối nh vậy, trớc kẻ thù tàn bạo, khát máu nhvậy, nhân dân miền Nam không chịu khuất phục Họ đứng lên chống giặc vớitất cả lòng anh dũng, sáng tạo, với tất cả vũ khí gì có trong tay, đòi lại quyềnsống, quyền làm ngời cho một ngời, một gia đình, cho một xóm ấp, cho dântộc, cho Tổ quốc Họ biết giá trị của cuộc sống phải đổi bằng máu, không kìkèo tiếng một tiếng hai với kẻ thù đợc Trong cuộc chiến đấu này, tất cả con

em đều ra trận trớc tuổi

Trong những năm kháng chiến ác liệt của cuộc chiến tranh, trong khíthế của “Ba mơi triệu nhân dân tất cả hành quân, tất cả thành chiến sĩ” (TốHữu), theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ, theo tiếng gọi của nonsông đất nớc theo tiếng gọi của lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh “Xẻ dọcTrờng Sơn đi cứu nớc mà lòng phơi phơi dậy tơng lai” (Tố Hữu)

Trần Hiếu Minh đến Bến Tre, Cà Mau nơi tận cùng của tổ quốc về vớingời nông dân Nam Bộ giàu truyền thống anh hùng, đầy nghĩa khí cách mạng

Về với miền Nam - những con ngời Sài Gòn - Chợ lớn giàu lòng yêu nớc Hiệnthực miền Nam là nguồn cảm hứng, là nguồn thi liệu vô cùng phong phú chonhững nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, những nhà lãnh đạo Văn học nghệthuật nh ông

Sáng tác của Trần Hiếu Minh luôn theo kịp bớc tiến của dân tộc, phản

ánh hiện thực miền Nam trong những năm khói lửa chiến tranh cũng nh phản

ánh khí thế hào hùng của toàn dân trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại

ở miền Nam, Mỹ tiếp sức cho Diệm ra sức phá Hiệp định nhằm biếnmiền Nam thành căn cứ quân sự, thuộc địa kiểu mới của Mỹ, hòng chia cắt lâudài đất nớc ta Bao nhiêu bom đạn đã đổ xuống và nhân dân miền Nam đã

đánh bại bằng bao nhiêu xơng máu và nớc mắt, đuổi quân thù, giữ đất, giữlàng và giữ nớc

Phản ánh chiến tranh nhân dân, nhiệm vụ của các nhà văn là phải bámsát vào hiện thực, hớng mạnh vào các mối quan hệ của đời sống để tác phẩm

Trang 26

của mình đi sâu vào lòng ngời Nó chân thực nh đời sống thực, không đi vào

sự hoa mỹ, xa lạ và trống rỗng Phản ánh cuộc sống trong tiểu thuyết TrầnHiếu Minh trong giai đoạn này có nét khác biệt so với trớc

ở tiểu thuyết “Con trâu” (1952) là sự nhận thức về đề tài nông dân, sựmô tả những hình thái khá độc đáo về cuộc chiến tranh nhân dân ở các vùng

địch hậu Đây là sáng tác hớng về cong - nông - binh và ơhục vụ công nôngbinh mà Đảng đã vạch ra

Cái mới của “Con trâu” so với các tác phẩm cùng thời là từ một vấn đề

cụ thể, vấn đề con trâu (Văn xuôi trớc cách mạng đã từng có: Con trâu củaTrần Tiêu) để mở ra một loạt các vấn đề khác có ý nghĩa quan trọng không chỉ

để thể hiện đời sống ngời nông dân mà còn có ý nghĩa đối với việc thể hiệnhình ảnh một cuộc kháng chiến toàn dân trong đó nông dân là chủ lực

Tác phẩm mở đầu bằng một trận càn và kết thúc cũng bằng một trậncàn Nhng giữa đó là một quá trình phát triển và trởng thành của cuộc khángchiến của ngời nông dân dới sự lãnh đạo của Đảng Vấn đề “Con trâu” đợc đặt

ra không phải vì “con trâu là đầu cơ nghiệp”, vì đời sống của một gia đìnhriêng lẻ mà là vì sự sống còn chung của cả dân tộc, của đất nớc

Bảo vệ trâu là bảo vệ sản xuất, nuôi dỡng sức dân, chiến đấu lâu dài.Bảo vệ trâu cũng chính là khâu thử thách quyết tâm chiến đấu, bám địch giữlàng của ngời nông dân vùng địch hậu trong cuộc kháng chiến trờng kỳ toàndân toàn diện Dới sự lãnh đạo của Đảng nhng tác giả vẫn không tránh khỏinhững hạn chế nhất định trong việc thể hiện sâu sắc giai cấp của nhân vật vàthể hiện sự lãnh đạo của Đảng Sự bế tắc của tình hình của thực tạo cáchmạng

So với “Con trâu” thì các tiểu thuyết thời kỳ chống Mỹ của Trần HiếuMinh đã vợt lên hẳn về số lợng và chất lợng

Nhng sáng tác thời kỳ chống Pháp, đặc biệt “Con trâu” đã có tác dụngrất quan trọng đối với sự phát triển của tiểu thuyết Trần Hiếu Minh “Con trâu”

là giai đoạn đầu cho tài năng hôm nay đó là những ngày vỡ đất gieo hạt, chuẩn

bị cho một mùa hoa đẹp, là sự tiếp nối lẫn nhau của một quá trình để đi đếnmột trình độ cao của thời điểm mới

Đọc tiểu thuyết thời kỳ chống Mỹ cứu nớc của Trần Hiếu Minh, chúng

ta có thể hình dung đợc rõ ràng những ngời tiến hành cuộc chiến tranh chốngtên đế quốc hung hãn nhất của thời đại này đã sống gian khổ, chịu đựng nh thếnào và chiến đấu oanh liệt nh thế nào, những gì là cao quý, là tốt đẹp, là chânchính của ngời Việt Nam và cũng là của con ngời tỏa ra từ lúc này vì sự

Trang 27

nghiệp tổ quốc và vì lẽ phải ở đời sẽ còn vang mãi không dứt còn in dấu ấntrên những trang sách nhiều khi viết vội.

Tiểu thuyết của Trần Hiếu Minh viết trong thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ đã thể hiện khuynh hớng sử thi với những sự kiện, những biến cố lịch sửdồn dập với cái không khí thời sự nóng bỏng của tiểu thuyết Các tiểu thuyết:

“Rừng U minh”; “Sài Gòn 67”; “áo trắng”: Cái hào khí đánh Mỹ hôm nay rấtgần gũi với cái hào khí Đồng Nai hôm qua của Nguyễn Đình Chiểu Mỗi cảnh,mỗi chi tiết trong mỗi tác phẩm là một thớc phim quay chậm dựng lại bứctranh xã hội miền Nam trong cuộc chiến đầy đau thơng và tang tóc đồng thờicúng đầy cảm hứng tự hào dân tộc

“Rừng U Minh” phản ánh cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàndiện ở miền Nam vùng Tây Nam Bộ lúc này đang diễn ra một cuộc đấu tranhkéo dài từ lúc gây dựng cơ sở Đảng cho đến lúc tập hợp lực lợng và vùng lên

đồng khởi Đó là cả một quá trình đầy vất vả gian lao, đầy mồ hôi nớc mắt,

đầy hi sinh và mất mát

“Tôi viết về phong trào Đồng Khởi của Cà Mau bắt đầu từ những ngàytình hình chuyển sang khó khăn vào những năm 1957 đầu 1958 rồi giằng cotrong năm 1958 đến cực kỳ đen tối trong năm 1959 và vùng lên quật khởi vàonăm 1960, chuyện lấy khung cảnh trong một xã Khánh An Khi về Cà mau tôitìm hiểu tình hình chung của tỉnh trong năm đó và tình hình trong một xãkhác: Tân Hng Đông cuối cùng về tới xã Khánh An” [3; 354]

“Rừng U Minh” tác giả phản ánh những khó khăn riêng trong vùng, khi

địch áp bức, thống trị đồng bào Những âm mu, thủ đoạn của địch trong việcphân hóa hội đồng hơng chính, khủng bố Đảng viên, trong việc gây dựngphong trào tự vệ hơng thôn đối lập với quần chúng cách mạng, cán bộ cáchmạng Bọn địa chủ lăm le chiếm lại đất mà cách mạng đã chia cho nhân dân

Để đánh giặc và giữ đất giữ làng, nhân dân miền Tây Nam Bộ đã phải

đổi bằng máu, bằng xơng của mình, những đau thơng tang tóc diễn ra Sự mấtmát của gia đình má Ba: Bốn ngời bị giết một lúc cả con trai, con dâu và cháunội Trong gia đình má Chín con trai bị giết, con gái bị hiếp, cũng có nhữngcán bộ lung lay ý chí, ra đầu thú là T Khánh con ông Hai Bền… Đặc biệt

Tuy nhiên đó chỉ là những chi tiết bề ngoài sơ đẳng và thứ yếu Cáiquan trọng hơn và lớn lao hơn ở “Rừng U Minh” là ý chí căm thù, tình đoànkết đánh giặc, lòng yêu nớc sâu sắc và sức mạnh vùng lên của nhân dân

“Rừng U Minh” là câu chuyện của một tập thể anh hùng, điều quan tâm củamọi ngời là đất, là rừng, là nhà, là cửa, là những gì thân thuộc nhất của quê h-

ơng, là vận mệnh của những ngời dân nơi cùng trời cuối đất này Tập thể nhân

Trang 28

dân nơi đây là tập thể anh hùng, tất cả mọi ngời đều sống với lý tởng giết giặccứu nớc, tinh thần giữ đất giữ làng đầy khí thế Từ già chí trẻ: ông Hai Bền đến

em Bình; từ gái chí trai, từ các mẹ đến các chị đều chung sức đồng lòng bảo vệcán bộ cách mạng và đoàn kết chống kẻ thù Vì lẽ sống giết giặc cứu nớc Conngời ở đây không từ chối những khó khăn gian khổ hay những hi sinh mất mátbởi cái lẽ sống ấy đã trở thành lẽ sống của mọi kiếp ngời

Cuộc đấu tranh không cân sức giữa một bên là nhân dân xã Khánh An vùng Tây Nam Bộ yêu nớc và một bên là chính quyền hội đồng hơng chính xã;chính quyền của giai cấp địa chủ bóc lột ngàn đời kết hợp với chính phủ bùnhìn Mỹ - Ngụy và các thế lực phản động khác Chúng thực hiện chính sáchgọi là quốc sách ấp chiến lợc, gom dân vào các trại tập trung trá hình nhằmxóa bỏ cơ sở của chiến tranh du kích, chúng thực hành chính sách điền địaphản động mu cớp lại ruọng đất mà cuộc kháng chiến trớc đã cấp cho nhândân, Hội đồng Quỳ, Quản Mun kết hợp với bọn Mỹ - ngụy: Ba Văng Vàng,Trung úy Đào, gà lôi tổ chức vây lùng, càn quét, chém giết, bắt bớ và tra tấnnhững ngời cách mạng cũ hoặc bị nghi là hoạt động cách mạng

-Kẻ thù đã gây ra tội ác: Tám Nhớ bị giết, bỏ trôi sông chỉ vì ca một bài

ca hồi kháng chiến Chúng lùng bắt những ngời cách mạng: Ba Lớn, anhHai… Đặc biệt và trả thù dã man, đánh đạp tàn nhẫn Chúng bắt đợc ông Sáu, đánh đập

và kéo lê xác ông trên đờng cho đến khi chết “máu của ông vẫn chảy ra thấmvào trong đất nung suốt ngày phơi nắng sẫm xuống một vệt dài” [1;355] indấu căm thù mãi mãi Ngời lính cách mạng, ngời “cộng sản nhà nho” này đã

hi sinh nhng vẫn tấn công kẻ thù

Bởi anh chết rồi nhng lòng dũng cảm Vẫn đứng đờng hoàng nổ súng tấn công

(Lê Anh Xuân)Cái chết của những con ngời giàu lòng yêu nớc đã hun đúc lên ý chícăm thù quân giặc sục sôi của những ngời ở lại Họ thề sẽ mãi tiêu diệt bọnbán nớc và bọn cớp nớc hung bạo

“Rừng U Minh” cuốn tiểu thuyết mô tả sự trởng thành của phong tràocách mạng Cách mạng đợc hình thành từ việc gây dựng cơ sở ban đầu cònnhiều khó khăn: Chín Kiên gây dựng cơ sở bớc đầu từ nhà ông Hai Bền, đếnnhà Má Ba Má Ba đã phải tổ chức đám cới cho con trai là Năm Ao để dựa vào

đó mà mở ra cơ sở hoạt động cho cách mạng - lấy phòng cới của Năm Ao - útMịn để nuôi dấu Chín Kiên

Trang 29

Sự trởng thành của phong trào cách mạng gắn với việc không ngừngcủng cố tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, gắn liền với sự phát triển củanhững hình thức đấu tranh chính trị và vũ trang, bí mật và công khai.

Cuộc nổi dậy của nhân dân Vàm Cái Tàu là cuộc đấu tranh của nhữngngời bị áp bức bóc lột ở đất U Minh chống địa chủ và tay sai dựa vào thế Mỹtrở lại cớp đất của nhân dân ta Phản ánh cuộc đấu tranh của những ngời dân,với kẻ thù hôm nay gắn với cuộc đấu tranh giai cấp từ hôm qua Đó là nhữngngời mẹ: Má Ba, Má Chín, ông Hai Biền là thế hệ cha ông đã từng bị quảnMun và hội đồng Quỳ chiếm đất sau đó đợc cách mạng cấp cho một số ruộng

để làm ăn thì bây giờ lại bị bọn chúng lăm le cớp lại

Cuộc đấu tranh không cân sức giữa một bên là những ngời nông dânchân lấm tay bùn và ba ngời cán bộ cách mạng: ông Sáu, Chín Kiên, vớinhững trang bị thô sơ lỡi mác, mã tấu, những khẩu súng bằng lá dừa tự tạo đểhăm dọa kẻ địch bảo vệ cơ sở cách mạng và một bên là cả đội quân chínhquyền phong kiến địa chủ và bọn Mỹ ngụy có vũ khí hiện đại: mìn, súng ống,

đạn chì đợc trang bị đầy đủ Một cuộc đọ sức hoàn toàn không cân sức nhngcuối cùng chúng đã chịu thất bại thảm hại Nhân dân ta xây dựng đợc làngrừng xã hội chủ nghĩa, đêm đêm rèn vũ khí và tập mã tấu, xây dựng đợc trờnghọc, nhà y tế và xây dựng đợc nhà ở, kẻ thù từng bớc bị tiêu diệt và bị đem ra

- Mày có biết ai đây không ? ( …) )

- Má Ba đây ! ( …) ) , giọng má siết vào

- Nào con tao đâu, dâu tao đâu, cháu nội tao đâu ?

Má nhìn lên, chỉ vào anh Hai, chằn giọng hỏi Ba răng vàng:

- Thằng Hai ngoan đó, vợ nó đâu ? con nó đâu ? Dâu tao

mụ Hai Ngoan, cháu tao thằng Bình, con trai tao Năm Ao, dâu thứ tao là útMịn đâu rồi, hở thằng kia ?… Đặc biệt

Má nhíu mày lại, sè bàn tay đa sát mặt hắn:

- Còn Tám Nhớ, ông Sáu, Lão Ba Lớn, út Hảo nữa ở đâu hết rồi,

hở thằng kia ? [1; 548; 549; 550]

Trang 30

Mỗi lời nói, nhắc đến mỗi cái tên là nhắc đến mộ niềm đau của sự mấtmát, đau khổ, những hi sinh tang tóc Niềm đau ấy càng nhói lên, càng nh vếtdao cứa xé tim gan mọi ngời, thức dậy ở họ lòng căm thù giặc tột độ “Nhữngtiếng la hét, mắng chửi, khóc rủa, những tiếng đả đảo, hô bắn, giết đòi đạpchết thằng Ba răng vàng lại vang lên và cuối cùng đồng bào cũng xử hắn tộichết”

Xây dựng những con ngời mang phẩm chất mới của cách mạng, của xãhội tơng lai - xã hội làng rừng xã hội chủ nghĩa là nét mới của Trần HiếuMinh

Tại sao có chuyện thần kỳ nh vậy? tại sao đồng bào ta tay không mà

đánh đợc giặc, tay không mà đuổi đợc quân thù ?

Qua tiểu thuyết “Rừng U Minh” Trần Hiếu Minh đã trả lời rất đơn giản

và cũng rất chính xác những câu hỏi đó Đây là cuộc chiến tranh nhân dânchống lại chiến tranh phong kiến đế quốc phi nghĩa Khẳng định lại điều mà lýluận Mác – Lênin đã khẳng định: chiến tranh nhân dân là vô địch

Tác giả không đi vào luận bàn, không giải thích bằng khái niệm trừu ợng cũng không sắp xếp câu chuyện mà đã trình bày những diễn biến của quátrình đấu tranh và phát triển của phong trào bằng những yếu tố, chi tiết chânthực hỗn độn, ngổn ngang và sống động Tác phẩm đợc bắt đầu bằng đám cớicủa Năm Ao - út Mịn Tại đám cới ngổn ngang bao thứ việc: Đón dâu, tiệc c-

t-ới, đêm ca nhạc đàn, hát có cả ta và địch rồi đùng một cái Tám Nhớ bị giết,Bảy Mây bị bắt vì ca những bài ca kháng chiến thời trớc Tất cả mọi việc đềudiễn ra trong ngày đám cới và tại nhà Má Ba Trong khi đó tại nhà ông hai bền

đang nuôi dấu cán bộ cách mạng là Chín Kiên đến việc nắm tình hình và lãnh

đạo phong trào cách mạng phát triển với đông đảo quần chúng tham gia ChịHai ngoan cứu đồng bào trong buổi tố cộng nh thế nào ? Năm Ao - út Mịn giả

đặt lờ bắt cá để dẫn đờng cho cán bộ hoạt động cách mạng nh thế nào ? út Hảogây dựng cơ sở cách mạng ở các ấp nh thế nào… Đặc biệtcho đến ông già U Minh vàcác má: má Ba, má Chín, bà T Hù, chị Hai Kim Dung thì hoạt động nh thế nào

?… Đặc biệt? Tất cả mọi ngời đều tham gia hoạt động cách mạng

“Rừng U Minh” cũng nói lên nghệ thuật chiến tranh nhân dân độc đáo

từ cách phòng bị, cách chuẩn bị và cách đánh Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn

và tài tình giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và binh vận, chuyểnquân, móc nối, tạo cơ sở Đảng

Mặt trận không kém gay go ác liệt là đấu tranh chính trị, mặt trận này

có sự đồng tình thống nhất, chớp đợc thời cơ thuận lợi, tránh sự đổ máu và

Trang 31

giành đợc nhiều thắng lợi lớn Những ngời dân xứ Vàm cái tàu dới sự lãnh đạocủa Đảng đã kịp thời nắm bắt cơ hội, đa cuộc đấu tranh đến thắng lợi Trênmặt trận nổi lên hình ảnh dân làng chở xác Tám Nhớ đi biểu tình, gây áp lực,

đòi bồi thờng thiệt hại… Đặc biệt Ngời đàn bà chở xác Năm Ao - út Mịn, xác chị HaiNgoan và xác bé Bình đòi bồi thờng, đòi công lí, đòi trả mạng ngời uy hiếp kẻthù, làm tăng ý chí, căm thù giặc sục sôi của nhân dân nó biểu trng cho sứcmạnh, sự đoàn kết của tập thể anh hùng - nhân dân Vàm Cái Tàu Cả tập thểvùng lên đêm, ngày trong làng rừng U Minh - làng rừng XHCN rèn vũ khí, mãtấn Ông già U Minh, ông Năm lò rèn, Năm Thắm dạy thanh niên múa võ, cácbài võ truyền thống, đi các đờng quyền… Đặc biệtđể đánh đuổi quân thù và xây dựnglàng rừng giàu đẹp Đó là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện ởmiền Nam

Tiểu thuyết “Sài Gòn 67” phản ánh một cuộc chiến tranh quy mô lớn

đầu tiên, đó là cảnh Sài Gòn của xe cúp, ti vi, phim màu ngũ sắc, cảnh Sài Gònlẫn lộn giữa cuộc sống thật và cuộc sống giả Con ngời không biết và khôngthể tìm thấy tơng lai của mình Họ sẽ đi về đâu ? sẽ nh thế nào ? “Sài Gòn 67”

là cảnh xã hội Sài Gòn ngổn ngang xô bồ: trẻ con láo xợc, cớp giật, các chị,các em gái mới lớn lên đã phải bán thân, làm cho các quan bar, gọi là các côgái bán bar với những bộ quần áo sặc sỡ, đầu tóc xoăn tít, mắt xanh mỏ đỏ.Cũng là một xã hội xô bồ, náo động mà những trí thức trẻ không biết sẽ làm gì

nh anh Nhã, Diệu Thúy và những trí thức để cho cuộc đời xô đẩy, ngoài vòngcủa ý thức và ngoài vòng cuộc đời nh Trần Thanh Hiệp: Thiếu tá, Tỉnh trởngBình Dơng, là chính phủ bù nhìn, đối lập với nhân dân, với đất nớc

“Sài Gòn 67” tập trung phản ánh cuộc chiến tranh không cân sức giữamột bên cuộc chiến tranh đẫm máu của dân Sài Gòn - chợ Lớn, những con ng-

ời ở vùng dân bến Súc, Củ Chi, tam giác sắt tay không Trong khi đó chínhquyền Mỹ - Diệm với vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất, các loại trực thăng HU

- EI; HUIA, các loại súng, bom và các loại vũ khí khác… Đặc biệt các hãng thông tấn

và báo chí Mỹ: UPI; AP; Newsweck; New York Time, các phòng truyền thông

đại chúng, các cơ quan viện trợ Mỹ: USAID… Đặc biệt rất đầy đủ và kịp thời để tổchức các cuộc càn quét, dồn dân lập ấp, kịp thời phục vụ, tài trợ và đa tin lênthông tin đại chúng Địch mở những cuộc hành quân về bến Súc, qua khu tamgiác sắt và mở các chiến dịch: Xêđaphôn… Đặc biệt nhằm dồn dân lập ấp để tách cá rakhỏi nớc, ngăn chặn sự liên hệ giữa cách mạng với ngời dân Chúng san bằngtất cả để lập khu tị nạn kiểu mẫu ở Bình Dơng

“Sài Gòn 67” dựng lên bức tranh Sài Gòn đô thị trong các cuộc càn quétxô bồ nhốn nháo giữa tiếng kêu ầm ĩ của bom đạn với tiếng khóc, tiếng kêu

Trang 32

chí chóe của ngời dân khi bị dồn dân lập ấp, tiếng kêu của gà qué, trâu bò, lợn

bị dắt đi, tiếng van nài vì ngời dân muốn giữ lại đất, giữ lại làng, giữ nhà,không muốn vào trại tập trung và bọn lính thúc dục, dồn dân Cảnh Sài Gòn

“Trong vùng tam giác sắt không một con chim khờ dại nào còn đổ xuống”[2;11]

Đêm Sài Gòn là đêm dày đặc, khắp các lều trại đèn tắt, tối đen chỉ ngherì rầm những tiếng trò chuyện, tiếng đài bán dẫn mở nho nhỏ chen vào tiếng

đại bác, moc chi ê rền vang, tiếng lựu đạn, tiếng mìn ình oàng, những tràngsúng máy rạch dọc trời đêm

“Sài Gòn ồn ào những vụ đập lộn với Mỹ, những cuộc hội thảo xuống ờng chống Mỹ, bom mìn nổ ngay vào sứ quán Mỹ, đánh đập những nhà hàng,cao ốc chứa sỹ quan và lính Mỹ Sài Gòn với đạn pháo nã vào lễ quốc khánhtrên đờng thống nhất diễn ra các cảnh khiếp hãi, bò lê bò càng của tổng thống,thủ tớng, các quan khách, tớng tá… Đặc biệt” [2; 33; 34]

đ-Sài Gòn đang trong cuộc tranh cử tổng thống giữa các bên: Nguyễn VănThiệu, Nguyễn Cao Kỳ và luật s Trần Thanh Phát Các bên tranh cử chế giễulẫn nhau, bôi nhọ lẫn nhau, sĩ nhục nhau và báo chí d luận tha hồ bình phẩm

Trong lúc đó, nhân dân ta thực hiện chiến dịch vờn không nhà trống,nấp vào trong núi, ẩn vào hàng ngũ địch để đánh bại kẻ thù, làm cho quân

định hoảng sợ Chúng không thấy việt cộng cầm súng mà máy bay của chúng

cứ rơi, ngời của chúng cứ chết Chiến tranh ở đây, ở Việt Nam này Mỹ đánhai? Kẻ thù thế nào? chiến tranh ở đâu?

ở vùng Bến Súc, Củ Chi đợc gọi là vùng việt cộng ở đó có những em

bé những bà mẹ đấu tranh chính trị gọi là đội quân tóc dài (Má Ba, Má Hai)những cô gái hoạt động trong các quán bar để đánh giặc (Ba Thới) những cán

bộ cách mạng nh cậu Sáu hoạt động trà trộn vào giữa những ngời dân bình ờng Vậy mà bọn Mỹ không thể tìm ra, không thể thấy một việt cộng nào cầmsúng trong khi máy bay của chúng cứ rơi, cuộc hành quân của chúng cứ thualàm cho chúng hoang mang lo sợ Chúng bấn loạn và bắn giết cả những côntrùng cây cỏ, cái chết của chúng thì vô nghĩa, chúng bỏ xác đau đớn, nhục nhã

th-và hoảng loạn trên chiến trờng Việt Nam Chúng hổn hoảng th-và rút ra một kếtluận: “When I Shall die shall go to the paradise be cau se on this carth I havelivead in hell Viet Nam” (Khi tôi chết tôi sẽ đợc lên thiên đàng vì trên trái đấtnày tôi đã qua địa ngục ở Việt Nam ) [2;148]

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w