1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của g môpatxang

57 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của G. Môpatxăng
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 216,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn, trong tác phẩm của mình, đã khắc họa hai khônggian mà ở đó những dồn nén của cuộc sống không bình yên sẽ dẫn đến sự vachạm, bùng nổ của những nhân cách, và của niềm tin, sự hy v

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Hơn một trăm năm đã trôi qua kể từ khi G.Môpatxăng (Guy deMaupassant, 1850 - 1893) qua đời, nụ cời sôi nổi và yêu đời đã vĩnh viễn tắt lặngbên nghĩa trang Môngpácnax lạnh lùng Đất đòi lại ông, nhng thời gian và sựquên lãng không xoá nhoà tên tuổi ông - Một nhà văn hiện thực lỗi lạc cuối thế kỷXIX, không những của riêng nớc Pháp mà của cả thế giới

G.Môpatxăng là một cây bút tài hoa, một tài năng toàn diện ở nhiều thể loại(thơ, kí, tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn) - Trong đó, truyện ngắn là thể loại manglại vinh quang rực rỡ cho ông Nhà văn đã xây dựng đợc những truyện ngắn hiện

thực mẫu mực, "có thể đã đợc coi là cổ điển về nghệ thuật thể loại" [24;121].

Nhiều tác giả danh tiếng đơng thời đã thừa nhận điều này: A.Frăngxơ coi

G.Môpatxăng là "một trong những ngời kể chuyện giỏi nhất cái xứ sở xa nay

truyện kể rất nhiều và rất hay" [20;425] E Dôla cho rằng, với truyện ngắn "Viên

mỡ bò", G.Môpatxăng đã "tự xếp mình vào hàng bậc thầy truyện ngắn", còn

A Sêkhốp thì thấy truyện của G.Môpatxăng đặt ra những yêu cầu to lớn tới mức

"không thể viết theo lối cũ đợc nữa" [20;426] Quả thật, đọc G.Môpatxăng "ta

khóc, ta cời và ta suy nghĩ"

Điều này đã thôi thúc chúng tôi bớc vào tìm hiểu, khám phá truyện ngắn

của nhà văn - một "mảnh đất" hứa hẹn nhiều sự thú vị, độc đáo.

1.2 Ngày nay, có thể nói thi pháp học đã bén rễ vào mảnh đất nghiên cứu,phê bình văn học Việt Nam Đi sâu vào các vấn đề thi pháp là rất cần thiết đểnâng cao trình độ chung của nghiên cứu văn học và hoàn thiện môn phê bình vănhọc - Bởi nghiên cứu thi pháp chính là đi tìm một cách tiếp cận mới để khám phá

sự phong phú, đa dạng và hấp dẫn của văn học Đối với bộ môn Văn ở trờng phổthông, nó giúp học sinh biết đi từ cảm nhận hình thức để nắm đợc nội dung, tránh

đợc cách hiểu chủ quan, suy diễn, hoặc cách phân tích xã hội học tầm thờng, xalạ với bản chất thẩm mỹ của văn học

Không gian nghệ thuật là một phơng diện quan trọng của thi pháp học Nó

là phơng tiện để tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật của mình (tác phẩm) Nó

cũng là "cánh cửa" để qua đó ngời học hiểu hình tợng và t tởng đợc tác giả gửi

gắm vào tác phẩm Trong truyện G.Môpatxăng, theo cảm nhận ban đầu củachúng tôi, không gian là một trong những yếu tố nghệ thuật nổi bật, góp phầnbiểu hiện và tạo nên chiều sâu của hình tợng, nội dung

Trang 2

Đây cũng là lý do để chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài này.1.3 G.Môpatxăng là một trong những tác giả giới thiệu vào Việt Nam khásớm, đợc đa vào chơng trình phổ thông và Đại học Tuy nhiên, trên thực tế cả ngờidạy và ngời học đều gặp không ít khó khăn : T liệu hiếm hoi, các bài viết, côngtrình nghiên cứu về nhà văn chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, đặc biệt cha có mộttài liệu, công trình nghiên cứu nào về thi pháp đợc công bố, lu hành Vì lẽ đó,chúng tôi đi vào đề tài này với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tháo gỡnhững khó khăn ấy.

Tóm lại, chúng tôi chọn đề tài này vì nó vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ýnghĩa thực tiễn và sẽ tạo những thuận lợi cho công tác giảng dạy văn học củachúng tôi sau này ở trờng phổ thông

1.4 Mặt khác, đối với chúng tôi, G.Môpatxăng nói chung và không giannghệ thuật trong truyện ngắn của ông nói riêng là một niềm say mê lớn Qua một

đóng góp nhỏ, chúng tôi mong muốn bày tỏ tấm lòng thành kính và khâm phục

đối với một bậc thầy văn chơng mà chúng tôi hằng yêu quý

2.2 Trong điều kiện cho phép, chúng tôi chỉ có thể tiếp xúc với những bàinghiên cứu về G.Môpatxăng trong thời gian vài chục năm trở lại đây, bằng Tiếng Việt

Đầu tiên là những cuốn giáo trình Đại học Trong cuốn giáo trình "Văn học

phơng Tây" (NXB Văn học, 2000), G.Môpatxăng đợc giới thiệu nh một đại biểu

xuất sắc của văn học Pháp thế kỷ XIX Tuy nhiên, do tính chất của giáo trình nênngời viết mới chỉ giới thiệu những nét chung nhất, khái quát nhất về cuộc đời và

sự nghiệp của nhà văn chứ cha có điều kiện đi sâu tìm hiểu nghệ thuật truyệnngắn của ông

Trong những cuốn giáo trình khác , đáng chú ý là hai cuốn : "Lịch sử văn

học Pháp thế kỷ XIX", tập 4 (Lê Hồng Sâm chủ biên - NXB Ngoại văn, 1990) và

cuốn "Văn học lãng mạn và hiện thực phơng Tây thế kỷ XIX" (Lê Hồng Sâm,

Đặng Thị Hạnh - NXB Đại học trung học chuyên nghiệp, 1981) ở hai cuốn này,tác giả đã bớc đầu đề cập đến nghệ thuật truyện ngắn G.Môpatxăng ở các phơngdiện: Ngôn ngữ, cốt truyện, cách xây dựng nhân vật, cách kể, giọng điệu, điểm

nhìn Và đã có những nhận định rất tinh tế, sắc sảo nh: "Ông chú ý khai thác

Trang 3

những tình huống căng thẳng , những khủng hoảng vũ bão làm dấy lên những nét tính cách phức tạp, tiềm ẩn trong nhân vật " [42;442] "kết cấu tác phẩm thực

sự khéo léo, kín đáo với vẻ ngoài hết sức tự nhiên" [41;322] Nhng nhìn chung,

đó mới chỉ là vấn đề khái quát, còn dới góc độ thi pháp học nói chung, không giannghệ thuật nói riêng, tác giả cha đề cập đến

Ngoài những cuốn giáo trình Đại học, có thể kể đến một số bài nghiên cứuriêng về G.Môpatxăng, nhng số lợng những bài nghiên cứu này cũng rất hiếmhoi Qua theo dõi tạp chí chuyên ngành, chúng tôi thấy bài viết của tác giả Đào

Duy Hiệp đăng trên tạp chí "Văn học nớc ngoài", số 4/2000 nhân kỷ niệm 150

năm ngày sinh của G.Môpatxăng là đáng lu ý nhất ở bài viết này, tác giả ĐàoDuy Hiệp đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn G.Môpatxăng Tuycha hề đề cập đến không gian nghệ thuật nhng tác giả đã nhận ra và khẳng định

là có một thế giới rùng rợn, ma quái trong truyện ngắn G.Môpatxăng giai đoạn

cuối đời: "Một bầu không khí lo âu, trĩu nặng, u ám gần nh rùng rợn cứ dai dẳng

bám theo từng con chữ" [24;128] Nhng tác giả Đào Duy Hiệp cũng chỉ mới

chừng lại ở mức "nhận định", cha đi sâu tìm hiểu, khảo sát theo góc độ thi pháp học.

Trong cuốn "Tuyển tập truyện ngắn Pháp thế kỷ XIX" (tập 2), tác giả Lê

Hồng Sâm đã bớc đầu đề cập, gợi mở các vấn đề thi pháp truyện ngắnG.Môpatxăng Tác giả đã trình bày một cách khái quát về giọng điệu, không gian,thời gian , tình huống truyện, cách mở đầu, kết thúc Đặc biệt là phần giới thiệu

về không gian trong truyện ngắn của nhà văn Tác giả khẳng định: "Nổi bật trong

truyện ngắn, cũng nh tiểu thuyết G.Môpatxăng là một thiên nhiên sống, cảm thông hoặc thờ ơ với con ngời, một thiên nhiên gắn với nhân vật, nói lên tính cách, tâm trạng nhân vật, còn nói lên sự cảm thụ thế giới của tác giả" [43;47] Nhng ở đây

tác giả Lê Hồng Sâm cũng mới dừng lại ở mức giới thiệu khái quát một phần củakhông gian nghệ thuật truyện ngắn G.Môpatxăng, đó là thiên nhiên trong tácphẩm của ông

2.3 Tóm lại, tất cả các tài liệu nghiên cứu về G.Môpatxăng bằng tiếngViệt mà chúng tôi đợc biết, cho đến nay vẫn cha có tài liệu nào tập trung nghiêncứu thi pháp truyện ngắn Và không gian nghệ thuật của truyện ngắnG.Môpatxăng vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ

Tại sao lại bỏ ngỏ ? - Khi mà G.Môpatxăng là một trong những tác giả đợcgiới thiệu vào Việt Nam khá sớm, một trong những tác giả có tần số tác phẩmxuất hiện trong các tuyển tập, các sách chọn lọc truyện ngắn nhiều nhất ở ViệtNam, là một bậc thầy truyện ngắn đợc nhiều độc giả mến mộ, quan tâm Vậy có

Trang 4

phải do không gian nghệ thuật trong truyện ngắn G.Môpatxăng không có gì đángnói ? Hay vì nó là một vấn đề quá khó khăn ? Hay còn vì một lý do nào khác ?

Thực ra, nh chúng tôi đã khẳng định, không gian nghệ thuật trong truyệnngắn G.Môpatxăng là một vấn đề đáng đợc để ý Nhng nó vẫn còn bị bỏ ngỏ vìnhiều lý do khác nhau Trớc hết nh chúng ta thấy, không chỉ không gian nghệthuật mà các đề tài nghiên cứu khác về G.Môpatxăng cũng rất hiếm hoi mà rõràng đâu có phải vì G.Môpatxăng không có gì đáng quan tâm, nghiên cứu Nhìnsâu vào vấn đề, ta thấy các nhà văn khác nh Stăngđan, G.Flôbe, A Đôđê, E Dôla

đều cha đợc nghiên cứu sâu Điều này có thể đ ợc giải thích

là do bộ môn nghiên cứu văn học nớc ngoài có điểm khác so với một số chuyênngành khác Nó có khó khăn nhất định về t liệu, về ngoại ngữ, nhất là về đội ngũnghiên cứu Tuy nhiên, đây chỉ là vấn đề thời gian mà thôi Chúng tôi tin rằngtrong tơng lai, khi bộ môn Văn học phơng Tây có một đội ngũ đông đảo, có chấtlợng thì những khó khăn trên sẽ đợc giải quyết - Và khi nền văn học Việt Nam

đang ngày một phát triển thể loại truyện ngắn và truyện cực ngắn thì vấn đề thi

pháp truyện ngắn G Môpatxăng chắc chắn sẽ là "miền đất hứa" của rất nhiều

ng-ời yêu văn học và yêu G.Môpatxăng

Chúng tôi, trong đề tài của mình, luôn ý thức đợc những khó khăn và thửthách Vấn đề không gian nghệ thuật của tác phẩm văn học không phải là một vấn

đề quá mới mẻ Chúng tôi đã tìm hiểu qua một số công trình nghiên cứu thi pháphọc nh : Không gian nghệ thuật trong tục ngữ, ca dao; không gian nghệ thuậttrong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích; không gian nghệ thuật trong "TruyệnKiều", trong thơ Tố Hữu, trong thơ Đờng, trong truyện ngắn trào phúng NguyễnCông Hoan Tuy nhiên, nh đã trình bày, không gian nghệ thuật trong truyện ngắnG.Môpatxăng lại là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ Vì vậy, những ý kiến của cáctác giả Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu, Đào Duy Hiệp tuy ch atrực tiếp bàn đến thi pháp không gian truyện ngắn của ông nhng cũng rất quý báu

đối với chúng tôi, nó đã có tính chất định hớng, gợi mở, là cơ sở để chúng tôimạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài này

Hy vọng trong thời gian tới, vấn đề thi pháp truyện ngắn G.Môpatxăng nóichung và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của ông nói riêng, sẽ tiếp tục

đợc quan tâm, nghiên cứu ở mức độ cao hơn, với quy mô lớn hơn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích: Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của chúng tôi trong đề

tài này không phải là những nghiên cứu chung về nghệ thuật mà đi sâu vào mộtphơng diện của thi pháp học: Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn

Trang 5

G.Môpatxăng Rồi từ hình thức nghệ thuật ấy mà hiểu đợc quan điểm về thế giới,

về con ngời của nhà văn Hay nói cách khác, chúng ta có thể thấy rõ

"điểm nhìn" của G.Môpatxăng đối với cuộc đời, đối với con ngời thông qua một

"tín hiệu nghệ thuật" quan trọng là không gian.

3.2 Nhiệm vụ: Để đạt đợc mục đích đó, đề tài cần phải giải quyết những

nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khảo sát cụ thể 60 truyện ngắn, khái quát hoá, định danh đợc cácdạng thức, kiểu loại không gian trong truyện ngắn G.Môpatxăng

Thứ hai , giải thích và chứng minh bằng các sáng tác cụ thể Đồng thời làm

rõ những đặc sắc nghệ thuật để biểu hiện từng loại không gian

Thứ ba , qua không gian nghệ thuật trong truyện ngắn G.Môpatxăng phảikhẳng định và làm rõ thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn là nh thế nào Nóimột cách khác, chúng ta sẽ hiểu gì, biết gì thêm về ông và về những điều ông gửigắm

4 Đối tợng và phạm vi khảo sát.

4.1 Đối tợng : G.Môpatxăng sáng tác nhiều và toàn diện ở tất cả các thể

loại (tiểu thuyết, kịch, thơ, ký, truyện ngắn) Nhng trong phạm vi đề tài này,chúng tôi chủ yếu nghiên cứu, khảo sát thể loại truyện ngắn Trong truyện ngắncủa ông, chúng tôi chỉ khảo sát một phơng diện của thi pháp học: Không giannghệ thuật

4.2 Phạm vi : G.Môpatxăng có trên 300 truyện ngắn Nhng do hạn chế về

t liệu, ngoại ngữ và trong phạm vi một đề tài khoá luận, chúng tôi chỉ tập trungkhảo sát 5 tập truyện ngắn của ông đợc dịch và giới thiệu ở Việt Nam :

- Tuyển tập truyện ngắn Pháp thế kỷ XIX, tập 2, NXB Giáo dục , 1987

- Dới ánh trăng, NXB Văn hoá thông tin Lâm Đồng, 1986

- Tập truyện ngắn hay G.Môpatxăng, NXB Hội nhà văn , 2000

- Tập truyện ngắn hay G.Môpatxăng, NXB Văn hoá thông tin , 2000

- Tuyển truyện G.Môpatxăng, NXB Văn học , 2001

Và một số truyện do Đào Duy Hiệp dịch trong tạp chí "Văn học nớc

ngoài", số 4/2000 Cụ thể hơn, chúng tôi tiến hành khảo sát nghiên cứu kỹ 60

truyện ngắn tiêu biểu trong các tập truyện trên

5 Phơng pháp nghiên cứu.

Trang 6

Để thực hiện đề tài này ngoài việc sử dụng các phơng pháp nghiên cứutruyền thống, chúng tôi mạnh dạn đi vào sử dụng các phơng pháp nghiên cứu theohớng tiếp cận của thi pháp học nh:

5.1 Phơng pháp khảo sát cụ thể: Tiến hành khảo sát 60 truyện ngắn của

nhà văn , ngoài ra khảo sát thêm một số tác phẩm có liên quan

5.2.Phơng pháp thống kê: Làm nhiệm vụ thống kê lại sau khi đã khảo sát

kỹ để có thể rút ra kết luận một cách có căn cứ

5.3 Phơng pháp so sánh - đối chiếu: So sánh với truyện ngắn của một số

nhà văn khác để có thể rút ra đặc trng không gian nghệ thuật của truyện ngắnG.Môpatxăng

6 Giới thuyết khái niệm.

6.1 Theo cách hiểu thông thờng hiện nay trên thế giới, thi pháp là hớng tiếpcận, tức là nghiên cứu phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện đểtìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện, hoặc chìm ẩn của tác phẩm : ý nghĩa mĩ học, ýnghĩa triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học

Cấp độ nghiên cứu thi pháp học là các hình thức nghệ thuật (nh kết cấu, âm

điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp ) yêu cầu đọc tác phẩm

nh một chỉnh thể , ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thànhmột hệ thống, để biểu đạt t tởng, tình cảm, t duy, nhân sinh quan tức là cái Đẹpcủa thế giới, của con ngời

6.2 Không gian nghệ thuật là một phơng diện quan trọng của thi pháp họchiện đại Nó là phơng tiện để tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, đồng

thời cũng là "cánh cửa" để qua đó ngời học hiểu hình tợng và t tởng đợc tác giả

gửi gắm vào trong tác phẩm

Cũng nh thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tạicủa thế giới nghệ thuật Không hình tợng nghệ thuật nào không có không gian,không có nhân vật nào không có nền cảnh tồn tại nào đó Bản thân ngời kểchuyện hay nhà thơ trữ tình cũng nhìn sự vật trong một khoảng cách, góc nhìn

nhất định Ví dụ:

"Gió lùa qua gác xép

Đời tàn trong ngõ hẹp".

(Vũ Hoàng Chơng)

Đây là không gian tồn tại chủ quan của cái Tôi trữ tình - Cái không gianchật hẹp, bức bối, bế tắc đến tàn rữa, mòn rỉ mà con ngời cảm thấy đợc Đó làkhông gian của những nỗi cô đơn, không gian tù đọng, bế tắc của một cái Tôi chủquan mất phơng hớng, mất lẽ sống niềm tin ở cuộc đời

Trang 7

Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của ngòi nghệ sĩ nhằm biểu

hiện con ngời và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống "Không gian

nghệ thuật gắn với sự cảm thụ không gian nên mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tởng" [ 40;135] Vì vậy ta không thể quy về

không gian địa lý hay vật chất đợc Trong tác phẩm, ta thờng bắt gặp sự miêu tảcon đờng, căn nhà, dòng sông Nhng bản thân các sự vật cha phải là không giannghệ thuật Chúng chỉ đợc xem là không gian nghệ thuật trong chừng mực biểu

hiện mô hình thế giới Ví dụ: "Đèo Ngang" là một địa danh thuộc phơng diện địa

lý Nhng trong bài "Qua đèo Ngang" (Bà huyện Thanh Quan), "Đèo Ngang" lại là

không gian nghệ thuật của tác phẩm, bởi vì nó thể hiện sự phân giới giữa triều đại

cũ - mới, là nơi tận cùng xứ này và bắt đầu xứ khác, mà bớc qua đó có một ýnghĩa đạo đức, chính trị quan trọng đối với con ngời

Không gian nghệ thuật thể hiện quan niệm về trật tự mô hình thế giới và sự

lựa chọn của con ngời Trong bài thơ "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên

chi Quảng Lăng" của Lý Bạch, không gian chia làm hai tiểu không gian đối lập:

Lầu Hoàng Hạc huyền thoại, sạch trong, không lấm bụi trần là sự lựa chọn của LýBạch và Dơng Châu phồn hoa đô hội là sự lựa chọn đờng đi của Mạch Hạo Nhiên

ở đây không chỉ là sự tiễn đa của hai ngời bạn tri âm mà còn là sự tiễn đa của haivùng không gian đối lập có âm vang của thời đại vọng vào Trong truyện ngắn

"Đôi mắt" của Nam Cao cũng có sự đối lập giữa hai tiểu không gian: Nhà anh

Hoàng khép kín, có chó dữ giữ nhà, là nơi náu mình của con ngời quay

lng với kháng chiến rút vào cuộc sống riêng t Bên ngoài ngôi nhà ấy mọi ngờihăng hái tham gia kháng chiến

Mô hình thế giới đợc tạo thành bởi các cặp phạm trù tơng quan: "ở đây

-ở kia", "xã hội - thiên nhiên", "ngục tù - nơi tự do", "cõi tiên - cõi trần", "quê nhà

- tha hơng " Mỗi không gian có tính chất và quy luật riêng của nó Ví dụ: Không

gian ngục tù thì ngột ngạt, phong bế - nơi tự do thì thoáng đãng, rộng rãi, thoảimái ; không gian quê nhà thì êm ấm , an toàn - không gian tha hơng thì xa lạ,lạnh lẽo, nguy hiểm

ứng với các kiểu không gian ấy có những kiểu nhân vật khác nhau: Khônggian cõi trần thì có loại nhân vật phàm tục, đời thờng, gần gũi ; không gian cõitiên thì có loại nhân vật thanh cao, thoát tục ; Không gian tù đọng tạo ra nhữngnhân vật sống kiếp rỉ mòn; không gian chật chội thờng tạo ra những nhân vật nhỏnhen v.v

Trang 8

Không gian nghệ thuật tơng quan chặt chẽ với thời gian Khi nhà văn ngừnglại miêu tả , khắc họa không gian thì thời gian bị hãm lại hay bị triệt tiêu Đó làthủ pháp không gian hoá thời gian.

Nh vậy, không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của

tác phẩm văn học , mà cho thấy "quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác

giả hay của một giai đoạn văn học" [40;135] Nó cung cấp cơ sở khách quan để

khám phá tính độc đáo , cũng nh nghiên cứu loại hình các hiện tợng nghệ thuật

Theo đó, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn G.Môpatxăng là hìnhthức tồn tại chủ quan của hình tợng nghệ thuật Nó mang đậm tính biểu trng, tínhquan niệm của bản thân nhà văn Nó quan hệ mật thiết, chặt chẽ với "điểm nhìn"của G.Môpatxăng đối với cuộc đời và con ngời Trong khuôn khổ một khoá luậntốt nghiệp, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, nghiên cứu và phân loại không giantrong truyện ngắn G.Môpatxăng, qua đó làm rõ quan niệm về thế giới và chiềusâu cảm thụ cuộc sống của tác giả theo đúng phơng pháp nghiên cứu của bộ mônthi pháp học

7 Cấu trúc khoá luận.

Ngoài "mở đầu" và "kết luận", nội dung chính của khoá luận đợc triển

khai trong 3 chơng:

Chơng 1: Không gian của những va chạm, bùng nổ.

Chơng 2: Không gian tù đọng, bế tắc.

Chơng 3: Không gian thiên nhiên.

Cuối cùng là th mục tài liệu tham khảo

Trang 9

Chơng 1

Không gian của những va chạm, bùng nổ

Không gian là hình thức tồn tại của sự sống con ngời, gắn liền với ý niệm

về giá trị và sự cảm nhận về giới hạn giá trị của con ngời Trong môi trờng "khí

quyển" đó, con ngời chịu những va đập của cuộc sống và tự bộc lộ mình cũng nh

tự nhận thức về bản thân mình Trong nhiều tác phẩm, G.Môpatxăng chú ý xâydựng những không gian có những sự dồn nén cao độ mà ở đó, khi có va chạmgiữa những nhân cách sẽ dẫn đến sự bùng nổ hoặc làm tan vỡ hoặc làm ngời sángnhững nhân cách đó Nhà văn, trong tác phẩm của mình, đã khắc họa hai khônggian mà ở đó những dồn nén của cuộc sống không bình yên sẽ dẫn đến sự vachạm, bùng nổ của những nhân cách, và của niềm tin, sự hy vọng, nỗi thất vọng

trong chính bản thân G.Môpatxăng: Đó là hậu phơng chiến tranh - Nơi diễn ra

những cuộc chiến thầm lặng, nơi có sự va chạm của những kẻ cớp nớc và nhữngngời dân yêu nớc, nơi đó niềm tin đợc thắp sáng từ những con ngời nhỏ bé, vô

danh; Đó là xã hội thợng lu - Nơi gặp gỡ của những điều giả dối, nơi có những

bùng nổ làm tan vỡ nhân cách, nơi đó niềm tin bị dập tắt, chỉ còn lại tiếng thở dàibuồn đến xót xa của G.Môpatxăng Xây dựng hai không gian này, G.Môpatxăng

đồng thời cho thấy "điểm nhìn" của nhà văn đối với cuộc chiến tranh Pháp - Phổ

1870, đối với chế độ xã hội và đối với con ngời

1.1 Nơi diễn ra những cuộc chiến thầm lặng

Trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ 1870, G.Môpatxăng gia nhập s đoànpháo binh số 21 nhng không trực tiếp tham gia chiến đấu Tuy nhiên, nó có ýnghĩa đáng kể trong sự hình thành thế giới quan của nhà văn - Những điều chứngkiến : Quân đội Pháp thất bại nhục nhã, Pari bị vây hãm, các thành phố bị chiếm

đóng, bọn cầm quyền thờ ơ trớc vận mệnh đau thơng của đất nớc đã gây phẫn

nộ trong G.Môpatxăng cũng nh trong bộ phận trí thức tiên tiến Pháp Tình trạng

sa đọa của các giai cấp thống trị mà ông nhận thức rõ đã phá vỡ ảo tởng, tạo cơ sởcho thái độ hoài nghi, bi quan Mặt khác, cuộc chiến đấu của nhân dân

Trang 10

Pháp lại góp phần làm chuyển biến t tởng, tình cảm của nhà văn đối với ngời lao động, giúp ông sau này vợt qua ảnh hởng chủ nghĩa tự nhiên khi miêu tả hìnhtợng quần chúng và xây dựng đợc những anh hùng nhân dân giản dị mà cao cả.

Nhận thức này đã đợc G.Môpatxăng thể hiện trong các tác phẩm văn họcsau đó một cách sâu sắc nhất bằng việc xây dựng, khắc họa một hậu phơng chiếntranh với những ngời dân lao động yêu nớc, dũng cảm, chiến đấu anh hùng -Nơi không có những đoàn quân rầm rập, ngựa hí, súng nổ, bụi tung nhng vẫn

có sự bùng nổ của máu, của nớc mắt, của những tâm hồn

1.1.1 Hậu phơng chiến tranh - những dồn nén, va chạm

Mảng đề tài về chiến tranh là mảng đề tài mang lại vinh quang choG.Môpatxăng, bởi vì số truyện viết về chiến tranh chiếm phần nhiều trong các tácphẩm của ông và những truyện ngắn vào loại hay nhất cũng đa số nằm ở đề tàinày Trong hơn 60 truyện chúng tôi khảo sát, nghiên cứu có 13 truyện viết về đề

tài chiến tranh (chiếm 21%) Đặc sắc nhất phải kể đến các truyện: "Viên mỡ bò",

"Cô FiFi", "Mụ Xôva" "Ông cụ Mi lông", "Đôi bạn", "Một cuộc quyết đấu"

Viết nhiều về đề tài chiến tranh nhng khác với nhiều nhà văn ở thế kỷ XIX

nh L.Tônxtôi, Sôlôkhốp - G.Môpatxăng không chú trọng xây dựng không gianchiến trận với cảm giác hoành tráng của những gơm giáo, súng ống, ngời, ngựa,những tiếng hô xung trận, những tiếng kêu gào đau đớn mà nhà văn đã tái hiệnlại một hậu phơng chiến tranh với những không gian hết sức bình thờng, quenthuộc nhng chứa đựng nhiều dồn nén của lòng căm thù, của tình yêu Tổ quốc từnhững ngời dân lao động nớc Pháp

Bởi vậy, khi đọc truyện G.Môpatxăng viết về đề tài chiến tranh ta không hề

có cảm giác hoành tráng, rợn ngợp của chiến trờng Auteclic, Bôrôđinô trong

"Chiến tranh hoà bình" của L.Tônxtôi, không hề có cảm giác sục sôi đến tàn bạo, dã man của chiến trờng Sông Đông trong "Sông Đông êm đềm" của

Sôlôkhốp, không hề có cảm giác hùng tráng mà chân thực của chiến trận Oatéclô

trong "Tu viện thành Pácmơ" của Stăngđan Nhng, nơi những thành phố tan

hoang vì chiến tranh, nơi những ngoại ô, những xóm làng "lạnh lẽo, thê lơng"

vì quân giặc giày xéo; nơi những gian nhà nhỏ cô độc, u buồn vì những ngời mẹmất con, những ngời con mất cha, những ngời vợ mất chồng Nơi ấy, ngày ngày,giờ giờ vẫn luôn tiềm tàng trong nó những sục sôi, những dồn nén căm thù củangời dân lao động - những ông già, bà già, những cô gái điếm Nơi ấy, họ ngãxuống với lòng tự hào dân tộc, với tình yêu Tổ quốc, tình yêu quê hơng Họ ngã

Trang 11

xuống giản dị, thanh thản nh một ngời bình thờng, vĩ đại cao cả nh một anh hùngdân tộc.

Có thể giải thích cho việc G.Môpatxăng không xây dựng không gian chiếntrận mà lại tập trung khắc họa không gian phía sau trận mạc, không gian hậu ph-

ơng là do nhà văn không trực tiếp tham gia một trận chiến nào của cuộc chiến

tranh Pháp - Phổ 1870; là do loại đề tài phù hợp với truyện ngắn là "đề tài nhỏ

bé" (không đa ra những vấn đề mới, trọng đại của xã hội nh cách mạng và phản

cách mạng ) ; là do dung lợng cho phép của thể loại truyện ngắn đã không chophép nhà văn dựng lên một không gian quá rộng lớn, hoành tráng, chi phối đếnnhiều nhân vật, nhiều tính cách - Nhng có thể nói, lý do xác đáng nhất là vìG.Môpatxăng luôn muốn tìm và cố tìm trong cuộc sống những điều giản dị, bình

thờng, "cố phát hiện ra vẻ gì cha ai thấy và cha ai nói" nhng lại chứa đựng ý nghĩa lớn lao của cuộc sống, vì theo ông "những cái tầm thờng nhất cũng chứa

đựng một cái gì lạ lùng" Ông muốn cho thấy, không cần phải có hoàn cảnh lớn

mới tạo ra đột biến lớn mà trong hoàn cảnh bình thờng nhất, con ngời vẫn có thểhoặc làm đợc những điều lớn lao nhất, hoặc có thể mất đi những gì quan trọngnhất của mình

Vì thế, hậu phơng chiến tranh mà G.Môpatxăng khắc họa trong truyện ngắncủa mình là những không gian hết sức bình thờng, quen thuộc nh không gian làngquê, không gian thành phố, không gian các trại chiếm đóng của quân Phổ Vớinhững nét vẽ rõ ràng, cụ thể mà giàu sức gợi, nhà văn cho ta thấy một không gian

hẹp, thờng là hẹp, và không có gì là xa lạ cả: Có khi đó là "ngoại ô Coócmay nơi

quân Phổ tiến vào" (Mụ điên), có khi đó là một "ngôi nhà của kiểm

lâm", nằm sâu trong rừng núi với những con ngời đẹp khoẻ khoắn (Những

tên tù binh), hay "ngôi nhà cheo leo, xa tít hàng xóm, tận bìa rừng" (Mụ Xôva);

có khi là nơi ranh giới của chiến tuyến Pháp - Phổ, cũng là ranh giới của sựsống - cái chết, ranh giới giữa khát vọng sống và ý thức hy sinh cho Tổ quốc,ranh giới mong manh của sự phản bội và lòng trung kiên dành cho đôi bạn đi câu

Môritxô và Xôva (Đôi bạn); Có khi đó là "căn phòng bị huỷ hoại, tối sầm lại vì

ma men, rầu rĩ vì quang cảnh chiến bại, căn phòng mà sàn gỗ sồi đã trở nên nhớp

nhúa vì rợu" (Cô FiFi); Có khi lại là không gian trong một quán trọ (Viên mỡ bò)

hay trong một chuyến tàu (Một cuộc quyết đấu)

Trong những không gian hết sức bình thờng đó, những dồn nén âm ỉ mà sụcsôi của mối quan hệ giữa nớc Pháp và quân xâm lợc, giữa những ngời yêu nớc vànhững tên cớp nớc, có dịp bùng nổ khi có sự va chạm, đụng độ của hai bên: MụXôva, ông cụ Milông với những kẻ đã giết con cháu mình; cô gái điếm Raken và

Trang 12

tên giặc ngông cuồng nhạo báng Tổ quốc cô; Viên mỡ bò và tên sĩ quan Phổ gớmghiếc; Đôi bạn đi câu Môritxô và Xôva rơi vào tay quân địch; Ông Đuybuy đối

đầu với tên lính Phổ hợm hĩnh trong hoàn cảnh nớc Pháp đã bị nớc Phổ chiếm

đóng

Tất cả những va chạm đó đều rất quyết liệt, quyết liệt không thua gì nhữngtrận chiến ở chiến trờng, cho dù đây chỉ là những cuộc chiến đấu thầm lặng G.Môpatxăng đã thắp sáng niềm tin về ngời dân lao động ngay trong những biến cố,những hoàn cảnh rất đỗi bình thờng này - Đó là niềm tin về sự bừng sáng củanhững tâm hồn, những nhân cách đẹp

1.1.2 Và niềm tin đợc thắp sáng từ những ngời lao động.

Không gian nghệ thuật bao giờ cũng chi phối hệ thống nhân vật và chịu sựchi phối của hệ thống nhân vật ứng với mỗi không gian sẽ có một nhân vật phùhợp với nó Ví dụ trong thơ Đờng, gắn với không gian vũ trụ là con ngời vũ trụ;trong thần thoại, gắn với không gian thần thoại là con ngời thần linh Trongtruyện ngắn G Môpatxăng, khi viết về đề tài chiến tranh, không chú trọng táihiện không gian chiến trận mà chủ yếu là khắc họa không gian nơi hậu phơng,

nơi tạm chiếm của quân Phổ trên đất Pháp - nhà văn đã không xây dựng hình

ảnh những ngời lính, những vị anh hùng trận mạc mà lại đặc biệt xây dựng hình

ảnh con ngời lao động bình thờng, bình dị: những ngời nông dân, những cụ già,

những cô gái điếm Qua đó thể hiện "điểm nhìn " mới mẻ của mình đối với ngời

lao động trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp thợng lu vị kỷ, hèn nhát Từ

"điểm nhìn" đó, niềm tin của G Môpatxăng đối với nhân dân, đối với cuộc đời

đ-ợc thắp sáng

Có thể thấy trong một không gian hết sức bình thờng, khi va chạm với

những biến cố đặc biệt, những con ngời "nhỏ bé", chìm ngập trong u mê, trong

cái dung tục mờ xám của cuộc sống hằng ngày đột nhiên toả ra sức mạnh tinhthần mà chính họ và những ngời xung quanh không bao giờ ngờ tới: Mụ Xôva

châm lửa đốt nhà mình trả thù cho đứa con bị chết trong chiến tranh(Mụ Xôva);

Ông cụ Milông âm thầm ra tay với mời hai tên giặc vì chúng giày xéo lên mảnh

đất thân yêu của ông, giết chết ba ngời con của ông (Ông cụ Milông); Cô sơn nữ

xinh xắn, khỏe khoắn, thông minh, yêu nớc đã tìm mu bắt đợc một toán lính giặc

(Những tên tù binh); Cô gái điếm Raken dám dùng con dao nhỏ lỡi bạc đâm vào

cổ tên lính đã nhạo báng Tổ quốc cô, bất chấp nguy hiểm khi xung quanh toàn là

kẻ thù (Cô FiFi); Viên mỡ bò không chịu nổi khi có mặt của quân Đức trong thành phố và "đã nhảy xổ ra bóp cổ tên lính đầu tiên vào nhà"(Viên mỡ bò); Đôi

bạn đi câu Môritxô và Xôva can trờng trớc cái chết chứ nhất quyết không hé răng

Trang 13

phản bội lại Tổ quốc mình (Đôi bạn); Ông Đuybuy không chịu nhục trớc tên

ngoại xâm, chấp nhận "một cuộc quyết đấu" bất lợi cho sự sống và tính mạng của

mình (Một cuộc quyết đấu) Tất cả bọn họ đã trở thành những hình tợng giản dị

mà cao cả: "Bùn dới sông vùi lấp những cuộc trả thù bí mật, tàn bạo và chính

đáng ấy, những hành động anh hùng không ai biết, những cuộc tấn công thầm lặng nguy hiểm hơn những trận chiến giữa thanh thiên bạch nhật và không có tiếng vang lừng lẫy" [5;29].

Từ sự miêu tả trịch thợng, khinh miệt những ngời nông dân "man rợ, thấm

mùi hôi thối súc vật, sống không bằng t duy mà bằng cảm xúc nửa ý thức",

đến việc miêu tả xây dựng ngời lao động chống ngoại xâm mà lòng yêu nớc, ýchí căm thù giặc, chiến công anh hùng xuất phát từ những suy nghĩ vừa thô sơ,

cụ thể vừa cao cả, anh hùng - đã cho thấy một chuyển biến t tởng nghệ thuật rất rõ

ở G.Môpatxăng Niềm tin của nhà văn đối với những ngời nông dân, những ngờitiểu t sản Pari, những ngời dới đáy xã hội đã tạo ra trong các tác phẩm một thứ

ánh sáng mới, lấp lánh, khác với rất nhiều tác phẩm bi quan, chán nản, đợm mộtmàu u ám, tối tăm của chính ông

Ngoài ra, xây dựng không gian của những va chạm chiến tranh,G.Môpatxăng đồng thời cũng đối lập lòng yêu nớc của ngời dân bình thờng với sựhèn nhát, vị kỷ của tầng lớp thợng lu mà ông căm ghét, phê phán quyết liệt Thái độcủa các tầng lớp xã hội khác nhau trớc biến cố chiến tranh biểu lộ rõ nét trong

truyện ngắn nổi tiếng "Viên mỡ bò" Hình ảnh quân đội Pháp bại trận đợc miêu tả

ngay từ đầu: "Tàn quân nối nhau kéo qua thành phố một đám hỗn loạn bớc đi

uể oải, lộn xộn" [5;23] Các tầng lớp thợng lu không cảm thấy gánh nặng của chiến

tranh, không có lấy một chút tinh thần dân tộc Ruăng bị chiếm đóng, họ chẳng hề

lo buồn về số phận Thành phố quê hơng, họ chỉ quan tâm đến tài sản Nhà t sảnCarê Lamađông kịp thời chuyển tiền sang Anh, nhà buôn rợu Loađô tìm cách báncả kho rợu cho ngời khác và hài lòng vì Nhà nớc phải trả cho mình một khoản tiền

lớn Trớc kẻ thù, "họ thầm chuẩn bị sẵn những lời lẽ khúm núm" [5;53] - Khẩn khoản nài ép Viên Mỡ bò nhợng bộ và khi đã thoát thân chúng hắt hủi cô nh "một

cái giẻ rách" Tất cả bọn chúng đều đạo đức giả, hèn nhát, vị kỷ và hết sức vô dụng.

Đối lập với chúng là cô gái điếm chân thật, có lòng tốt và có ý thức căm thùgiặc Viên Mỡ bò không chịu đợc sự có mặt của quân địch trong thành phố, cả ngày

cô "khóc vì tủi hổ" và phải bỏ đi vì đã "nhảy ra bóp cổ thằng lính đầu tiên vào

nhà" [5;47] Trên chuyến xe, đối diện với những gơng mặt đã nhìn mình một cách

khinh bỉ, cô vẫn tốt bụng, hào hiệp cho họ ăn cùng khi họ đói Khi ở quán trọ, cô

Trang 14

một mực dứt khoát từ chối, cự tuyệt cái đề nghị thô bỉ của tên sỹ quan Đức, cả với

Cocnuyđê, "cái liêm sỉ yêu nớc của cô gái điếm không chịu để ngời ta ân

ái bên quân thù đã thức tỉnh cái phẩm cách đang suy nhợc của y"[5;54] Đó là

những nhân cách đẹp mà G Môpatxăng thực sự ca ngợi, nâng niu Nhng ông chathể nhìn thấy ở nhân dân ngời sáng tạo lịch sử và thay đổi xã hội: Những ngời lao

động là nhân vật chính trong tác phẩm của ông vẫn là quần chúng đau khổ, chỉ cókhả năng đối lập với thế giới thợng lu bằng phẩm chất tâm hồn và đạo đức củamình Đây cũng chính là hạn chế mang tính chất thời đại trong t tởng của nhiều nhàvăn cùng thời với G Môpatxăng

Tuy nhiên, việc xây dựng đợc một không gian chiến tranh mà ở đó, nhữngcon ngời dới đáy xã hội, những ngời lao động bình dị là những ngời anh hùngnhân dân - họ ngã xuống mảnh đất thân yêu của họ, vì mảnh đất ấy và vì nhữngngời giống nh họ thực sự là một thành công, một điểm sáng lạ trong sự nghiệpsáng tác của G Môpatxăng

Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, bọn phát xít Đức chiếm đóng nớcPháp đã đốt tác phẩm của G Môpatxăng; những ngời cách mạng Pháp yêu mếnnhà văn, có Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp bị bắt làm tù binh xa đất nớc, đã khóc

khi đọc G Môpatxăng "vì G Môpatxăng cho tôi biết về Tổ quốc, về những ngời

đàn ông, đàn bà của Tổ quốc tôi" [42;461] Đây là vinh dự của riêng G.

Môpatxăng và của chung nớc Pháp

1.2 Nơi gặp gỡ của những điều giả dối.

Nhà văn G Môpatxăng đã từng nói rõ: Có hai con đờng nhà văn phải chọn,

hoặc "tạo một thế giới xinh tơi, ớc lệ" nh các nhà lãng mạn hay các tác giả biện hộ cho chế độ đơng thời, hoặc "lật những tấm màn đẹp đẽ và lơng thiện, nhận xét cái

có thực dới cái bề ngoài" [42;441] Ông đã chọn cách thứ hai và kế thừa

các nhà hiện thực tiền bối - O.Banzăc vạch trần thế lực "đồng trăm xu vạn năng"

và cơn sốt làm giàu trong thời quân chủ tháng Bảy, G.Flôbe phơi bày sự nguxuẩn và ti tiện của cuộc sống trởng giả thời đế chế II - Còn

G.Môpatxăng đả kích kịch liệt sự giả dối, sự suy tàn một cách nhanh chóng của

đạo đức con ngời trởng giả trong thời cầm quyền của các chính khách cơ hội luônmồm rêu rao các khẩu hiệu mị dân Sự phê phán của ông ở đây đợm sắc thái

u ám Có ngời xem G Môpatxăng là một kẻ ghét đời, ghét ngời, là nhà văn "bi

quan quyết liệt nhất trong văn học Pháp" [42;450] , bởi bên cạnh những trang viết

ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con ngời lao động nhng lại không có khả năng thay

Trang 15

đổi lịch sử hay làm trong sạch cuộc sống là rất nhiều tác phẩm viết về đời sống tẻnhạt, mòn mỏi vô nghĩa lý của những viên công chức, và nhất là có nhiều tácphẩm đã vạch trần bộ mặt dối trá, xấu xa của xã hội thợng lu, của con ngời trởnggiả (theo khảo sát của chúng tôi, trong 60 truyện có 13 truyện viết về điều này,chiếm 25%) Đó là nỗi nhức nhối thờng xuyên, niềm day dứt khôn nguôi của mộttâm hồn luôn yêu và yêu mãnh liệt cuộc sống, luôn khát khao và khát khao cháybỏng có xã hội của tình yêu thơng và sự tin tởng.

G Môpatxăng kinh tởm chốn ăn chơi đàng điếm, những chỗ tụ họp đôngngời của xã hội thợng lu - Theo ông, những nơi tụ họp ăn chơi, nơi sinh sống, tồntại của con ngời trởng giả chính là nơi gặp gỡ của những điều giả dối, không gian

đụng độ của các dục vọng thấp hèn, nơi bùng nổ làm tan vỡ những niềm tin

Nhà văn đã nhiều lần khẳng định: "Tôi xin nhắc lại rằng tôi là một con thú của

đồng nội bao la Có lẽ vì thế mà tôi bị dị ứng với mọi cuộc giao l u, với những nơi

tụ họp đông ngời, sự tầm thờng trong lời nói, những bộ áo quần loè loẹt, thái độ dối trá Một cuộc tụ họp đông ngời, đối với tôi là bỉ ổi, kinh tởm làm cho tôi phẫn nộ, nó bốc mùi ghê tởm, sự vui đùa cợt nhả của đám ngời làm tôi chán ngấy, các hoạt động của nó làm tôi buồn não nề Sự tởm lợm của tôi đối với xã hội loài ngời bùng nổ tại chính những nơi này, cổ họng tôi bị bóp nghẹt nh một toa tàu chợ, đối diện với những bộ mặt kỳ cục, vô vọng của những ngời ở bên cạnh"

[24;118] Trong thế giới đó, mọi "sinh vật" không thể cảm thông nhau, nếu không

phải là lợi dụng, hay để làm hại kẻ khác Tính gây hấn, chiến tranh, lòng ích kỷ,

sự dối trá lọc lừa, những dục vọng thấp hèn và cái chết ngự trị khắp nơi Do dựgiữa lòng khinh bạc chua cay và lòng trắc ẩn u buồn, tác giả khớc từ mọikhẳng định đức lý

G Môpatxăng nhìn thấy ở đó một không gian tối tăm, mục rữa và sa đọa vềnhân cách làm ngời, cho dù nó đợc ngụy trang rất khéo bằng những bộ quần áo

đẹp, những cái bắt tay hay là những nụ cời Không gian đó thờng đợc thu hẹp lạitrong những toà lâu đài tráng lệ mà u buồn, những ngôi nhà sang trọng nhng lạnhlẽo, những khu vờn xinh đẹp nhng giả dối, những lò sởi không ấm nóng mà lạilạnh buồn Nhng cũng có lúc không gian ấy đợc trải ra theo chiều rộng rồi càngrộng thì cái thế giới ấy càng trở nên xam xám, mờ mờ Bảo nó tĩnh lặng thì cũngkhông phải, bởi lắng nghe thì ở đó có bao tiếng eo xèo bực bội, bao sự phiền toái

ở đó có cả tiếng chửi rủa, việc giết chóc, những vụ ngoại tình, những sự tàn nhẫn,những tội ác

Bộ mặt của xã hội thợng lu, bao giờ cũng thế và hơn hết trong truyện ngắncủa G Môpatxăng là bộ mặt khéo che đậy bằng một lớp trang điểm lộng lẫy nhng

Trang 16

nếu nhìn kĩ, nhìn sâu ta sẽ thấy rõ mồn một sự sai sót của những gam màu, sựvụng về trong từng nét vẽ G Môpatxăng trong không ít truyện của mình đã vạchtrần sự thật bên trong cái vẻ ngoài mĩ miều ấy bằng cách tạo ra những tình huống

va chạm ở những nơi vốn đẹp đẽ, sang trọng, thiêng liêng của những bộ mặt,những tính cách giả dối làm vỡ nát cái mặt nạ bên ngoài và bản chất bên trong

buộc phải lộ ra một cách tự nhiên và chân thực nhất "Nhà chứa Teliê" là nơi tụ

họp hằng ngày của những con ngời vốn rất uy nghi, mẫu mực trong gia đình và xãhội, những bậc tai mắt của thành phố Fêcăng - Cũng không hiếm những mụ đạo

đức giả nh Côra trong "Món gia tài" khi đã giàu sang, đã gia nhập giới thợng lu

(bằng con đờng đê nhục, khốn nạn nhất) thì mụ nhìn ngời lao động (những ngờitrớc đó cùng cảnh ngộ nh mụ) bằng con mắt khinh bỉ, xem thờng; Bà quả phụ

Bôngđơroa trong "Ngời thay thế", một ngời "mộ đạo, thánh thiện, khả kính"

[6;405] nhng lại sống trụy lạc, cũng đáng ghê tởm nh vị phu nhân đức hạnh luôn

bận rộn với các công việc từ thiện trong "Phòng số mời một".

Toàn bộ sự dối trá của xã hội thợng lu, có thể nói, đã đợc tác giả khái quát

trong truyện "Ngời đã khuất" ở đây, G Môpatxăng đã cho nhân vật

chính của mình lang thang trong một không gian ảo, có phần ma quái (để châmbiếm những ảo tởng cuộc đời của anh ta) và cũng rất thực Đây rõ ràng là một Pari

thu nhỏ - "Khu nghĩa địa đầy những hoa hồng dại, những cây trác bá cờng

tráng xanh đen, một khu vờn tráng lệ và u buồn đợc nuôi dỡng bằng thịt ngời"

[43;140] Quá đau buồn vì cái chết của ngời yêu, nhân vật chính tìm đến nghĩa địa

và có ý muốn ở lại hết đêm cùng nàng Và anh ta chứng kiến một điều kì lạ: Tấtcả những ngời chết đều ra khỏi mộ và xoá những lời đẹp đẽ, thành kính mà thân

nhân họ ghi lên mộ của họ, rồi viết lại những sự thực tàn nhẫn "mà đời không biết

hoặc vờ nh không biết" Anh ta đi giữa những hàng bia mộ và thấy "tất cả đều từng là đao phủ hành hạ ngời thân cận, đều hằn thù, bất lơng, giả dối, điêu toa, lừa đảo, hay nói xấu, hay ganh ghét, họ đã ăn cắp, đã bịp bợm, đã làm mọi việc

đê nhục, mọi việc xấu xa, những ông bố nhân hậu ấy, những bà vợ thuỷ chung ấy, những cậu con trai tận tụy ấy, những cô thiếu nữ trong sạch ấy, những thơng gia liêm khiết ấy, những ngời đàn ông và đàn bà bảo là tốt đẹp không chê trách đợc ấy" [43;143] Nhng câu chuyện cha dừng lại, sự tố cáo đợc G Môpatxăng đẩy lên

cao khi nhà văn còn tàn nhẫn cho nhân vật tìm thấy mộ ngời yêu Dòng chữ đơn

sơ mà trớc đó anh đã khắc bằng tất cả sự âu yếm, tình thơng yêu: "Nàng đã yêu,

đã đợc yêu, và nàng đã qua đời" đã bị cô chữa lại: "Một hôm lừa ngời yêu đi ngoại tình, nàng gặp ma, cảm lạnh và qua đời" [43;143].

Trang 17

Xây dựng một thế giới chết nhng thực ra G Môpatxăng đang hớng tới, đềcập, tái hiện một thế giới thật của ngời sống Một Pari sống, một xã hội thợng luvới một bộ mặt bị bóc trần, phơi bày ra toàn bộ những dối trá, xấu xa, đê nhục -

một thế giới còn bi thảm, khủng khiếp, còn "chết" hơn cả cái chết thật.

Trong truyện ngắn của nhà văn, nơi gặp gỡ của những điều giả dối, nơi

đụng độ của những dục vọng thấp hèn, nơi va chạm của những nhân cách tồi, đợc

ông đặc tả, khắc họa nhiều ở những không gian mang tính chất biểu tợng, có tínhphản ánh cao nh: Pari ánh sáng, những ngôi nhà sang trọng, những toà lâu đàitráng lệ, những lò sởi bập bùng ánh lửa Tất cả những nơi vốn đẹp đẽ

và đáng ra phải đẹp đẽ ấy đều mang một bộ mặt đáng sợ, bộ mặt của sự tàn lụi, sa

đọa - bộ mặt chết

1.2.1 Pari - ánh sáng và sự giả dối.

ở thế kỷ XIX, với những biến động lớn lao của lịch sử, Pari kinh đô của

ánh sáng lại chính là nấm mồ chôn biết bao nhân cách Ngời, biết bao tơng lai,khát vọng của con ngời Pari đi vào văn học hiện thực Pháp thế kỷ XIX nh là một

sự lựa chọn con đờng lập nghiệp, tìm kiếm vinh quang của những ngời trẻ tuổi,thuộc tầng lớp dới, từ các tỉnh lẻ, khắp nơi trên nớc Pháp đổ về Nó vừa nh một b-

ớc chuyển mình của thời đại, một dấu hiệu đặc trng của thời đại vừa nh một "căn

bệnh của thời đại" Nhng trừ một phân số nhỏ, còn tất cả bọn họ, tất cả đờng đời

của họ đều là quá trình tan vỡ ảo mộng, quá trình sa đọa, suy tàn nhân cách Bởi

lẽ Pari ở thế kỷ XIX không phải là chốn bình yên, ánh sáng của nó không phải

ánh sáng thực, không phải là ánh sáng của chân lý, niềm tin Những dồn nén củakhông khí đấu tranh, những bề bộn của lịch sử đã làm cho cuộc sống ở Thủ Đôcăng thẳng, ở đó luôn sẵn sàng cho những va chạm có thể làm tan vỡ bất cứ điềugì Giuyliêng Xôren của Stăngđan, Ơgienđơ Raxtinhắc, Luyxiêng Sacđông của Ô.Banzăc, đôi bạn Pêrêđêrich Morô và Saclơ Đêrôliê của G.Flôbe Tất cả bọn họ

đều có khát vọng, tham vọng, nhng bớc chân đến Pari, không có ai là không "vỡ

mộng" và không có ai là không bị những cơn lốc xấu xa, giả dối cuốn mất ít nhiều

nhân cách Ngời trong bản thân mình Trong tác phẩm "Lão Gôriô" của O.Banzắc,

chàng thanh niên Raxtinhắc bớc chân lên Pari với ý nghĩ ban đầu tốt đẹp : "Tuổi

trẻ của ta hãy còn trong xanh nh bầu trời cha gợn mây Ta quyết làm việc một cách cao quý, trong sạch Còn gì đẹp đẽ hơn là ngắm cuộc sống của mình và thấy nó trong trắng nh bông huệ " Nhng cuối cùng, ánh sáng phù hoa của Pari

đã làm "vỡ mộng" chàng thanh niên, đồng thời cuốn đi những ớc mơ tốt đẹp đầu

đời Khi chôn cất lão Gôriô, Raxtinhắc "chôn theo giọt nớc mắt cuối cùng của đời

Trang 18

trai trẻ", nhìn về phía Pari sáng rực mà thốt lên:"Giờ đây, chỉ còn ta với mi"

T-ởng nh đó là thái độ quyết đấu nhng thực ra lại là thái độ đầu hàng, lời tuyênchiến chính là lời tuyên bố hoà mình vào xã hội thợng lu Pari

Trong truyện ngắn của G Môpatxăng, ông cũng nói nhiều đến Pari nhngkhác với các nhà văn tiền bối, ông không xây dựng những nhân vật tìm kiếm vinh

quang và "vỡ mộng" tại đây nữa Cũng có thể, đến thời của G Môpatxăng, Pari

không còn là thứ ánh sáng mời gọi những con ngời tỉnh lẻ, nửa thế kỷ lịch sử biến

động trôi qua, ngời ta đã biết nhìn vào sự thật - Tuy nhiên nó vẫn nh là một cáiung nhọt, một nỗi nhức nhối triền miên của những ai yêu cuộc sống đẹp, tôn trọngnhững sự chân thành

Thủ Đô Pari trong tác phẩm của G Môpatxăng đợc nhà văn đặc tả bằng vẻ

đẹp của những ngôi nhà, đờng phố và đặc biệt là ánh sáng, tất cả các loại ánhsáng, tràn lan có, le lói có, rực rỡ có, lung linh huyền ảo có; ánh sáng nhỏ của

ngọn đèn trên Sông Xen trong đêm, ánh sáng "mờ ảo" của những nhà chứa, "đờng

phố và những tiệm cà phê sáng rực rỡ", những "đại lộ rải sao dài và tuyệt diệu, dẫn tới Pari giữa hai hàng lửa sáng, giữa những vì tinh tú" [24;168] - Pari quả nh

là một lễ hội hoa đăng của ánh sáng

Pari còn là nơi "ngời ta cời đùa, đi lại và uống rợu" [24;168]; là nơi mà trên

đờng phố, đầy rẫy những con ngời đeo huân chơng danh dự, khiến một nhân vật

trong truyện "Đợc huân chơng", nhân một buổi chiều rảnh rỗi đã đếm và thấy sao

lại "đầy rẫy những huân chơng nh vậy" [43;152]; Pari là nơi " có đờng phố ngang

dọc chi chít, mà từ đấy, từng chỗ, từng chỗ vút lên những mái vòm tròn, những lầu cao, những tháp nhọn, rồi bốn phía chung quanh là cánh đồng bằng, mặt đất với những con đờng dài dặm mỏng manh và trắng xoá cắt ngang dọc giữa những cánh đồng xanh" [6;368]

Tuy nhiên, ngay tại không gian đẹp đẽ và tởng nh yên bình này, trong lòng

nó, ngời ta cảm nhận đợc "nỗi u buồn về sự sáng sủa giả tạo và sống sợng"

[24;168] Một nhân vật trong "Ban đêm", đi giữa lễ hội hoa đăng của đờng phố

Pari đã cảm thấy "nó sáng sủa quá đến nỗi điều đó khiến tôi phiền lòng và tôi bớc

ra khỏi đó với trái tim hơi phiền muộn, sốc vì ánh sáng qúa tàn

nhẫn chiếu lên những màu vàng của ban công bởi ánh sáng lấp lánh nhân tạo

của chiếc đèn chùm khổng lồ bằng Pha lê" [24;168] ở đó , "những khu phố có

Trang 19

loại dân kỳ quặc, ồn ào, không tử tế mấy, ngày thì chơi bời đêm thì hội hè, ném tiền qua cửa sổ " [43;72]: ở đó, những con ngời thợng lu đáng kính đêm thì chui

vào những hộp đêm, nhà chứa, ngày thì đạo mạo đọc diễn văn ca ngợi sự sạchtrong của cuộc sống loài ngời ở đó dục vọng thấp hèn, ánh sáng của phù hoa đãlàm tan chảy trong mỗi con ngời những nhân cách dù là nhỏ nhất, họ chỉ là những

"sinh vật" biết đi lại, nói năng; "có những ngời sinh ra với bản năng chủ đạo, một

thiên hớng, hoặc chỉ là một ớc mơ muốn khởi phát khi họ bắt đầu biết nói năng, suy nghĩ" [43;151] ông Xacơrơmăng trong truyện "Đợc huân chơng" cả đời ông

chỉ có một mong muốn là có cái huân chơng để hãnh diện đeo lên áo, để "ỡn cái

ngực bé nhỏ có chiếc ngôi sao vàng kim loại" mà đi giữa đờng phố Pari cũng đầy

rẫy huân chơng và cũng nh lão nhân viên Lơxáp trong "Món gia tài", để đợc thứ

dục vọng tầm thờng đó, hắn đã bán rẻ cả hạnh phúc gia đình, cả danh dự bản thân và

sự bình yên của cõi lòng hắn

Không gian Thủ Đô Pari trong các trang viết của G.Môpatxăng đợc trải ratheo chiều rộng Nhà văn chỉ chấm phá những đờng nét nhỏ nhng cũng gây ấn t-

ợng về một Pari ánh sáng, đẹp lộng lẫy nhng là vẻ đẹp "giả dối và sống sợng"

(Ban đêm) bởi nhân vật chính trong nền cảnh đó lại là những con ngời rất thiếu

chất Ngời, họ thiếu đủ thứ: Lòng tự trọng, tình yêu thơng, khát vọng, niềm tin, lẽ

sống Với những kẻ "ít nhất Ngời" nh vậy sự thoả mãn về vật chất hoàn toàn bù

đắp đợc những mất mát về tinh thần Vì vậy, trong xã hội thợng lu, những toà lâu

đài tráng lệ, những ngôi nhà sang trọng, không bao giờ là biểu tợng của hạnhphúc, niềm vui Đáng nói là những số phận mỏng manh, những ngời phụ nữ yếu

đuối, những đứa trẻ ngây thơ chính là nạn nhân của điều đó - Họ đánh mất tơnglai, hạnh phúc, niềm tin, lẽ sống chính tại nơi này

1.2.2 Những ngôi nhà sang trọng - Nấm mồ chôn lẽ sống, niềm tin.

Con ngời ta trong bất cứ một hoàn cảnh nào, một thời đại nào thì gia đình

và hạnh phúc gia đình cũng luôn là nguồn động viên lớn lao vô bờ bến, nâng đỡ

con ngời ta đứng dậy những khi vấp váp, buồn đau, là nơi dù ở đâu trên Trái

Đất này cũng có dối trá, lọc lừa, khốn nạn thì nó vẫn là "neo đậu" bình yên cho

nhiều tâm hồn Nhng trong truyện ngắn G Môpatxăng, không khí gia đình có thể

đợc tóm gọn bằng một câu: "Cảnh gia đình là đáng sợ hơn một bãi chiến trờng tơi

bời khói đạn" [3;157] Thực ra, các nhà văn hiện thực muốn phản ánh xã hội một

cách sâu sắc thì họ đều bắt đầu từ những sự suy thoái trong mỗi gia đình, mỗi " tế

bào của xã hội": Gia đình lão Gôriô , gia đình lão Grăngđê trong tiểu thuyết

O.Banzăc; gia đình của ông bà Đơ Rênan trong truyện của Stăngđan; gia đình bàEmma trong truyện của G.Flôbe

Trang 20

G Môpatxăng kế thừa các nhà hiện thực tiền bối, nhất là khi viết về khônggian gia đình của con ngời thợng lu - Họ sống trong những ngôi nhà sang trọng,những toà lâu đài to lớn tráng lệ nhng ở đó chỉ toàn là những dối trá, những sự làmkhổ nhau, nó hơn bãi chiến trờng tơi bời khói đạn là ở chỗ nó giống nh một bãichiến trờng khi cả hai bên tham chiến đều rút khỏi, đó chỉ còn lại sự chết chóc,những cái xác bốc mùi, những tiếng rên rỉ của ngời bị thơng ngắc ngoải, cha chếthẳn, mà cũng chẳng bò dậy nổi để đi.

Không gian sinh sống của họ, cái vẻ bề ngoài đánh lừa ngời ta bằng sự sang

trọng, giàu có, đẹp đẽ: Đó là những căn phòng nhà giàu - "Căn phòng có một vẻ

sang trọng và giản dị, đợc bọc bằng vải dày nh bức tờng" [6;470]; Đó là những

"toà lâu đài bằng đá, xung quanh là những cây cổ thụ rất to" [3;122]; "Một lâu

đài cổ với những tháp canh dầm chân trong một hồ nớc lớn, buồn buồn một đàn chim bay qua" [4;173]; Rồi "những phòng dài tráng lệ có những tấm pha lê cổ xa sáng rực lên nh ngọc" [3;605]

Với vẻ ngoài đẹp đẽ nh thế, nhng đó lại là nơi chôn vùi sự sống, tình yêu,

mầm sinh sôi của những kiếp ngời Toà lâu đài u buồn "ẩn dới những cây to" tại

các vùng quê là nơi có những ngời phụ nữ bị giam cầm, có chồng mà không cótình yêu, không đợc tiếp xúc với mọi ngời, không đợc ớc mơ, đòi hỏi gì, đến nỗikhông đợc cả việc hít thở khí trời một cách thoải mái và cứ thế, hết một cuộc đời

(Tuyết đầu mùa, Thức tỉnh) Còn tại một "toà nhà lớn màu xám, ở giữa

một khu vờn lớn, và những con đờng dài trồng toàn sồi, lồng lộng hớng về bốn phơng trời" là nơi sinh sống của một gia đình quý tộc, một ngày kia là nơi chứng

kiến họ đánh đập nhau một cách thô bạo, dã man vì đồng tiền đến nỗi cậu bé

Giăng, con họ, mời ba tuổi, đang "vui tơi và hài lòng với mọi thứ" [43;124] đã

cảm thấy tất cả bị đảo lộn trớc những gì mình thấy, trớc sự đổ vỡ khủng khiếp,

tr-ớc những tai hoạ không phơng cứu chữa - Trong cơn điên loạn của đứa trẻ thơ, cậu

đã bỏ chạy, bỏ lại sau lng tất cả và từ đó nhìn đời bằng một gam màu "xám đen, u

buồn", rồi tự làm hỏng đời mình trong những tháng ngày vô nghĩa (Cho một cốc

đây).

Trong căn nhà "sang trọng và giản dị" kia, con ngời sống khốn khổ, buồn

đau - Ngời mẹ thì mỏi mòn chờ con trong day dứt lỗi lầm, còn đứa con bất hiếusau khi phát hiện ra mẹ ngoại tình thì đã bỏ mẹ ra đi mà không một lần quay về

nhìn lại (Đợi chờ) Một ngời mẹ khác, bà Ecmê, một ngời đàn bà thợng lu xinh

đẹp và luôn đợc mọi ngời quý trọng - Căn nhà to đẹp của bà là nơi tụ họp củanhững ngời bạn trong giới quý tộc, ngời ta đến đó để ngắm nhan sắc, ca tụng bà

Bởi bà là "một ngời đàn bà mẫu mực của xã hội thợng lu", bà tôn thờ cái đẹp và

Trang 21

nhan sắc hơn mọi thứ trên đời Nhng rồi bà bị điên hẳn khi va chạm với một tìnhhuống buộc bà phải lựa chọn giữa nhan sắc và sự sống của đứa con trai duy nhất.Cậu bé con bà bị bệnh đậu mùa, suốt hai tuần không hề thấy bóng dáng mẹ vì bàquá lo sợ cho nhan sắc của mình Vào giờ phút lâm chung, cậu tha thiết muốn gặp

mẹ, dù là qua tấm kính chắn cửa sổ, nhng bà mẹ vẫn không dám, còn "ngời chết

vẫn đợi chờ, mắt hớng về khung cửa sổ ấy, chờ đợi để chết đi còn đợc trông thấy cuối cùng một lần nữa gơng mặt mẹ hiền yêu dấu, khuôn mặt thiêng liêng của mẹ Cậu chờ đợi rất lâu, và đêm xuống Cậu quay mặt vào tờng, không nói lời nào nữa" Cậu bé đã ra đi Ra đi mang theo nỗi tủi hờn của đứa con bạc mệnh.

ánh mắt của cậu khi dừng lại ở khung cửa sổ ám ảnh chúng ta và ám ảnh mãi bà

mẹ của cậu Một mình đối diện với căn nhà rộng lớn và lạnh lẽo, nỗi ân hận đãlàm bà Ecmê bị phát điên Một nỗi ân hận muộn màng !

Nh vậy, khác với các nhà văn hiện thực trớc đó trong việc thể hiện những bikịch gia đình trong xã hội thợng lu, G Môpatxăng không xây dựng một điển hìnhnào cho trang viết của mình mà bằng những chấm phá có tính chất phác họa, ôngvẫn gây đợc ấn tợng mạnh về những mái ấm không bình yên - ở đó, sóng gió vẫnkhông ngừng nổi lên, con ngời cha bao giờ tìm đợc cho mình hạnh phúc, niềm tin

đích thực

1.2.3 Không gian lò sởi -Những tia lửa lạnh buồn và nền đạo đức bị suy vi.

Tiếp tục trờng t duy đối lập giữa cái bản chất bên trong và sự che đậy bộmặt bên ngoài nhằm phê phán những điều giả dối, những nhân cách tô vẽhoá trang, và cũng để đả kích cái nghịch lý đáng buồn của cuộc đời này,

G Môpatxăng đã rất chú ý xây dựng không gian điểm "lò sởi" hoặc làm nơi tụ

họp để kể những câu chuyện cho nhau nghe trong các cốt truyện lồng ghép, hoặc

là nơi diễn ra những va chạm nhân cách mà ánh sáng của lò sởi sẽ soi tỏ, chiếurọi tới những mảnh tối vỡ nát trong tâm hồn vốn chẳng sáng sủa gì của những conngời trởng giả

Không gian lò sởi đặc trng cho sự ấm áp yên bình, cho hạnh phúc sum họpcủa không khí gia đình, bè bạn ở đó, ngời ta vui vầy với nhau, tâm sự tình cảm,

kể cho nhau nghe những mẩu chuyện vui, đọc những bài thơ của tình yêu, canhững khúc ca ấm áp sự sống Nhng trong truyện ngắn G Môpatxăng, lò sởikhông toả ra những tia lửa ấm nồng, sáng rực mà là những tia lửa lạnh buồn, lạnh

và buồn - Bởi ở đó, tác giả để cho nhân vật của mình, trong những buổi tụ họp, kểcho nhau nghe những câu chuyện buồn một màu xám đen, u tối về những nghịch

Trang 22

lý của cuộc đời - một cuộc đời lạnh lẽo, thê lơng với những vụ ngoại tình, những

vụ giết ngời, những tội ác

Câu chuyện trong truyện "Khúc củi" và "Một mẹo lừa" là câu chuyện

về bệnh ngoại tình của giới thợng lu - một căn bệnh phổ biến, một ung nhọt củathế giới ăn chơi đàng điếm Điều đáng nói chính là sự trắng trợn của những conngời mất t cách, những câu chuyện về mẹo ngoại tình đã đợc họ đa ra bàn côngkhai, nhiệt tình nhng lại giả vờ e thẹn và phản đối một cách yếu ớt, pha

chút tò mò Trong truyện "Thanh củi", một tình bạn đẹp tan vỡ, nghiêm trọng hơn

là chỉ một tí chút nữa thôi thì ngời kể chuyện đã không giữ nổi mình, đã sa ngã và

sẽ bị bạn mình bắt gặp, sẽ nhục nhã với bạn và nhục nhã hơn với chính bản thânmình, nếu không có thanh củi bỗng nhiên lăn ra khỏi lò sởi, làm toé lửa cả mộtgóc nhà; hơn tất cả nữa là sự tan tành ảo mộng của một con ngời - một ngời cóthể nói là nhiều ngây thơ, ảo tởng và đấu tranh yếu ớt Đối diện với thực tế phũphàng anh ta lại không có giải pháp, không biết đấu tranh, đổ hết tội lỗi cho đàn

bà và chịu sống một cuộc đời đơn độc để không bao giờ bị "cắm sừng"

Đáng buồn hơn là câu chuyện của vị bác sĩ về mẹo ngoại tình của một ngời

đàn bà giới thợng lu - một phu nhân cao quý Bên ánh lửa bập bùng, câu chuyện

về các mẹo ngoại tình đợc đa ra bàn trắng trợn và họ xem đó nh một tất yếu, mộtquy luật của xã hội thợng lu Ngời đàn bà sau một hồi nghe chăm chú say mê với

vẻ tò mò thích thú đã giả vờ e thẹn, giật mình hỏi lại đầy nghi ngờ: "Sao ông lại

kể cho tôi nghe câu chuyện này " - "Tôi kể để phục vụ bà khi có dịp" [3;187].

Trong truyện "Đợi chờ", một câu chuyện đợc kể ra bên lò sởi, trong buổi tụ

họp, cũng là một câu chuyện buồn - Bà mẹ và đứa con trai rất yêu quý nhau, mộtngày kia đứa con bắt gặp mẹ ngoại tình với một ngời chú mà cậu rất tin yêu, kínhtrọng - Đổ vỡ, thất vọng , buồn rầu, cậu bỏ mẹ ra đi, không một lần quay về nhìnlại bà mẹ tội nghiệp vẫn mỏi mòn chờ con trong ân hận, dằn vặt của mặc cảm tộilỗi và cuối cùng chết trong cô đơn

Có lúc, lò sởi là nơi để những con ngời nh ông Savan trong "Hối tiếc", Francô trong truyện "Kẻ sinh thành", suy t, chiêm nghiệm lại cái lẽ sống của cả

đời mình Có lúc, nó là nơi chứng kiến cái chết thơng tâm, oan ức của một ngời

dân vô tội (Những ông vua) Nhng cũng có lúc cùng với ánh lửa "lung linh bí

hiểm", những nhân cách đã có dịp toả sáng Trong truyện "Cô FiFi" thì bữa tiệc

bên lò sởi ấm áp không làm cho những cô gái điếm đánh mất mình hoàn toàn

- Bằng tình yêu Tổ quốc, bằng tình cảm thiêng liêng, cô gái điếm Raken đã vùnglên giết tên giặc cớp nớc khi hắn dám nhạo báng Tổ quốc cô

Trang 23

U.Xarôyan tâm sự: "Trớc kia tôi cứ nghĩ nhà văn giống nh một thứ ông

Trời vậy và chỉ sau khi đọc G.Môpatxăng tôi mới hiểu nhà văn cũng chỉ là một thứ ngời đời thờng" [47;82] Ông đời thờng có lẽ vì bằng một vẻ thản nhiên, khách

quan, ông đã đi sâu vào tất cả các khía cạnh của cuộc sống này, đào xới nó lên,tìm đợc cái tốt đẹp, dù là nhỏ, cũng mang ra cho ngời ta ngắm, ngời ta yêu, ngời

ta tin tởng; nhặt đợc những cái xấu xa, dù là nhỏ, cũng đa lên trng bày cho ngời tathấy để ngời ta nhìn lại mình, tìm xem có chút gì của mình trong ấy không Trong

sự thản nhiên của mình, ông giống nh Tạo hoá, làm cho ta ngạc nhiên, khiến cho

ta rung động Lắm lúc ngời ta tự hỏi, ở mãi phần sâu xa của tâm hồn cái con ngờicông bằng, mạnh mẽ và tốt bụng này, ông nghĩ gì, cảm xúc ra sao ? Và ta biếtG.Môpatxăng luôn khóc thầm cho những bi kịch của cuộc đời, trong đó đau đớnnhất có lẽ là nỗi nhức nhối về một cuộc sống mà ở đó toàn những sự giả dối, xấu

xa, nhân cách đạo đức bị suy vi trầm trọng Và mặc dù sau đến nửa thế kỷ, nh ng

cũng nh O.Banzăc, tác phẩm của G.Môpatxăng mãi là "khúc bi ca tiếc thơng cho

sự tan rã không cứu vãn nổi của xã hội thợng lu" [43;327] Nhng, trên cái nền đen

tối ấy, vẫn có những điểm sáng khi nhà văn xây dựng một không gian mà ở đónhân cách cao đẹp của ngời lao động có dịp bừng tỏ, tuy tha thớt song vẫn làmrạng lên đợc những tia hi vọng, những niềm tin vào tơng lai, vào cuộc đời của một

nhà văn đợc xem là "bi quan quyết liệt nhất trong văn học Pháp".

chơng 2

Không gian tù đọng, bế tắc

Hai yếu tố làm nên giá trị văn chơng của các nhà văn lớn xa nay là hiệnthực và nhân đạo Với G.Môpatxăng, ngời ta cũng chỉ có cách dùng lại hai tiêuchí ấy Chỉ có điều, G.Môpatxăng hiện thực theo cách riêng của ông, nhân đạocũng theo cách riêng của ông - không bao giờ nhà văn này đứng trên để chỉ lốicho con ngời, ngợc lại ông chỉ muốn giúp họ nhận ra sự thật về bản thân họ để họthức tỉnh Chủ nghĩa nhân đạo với G.Môpatxăng cha phải là yêu con ngời mà làhiểu con ngời, giúp con ngời vợt lên cái tầm thờng của đời sống hàng ngày, tránh

Trang 24

đợc sự ăn mòn của thói quen dung tục, và nói chung là sống một cuộc sống xứng

đáng hơn nữa

Các nhân vật trong truyện ngắn G.Môpatxăng luôn đợc xây dựng đúng với

bản chất của nó, "thực hơn tất cả mọi sự thực" [47;439] và đại đa số là những ngời

"sống không ra sống", sống mòn mỏi, sống không có niềm tin, bị ám ảnh nặng nề

về cái chết, về nỗi cô đơn G.Môpatxăng đã vạch ra, chỉ ra cho ngời ta thấy điều

đó bằng tất cả lòng yêu thơng, bằng tất cả niềm hy vọng và bằng tất cả tài năngcủa một nhà văn

"Tài năng" có thể nói đến ở đây là cách viết "khách quan" của nhà văn (cho

thấy công phu đào tạo của ông thầy Flôbe) - cuộc đời cứ thế hiện ra thực đến mức

ta có thể cảm nhận đợc , hiểu rõ ràng và không thôi day dứt, nghĩ suy về nó Cáchviết khách quan này, có thể nói, thể hiện rõ nhất ở hai phơng diện : Thứ nhất, đó

là cách kể chuyện, giọng điệu kể chuyện khách quan: "G.Môpatxăng chủ trơng

ngời nghệ sỹ không đợc thuyết giáo trực tiếp mà phải sắp xếp sao cho t tởng toát

ra từ quan hệ giữa các nhân vật, từ bản thân tình thế và trở thành t tởng của ngời

đọc một cách hầu nh vô tình" [42;442] Thứ hai là nhà văn xây dựng một không

gian nghệ thuật riêng, đặc trng, để nhân vật có thể tự bộc lộ mình một cách kháchquan (và tính điển hình đợc đẩy lên cao nhất) Cả hai phơng diện này,G.Môpatxăng đều hết sức thành công

Để làm rõ, khơi sâu nỗi đau, sự ám ảnh đến day dứt về những kiếp sốngmòn mỏi, vô nghĩa, những cái tôi mất dần ý thức về lẽ sống, niềm tin một cáchkhách quan và chân thực, nhà văn đã xây dựng một không gian tù đọng, chật hẹp,

bế tắc, quẩn quanh với những gam màu tối xám, u buồn ở trong không gian đócon ngời mất đi ý niệm về một thế giới của sự sống, chỉ còn lại những mảnh đờitàn rữa, phôi pha Các nhân vật của ông, cũng nh chính ông không sao tìm đợccách để hiện thực hoá cái điều mà họ mang máng cảm thấy Vì thế, trong truyệncủa ông, đằng sau những tiếng cời là những giọt nớc mắt cay đắng Và điều đángnói ở đây không phải chỉ là không gian của một đời ngời riêng lẻ mà là của kiếpngời nói chung, nó vô vọng - thế mới là đáng sợ Mà vô vọng là đúng thôi, bởi đó

là không gian của những linh hồn không lối thoát, cũng có khi họ giãy giụa, vùngvẫy để tự tìm cho mình một lối thoát nhng cuối cùng, đây cũng chỉ là những lốithoát lầm lạc hoặc là phải tìm đến những thế giới không có thực, thế giới củanhững nỗi cô đơn

2.1 Không gian của những linh hồn không lối thoát.

Giải thoát con ngời, kéo con ngời ra khỏi những cái tầm thờng, những điềubất hạnh, những sự khốn nạn, đớn đau là nỗi day dứt khôn nguôi của

Trang 25

G.Môpatxăng trong nhiều trang viết Ông làm điều đó khác với rất nhiều nhà vănkhác Trong khi nhiều ngời hay nói tới Chúa , tới sự cứu rỗi và tìm hớng giảiquyết ở Tôn giáo, một số ngời khác trong từng trang viết đã chỉ vẽ, dẫn đờng, đốnngộ cho nhân vật của mình thì G.Môpatxăng chỉ miêu tả cuộc sống nh nó vốnvậy Ông thức tỉnh con ngời, giải thoát họ bằng cách cho họ tự nhìn thấy sự thêthảm của mình qua một tấm gơng chân thực.

Nhà văn, khi xây dựng "con ngời bé nhỏ" của thế kỷ XIX, đã tạo một

không gian tù đọng, bế tắc để ráo riết chỉ ra cái ngng đọng của cuộc sống, sự ungthối của các tính cách, tình trạng bất lực thờng xuyên của cá nhân và ông cảmthấy không cần phải nói gì thêm Tự nó cùng với các chi tiết, nhân vật sẽ tự bộc lộmình và bộc lộ chủ đề tác phẩm Và một đặc điểm dễ thấy ở nhân vậtG.Môpatxăng là họ thờng không có ý thức đầy đủ về trạng thái nhân thế của họ,

chất ngời của họ, cũng nh không làm chủ nổi cả cách suy nghĩ và hành động của bản thân Họ không có cách nào chống đỡ trớc sự tàn nhẫn của hoàn cảnh, vợtlên hoàn cảnh để tự giải thoát mình Bi kịch của họ là bi kịch của những linh hồnkhông lối thoát Nó lay động trong ta cả một thế giới xót xa với những suy nghĩ,

hé mở đột ngột trớc ta cánh cửa bí ẩn với những đau khổ tinh thần, phức tạp,

không phơng cứu chữa, "càng sâu xa hơn bởi dờng nh phũ phàng, càng nhức nhối

hơn bởi dờng nh mơ hồ, càng dai dẳng hơn bởi dờng nh không thực" [43;92]

-Những điều ấy để lại trong tâm hồn ta cái gì nh một nỗi u buồn, một vị chua chát,một cảm giác thất vọng mà rất lâu ta mới xua đợc tan

2.1.1 Không gian chật hẹp, u buồn - Nỗi nhức nhối về những kiếp đời cùng quẫn.

G.Môpatxăng tập trung xây dựng những không gian chật hẹp, những khônggian điểm (mà đặc điểm của không gian điểm là sự thu gọn tối đa độ hẹp củakhông gian hình tợng chủ quan ) - trong đó, nhân vật không thể vùng vẫy, cựaquậy mà bị bó chặt lại nh một định mệnh và cuộc sống của nó chỉ là sự khốn nạn,bất hạnh đến cùng cực mà không hề có một lối thoát nào

Trong truyện "Cái tủ", "một căn phòng có kê giờng, bàn ghế, với những

bức màn và chiếc mền trải dới chân giờng vằn vện những vết hoen ố khả nghi"

[3;148] là không gian lớn nhất cho nhân vật hoạt động Đây là căn phòng của côgái điếm, không gian sống của cô, đồng thời cũng là nơi cô tiếp khách Nó ngộtngạt, tù túng, bẩn thỉu tới mức ông khách (nhân vật "Tôi") cảm thấy ghê tởm, mới

đến đã muốn ra về Nhng không gian đó còn đợc thu hẹp dần, và cuối truyện chỉ

tập trung khắc họa không gian trong một "cái tủ" nhỏ - nơi đứa con trai của cô gái

điếm phải thu mình ngủ ở đó để mẹ nó tiếp khách Một "thằng bé da mét xanh,

gầy gò ốm yếu đang mở to đôi mắt hoảng sợ và long lanh" [3;153] Nó phải nằm

Trang 26

trong một chỗ chật hẹp quá, mỏi không chịu đợc và đã ngã lăn quay ra Thằng bé

đáng thơng quá sợ hãi vì sự việc vừa xảy ra, "nó oà lên khóc và đa hai cánh tay

mở rộng về phía mẹ nó :

- Cái ấy không phải lỗi của con, mẹ ạ, cái ấy không phải lỗi của con Con ngủ quên và con bị té Mẹ đừng rầy la con, cái ấy không phải lỗi của con" [3;153].

Đúng là một thằng bé khốn khổ, "đứa con của cái tủ, cái tủ lạnh lẽo và tối

tăm, một thằng bé thỉnh thoảng mới tìm lại đợc chút hơi ấm nơi giờng mẹ"

[3;154] Kết thúc truyện, ta không chỉ thấy giọt nớc mắt hoảng sợ của thằng bé

mà còn thấy giọt nớc mắt đau đớn và bất lực của hai ngời lớn Sự cùng quẫn củamột kiếp ngời , G.Môpatxăng đâu cần nói gì thêm nữa

Với vẻ ngoài nhẹ nhàng, bao giờ cũng lý thú và đôi khi nh bông đùa, truyệnG.Môpatxăng thờng phát hiện bi kịch của con ngời không chỉ trong tình huốngkhủng khiếp, đặc biệt mà cả trong những hoàn cảnh bình thờng Trong truyện

"Đêm giao thừa", không gian thùng bánh mì "há miệng tối om om" và hình ảnh

cái xác ông cụ đợc đặt trong đó cho thấy nỗi đau xót dành cho cả ngời sống và

ng-ời chết "Cụ già khô cứng, mắt nhắm, đợc cuốn trong áo tơi của ngng-ời chăn cừu,

đang ngủ ngàn thu giữa những mẩu bánh đen ngòm và cũ kĩ, cũ kĩ nh ông cụ vậy"

[6;301] Cháu con cụ đã đón giao thừa trên xác cụ Đau xót, nhng có thể hiểu đợc,nhà họ chỉ có mỗi một cái giờng cho cả ngời sống và ngời chết Để nhờng chocháu con chiếc giờng ấm áp, linh hồn ông cụ đã đón giao thừa trong thùng bánhmì cũ kĩ, tối tăm

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những sự cùng quẫn về phơng tiện sống, hình thứcsống - Những con ngời dới đáy xã hội, họ không có tiền, không có địa vị, có thểhiểu họ không có chỗ đứng trong cuộc đời và không gian mà cuộc sống dành cho

họ là tối thiểu đến thảm thơng : "Cái tủ" là không gian sống của một mầm non và

"chiếc thùng bánh" tối tăm là chốn an giấc ngàn thu của một cụ già Nhng sự cùng

quẫn đợc đẩy lên cao khi con ngời bị đồng loại từ chối, phủ nhận Không giangiam hãm họ, chia cắt họ, không đơn thuần chỉ là không gian vật thể nữa mà nó

còn là không gian tinh thần "Không gian giam hãm và không gian lu lạc là hai

không gian chủ yếu của cuộc sống mà con ngời phải đối phó để tồn tại" [37;178].

Nếu bị giam hãm trong không gian vật thể , con ngời ta hoặc có thể chấp nhậnmột cuộc sống tù túng, mỏi mòn hoặc là vùng lên đối phó để vợt ra khỏi nó - nh-

ng nếu bị giam hãm trong một không gian tinh thần, bị vây bọc bởi sự ngột ngạtcủa cuộc sống thiếu niềm tin, thiếu sự đồng điệu mà

Trang 27

toàn là sự giả dối thì con ngời hoặc sẽ tự huyễn hoặc mình tìm về một thế giớikhông có thực, hoặc chỉ có một lối thoát duy nhất, là cái chết Nhằm gây ấn t ợnghơn về sự giam hãm của không gian tinh thần, G.Môpatxăng sử dụng không gianvật thể bị thu hẹp tối đa để diễn tả sự vùng vẫy, bất lực, sự giải thoát cuối cùngcủa những con ngời khốn khổ

Trong truyện " Cô Hariét", cái giếng sâu hun hút, đen ngòm, khô cạn nớc,

đợc nhà văn nhắc đi nhắc lại, là nơi tìm đến cuối cùng của ngời đàn bà khốn khổ một ngời phụ nữ yêu hết mình với ngời, với thiên nhiên, với cuộc đời nhng cuộc

-đời này xa lạ với cô, không chấp nhận cô - cô đi tìm một lối thoát mới cho mình

Trong truyện "Bà Baptit", không gian đợc G.Môpatxăng thu hẹp lại trên

một cái ghế Nhân vật chính đã nhiều lần vùng vẫy thử tìm lối thoát: "Nàng đứng

lên rồi lại rơi vào ghế ba lần nh là muốn chạy thoát và hiểu rằng không thể xuyên qua đám đông đang vây quanh nh thế đợc" [6;89], và dần dần, "nàng không cựa quậy đợc nữa, cứ ngồi điếng ngời trên chiếc ghế bành lộng lẫy , nh là đợc đặt để trng bày trớc mọi ngời Nàng không thể trốn thoát" [6;90] Sự giam hãm của nàng,

rõ ràng không chỉ là sự giam hãm của không gian vật thể - chiếc ghế là mộthình ảnh tợng trng cho một sự giam hãm khác Nàng, đau đớn hơn, đang bị giamhãm trong không gian tinh thần, chịu nỗi đau bị đồng loại chối bỏ, coi khinh.Xung quanh nàng lúc này những bộ mặt dối trá, những nụ cời khinh bỉ và hả hê,những câu nói đắng cay, chua xót của những kẻ khốn nạn Nàng không thoát đợc!Bất hạnh của nàng là khi mời một tuổi, cô bé đã bị một gã vô lại hãm hiếp Chẳngnhững không hề nhận đợc sự chia sẻ, cảm thông, xót thơng nào từ những ngờixung quanh, nàng còn bị mọi ngời cách li, xa lánh, dù nàng hiền lành, đoan chính,ngoan đạo hơn bất cứ ngời phụ nữ nào trong xã hội thợng lu - ngời ta gọi nàng

bằng từ lóng khinh bỉ - "Bà Baptit" - nàng đi đến đâu là thành đối tợng khinh nhạo

ở đó - Cuối cùng, con ngời đáng thơng ấy, vốn không có lối thoát, đành tìm đếncái chết nh một sự giải thoát cuối cùng và duy nhất cho những chuỗi ngày bấthạnh

Anatôn Frăngxơ đã nhận xét rất đúng rằng bề ngoài lãnh đạm củaG.Môpatxăng che dấu một tâm hồn nhạy cảm bị dằn vặt bởi một niềm ái ngại sâu

xa G.Môpatxăng "khóc thầm cho những nỗi bất hạnh mà ông miêu tả cực kỳ

thanh thản" [42;431] Còn có nhà phê bình mô tả ông nh một ngời có cái bề

ngoài bình thản nhng nếu vầng trán ông chỉ thỉnh thoảng mới nhăn lên những ờng nhăn đau khổ thì bộ óc trong sọ ông lại luôn run lên vì thơng cảm Cáchmiêu tả thanh thản của ông không gì hơn là để các chi tiết nghệ thuật tự nó bộc lộvấn đề - mà không gian là một tín hiệu quan trọng

Trang 28

đ-2.1.2 Không gian tù đọng, o bế - Niềm day dứt về những kiếp "sống mòn".

Tạo hoá sinh ra con ngời, đồng thời cũng sinh ra cuộc sống đúng với nghĩacủa nó Đó phải là cuộc sống cho ra cuộc sống, sống một cách tự do, có ý nghĩa

và "mỗi ngời khi chết đi, phải để lại chút gì cho nhân loại" [8;207].

Nhân vật của truyện ngắn G.Môpatxăng, tất cả toàn là những kẻ không sớm

đợc chuẩn bị cho sự chiến đấu gay go của cuộc sống, tất cả những kẻ nhìn đời quamột áng mây mờ, không biết phơng sách và không có lực đề kháng, những kẻkhông đợc phát triển từ thủa nhỏ những năng khiếu đặc thù, những khả năngriêng, những nghị lực gắt gao để đấu tranh , tất cả những kẻ không đợc giao chomột vũ khí hay một dụng cụ nào trong tay Họ là những ngời không biết sống

cho ra sống Thực ra "biết sống là một việc khó, và trớc khi nói đến chuyện tốt

hay xấu, cao thợng hay thấp hèn thì cái sự biết sống này mới thật là đáng nói"

[2;7] và đại đa số họ đã sống một cuộc sống trống rỗng, vô nghĩa lý, cuộc đời của

họ vì thế cứ mốc lên, mòn đi, rỉ ra đến ảm ảnh, muộn phiền Niềm day dứt về cuộcsống mòn rỉ, trống rỗng này không chỉ có ở G.Môpatxăng Các nhân vật trong

truyện ngắn A.Sêkhốp cũng có một cuộc sống "bình lặng, sống gần nh tẻ nhạt" [2;6], sống một cuộc đời "chết" Trong sự xô đẩy của cuộc đời, những sự kiện tầm

thờng kéo họ đi và cái chất ngời trong họ mỏi mòn dần Bêlikôp (Ngời mang vỏ

ốc - Sêkhốp) cả đời thu mình trong vỏ ốc và khi chết đi thì nh lời một nhân vật

trong truyện, "khi hắn nằm trong quan tài, vẻ mặt hắn trông hiền lành, dễ chịu,

thậm chí có vẻ tơi tỉnh, cứ nh hệt hắn mừng rằng, cuối cùng, hắn đã chui

vào cái bao mà từ đó, không bao giờ hắn thoát ra nữa" Nhân vật ngời em trong

"Khóm phúc bồn tử" cha chịu chết sớm nh thế, song có lẽ vẫn có thể nói một cái

gì đã chết trong nhân vật này - khi đã mất đi cả sự nhạy cảm lẫn lòng tự trọng,nhân vật đã tự giam mình trong những ớc mơ tầm thờng, nhỏ nhặt Sau này, nóvẫn là nỗi day dứt khôn nguôi của tầng lớp trí thức tiểu t sản ở Việt Nam Đó làtấn bi kịch, dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của ngời trí thức có ý thức sâu sắc vềgiá trị sự sống và nhân phẩm

Còn trong thế giới nhân vật truyện ngắn G.Môpatxăng, có những viên chứcvăn phòng mỏi mòn do nghèo nàn về tinh thần và vật chất, cũng nh sự đơn điệucủa công việc Một cuộc sống trống rỗng và nhàm tẻ Họ sống ngoan ngoãn, câmlặng, phục tùng, tăm tối, không dám nghĩ đến một cuộc đời khác Khi họ thứctỉnh, nhận ra cảnh ngộ của cuộc đời mình thì tất cả đã kết thúc G.Môpatxăng tậptrung khắc họa một không gian tù đọng, quẩn quanh, khép kín và ngng trệ chonhân vật của mình Trong không gian đó, sự sống không cựa quậy, không có sự

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. Đôđê, Những vì sao, NXB Văn học, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vì sao
Nhà XB: NXB Văn học
2. A. Sêkhốp, Tuyển tập truyện ngắn, Vơng Trí Nhàn dịch, NXB Văn học, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Nhà XB: NXB Văn học
3. G. Môpatxăng, Dới ánh trăng (tập truyện ngắn), Nhiều tác giả dịch, NXB Sở văn hoá thông tin Lâm Đồng, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dới ánh trăng (tập truyện ngắn)
Nhà XB: NXB Sởvăn hoá thông tin Lâm Đồng
4. G. Môpatxăng, Tuyển tập truyện ngắn, Nhiều tác giả dịch, NXB Hội nhà văn, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
5. G. Môpatxăng, Tuyển tập truyện ngắn, Lê Huy Bắc dịch và giới thiệu, NXB Văn học, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: G. Môpatxăng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
6. G. Môpatxăng, Tuyển tập truyện ngắn hay, NXB VHTT, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn hay
Nhà XB: NXB VHTT
7. G. Môpatxăng, Một cuộc đời (tiểu thuyết), Mai Xuân dịch, NXB Văn nghệ TPHCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cuộc đời (tiểu thuyết)
Nhà XB: NXB Văn nghệTPHCM
8. G. Môpatxăng, Ông bạn đẹp (tiểu thuyết), Phùng Văn Tửu dịch, NXB Văn học, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông bạn đẹp (tiểu thuyết)
Nhà XB: NXB Văn học
9. G. Flôbe, Những tấm lòng chất phác (truyện ngắn), NXBGD, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tấm lòng chất phác (truyện ngắn)
Nhà XB: NXBGD
10. G. Flôbe, Bà Bôvary (tiểu thuyết), NXB Văn học, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bà Bôvary (tiểu thuyết)
Nhà XB: NXB Văn học
11. Nguyễn Công Hoan, Tuyển tập, NXB Văn học, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: NXB Văn học
12. Nguyên Hồng, Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Nhà XB: NXB Văn học
13. L. Tônxtôi, Chiến tranh hoà bình, NXB Văn học, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh hoà bình
Nhà XB: NXB Văn học
14. Nam Cao, Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Nhà XB: NXB Văn học
15. Sôlôkhốp, Sông Đông êm đềm, NXB Văn học, 2000.Phần tài liệu nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sông Đông êm đềm
Nhà XB: NXB Văn học
16. Aristốt, Nghệ thuật thơ ca, Tạp chí văn học nớc ngoài, Số 1, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
17. Antônôp, Viết truyện ngắn, NXB Văn học, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết truyện ngắn
Nhà XB: NXB Văn học
18. Tạ Duy Anh, Nghệ thuật truyện ngắn và ký, NXB Thanh niên, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật truyện ngắn và ký
Nhà XB: NXB Thanh niên
19. Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trớc đèn, NXBKHXH, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trớc đèn
Nhà XB: NXBKHXH
20. Nguyễn Xuân Đức, Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, NXBKHXH, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Nhà XB: NXBKHXH

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w