1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian nghệ thuật thơ mới 1932 1945 qua sáng tác của một số tác gải tiêu biểu

100 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian nghệ thuật thơ mới 1932 - 1945 qua sáng tác của một số tác gải tiêu biểu
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Quyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Khánh Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 597 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay, chưa có công trình nàonghiên cứu một cách thật hệ thống và đầy đủ về không gian nghệ thuật Thơ mới hay không gian nghệ thuật trong các sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu để c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-NGUYỄN THỊ THÚY QUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60.22.32

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Trần Khánh Thành

VINH - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT THƠ MỚI 1932-1945 7

1.1 Thơ mới - Cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam 7

1.1.1 Bối cảnh xã hội và nhu cầu đổi mới văn học 7

1.1.2 Tản Đà - thi sĩ giao thời 10

1.1.3 Sự ra đời của phong trào Thơ mới 14

1.2 Vài nét về sự cách tân của thi pháp Thơ mới 16

1.3 Những đặc điểm nổi bật của không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 26

1.3.1 Khái niệm không gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật

trong thơ ca trung đại 27

1.3.2 Không gian nghệ thuật Thơ mới 30

Chương 2 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT CỦA THẾ LỮ, HUY CẬN 45

2.1 Thế Lữ với không gian tiên cảnh 45

2.1.1 Không gian tiên cảnh là nơi nâng đỡ tâm hồn thi nhân 45

2.1.2 Không gian tiên cảnh với vẻ đẹp hài hoà và tĩnh lặng 48

2.1.3 Không gian tiên cảnh đậm tình luyến ái 51

2.2 Huy Cận với không gian vũ trụ 54

2.2.1 Không gian trời xưa, cõi biếc là cội nguồn cho linh hồn trở về 55

2.2.2 Không gian vũ trụ với vẻ đẹp hài hoà và trong sáng 56

2.2.3 Không gian vũ trụ với vẻ đẹp buồn 59

Trang 3

2.2.4 Không gian chia cắt, đóng kín và nỗi cô đơn của thi sĩ 62

Chương 3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU 64

3.1 Nguyễn Bính với không gian làng quê 64

3.1.1 Một hồn thơ gắn bó tha thiết với quê hương 65

3.1.2 Không gian làng quê với vẻ đẹp bình dị 69

3.1.3 Không gian làng quê với vẻ đẹp văn hoá truyền thống 71

3.1.4 Không gian thị thành và không gian tha hương - tâm trạng của

kẻ lữ thứ 74

3.2 Xuân Diệu với không gian vườn trần đầy quyến rũ 80

3.2.1 Không gian vườn trần là nơi tâm hồn thi sĩ khát khao giao hoà 81

3.2.2 Không gian vườn trần nhuộm sắc màu luyến ái 83

3.2.3 Không gian tương phản của thi sĩ cô độc chốn sa mạc cô liêu 87

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thơ mới (1932-1945) là một trào lưu rộng lớn trên bước đường hiệnđại hoá thơ ca dân tộc Chỉ hơn mười năm hình thành và phát triển, phong tràoThơ mới đã có những đóng góp quan trọng, làm thay đổi toàn bộ thi pháp thơ trữtình tiếng Việt, đưa lại cho nền thơ ca nước nhà một sức sống mới, mở ra “mộtthời đại trong thi ca”

1.2 Tuy còn có những hạn chế nhất định, song Thơ mới vẫn nằm trong vănmạch văn học dân tộc, kế thừa và phát triển tinh hoa thơ ca dân tộc Những đónggóp của phong trào Thơ mới là không thể phủ nhận Thơ mới ra đời đã tạo nên sựđổi mới về thi pháp thơ, từ quan niệm về con người đến thời gian, không gian

nghệ thuật, từ cảm xúc đến giọng điệu, từ ngôn ngữ đến thể loại Không gian

nghệ thuật là một phương diện quan trọng thể hiện sự cách tân nghệ thuật của

Thơ mới Vì vậy nghiên cứu không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 (qua

sáng tác của một số tác giả tiểu biểu) - một bình diện thuộc phạm trù thi pháp - là

hết sức cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và lịch sử văn học

1.3 Không gian nghệ thuật Thơ mới là một vấn đề khá rộng lớn, ở đó vừa

thể hiện đặc điểm thi pháp trào lưu, vừa thể hiện thi pháp tác giả Trong khuônkhổ luận văn này, chúng tôi tập trung vào bốn tác giả tiêu biểu: Thế Lữ, Huy

Cận, Nguyễn Bính, Xuân Diệu để khảo sát và từ đó rút ra đặc điểm không gian

nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 Nghiên cứu về đề tài này sẽ góp phần hiểu thêm

về thi pháp Thơ mới cũng như nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn dưới cái nhìn toàndiện, hệ thống

Trang 5

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếutiếp cận về Thơ mới và phong trào Thơ mới dưới hai dạng chính sau đây:

Dạng viết về trào lưu: Chủ yếu đề cập đến trào lưu Thơ mới và sự cách tân

về thi pháp thơ Bởi vì các sáng tác của một giai đoạn văn học nào đó đều có thểkhái quát vào một hay một vài đặc điểm riêng Gần 80 năm kể từ phong trào Thơmới ra đời đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khá công phu về giai đoạn

này, tiêu biểu là các tác phẩm như: Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân (1942), Phong trào Thơ mới (1966) của Phan Cự Đệ, Việt Nam thi nhân

tiền chiến (1969) của Nguyễn Tấn Long, Thơ mới, những bước thăng trầm

(1989) của Lê Đình Kỵ, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca (1993) của nhiều tác giả, Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1994) của Nguyễn Quốc Tuý, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974), Một thời đại

trong thơ ca của Hà Minh Đức (1997), Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Những thế giới nghệ thuật thơ (1995) của Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Huy Cận của Trần

Khánh Thành đã khảo sát khá công phu về đặc điểm của các loại hình thơ xuấthiện trong lịch sử văn học và về tác giả tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại Tuy

chưa nói cụ thể về không gian nghệ thuật Thơ mới nhưng đã có nhiều gợi mở

trong phạm trù này

Dạng phân tích về tác giả và tác phẩm riêng lẻ: Chủ yếu đề cập đến phongcách sáng tạo của các nhà thơ, tìm cái hay, cái mới mẻ, độc đáo qua các sáng tác

của họ như: Nguyễn Bính thi sĩ đồng quê của Hà Minh Đức, Nguyễn Bính, hành

trình sáng tạo thi ca của Đoàn Đức Phương, Thơ với lời bình của Vũ Quần

Phương, Ba đỉnh cao Thơ mới của Chu Văn Sơn, Thơ Xuân Diệu trước Cách

mạng tháng Tám 1945 (Thơ thơ và gửi hương cho gió) của Lý Hoài Thu, Con mắt thơ của Đỗ Lai Thuý

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã khai thác, tìm hiểu khá

kỹ về các tác giả và tác phẩm của phong trào Thơ mới, nhiều công trình đã làmsáng tỏ về đặc điểm Thơ mới cả nội dung lẫn hình thức, cũng có đề cập đến vấn

đề thi pháp Thơ mới hay định nghĩa khái quát về phong trào Thơ mới Nhưng thi

pháp Thơ mới nói chung, không gian nghệ thuật Thơ mới nói riêng là một phạm

trù rất rộng, không phải của riêng một tác phẩm nào, mà phải đặt nó trong cả một

Trang 6

hệ thống, phong trào của một giai đoạn văn học Đến nay, chưa có công trình nào

nghiên cứu một cách thật hệ thống và đầy đủ về không gian nghệ thuật Thơ mới

hay không gian nghệ thuật trong các sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu để cóthể khái lược thành những đặc điểm chung của không gian nghệ thuật Một phần

có thể là vì Thơ mới đến nay đã trở thành “cũ”, “quen thuộc”, vả lại trong đờisống văn học hiện nay có nhiều khía cạnh để khám phá, khai thác cho nên vấn đề

không gian nghệ thuật Thơ mới vẫn còn những khoảng trống, những vấn đề để

ngỏ để chúng tôi có điều kiện đi sâu vào nghiên cứu các sáng tác của một số nhàthơ tiêu biểu giai đoạn 1932-1945 và hệ thống lại một vấn đề thuộc phạm trù thipháp trên một quy mô lớn hơn và theo một góc nhìn mới hơn

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Xác định vấn đề không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 (qua sáng tác

của một số tác giả tiêu biểu) là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp

Thơ mới và của việc nghiên cứu phương diện nội dung thơ trữ tình - một vấn đềcho phép lý giải được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trên một phương

diện mới Cùng với thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật Thơ mới đã góp

phần làm nên thi pháp Thơ mới Nghiên cứu vấn đề này, người viết nhằm mụcđích đi sâu tìm hiểu các sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu giai đoạn 1932-

1945 để tìm ra một mẫu số chung của không gian nghệ thuật Thơ mới.

3.2 Đối tượng

Qua phân tích các tác phẩm của một số tác giả tiêu biểu trong phong trào

Thơ mới để khái quát đặc điểm không gian nghệ thuật Thơ mới, từ đó làm tiền đề

cho việc nghiên cứu hệ thống thi pháp Thơ mới Mô tả khái quát và so sánh giữa

không gian nghệ thuật Thơ mới với không gian nghệ thuật thơ Trung đại Vận

dụng lý thuyết về không gian nghệ thuật vào không gian nghệ thuật Thơ mới

1932-1945 để có được một cái nhìn toàn diện hơn đối với những đóng góp to lớn

của phong trào thơ này trên bình diện thi pháp Hiểu được tính phức tạp của đối

tượng nghiên cứu nên bước đầu chúng tôi chỉ chọn phương diện không gian nghệ

thuật Thơ mới 1932-1945 qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu Nghiên cứu

Trang 7

vấn đề này không thể tách rời với nghiên cứu về thời gian nghệ thuật Thơ mới gắnvới vấn đề thi pháp thể loại và thi pháp trào lưu.

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Nhiều tác phẩm thơ ca giai đoạn 1932-1945 đã góp phần vào việc khái

quát nên không gian nghệ thuật Thơ mới Trong phạm vi một luận văn cao học,

chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, phân tích qua một số tác giả tiêu biểu như Thế

Lữ, Huy Cận, Nguyễn Bính và Xuân Diệu Qua đó có thể khái quát nên mộtphạm trù về đặc điểm thi pháp của một trào lưu lớn giai đoạn 1932-1945

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết được nhiệm vụ của đề tài này, luận văn kết hợp vận dụngnhiều phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống để làm nổi bật vấn

đề không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 qua sáng tác của một số tác giả

tiêu biểu.

5 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài Mở đầu, Kết

luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Những đặc điểm nổi bật của không gian nghệ thuật Thơ mới1932-1945

Chương 2 Không gian nghệ thuật của Thế Lữ, Huy Cận

Chương 3 Không gian nghệ thuật của Nguyễn Bính, Xuân Diệu

Trang 8

Chương 1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

THƠ MỚI 1932-1945 1.1 Thơ mới - Cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam

1.1.1 Bối cảnh xã hội và nhu cầu đổi mới văn học

Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiếnphương Đông Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần nhưkhông thay đổi về hình thức cũng như tinh thần Nhưng cuộc biến thiên lớn nhấttrong lịch sử dân tộc đã xảy đến, làm đảo lộn toàn bộ cuộc sống yên bình tưởngnhư bất biến ấy Đó chính là cuộc xâm lăng của thực dân Pháp nửa sau thế kỷXIX Cùng với gót giày của quân xâm lược, lối sống văn hóa và kỹ thuật phươngTây đã tràn vào Việt Nam, tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của mọitầng lớp nhân dân

Sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, vào những năm đầu của thế kỷ

XX, xã hội Việt Nam đã có những thay đổi căn bản Trước tiên là sự thay đổi vềmặt cơ cấu xã hội với sự xuất hiện của các tầng lớp mới: tư sản, tiểu tư sản và tríthức Tây học (họ sẽ là chủ nhân tương lai của một nền văn học mới đang hìnhthành) Tiếp đó là sự thay đổi về mặt cơ cấu kinh tế, sự phát triển của kinh tếhàng hóa thị trường với trung tâm là các đô thị đã dần đưa đất nước vào conđường tư sản hóa Cuộc tiếp xúc với phương Tây, dù chính thức hay không chínhthức, tự nguyện hay không tự nguyện cũng đã mang đến những thay đổi chưatừng có trong xã hội Việt Nam: “Chúng ta ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây,mặc áo Tây Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô-tô, xe lửa, xe đạp còn gì nữa!Nói làm sao xiết những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữachúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữnguyên hình ngày trước” [64, 12]

Trước thế kỷ XX, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn họcTrung Quốc Trong nền văn học Trung đại Việt Nam, văn chương nhà Nho là vănchương chính thống Sinh hoạt văn học chủ yếu diễn ra trong giới trí thức nho sĩ

Có thể nói nhà Nho vừa là chủ thể vừa là đối tượng phản ánh của văn học chínhthống Nhà thơ, đồng thời là những bậc Nho gia xuất thân từ cửa Khổng sân

Trang 9

Trình Họ làm thơ theo những khuôn mẫu và chất liệu sẵn có, chỉ việc sắp xếp,lựa chọn, tỉa tót sao cho thật khéo léo, tinh xảo Do đó họ thích vay mượn, tập cổhơn là sáng tạo ra các hình thức mới Vì vậy thơ ca Trung đại có tính chất quyphạm rất cao, niêm luật chặt chẽ Đề tài, cấu tứ, ngôn ngữ, hình ảnh phần lớnnằm trong một hệ thống ước lệ, một khuôn mẫu bất di bất dịch Văn theo quanniệm của nhà Nho là biểu hiện của Đạo và được dùng để truyền đạt đạo lý thánhhiền Thơ chủ yếu là để gửi gắm, bộc bạch tâm sự, để “ngôn chí”, “cảm hoài”,chứ không phải là phát ngôn của cái “tôi” riêng tư Xã hội phong kiến ràng buộccon người bởi bổn phận, trách nhiệm trong đạo lý cương thường cho nên phần cánhân bị lấn át và không có cơ hội để bộc lộ mình trước cái Ta đạo lý Chính vìvậy thơ ca Trung đại Việt Nam thường thiếu vắng cách biểu thị trực tiếp của chủthể trữ tình dưới dạng thức “tôi”, “ta”, “chúng ta” Môtip con người duy lý, conngười cao khiết không màng danh lợi đã chi phối toàn bộ hệ thống thơ ca Trungđại trên phương diện chủ thể trữ tình Đó là những con người sánh ngang tầm vũtrụ về cả tài năng lẫn khí tiết như trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm,

“Thu đến cây nào chẳng lạ lùng Một mình lạt thuở ba đông Lâm tuyền ai rặng rà làm khách Tài đống lương cao ắt cả dùng!”

(Tùng - Nguyễn Trãi)

Cho đến cuối thế kỷ XIX, khi mà “mầm mống chống Nho giáo” (theo cáchnói của Trần Đình Hượu) ngày càng phát triển thì trong thơ ca, con người Nhogiáo không còn ý nghĩa cao siêu như trước Bởi Nho giáo đã tỏ rõ sự bất lực củamình trước những biến đổi không ngừng của cuộc sống Vị trí độc tôn của nó nhưmột ý thức hệ chính thống đã không còn vững chắc như trước Lớp nhà Nho cuốimùa như Nguyễn Khuyến đành phải quy ẩn để rồi quay lại tự phủ nhận mình, tự

đả kích chính mình:

“Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già”

(Ngày xuân dặn các con)

Trang 10

Tuy nhiên, Nho giáo với bề dày lịch sử hàng nghìn năm đã ăn sâu, cắm rễtrong lòng xã hội Việt Nam, không dễ gì một sớm một chiều mà lụi tàn nhanhchóng Vì vậy dẫu có ngông nghênh kiêu bạc như Nguyễn Công Trứ, phản khángquyết liệt như Hồ Xuân Hương cũng chưa đủ mạnh để bứt phá ra khỏi vòng kiềmtỏa của Nho giáo Hơn nữa, đến đầu thế kỷ XX, ngay cả khi xã hội Việt Nambước đầu chuyển sang một cơ cấu kinh tế mới - kinh tế hàng hóa thị trường, thìcái tàn dư của Nho giáo vẫn còn đeo bám Chính thế nên các nhà Nho yêu nướcthức thời - những người từng coi Khổng Tử là thánh nhân, tôn thờ giáo lý đạoKhổng như một chuẩn mực đạo lý, một mặt phê phán thứ văn chương ngâm vịnh

sáo mòn, phê phán những quan điểm Nho giáo đã lỗi thời (Cáo hủ lậu văn), mặt

khác họ vẫn phải quay trở về với Nho giáo khi bất lực trước thực tại Bi kịch củaông già bến Ngự, người trí sĩ yêu nước Phan Bội Châu chính là minh chứng rõràng nhất trong buổi giao thời - khi mà cái cũ chưa mất đi hoàn toàn, cái mới lạichưa đủ mạnh để thay thế Đó phải chăng là hạn chế của lịch sử và cũng chính làhạn chế của lớp nhà Nho như Phan Bội Châu trước những nhu cầu của đời sốngtinh thần trong xã hội mới? Nhưng dù sao lịch sử văn học Việt Nam cũng đãchứng kiến sự kiện quan trọng: một bộ phận nhà Nho đã vứt bỏ lối văn chươngcao đạo, xa cách với quần chúng nhân dân, kêu gọi đổi mới văn học, chống lốithơ cũ với sự gắn bó của những nguyên tắc sáo mòn Sự kiện ấy thực sự là bướcđệm, tạo đà cho Thơ mới ra đời

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên trong lịch sử người ViệtNam tiếp xúc với một thứ văn hóa hoàn toàn mới lạ, làm lung lay những khuônmẫu trước đây mà họ từng tôn thờ Báo chí phát triển rầm rộ với công việc dịchthuật, khảo cứu các tác phẩm văn học và triết học Pháp sang chữ quốc ngữ cànglàm cho tầm mắt người Việt Nam được mở rộng Nếu trước kia họ chỉ biết đếnnhững bài thơ Đường cổ điển của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, VươngXương Linh thì giờ đây họ say sưa với các tác phẩm văn học Pháp của Hugo,Musset, Sten’dal, Balzac, Baudelaire, Rimbaud, Verlaine và tiếp xúc với cácnhà khai sáng như Moutesquieu, Diderot, Vontaire

Chính từ ảnh hưởng của các đô thị và nhà trường Pháp Việt cũng như sáchbáo và các tác phẩm văn học Pháp, một thế hệ thanh niên Việt Nam với tư duy và

Trang 11

nhu cầu thẩm mĩ mới được hình thành Họ có cách cảm, cách nghĩ và lối sốngkhác với thế hệ trước Những câu nói có phần “xô bồ”, “liều lĩnh” mà “tha thiết”của Lưu Trọng Lư ở nhà học Hội Quy Nhơn năm 1934 đã bộc lộ tâm lý của lớpthanh niên hồi ấy:

“Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụbâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìnmột cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho làmát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sựhôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tìnhthoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi cái tình trong giây phút, cái tìnhngàn thu ” [64, 13]

Chính vì sự khác nhau sâu xa giữa hai thế hệ ấy đã khiến cho lối thơ ngâmvịnh, thù tạc không còn phù hợp với xúc cảm của họ nữa “Tình chúng ta đã đổimới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy” [64, 14]

1.1.2 Tản Đà - thi sĩ giao thời

Trong tiến trình thơ ca dân tộc đầu thế kỷ XX, Tản Đà thực sự có một vị tríquan trọng trong bước chuyển từ thơ cũ sang Thơ mới Chính vì vậy, không phải

ngẫu nhiên trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đã “Cung chiêu

hồn anh Tản Đà” để chứng kiến cuộc hội họp của các nhà Thơ mới, bởi Tản Đà

sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời của hai thế kỷ - chứng kiến sự bất lực củaNho giáo trước thời cuộc và sự đảo lộn của nhiều giá trị truyền thống, cùng lúc

đó là sự xâm nhập của những nếp sống phương Tây và những quan niệm hết sứcmới mẻ Xã hội đang trong thời kỳ “Á - Âu lẫn lộn” khiến Tản Đà và một lớpngười thuộc thế hệ của ông cũng không thể sống thuần nhất như trước nữa

Tản Đà là nhà Nho, sinh trưởng trong một gia đình dòng dõi khoa bảngnhưng ông không thuộc loại nhà nho chính thống, “ông là nhà nho tài tử sốngtrong môi trường xã hội tư sản” (Trần Đình Hượu) Chỉ riêng với điều này Tản

Đà đã mang đến một cái gì mới vào văn học Với Tản Đà, văn chương là mộtphương tiện để kiếm sống:

“Nhờ trời năm xưa học ít nhiều

Trang 12

Vốn liếng còn một bụng văn đó Giấy người, mực người, thuê người in Mướn cửa hàng người bán phường phố”

(Hầu trời)

Từ quan niệm văn chương “còn non còn nước còn trăng gió Còn có vănchương bán phố phường” mới lạ ấy, Tản Đà đã thổi vào thơ ca Việt Nam nhữngnăm đầu thế kỷ XX một luồng sinh khí mới Ông đã mang đến cho thơ nhữngcách tân độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức

Về mặt nội dung, nét đặc sắc nhất trong thơ Tản Đà chính là sự xuất hiện

và khẳng định của cái tôi cá nhân Tản Đà là người ý thức rất rõ về tài năng vănchương của mình, thế nhưng sống trong thời thế đó, ông không chịu luẩn quẩntrong vòng danh lợi, Tản Đà chỉ biết có thơ và sống hết mình cho thơ:

“Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có, cửa nhà thời không Nửa đời Nam Bắc Tây Đông

Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly Túi thơ đeo khắp ba kỳ

Lạ chi rừng biển thiếu gì gió trăng”

Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, sự tự ý thức vềtài năng và bản lĩnh cá nhân được bộc lộ rõ ràng như thế - tự ý thức đến mứcngông nghênh, kiêu bạc

Không những “thị tài” mà còn “đa tình”, thơ Tản Đà thực sự đã mở đầucho cuộc cách mạng giải phóng tình cảm cá nhân, tạo đà cho Thơ mới viết về tìnhyêu sau này Tản Đà tự nhận mình là “giống đa tình” nhưng lại không gặp maymắn trong thực tế Yêu nhiều nhưng thất tình cũng nhiều, Tản Đà không gặpđược giai nhân trong cuộc đời thực, ông đành tìm đến những người đẹp của cõimộng Người đọc sẽ ngỡ là phi lý khi Tản Đà viết thư cho “người tình khôngquen biết” rồi lại gửi thư “trách người tình nhân không quen biết” Nhưng sự phi

lý lại chính là cái logic trong tâm hồn nhà thơ - tâm hồn của một kẻ quá nhiều ẩn

ức trong tình yêu và mong muốn được giải toả trong thơ

Trang 13

Người ta nói Thơ mới là thơ của nỗi buồn, nỗi buồn giăng mắc khắp nơi thìthơ Tản Đà chính là sự báo trước Những thay đổi về mặt nội dung trong thơ ôngtất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hình thức thể hiện Tản Đà đã làm một cuộctổng duyệt tất cả các thể loại thơ cũ từ dân gian đến bác học nhưng có sự vậndụng và sáng tạo một cách linh hoạt để phù hợp với nội dung cảm xúc mới.

Thành công của thơ Tản Đà chính là đã thoát khỏi sự ràng buộc chật hẹpcủa thể thơ Đường luật, mang chất dân gian hoà vào chất bác học Chính vì thếnhững câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật không còn cái vẻ trang nghiêm, caođạo như trước nữa

Tản Đà đã không thoả mãn với khuôn khổ chật hẹp của thể thơ Đườngluật, ông tìm về với nhiều thể thơ và hình thức diễn đạt của thơ ca dân tộc với sựsáng tạo đầy cá tính, thể hiện một phong cách rất Tản Đà Tản Đà đã “chế tác”những câu ca dao của mình mà ông gọi là “phong thi” thành những câu thơ lụcbát êm ái, mượt mà và không còn vẻ mộc mạc của ca dao

Khi nói về Tản Đà, nhà văn Lan Khai đã viết: “Trong cái di sản thơ ca màTản Đà truyền lại cho ta, tôi yêu thích nhất những câu lục bát kiểu phong dao ấy,thực là những câu có tính chất hoàn toàn Việt Nam, khi đọc lên nghe cái nhạcđiệu thuần tuý vô cùng, nó đi thẳng vào tâm hồn Việt Nam của chúng ta làm ta

cảm động biết chừng nào” (Tao Đàn số 9 và 10 - 1939) Chính những câu lục bát

đậm chất ca dao ấy đã khiến Tản Đà trở thành “một thi sĩ rất An Nam, hoàn toàn

An Nam” như cách nói của Xuân Diệu

Tản Đà không chỉ sáng tác lục bát kiểu phong dao mà ông còn viết thơ trữtình lục bát, ông đã khéo léo kết hợp cái duyên dáng, tình tứ của ca dao vớinhững nhịp điệu của cảm xúc cá nhân

Nói đến sự cách tân trên phương diện thể loại của Tản Đà không thể không

kể đến sự xuất hiện của thể thơ tự do Từ tập thơ “Khối tình con I” đã xuất hiện những bài thơ tự do không theo niêm luật, cho đến “Khối tình con II” thì các bài thơ tuyệt tác như “Tống biệt”, “Cảm thu tiễn thu”, “Khóc Tây Thi” không khác

so với Thơ mới là bao nhiêu

Tản Đà với những bài thơ tự do đã đặt nền móng cho việc xây lên lâu đàiThơ mới Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh đã khẳng định: “Tiên sinh gần

Trang 14

chúng tôi lắm Tiên sinh không mang lốt y phục, lốt tư tưởng của chúng tôi.Nhưng có làm gì những cái lốt Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khátvọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài cái tù túng, cái giả dối, cái khôkhan của khuôn sáo” [64, 8] Cái khát vọng cởi trói cho thơ đã được nhen lên từTản Đà để rồi thổi bùng lên trong Thơ mới.

Không chỉ “ươm mầm” cho Thơ mới trên phương diện thể loại, có lẽ mộtphần quan trọng nữa trong những cách tân của thơ Tản Đà chính là sự đổi mớigiọng điệu Thơ Tản Đà là sự đan kết và hoà hợp tự nhiên nhiều giọng điệu,giọng cảm hoài non nước, giọng trữ tình khoáng đạt và bâng khuâng rất gần vớiThơ mới Ngay cả cái giọng vội vàng, cuống quýt “rất Tây” của Xuân Diệu khichạy đua với thời gian ta cũng bắt gặp trong thơ Tản Đà:

“Mỗi năm một tuổi Như đuổi xuân đi Măng mọc có lứa Đôi ta có thì.

Chơi đi thôi Chơi mau đi thôi!”

(Chơi xuân kẻo hết xuân đi)

Với quan niệm văn chương mới mẻ, với sự cách tân độc đáo trên phươngdiện biểu hiện nhưng Tản Đà vẫn chưa được xếp vào hàng Thơ mới Điều nàyhẳn có nguyên nhân cả về mặt chủ quan lẫn khách quan Sự hạn chế của lịch sửchính là tấm rào ngăn cản con người vượt thoát mặc dù trong lòng họ luôn ấp ủkhát khao giải phóng Và ngay trong chính bản thân nhà thơ cũng luôn tồn tại haiđối cực Mặc dù chưa thâm nhập văn chương cử tử nhưng hơn ai hết Tản Đà làmột nhà Nho nên văn chương Nho giáo đã ăn vào tiềm thức Ngay cả những bàithơ được coi là mới nhất của ông vẫn còn thấp thoáng bóng dáng của thơ cũ, vàcái mới vẫn chỉ là “dị biệt” Nhưng điều đáng nói chính là ở những cái “dị biệt”như thế - những cái mầm đang được ấp ủ cho mùa sau Thơ ca Việt Nam đến Tản

Đà bắt đầu có sự đổi dòng Sự đan xen hoà trộn giữa hai dòng thơ cũ và mớitrong con người Tản Đà khiến ông trở thành “người của hai thế kỷ”, “dạo nhữngbản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa” [64, 8]

Trang 15

1.1.3 Sự ra đời của phong trào Thơ mới

Đầu năm 1932 với bài “Một lối Thơ mới trình chánh giữa làng thơ” của Phan Khôi (đăng trên Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932), lối Thơ mới bắt

đầu định hình và ngày càng lan tỏa rộng rãi Phan Khôi khẳng định lối thơ cũ

“hết đất” phải tìm “nơi khác mà đóng đô” rồi kêu gọi “Duy tân đi! Cải lươngđi!” Xuất hiện vào năm 1932 nhưng phải đến năm 1936 Thơ mới khẳng địnhđược ưu thế vượt trội của mình trên thi đàn văn học dân tộc Nói như Lê TràngKiều thì “Thơ mới không còn lạ lùng nữa, Thơ mới đã thuần thục rồi! Thơ mới

đã vào khuôn phép rồi! Thơ mới đã quen với chúng ta rồi, và có lẽ quen thânnữa! Thơ mới không còn cái gì bỡ ngỡ và rụt rè lúc ban đầu! Từ bây giờ lịch sử

chỉ còn ghi lại những áng thơ hay mà thôi, không còn chia ra mới, cũ nữa” (Hà

Nội báo, số 11, ngày 08/4/1936) Cho đến khi Hoài Thanh, Hoài Chân viết “Thi nhân Việt Nam” để tổng kết phong trào Thơ mới thì không ai có thể nghi ngờ vào

sự toàn thắng của Thơ mới Thơ mới đã thắng thế vì nó phù hợp với sự phát triểntất yếu của trào lưu mới về tư tưởng cũng như văn học Về mặt văn học, yêu cầuđổi mới vừa là yêu cầu xuất phát từ hoàn cảnh khách quan trước sự giao lưu vănhóa với phương Tây vừa là yêu cầu xuất phát từ bản thân văn học để văn học ViệtNam có thể hội nhập với văn học thế giới trong quá trình hiện đại hóa Về mặt tưtưởng, cùng với sự hình thành và phát triển của hệ tư tưởng tư sản “cái tôi” củachủ nghĩa tư bản cá nhân đã tìm thấy chỗ đứng trong văn học Nói như vậy không

có nghĩa là cho đến lúc này cái tôi - ý thức cá nhân mới xuất hiện, mà nó đã cómầm mống trong thơ ca Việt Nam ngay từ thời Trung đại Chúng ta chẳng đãtừng ngỡ ngàng trước một cái Tôi ngạo nghễ, ngang tàng đến bất cần đời củaNguyễn Công Trứ:

“Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng ”

(Bài ca ngất ngưởng)

hay cách xưng danh của Bà Chúa thơ nôm:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi”

(Mời trầu)

Trang 16

Nhưng đó cũng chỉ là những cái Tôi riêng lẻ, nhỏ bé trong xã hội, họ chưa

có đủ điều kiện để làm nên một cuộc cách mạng cho cái Tôi Đến phong trào Thơmới, cái Tôi xuất hiện với đầy đủ màu sắc, cá tính mạnh mẽ đã tạo nên một thờiđại của chữ Tôi Cá nhân của mỗi con người được khẳng định trước xã hội, ýthức về cái Tôi đầy đủ như một chủ thể Như vậy có nghĩa là quan niệm nghệthuật về con người đã thay đổi, con người với những xúc cảm cá nhân riêng tư trởthành đối tượng phản ánh của văn học nói chung và thơ ca nói riêng Sự thức tỉnh

ý thức cá nhân đòi hỏi thơ phải đặt cái Tôi ở vị trí trung tâm, các nhà Thơ mớikhông ngần ngại trong việc khẳng định cái bản ngã của mình: Họ dùng cái Tôi đểxưng hô, để đối thoại, giao tiếp với mọi người cùng với niềm khao khát giao cảmvới đời:

“Tôi chỉ là một khách tình si Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể.

Mượn cây bút nàng Ly Tao, tôi vẽ,

Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca ”

(Cây đàn muôn điệu - Thế Lữ)

“Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm”

(Cảm xúc - Xuân Diệu)

Khi cái Tôi được khẳng định cũng tức là cá tính sáng tạo được bộc lộ rõràng Đúng như Hoài Thanh nhận định, thời đại Thơ mới là “thời đại cái Tôi”trong thơ Mỗi nhà thơ đều cố gắng khẳng định cái Tôi của mình trong nhữngphong cách độc đáo, không giống ai, điều đó được thể hiện rõ ràng trên bề mặtcâu chữ: Tôi là “khách bộ hàng phiêu lãng”, tôi là “khách tình si”, tôi là “conchim đến từ núi lạ”, tôi là “con nai bị chiều giăng lưới”, tôi chỉ là “một kiếp đihoang” Hoài Thanh đã không ngần ngại khi quả quyết rằng: “Trong lịch sử thơ

ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa baogiờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơmàng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn

Trang 17

Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như ChếLan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [64, 29].

Có thể nói rằng, thơ ca Việt Nam đã trải qua chặng đường dài hàng ngànnăm nhưng đến Thơ mới sự phát triển của thơ ca nhanh như vũ bão, chỉ trong hơnmột thập kỷ đã xuất hiện hàng loạt các nhà thơ tiêu biểu với những sáng tác vôcùng phong phú, các nhà Thơ mới đã khẳng định được tài năng và bản lĩnh củamình, đưa thơ Việt Nam thoát khỏi cái sáo mòn, tù túng để xác lập một hệ thốngthi pháp riêng phù hợp với thời đại, góp phần hiện đại hoá thơ Việt Nam, hoànhập với thơ ca nhân loại

1.2 Vài nét về sự cách tân của thi pháp Thơ mới

Thơ mới ra đời đã tạo nên “một cuộc cách mạng trong thi ca”, trước hết đó

là một cuộc cách mạng về thi pháp Thơ mới thay thế hệ thống thi pháp cũ đã ngựtrị bao nhiêu thế kỷ và mở ra triển vọng phát triển vô hạn cho thi ca về sau

Với sự khái lược một cách cơ bản, trong phần này chúng tôi không có thamvọng trình bày tất cả phương diện của thi pháp Thơ mới mà chỉ điểm qua một sốnét quan trọng trong cách tân về mặt thi pháp của Thơ mới so với thơ ca Trung đại

Sự cách tân của Thơ mới, trước tiên là mới về tư duy Chính sự thay đổi vềcách cảm, nếp nghĩ đã chi phối sự thay đổi về hình thức biểu hiện Các nhà Thơmới tiếp nhận ảnh hưởng từ thơ ca phương Tây (đặc biệt từ Pháp) cùng vớitruyền thống Đường thi, Tống thi của Trung Quốc vốn đã bám sâu vào tiềm thức,

đã mang đến cho thơ ca Việt Nam một sự độc đáo, mới lạ về hình thức biểu hiện.Thơ mới bằng những cách nói mới đã bộc lộ chân thành, sâu sắc những tình cảmphong phú, nhiều màu vẻ của tâm hồn, đã khám phá những rung động vô cùngtinh tế của trái tim con người, đã đi vào tận cùng những ngóc ngách, những nơisâu kín nhất của tâm hồn Để “trải lòng mình trên trang giấy trắng” mong muốn

sự sẻ chia của những trái tim đồng cảm

Sự cách tân của thi pháp Thơ mới được khẳng định trên rất nhiều phươngdiện quan trọng như: Thể loại, ngôn từ, giọng điệu, thời gian nghệ thuật, khônggian nghệ thuật,

Trang 18

Trước hết, về mặt thể loại, như Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” đã

đúc kết: “Phong trào Thơ mới đã vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiềukhuôn phép nhân đó sẽ thêm bền vững” [64, 47] Điều đó có nghĩa Thơ mới khôngphải hoàn toàn là những thể mới mà trên cơ sở các thể thơ truyền thống, các nhàThơ mới đã cải tạo cho phù hợp với nhu cầu cảm xúc của thời đại mới, đồng thờisáng tạo ra một số thể Thơ mới Xét về mặt phương diện thể loại, các nhà thơ củaphong trào Thơ mới đã thực sự tạo nên những bước đột phá quan trọng Chỉ trongmột khoảng thời gian ngắn, nhiều thể thơ được định hình và phát triển ổn định.Thơ mới thể nghiệm thành công trong câu thơ tám âm tiết phát triển từ thể ca trùcủa dân tộc đã tạo nên một âm điệu, tiết tấu độc đáo mới lạ:

“Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;

Xuân là lúc gió về không định trước”

(Xuân không mùa - Xuân Diệu)

Với những vần thơ đầy táo bạo, mới mẻ, không hề có bóng dáng của thơ

cũ, và với sự không giới hạn về số câu, số khổ thơ, thể thơ tám chữ rất đắc dụngtrong việc diễn tả tình cảm với nhiều cung bậc khác nhau:

“Em sợ lắm Giá băng tràn mọi nẻo;

Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da”

(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)

Lúc thì là lời than thở của người kỹ nữ, khi thì là tiếng nói da diết của tráitim rạo rực yêu đương:

“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!”

(Tương tư chiều - Xuân Diệu)

Ở thể thơ tám chữ là thế, thể bảy chữ lại không còn âm điệu trang nghiêm,

cổ kính của thơ thất ngôn Đường luật Thể thơ năm chữ cũng không bị phụ thuộcvào sắc thái của thể ngũ ngôn Đường luật Các nhà Thơ mới đã biến tấu, cách điệu

Trang 19

theo những phương thức của mình để mang đến những sáng tạo độc đáo cho bảnhoà tấu đa âm: Một Lưu Trọng Lư nhẹ nhàng, trong sáng với những vần thơ thu:

“Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rừng thu,

Lá thu kêu xào xạc, Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?”

(Tiếng thu - Lưu Trọng Lư)

Hầu hết các nhà thơ của phong trào Thơ mới đều thử nghiệm và có đượcnhững thành công nhất định ở thể thơ bảy chữ Phải chăng có được điều đó là bởi

họ đã quá quen thuộc với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật của thơ cổ điểnTrung Quốc? Nhưng thơ bảy chữ ở phong trào Thơ mới hoàn toàn không cònnhững niêm luật khắt khe trong một khuôn mẫu cứng nhắc như thơ cổ mà nó trởnên mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt trong việc khắc hoạ những cung bậc tâmtrạng khác nhau Có thể đó là nỗi nhớ nhung thổn thức:

“Anh đi thơ thẩn như ngây dại Hứng lấy hương nồng trong áo em”

(Âm thầm - Hàn Mặc Tử)

đôi khi nó diễn tả rất thành công cái tâm trạng dở dang, lỡ làng:

“Một chút công danh rất hão huyền

Và dang dở nữa cuộc tình duyên”

(Bắt gặp mùa thu - Nguyễn Bính)

và thậm chí nó còn có tác dụng trong việc triết lý vừa tự nhiên, vừa giản dị lại vôcùng sâu sắc:

“Làm sao sống được mà không yêu, Không nhớ, không thương một kẻ nào”

(Bài thơ tuổi nhỏ - Xuân Diệu)

Một thể thơ quen thuộc nữa cũng được các nhà Thơ mới sáng tạo và làmgiàu thêm vốn từ ngữ đó là thể lục bát truyền thống Lục bát trong ca dao và đếnTruyện Kiều đã đạt tới mức nhuần nhuỵ, điêu luyện Nhưng nhiều nhà Thơ mới

Trang 20

đã thành công và xác lập cho mình một vị thế nhất định trong phong trào Thơmới với thể loại này như Hồ Dzếnh, Huy Cận, Nguyễn Bính, Xuân Diệu Cácthi nhân của phong trào Thơ mới đã mang đến cho lục bát những nhịp tâm hồnmới bên cạnh chất dân quê giản dị đậm đà vốn có của một thể thơ truyền thống.Tiêu biểu cho thể lục bát trong phong trào Thơ mới là Nguyễn Bính - người lưugiữ chất thôn quê mộc mạc trong tâm hồn Việt Nam:

“Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê”

(Chân quê - Nguyễn Bính)

Những lời thơ giản dị, mộc mạc thể hiện tình cảm, thái độ nâng niu, trântrọng cội nguồn, bản sắc dân tộc

Bên cạnh những thể thơ truyền thống được cách tân cho phù hợp với tưduy, cảm xúc mới thì phong trào Thơ mới còn mang đến cho thơ ca dân tộcnhững thể Thơ mới lạ Có lẽ thơ tự do là phương thức đắc dụng cho những tâmhồn luôn rộng mở, khao khát được tháo cũi sổ lồng và khẳng định bản lĩnh cánhân Khi văn xuôi tràn vào địa hạt thơ thì thơ văn xuôi xuất hiện Có sự thửnghiệm của các loại câu thơ 10 âm tiết, 12 âm tiết và táo bạo hơn là sự cách tânvới những câu thơ dài 21 âm tiết của trường phái thơ Bạch Nga (Nguyễn Vỹ,Nguyễn Thị Kiêm) Cho dù đạt được thành công hay không thì những thử nghiệm

ấy đã phần nào khẳng định sức sáng tạo mạnh mẽ của thế hệ những nhà Thơ mới,

họ đã có công tìm tòi những thể loại Thơ mới để làm giàu thêm cho thi ca dântộc Những thể Thơ mới bước đầu tìm được chỗ đứng và khẳng định vị trí trên thiđàn những thể thơ cũ cũng trở lại với nhiều màu sắc mới Sự cách tân về thể loạicủa Thơ mới đã tạo ra sức ảnh hưởng lâu dài tới sự tìm tòi những phương thứcthể hiện mới của thơ ca hiện đại sau này Đây là sự khởi nguồn sáng tạo để hìnhthành những hình thức Thơ mới lạ, cầu kỳ, táo bạo như: Thơ hình thoi, thơ hìnhtháp, thơ bậc thang, thơ hình tam giác, thơ hình quả trám, thơ hình chữ, số

Phong trào Thơ mới có thể xem là một cuộc tổng kết và định giá lại các thểthơ cũ trên cơ sở tiếp thu cái hay, cái đẹp, cái tinh hoa của nền thơ ca nước ngoài

Trang 21

ở cả phương Đông và phương Tây kết hợp với bản sắc của truyền thống dân tộc

để tạo nên những cách tân độc đáo về mặt thể loại

Chúng ta thừa nhận sự cách tân mang tính cách mạng trong lịch sử thơ cadân tộc nghĩa là chúng ta đã khẳng định sự đổi mới của nó trên nhiều bình diện,góc độ Quả thực, Thơ mới không chỉ tấn công thơ cũ trên phương diện thể loại

mà còn ở cả phương diện ngôn ngữ Để tìm tới khả năng diễn đạt linh hoạt, sắcbén, các nhà Thơ mới đã làm nên “cuộc nổi loạn ngôn từ” (chữ dùng của Đỗ ĐứcHiểu): “Ngôn từ Thơ mới là sự kết hợp nhịp nhàng các ngôn từ thơ Đông và Tây,

là sự tương hợp âm thanh, màu sắc hương thơm, con người vũ trụ, của Đường thivới thơ pháp trên cơ sở ngôn từ Việt Nam - kết quả của sự tương tác các nền văn

hoá cổ điển và hiện đại” [5, 142] Việc sử dụng ngôn ngữ thơ có những yêu cầu

và nguyên tắc riêng để tạo nên phong cách tác giả

Thơ ca Trung đại hầu như không có ngôn ngữ mang màu sắc cá nhân, cácnhà thơ bị trói chặt trong một hệ thống ngôn ngữ mang tính chất ước lệ, tượngtrưng và hệ thống hình ảnh sáo mòn như tùng, cúc, trúc, mai, ngư, tiều, canh,mục, Do đó thơ họ rất hạn chế trong việc bộc lộ cảm xúc riêng Đến Thơ mới,các nhà thơ được tự do phóng bút theo cảm xúc cá nhân cho nên ngôn ngữ thơ rất

cá tính độc đáo, mang đậm phong cách riêng của mỗi người Xuân Diệu là một thi

sĩ luôn khát khao yêu đương và chiếm lĩnh tình yêu bằng tất cả mọi giác quan, thơông mang nét tươi mới, rạng rỡ rõ nét và tâm trạng của nhà thơ hay của nhân vật

trữ tình trong thơ luôn ở trạng thái say đắm, cuồng nhiệt hết mình: “Hỡi xuân

hồng, ta muốn cắn vào ngươi”, “Ta bấu răng vào da thịt của đời - Ngoàm sự sống

để làm em đói khát” Với Hàn Mặc Tử - con người đam mê cuộc sống đến cuồng

dại đã tạo ra những hình ảnh thơ kỳ lạ, khác thường đến mức ma quái với những từ

ngữ đầy ám ảnh: “Hôm nay có một nửa trăng thôi - Một nửa trăng ai cắn vỡ

rồi ” (Một nửa trăng); “Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt” (Rớm máu); “Lời thơ ngậm cứng không rên rỉ - Mà máu tim anh vọt láng lai” (Lưu luyến).

Mỗi tác giả Thơ mới đều tự tìm tòi và thể hiện những sáng tạo riêng vềngôn ngữ thơ Chế Lan Viên đi vào thế giới của sọ người, ma quái, của ThápChàm trong cõi xa xăm nên ngôn ngữ thơ có màu sắc siêu hình rõ nét ĐoànVăn Cừ, Nguyễn Bính, Anh Thơ là những nhà thơ thôn quê đất Việt thì ngôn

Trang 22

ngữ thơ lại trong sáng tinh tế mang đậm phong vị làng quê Còn Huy Cận thìngôn ngữ rất giàu chất gợi, gợi lên cái bâng khuâng, ảo não, ngậm ngùi

“Đêm mưa nằm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn ”

(Buồn đêm mưa)

Nhìn chung, các nhà Thơ mới có cách sử dụng ngôn ngữ khá mới mẻ, đặcsắc Họ không e dè, ngần ngại khi sử dụng ngôn từ độc đáo để thể hiện nhữngquan điểm cá nhân mà không chịu câu thúc của bất cứ nguyên tắc nào trong thơ

ca Trung đại Điều quan trọng với họ là làm sao khắc hoạ thật rõ nét bản ngã củamình Nếu Xuân Diệu “rất Tây” thì Nguyễn Bính lại “chân quê”, còn Huy Cận lại

là sự giao hoà của chất Tây trong thơ Pháp với cái trang trọng của thơ Đường.Ngôn ngữ trong thời kỳ này hầu hết đều vừa có sự thống nhất, vừa có sự đối lậpgiữa cái cổ điển và cái hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây tạo thành mộtbức tranh ngôn ngữ nhiều màu sắc cho Thơ mới

Việc sử dụng biện pháp tu từ trong Thơ mới còn làm cho ngôn ngữ thơthêm phong phú, đa dạng, câu thơ trở nên lung linh, sống động hơn:

“Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngủ Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô Xoan vươn cành khều mặt trời rực rỡ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu”

(Xuân về - Chế Lan Viên)

Khi cái Tôi được đặt vào vị trí trung tâm thì con người là đối tượng chính

để hướng đến và là chuẩn mực của cái đẹp Vẻ rạng rỡ của con người bao trùmlên tất cả Trong thơ ca không còn sự so sánh vẻ đẹp con người với cái vẻ đẹpchuẩn mực của thiên nhiên như thơ ca Trung đại, ngược lại các nhà thơ còn lấy

vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên:

“ Và này đây ánh sáng chớp hành mi

Trang 23

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

(Vội vàng - Xuân Diệu)

Khi đi sâu vào tìm hiểu Thơ mới thì chúng ta đều nhận thấy rằng, Thơ mớirất giàu tính hình tượng và cảm xúc, điều này có được là nhờ vào việc sử dụngđắc dụng biện pháp tu từ của các nhà thơ Lấy hiện thực để vật chất hoá các yếu

tố xúc cảm trở thành phong cách chung cho các nhà Thơ mới Bởi đối với họ cáiđẹp phải là cái hiện hữu, cái có thực, cho dù nó chỉ tồn tại trong cảm giác hay ởcõi thiên linh nào đó họ cũng cố kéo nó về hiện thực, biến nó thành những thứ vậtchất có thể cầm, nắm và cảm nhận một cách rõ ràng bằng các giác quan:

“Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”

(Tỳ bà - Bích Khê)

Mỗi nhà thơ đều tự tìm cho mình những mảng đề tài riêng Có người viếthay về tình yêu, có người thành công khi đi vào khai thác những vẻ đẹp thanhbình của thôn quê, có người lại thoát ly cõi trần để lên cõi thiên thai, có người lạimuốn tìm niềm vui ngay ở “vườn trần”, lại có người tìm cảm hứng ở một thế giới

mơ hồ có phần điên loạn

Ở bất cứ mảng đề tài nào, mỗi thi nhân đều lựa chọn cho mình một phongcách riêng độc đáo, hiệu quả qua cách sử dụng ngôn ngữ Có thể nói rằng, biệnpháp tu từ, tính hình tượng của ngôn ngữ thơ được khai thác và sử dụng phongphú hơn rất nhiều so với thơ ca thời kỳ trước Thơ mới thực sự là nơi ghi dấu sựthành công, ghi dấu sự sáng tạo, cách tân của nghệ thuật trên phương diện ngôn

từ Nếu như việc ra đời của chữ Nôm giúp cho thơ ca tiếp nhận phần tâm linhngười Việt nhạy bén và sâu sắc hơn thì khi chữ Quốc ngữ ra đời và được sử dụngphổ biến thì Thơ mới đã tận dụng được ưu thế của nó để tạo ra một cuộc cáchmạng ngôn từ trong việc khám phá con người ở bề sâu của nó

Trang 24

Một trong những đổi mới dễ nhận thấy nữa ở Thơ mới là sự cách tân vềphong cách diễn đạt, giọng điệu, cách hiệp vần, ngắt nhịp để tạo nên nhạc điệumới cho thơ Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam, người ta thấy có nhiều cách hiệpvần tự nhiên mà lại phát huy hiệu quả nghệ thuật đến thế Thơ mới gieo vần mộtcách tự do, có nhiều cách hiệp vần một cách mới lạ, mang trong nó ảnh hưởngcủa thơ Pháp rất rõ rệt mà lại phát huy hiệu quả nghệ thuật rất cao, từ cách gieovần cuối câu:

“Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh Tôi đi gian díu với kinh thành”

(Hoa với rượu - Nguyễn Bính)

đến hiệp vần ôm nhau:

“Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;

Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi!

Đêm nay rằm: Yến tiệc sáng trên trời;

Khách không ở, lòng em cô độc quá!”

(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)

Điều đặc biệt hơn nữa đó là, các nhà Thơ mới đã khai thác vần hỗn hợp,vần bằng, trắc không tuân theo một quy luật nhất định nào:

“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý - Bóng xuân sang”

(Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử)

Thơ mới thường thể hiện nỗi buồn - một cái buồn của cái Tôi cô đơn lạclõng trước thực tại Tâm trạng hụt hẫng đó được ghi nhận trong Thơ mới bằngcác âm điệu man mác, chơi vơi:

- “Trời buồn làm gì trời rầu rầu Anh yêu em xong anh đi đâu?”

(Tình hoài - Thế Lữ)

Trang 25

- “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi ”

(Nhị Hồ - Xuân Diệu)

- “Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn ”

(Chiều - Xuân Diệu)

Các thi nhân thích dùng vần bằng để diễn tả nỗi buồn, việc sử dụng vầnbằng đã tạo gợi cảm giác về sự vô cùng vô tận của không gian để khắc hoạ trạngthái chơi vơi, không định của tâm hồn

Cùng với sự nỗ lực cách tân về hiệp vần, gieo vần, các nhà Thơ mới đã tạo

ra cho thơ những nhịp điệu mới, thanh điệu mới Thơ mới gieo vần một cách tựnhiên, các tác giả đã gieo vào thơ họ những nốt nhạc đủ mọi bậc thanh âm mới mẻ,

“âm nhạc sinh ra cảm xúc và cảm xúc lại sinh ra âm nhạc” Bởi vậy, trong Thơmới yếu tố nhạc điệu rất được coi trọng và đề cao Một điều không thể phủ nhậnđược là chữ quốc ngữ đã góp một công lao không nhỏ vào sự thành công của Thơmới Tiếng Việt vốn là một thứ tiếng đơn âm nhưng đa thanh đã làm cho câu thơvừa ngắn gọn, lại vừa có tính chất âm nhạc Thơ mới đã tận dụng và khai thác tối

đa ưu thế này vì vậy đã tạo nên sự vang âm diệu kỳ cho lời thơ:

“Mây chiều còn phiêu bạt Lang thang trên đồi quê”

(Tình quê - Hàn Mặc Tử)

Những thanh bằng nối tiếp nhau tạo ra nhịp điệu du dương, nhẹ nhàng cóphần mơ hồ, kết hợp với tính gợi hình của từ ngữ và thanh điệu, câu thơ mangmột sắc thái mới lạ Nhạc điệu của Thơ mới còn được tạo ra bởi sự đăng đối củacác vế câu, của các câu trong đoạn thơ - cho thấy sự ảnh hưởng của Đường thikhá rõ nét Giữa những chữ tưởng chừng “rất Tây” ấy lại có âm hưởng cổ kínhcủa thơ Đường:

“Tà áo mới cũng say mùi gió nước Rặng mi dài xao động ánh dương vui”

(Xuân đầu - Xuân Diệu)

Trang 26

Nếu thơ ca trung đại thường chỉ có giọng điệu cổ kính, trang nghiêm củathơ Đường luật, nó ít sắc thái ngoài sự đạo mạo, mực thước trong khuôn phép thìđến Thơ mới điều đó bị phá vỡ hoàn toàn Ta có thể bắt gặp rất nhiều giọng điệukhác nhau của những phong cách khác nhau, thậm chí nhiều giọng điệu ngaytrong một bài thơ tạo nên sự vang hưởng đa âm cho lời thơ.

Ngoài giọng điệu, cách hiệp vần, Thơ mới còn tạo được phong cách diễnđạt độc đáo ở cách ngắt nhịp Thơ mới thoát khỏi khuôn khổ Đường luật để tìmcho mình những cách ngắt nhịp linh hoạt, mới mẻ:

“Mau với chứ / vội vàng lên với chứ,

Em, em ơi / tình non đã già rồi;

Con chim hồng / trái tim nhỏ của tôi, Mau với chứ! / thời gian không đứng đợi”

(Giục giã - Xuân Diệu)

Với cách ngắt nhịp 3/5 người đọc như bị cuốn vào dòng thời gian gấp gáp,

“vội vàng” của Xuân Diệu Ở thể thơ bảy chữ vốn là thể thất ngôn Đường luật, cáchngắt nhịp phổ biến là 3/4 và 2/2/3 nhưng các nhà Thơ mới đã biến tấu rất linh hoạt:

“Ôi / ôi / hãm bớt cung cầm lại Lòng say / đôi má cũng say thôi”

(Hàn Mặc Tử)Thể thơ lục bát truyền thống là một thể thơ tiêu biểu cho nhịp điệu nhẹnhàng, uyển chuyển, ngân vang Thế nhưng đến lục bát trong Thơ mới ta bắt gặpnhững câu thơ được ngắt nhịp linh hoạt tạo ra một ngôn ngữ rất đặc biệt:

“Đi mau! Trốn nét! Trốn màu!

Trốn hơi! Trốn tiếng! Trốn nhau! Trốn mình!”

(Xuân Diệu)

“Cái gì như thể nhớ mong, Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng”

(Nguyễn Bính)

Trang 27

Thơ mới như đã nói, có một sự cách tân độc đáo, trên phương diện cú pháp

câu thơ đã có sự xuất hiện của văn xuôi Trong công trình nghiên cứu Thi pháp

thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử cũng đã nhận xét rằng, Thơ mới đã căn bản cải tạo thơ

“điệu ngâm” thành thơ “điệu nói” Cú pháp trong thơ cổ điển thường ổn định, ít

có sự biến hoá do nó dựa vào sự đăng đối và bị khuôn vào giới hạn của thể thơ.Trong khi đó, Thơ mới do chịu ảnh hưởng của tư duy phương Tây, câu thơ có sựđổi mới rõ rệt về mặt cú pháp Nó gần với văn xuôi tức là gần với lời ăn tiếng nóithường ngày của người dân Người có công đầu trong việc đổi mới cú pháp thơ

có thể kể đến Thế Lữ - ông là nhà thơ tiên phong tạo ra những câu thơ theo kiểu

định nghĩa đúng chất phương Tây: “Ta là một khách chinh phu”, rồi tiếp đến là Xuân Diệu: “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió”.

Thơ mới quả thực đã dung chứa trong lòng nó những cách tân vô cùng độcđáo trên đủ mọi phương diện của phương thức biểu hiện: từ hệ thống thể loại chođến ngôn từ, giọng điệu, cú pháp câu thơ Tất cả sự cách tân ấy đã thay đổi toàn

bộ hệ thống thi pháp Trung đại để tạo ra một hệ thống thi pháp riêng cho thơ catrong thời đại mới: Thi pháp Thơ mới Sự đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức

ấy căn bản đã khẳng định vị thế của Thơ mới trên thi đàn văn học dân tộc, ảnhhưởng của Thơ mới không chỉ làm thay đổi diện mạo của thơ ca dân tộc tronghơn chục năm của thế kỷ XX (1932-1945) mà sức lan toả của nó còn ảnh hưởngđến tận ngày nay với nhiều tên tuổi đã được khẳng định Thơ mới thực sự đã làmnên một cuộc cách mạng trong tiến trình hiện đại hoá và phát triển của thơ caViệt Nam

1.3 Những đặc điểm nổi bật của không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945

Thời gian và không gian đều là những thuộc tính phổ biến, những điềukiện tất yếu, những hình thức tồn tại của thế giới Cùng tương tự như vậy, trongnghệ thuật, thời gian và không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượngnghệ thuật, góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật Thời gian nghệ thuật và khônggian nghệ thuật chịu tác động có ý nghĩa quyết định của quan niệm về thế giới vàcon người của nhà văn và phong cách sáng tạo của nhà văn Đồng thời, chúngphản ánh, bộc lộ, thể hiện các đặc trưng của chính cái phong cách đó Tìm hiểu

Trang 28

thời gian và không gian nghệ thuật giúp ta hiểu sâu sắc hơn, từ những góc độ đặcbiệt, cá tính của nhà văn và những đặc sắc của thế giới nghệ thuật mà nhà văn đãsáng tạo nên

1.3.1 Khái niệm không gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong thơ ca Trung đại

1.3.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật

Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận về thế giới và con người thì thời gian,không gian nghệ thuật chính là hình thức để cảm thụ thế giới và con người Thờigian và không gian luôn là hình thức tồn tại vật chất, không một cá thể nào có thểtồn tại ngoài không gian và thời gian Trong văn học, quan hệ giữa con người vàkhông gian - thời gian càng khăng khít hơn, nó không đơn thuần là quan hệ giữakhách thể với chủ thể mà còn thể hiện cách nhìn, cách chiếm lĩnh tự nhiên vàquan niệm nhân sinh của con người Tìm hiểu thời gian, không gian nghệ thuậtcủa một hiện tượng văn học chính là tìm hiểu cách cảm nhận cuộc sống một cáchnghệ thuật và thẩm mĩ ở trong đó

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi đồng chủ biên) thì không gian nghệ thuật là “Hình thức bên trong của

hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong

nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn

nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tínhcủa nó; cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần,rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ

về không gian nên mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể, có không gian

tâm tưởng ( ) Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không

quy được vào không gian địa lý Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học

có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xãhội, đạo đức, tôn ti trật tự Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tínhphân giới - dùng để mô hình hoá các phạm trù thời gian như bước đường đời, conđường cách mạng Không gian nghệ thuật có thể mang tính cản trở, để mô hìnhhoá các kiểu tính cách con người Không gian nghệ thuật có thể là không có tính

Trang 29

cản trở, như trong cổ tích, làm cho ước mơ, công lý được thực hiện dễ dàng ( )Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm vănhọc, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâucảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở kháchquan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hìnhtượng nghệ thuật” [19, 134-135].

Các nhà nghiên cứu văn học cho rằng, không gian trong thế giới nghệ thuật

là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, là phương thức chiếm lĩnh thựctại và là hình thức thể hiện quan điểm thẩm mĩ của nhà văn Không gian nghệthuật là một trong những phạm trù quan trọng của thi pháp học, là sản phẩm sángtạo của nhà văn nhằm phản ánh thế giới hiện thực và bày tỏ quan niệm của mình

về cuộc sống Từ góc độ đó không gian nghệ thuật trở thành một hình tượng nghệthuật trong tác phẩm văn học

1.3.1.2 Khái niệm không gian nghệ thuật trong thơ Trung đại

Thời Trung đại, do chủ yếu là cuộc sống nông nghiệp, khoa học kỹ thuậtchưa phát triển, vì vậy cách cảm thụ về không gian mang đậm màu sắc vũ trụ,

“cảm nhận tính bất biến của không gian” Họ hình dung thế giới, quốc gia là

“thiên hạ”, thời gian thì tuần hoàn, con người thì nhỏ bé, vũ trụ thì lớn lao “dùmuốn hay không không gian đã được cảm nhận qua năng lực chiếm lĩnh khônggian của người đương thời và mang đậm tính chất chủ quan”

Thơ ca Trung đại, theo các nhà Thơ mới nhìn nhận là một địa hạt “thơ cũ”,tuy nhiên, giới hạn cũ - mới ấy rất mập mờ, ở mỗi người một khác Với “khátvọng được thành thực”, một số người ghét cay, ghét đắng những bài thơ làm theolối cũ diễn đạt những tình cảm nhạt nhẽo bằng những từ ngữ khuôn sáo, rỗngtuếch, họ gọi đó là “thơ cũ” Với một số người thì khái niệm thơ cũ đã lấn sangkhái niệm thơ cổ điển (thơ Trung đại) khi coi những bài thơ như “Qua ĐèoNgang” là một bức tranh phong cảnh hay đòi lôi những bài thơ mà từ trước đếnnay mà người ta vẫn hùa nhau khen ra xem nó hay ở chỗ nào Xét cho cùng, trêntính tổng thể của nó, “bước đà” của các nhà Thơ mới được đặt trên thơ trung đại,một mã nghệ thuật của quá khứ, mà từ đó họ có những đột phá về thi pháp thơ,

Trang 30

còn phần gọi là “thơ cũ” chỉ là một đối tượng để họ tranh cãi về tính nội dungtrong giai đoạn sôi nổi bồng bột ban đầu Thơ mới tự nhận và chứng minh được

nó khác với thơ Trung đại trước tiên là ở cách cảm thụ và biểu đạt thế giới vìnhững tình cảm, những rung động mà Thơ mới sử dụng không phải độc quyềncủa nó

Không gian nghệ thuật trong thơ ca Trung đại là sự ý thức về vị trí củamình trong thế giới, tương quan với môi trường xung quanh Người trung đạisống trong môi trường xã hội “không đổi nhưng mà cứ trôi” - xã hội nông thôn,nông nghiệp cổ truyền và nếu có là môi trường đô thị thì đó là đô thị phươngĐông khá êm đềm Thơ ca trung đại hướng tới không gian vũ trụ, người ta thiên

về cảm nhận tính bất biến của không gian Con người ý thức về mình như là một

bộ phận của thiên nhiên xã hội vì họ “đứng trong thiên nhiên mà nhìn thiênnhiên” Mô tip những con người ẩn mình vào thiên nhiên trong thơ ca trung đạikhông phải là hiếm Những câu thơ sau đây là một minh chứng rất dễ thấy:

“Ngư ông thụy trước vô nhân hoán Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền”

(Ngư nhàn - Không Lộ thiền sư)

(Ông chài say ngủ không ai gọi Quá trưa tỉnh dậy tuyết phủ đầy thuyền)

hay:

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa”

(Qua Đèo Ngang - Bà huyện Thanh Quan)

Giáo sư Trần Đình Sử đã chia ra một số không gian nghệ thuật chính trongthơ trung đại trong đó có: không gian nhàn tản, thoát tục; không gian hoang dạitiêu điều biến dịch; không gian luân lạc; không gian trần tục hoá; không gian thếtục hoá Mỗi mô hình không gian nghệ thuật đó đều có một vị trí nhất định trongsáng tác thơ thời trung đại, trong đó không gian nhàn tản thoát tục có vị trí hàngđầu Điều này được lý giải bằng con người nhân cách và con người tâm linh trongchủ thể trữ tình Được sống trong không gian như vậy là một niềm mơ ước của

Trang 31

thi nhân, nó ám ảnh cả các tác giả cận đại “nhất là khi cuộc sống gặp nhiều trắctrở Có thể xem đây như là một nét đẹp bất biến trong tư duy nghệ thuật trungđại” [55, 259] Những ba động của lịch sử đã làm cho không gian thơ cũng đổithay Sự xuất hiện của không gian thế tục trong thế lựa chọn với không gian siêuthoát, sự xuất hiện của không gian tàn úa, xơ xác, sự xuất hiện của không gianluân lạc, không gian trần tục hóa là một minh chứng cụ thể.

Thơ mới đi lên từ cái cũ và tiếp thu tinh hoa của thơ trung đại, những cáimới từ phương Tây, thông qua sự vận động nội tại để tự khẳng định và giànhquyền tồn tại trên văn đàn Không gian nghệ thuật trong thơ ca trung đại sẽ làđiểm để người viết quy chiếu, đánh giá sự chuyển biến của không gian nghệ thuậttrong Thơ mới đầu thế kỷ XX

1.3.2 Không gian nghệ thuật Thơ mới

Theo Giáo sư Trần Đình Sử, Thơ mới (1932-1945) vẫn chỉ được xem xétnhư một trào lưu thơ, một số phong cách thơ, một số bài thơ hay, nhưng vẫn chưađược lưu ý xứng đáng với tư cách là một hệ thống thi pháp mà ý nghĩa của nó đãvượt xa ra ngoài phạm vi một trào lưu, đánh dấu một giai đoạn mới thực sự củathơ trữ tình tiếng Việt

Các nhà Thơ mới sống cùng vui buồn của thời đại, một thời đại vừa tròn

10 năm, bắt đầu bằng bài “Tình già” của Phan Khôi và khép lại bằng tập “Mùa

cổ điển” của Quách Tấn Thời đại của Thơ mới có phải là “thời đại lãng mạn”

như chúng ta thường nghĩ hay không? Truy nguyên về ngọn nguồn thực tiễn và lýluận của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây chúng ta thấy “thời đại lãng mạn chính

là thời đại cách mạng, thời đại của hi vọng và thất vọng lớn, thời đại của nhữngrung chuyển toàn bộ xã hội, trong đó con người bị hất ra ngoài các quan hệ cốđịnh nhưng cũng chưa tìm thấy vị trí của mình trong cuộc đời Thời đại mà mỗicon người tự cảm thấy mình là những cá nhân lạc lõng, bơ vơ đang đi tìm vị trícủa mình Đó là thời đại của buồn rầu, chán nản, mộng mơ, đợi chờ, mòn mỏi vôđịnh” [56, 35] Từ đây ta thấy thời đại lãng mạn là giai đoạn giao thời cộng hơn

10 năm Thơ mới Với thời gian rộng như vậy, những biến thiên trong xã hội củathời đại lãng mạn cũng cực kỳ phức tạp Chính khoảng giáp ranh tranh tối tranh

Trang 32

sáng giữa giai đoạn giao thời là nhiều ba động liên quan trực tiếp đến sự ra đờicủa cuộc cách mạng thơ ca này Không gian sinh hoạt đổi thay, quan tâm của conngười về thế giới, về các thang bậc giá trị, về vị trí của mình trong xã hội cũngtheo đó mà thay đổi Giai đoạn giao thời 1900-1930 có sự thay đổi toàn diện từcấp độ vô thức đến cấp độ ý thức là cả một quá trình Bối cảnh đó khiến khônggian nghệ thuật trong thơ cũng thay đổi Nhà thơ đòi cởi trói cho thơ, nới rộnghơn không gian nghệ thuật trong thơ nếu muốn khẳng định chất “mới” của mình.Các nhà Thơ mới chủ trương đi tìm cái tôi cá nhân của mình, sự ý thức về cái tôitrong mỗi nhà thơ được thể hiện rõ rệt, “cái tôi nằm ở trung tâm cảm nhận, làmnguyên tắc thế giới khách quan” [56, 37].

1.3.2.1 Không gian của cái tôi nội cảm

Thơ mới ra đời là một tiếng nói phủ định biện chứng sự tồn tại của thơtrung đại Tư duy ngôn ngữ quen đến thành sáo trong thơ xưa (và cả những bàithơ Đường luật trên báo chí đương thời) tạo ra một không gian thơ chật hẹp, tùtúng (tất nhiên là về mặt biểu trưng) Thời đại của Thơ mới đã xuất hiện nhữngcái mới của không gian văn hoá khi cả cơ đồ xưa cũ phải thức tỉnh bởi sự tiếp xúcvới phương Tây Có lẽ không gian thế tục hoá mà Nguyễn Khuyến và Tú Xươnggây dựng chưa đủ mạnh để những hiện tượng thơ tiếp ngay sau đó có thể bật lênlàm một cuộc cách mạng Ở đây, một lần nữa, chúng tôi muốn nói đến giai đoạngiao thời

Chúng ta không sống trong lòng của thời đại Thơ mới - một thời đại cáchđây hơn 70 năm - nên ta không thể trực tiếp vui cái vui của thời đại, buồn cái buồncủa thời đại, như tác giả “Thi nhân Việt Nam” Qua những tư liệu văn học, sử họccòn lại chúng ta cũng có thể thấy được sự biến thiên của xã hội đương thời Tản Đàsau khi thổi một một cơn gió lạ khắp trong Nam, ngoài Bắc, làm thi bá trên vănđàn suốt thập kỷ 20 của thế kỷ XX đến những năm 30 đã chùng bút Cái mới màTản Đà đem lại chỉ mới “phảng phất” Thơ mới ra đời đã đi đến cùng con đườngđổi mới mà Tàn Đà bỏ dở giữa chừng Đời sống văn học có sự tham gia của cácnhà in, báo, diễn đàn văn học khiến cho sự xuất hiện của Thơ mới không suôn sẻ:

Trang 33

bút chiến, diễn thuyết, khẩu chiến Đó là cửa ải đầu mà Thơ mới phải đấu tranh đểvượt qua Trên thực tế, có những người như Thế Lữ, “chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiênbước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tanvỡ” [64, 56] Ở trường hợp này, những cách hiểu về mối quan hệ giữa thơ cũ vàThơ mới là “một cuộc đấu tranh quyết liệt, một bên giành quyền sống, một bên giữquyền sống” có vẻ hơi quá chăng? Chúng tôi nghĩ đó đơn thuần chỉ là một cuộcđối thoại Thơ mới xây dựng cho nó một không gian nghệ thuật riêng, như vậy là

nó đã đưa ra giữa làng thơ một “kiểu đối thoại”

Thơ mới không tránh khỏi “xung khắc” với thơ cũ, nó phải “khẳng định”mình để bộc lộ những “khát vọng” Không phải ngẫu nhiên mà trong một số bàiThơ mới thời kỳ đầu hay những bài thơ ở đầu các tập thơ thường mang ngữ điệukhẳng định, “đối thoại ngầm” Không gian nghệ thuật mới là không gian của cáiTôi Con người thấy sự tù túng, phong bế của không gian cũ, thấy sự chật hẹpvây quanh mình như sau này Chế Lan Viên từng khẳng định:

“Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”

(Người đi tìm hình của nước)

Cái Tôi lúc này đã là trung tâm của vũ trụ Nó khẳng định mình trong mộtkhông gian nghệ thuật mới (chứ không đơn thuần là không gian thông thường)

Mô típ “Tôi là ” xuất hiện rất nhiều trong thơ, từ tiếng thơ của Thế Lữ:

- “Tôi chỉ là một khách tình si”

- “Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm màu”

- “Tôi chỉ là người mơ ước thôi”

đến thơ Xuân Diệu, người xuất hiện với cái “tôi” cô đơn không chia sẻ:

- “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Chẳng biết đi đâu đứng sầu bóng tối”

Trang 34

- “Tôi là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm”

- “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có ai bè bạn nổi cùng ta”

Không gian của xã hội cũ, không gian nghệ thuật của thơ cổ là chiếc áo củaquá khứ mà một cơ thể cường tráng, trưởng thành như Thơ mới không còn vừavặn nữa Ước muốn phá tung ra khỏi sự quen nhàm là một thực tế:

“Quanh quẩn mãi chỉ vài ba dáng điệu Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người

Vì thân quen nên quá đỗi buồn cười Môi nhắc lại cũng chỉ từng ấy chuyện”

(Quanh quẩn - Huy Cận)

Với Thế Lữ, qua lời con hổ ở vườn bách thú, bài Nhớ rừng đã “làm rạn vỡ

những khuôn khổ ngàn năm không di dịch” [64, 56] thông qua việc bộc lộ sự cămghét “những cảnh không đời nào thay đổi” để hồi tưởng về chốn sơn lâm hùng vĩchỉ có mình nó là chúa tể Đó là tiếng nói của cái tôi cá nhân lấy mình làm trung

tâm (ta biết ta chúa tể cả muôn loài) trong một không gian đối lập đến gay gắt với cái hiện thực tầm thường Cùng với những bài như Chỉ ở lòng ta, Bài thơ vào tập

Gửi hương (Xuân Diệu), Chân quê (Nguyễn Bính), bài Cây đàn muôn điệu của

Thế Lữ thường được coi là một trong những tuyên ngôn nghệ thuật của phong trào

Thơ mới Có lẽ chính Nhớ rừng mới là bài thơ xứng đáng với vai trò đó hơn tất cả,

nó không chỉ ra đời sớm mà trong nó có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố nghệ thuật

và vai trò “tuyên ngôn” Quả thực trên diễn đàn văn học, Thế Lữ không diễn

thuyết, không bút chiến nhưng những bài như Nhớ rừng của ông đã làm nên thắng

lợi của Thơ mới, làm nên “những cảnh không đời nào thay đổi, tầm thường giảdối” để trả cho cá nhân (chúa tể cả muôn loài) một không gian phù hợp, không

gian không biên độ Không gian thơ của Nhớ rừng, Bên sông đưa khách, Cây đàn

muôn điệu là minh chứng cho một hồn thơ đòi hỏi thoát khỏi những không gian

cũ Bên cạnh sự đòi hỏi ấy, không gian nghệ thuật mà nó đưa ra cũng thật hấp dẫn.Trong thơ trung đại, có lẽ tiên cảnh là một không gian gốc (hiểu theo nghĩa đó là

Trang 35

thế mạnh của các nhà thơ ưa nhàn tản thoát tục, sống trong vai trò của con ngườinhân cách, con người tâm linh) nhưng không gian gốc này cũng bị Thế Lữ độtkích Chính Thế Lữ, qua những câu thơ như:

“Lung linh vàng đội cung quỳnh Nhịp nhàng biến hiện những mình tiên nga”

hay:

“Trời cao xanh ngắt - Ô kìa Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai”

(Tiếng sáo Thiên Thai)

đã cho ta thấy từ không gian địa danh, không gian địa lí đến không gian nghệthuật là rất khác nhau Cùng một không gian địa danh (tiên cảnh) nhưng khi đượcnâng tầm thành không gian nghệ thuật lại có sự khác biệt: Thơ Trung đại hướngtới sự nhàn tản siêu thoát, thơ Thế Lữ hướng tới thể hiện cảm quan của cá nhânmình Chính Hoài Thanh - Hoài Chân đã rất tinh tế và hóm hỉnh khi nhận xét: “Ở

xứ ta từ khi có người nói chuyện tiên, nghĩa là từ khi có thi sĩ, chưa bao giờ tathấy thế giới tiên có nhiều vẻ đẹp như thế Phải chăng vì cõi tiên đã cùng cõi trần

Âu hoá?” [64, 57-58]

Cuộc đối thoại giữa Thơ mới và thơ cũ là một cuộc đối thoại có kết thúcngã ngũ và “lẽ phải” đã thuộc về Thơ mới Trong thời kì đầu của Thơ mới có lẽđiều làm các nhà thơ cũ phải lùi bước chính là sự đổi thay về không gian nghệthuật mà cuộc cách mạng thi ca này mang lại Không gian nghệ thuật trong Thơmới từ chỗ là một tác nhân, một phần của bối cảnh trữ tình nó đã trở thành mộttín chỉ nghệ thuật thể hiện tình cảm chủ quan của cá thể, làm đối lập chủ thể vàkhách thể để chủ thể hiện ra Trên bình diện sáng tạo, yếu tố thứ hai này - tín chỉnghệ thuật - mới chính là phần hồn của không gian nghệ thuật Tuy nhiên, trênbình diện lý luận, khi xem xét những ngày đầu Thơ mới ra đời, không gian nghệthuật lại kiêm thêm vai trò của một “kiểu đối thoại”, là cái để người ta đối thoạiđưa ra chứng minh sự khác biệt và quyền tồn tại của mình Sự đối thoại của

không gian nghệ thuật thơ cũ và không gian nghệ thuật Thơ mới về thực chất là

Trang 36

sự đối thoại của hai kiểu thức tư duy, của hai kiểu thức cảm nhận và chiếm lĩnhthế giới, của hai kiểu thức bộc lộ trữ tình

1.3.2.2 Tính đa dạng của không gian nghệ thuật Thơ mới

Thời đại lãng mạn con người muốn vươn lên tới cái gọi là tự do tuyệt đối.Cuộc đời không thoả mãn ước muốn đó của họ và họ trốn vào nghệ thuật để nuôi

ảo tưởng về tự do không biên giới kia Điều này đã mở ra một địa hạt mới củathơ: chiếm lĩnh một cách đầy chủ quan thế giới ngoại cảnh Trong quá trìnhchiếm lĩnh đó, mỗi tác giả có một thế giới quan riêng biệt Chỗ giống nhau củacác nhà thơ chính là sự độc đáo không lặp lại của mỗi cá tính sáng tạo Có thểnói, Thơ mới đã chuyển hẳn từ “tự tình” sang “trữ tình”, điều này đã có một sốngười đề cập, với sự nở rộ của phong cách cá nhân Có thể hình dung một cáinhìn chung đối với không gian nghệ thuật trong cuộc cách mạng thơ ca này, đó là

sự đa dạng trong cả một nền thơ và đa dạng trong từng hiện tượng thơ riêng lẻ(những hiện tượng thơ có giá trị lâu bền)

Tính đa dạng của không gian nghệ thuật trong Thơ mới ta sẽ thấy qua sáng

tác của một số nhà thơ, có thể bắt đầu từ Nguyễn Bính - con người nhà quê cótâm hồn thành thị này đã để lại biết bao ấn tượng trong lòng độc giả Chu VănSơn đã rút ra từ thơ Nguyễn Bính hình ảnh “kiếp con chim lìa đàn” để khái quát

về một tiếng thơ còn vọng về nơi có hương đồng gió nội Chủ thể trữ tình trongthơ ông giúp ta nhớ tới hình ảnh “con người thừa” trong văn học hiện thực thếgiới dù cho hai hình ảnh này được chiếu rọi bởi hai luồng tư tưởng thẩm mĩ khácnhau Những môtíp lãng mạn trong thơ ông như được rút ra từ những ngày phiêubạt, trông đợi mơ hồ, ước hão, buồn suông Không gian trong thơ Nguyễn Bính

có sự chia sẻ của không gian kinh thành, không gian thôn quê nhưng còn bị chiphối bởi hai không gian phụ: không gian chuyển tiếp và không gian thi cử khoabảng Có thể nói cái tôi trữ tình trong sáng tác của Nguyễn Bính thời kỳ này quá

đa mang, nó có vẻ như ở trong cảnh “một chốn bốn quê” mà mọi người vẫn nói.Trong sự liệt kê này, không gian chuyển tiếp được thể hiện rất rõ trong bài thơ

“Trường huyện”:

Trang 37

“Những buổi học về không có nón Đội đầu chung một lá sen tơ ( ) Em đi phố huyện tiêu điều quá Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi

Mà đến hôm nay anh mới biết Tình ta như chuyện bướm xưa thôi”

Đọc Trường huyện của Nguyễn Bính chúng ta lại nhớ những truyện Tình

xưa, Hai đứa trẻ của Thạch Lam Vẫn là khung cảnh nửa quê nửa tỉnh đó

nhưng thật ý nghĩa với những người nào đã trao gửi tâm hồn cho nó Không gian

“phố huyện”, “trường huyện” là bước đệm, bước chuyển tiếp của không gianthôn quê tới không gian kinh thành Nó đã xa mà có vẻ như gần chốn chân quêquen thuộc có vườn cau, bụi chuối, có những cuộc mưu sinh dãi nắng, dầm sươngnhưng còn chưa tới chốn kinh thành phồn hoa rực rỡ đông đúc có cả lọc lừa vàcám dỗ Không gian “trường huyện” là biểu tượng cho sự chuyển tiếp của tâmhồn một cậu học sinh từ quê ra tỉnh Những rung động trong trẻo đầu tiên củamột mối tình chớm nở, chưa vướng những lo toan cơm áo gạo tiền có một sức hútrất lớn Tâm hồn trẻ mới rung những nhịp đầu tiên và còn chưa kịp biết buồn vuitheo kiểu thị thành “Tình ta như chuyện bướm xưa thôi” là lời kết của bài thơ vàcũng mở ra một tâm thế mới cho chủ thể trữ tình: đón nhận những điều còn buồn

và xót xa hơn thế đang chờ phía trước chốn kinh thành Thơ Nguyễn Bính là sựdung hợp, giằng co, chuyển đổi giữa những không gian khác nhau tạo thành sự đadạng tiêu biểu dù ông không phải là nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới

Không gian Thơ mới là nơi con người cá nhân cô đơn, bơ vơ, lạc lõng đi tìmmình, ý thức về mình và bộc lộ mình, thể hiện mình và tìm lối thoát Chúng ta vẫnluôn nhắc đến hình ảnh “khách chinh phu”, “du tử”, “ly khách” cùng với môtíp

“rũ áo lên đường” như là một biểu tượng của sự “vượt thoát” mà ít quan tâm đểnhận thấy rằng chính hình ảnh này là một cách để các nhà thơ bộc lộ chủ thể trữtình trong một không gian phi cổ truyền, cách tân và không biên độ Chính tính

“không biên độ” của Thơ mới đã cho phép nó dung chứa trong mình một khônggian đa dạng, phong phú Trong không gian đó những nhà thơ có phong cách khácnhau như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư đứng cạnh nhau mà người

Trang 38

đọc vẫn hào hứng tiếp nhận tất cả Chính sự khác biệt của mỗi không gian của từng

nhà thơ sẽ làm giàu cho tính đa dạng trong không gian nghệ thuật Thơ mới.

Trong sáng tác, không gian nghệ thuật là tiếng nói của con người về cái đẹptrong quan điểm thẩm mĩ của mỗi nhà thơ Thơ mới đã đem lại cho thơ Việt Namphạm trù thơ hiện đại, thay thế cho thơ trữ tình trung đại Ở Thơ mới và qua Thơmới, các nhà thơ vừa có thể tả chân, kí sự trực quan lại vừa có thể khắc họanhững mảng hiện thực tâm hồn đầy chất tượng trưng và siêu thực Sự giảm bớttính ước lệ, sự phong phú về sắc thái của không gian nghệ thuật trong Thơ mớinằm ngay trong đặc trưng “thành thực”, “gần thực tế cuộc sống” của nó Ngườiđọc sẵn sàng đón nhận những cảm xúc bâng khuâng của con người châu Âu trước

vũ trụ, muốn bằng tình yêu của con người cá nhân chống chọi lại sự vô cùng tận đểhoan nghênh “Ta mơ trong đời hay trong mộng”, trong cảnh “Giật mình ta thấy mồhôi lạnh Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi”, với những mối tình giang hồ thoảng quatrong cốt cách của một kẻ tự biết “Biết bao trái được tính trời - Giang hồ cốt ấytrọn đời phiêu linh” Người đọc cũng sẵn sàng mở lòng ta cùng Hàn Mặc Tử để

“khao khát cái tột cùng” (Chu Văn Sơn) chu du từ “miền cực lạc” của một trời tình

ái đầy “hương thơm” với một mùa “Xuân như ý” có “nắng rợp trời” tới cõi “Đauthương” đầy sầu hận, “máu cuồng và hồn điên” mà tình ái chỉ là “Mật đắng”, rakhỏi thế giới thực và cả thế giới mộng ảo dù cho có người cho đó là “nhữngchuyện thần bí, điên loạn, hoàn toàn xa lạ với cuộc đời” [8, 73]

Thời đại lãng mạn - thời đại thi ca của Thơ mới đã mang đến cho thơ ViệtNam sự ồn ào, đông đúc của những không gian nghệ thuật hội ngộ, châu tuầntrong một thời đại chỉ hơn 10 năm Nền Thơ mới đã đưa không gian nghệ thuậtcủa mình ra để “đối thoại” với thơ cũ và đến lượt mình các không gian nghệ thuậttrong nền thơ này lại đối thoại với nhau như một sự cần thiết cho tồn tại và pháttriển Các không gian nghệ thuật chỉ “đối thoại” với nhau khi chúng có nhữngphẩm chất không lặp lại Tính “đối thoại” không chỉ thể hiện đặc trưng “dânchủ” của nền thơ hiện đại mà còn là một bằng chứng về tính đa dạng của mộtcuộc cách mạng trong thơ ca - cuộc cách mạng lay tỉnh cả mười thế kỷ thơ chìmmình trong tĩnh tại

Trang 39

1.3.2.3 Đi tìm mẫu số chung của không gian nghệ thuật Thơ mới

Từ trong bản chất của trào lưu văn học lãng mạn, Giáo sư Phan Cự Đệ đãcho rằng “cần phải định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn bằng một hệ thống đặc trưngthẩm mĩ, trong đó sự tách rời giữa lý tưởng và hiện thực là đặc trưng chủ yếu” [8,166] Qua đây có thể thấy thế giới thơ lãng mạn bao gồm tính “mở”, nó cho phép

tự biến đổi và giàu tính chất đối nghịch, tương phản hơn bất kỳ trào lưu văn họcnào tồn tại trước đó Chính đặc trưng này của chủ nghĩa lãng mạn cùng với việcnhà thơ cảm nhận không gian nghệ thuật qua một cái Tôi cá thể hóa (theo lối cảmnhận thế tục coi con người là trung tâm của thế giới) đã tạo nên tính đa dạng của

không gian nghệ thuật Thơ mới nhưng cũng giúp ta quy đồng các mẫu số để đi

tìm mẫu số chung (mô hình không gian nghệ thuật của cả nền thơ này)

Thơ mới theo đuổi cái Đẹp duy cảm - chính xác hơn là cái Đẹp của trời sầu

bể thảm Tính thẩm mĩ gắn liền với nhân sinh quan của một cái tôi nhỏ bé cô độc.Trong không gian Thơ mới, sự giằng co trong quan hệ được thể hiện khá rõ, cáitôi có thể tự khép kín mình trong tư thế “tự trị”, đi tìm bề sâu hay cảm nhận vềmình như một kẻ lạc loài, bơ vơ nhưng nó luôn là sản phẩm ra đời từ sự đấu tranhcủa hai không gian: không gian lý tưởng và không gian phi lý tưởng Có người đã

đề xuất cách mô hình hóa không gian trong Thơ mới thành không gian mộngtưởng và không gian thực tế nhưng chúng tôi nghĩ như vậy sẽ dễ rơi vào hiểu lầmbản chất của Thơ mới, hiểu lầm tính chất của “phản ánh luận” Với các nhà Thơmới, mọi rung động tình cảm, mọi mô hình nghệ thuật đều là sự thể hiện cái tôinội cảm cùng đời sống phong phú, phức tạp của nó Với cái tôi nội cảm, kháiniệm “thực tế” còn quá xa vời do người ta từng nói đến “cô độc” như là một cănbệnh của thi sĩ lãng mạn, người ta cũng nói đến những nhà thơ “sống giữa thế kỷ

XX mà vẫn thấy mình như đang gò ngựa ở chốn xa xăm nào”, đấy mới là thựcchất của một nhà thơ lãng mạn Họ “đi trong sân mà nói chuyện trên trời” (khônggian lý tưởng) và tưởng tượng đến ngay một lâu đài xương máu (không gian phi

lý tưởng) Họ có thể mơ về một thuở vàng son, quá khứ nhưng lại bàng hoàngtrước những sọ dừa, xương trắng với yêu ma Cả hai không gian đó đều là mộng

ảo, là tưởng tượng, là sự vận động của cái tôi đến tận bờ vực của cảm xúc

Trang 40

Sự phân đôi không gian lý tưởng và không gian phi lý tưởng trong Thơmới luôn được quy chiếu bởi trạng thái tâm lí đặc biệt: Mơ Cả trời thơ là cả mộttrời mơ Có cả những giấc mơ trong giấc mơ như là hệ lụy của tâm hồn muốn vùisâu vào trong cái Tôi chủ quan đầy cảm xúc và khát vọng Chính vì thế, trongcuộc bút chiến của giữa phe lãng mạn và phe tả chân, một nhà văn trào phúng đãnói: “Nếu cấm các nhà Thơ mới nói đến chữ “mơ” là hết chuyện, hết sáng tác”

Quả thực mơ mộng đâu chỉ là quê hương của riêng Lưu Trọng Lư Cõi mộng

là một ám ảnh đầy tính nghệ thuật với những người đã chót bước chân vào làng lãngmạn Sẽ không quá khi nói sự thể hiện cái tôi của con người lãng mạn thông quaviệc xây dựng một mô hình không gian riêng mãi mãi không chạm tay được tới bờhiện thực Có thể nói bao bọc không gian lý tưởng và không gian phi lý tưởng làmột không khí mơ mộng, môi trường mơ mộng Những vấn đề thơ như:

“Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng

Có con bướm trắng thường sang bên này”

(Cô hàng xóm - Nguyễn Bính)

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”

(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)

“Tôi chỉ là người mơ ước thôi

Là người mơ ước hão! than ôi!”

(Bên sông đưa khách - Thế Lữ)

đã chứng tỏ sự tác động đặc biệt của “trường mơ mộng” lên những không gianchính của Thơ mới Theo chúng tôi đây chính là mẫu số chung (dù chưa đầy đủ)

của những hiện tượng thơ làm nên tính đa dạng của không gian nghệ thuật Thơ

mới, điều tạo nên một diện mạo chung cho cả một vần thơ.

Đi tìm mẫu số chung hay con đường hồi quy của không gian nghệ thuật

Thơ mới chúng ta đã dựng được mô hình phổ quát về sự song hành của không

gian lý tưởng và không gian phi lý tưởng trong sự chi phối của “trường mơmộng” Tuy nhiên, nếu hiểu mỗi không gian nghệ thuật là “một mô hình nghệ

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Đình Ân (giới thiệu và tuyển chọn, 2006), Thế Lữ về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế Lữ về tác gia và tácphẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Phạm Đình Ân (2009), Kể chuyện các nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện các nhà văn Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phạm Đình Ân
Nhà XB: NxbGiáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Phạm Đình Ân (2009), Kể chuyện các nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tập 2 Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện các nhà văn Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phạm Đình Ân
Nhà XB: NxbGiáo dục Việt Nam
Năm: 2009
4. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyênnghiệp
Năm: 1987
5. Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trongthi ca
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Lê Tiến Dũng (1994), “Loại hình câu thơ của Thơ mới”, Tạp chí Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình câu thơ của Thơ mới”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 1994
7. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luậnán tiến sĩ Ngữ văn
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
8. Phan Cự Đệ (1966), Phong trào Thơ mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1966
9. Phan Cự Đệ - Nguyễn Toàn Thắng (tuyển chọn và giới thiệu, 2002), Hàn Mặc Tử, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: HànMặc Tử, về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Phan Cự Đệ (2002), Văn học lãng mạn Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
11. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2000), Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Đăng Điệp (giới thiệu và tuyển chọn, 2009), Huy Cận tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận tác phẩm chọnlọc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
13. Hà Minh Đức (1994), Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
14. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1997
15. Hà Minh Đức (1997), Một thời đại trong thi ca, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
16. Hà Minh Đức, Lê Bá Hán (1985), Cơ sở lý luận văn học, tập 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức, Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại họcvà Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
17. Hà Minh Đức - Đoàn Đức Phương (tuyển chọn và giới thiệu, 2003), Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NguyễnBính về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Nhiều tác giả (2002), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 2002
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w