1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian nghệ thuật trong truyền kỳ mạn lục

111 1,4K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian nghệ thuật trong truyền kỳ mạn lục
Tác giả Nguyễn Thị Lệ
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 505,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu không gian nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục đã có những kết quả bước đầu Trong Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII, các tác giả khẳng định: “Không phải ngẫu nhi

Trang 1

NguyÔn thÞ lÖ

kh«ng gian nghÖ thuËt

Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới TS Phạm Tuấn Vũ,người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Luận văn được hoàn thành còn có sự giúp đỡ về tài liệu, những ý kiếnđóng góp của nhiều thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường Đại họcVinh, sự tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè

Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè lòng biết

ơn chân thành

Vinh, tháng 12 năm 2009

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lệ

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 KHÔNG GIAN TRẦN THẾ TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC .6

1.1 Thống kê, phân loại 6

1.2 Đặc điểm của không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục 7

1.2.1 Không gian xác định 7

1.2.2 Kiểu không gian đặc trưng của truyện truyền kỳ 14

1.2.3 Không gian thực kết hợp với không gian huyễn hoặc 22

1.2.4 So sánh đặc điểm không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục với trong Tiễn đăng tân thoại và truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam 25

1.3 Chức năng của không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục 33

1.3.1 Không gian trần thế đối với việc thể hiện chủ đề truyện 33

1.3.2 Không gian trần thế đối với việc thể hiện nhân vật 39

1.3.3 Không gian trần thế đối với việc biểu hiện quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Dữ 46

Chương 2 KHÔNG GIAN THƯỢNG GIỚI TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 49

2.1 Thống kê, phân loại 49

2.2 Đặc điểm của không gian thượng giới trong Truyền kỳ mạn lục 50

Trang 4

2.2.2 Không gian siêu thoát của một tâm hồn muốn xa lánh thế sự

54

2.2.3 Đối sánh đặc điểm không gian thượng giới trong Truyền kỳ

mạn lục với trong Tiễn đăng tân thoại và truyện cổ tích thần

kỳ Việt Nam 55

2.3 Chức năng của không gian thượng giới trong Truyền kỳ mạn lục 59

2.3.1 Không gian thượng giới đối với việc thể hiện chủ đề truyện

592.3.2 Không gian thượng giới đối với việc thể hiện nhân vật 622.3.3 Không gian thượng giới đối với việc biểu hiện quan niệm

thẩm mĩ của Nguyễn Dữ 65

Chương 3 KHÔNG GIAN ÂM PHỦ, THỦY PHỦ TRONG TRUYỀN KỲ

MẠN LỤC 683.1 Thống kê, phân loại 68

3.2 Đặc điểm của không gian âm phủ, thủy phủ trong Truyền kỳ mạn lục

703.2.1 Không gian hư ảo 703.2.2 Không gian đặc trưng của truyện truyền kỳ 743.2.3 Đối sánh đặc điểm những không gian âm phủ, thủy phủ

trong Truyền kỳ mạn lục với trong Tiễn đăng tân thoại và

truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam 78

3.3 Chức năng của không gian âm phủ, thủy phủ trong Truyền kỳ mạn lục

853.3.1 Không gian âm phủ, thuỷ phủ đối với việc thể hiện chủ đề

truyện 853.3.2 Không gian âm phủ, thủy phủ đối với việc thể hiện nhân vật

92

Trang 5

3.3.3 Không gian âm phủ, thủy phủ đối với việc biểu hiện quan

niệm thẩm mĩ của Nguyễn Dữ 98

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Mỗi thể loại văn chương đều có những điểm riêng biệt trong quanniệm về thế giới và con người, đồng thời có những đặc điểm trong việc thểhiện các giá trị đó Đặc điểm quan trọng nhất của truyện truyền kỳ là tính chất

“kỳ”, tức là khác lạ trong cách tư duy về thế giới và con người Trong Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, Lỗ Tấn cho rằng truyện truyền kỳ thể hiện ý thức làm

tiểu thuyết của người đời Đường là nói đến vai trò của hư cấu ở loại tác phẩmnày Sự hư cấu cũng biểu hiện ở không gian nghệ thuật vì vậy phạm trù này rấtđáng được nghiên cứu Cho đến nay, trong nhiều trường hợp, sự cảm thụ khônggian nghệ thuật trong truyện truyền kỳ không khác mấy với không gian nghệthuật của truyện dân gian hoặc của truyện ngắn hiện đại nên chưa thấy hết giá trịđích thực của nó Nghiên cứu đề tài này góp phần khắc phục tình trạng đó

1.2 Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam Tác

phẩm này tiếp thu nhiều thành tựu của truyện truyền kỳ Trung Quốc, nhất là

Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu Nghiên cứu đề tài này góp phần chỉ ra sự

tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm ở phạm trù không gian nghệ thuậtgóp phần làm rõ sự tiếp thu sáng tạo của Nguyễn Dữ

1.3 Viết Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ cũng sử dụng chất liệu văn

học dân gian Việt nam Nghiên cứu đề tài này để thấy được sự khác biệt giữatruyện truyền kỳ và văn học dân gian ở phương diện không gian nghệ thuật

1.4 Trong chương trình ngữ văn Trường phổ thông hiện nay có dạy

-học một số truyện truyền kỳ (Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện con

hổ có nghĩa, Chuyện chức phán sự đền Tản viên, Dế chọi) Nghiên cứu đề tài

này nhằm góp phần dạy - học tốt hơn những truyện truyền kỳ đó

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Khái niệm không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong của hình tượng nghệthuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật

Trang 7

bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhấtđịnh, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tínhcủa nó” [19, 60].

Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là sáng tạo của nghệ sĩnhằm biểu hiện con người và thế giới, do đó không thể quy nó về không gianđịa lý hay không gian vật lý Không gian địa lý được đo bằng số đo chính xác.Khi trở thành hình tượng không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học, khônggian địa lý chịu độ khúc xạ nhất định của tâm lý sáng tạo nghệ thuật của thờiđại, cá tính sáng tạo và thể loại Không gian và thời gian là hai chiều tồn tại củahình tượng nghệ thuật, cho thấy quan điểm nghệ thuật về con người của nhàvăn Không một hình tượng nghệ thuật nào tồn tại ngoài không gian Vì vậymỗi nhà văn và từng tác phẩm văn học có kiểu không gian riêng, thể hiệnphong cách của mình

Không gian nghệ thuật là một giá trị ước lệ mang ý nghĩa cảm xúc.Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học sinh động, có tác dụng môhình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức,tôn ti trật tự

Mô hình không gian được tạo bởi các cặp phạm trù: cao - thấp, xa - gần,rộng - hẹp, cong - thẳng, bên này - bên kia Còn mô hình thế giới có thể đượctạo ra bởi các cặp tương quan: ở đây - ở kia, quê nhà - quê người, nhà quê -thành phố, cõi tiên - cõi phàm Mỗi không gian có tính chất, quy luật riêng,được dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội Mỗinhà văn đều có cách nhìn nhận và thể hiện không gian khác nhau, phụ thuộccách nhìn về thế giới, thời gian, hoàn cảnh sống Không gian nghệ thuật chẳngnhững cho ta thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn thể hiện quanniệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học

“Tóm lại, không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giớinghệ thuật Sự đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian các miền phương

Trang 8

vị, các chiều tạo thành các ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quanniệm của tác phẩm” [51, 93]

2.2 Nghiên cứu không gian nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục đã có những kết quả bước đầu

Trong Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII, các tác giả

khẳng định: “Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Dữ lại phóng tác những cốt

truyện gắn bó với đất Việt Trong tất cả hai mươi truyện của Truyền kỳ mạn lục, hầu hết nhân vật chính là người nước ta, hầu hết sự tích đều xảy ra ở đất

nước ta Thời gian xảy ra các truyện là đời Lý, đời Hồ hoặc đời Lê Sơ Không

gian của truyện là từ Nghệ An trở ra” [27, 507]

Đinh Phan Cẩm Vân trong bài Cái kỳ trong tiểu thuyết truyền kỳ đã cho

rằng: “Có thể nói truyền kỳ đã mở tung mọi cánh cửa không gian Nếu nhưtrong thần thoại, cổ tích chủ yếu khai thác không gian trần thế thì truyền kỳlại để một dư địa rộng rãi cho không gian huyễn tưởng, kỳ ảo” [65, 49]

“Thiên đình, thuỷ cung, âm phủ Là những không gian kỳ ảo khác mà truyền

kỳ khai thác” [65, 49] Đây là những gợi ý cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu

Vũ Thanh trong bài Những biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam đã thấy rằng một số truyện trong Truyền kỳ mạn lục

“chuyển những vấn đề trong đời sống hiện thực vào thế giới thần kỳ, Nguyễn

Dữ rõ ràng đã tạo ra một không gian tự do cho sự sáng tạo” [58, 28]

Trong luận văn Các kiểu kết cấu trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn

Dữ, tác giả Trần Thị Thu Thủy cho rằng: “Với môtíp quen thuộc của tác giảvăn học dân gian, trong tác phẩm của mình, ông đã khai thác môtíp đó ở khíacạnh yêu đương, tạo cho tác phẩm một không gian huyễn hoặc, nhiều yếu tố

ly kỳ, góp phần làm nên giá trị của tác phẩm” [62, 23]

Trong luận văn So sánh nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu, Nguyễn Thị Cẩm Tú có đề

cập đến không gian nghệ thuật: “Người đọc sẽ cùng các nhân vật phưu lưutrong bốn cõi không gian vừa phi quãng tính, vừa vô định hướng” [64, 65]

Trang 9

Nhà nghiên cứu Đài Loan Trần Ích Nguyên nhận xét: “Trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, ngoài mở đầu Hạng Vương từ ký khá đặc biệt ra, còn

ở các truyện còn lại, nhân vật đều là người Việt Nam, nơi xảy ra truyện cũng ởtrong lãnh thổ Việt Nam, phong vị nước Nam rất nồng đậm” [42, 202]

Trong các đề tài nghiên cứu khác nhau, một số tác giả đã đề cập đến

vấn đề không gian trong Truyền kỳ mạn lục, nhìn chung còn ở mức độ sơ

lược Mặc dù vậy, kết quả của các công trình nghiên cứu trên là những gợi ý

bổ ích cho chúng tôi

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Luận văn nhằm làm rõ những hình thức thể hiện phạm trù không

gian trong Truyền kỳ mạn lục và cắt nghĩa hiện trạng đó

3.2 Chỉ ra ý nghĩa của phạm trù không gian trong việc thể hiện chủ đềtác phẩm, thể hiện nhân vật và biểu hiện quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Dữ

3.3 Bước đầu chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của phạm trù không

gian trong Truyền kỳ mạn lục so với Tiễn đăng tân thoại và truyện cổ tích

thần kỳ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là không gian nghệ thuật trong Truyền kỳ mạn lục

Sử dụng văn bản Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Phạm Tú

Châu dịch, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lý, Nxb Hà Nội 1997

5 Phương pháp nghiên cứu

Để luận văn đạt được các mục đích đã đề ra, chúng tôi sẽ:

- Áp dụng lý thuyết về không gian nghệ thuật

- Luôn bám sát các đặc trưng của truyện truyền kỳ

- Sử dụng các phương pháp: Thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp,đặc biệt chú trọng phương pháp so sánh

Trang 10

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

6.1 Nghiên cứu một cách hệ thống phạm trù không gian nghệ thuật ở

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong bachương:

Chương 1 Không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục

Chương 2 Không gian thượng giới trong Truyền kỳ mạn lục

Chương 3 Không gian âm phủ, thuỷ phủ trong Truyền kỳ mạn lục

Trang 11

Chương 1

KHÔNG GIAN TRẦN THẾ TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

Không gian trần thế là phạm vi quan trọng nhất để con người tồn tại

Truyền kỳ mạn lục thể hiện phạm trù này vừa có những nội dung phổ quát vừa

có những nội dung cá biệt

1.1 Thống kê, phân loại

Thời trung đại, người ta cho rằng có hai thế giới vừa tồn tại song song,vừa thâm nhập vào nhau Đó trước hết là thế giới trần thế, nơi con người tồntại với những quan hệ với xã hội và với người khác Cùng với thế giới đó còn

có thế giới siêu hình, vừa có những điểm tương tự như ở thế giới trần gian,vừa có những sự khác biệt lớn Đây là biểu thị thế giới quan đặc thù của tácgiả văn chương Việt Nam thời trung đại

Hai mươi truyện của Truyền kỳ mạn lục đều thể hiện không gian trần

thế, trong đó có chín truyện không gian trần thế chiếm ưu thế, chiếm 45% Đó

là truyện: Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện cây gạo, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện nàng Thúy Tiêu, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Chuyện Lệ Nương

Không gian trần thế trong những truyện trên được tác giả nhìn từ nhiềugóc độ: không gian vũ trụ, không gian đời sống, không gian tâm trạng Tất

cả đều nhằm phản ánh cuộc sống của con người trong xã hội phong kiến suyđồi đương thời Không gian này góp phần thể hiện sự đối lập giữa cuộc sống

xa hoa của tầng lớp thống trị với cuộc sống cực khổ của các tầng lớp dướitrong xã hội Những biểu hiện suy thoái của Nho giáo, Phật giáo và của đạođức con người đương thời được nhìn nhận trong không gian trần thế Cónhững truyện không gian cụ thể xuất hiện ngay trong nhan đề của truyện như:

Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện

Trang 12

đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang Trong những truyện này không gian

nghệ thuật nơi trần thế được Nguyễn Dữ miêu tả một cách cụ thể Không gian

tự nhiên, thân thuộc, gần gũi với con người được dùng để bộc lộ tâm trạng vuibuồn, đau thương, mất mát hay hạnh phúc của con người Đó cũng là nơi thểhiện những sự suy đồi của xã hội lúc bấy giờ Trong ba loại không gian: khônggian trần thế, không gian thượng giới, không gian âm phủ thì không gian trần thế

có vị trí quan trọng nhất trong không gian nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục Qua

đây xã hội, con người được biểu hiện một cách chân thực

Không gian trần thế cho thấy rõ xã hội loạn lạc bấy giờ Con người vớinhững khổ đau, mất mát hay sa đọa, ham mê sắc dục được hiện ra rõ nét

Trong Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na và Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, không gian chùa chiền và không gian rừng sâu

núi thẳm góp phần thể hiện mặt trái của xã hội Việt Nam thời đó với nhữngrối ren, phức tạp Hiện trạng xã hội loạn lạc, cướp bóc hiện ra dưới ngòi bútcủa Nguyễn Dữ sắc nét, thể hiện sự thống khổ của tầng lớp dưới trong xã hội

Trong Chuyện nàng Thúy Tiêu, không gian trần là nơi tội ác của quan Trụ

Quốc biểu lộ một cách cụ thể Con gái nhà lành bị bắt, bị xa cách, bóc lột

Hoặc không gian chiến tranh, loạn lạc trong Chuyện Lệ Nương Con người

cảm thấy cuộc sống bế tắc, ngột ngạt, không lối thoát nên tìm đến cái chết đểthoát khỏi thực tại Tất cả những vất vả, khó khăn, bất hạnh trong cuộc sốngđược thể hiện lên chân thực

1.2 Đặc điểm của không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục

Trang 13

trị nội dung sâu sắc phải có nghệ thuật đặc sắc Một trong những yếu tố gópphần làm nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm là không gian nghệ thuật.

Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm suất sắc của Nguyễn Dữ, được xem là

“áng văn hay của bậc đại gia” (Phan Huy Chú) Tác giả đã xây dựng thànhcông những nhân vật có tính cách và số phận phong phú, đa dạng Nghệ thuậttái hiện không gian đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên những giátrị đó Không gian nghệ thuật biểu hiện quan niệm về thế giới và con người làmột phương thức chiếm lĩnh thực tại, và là nơi thể hiện tư tưởng thẩm mĩ,cảm xúc thẩm mĩ của tác giả

Trong Truyền kỳ mạn lục, nhân vật là người Việt Nam, nơi xảy ra

truyện cũng ở trong lãnh thổ Việt Nam, vì thế phong vị nước Nam rất nồngđậm Không gian không chỉ là môi trường sống của các nhân vật, là bối cảnhcủa các sự kiện và đối tượng miêu tả của nhà văn mà còn có mối liên hệ với

thời gian Không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục là không gian địa

điểm xác định có mối quan hệ với thời gian và nhân vật Tên nhân vật, thờigian sống, không gian xảy ra các sự việc tất cả đều được tác giả thể hiện mộtcách chi tiết Thời gian thay đổi thì không gian cũng đổi thay Nội tâm nhânvật, hành động của nhân vật cũng có sự biến đổi theo chiều của không gian,thời gian Thời gian xác thực nơi trần thế thực hiện những nhiệm vụ nghệthuật khác với thời gian hư ảo nơi tiên giới, âm phủ, thủy phủ Sự gắn bó củanhân vật với không gian trần thế tạo nên những vẻ đẹp nội tại của tác phẩm

“Không gian địa điểm thì được xác định bằng các giới hạn và tính chất chức

năng của nó, tính đối lập của nó” [51, 90] Không gian trần thế trong Truyền

kỳ mạn lục được tác giả giới hạn từ Nghệ An trở ra, mang chức năng riêng thể

hiện chủ đề, nhân vật, quan niệm nghệ thuật của tác giả Trong không gian đóthì có sự đối lập giữa hư và thực, có sự đối lập giữa không gian bên trong vàbên ngoài Mỗi nhà văn có cái nhìn về không gian không giống nhau Có nhàvăn nghiêng về không gian tự nhiên, không gian vũ trụ, có nhà văn lại thiên

Trang 14

về không gian tâm tưởng, không gian sống Chính cách nhìn không gian khácnhau dẫn đến đặc điểm của từng loại không gian trong từng thể loại và từngthời kỳ văn học Không gian là nguồn cảm hứng để tác giả mở nút, thắt nútcho nhân vật, cốt truyện, tư tưởng chuyển đổi linh hoạt, tạo sự độc đáo, hấp

dẫn cho tác phẩm Không gian trần thế của Truyền kỳ mạn lục là không gian xác định Chuyện nghiệp oan của Đào thị xảy ra ở Từ Sơn (Bắc Ninh) vào

thời gian niên hiệu Thiệu Phong thứ năm (1345) đời nhà Trần Điều này còn

được thể hiện trong nhiều truyện khác như Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện cây gạo Tác giả khắc họa một cách chi tiết, sau mỗi địa danh

cụ thể được ghi chú một cách rõ ràng Không gian đó là nguồn gốc của nhânvật trong truyện Ngay ở phần mở đầu ở hầu hết các truyện viết về không gian

trần thế trong Truyền kỳ mạn lục đều được Nguyễn Dữ miêu tả cụ thể là

không gian từ Nghệ An trở ra gần Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, HàNam, ngoại thành Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây, Bắc

Giang, Lạng Sơn, Hòa Bình, Bắc Ninh, Thái Bình (Chuyện người nghĩa phụ

ở Khoái Châu, Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện nàng Thúy Tiêu ) Trần gian là không gian thực tại, không gian con người sống,

không gian quen thuộc, nơi xảy ra mọi biến cố, đưa nhân vật đi vào thế giớilãng mạn hay thực tại trần trụi để bộc lộ nội tâm, tính cách, phẩm chất

Mở đầu Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, tác giả viết: “Từ Đạt ở

Khoái Châu lên làm quan tại thành Đông Quan thuê nhà ở cạnh cầu ĐồngXuân” Tên tuổi, quê quán được Nguyễn Dữ giới thiệu ngay ở phần mở đầucùng với các quan hệ Cuộc gặp gỡ với láng giềng là quan thiêm thư PhùngLập Ngôn dẫn đến mối lương duyên Trọng Quỳ con trai họ Phùng và NhịKhanh con gái họ Từ “Gặp khi Nghệ An có giặc, triều đình xuống chiếu kénchọn một viên quan giỏi bỏ vào cai trị”, vì vậy Trọng Quỳ đi cùng với cha đểNhị Khanh ở nhà Vợ chồng chia tay trong nỗi nhớ thương vô hạn Nhị Khanh

ở nhà khi cha mẹ nối nhau tạ thế, nàng đưa tang về Khoái Châu, chôn cất tử tế

Trang 15

rồi đến ở chung với bà cô Lưu Thị Đến một không gian mới tưởng được yênthân nhưng bà cô muốn gả nàng cho tướng quân họ Bạch Nhị Khanh sợ hãi,nhờ người bõ già lặn lội vào xứ Nghệ hỏi thăm tin tức của chồng Đối lập vớikhông gian rộng lớn bên ngoài, binh lửa rối ren là không gian nhỏ hẹp nơiTrọng Quỳ sống Trọng Qùy theo người bõ già về quê Vợ chồng gặp nhauvừa mừng vừa tủi Địa điểm được nhắc đến trong truyện là Quy Hóa (nguyênchú “thuộc xứ Hưng Hóa”), nay thuộc tỉnh Phú Thọ, là nơi Trọng Quỳ tìmđến một người bạn Hay không gian của đền Trưng Vương (xã Hát Giang,huyện Phú Lộc), nay thuộc tỉnh Hà Tây, nơi mà Nhị Khanh sau khi chết từtrên không gọi với Trọng Quỳ hẹn gặp: “Có phải Phùng lang đấy không? Nếucòn nghĩ đến tình xưa thì ngày ấy, tháng ấy xin đến chờ thiếp ở đền TrưngVương” Tạo ra không gian cụ thể nhằm làm cho người đọc tin đó là câuchuyện có thật, xảy ra trong thời gian, xác định

Trong Chuyện cây gạo, không gian được thông báo cùng với miêu tả

nhân vật “Trình Trung Ngộ là một chàng trai đẹp ở đất Bắc Hà, nhà rất giàuthuê thuyền xuống vùng Nam buôn bán Chàng thường đỗ thuyền ở dưới cầuLiễu Khê rồi đi vào chợ Nam Xang Dọc đường hay gặp một người con gáixinh đẹp từ Đông thôn đi ra” Trong một đêm, ở trên cầu, họ gặp nhau và xem

đó là may mắn của duyên trời Từ đó đi lại với nhau ở dưới thuyền NhịKhanh tối đến sáng đi, được hơn một tháng thì bọn bạn buôn biết chuyện bảovới Trung Ngộ cẩn thận, xa lánh những chỗ hiểm nghi Trung Ngộ khen phải,rồi một hôm chàng bảo với nàng cho biết nhà cửa, tung tích muốn đến chơi.Khi đến Đông thôn và biết mình lâu nay đi lại với hồn ma chàng sợ bỏ chạy

về cầu Liễu Khê Từ đấy Trung Ngộ ốm nặng và luôn mê sảng Mọi ngườingủ say, đến sáng thức dậy thì thấy mất Trung Ngộ Đến Đông thôn tìm thìthấy chàng ôm quan tài mà chết Từ đó hồn của hai người ở trên cây gạo gầnchùa trên bờ sông quấy nhiễu dân lành Ở chuyện này quê quán cũng như nơibuôn bán, sinh sống của nhân vật, xảy ra các sự việc được giới thiệu kỹ càng

Trang 16

Chợ cũng được miêu tả xác thực Chợ Nam Xang là chợ ở huyện Nam Xang,tức huyện Lý Nhân, nay thuộc tỉnh Hà Nam Quảng đường từ dưới cầu đi vàochợ là nơi gặp gỡ kì lạ giữa Trình Trung Ngộ với hồn ma của Nhị Khanh

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây và Chuyện nghiệp oan của Đào thị cũng mở đầu kiểu như vậy Trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây: “Hà Nhân, người học trò

quê ở Thiên Trường, khoảng năm Thiệu Bình ngụ ở kinh sư để tòng cụ ỨcTrai Mỗi buổi đi học, đường tất phải qua phường Khúc Giang Trong phường

có cái trại gọi là trại Tây, dinh cơ cũ của quan Thái sư triều Trần” Địa điểm ởđây là Thiên Trường, đời nhà Trần là phủ gồm các huyện Mỹ Lộc, GiaoThuỷ, Tây Chân, Thuận Vi Khoảng thời Lê thuộc trấn sơn Nam, nay thuộctỉnh Nam Định và một phần thuộc tỉnh Thái Bình Đó là nơi Hà Nhân sống Ở

đó chàng gặp hồn hoa họ Liễu tên là Nhu Nương họ đào tên là Hồng Nương

và yêu nhau say đắm Hà Nhân cho là sự kỳ ngộ của đời mình So với chuyệnxưa, có thể sánh với Bùi Hàng và vượt Tăng Nhụ Phòng của Hà Nhân là nơidiễn ra những cuộc vui thú với hai nàng Không gian còn mở rộng, không bóhẹp trong căn phòng của Hà Nhân mà xảy ra ở trại Tây nơi hồn hoa của hainàng sống

Mở đầu Chuyện nghiệp oan của Đào thị, tác giả giới thiệu “ả danh kỷ ở

Từ Sơn là Đào thị, tiểu tự Hàn Than, thông hiểu âm luật và chữ nghĩa” Đượctuyển vào làm cung nhân, hàng ngày chầu vua ở tiệc rượu hay chiếu bạc nàngthông minh nên được vua hết lòng khen ngợi Sau khi vua mất nàng phải ra ởngoài phố, thường đi lại nhà quan Hành khiển là Ngụy Nhược Chân, Vợ quanHành khiển ngờ Hàn Than tư thông với chồng nên đánh ghen Hàn Than thuêthích khách trả thù nhưng chuyện bị bại lộ nên phải trốn vào tu ở chùa, bắtđầu cuộc sống kiếp tu hành Ân oán của cuộc đời nàng khiến sự di chuyển vềkhông gian sống, hết nơi này sang nơi khác như một vòng tròn khép kín

Những chuyện như Chuyện nàng Thúy Tiêu và Chuyện Lệ Nương cũng đều mở đầu kiểu như vậy Ví dụ ở Chuyện nàng Thúy Tiêu: “Dư Nhuận Chi

Trang 17

người đất Kiến Hưng tên là Tạo Tân, có tiếng hay thơ, nhất là về những bài hát,lại càng nức danh ở kinh kỳ nhân thế Dư càng nổi danh ở chốn tao đàn”.Trong một lần Nguyễn Trung Ngạn mở tiệc mời Dư, chàng đã gặp ả Thúy Tiêu

và được Nguyễn tặng cho Chàng đưa nàng về quê Kiến Hưng Một lần đi dânghương lễ phật ở chùa Tháp Báo Thiên, Thúy Tiêu bị quan Trụ Quốc họ Thâncướp về Vợ chồng họ phải xa cách, buồn nhớ và đau khổ Ở truyện này địađiểm xảy ra câu chuyện là ở Kiến Hưng, thời Trần là phủ, gồm đất các huyện ÝYên, Thiên Bản, Độc Lập, Đại Loan, Vọng Doanh, tương đương với các huyện

Ý Yên, Vụ Bản, Nghĩa Hưng Nam Định ngày nay

Chuyện Lệ Nương mở đầu: “Nguyễn Thị Diễm là một người họ lớn ở

huyện Đông Sơn em họ ngoại của Trần Khát Chân, cùng người đàn bà họ Lýquê ở huyện Cẩm Giàng, cùng mở ngôi hàng bán phấn đối cửa nhau bênngoài thành Tây Đô Xóm giềng gần gặn, tình nghĩa ngày một thân nhưng cảhai đều chưa có con cái Một hôm đến động Hồ Công làm lễ cầu tự” Họ giaoước sau này sẽ làm thông gia Quả nhiên Nguyễn Thị sinh con gái đặt tên là

Lệ Nương, Lý Thị sinh con trai đặt tên là Phật Sinh, cả hai đều ham nghềnghiên bút Khi Lệ Nương bị bắt vào cung, Phật Sinh rất thất vọng và quyết đitìm nàng bằng được Từ biệt mẹ già, sinh theo vua Giản Định để đánh lại Hánthương cướp lại Lệ Nương Khi biết Lã Nghị bắt mấy trăm phụ nữ, Phật Sinhdâng kế cho vua Giản Định khiến quân Lã Nghị phải nhổ trại chạy trốn, lùi lênphía bắc đóng ở Xương Giang, sau phải lùi lên Lạng Sơn Sinh vì tìm vợ mà tớiđây, dò la hỏi han, may gặp một bà già và được bà kể lại cái chết của LệNương Truyện này có nhiều địa điểm: huyện Đông Sơn nay thuộc tỉnh ThanhHoá, huyện Cẩm Giàng nay thuộc tỉnh Hải Dương, Tây Đô là tên thành nhà Hồ

ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Lạng Sơn đời Trần là Lộ Lạng Giang, có lẽ ngoài tỉnhLạng Sơn ngày nay còn có một phần đất Kinh Bắc (tức Bắc Giang hiện nay).Truyện còn diễn ra ở phủ Thiên Trường, nơi mà tướng giặc Lã Nghị cầm giữmấy trăm phụ nữ Tất cả được khắc họa một cách cụ thể góp phần làm cho câu

Trang 18

chuyện thêm chân thực và hấp dẫn Không gian trong truyện có sự thay đổicùng với thời gian và tâm trạng, hành động của nhân vật

Tác giả thường giới thiệu nhân vật cùng với quê quán Trong cáctruyện, không gian gắn với thời gian cụ thể xác thực “Cái điều “không ly kỳ

mà vẫn ly kỳ” chính là từ trong những sự kiện bình thường, rồi thông qua cấu

tứ nghệ thuật xảo diệu, khơi gợi được những chủ đề khác thường rung độnglòng người, viết nên được những hình tượng nhân vật mà người đọc khôngbao giờ quên” [55, 141] Ở những truyện viết về không gian trần thế, bêncạnh giới thiệu nhân vật và địa điểm xảy ra câu chuyện, mở đầu truyện tênnhững ngọn núi, dòng sông, cũng được tác giả giới thiệu cụ thể Điều này

được thể hiện rõ qua các truyện Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang

Chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na viết: “Đất Thanh Hóa phần

nhiều là núi bát ngát bao la đến mấy nghìn dặm Trong đó có một ngọn núicao chót vót với tên gọi là núi Na Núi có cái động dài mà hẹp, hiểm trở màquạnh hiu, bụi trần không bén tới, chân người không bước tới” Không gianvắng vẻ, hiu quạnh đó phù hợp để xuất hiện những nhân vật nho sĩ ẩn dật.Trong tác phẩm tên sông, tên làng cũng được nêu ra cụ thể, là những địa danh

có thực Sông Đáy trong truyện tức là sông Tiểu Đáy chảy từ huyện SơnDương, Tuyên Quang về địa phận các huyện Lập Thạch và Tam Dương naythuộc tỉnh Phú Thọ hay cửa bể Kỳ La ở làng Kỳ La, huyện Kỳ Anh nay thuộctỉnh Hà Tĩnh

Trong Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, hình ảnh sông Đà được nhắc

đến ngay từ mở đầu chuyện: “Năm Bính Dần (1386), vua Trần Phế đi săn, đỗlại trên bờ bắc sông Đà, đêm mở bữa tiệc trong trướng” Vua Trần Phế đi săn

và gặp hai người: tú tài họ Viên và xử sĩ họ Hồ dâng lời can gián Sau đó HồQuý Ly sai người đi theo hai người đó thì thấy một người biến thành vượn

một người biến thành cáo Trong Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều

Trang 19

thì nhiều tên chùa được tác giả giới thiệu ngay ở phần đầu chuyện: “Đời nhàTrần, tục tin thần quỷ, thần từ, phật tử chẳng đâu là không có Các chùa nhưchùa Hoàng Giang, chùa Đồng Cổ, chùa An Sinh, chùa An Tử, chùa PhổMinh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi, những người cắt tóclàm tăng ni, nhiều gần bằng nữa số dân thường nhất là vùng ở huyện ĐôngTriều” Một không gian có nhiều đền chùa hoang tàn, đổ nát Nguyễn Dữthông qua đó phản ánh sự suy đồi và những tệ nạn đang xảy ra

Như vậy, việc miêu tả không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục một

cách cụ thể xác thực, gắn liền với thời gian xác thực và nhân vật của truyệntạo cho người đọc tin vào những câu chuyện đó Nội dung này của thi pháp

không gian trong Truyền kỳ mạn lục cần được giải thích từ đặc điểm của tác

phẩm tự sự nói chung và truyện truyền kỳ nói riêng

Trong tác phẩm tự sự nói chung không gian được miêu tả cụ thể, kỹlưỡng trở thành khung cảnh để nhân vật hoạt động, triển khai tính cách vàhiện thực hoá số phận Trong truyện truyền kỳ, ngoài phần chung đó, khônggian còn có ý nghĩa khác nữa Truyện truyền kỳ có một nghịch lý là yếu tố kỳ

lạ tồn tại phổ biến, làm thành thuộc tính của tác phẩm, “phi kỳ bất truyền”(không kỳ lạ không lưu truyền) Sử dụng yếu tố kỳ là một đặc trưng điển hìnhcủa thể loại truyền kỳ Mặt khác tác giả lại muốn người đọc tin là thực Nóimột cách khác trong truyện truyền kỳ cái thực luôn được hư hoá và cái hưluôn được thực hóa Một trong những biện pháp là gắn những chi tiết hư cấuvới những nhân vật, sự kiện, thời điểm cụ thể

1.2.2 Kiểu không gian đặc trưng của truyện truyền kỳ

Mỗi loại thể văn học có những nét đặc trưng không gian nghệ thuậtcũng thuộc nét đặc trưng đó để phân biệt các thể loại, các thời kỳ Không gian

trần thế trong Truyền kỳ mạn lục hoang vắng, lạnh lẽo, mơ hồ, vừa ảo vừa

thực, tạo nên cảm giác kỳ bí cho truyện Đó là không gian đền chùa, miếu,

Trang 20

bến sông, gốc đa, nhà hoang, mảnh vườn, con đường gắn liền với những câuchuyện kỳ lạ, tạo ra không gian thực ảo lẫn lộn tồn tại trong nhân gian

1.2.2.1 Không gian đền chùa

Từ thế kỷ XV trở về trước, văn học Việt Nam mang nặng tính chứcnăng, vai trò của các yếu tố ngoài văn học lớn, thì từ thế kỷ XVI trở đi, vị thế

của các thể loại thuần văn chương quan trọng hơn Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ là tác phẩm có những thuộc tính điển hình của văn chương.Nguyễn Dữ sống ở thế kỷ XVI, thời kỳ mở đầu quá trình khủng hoảng củachế độ phong kiến Việt Nam Do vậy xã hội có những chuyển biến phức tạp

về mọi mặt, “khái niệm “dân tộc đau thương” chính là để chỉ lịch sử dân tộc

ta thời kỳ này với đúng nghĩa của nó” [20, 489] Đây là giai đoạn mà phẩmchất dân tộc không được biểu hiện ở tầng lớp thống trị mà là ở những kẻ bịtrị, những con người nhỏ bé, bất hạnh nhưng phẩm chất cao quý Thời kỳ nàykhoa học kỹ thuật chưa phát triển, con người chưa lý giải được nhiều hiệntượng của cuộc sống, nhận thức hạn chế nên tin vào một thế lực siêu nhiên, vôhình, tin vào thần linh, tín ngưỡng Chùa chiền được xây dựng khắp nơi đểphục vụ nhu cầu đó, giúp người ta mong đạt được những điều may mắn, tốtđẹp Trong sáng tác văn chương thời kỳ này, các tác giả trung đại bằng ngòibút của mình đã khắc hoạ không gian đền chùa một cách chi tiết để phản ánh

thực tại Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ cũng không nằm ngoài tình hình

đó Không gian đền, chùa xuất hiện nhiều trong các truyện: Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện cây gạo, Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều

Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu là câu chuyện về nàng Nhị

Khanh tiết nghĩa Sau thời gian vợ chồng xa cách, Nhị Khanh và Trọng Quỳđược đoàn tụ Trọng Quỳ vì thói ham chơi không đổi nên một lần thua bạcphải gán vợ cho tên lái buôn họ Đỗ Nhị Khanh đau khổ, thương hai con cònnhỏ song vẫn quyết quyên sinh Trọng Quỳ ăn năn, hối lỗi, trong một lần ngủ

Trang 21

ở gốc cây bàng thì nghe tiếng gọi “có phải Phùng lang đấy không? Nếu cònnghỉ đến tình xưa thì ngày ấy, tháng ấy xin đến chờ thiếp ở cửa đền TrưngVương” Trọng Quỳ lấy làm lạ nhưng vẫn đến đúng hẹn Không gian của buổichiều tà mở ra trước mắt với “bóng tà dọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếngquạ kêu ở trên cành xơ xác” Không gian vắng vẻ, không một bóng người,tiếng quạ kêu càng làm tăng cảnh hoang vắng, ảm đạm Trọng Quỳ đợi NhịKhanh mãi không thấy, khi thời gian dần trôi về đêm, khoảng cuối canh ba thìhai người gặp nhau Trọng Quỳ được Nhị Khanh tha thứ Trong đêm vắnglạnh, họ giãi bày tâm sự Nhị Khanh cho chồng biết về tương lai và bày chochồng biết cách nuôi dạy con cái, thể hiện sự bao dung cao cả, tha thứ chochồng tất cả mọi tội lỗi Ở trong truyện này, không gian ngôi đền gắn liền tâmtrạng của nhân vật, với thời gian Thời gian chuyển đổi không gian càng trởnên lạnh lẽo, làm tăng sự hoang vắng của ngôi đền Chính sự biến đổi củakhông gian và thời gian không những góp phần tạo sự hoang vắng cho ngôiđền mà còn đề cao phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ

Chuyện cây gạo kể về Trình Trung Ngộ gặp gái đẹp Nhị Khanh có con

hầu mang cây hồ cầm đi theo Nhị Khanh chủ tâm quyến rũ chàng, đêm đêmcùng nhau ân ái Nghe lời khuyên của bạn bè, chàng đến nơi để xem xét giacảnh, chàng trông thấy chiếc quan tài nhỏ đề “linh cữu Nhị Khanh” biết lâunay mình đi lại với hồn ma nên bỏ chạy Nhưng chàng không chống lại được

sự mê hoặc của u hồn, cuối cùng ôm áo quan tài mà chết, rồi cùng Nhị Khanhbiến thành yêu quái Hai u hồn nương tựa trên cây gạo cạnh ngôi chùa bênsông Năm Canh ngọ nhà Trần, có vị đạo nhân nằm ngủ trong chùa ấy “giữalúc sông quạnh, trăng mờ, bốn bề im lặng đạo nhân thấy một đôi trai gái lõa

lồ mà cùng nhau cười đùa nô giỡn, một lát đến gọi thình lình mở cửa trongchùa” Đó là linh hồn của Trung Ngộ và Nhị Khanh tác yêu tác quái Nhângian có câu “thần cây đa, ma cây gạo” Cây gạo là nơi trú ẩn của ma quỷ.Chùa chiền lúc này không còn là nơi linh thiêng để con người cầu xin, lễ Phật

Trang 22

mà là nơi ma quỷ hoành hành Qua không gian đó tác giả muốn phản ánh thựctại rối ren của xã hội đương thời, sự suy đồi đạo đức, ham mê sắc dục vànhững tệ nạn hoành hành

Chùa chiền còn là nơi lánh nạn của những người có số phận bất hạnh

như Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị Truyện viết về một

danh nữ được vua cho vào làm cung nhân Sau khi vua mất ả bị đẩy ra phố,đến ở nhà quan Hành khiển bị vợ quan Hành khiển, đánh ghen Nàng thuêthích khách trả thù nhưng bị lộ “Hàn Than sợ phải cạo trọc đầu trốn đến tu ởchùa Phật Tích” Xuất thân bị lộ, Hàn Than ra khỏi chùa Phật Tích tìm đếnchùa Lệ Kỳ ở Hải Dương để lánh nạn lần thứ hai “Đó là nơi nước tú non kỳ,phong cảnh tuyệt đẹp”, thanh tịnh, phù hợp với những nơi linh thiêng Songsống ở đó, tính nết của nàng vẫn không thay đổi Vì vậy dẫn đến việc nàng và

sư Vô Kỷ tư thông với nhau, cả hai không lo niệm kinh mà suốt ngày vuichơi, làm thơ liên cú Những bài thơ đó đều nói về thiên nhiên, quang cảnh ởtrong chùa Hai người tư thông, phá vỡ không gian đẹp đẽ, linh thiêng củangôi chùa Không gian của chùa chiền trong chuyện này không còn là nơi linhthiêng, nó bị phá vỡ bởi tình cảm ngang trái của Hàn Than và Vô Kỷ Sựchuyển đổi không gian của Đào thị thể hiện khát vọng sống Nàng tưởng cửaPhật từ bi là nơi thích hợp cho nàng dung thân, nhưng không phải, cho nênHàn Than lại tiếp tục trốn đi lần hai Ở đây nàng cũng không từ bỏ được dụcvọng nên đã chết vì bệnh Hàn Than trước khi chết đã nói ra nỗi dằn vặt tronglòng: “Thiếp buổi trước ngàn dâu xế bóng, cửa Phật nương mình, đáng cườithay chưa dứt lòng trần, thêm ngán nổi còn vương nợ nghiệp, đài đao mệnhđứt, đến nổi chia bày ” Nguyễn Dữ thấy nhà chùa lúc này thường chứa chấpnhững kẻ gian dâm, du đãng Thầy chùa phần lớn là những kẻ đầy dục vọng,không theo lối sống khổ hạnh, chân tu, xuất gia tu hành vẫn bị tình dục quyến

rũ Không gian trong Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều cũng tiêu

điều, xơ xác, không có vẻ là cổ kính linh thiêng của các ngôi chùa Chuyện kể

Trang 23

về phong tục cũ nhà Trần chuộng chuyện quỷ thần nên ở huyện Đông Triềuđền thờ thần, chùa thờ Phật nhiều Binh lửa liên miên làm đền chùa bị đốtgần hết “số chùa chiền còn lại mười không được một mà cái số còn lại ấy,cũng mưa bay gió chuyển, đổ ngã xiêu nghiêng, tiêu điều đứng rũ ở giữa áng

cỏ hoang bụi rậm” Năm ấy dân quanh vùng huyện lị khốn khổ vì nạn trộmcắp Viên huyện trưởng nhiều lần vây bắt không được, nghĩ rằng đó là do maquỷ quấy nhiễu, song không có cách nào khắc phục Đêm nọ, một người đisăn phát hiện ra bọn gian đang hành động, liền giương cung bắn trúng haitên Dân làng theo vết máu đi tìm, đến ngôi chùa hoang quả nhiên thấy haipho tượng Hộ pháp lưng bị trúng tên Nguyễn Dữ có sự hư cấu kỳ thú vàthâm thuý Truyện đã vạch trần sự giả dối của người ẩn nấp trong chùa.Dưới con mắt của nho sĩ đương thời, các thần tượng Phật giáo hiện lên lànhững kẻ sa đọa

Trong Truyền kỳ mạn lục, không gian chùa, đền xuất hiện nhiều tạo nên

một thế giới kỳ bí, quen thuộc, hoang lạnh Nó thể hiện tín ngưỡng của nhândân ở thời kỳ này Những không gian này gắn liền với nội dung của các truyện

1.2.2.2 Không gian núi non, sông hồ

Theo cách nhìn của nho sĩ, không gian sinh tồn của con người là thiênnhiên với hai yếu tố đặc trưng là: núi sông, non nước Ở Việt Nam, người xưathường hình dung không gian qua núi và sông Núi sông, non nước vốn lànhững không gian tự nhiên, rộng lớn, xuất hiện nhiều trong văn chương củacác nhà văn, nhà thơ Việt Nam trung đại Nguyễn Dữ sống trong thời kỳ chế

độ phong kiến Việt Nam bắt đầu suy thoái Ông đã dùng kiểu không gianmang tính biểu trưng để phản ánh thực tại Không gian sông, núi gắn liền vớicuộc sống của con người xa lánh bụi trần, sống thanh sạch lánh đời

Trong Chuyện cây gạo không gian dòng sông xuất hiện với hình ảnh

con thuyền và cây cầu, nơi Trình Trung Ngộ đỗ thuyền đi vào chợ TrungNgộ gặp hồn ma Nhị Khanh và con hầu trên cầu Liễu Khê Họ cùng nhau

Trang 24

ngắm cảnh, gảy đàn để giãi bày tâm sự, ái ân Trình Trung Ngộ không thoátkhỏi sự mê hoặc của u hồn, ôm quan tài Nhị Khanh chết, hai hồn ma quấynhiễu dân làng bị người làng đào mộ, phá quan tài cho trôi sông Cây gạo mọcbên bờ sông trở thành nơi trú ngụ của hai hồn ma Đạo nhân lập đàn tràngcúng tế khiến bọn chúng phải chịu hình phạt Dân làng cảm tạ thì người ẩn dật

ấy đã phất áo đi vào non sâu

Mặt khác, bến sông còn là nơi để người ta thả lòng hoà quyện với thiên

nhiên Trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị, vua Dụ Tôn thả thuyền chơi

cùng các quan trong không gian yên lặng cùng với vẻ đẹp lãng mạn của sôngNhị Đào Thị đến tu ở chùa Lệ Kỳ là nơi “nước tú non kỳ phong cảnh tuyệtđẹp” Hàn Than và Vô Kỷ tư thông, mê đắm không để ý gì đến kinh kệ nữa.Hàng ngày trong không gian đẹp đẽ của chùa hai người làm thơ liên cú để tảcảnh vật Qua họ các chiều cao thấp, gần xa của không gian được hiện lên rõnét Cảnh vật trong núi được miêu tả tỉ mỉ sinh động Không gian chùa vắnglặng, thanh tao vốn đã đẹp, nay tâm hồn lãng mạn của hai người khiến nóthêm thơ mộng quyến rũ Những gì diễn ra trong không gian nhỏ hẹp củachùa đều được hai người làm thơ ghi lại Hàn Than đã mang thai, bị bệnh màmất Vô Kỷ vì nhớ thương nàng cũng mất vài tháng sau đó Hồn của haingười đầu thai thành hai con của Nhược Chân, sống cùng trong một nhà, tìm

cơ hội trả thù Nhược Chân phát hiện ra, lên núi Phượng Hoàng tìm sư cụPháp Vân Pháp Vân lập đàn tràng giúp Nhược Chân thoát nạn Khi NhượcChân quay lại cảm ơn sư cụ không tìm được vết đi nào cả Mọi dấu vết đã bịxóa sạch, không gian trở nên bí ẩn, vắng vẻ Sông, núi trong truyện gắn liềnvới những hành động của nhân vật, nó là không gian nhân vật bộc lộ nhữngphẩm chất, tính cách cùng với các quan hệ xã hội

Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na là thiên truyện thể hiện rõ

thiên hướng ngợi ca lối sống ẩn dật Nguyễn Dữ đã miêu tả một không gianhoạt động của nhân vật là rừng núi của Thanh Hoá Với một không gian rộng

Trang 25

lớn “phần nhiều là núi, bát ngát bao la đến mấy ngàn dặm Trong đó có mộtngọn núi cao chót vót có tên gọi là núi Na Núi có cái hang sâu dài mà hẹp,hiểm trở mà quạnh hiu, bụi trần không bén tới, chân người không bước tới”.Hán Thương đi săn gặp người tiều phu vừa đi vừa hát rồi khuất vào núi HánThương cho rằng đây là một ẩn sĩ lánh đời nên cho người đi theo mời lại, gầnđến nơi thì thấy người ấy bước vào động, gọi không trả lời, “cưỡi mây láchkhói, đi trong khoảng cành tùng khóm trúc” Biết không phải là người thườngbèn theo sau, núi non hiểm trở hiện ra trước mắt “đường núi gập ghềnh càngvào sâu càng khó đi lắm” Không gian bí ẩn, thoát chốc đã không thấy ngườiđâu cả Thời gian trôi đi khiến không gian biến đổi, cỏ cây bắt đầu lờ mờ HánThương muốn quay về nhưng không kịp Núi cao, rừng sâu âm u thường là

kẻ dật dân trốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh nơi lều tranh quán cỏ,tìm sinh nhai trong búa gió rìu trăng, ngày có lối vào làng say, bạn cùng hươunai, tôm cá, quấn bên tuyết nguyệt phong hoa, chỉ biết đông kép mà hè đơn,nằm mây ngủ khói, múc khe mà uống, bới núi mà ăn” “Nơi ở của các ẩn sĩthường trong chốn núi rừng sâu thẳm hoặc vùng xa xôi hẻo lánh” [65, 51].Đây là một không gian sống mộc mạc, giản dị, đời thường Không gian núirừng ở đây vừa thanh bình, đẹp đẽ, vừa hiểm trở Không gian đó có giá trịnhư là điểm nhìn nghệ thuật đầu tiên và cuối cùng Không gian ngọn núi lànơi nho sĩ xuất hiện và cũng là nơi trở về của họ Nguyễn Dữ chọn khônggian núi non này là phù hợp để thể hiện tính cách của nho sĩ ẩn dật Mộtkhông gian mang đậm không khí chốn lâm tuyền: có trúc, mai, có trăng gió,

có rượu, có cờ, thể hiện sự hoà hợp, của con người với thiên nhiên Thiênnhiên là nơi trú ẩn tốt nhất của các ẩn sĩ Nó khác biệt hoàn toàn với cuộcsống nơi phố xá thị thành

Ngoài ra không gian ngọn núi dòng sông còn xuất hiện trong một số

truyện khác của Truyền kỳ mạn lục như Chuyện nàng Thúy Tiêu, Chuyện bữa

Trang 26

tiệc đêm ở Đà Giang Không gian dòng sông là nơi bắt đầu cuộc sống của

Nhuận Chi và Thúy Tiêu, cũng là nơi Thúy Tiêu bị quan Trụ Quốc bắt Đócũng là không gian Thúy Tiêu được Nhuận Chi cướp lại, trở về đoàn tụ nhờ

sự giúp đỡ của người đầy tớ già

Ngọn núi, dòng sông xuất hiện nhiều trong truyện có không gian trầnthế Không gian đó được tác giả sử dụng như một môtíp, ở mỗi chuyện lại gắn

với nội dung cụ thể “Khuynh hướng sáng tác của Truyền kỳ mạn lục không

chỉ thể hiện ở nội dung phản ánh, ở khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm màcòn được thể hiện ở khuynh hướng miêu tả cuộc sống, ở khuynh hướng nghệthuật của tác phẩm” [23, 489] Sự xuất hiện nhiều của không gian sông núitrong các truyện ở đây không gây cảm giác nhàm chán, ngược lại làm chongười đọc thấy tò mò, hấp dẫn

Không gian đó trong các truyện Chuyện cây gạo, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều hiện lên tiêu điều, xơ xác, hoang vắng, lạnh lẽo

Trong truyện Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, căn nhà cũng hiện lên quạnh

hiu, như là thu nhỏ của xã hội loạn lạc lúc bấy giờ Chuyện kể Hà Nhân đihọc hằng ngày gặp hai cô gái xinh đẹp do hai hồn hoa biến thành đó là LiễuNhu Nương và Đào Hồng Nương Đêm nguyên tiêu, người ở kinh thành nônức kéo nhau đi chơi, hai nàng mời Sinh đến nhà “Khi đến trại Tây qua mấylần rào, quanh một đoạn tường đi ước mấy chục trượng thì đến một cái ao sen,hết ao lại là một khu vườn, cây cối xanh tươi, mùi hoa thơm ngát, nhưng ởdưới bóng đêm lờ mờ không nhận rõ được hoa gì, cây gì cả, chỉ thấy mùihương lúc lúc thoảng tới” Không gian mở rộng đẹp đẽ đó có đầy đủ cây cối,hương hoa thật lý tưởng để mở tiệc Mảnh vườn là nơi trú ngụ của hai hồnhoa Nhu Nương và Hồng Nương Sau đó khi tiết trời thay đổi hai nàng rơinước mắt cáo biệt Hà Nhân, trời sáng Hà Nhân đến trại Tây dò xem và đượcông già cho biết “cái dinh cơ đó từ khi quan Thái sư mất đi, trải hơn hai mươi

Trang 27

năm nay đã trở thành một nơi hoang quạnh Mấy gian nhà đều mốc ” Ônggià cùng Hà Nhân đến trại Tây chỉ thấy nếp nhà quạnh hiu, vài ba cây đàoliễu, xơ xác, tơi bời, lá trút đầy vườn, tơ vương khắp dậu Không gian conđường đến không gian trại Tây hoang vắng, không một bóng người, chỉ có cỏcây hoa lá, vườn tược tiêu điều xơ xác, không tay người chăm sóc Hà Nhânđược ông già cho biết những người chàng gặp đều là hoa yêu biến ra Đó làkhông gian hoang tàn, phần nào phản ánh cuộc sống trần thế của con người

qua ngòi bút tả thực của tác giả Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na

miêu tả một cái am của người tu hành “Một am cỏ đơn sơ chỉ có giường mây,đàn sáo, hai bên vách treo vài bài thơ ” [65, 51] “Hai bên tả hữu trông mấycây kim tiền chen lẫn những cây bích đào hồng hạnh, tất cả đều xanh tốt đángyêu Trong am đặt một chiếc giường mây, trên giường để đàn sáo và chiếc gốidựa, hai bên vách đông tây đều chát keo trắng” Không gian trong am đượcmiêu tả chi tiết Việc sắp xếp các vật dụng trong am cho thấy chủ nhân làngười có nếp sống tao nhã Không gian của am mang màu sắc huyền vi, thanh

sạch Con người cũng xuất hiện nhiều trong không gian trần thế của Truyền

1.2.3 Không gian thực kết hợp với không gian huyễn hoặc

Truyện truyền kỳ nào cũng vừa có yếu tố thực, vừa có yếu tố siêu thực.Thiếu một trong hai yếu tố đó không phải là truyện truyền kỳ đích thực.Người xưa gọi yếu tố siêu thực là hư Trong văn học trung đại Việt Nam,

Trang 28

không gian đã được hư cấu từ không tự giác đến tự giác, với mức độ ngàycàng cao Trong truyện truyền kỳ cái thực luôn được hư hóa, cái hư luôn đượcthực hóa Truyện truyền kỳ luôn luôn tồn tại hai thế giới thực và hư Thế giớithực là cuộc sống trần thế của nhân vật, thế giới hư là thế giới hư cấu “Giữacái nhìn đến tư duy, đến biểu đạt ngôn ngữ không chỉ là con dấu ngang bằngđơn giản Từ một câu chuyện xảy ra tồn tại trong không gian thực (chuyệnthực) đến lời kể rồi đến truyện qua mấy thẩm cấp khác nhau mà các tín hiệungôn ngữ gợi lên trong liên tưởng, tưởng tượng, tức là một không gian ảo”[21, 87] Người Phương Đông xem cái chết và sự sống là hai mặt của đờisống Chết là sự tiếp nối của sự sống ở một thế giới khác, dưới một hình thứckhác Thế giới người sống, chết, âm dương có sự tương thông, ảnh hưởng qualại sứ giả thường là ma quỷ, thần tiên hoặc những con người bình thường khác.

Truyền kỳ mạn lục không gian huyễn hoặc đã tạo ra một hiệu quả lớn để

Nguyễn Dữ phản ánh bộ mặt của xã hội đương thời Không gian huyễn hoặcnơi trần thế thường xuất hiện vào thời khắc giao hòa giữa ánh sáng và bóng tối,giữa ngày và đêm, là không gian gặp gỡ giữa người và các thực thể phi nhân

Trước hết không gian huyễn hoặc ở đây là không gian gặp gỡ giữangười và các thực thể phi nhân (hồn ma, hồn hoa) ngay trong không gian trần

thế (Chuyện cây gạo, Chuyện kì ngộ ở trại Tây) Chẳng hạn không gian huyễn

hoặc là không gian ở kiếp sống thứ hai của Đào thị và Vô Kỷ dưới hình thứchình hài hai đứa trẻ Long Thúc và Long Quý con của gia đình quan Hành

khiển Ngụy Nhược Chân trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị Ở truyện này

không gian điểm và không gian tuyến tính có sự kết hợp với nhau Bắt đầu từđịa điểm là lâu dài của Ngụy Nhược Chân Từ đây Đào thị ra đi và bắt đầucác kiếp nạn của đời mình Không gian trong truyện được mở rộng theo bước

đi của nhân vật Ở mỗi nơi Đào thị dừng lại đều có một không gian mới, sựviệc mới cho đến khi nàng chết Đào thị cùng chết với Vô Kỷ Cả hai trướckhi chết hẹn sẽ đầu thai vào vợ quan Hành khiển bằng cách cắn vào hai mạng

Trang 29

sườn của bà ta Câu chuyện trở nên huyễn hoặc không gian sống của nhân vậtcũng huyễn hoặc Kết hợp xây dựng không gian kỳ ảo ngay khi phản ánhcuộc sống trần thế, Nguyễn Dữ đã thể hiện rõ hơn cuộc sống của người đươngthời và nói lên khát vọng về cuộc sống công bằng

Không gian trần thế trong tác phẩm còn xuất hiện kiểu không gian nửa

hư nửa thực, là không gian của các ẩn sĩ Nơi ở của các ẩn sĩ thường là những

rừng núi hoang, những vùng xa xôi, hẻo lánh (Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang) Ở hai truyện này không

gian ban đầu là không gian thực được khắc họa rõ nét, đến cuối truyện là

không gian huyễn hoặc Trong Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na,

không gian ở cuối truyện “rêu trùm cửa hang, gai góc đầy núi, dây leo, cành rậm

đã lấp mất cả lối đi rồi ” Chỉ thấy con hạc đen lượn bay trên không Khônggian thực tại đã biến mất Người tiều phu mang dáng dấp là một đạo sĩ đắc đạonhư một vị tiên giáng trần, đã lẫn vào sông suối, trời mây, tan vào cái vô cùng vôtận Không gian thực tại trong phạm vi một ngọn núi và có sự xuất hiện củakhông gian huyễn hoặc, thể hiện lối sống ẩn dật, quan điểm chính trị của nhân

vật Tú tài họ Viên, xử sĩ họ Hồ (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang) do cáo vượn

biến thành, đó là hình thức đầu thai, một kiếp sống mới của con người

Không gian huyễn hoặc còn là không gian xa cách, nhớ thương vô hạncủa vợ chồng khi một người không còn sống Nguyễn Dữ đã tạo cho các nhânvật không gian gặp gỡ để thoả mãn khát khao hạnh phúc Không gian huyễnhoặc đó thường xuất hiện vào đêm và ở trong giấc mơ nhân vật Trong

Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, hồn ma Nhị Khanh trở về gặp chồng

ở cuối canh ba Khi ánh sáng chiếu rọi không gian đó cũng biến mất Haykhông gian gặp gỡ giữa Phật Sinh và hồn ma Lệ Nương cũng vậy Trong đêmnằm bên mộ Lệ Nương, Phật Sinh đã được gặp nàng, chuyện trò, ân ái nhưkhi còn sống Trong mơ chàng thấy nàng trở về cảm tạ Không gian gặp gỡkiểu này thường trong giấc mộng hoặc nơi màn đêm bao phủ Khi gà gáy tất

Trang 30

cả lại trở về thực tại Xây dựng không gian huyễn tưởng kết hợp với khônggian thực tại là thể hiện được bút pháp sáng tạo của tác giả truyện truyền kỳ,làm cho người đọc tin là những câu chuyện có thật, thể hiện được sự khác lạcủa con người, sự vật và hiện tượng trong tác phẩm Ở đó, con người có khảnăng giao tiếp với thế giới siêu nhiên

Tóm lại, xây dựng không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục

“Nguyễn Dữ mượn Truyền kỳ mạn lục để trữ phát niềm cô phẫn, thổ lộ nỗi

bất bình đau đớn với giới cầm quyền đương thời và với tình hình xã hội loạnlạc” [42, 7] Không gian huyễn hoặc không gian trần thế đều được khắc họamột cách nghệ thuật Qua đây chủ đề, nhân vật, cốt truyện đều được thể hiệnmột cách nghệ thuật Truyện truyền kỳ đưa đến cho người đọc những bứctranh lạ về thế giới và con người bằng những cách nhìn khác Ở đây khôngchỉ thế giới trần gian, còn có thế giới âm phủ, thuỷ phủ, thượng giới, tuynhiên thế giới trần gian chiếm ưu thế Viết về không gian trần thế Nguyễn Dữmuốn thông qua không gian cụ thể, đa chiều, rộng lớn để phản ánh thực tại xãhội, thấy được bức tranh cuộc sống đa màu sắc

1.2.4 So sánh đặc điểm không gian trần thế trong “Truyền kỳ mạn lục” với trong “Tiễn đăng tân thoại” và truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam

1.2.4.1 Những sự tương đồng và nguyên nhân của chúng

Sự tương đồng giữa truyện Truyền kỳ mạn lục với truyện dân gian Việt

Nam (nhất là truyện cổ tích thần kỳ) và truyền kỳ Trung Quốc (đặc biệt là

Tiễn đăng tân thoại) là hệ quả tất yếu của tư duy con người thời trung đại và

truyền thống văn học trung đại

Theo M.Bakhtin, các hiện tượng văn học không bao giờ xuất hiện mộtcách ngẫu nhiên, tồn tại hoàn toàn độc lập, riêng lẻ, không có một mối liên hệnào Bản chất của văn học là một quá trình, một hiện tượng “bắt rể sâu vào ký

ức xa xôi” và không thể sống được nếu nó không biết cách nào đó để thu hútvào mình những gì của văn học các thế kỷ đã qua Ở giai đoạn đầu của nền

Trang 31

văn học viết Việt Nam, văn học Trung Quốc có ảnh hưởng toàn diện và tolớn Ảnh hưởng đó bộc lộ trên tất cả các phương diện quan niệm văn học, chủ

đề, đề tài và hình tượng, thủ pháp nghệ thuật và cảm hứng, thị hiếu, ngôn ngữ

và thể loại Một tác phẩm văn học không gắn bó với văn học quá khứ mộtcách mật thiết thì sẽ không tiếp tục sống trong tương lai Điều đó khẳng địnhvai trò của truyền thống đối với sự phát triển của các hiện tượng văn học Để

có một tác phẩm lớn phải chuẩn bị nhiều thế kỷ Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ cũng không nằm ngoài quy luật đó, nó trở thành “áng văn hay củabậc đại gia” cũng bởi nó được kế thừa nhiều giá trị nghệ thuật tốt đẹp ở văn

học dân gian Việt Nam và Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu

Trước hết, ta xét sự tương đồng giữa Truyền kỳ mạn lục với Tiễn đăng tân thoại

Không gian nghệ thuật là một yếu tố cấu thành giá trị của tác phẩm vănhọc Không gian nghệ thuật có ý nghĩa khi quan hệ với thời gian nghệ thuật

và nhân vật “Cù Hựu và Nguyễn Dữ đều là những tác gia giỏi cắt tỉa, cả haiđều khai thác từ truyền thống, đồng thời phát huy tài tình của cá nhân, biến

những câu chuyện cũ nát thành truyền kỳ” [42, 213] Nguyễn Dữ đã đọc Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu và tiếp thụ một cách sáng tạo nội dung và nghệ

thuật của tác phẩm này

Trong Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục không gian trần thế và

chiếm vị trí quan trọng Trần gian là không gian thực của con người Khônggian trần thế chủ yếu dùng để phản ánh xã hội đương thời Đó là xã hội bấtcông, áp bức trên đà suy thoái

Không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại có

những nét tương đồng lớn Trong hai tác phẩm không gian trần thế được cáctác giả hình thành bằng những thông tin xác thực: “Từ Đạt quê ở Khoái Châu,

lên làm quan tại thành Đông Quan, thuê nhà ở cạnh cầu Đồng Xuân” (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), “Trình Trung Ngộ là một chàng trai đẹp đất

Trang 32

Bắc Hà, nhà rất giàu thuê thuyền xuống vùng Nam buôn bán Chàng thường

đỗ thuyền ở cầu Liễu Khê rồi đi vào chợ Nam Xang” (Chuyện cây gạo), “Hà Nhân người học trò quê ở Thiên Trường ” (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), “Ả

danh nữ ở Từ Sơn tên là Đào Thị, tên tự Hàn Than thông hiểu âm luật và chữ

nghĩa” (Chuyện nghiệp oan của Đào thị) Chuyện Lệ Nương và Chuyện nàng Thúy Tiêu cũng có cách giới thiệu như vậy Không gian xác định gắn với thời gian cụ thể cũng được báo ngay ở phần đầu của các truyện trong Tiễn đăng tân thoại Trong mười một truyện viết về không gian trần thế trong Tiễn đăng tân thoại, thì có tới mười truyện quê quán, nhân vật, địa điểm xảy ra câu chuyện được giới thiệu ở đầu truyện Ví dụ trong Chuyện gặp người cũ ở Hoa Đình “kẻ sĩ ở Tùng Giang có hai người họ Toàn và họ Giả đều văn tài lại có thêm hào phóng ” Chuyện chiếc thoa vàng hình chim phượng mở đầu:

“Giữa năm Đại Đức nhà giàu ở Dương Châu là quan Phòng ngự họ Ngô ở bêncạnh lầu Xuân Phong, làm hàng xóm với nhà quan họ Thôi, hai bên chơi với

nhau rất thân” Chuyện Đằng Mục rượu say chơi vườn Tụ Cảnh viết: “Đầu

năm Diên Hựu, ở Vĩnh Gia có chàng Đằng Mục, mới hai mươi sáu tuổi,chàng đẹp trai giỏi ngâm vịnh, thường được bạn bè suy tôn, chàng vốn nghenon nước Lâm An rất đẹp, tính sẽ đến chơi một chuyến” Lai lịch nhân vật,địa điểm xảy ra câu chuyện cụ thể, tên những ngọn núi, dòng sông, đền chùa

trong các truyện cũng được Cù Hựu giới thiệu rõ ràng: chùa Linh Ẩn (Chuyện gặp người cũ ở Hoa Đình), chùa Thừa Thiên (Chuyện lầu Liên Phượng), chùa

Thiên Trúc, chùa Tịnh Từ, chùa Bảo Thanh cùng nhiều hang động như động

Ngọc Tuyền, động Hồ Bảo, động Thiên Long (Đằng Mục rượu say chơi vườn Tụ Cảnh), núi Trấn Minh, núi Tứ Minh (Chiếc đèn mẫu đơn) được tác

giả ghi lại chi tiết Viết về không gian xác định, hai tác giả muốn người đọctin là truyện có thực

Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại đều sử dụng không gian đặc

trưng của truyện truyền kỳ, phù hợp với nội dung, ý nghĩa của từng truyện Cả

Trang 33

hai tác giả đều đặt nhân vật của mình trong những không gian siêu thực xenlẫn không gian trần thế để thể hiện xã hội đồng thời và mang đến cho ngườiđọc cảm xúc thẩm mĩ phong phú Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của vănhọc Trung Quốc, vì vậy không gian trần thế trong truyện truyền kỳ hai nước

có những điểm tương đồng là tất yếu Trong Truyền kỳ mạn lục loại không gian này trong các truyện: Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện cây gạo, Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Trong Tiễn đăng tân thoại, không gian huyễn hoặc xuất hiện trong các truyện: Đằng Mục rượu say chơi vườn Tụ Cảnh, Gặp người cũ ở Hoa Đình, Không gian điện thành hoàng là nơi Hà Hữu Nhân cúi đầu dưới mái kính mong thần cho biết cơ may (Ty cai quản việc phát giàu sang)

Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại đều có không gian hư huyễn

là khung cảnh gặp gỡ của con người và những hồn ma Thời gian thường vàoban đêm, các nhân vật là hồn ma thì tối đến sáng đi Trong không gian đóngười sống và người chết gặp nhau dễ dàng, không có gì ngăn cản cả Khônggian để các nhân vật gặp nhau thường là nhà hoang, bến sông cô quạnh, saolặn trăng mờ

Sự tương đồng trên là do Nguyễn Dữ và Cù Hựu đều là tác giả thờitrung đại nên cách cảm nhận về thế giới, cuộc sống xã hội có nhiều điểmgiống nhau

Về sự tương đồng giữa Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích thần kỳ

Việt Nam có một số điểm lưu ý:

Viết Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng từ ba nguồn: tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường, Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu và truyện dân

gian Việt Nam “Văn hoá dân gian như cái nôi nuôi dưỡng truyện truyền kỳtrong suốt quá trình phát triển của nó” [58, 25] Truyện cổ tích là một trongnhững thể loại cổ xưa nhất của tự sự dân gian, là một trong những hình mẫu

Trang 34

cổ điển của Folklore Truyện cổ tích có lối tư duy nhị phân Lối tư duy nhịphân này chính là nguyên nhân sâu xa, là cơ chế sản sinh ra các mô hình

đến truyện truyền kỳ

Trong truyện cổ tích của người Việt, không gian sống của nhân vật rấtgần gũi quen thuộc trên đất Việt Nam Khi đọc truyện cổ tích chúng ta thườngbắt gặp những cánh đồng, cây đa, bến nước, dòng sông, biển cả, nhà cửa, aochuôm, vườn tược Không gian dòng sông xuất hiện trong nhiều truyện:

Truyện hai nàng công chúa nhà Trần, Sự tích Hồ Gươm, Đồng tiền Vạn Lịch, Cây khế, Chử Đồng Tử Không gian cánh đồng, gian nhà, cánh rừng, mảnh vườn xuất hiện trong các truyện như: Quan nghè hoá cọp, Sự tích con thỏ lên mặt trăng, Tìm mẹ, Cây tre trăm đốt, Sự tích đá vọng phu, Sự tích con Dã Tràng, Vua heo, Trầu cau Đó là không gian quen thuộc, gần gũi với cuộc

sống sinh hoạt, lao động hàng ngày của người dân Việt Nam

Điểm tương đồng quan trọng giữa không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích là có sự giao thoa giữa nó và không gian phi trần

thế Điều ấy khiến cho con người và các lực lượng thần kỳ và con người cóthể gặp nhau dễ dàng Không gian gặp gỡ đó thường là đền, miếu, bến sông,

vườn hoang Trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, không gian huyễn tưởng được

các hồn ma tạo nên ngay ở trần gian Khi hồn ma thác hóa, Hà Nhân mới biếtnơi mình về dự tiệc là cõi của người chết Trong truyện cổ tích, ranh giới giữangười và các lực lượng thần kỳ cũng không có hoặc rất mờ nhạt Các lựclượng thần kỳ có mặt ngay trong cuộc sống của con người, tồn tại bên họ

Trong truyện Cô bé lọ lem, cô bé được bà tiên giúp đỡ trang phục để đi dạ hội Trong truyện Cây tre trăm đốt, anh Khoai được ông Bụt giúp hoàn thành việc do lão trưởng giả gian ác, xảo trá giao cho Hay trong truyện Tấm Cám

khi nào Tấm cần, Bụt lại hiện lên giúp đỡ

Trang 35

Sự tương đồng đó là do Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích đều tồn tại

cùng thời đại, do đó đều sử dụng yếu tố kì để xây dựng không gian trần thế.Không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích và không gian trần thế trong

Truyền kỳ mạn lục có nhiều nét tương đồng bởi vì lúc này truyện của văn học

viết trung đại đang tiến đến xây dựng hệ thống thi pháp riêng Trong quá trìnhhình thành thể loại, truyện truyền kỳ tiếp thụ nhiều kinh nghiệm văn học dângian Mặt khác, văn học dân gian và văn học viết Việt Nam trung đại có cùngcách cảm nhận thế giới và con người gần gũi

1.2.4.2 Những sự khác biệt và nguyên nhân của chúng

Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại thì còn có nhiều nét khác biệt

trong việc thể hiện không gian trần thế

Từ những gợi ý của Tiễn đăng tân thoại, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên

không gian phù hợp với truyền thống văn hoá thẩm mĩ Việt Nam Từ

Chuyện chiếc đèn mẫu đơn của Cù Hựu, Nguyễn Dữ đã sáng tạo ra các truyện như Chuyện cây gạo, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện nghiệp oan của Đào thị Điều đó khẳng định các kiểu không gian trần thế được Nguyễn

Dữ vay mượn, khi đi vào Truyền kỳ mạn lục đã có nhiều thay đổi phù hợp

với văn hoá bản địa

Chuyện cây gạo được xem là mô phỏng lại Chiếc đèn mẫu đơn một

cách trọn vẹn, nhưng Nguyễn Dữ đã tạo ra không gian khác Chẳng hạnkhông gian ven sông nơi hồn ma Trình Trung Ngộ và Nhị khanh nhập vàocây gạo, chắc chắn bắt nguồn từ quan niệm của dân gian Việt Nam: “thần cây

đa, ma cây gạo” Mặt khác, không gian gặp gỡ và ân ái của nhân vật trong

Chiếc đèn mẫu đơn là phía tây hồ và căn nhà thì nơi gặp gỡ và ân ái của nhân

vật Nhị Khanh và Trung Ngộ là ở cầu và con thuyền Không gian sống của LệKhanh là phía tây hồ còn Nhị Khanh là Đông thôn Không gian tác quái của

Lệ Khanh và Kiều sinh ở cửa Tây trong Chuyện cây gạo là ở trên cây gạo gần chùa và sông Không gian trong Chiếc đèn mẫu đơn của Cù Hựu hoang vắng,

Trang 36

rùng rợn, phù hợp cho việc xuất hiện các nhân vật yêu ma quỷ quái, gây cảm

giác hãi hùng cho người đọc Còn ở Chuyện cây gạo, Nguyễn Dữ đưa vào đó

không gian quen thuộc gần gũi với con người việt Nam, lối sống Việt Nam,thể hiện tình yêu giữa người và ma với nhiều bài thơ lãng mạn Điều này ở

Tiễn đăng tân thoại không có Không gian huyễn hoặc trong Truyền kỳ mạn lục được nhân vật cảm nhận bất ngờ và thường gây rối cho nhân vật, có tác

dụng đẩy nhanh sự phát triển của cốt truyện Không gian huyễn hoặc xuấthiện như chia đôi cốt truyện, nửa trước diễn ra bình thường, nửa sau truyện

rùng rợn và kết thúc trong sự căng thẳng Còn trong Tiễn đăng tân thoại,

không gian huyễn hoặc được phát hiện hết sức tự nhiên và diễn biến truyệnkhông có gì thay đổi Chính những điều dó đã dẫn đến quan niệm nghệ thuật

mà tác giả muốn thể hiện trong Truyền kỳ mạn lục cũng có nhiều khác biệt.

Có thể nói, “tác giả tiểu thuyết truyền kỳ đều là những kẻ có tài, đều sinh ra

và lớn lên ở thời trung đại và có cuộc đời không phẳng lặng” [25, 52] Đặcđiểm này về cuộc đời đã ảnh hưởng đến việc xây dựng không gian trần thế

của hai nhà văn Chúng ta biết Truyền kỳ mạn lục ngoài ảnh hửơng từ Tiễn đăng tân thoại còn có hai nguồn ảnh hưởng quan trọng khác là truyền kỳ của

Trung Quốc nói chung và truyền thuyết tiên thoại, phật thoại của Việt Nam.Chính hai nguồn ảnh hưởng này, nhất là vai trò của văn học dân gian ViệtNam làm nên điểm khác biệt trong xây dựng không gian trần thế giữa Nguyễn

Dữ và Cù Hựu

Như vậy, bên cạnh những nét tương đồng, Truyền kỳ mạn lục còn có nhiều nét khác biệt so với Tiễn đăng tân thoại Điều này thể hiện bản sắc

riêng của Nguyễn Dữ trong việc xây dựng không gian trần thế

Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích Việt Nam cũng có những sự khác

biệt khi thể hiện không gian trần thế

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ chị ảnh hưởng của văn học dân gian

Việt Nam rất rõ nhưng tác phẩm vẫn là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ, mangdấu ấn của tác giả văn học trung đại

Trang 37

Không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục xác định thì không gian

trần thế trong truyện cổ tích thường mang tính phiếm chỉ Truyện cổ tích làsáng tạo của tập thể tác giả dân gian, lưu truyền bằng miệng do vậy thời gian,không gian không cụ thể Thời gian “ngày xửa ngày xưa” môi trường khônggian hoạt động của con người cũng mang tính phiếm chỉ “ở làng nọ”, “ở làngkia” “nhà kia”, “một nhà kia”, “một bản nọ” Người ta chỉ biết câu chuyện

đã xảy ra từ lâu, thuộc về quá khứ xa xăm và không gian cũng rất mờ ảo.Trong truyện cổ tích, quê quán nhân vật không được giới thiệu cụ thể, nơi xảy

ra sự việc cũng vậy Truyện Cây khế mở đầu: “Một nhà kia có hai anh em, cha mẹ đều chết cả ” Trong truyện Người con út hiếu thảo mở đầu: “Nhà kia có ba người con trai tính nết khác hẳn nhau ” Truyện sự tích trầu cau

mở đầu: “Ngày xưa ở làng nọ có hai anh em sinh đôi giống nhau như hai giọt

nước ”, truyện Núi cười mở đầu: “Ngày xưa ở một bản nọ có hai anh em anh

thì ham chơi, em thì ham học, chăm làm ” Do phương thức lưu truyền, nếutrong truyện cổ tích có nhiều chi tiết cụ thể, cá biệt, chúng sẽ bị lược bỏ Điềunày sẽ khác trong truyện truyền kỳ vì lưu truyền bằng văn tự

Tóm lại không gian trần thế trong truyện cổ tích mang tính phiếm chỉ,không gian xác định cụ thể rõ ràng “Không gian nghệ thuật trong truyện cổtích thường phiếm định, ước lệ Trong truyện cổ tích người ta thường kểrằng: chuyện đã xảy ra ở một làng nọ, một vùng nọ ít khi nói đến địa danh

cụ thể” [46, 132] Không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục thường cụ

thể chi tiết

Nguyên nhân của sự khác nhau Truyền kỳ mạn lục với truyện cổ tích cơ

bản thuộc phương thức lưu truyền, thuộc cả tác giả và độc giả Văn học dângian đó là những sáng tác của văn học truyền miệng, vì thế, không gian trần thếthường phiếm chỉ sơ lược, đơn giản để tiện cho việc lưu truyền “Để phục vụyêu cầu truyền khẩu, truyện cổ tích thường gạt bỏ những gì cồng kềnh đối vớitrí nhớ vì vậy nhân vật, không gian, thời gian thường phiếm chỉ” [24, 336]

Trang 38

Còn những truyện viết về không gian nghệ thuật trần thế trong Truyền kỳ mạn lục, cụ thể để làm tăng sức thuyết phục cho câu chuyện, tác giả và người

thưởng thức truyện truyền kỳ học vấn cao, cần một loại tác phẩm với nhữngthuộc tính khác truyện cổ tích thần kỳ

1.3 Chức năng của không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục

1.3.1 Không gian trần thế đối với việc thể hiện chủ đề truyện

“Chủ đề là vấn đề trọng tâm cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêulên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học” [19, 61] Chủ đề baogiờ cũng được hình thành và thể hiện trên cơ sở đề tài Có thể nhiều tác phẩmcùng hướng về một đề tài song chủ đề lại khác nhau Vậy chủ đề trong

những truyện viết về không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục được thể hiện như thế nào? “Có người cho Truyền kỳ mạn lục có khuynh hướng thị

dân và tố cáo xã hội ở khía cạnh ca tụng tiết tháo nhàn tản, tình yêu tự do

Có người cho tác phẩm có khuynh hướng ẩn dật và phần nào thể hiện nhữngyêu cầu giải phóng tình cảm Những kết luận còn xuất phát từ một xu hướngcho rằng cả hai mươi truyện trong tập sách này chỉ dựa vào một chủ đềchung: Ca ngợi chí khí thanh tao của nhà nho, đề cao đạo đức phong kiến,vạch ra những sai trái, xấu xa của xã hội nhằm mục đích cổ võ thuần phong

mỹ tục” [20, 488] Không gian trần thế có chức năng như thế nào đối vớiviệc thể hiện chủ đề tác phẩm?

Không gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng, là một trong nhữngphương tiện nghệ thuật chủ yếu để làm rõ chủ đề truyện và chủ đề toàn bộ tácphẩm “không gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học,

có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới như: thời gian,

xã hội, đạo đức, tôn ti tật tự” [19, 160] Không gian trần thế trong Truyền kỳ mạn lục gắn với thời gian, phản ánh xã hội hiện thực, là nơi bộc lộ phẩm chất

của con người

Trang 39

Trong Truyền kỳ mạn lục không gian trần thế xuất hiện nhiều hơn

không gian âm phủ, thuỷ phủ, thượng giới Nguyễn Dữ miêu tả không giantrần thế để trực tiếp phản ánh thực tại “Có thể nói, không gian trong tác phẩmvăn học không bị một hạn chế nào Chính đăc điểm này làm cho văn học cóthể phản ánh đời sống trong tính đầy đủ và toàn vẹn của nó” [16, 89], thể hiện

tư tưởng chủ đề của tác phẩm, thể hiện cuộc đời số phận của con người, quanniệm về lễ giáo, về thế giới

Truyện Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu thể hiện số phận bi

thảm của người phụ nữ Không gian nghệ thuật cũng có vai trò quan trọng đốivới việc thể hiện chủ đề đó Chuyện kể ở cạnh cầu Đồng Xuân có hai nhàláng giềng thuê ở Phùng có người con trai là Trọng Quỳ, Từ có người con gái

là Nhị Khanh Hai người mến nhau vì tài yêu nhau vì sắc nên được cha mẹ haibên đồng ý cho nên gia thất Cuộc sống êm đềm trôi qua Nhị Khanh được họhàng quý mến Có giặc ở Nghệ An, Trọng Quỳ phải đi theo hầu cha Vìđường xá xa xôi cách trở nên để Nhị Khanh ở lại quê nhà Sau bao nhiêu xacách họ được đoàn tụ ở quê hương Vì ham chơi bài bạc nên Trọng Quỳ phảigán Nhị Khanh cho tên lái buôn họ Đỗ Nhị Khanh từ biệt các con và tự vẫn.Nguyễn Dữ đã tạo ra không gian kỳ ảo giữa linh hồn Nhị Khanh và TrọngQuỳ dưới đền Trưng Vương Nàng đã chỉ cho Trọng Quỳ cách dạy con cái.Nhị Khanh là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp, đáng lẽ nàng phải có cuộcsống hạnh phúc nhưng phải chịu số phận bi kịch Nguyễn Dữ đã mở rộngkhông gian để phát triển cốt truyện Nhị Khanh ở nhà thuỷ chung, lòng son sắttrước mọi cám dỗ Không gian xa cách không còn nữa Hạnh phúc tưởng như đãtrở lại, bù đắp cho Nhị Khanh Cứ ngỡ rằng từ đây sẽ hạnh phúc trọn vẹn vậy mànàng lại bị rơi vào cảnh chồng phụ bạc Sự phụ bạc ấy của chồng đã đẩy NhịKhanh đến con đường cùng là cái chết Truyện tưởng vậy là khép lại nhưngNguyễn Dữ đã mở ra một không gian hư ảo ngay ở trần thế, để Nhị Khanh trở vềgặp chồng Mở rộng không gian như vậy làm cho giá trị nhân đạo lớn hơn gópphần làm chủ đề truyện được tự nhiên, sinh động

Trang 40

“Trong Truyền kỳ mạn lục, những câu chuyện tình đã làm xôn xao cả cõi trần thế, cả chốn thủy cung và cả nơi thiên giới! Ngay Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây cũng vậy Chủ đề của truyện có thể con nhiều bàn cãi, nhưng câu

chuyện quả như một bài ca đầy tính huyền ảo về tình yêu nhục cảm” [23, 497]

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây kể về mối tình của nho sinh Hà Nhân với hai hồn

hoa hoá thành người Đó là tình yêu mê dại của một người học trò bị vật dụclàm vấy bẩn tâm hồn, một nho sĩ vì son phấn tình nồng mà bút nghiên chínản Hà Nhân mỗi lần đi học thường qua phường Khúc Giang thường gặp haingười con gái là Nhu Nương và Hồng Nương do hai hồn hoa biến thành Họtâm sự rồi cùng nhau ái ân Hà Nhân được hai nàng mời đến nhà mình ở trạiTây Họ phải ly biệt một thời gian, khi cha mẹ hỏi vợ cho Hà Nhân và giụcchàng về cưới Hà Nhân trở lại trại Tây với bao hy vọng mong nhớ Ở trạiTây trời lạnh, hai nàng thác hóa, trước khi thác hoá họ tặng lại chàng đôi hàicườm Chàng buồn ngơ ngẩn Ông già kể và chỉ cho Hà Nhân biết trại Tây làdinh cơ bỏ hoang của Thái sư, nhà cửa không người quét dọn “Chỉ thấy nếpnhà quạnh hiu vài ba cây đào liễu xơ xác tơi bời, lá trút đầy vườn, tơ vươngkhắp dậu” Không gian tiêu điều, xơ xác, quạnh vắng Hà Nhân bấy giờ mớitỉnh ngộ và biết từ trước tới nay mình yêu hồn hoa chứ không phải người.Đây là câu chuyện điển hình giữa người và hồn hoa Chủ đề chính nói về cuộcgặp gỡ lạ lùng ở trại Tây và cuộc sống bê tha trụy lạc của Hà Nhân Tất cả các

sự việc xảy ra đều xoay quanh không gian này Không gian trại Tây là khônggian cụ thể Như trên đã nói, ở truyện truyền kỳ, yếu tố kỳ đóng vai trò thiếtyếu Nhân vật từ cõi âm có thể sống, sinh hoạt được ở trên trần vì vậy sự gặp

gỡ giữa Hà Nhân và hai hồn hoa là sự gặp gỡ lạ lùng Qua chuyện tình đó, tácgiả phản ánh trong xã hội đương thời có một phần nho sĩ không lo lắng chochuyện nghiên bút mà lao vào ham mê sắc dục Tác giả phê phán lối sốngbuông thả của một số nho sĩ

Chuyện nàng Thúy Tiêu viết về tình yêu chung thủy giữa nho sinh Dư

Nhuận Chi và nàng kỹ nữ Thúy Tiêu Dư Nhuận Chi quê ở Kiến Hưng là

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1999
[2] Lại Nguyên Ân (1999), Từ điển văn học từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[3] M.Bakhtin (1999), Những vấn đề của thi pháp Đôxtoievxbi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của thi pháp Đôxtoievxbi
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1999
[4] Phạm Tú Châu (1987), “Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại vàTruyền kì mạn lục”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1987
[5] Phạm Tú Châu (1999), Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục, Nxb Văn học Hà Nội giới thiệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: NxbVăn học Hà Nội giới thiệu
Năm: 1999
[6] Anh Chi (2005), “Vũ Trinh và bước phát triển mới của truyện truyền kì Việt Nam”, Văn nghệ, (32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trinh và bước phát triển mới của truyện truyềnkì Việt Nam”", Văn nghệ
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2005
[7] Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, quyển 1 (tập I-II), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[8] Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, quyển 2 (tập IV-V), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[9] Nguyễn Huệ Chi (1999), “Một vài phương diện tư tưởng và nghệ thuật của Bồ Tùng Linh trong Liêu trai chí dị”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài phương diện tư tưởng và nghệ thuậtcủa Bồ Tùng Linh trong Liêu trai chí dị”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1999
[10] Lý Duy Côn (chủ biên, 2004), Trung Quốc nhất tuyệt (Tập 1), Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc nhất tuyệt
Nhà XB: NxbVăn hoá Thông tin
[11] Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học so sánh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
[12] Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 2006
[13] Chu Xuân Diên, Lê Chí Quốc (1987), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (phần cổ tích người Việt), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện cổ tích ViệtNam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lê Chí Quốc
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyênnghiệp Hà Nội
Năm: 1987
[14] Đoàn Thị Điểm (2001), Truyền kì tân phả, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kì tân phả
Tác giả: Đoàn Thị Điểm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
[15] Cao Huy Đỉnh (1994), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1994
[16] Hà Minh Đức (2000), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[17] Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
[18] Lâm Ngữ Đường (2001), Truyện truyền kì Trung Quốc, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Trung Quốc
Tác giả: Lâm Ngữ Đường
Nhà XB: Nxb Văn hoáThông tin
Năm: 2001
[19] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[20] Đổ Đức Hiểu (chủ biên, 2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Nhà XB: Nxb Thế giới

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w