1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khát vọng hạnh phúc ái ân của nhân vật cung nữ trong cung oán ngâm khúc (nguyễn gia thiều)

56 1,9K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khát vọng hạnh phúc ái ân của nhân vật cung nữ trong cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)
Người hướng dẫn Thạch Kim Hơng
Trường học Đại học Văn học Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 247 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất nhiều tác phẩm đã ra đời trong đó có Cung oán ngâm khúc của Ôn Nh Hầu Nguyễn Gia Thiều với nội dung khát vọng hanh phúc ái âncủa ngời cung nữ.. Nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm k

Trang 1

Lời cảm ơn

Là sinh viên sắp ra trờng, kinh nghiệm còn non yếu, chúng tôi sẽ không thể thực hiện tốt luận văn này nếu không có sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự động viên, đóng góp ý kiến của gia đình và bạn bè Nhân đây, chúng tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới tất cả các thầy cô, bạn bè, tới gia đình, đặc biệt với cô giáo Thạch Kim Hơng, ngời đã trực tiếp hớng dẫn chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Sinh viên

Lê Thị Lan

Trang 2

A Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷXIX xuất hiện một trào lu sáng tác mới đợc gọi là trào lu nhân văn chủ nghĩa.Nội dung chính mà trào lu này đề cập là vấn đề cá nhân con ngời, đặc biệt là

sự xuất hiện hình tợng ngời phụ nữ với những khát vọng, nhu cầu trần tục

Đây là nội dung mang giá trị nhân văn sâu sắc đã thu hút biết bao nhiêu nhà

nghiên cứu Rất nhiều tác phẩm đã ra đời trong đó có Cung oán ngâm khúc

của Ôn Nh Hầu Nguyễn Gia Thiều với nội dung khát vọng hanh phúc ái âncủa ngời cung nữ Xa nay đã có khá nhiều công trình khoa học cùng một sốluận văn, luận án nghiên cứu tác phẩm nhng cha có công trình nào chuyênsâu nghiên cứu nội dung và nghệ thuật thể hiện khát vọng ái ân của ngời cungnữ trong tác phẩm này Nội dung ấy chỉ đợc đề cập trong các công trình đó

nh một luận điểm, một dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề trung tâm mà các tácgiả trình bày Xuất phát từ hiện thực đó, nguyện vọng của chúng tôi là sẽ

nghiên cứu “Khát vọng hanh phúc ái ân của nhân vật cung nữ trong Cung

oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều) để nhìn nhận vấn đề này một cách sâu

sắc và toàn diện hơn Qua đó phần xác lập một cách đúng mức nhất vị trí củatác giả và tác phẩm trên thi đàn văn học Việt Nam và trong lòng độc giả

Sức hấp dẫn của Cung oán ngâm khúc còn đợc thể hiện ở chỗ tác giả

của nó đã thực hiện những đờng cày thật tuyệt diệu trên mảnh đất đã bao ngờikhai phá Viết về một đề tài đã cũ nhng tác giả đã gặt hái đợc nhiều thànhcông Thành công đầu tiên là ông đã tạo nên một nhân vật nữ điển hình về

tính cách Nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm khúc là ngời phụ nữ đầu

tiên trong lịch sử văn học dân tộc dám phản kháng mạnh mẽ chế độ cung tần

và hủ tục của triều đình phong kiến, là ngời dám bày tỏ khát vọng hanh phúc,nhu cầu thoả mãn ái ân một cách rất công khai trực tiếp Do vậy, chúng tôiquyết định đi sâu nghiên cứu để tìm hiểu lý do tại sao trong hoàn cảnh xã hộiphong kiến một ngời phụ nữ quý tộc lại dám bày tỏ khát vọng, nhu cầu nhụccảm của mình một cách mạnh mẽ, táo bạo đến nh vậy

Cung oán ngâm khúc là một tác phẩm có giá trị, hiện nay đã đợc trích

dạy trong chơng trình phổ thông Nghiên cứu về Cung oán ngâm khúc cũng sẽ

đem lại những thuận lợi không nhỏ cho công tác giảng dạy văn học trung đại

nói chung và tác phẩm Cung oán ngâm khúc nói riêng của chúng tôi sau này

Tìm hiểu về khát vọng ái ân của nhân vật cung nữ trong Cung oán

ngâm khúc vừa xuất phát từ sự yêu thích của cá nhân vừa xuất phát từ một

Trang 3

nhận thức rằng đây là cơ hội tốt để chúng tôi có một sự hiểu biết sâu hơn vềtác phẩm, đồng thời thấy đợc nhân cách và tài năng nghệ thuật của Ôn NhHầu Nguyễn Gia Thiều.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Một số ý kiến có liên quan trực tiếp đến đề tài

- Tác giả Huỳnh Phan Anh trong “Cung oán ngâm khúc” hay là tiếng

thở dài ảo não của con ngời trớc ý nghĩa của kiếp nhân sinh viết: ““Trải vách

quế gió vàng hiu hắt” – ngay từ lời mở đầu của nó khúc ngâm đã nói lên tấtcả những nét hung bạo của một kinh nghiệm đoạn trờng, đó là kinh nghiệm aioán uất hờn của một đời cung nữ đã từng đợc một thời sủng ái, giờ đây phảimang số phận hẩm hiu, lạnh lùng” [9; 116]

- Dơng Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, NXB Hội nhà văn, 2002

(bản in lần đầu tiên năm 1943) viết: “Lời văn thì rõ là của một bậc túc nhouẩn súc: đặt câu thì gọt giũa cao kỳ; diễn ý thì dùng nhiều chữ bóng bẩy vànhiều điển cố Thứ nhất là trong những đoạn tả nỗi buồn sầu của ngời cungphi thì giọng văn réo rắt, thật tả hết nỗi đau khổ, bực dọc của ngời đàn bà còntrẻ mà bị giam hãm trong cảnh lẻ loi, lạnh lùng Văn Nôm trong cuốn ấy thật

đã đạt một trình độ rất cao” [7; 311]

- Đặng Thanh Lê là ngời đã có khá nhiều bài viết về Cung oán ngâm

khúc ở sách giáo khoa văn 10, NXB GD, 1998, viết: “… ng ngời cung phi bịruồng bỏ đã trải qua những tâm trạng khắc khoải mong chờ, buồn tủi giậnhờn bị tuyệt vọng, buồn tủi và giận hờn đi đến cực độ… ng” [3; 153]

Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII hết thế kỷ XIX

, NXBGD, 2004 viết: “Cung oán ngâm khúc ra đời góp thêm một tiếng nói tố

cáo, lên án xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời cũng góp thêmmột tiếng nói mạnh mẽ đòi cho con ngời có quyền đợc yêu thơng, đợc thoảmãn cuộc sống ái ân Kể cũng hiếm có tác phẩm nào nói đến khao khát thoảmãn cuộc sống ái ân vừa táo bạo mà cũng vừa trắng trợn và có tính chất nhục

cảm nh Cung oán ngâm khúc” [10;191]

“Trong Cung oán ngâm khúc, khát vọng của ngời cung nữ thiên về

những đòi hỏi ái ân, cho nên nghệ thuật biểu diện bằng cảm giác phần nào cóthiên hớng nhục cảm Ông là ngời đầu tiên có công sử dụng nghệ thuật này,

đồng thời cũng là ngời có những hạn chế nhất định trong việc sử dụng nghệthuật này” [10; 197]

- Hoàng Hữu Yên, Giảng văn văn học Việt Nam, NXBGD, 1954:

“Cung oán ngâm khúc là tiếng nói độc thoại vang lên đầy ai oán, khi thẫn thờ

da diết và cuối cùng là nỗi bực bội giận hờn thì tác giả mợn bút phát tả cảnh

Trang 4

ngụ tình Ngòi bút lách vào những miền sâu thẳm của tâm t, ý nghĩ của nhânvật… ng” [18;193].

- P TS Hồ Sĩ Hiệp – Lâm Quế Phong… ng Bà Huyện Thanh Quan,;

Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy ích, NXB

Văn nghệ, TP HCM, 1997; bài viết về “Nội dung và đặc điểm nghệ thuật của

Cung oán ngâm khúc” của Đặng Thanh Lê có đoạn: “… ngcó thể nói tiếng nói

đòi hỏi hanh phúc trong Cung oán ngâm khúc là tiếng nói đắm đuối nhất

trong văn chơng quý tộc… ng” [9; 103]

2.2 Nhận xét

Nhìn chung nghiên cứu về Cung oán ngâm khúc ngoài những công

trình đã nêu chắc chắn còn rất nhiều ở đây chúng tôi chỉ lọc ra những côngtrình có ý kiến liên quan đến đề tài

Chúng tôi nhận thấy rằng cha có công trình nào đi sâu nghiên cứu khátvọng hanh phúc và nhu cầu thoả mãn ái ân của nhân vật cung nữ cùng nhữngnghệ thuật mà Nguyễn Gia Thiều sử dụng để thể hiện nội dung đó trong tácphẩm của ông nh một công trình độc lập Nói nh vậy không phải là các nhànghiên cứu không làm đợc mà là họ cha đặt ra vấn đề đó một cách khu biệt

Đây vừa là những khó khăn nhng cũng tạo đợc những điều kiện thuận lợi chochúng tôi thực hiện đề tài của mình Khó khăn vì sự ít ỏi của tài liệu sẽ làmcho việc xác định hớng đi của đề tài không dễ dàng gì Mặt khác, nó tạo điềukiện cho chúng tôi phát huy tối đa những ý tởng và sự sáng tạo của cá nhân

Những ý kiến của các tác giả trong các công trình nghiên cứu nêu trên

sẽ là nguồn t liệu quí giá cho chúng tôi thực hiện đề tài của mình

3 Phơng pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu Khát vọng hanh phúc ái ân của nhân vật cung nữ trong

Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), chúng tôi đã sử dụng một số

4 Đối tợng nghiên cứu

Trang 5

Chúng tôi xin đi nghiên cứu bản Cung oán ngâm khúc do Lê Văn Hoè

hiệu đính và chú giải, đợc in ở NXB Thế giới, Hà Nội, 2001

5 Phạm vi nghiên cứu

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đề cập đến nhiều vấn đề

nhng do phạm vi của đề tài nên chúng tôi xin đi sâu nghiên cứu khát vọng

hanh phúc ái ân của cung nữ trong tác phẩm cùng những biện pháp nghệ thuật

mà tác giả đã sử dụng để thể hiện nội dung đó

Chơng 1: Trào lu nhân văn chủ nghĩa và một đôi nét về tác giả

Nguyễn Gia Thiều

1.1 Trào lu nhân văn chủ nghĩa

1.1.1 Khái niệm

1.1.2 Cơ sở xã hội và văn học của trào lu nhân văn chủ nghĩa

1.1.3 Một số biểu hiện cụ thể của cảm hứng nhân văn trong văn họcViệt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX

1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Gia Thiều

1.2.1 Tiểu sử

1.2.2 Sự nghiệp văn chơng

1.2.3 Tác phẩm Cung oán ngâm khúc

Chơng 2: Những biểu hiện về Khát vọng hạnh phúc ái ân của nhân vật

cung nữ trong Cung oán ngâm khúc.

2.1 Sự hoài niệm quá khứ với biết bao tiếc nuối

2.2 Sự cô đơn trong hiện tại với những khao khát về hạnh phúc ái ân.2.3 Sự tuyệt vọng uất ức khi không đợc thoả mãn

2.4 Sự phản kháng mãnh liệt trớc những khát khao không đợc thoảmãn

Trang 6

2.5 Cơ sở làm nảy sinh khát vọng hạnh phúc ái ân trong Cung oán

ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.

Chơng 3: Nghệ thuật thể hiện khát vọng hạnh phúc ái ân trong Cung

oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.

3.1 Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

3.2 Biện pháp độc thoại nội tâm

3.3 Nghệ thuật thể hiện bằng cảm giác

3.4 Thể thơ song thất lục bát với thành công của khúc ngâm

Phần kết luận

Trang 7

B Phần nội dung

Chơng 1

Trào lu nhân văn chủ nghĩa và một đôi nét về tác giả

Nguyễn Gia Thiều.

1.1 Trào lu nhân văn chủ nghĩa

1.1.1 Khái niệm

“Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan điểm chính trị bắt nguồnkhông phải từ những gì siêu nhiên kỳ ảo, từ những nguyên lý ngoài đời sốngcủa nhân loại mà từ con ngời tồn tại trong thực tế trên mặt đất với những nhucầu, những khát vọng trần thế và hiện thực của nó Những nhu cầu ấy đòi hỏiphải đợc phát triển một cách đầy đủ, đòi hỏi phải đợc thoả mãn”

Chủ nghĩa nhân văn xuất hiện từ khá lâu trong văn học nh một tiêu chísáng tạo nghệ thuật Tất cả những tác phẩm văn chơng đợc sáng tác trên tinhthần của chủ nghĩa nhân văn tập hợp lại thì tạo thành một trào lu văn họcmang tên trào lu nhân văn chủ nghĩa

Trào lu nhân văn chủ nghĩa xuất hiện ở Việt Nam vào giai đoạn nửacuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX do những điều kiện lịch sử xã hội cụthể của dân tộc

1.1.2 Cơ sở xã hội và văn học của trào lu nhân văn chủ nghĩa

Vốn đã có mầm mống nguy hại từ giai đoạn trớc đó, đến giai đoạn này,xã hội Việt Nam suy vong và xuống dốc đến tột cùng Biểu hiện rõ trên tất cảcác mặt

1.1.2.1 Về kinh tế

Nền kinh tế nớc nhà vốn thấp kém thì nay lại càng đi vào suy vong, sụp

đổ do mục đích riêng t của triều đình phong kiến Nông nghiệp thì đình đốnmất mùa liên miên, công thơng nghiệp cũng bị thui chột dần vì chính sách bếquan toả cảng Nhân dân phải dắt díu nhau đi ăn xin, sống cuộc đời lang bạtkhắp nơi Trong xã hội xuất hiện hai mảng đời đối lập là mảng sống xa hoacủa vua chúa quan lại và cuộc sống nghèo đói của quần chúng nhân dân Dovậy trong xã hội bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, t tởng oán hận triều đình phongkiến cũng bắt đầu xuất hiện trong quần chúng nhân dân

1.1.2.2 Về chính trị xã hội

Nền chính trị trong giai đoạn này vô cùng tồi tệ Chính quyền phongkiến đã thực sự thối nát Vua chúa không quan tâm đến việc triều chính màchỉ lo ăn chơi hởng lạc Nạn quan liêu, tham ô diễn ra ngày càng mạnh.Những yếu tố về kinh tế và sự thối nát trong triều đình phong kiến hiện đã

Trang 8

khiến quần chúng nhân dân mất lòng tin vào triều đình phong kiến, căm ghétbọn vua chúa quan lại Họ đã ý thức đợc nhu cầu của chính mình và vùng lênphản kháng mãnh liệt Những phong trào nông dân khởi nghĩa liên tiếp nổ ramột cách rầm rộ, rộng khắp mặc cho triều đình phong kiến ra sức trù dậpbằng những hình phạt ghê sợ Khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra là sự tập hợp sứcmạnh của những cuộc khởi nghĩa trớc đó đã đem lại cùng lúc hai thắng lợi tolớn Nó đã đánh đợc giặc ngoài để giành độc lập dân tộc và dẹp thù trong đểthống nhất đất nớc Ngời anh hùng áo vải Quang Trung đợc coi là ngời đemlại mầm sống mới cho dân tộc, ngời đa lịch sử dân tộc bớc sang một trangmới.

Lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầuthế kỷ XIX chứng kiến sự ra đời của tầng lớp thị dân Đây là tầng lớp tự do thữu, không bị ràng buộc bởi cộng đồng làng xã Họ mang trong mình một ýthức cá nhân rõ nét, một nhu cầu giải phóng tình cảm cá nhân mãnh liệt.Luồng t tởng ấy của họ nhanh chóng ảnh hởng sâu rộng trong quần chúng và

đi vào văn học nh một hiện tợng manh tính nhân văn tiến bộ của thời đại

Thêm vào đó ý thức hệ phong kiến giai đoạn này cũng bị vi phạmnghiêm trọng từ chính tầng lớp tạo ra nó T tởng trung quân đã không còn đợccoi trọng, quan lại trong triều thì chia bè, chia phái sẵn sàng chà đạp lên nhau

để tranh quyền đoạt vị Hình ảnh Nguyễn Cảnh Thớc cớp áo bào và châu báucủa vua trên dòng sông Nh Nguyệt đợc xem là một vết nhơ của lịch sử

Nguyễn Trang nói với thầy học của mình rằng :Sợ thầy không bằng sợ giặc,

yêu chúa chẳng bằng yêu thân Sự suy đồi đạo đức của con ngời đã khiến

Phạm Đình Hổ phải thốt lên: Đời suy thói tệ, thế đạo ngày một sút kém, danh

phận lung tung không phân biệt đợc đâu là thuận với nghịch nữa (Vũ Trung

tuỳ bút) Tình trạng này khiến cho Nguyễn Hành phải đau xót kêu lên rằng

nhục quốc thể

Sự phá sản của Nho giáo khiến cho tầng lớp trí thức phong kiến khủnghoảng trầm trọng về lý tởng Họ không còn tin vào minh chúa, không còn tinvào lý tởng của Nho gia Duy có điều là họ không hề có t tởng ẩn mình, thoáttục mà ngợc lại rất có tinh thần nhập thế Họ dám nhìn thẳng vào hiện thực đểphanh phui mổ xẻ những mặt trái của xã hội, lên tiếng bênh vực, đòi quyềnlợi cho cá nhân con ngời, đặc biệt là quyền hạnh phúc của ngời phụ nữ và ớcmơ một xã hội lý tởng trong tơng lai

1.1.2.3 Cơ sở văn học

Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX pháttriển rực rỡ Những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội … ng chính là nguồn

Trang 9

gốc sâu xa quyết định sự phát triển của văn học giai đoạn này Hầu hết cáctác phẩm văn học dù là chữ Hán hay chữ Nôm đều tập trung vào vấn đề conngời, nhận thức con ngời và đấu tranh với mọi thế lực đen tối, phản động củaxã hội phong kiến để khẳng định giá trị chân chính của con ngời Trào lunhân văn chủ nghĩa trong văn học giai đoạn này xuất hiện từ đó

1.1.3 Một số biểu hiện của cảm hứng nhân văn trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX.

Cảm hứng nhân văn trong giai đoạn văn học này xuất hiện không phải

nh một yếu tố, một tính chất mà xuất hiện nh một trào lu Hầu hết những tácphẩm văn học này đều viết về con ngời, đấu tranh với mọi thế lực thù địch

đen tối để khẳng định những giá trị chân chính của con ngời

1.1.3.1 Đáng kể nhất vẫn là sự xuất hiện của hình tợng ngời phụ nữ với hai cảm hứng là bênh vực, bảo vệ và ngợi ca đề cao.

Ngời phụ nữ xuất hiện trong văn học giai đoạn này là con ngời cá nhânvới cuộc sống trần tục và khát vọng tự do vợt ra ngoài khuôn khổ lễ giáophong kiến, là ngời phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống lại những thế lực tànbạo, chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con ngời Những ngời phụnữ nh vậy xuất hiện nhiều trong thơ của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm,Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, và đặc biệt là Hồ Xuân Hơng Nàng chinh

phụ trong Chinh Phụ ngâm dù không trực tiếp nhng cũng bày tỏ thái độ tố

cáo chiến tranh phong kiến đã chia cắt hạnh phúc vợ chồng của mình Đồngthời, nàng cũng bày tỏ khát vọng và nhu cầu hạnh phúc ái ân không kémphần ồn ào sôi nổi:

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nổi Cũng dập dìu chẳng vội phân trơng Chẳng xem chim én trên rờng Bạc đầu chẳng nỡ đôi đờng rẽ nhau Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh

Nọ loài chim chấp cánh cùng bay Liễu sen là thức cỏ cây

Đôi hoa cùng sánh đôi dây cùng liền.

Tiếp đến là nàng Thúy Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi

hào Nguyễn Du, và mạnh mẽ hơn là ngời phụ nữ trong thơ Nôm của Hồ XuânHơng Những ngời phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã giám vùng lênphản kháng lại hủ tục của chế độ phong kiến một cách mãnh liệt Họ dámchửi thẳng vào bộ mặt đều giả của bọn vua quan quý tộc, và kể cả bọn ngời tríthức đợc xã hội lúc bấy giờ gọi là hiền nhân quân tử Thông qua đó họ bày tỏ

Trang 10

khát vọng hạnh phúc lứa đôi và sự thèm muốn nhục cảm của mình một cáchdõng dạc và công khai nhất, nh thách thức với cả xã hội lúc bấy giờ Tiếngnói ấy đợc đánh giá là một hành động phá tan mọi thành trì đen tối của xã hộiphong kiến

1.1.3.2.Đề cao con ngời cá nhân, cuộc sống trần tục, đề cao khát vọng tự do vợt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến.

Nét đặc trngtrong quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học giai

đoạn này là nhu cầu tự nhiên của con ngời đợc khẳng định bằng ba chữ Thân– Tài – Tình Ba chữ này trở thành khái niệm để con ngời tự ý thức về

mình Đó là ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Truyện Kiều của Nguyễn Du, là ý thức khẳng định tài

năng của bản thân con ngời trong thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, HồXuân Hơng Đó cũng là khát vọng giải phóng tình cảm của con ngời – mộtvấn đề trọng tâm của văn học thời kỳ này Khát vọng giải phóng tình cảm củacon ngời đợc biểu hiện ở tinh thần đấu tranh để đợc tự do yêu đơng, ở tinhthần dân chủ chống phong kiến Các tác giả đã mợn việc sáng tác văn chơng

để ca ngợi tình yêu tự do, phản đối tình yêu môn đăng hộ đối Một loạt cáctác phẩm ra đời phản ánh những mối tình hết sức chênh lệch nhau, các nhânvật trong đó bất chấp quan niệm phong kiến, tự tìm đến với nhau nh TốngChân – Cúc Hoa hay Kim Trọng – Thúy Kiều… ng

1.1.3.3 Một nội dung nữa cũng hết sức đáng chú ý trong văn học giai

đoạn này là nội dung đấu tranh chống những thế lực bạo tàn, chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con ngời Về một phơng diện nào đó, có

thể nói văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷXIX là nền văn học tố cáo phê phán Các tác giả đã trực tiếp tố cáo tầng lớp

thống trị bằng những lời lẽ rất đanh thép, sâu cay Hoàng Lê Nhất Thống Chí

vẽ tả một bức tranh sinh động về cảnh tợng thối nát của triều đình phong kiến

lúc bấy giờ Chinh Phụ Ngâm phê phán, tố cáo chiến tranh phong kiến đã làm

tan vỡ hạnh phúc lứa đôi của tuổi trẻ, làm cho ngời chinh phụ phải sống trong

cô đơn, mòn mỏi, đợi chờ Cung oán ngâm khúc lớn tiếng phê phán sự ăn chơi hởng lạc của tầng lớp thống trị và chế độ đa thê Truyện Kiều lên án tố cáo

thế lực đồng tiền và cờng quyền đã xô đẩy con ngời, phá vỡ hạnh phúc của

Trang 11

cách mãnh liệt Họ tự ý thức đợc mình, sẵn sàng bày tỏ những khát khao nhucầu nhục cảm của bản thân một cách công khai, trực tiếp nhất Tuy rằng cuốicùng, ngời phụ nữ vẫn phải chịu những thất bại nhng tất cả sự chống đối của

họ đã báo hiệu một thời kỳ sụp đổ của chế độ phong kiến sắp đến Nằm trong

trào lu chung của văn học trung đại, Cung oán ngâm khúc của Ôn Nh Hầu

Nguyễn Gia Thiều đợc xem là tác phẩm tiêu biểu trong lịch sử văn học dântộc thể hiện công khai, táo bạo những nhu cầu trần tục của ngời phụ nữ

1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Gia Thiều (1741 1798)

1.2.1 Tiểu sử

Ôn Nh Hầu Nguyễn Gia Thiều biệt hiệu là Hi Tôn Tử và Nh ý Thiền

Ông sinh năm 1741 tại làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủThuận Thành, xứ Kinh Bắc (nay là huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh)trong một gia đình quý tộc có nhiều ngời làm quan

Ông nội của Nguyễn Gia Thiều là một võ quan cao cấp đợc phong tớchầu Mẹ là công chúa Quỳnh Liên, con gái An Đồ Vơng Trịnh Cơng NguyễnGia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc ấy là cậu một Ông làcon cô con cậu với chúa Trịnh Sâm

Nguyễn Gia Thiều là ngời có t chất thông minh đĩnh ngộ ngay từ nhỏ.Lúc lên 5 tuổi ông đợc đa vào nuôi dạy trong phủ chúa và sớm phát huy tàinăng của mình Nhận ra nhân tài Nguyễn Gia Thiều, nhà chúa đã để ông giữchức hiệu uý Quan Binh Mã ngay khi ông mới 19 tuổi Sau này nhờ lập đợcnhiều công lớn mà Nguyễn Gia Thiều đợc phong tớc Ôn Nh Hầu

Là ngời trực tiếp sống trong phủ chúa, lại cũng là một quan lớn trongtriều, Nguyễn Gia Thiều đợc thấy tận mắt sự suy đồi của chế độ phong kiến,

sự thối nát của bộ máy nhà nớc Ông cảm thấy bất mãn vô cùng trớc thờicuộc Sẵn lòng ham mê thú văn chơng, ông chỉ chuyên cần vào việc sáng tác

và bỏ bê việc triều chính Do đó, Nguyễn Gia Thiều nhanh chóng bị thấtsủng

Khi Tây Sơn diệt Trịnh, có mời ông ra làm quan Tuy nhiên, NguyễnGia Thiều vốn là ngời trung quân nên ông đã chối từ và tìm mọi cách để lui

về ở ẩn Ông mất tại quê hơng Bắc Ninh – nơi ông muốn thực hiện tất cảmọi tâm huyết của mình vào lúc ông đợc 58 tuổi

Nhìn chung, cuộc đời của Nguyễn Gia Thiều có nhiều thăng trầm.Không kể đời sống cá nhân, ông sinh ra trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt.Quãng thời gian làm quan, ông trực tiếp chứng kiến sự suy đồi của chế độphong kiến và lối sống sa hoa, trụy lạc của tầng lớp vua quan lúc bấygiờ.Quan lại thì chia bè phái để tranh quyền đoạt vị, vua chúa thì mải đắm

Trang 12

chìm thong cuộc sống vật dục mà bỏ quên triều chính Trong hoàn cảnh sống

đó, một nhân cách sáng trong nh Nguyễn Gia Thiều cảm thấy lạc lõng và thấtvọng vô cùng Cũng chính từ đây ông bị nhà vua lạnh nhạt thờ ơ Cùng lúc

đó, ông đợc chứng kiến cuộc sống khổ đau của ngời cung nữ, nạn nhân củachế độ cung tần Câu chuyện bất hạnh của ngời cung nữ đã từng đợc nhà vuasủng ái nay bị ruồng rẫy, một mình nơi thâm cung lạnh lẽo cô đơn đang khátkhao hạnh phúc, đòi đợc thoả mãn cuộc sống ái ân đã làm cho tác giả vô cùngcảm động Ông cảm thấy có một sự tơng đồng về số phận giữa mình và ngờicung nữ đồng thời cảm thông thơng xót cho nàng Tình cảm thơng xót, cảmthông ấy đợc thể hiện rõ nét trong các sáng tác của ông

Về sáng tác chữ Hán có thể kể đến Ôn Nh thi tập Trong tập thơ này có

khoảng 1000 bài nhng đã bị thất lạc và cho đến nay vẫn cha tìm thấy

Phần sáng tác bằng chữ Nôm có Tây Hồ thi tập và Tứ Trai thi tập.

Những bài trong hai tập thơ này của ông cũng đã bị thất lạc nhiều và chỉ còn

một vài bài trong Tạp Ký của Lý Văn Phức

1.2.3 Tác phẩm Cung oán ngâm khúc

Một trong những cơ sở để Cung oán ngâm khúc ra đời là do tác giả của

nó đã có dịp thấu hiểu cảnh sống của những cung nữ bị nhà vua ghẻ lạnh,sống cô đơn âm thầm trong thâm cung Tác phẩm là tiếng nói đanh thépchống lại triều đình phong kiến, là niềm khao khát hạnh phúc và đòi đợc thoảmãn nhu cầu ái ân của ngời cung nữ Thông qua tác phẩm này, Nguyễn GiaThiều gửi gắm biết bao tâm sự của mình về thời cuộc đảo điên lúc bấy giờ

Cung oán ngâm khúc gồm 356 câu thơ song thất lục bát đợc chia làm

sáu đoạn Đoạn một gồm 8 câu đầu, là đoạn trình bày cảnh lạnh lẽo trongcung bằng hai câu theo nguyên tắc phác hoạ để đặt vị trí cho câu chuyện

Đoạn hai từ câu 9 đến câu 44, tả nhan sắc và tài năng của cung nữ Đoạn ba từcâu 45 đến câu 132, thể hiện quan niệm của cung nữ về cuộc đời, về số phậncủa con ngời Đoạn bốn từ câu 133 đến câu 192, cung nữ đợc sự đặc sủng củanhà vua Đoạn năm từ câu 193 đến câu 344, cung nữ bị nhà vua bỏ rơi, mộtmình trong thâm cung với nỗi cô đơn, nhớ tiếc, nỗi khao khát, tuyệt vọng, sự

Trang 13

chán chờng, rồi lại hy vọng đợi chờ Đoạn sáu từ câu 345 đến câu 356, làcảnh cô đơn cực điểm của cung nữ, với niềm hy vọng và sự lo lắng đan xen.Nàng hy vọng một ngày nào đó nhà vua lại ghé thăm , nhng không biết đếnlúc đó mình còn giữ đợc nhan sắc hay không.

Nội dung khát vọng hạnh phúc ái ân của cung nữ đợc thể hiện tập trung

từ đoạn bốn đến đoạn sáu

Trang 14

Chơng 2

Những biểu hiện về khát vọng hạnh phúc ái ân của nhân

vật cung nữ trong Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)

Nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Ôn Nh Hầu Nguyễn

Gia Thiều là một ngời có số phận bất hạnh, phải chịu cảnh sống cô đơn, lẻ loinơi thâm cung Tâm trạng của nàng luôn có sự chồng chéo giữa những cảmxúc nhớ thơng, tiếc nuối, khát khao, tuyệt vọng, uất ức, phản kháng mãnhliệt… ng và hy vọng đợi chờ ẩn đằng sau dòng tâm trạng cảm xúc đó chính lànhững khát vọng hạnh phúc và nhu cầu thoả mãn cuộc sống ái ân của nàng

2.1 Sự hoài niệm quá khứ với biết bao tiếc nuối

Nhớ tiếc là trạng thái con ngời không bằng lòng với cuộc sống hiện tại

và nhớ về quá khứ Hiện thực, cung nữ đang sống một cuộc sống tẻ nhạt, cô

đơn, buồn tủi trái ngợc hẳn với quá khứ của nàng Cung nữ đã có một quá khứhuy hoàng, đẹp đẽ Trong đêm tối, nơi khuê phòng lạnh giá của mình, nàngkhông thôi hoài niệm về quá khứ của cuộc đời và lại càng thấm thía nỗi cô

đơn trong hiện tại Ngay từ đầu tác phẩm, ngời cung nữ đã xuất hiện với tâmtrạng buồn khổ và nàng muốn đi tìm nguồn cơn của số phận:

Trải vách quế gió vàng hiu hắt Mảnh vũ y lạnh ngắt nh đồng Oan chi những khách tiêu phòng

Mà sui phận bạc nằm trong má đào Duyên đã may cớ sao lại rủi

Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang Vì ai nên nỗi dở dang

Nghĩ mình mình lại thêm thơng nỗi mình.

Cung nữ thấy nuối tiếc quá khứ Nỗi nhớ ấy diễn ra thờng trực tronglòng nàng, nhiều khi nó khiến nàng khao khát Chỉ một thời gian trớc đây thôinàng còn đang đợc sống những giờ phút hạnh phúc ái ân đầy khoái cảm xácthịt, thế nhng giờ đây nàng lại phải chịu cảnh lẻ loi đơn độc

Ban đầu là kỷ niệm về buổi đầu tiên nàng bớc chân vào cung vua Ngờicon gái tài sắc vẹn toàn đã làm say lòng đấng quân vơng Đêm đầu tiên nơicung cấm nàng thực sự đợc nếm trải hạnh phúc, đợc nâng niu chiều chuộng.Câu hỏi do chính nàng đa ra với biết bao hạnh phúc ngỡ ngàng, biểu hiện một

điềm đê mê đến ngây ngất:

Cái đêm hôm ấy đêm gì?

Bóng dơng lồng bóng trà my trập trùng!

Trang 15

Cung phi tự ví mình nh hoa thợc dợc, nh đoá hải đờng đang còn mơ

mòng ngủ say trong hạnh phúc, ái ân Nàng mợn điển xuân tiêu một điển

nhất chuyện nàng Dơng Quý Phi đợc vua Đờng Minh Hoàng sủng ái để diễntả cảm xúc mãn nguyện, vui sớng của mình:

Chồi thợc dợc mơ mòng thụy vũ

Đoá hải đờng thức ngủ xuân tiêu

Hết tự hỏi: Cái đêm hôm ấy đêm gì? nàng lại nhắc đến những kỷ niệm

đắm say, rạo rực:

Xiêm nghê nọ tả tơi trớc gió

áo vũ kia lấp ló trong giăng …

Đệm hồng thúy thơm tho mùi xạ Bóng bội hoàn nhấp nhá trăng thanh Mây ma mấy giọt chung tình

Đình Trầm Hơng khoá một cành mẫu đơn

Những Xiêm nghê nọ tả tơi trớc gió, áo vũ kia lấp ló trong giăng; rồi

Đệm hồng thúy thơm tho mùi xạ; rồi bóng bội hoàn, đình Trầm Hơng, rồi lại

ngón đàn cung địch: Càng đàn càng địch, càng mê, Càng gay gắt điệu càng

tê tái lòng là kỷ niệm về tháng ngày sống sa hoa, đầy hoan lạc trong chốn

thâm cung của cung phi Nàng đang hồi tởng lại tháng ngày đợc nhà vua yêudấu với biết bao ấn tợng đê mê, ngất ngây Cách diễn tả kỷ niệm bằng nhữngcâu thơ đầy hình ảnh và cảm giác này chứng tỏ sự ham muốn, khát khao hạnhphúc, ái ân của nàng ngay trong hoàn cảnh hiện tại Nàng nhắc đến kỷ niệmhoan lạc một cách công khai, lộ liễu với tất cả niềm tự hào, mãn nguyện ẩn

đằng sau điều ấy là niềm nhớ tiếc quá khứ của nàng Trong trạng thái nhớ tiếcnày, có bao giờ nàng lại không khao khát đợc hạnh phúc, ái ân

Kỷ niệm còn đợc tiếp tục với những tháng ngày tiếp theo cung phi đợc

sự sủng hạnh của nhà vua Nàng coi điều đó là một cái ơn ma móc mà nhàvua dành cho mình Hạnh phúc trong lúc ấy đã khiến nàng tự hào và thấyrằng mối nhân duyên của mình với nhà vua thật xứng đôi vừa lứa:

Mày ngài lẩn mặt rồng lồ lộ Sắp song song đôi lứa nhân duyên

Quá khứ êm đẹp ấy cứ hiện lên trong tâm thức ngời cung phi rõ mồnmột, tởng nh mới ngày hôm qua thôi Nàng nhớ đến từng chi tiết nhỏ về

những lần đợc cử trùng đến thăm, những phút giây ân ái bên ngài Những địa danh vờn Tây Uyển, gác Lâm Xuân cùng những kỷ vật của tình yêu đợc nàng

nhắc đến đều gắn chặt với những phút giây, những tháng ngày hạnh phúc

Trang 16

Cùng lúc quá khứ êm đẹp càng nh kéo nhau chảy tràn về trong tâmthức, theo nỗi nhớ mong khao khát của con ngời Quá khứ luôn đầy chất thơ,luôn đầm ấm và tốt đẹp biết bao nhiêu:

Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt Lúc cời sơng cợt tuyết đền phong

Đoá lê ngon mắt cửu trùng Tuy mày điểm nhạt nhng lòng cũng siêu.

Kỷ niệm đâu chỉ có dừng lại bấy nhiêu thôi Cung phi còn nhớ vềnhững khi nàng cùng đấng quân vơng thề nguyền mãi mãi bên nhau, cùngnguyện trên trời nh chim liền cánh, dới nớc nh đôi hoa sen liền cành:

Tranh tỉ rực, nhìn a chim nọ

Đồ liên tri, lần trỏ hoa kia

Rồi nàng tự nhủ:

Chữ đồng lấy đó mà ghi Mợn điều thất tịch mà thề bách niên

Cuộc sống huy hoàng quá, hạnh phúc hoan lạc viên mãn quá khiến conngời cứ mãi đắm chìm trong nó Cung phi mơ nghĩ về viễn cảnh của ngàymai Tự nhận thấy cuộc sống của mình trong hiện tại là do đấng quân vơngban cho, nàng vô cùng cảm tạ Trong con mắt nàng lúc bấy giờ, nhà vua là tấtcả Nàng nguyện sống suốt đời vì chồng, sẵn sàng đánh đổi bất cứ điều gì để

đợc ở bên chồng cho thoả niềm hạnh phúc Bằng tất cả sự tôn sùng, nàng khi

thì gọi chồng là vua, khi lại gọi là đấng chí tôn, khi lại gọi là cửu trùng, quân

vơng, rồi bóng dơng… Kỷ niệm mặn nồng là thế, hạnh phúc tràn đầy viên

mãn là thế, thiết tởng không bao giờ xa rời ngời trong cuộc Thế mà tất cả lạikhông nh mong muốn của con ngời

Từ đỉnh cao của vinh quang, cung phi bị đẩy vào cuộc sống tẻ nhạt, cô

độc nơi lãnh cung tăm tối Nơi ấy không có ai để nàng sẻ chia, tâm sự Nàngchỉ biết lặng lẽ gậm nhấm quá khứ, tuyệt vọng vào tơng lai mà thôi Số phậncủa nàng cũng giống nh số phận của rất nhiều cung nữ khác, bị nhà vua hắt

hủi, bỏ quên Cảnh của nàng lúc này không phải là cảnh thiếp trong cánh

cửa, chàng ngoài chân mây nh của ngời chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm

(Đặng Trần Côn) mà là cảnh của ngời cung nữ biết mình chỉ nh một trong banghìn con én không biết chen chân đậu cành nào trên cái thân cù mộc của

đấng quân vơng

Từ nhớ tiếc,hoài niệm quá khứ , nàng quay sang mong ngóng , đợi chờmột phép màu nhiệm sẽ đem hạnh phúc khi xa đến bên mình một lần nữa Dùcuộc sống hiện tại có khổ đau, bi kịch đến đâu đi chăng nữa thì nàng vẫn

Trang 17

không thôi hy vọng đợi chờ Nguyễn Gia Thiều ca ngợi bản chất kiên trinhcủa ngời phụ nữ Việt Nam Trong đau khổ, họ vẫn không chịu khuất phục vàluôn lạc quan, tin tởng, vẫn hy vọng, đợi chờ Sự thật ẩn đằng sau những cungbậc tình cảm này bao giờ cũng là khát vọng hạnh phúc là nhu cầu thoả mãn ái

ân vợ chồng của họ

2.2 Sự cô đơn trong hiện tại với những khao khát về hạnh phúc ái ân

Sau dòng hoài niệm, cung nữ quay về cuộc sống thực tại đầy đau khổcủa bản thân mình Nàng đã không còn đợc nhà vua quan tâm tới bởi xungquanh nàng còn biết bao cung tần mỹ nữ khác:

Muôn hồng nghìn tía đua tơi Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần Vốn đã biết cái thân câu chõ

Cá no mồi cũng khó dử lên Ngán thay cái én ba nghìn Một thân cù mộc biết chen cành nào ?

Cung nữ phải chịu cuộc sống cô đơn, lẻ loi, ngày ngày nhìn đấng quânvơng – ngời đã từng thề thốt với mình vui cuộc ái ân bên những ngời cungnữ khác Nỗi cô đơn dày vò tâm trí khiến nàng luôn mong ngóng đợi chờbóng xe vua Hết ngày rồi đến đêm, khi ngủ cũng nh khi thức, lúc lên lầu khixuống gác, khi đứng lại khi ngồi cung nữ đều mong có một phép nhiệm màunào đó đem nhà vua quay trở lại bên nàng:

Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ Gác thừa lơng thức ngủ thu phong

Chính trong hoàn cảnh này, con ngời lại càng thấm thía hơn nỗi đaukhổ, cô đơn của bản thân Nàng nhìn cảnh vật mà thấy đâu đâu cũng ẩn chứa

sự chia ly Căn phòng hạnh phúc, chiếc gơng ngày nào soi bóng cặp uyên

-ơng, giải đồng kết nghĩa phu thê… ng tất cả giờ đây đều trong thế lẻ loi, đơn

độc:

Phòng tiêu lạnh ngắt nh đồng Gơng loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi

Cung nữ nhắc đến gơng loan, dải đồng là muốn nhắc đến tình trạng bithiết của bản thân mình Căn phòng giờ đây lạnh ngắt, chỉ có mình nàng cô

đơn, chiếc gơng nh bị xẻ nửa, dải đồng nh bị xé làm đôi Hình ảnh hiện ra

tr-ớc mắt con ngời làm cho nàng thấm thía hơn nỗi cô đơn của bản thân và rùngmình sợ hãi Đến lúc này, nàng quay về với lòng mình:

Chiều ủ dột giấc mai tra sớm

Trang 18

Vẻ bâng khuâng hồn bớm vẩn vơ

Cung nữ vốn thông minh là thế, hoạt bát là thế mà nay cảnh sống cô

đơn đã làm nàng tàn tạ, héo hon Vẻ bâng khuâng hồn bớm vẩn vơ là do khát

vọng hạnh phúc không thực hiện đợc và do nỗi nhớ chồng cứ dày vò tâm trínàng

Cung nữ lại ngắm nhìn những kỷ vật tình yêu và nhận ra rằng chúng đã

bị bỏ rơi từ lâu, kể từ khi nhà vua không ghé thăm nàng Cái liễn trà có inhình con chim phợng đã lên rêu vì lâu không đợc đem dùng, vết xe của nhàvua ngày nào nay cỏ đã mọc đầy vì lâu ngài không ghé thăm :

Ngấn phợng liễn chòm rêu lỗ chỗ Dấu dơng xa bám cỏ quanh co

Cảnh nh khoét sâu vào nỗi cô đơn của con ngời, càng khiến con ngờicảm thấy xót xa cho chính mình Trong nỗi cô đơn, tê tái ấy, hình ảnh gốichăn chiếm lĩnh tâm hồn ngời cung phi:

Lầu tần chiều nhạt vẻ thu Gối loan tuyết đóng chăn cù giá đông

Tuy nhiên, hình ảnh ấy cũng lạnh lẽo và gợi nỗi cô đơn Gối nh đóngthành tuyết, chăn nh lạnh giá thêm vì không có hơi ấm của con ngời Hình

ảnh gối chăn đợc nhắc đến không gợi niềm hạnh phúc nhng lại cho thấy khátvọng hạnh phúc, ái ân của nàng cung nữ ở đây, nàng đã gặp tâm trạng củangời chinh phụ có chồng đi chinh chiến Trong nỗi cô đơn, nhớ thơng chồng,chinh phụ cũng nhắc tới hình ảnh chiếu chăn với biết bao tủi hờn, đợi chờ vàthao thức, đợi chờ và thao thức với biết bao sự khát khao thèm muốn:

Chàng thì đi cõi xa ma gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn

(Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn)

Nh vậy điều sâu kín nhất trong nỗi cô đơn của hai ngời phụ nữ vẫn làkhát vọng đợc ái ân, là khát khao đợc hởng tình yêu tuổi trẻ Hình ảnh chiếuchăn có ý nghĩa sâu xa, đó là khát vọng mang tính chất nhục thể thân xác của

Trang 19

hạnh phúc lứa đôi Trong nỗi cô đơn đến cùng cực đã rất nhiều đêm cung phithao thức ngồi đếm thời gian Nỗi cô đơn của nàng đợc đặc tả trong hai câuthơ:

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng

Đêm năm canh trông ngóng lần lần

Có khi nàng khắc khoải, thao thức hết ngày đến đêm Chỉ tội nghiệpcho cung phi là nàng càng mong chờ bao nhiêu thì lại càng tuyệt vọng, cô

đơn bấy nhiêu:

Ngày sáu khắc tin mong: nhạn vắng

Đêm năm canh tiếng lắng: chuông rền

Đến mức nàng phải thốt lên:

Lạnh lùng thay! Giấc cô miên Mùi hơng tịch mịch, bóng đèn thâm u

Trong tác phẩm còn rất nhiều lần khác cung nữ nhắc đến thời gian đêm

tối với nỗi niềm mong chờ của mình Mỗi lần nhắc đến đêm năm canh là mỗi

lần nàng buông tiếng thở dài Cung phi nhắc đến thời gian nh để diễn tả sựnhàm chán trong cuộc sống Qua đó, nàng cũng muốn diễn tả cuộc đời buồn

tẻ, cô đơn, với sự vô vọng đang diễn ra đằng đẵng theo thời gian và dàn trảitriền miên trong lòng mình Hẳn là con ngời đã có nhiều đêm dài thức trắngvới biết bao sự giằng xé của tâm hồn, sự chồng chéo đan xen những tâm trạngcảm xúc từ nhớ mong, tiếc nuối, tuyệt vọng… ng phản kháng mãnh liệt rồi hyvọng, đợi chờ ở đây khát vọng hạnh phúc ái ân của con ngời đã đợc thể hiệnrất rõ nét Nguyễn Gia Thiều bằng tấm lòng nhân đạo cao cả đã đi vào thểhiện những tâm sự đó của cung nữ và đồng tình ủng hộ nàng

Tâm trạng cô đơn, nỗi khao khát hạnh phúc ái ân của ngời cung phicòn đợc thể hiện rõ trong những câu thơ tiếp theo:

Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ

Mắt buồn trông trên cửa nghiêm lâu Một mình đứng tủi ngồi sầu

Đã than với nguyệt lại sầu với hoa

Ngời cung phi trong Chinh phụ Ngâm khi cô đơn thì thờ ơ với cả

những việc nữ công gia chánh mà nàng thờng yêu thích, thờ ơ với cả việc

điểm trang:

Từ nữ công phụ xảo đều nguôi Biếng cầm kim biếng đa thoi Oanh đôi thẹn dệt bớm đôi ngại thùa

Trang 20

Mặt biếng tô miệng càng biếng nói

(Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn)

Và nàng cung phi trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều cũng trong

tâm trạng tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ rồi đác vọng về phía nghiêm lâu

với biết bao buồn tủi đang chất đầy dần trong lòng nàng Bất hạnh nhất lànàng chỉ có một mình trong phòng khuê giá lạnh, nỗi buồn, cô đơn không biết

ngõ cùng ai nên nàng phải than với nguyệt, phải sầu với hoa.

Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi, cung nữ luôn thể hiện niềm khátkhao hạnh phúc ái ân của mình Khi sự khát khao không đợc thoả mãn, nàngquay ra tuyệt vọng và uất ức, cũng không ngại ngần buông ra những lời đaynghiến đấng quân vơng, tạo hoá … ng - kẻ mà nàng cho là ngời trực tiếp gây nêncuộc đời bất hạnh của mình

2.3 Sự tuyệt vọng, uất ức khi không đợc thoả mãn

Cung nữ đang ở trong một thực tại phũ phàng Đấng quân vơng sẽkhông bao giờ trở lại bên nàng nữa, còn tuổi xuân của nàng sẽ vĩnh viễn bịchôn vùi trong cung cấm Nàng càng trông ngóng bao nhiêu thì càng tuyệtvọng, uất ức bấy nhiêu Đã rất nhiều lần, cung phi buông ra tiếng thở dài chánngán cho số kiếp của mình Khi thì nàng bày tỏ trực tiếp:

Ngán thay cái én ba nghìn Một thân cù mộc biết chen cành nào …

… Ngán trăm chiều bớc lại ngẩn ngơ

đã soi rõ hoàn cảnh tuyệt vọng và tâm trạng thê thiết của cung nàng

Rõ ràng, nàng đã cố thoát ra khỏi vòng cơng toả của chế độ cung tần, nhngkhát vọng đó nàng không thể thực hiện đợc Nỗi tuyệt vọng cứ dâng lên rồinhấn chìm ngời cung phi, để nàng chết dần, chết mòn trong sự tàn tạ héo hon

Đau khổ và bi kịch nhất là khi nàng rơi vào ảo tởng:

Trang 21

Khi trận gió lung lay cành bích Nghe rì rầm tiếng mách ngoài xa Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra

Đột phong hơng hả mà hơ áo tàn

Ai ngờ tiếng dế ran ri rỉ Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng Vắng tang nào thấy văn mòng Hơi thê lơng lạnh ngắt song phi huỳnh

Cung nữ trong khi mong chờ, nghe tiếng dế ran trong đêm mà ngỡ làtiếng xe của nhà vua ngự giá Lúc ấy nàng vui mừng biết bao nhiêu, hạnhphúc biết bao nhiêu Nàng vội chỉnh sửa sắc đẹp để đón tiếp nhà vua Để rồi,khi nhận ra đó không phải là sự thực, nàng tuyệt vọng Hạnh phúc trong giâylát vụt khỏi tầm tay và con ngời hụt hẫng Cung nữ bây giờ là kẻ cô phòng bất

hạnh khiến cho mọi vật xung quanh cũng phải xót thơng Này là tiếng quyên

kêu ra rả, này là tiếng dế ran ri rỉ … ng tất cả nh đang khóc thơng cho con ngời,

nh khoét sâu vào nỗi cô đơn tuyệt vọng của con ngời Từ nỗi tuyệt vọng này,cung nữ không thể kìm nén đợc bản thân Nàng vô cùng uất ức trớc số kiếpcủa mình và liên tiếp buông ra những lời chất vấn Đối tợng mà nàng hớng tới

ở đây gồm rất nhiều Khi thì nàng hỏi chúa xuân:

Khoảnh làm chi bấy chúa xuân ? Chơi cho hoa rữa nhị dần lại thôi

, khi nàng hỏi đấng quân vơng:

Ngán thay cái én ba nghìn Một thân cù mộc biết chen cành nào?

, khi thì nàng hỏi trời:

Tay tạo hoá cớ sao mà độc?

Buộc ngời vào kim ốc mà chơi!

rồi khi nàng lại hỏi cả Nguyệt Lão – ngời làm nên tất cả những mốiduyên tình trên thế gian này:

Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ

Xe thế này có dở dang không ? , có khi nàng lại buông ra câu hỏi cho chính mình:

Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng?

Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn?

Đó thực chất là tiếng lòng thê thiết, là tiếng uất ức, nghẹn ngào củacung nữ đối với số kiếp của mình ở đây nàng đã bày tỏ thái độ của mình đốivới đấng quân vơng- ngời mà nàng từng tôn thờ, ca ngợi – kẻ cầm cơng của

Trang 22

triều đình phong kiến và tạo ra chế độ cung tần đầy bất công ngang trái.Những câu hỏi đa ra không phải để đợc trả lời và thực chất cũng không đợctrả lời Nó đợc cung nữ thốt lên rồi chìm ngay trong oan khuất Tất cả nhữngcâu hỏi ấy chứa đựng sự tuyệt vọng, oán hờn của cung phi Nó chính là nhữnggiọt nớc mắt mà cung phi tự khóc thơng cho số kiếp của mình Nàng tự nhủmình đẹp là thế, tài năng đức hạnh là thế mà nhà vua nỡ ruồng rẫy không th-

ơng tiếc Với nàng nhà vua còn đối xử thế thì với những cung nữ khác, cuộc

đời họ sẽ đi đến đâu? Lúc này, vì phải trải qua những tháng ngày lẻ loi cô

đơn, buồn sầu, cung nữ đã trở nên tàn tạ héo hon Nàng uất hận bao nhiêu thìlại càng xót xa cay đắng cho thân phận bạc bẽo của mình bấy nhiêu Đẹp đếnmức chim sa cá lặn mà cuối cùng phải chịu cảnh sống cô đơn, bị nhà vua thờ

ông ta Trong số hàng mấy nghìn ngời con gái bị bắt vào cung làm cung tần,

có đến vô vàn ngời đấng quân vơng không rõ mặt, rõ tên Bản chất chơi cho

hoa rữa nhị dần lại thôi của bọn vua chúa phong kiến đợc bộc lộ rõ nhất là ở

chỗ chúng đã bỏ rơi những cung tần mỹ nữ trong nỗi cô đơn sầu muộn saumột thời gian gối chăn, ân ái, cùng thề thốt, cùng hạnh phúc đắm say với họ

Số phận của ngời cung phi trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn

Gia Thiều là số phận chung của tất cả những cung tần mỹ nữ khác trong cungvua phủ chúa lúc bấy giờ Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là chỉ duy nhất cónàng dám đứng lên thể hiện công khai thái độ uất hờn của mình Lúc oán hờn

đanh thép:

Đuốc vơng giả chí công là thế Chẳng soi cho đến khoé âm nhai ? Muôn hồng nghìn tía đua tơi Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần

khi nàng lại mỉa mai, uất hận:

Trên chín bệ có hay chăng nhẽ Khách quần thoa mà để lạnh lùng Thù nhau ru hỡi đông phong Góc vờn giãi nắng cầm bông hoa đào

Trang 23

ẩn đằng sau những lời uất hận nghẹn ngào ấy vẫn là cả một khát khaocháy bỏng của con ngời về một hạnh phúc lứa đôi với nhu cầu thoả mãn ái ân

đang chực bùng lên dữ dội Cảm giác nhục dục xâm chiếm tâm hồn cung phicùng với ý thức của nàng về quyền cá nhân con ngời, về quyền sống, quyềnhạnh phúc

Nhớ thơng thế, mong ngóng thế để rồi tuyệt vọng Khi khát vọng và ớcmơ không thể nào thực hiện thì cung nữ thực sự rơi vào hoảng loạn Có nhữnglúc nàng không làm chủ đợc hành động của mình

ở cung nữ, ý thức về cá nhân, nhu cầu và khát vọng thoả mãn hạnhphúc ái ân càng làm cho nàng vùng lên, phản kháng mãnh liệt hơn bất cứ lúcnào Khi canh tàn trăng xế, chiếc bóng cô phòng hay khi một mình trên lầucao thấy những cảnh lứa đôi chim đàn ong lũ, cây cỏ liền cành, chợt nghĩ đếnhoàn cảnh của mình đang lẻ loi đơn độc mà nàng chạnh lòng, ngậm ngùi chobản thân, lại dấy lên một khát vọng mãnh liệt về sự xum vầy lứa đôi hạnhphúc Bây giờ, những khát khao và nhu cầu thoả mãn hạnh phúc ái ân đãkhiến nàng từ buồn tủi, uất ức chuyển sang giận dữ, oán hờn

2.4 Sự phản kháng mãnh liệt trớc những khát khao không đợc thoả mãn.

Trong văn học Việt Nam, hình tợng ngời phụ nữ xuất hiện từ rất lâu vàngày càng phổ biến Từ ngời phụ nữ trong ca dao đến ngời phụ nữ trong thơ

Hồ Xuân Hơng đã diễn ra một sự chuyển biến lớn về khả năng khẳng địnhnhu cầu hạnh phúc cá nhân Trớc Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Gia Thiều đã xây

dựng đợc một nhân vật nữ điển hình về tính cách Ngời cung phi trong Cung

oán ngâm khúc đã dám đứng lên phản kháng lại chế độ cung tần của triều

đình phong kiến một cách dữ dội Nàng khát khao mãnh liệt, mong ngóng, hy

vọng đến vô cùng để rồi phản kháng cũng đến mức “Có lẽ trong văn học quá

khứ của Việt Nam không mấy tác phẩm có thái độ phản ứng một cách trực tiếp, mạnh mẽ đối với kẻ đại diện cao nhất của chính quyền phong kiến nh Cung oán ngâm khúc”[10, 190].

Ngay từ những câu hỏi mà cung phi đa ra để hỏi đấng quân vơng, đểhỏi chúa xuân, Đông Quân, hỏi Nguyệt Lão hay hỏi chính mình cũng đã thểhiện sự phản kháng của nàng Nàng hỏi nhng không cần trả lời mà để mỉamai, đay nghiến, để tố cáo triều đình phong kiến và chế độ cung tần dã man– kẻ cớp đi quyền sống, quyền hạnh phúc ái ân của nàng

Thế nhng cung phi không chỉ dừng lại ở đó Nàng còn muốn vùng lênphá tan tất cả sự bủa vây cơng toả của lễ giáo phong kiến:

Dang tay muốn dứt tơ hồng

Trang 24

Bực mình muốn đạp toang phòng mà ra.

Lời thơ chất chứa sự căm hờn đanh thép, cho thấy sức phản khángmãnh liệt và khát khao hạnh phúc cháy bỏng của cung nữ Nàng nhận ra cuộcsống nơi cấm cung hoàn toàn không nh những gì mình đã tởng Nàng muốnthoát ra khỏi nơi tù ngục này để tự tìm hạnh phúc cho bản thân Quả đúng làtrong lịch sử văn học cùng thời kỳ và trớc đó, cha có ngời phụ nữ nào có sứcphản kháng nào mạnh mẽ nh cung phi

Ngời Chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm trong lúc đau khổ, tuyệt vọng

triền miên cũng chỉ than thở và rồi bật lên những tiếng nức nở, nghẹn ngào:

Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề

(Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn)còn cung nữ lại đi đến tận cùng của sự phản kháng bằng ý nghĩ muốn

đập phá mạnh mẽ, bằng sự nổi loạn của mình

Ngời cung nữ cũng nh ngời chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm đã từng

trải qua những phút giây cô đơn, tuyệt vọng, đã từng nhỏ rất nhiều nớc mắt.Giờ đây nàng không còn có thể khóc đợc nữa Những giọt nớc mắt đã cạn kiệtnhng nỗi đau khổ còn kéo dài và còn đang tăng lên gấp bội Cung nữ còn đaukhổ hơn ngời chinh phụ rất nhiều bởi nàng không có gia đình, không có ngờithân ở bên, hạnh phúc bản thân lại bị chính kẻ đã từng mặn nồng, ân ái vớimình tớc đoạt

Hành động phản kháng dứt tơ hồng, đạp tiêu phòng mà ra quả thực rất

mạnh mẽ nhng lại bị ức chế Có một nỗi sợ cờng quyền đang xâm chiếm tâm

hồn cung phi Nàng chỉ là muốn chứ cha thể làm Bởi vậy nỗi căm hờn, uất ức

càng trở nên gay gắt Đến lúc này, cung phi giận dữ với cả trời xanh, tạo hoá:

Tay tạo hoá cớ sao mà độc Buộc ngời vào kim ốc mà chơi Chống tay ngồi ngẫm sự đời Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm

Vẫn chỉ là muốn mà thôi Cung nữ muốn thét lên tất cả nỗi uất hờn vớitrời xanh, muốn kêu lên một tiếng cho dài để giải toả cho hết những căm hờn

đang gào thét sục sôi trong tâm hồn của nàng Nàng bất chấp tất cả, tháchthức tất cả Hành động, thái độ phản kháng, chống đối của nàng dù là trong ýnghĩ thôi cũng đã có sức mạnh to lớn lắm rồi, cũng cho thấy sự phản khángmãnh liệt của con ngời Đó, nói đúng ra chính là sự nổi loạn

Sức phản kháng mạnh mẽ của cung phi bộc lộ ở chỗ nàng quyết tâmtruy tìm nguyên nhân của cuộc đời bất hạnh của mình Trong đoạn từ câu 325

Trang 25

đến câu 344, cung phi đã liên tục đa ra những lời chất vấn của mình Vẫn làhỏi các đối tợng nh đấng quân vơng, tạo hoá, hay lợng thánh… ng nhng thái độcủa nàng trong những câu hỏi này đã khác Không đơn thuần là mỉa mai đaynghiến, từng lời cung phi đa ra nh là những bản án đanh thép tố cáo bản chấtxấu xa của nhà vua, của tạo hoá … ng những thế lực mà nàng cho là gây nên sốphận cuộc đời mình Nàng bất bình trớc sự ghẻ lạnh của đấng quân vơng:

Trên chín bệ có hay chăng nhẽ Khách quân thoa mà để lạnh lùng.

Nàng còn cả gan mỉa mai, đay nghiến một thế lực thần linh cao nhất làtạo hoá, tố cáo sự độc ác của tạo hoá:

Tay tạo hoá cớ sao mà độc Buộc ngời vào kim ốc mà chơi

Trong lúc xót xa cho mình, nàng cũng bực mình trớc thái độ của

Nguyệt Lão vì ngài nỡ đem tình duyên của nàng ra mà đùa nghịch, mà trêu

ngơi :

Nơi lạnh lẽo nơi xem gần gận Há phai son nhạt phấn du mà Trêu ngơi chi bấy trăng già

Xe con chỉ thắm mà ra tơ mành ?

Nàng lại nhìn đến ngọn đèn và chòm hoa tịnh đế – hai vật chứng kiến

đêm đầu tiên nàng cùng chung chăn gối với đấng quân vơng nay vẫn còn đó

mà oán trách lợng thánh sao khéo đa tình, nỡ bỏ rơi nàng để nàng cô độc

Cuối cùng nàng vẫn đa ra câu hỏi vì đâu? nhằm hiểu rõ hơn nguyên nhân

cuộc đời mình, cũng là để khẳng định giá trị của mình, vạch trần bản chất củanhà vua và chế độ cung tần Hành động của nhà vua là không có nguyênnhân Bất cứ ngời cung phi nào, dù là đẹp nh nàng cũng sẽ phải chịu làm nhânvật trong trò chơi tình yêu của lợng thánh mà thôi:

Ngọn đèn phòng động đêm xa Chòm hoa tịnh đế trơ trơ cha tàn

Mà lợng thánh đa đoan kíp bấy Bỗng ra lòng rún rẩy vì đâu?

Chỉ trong một đoạn thơ ngắn mà có không biết bao nhiêu là câu hỏi.Những câu hỏi liên tiếp, dồn dập vừa chất chứa sự căm hờn, uất hận, vừa chothấy sự phản kháng mãnh liệt của cung phi Nỗi tuyệt vọng đã khiến nàngkhông còn sợ hãi bất cứ thế lực nào nữa mà sẵn sàng chất vấn, mỉa mai, sẵnsàng tố cáo Khát vọng hạnh phúc ái ân của nàng đợc thể hiện rất rõ trong sựphản kháng mãnh liệt ấy

Trang 26

Cuối tác phẩm, khi những khao khát vẫn không thể đạt đợc cung phi lạiquay ra oán trách bõ già - ngời hầu cận nhà vua – sao không đem chuyệncủa mình mà tâu với vua Nh thế may ra nàng lại còn đợc hy vọng Độc giảhiểu rằng cuộc đời cung phi rồi sẽ chìm đắm mãi trong những hy vọng những

mong manh đó mà thôi Tác phẩm Cung oán ngâm khúc quả đã mang những

giá trị nhân văn sâu sắc bởi tác giả của nó đã đi đến tận cùng nỗi đau của ngờiphụ nữ

Đọc Cung oán ngâm khúc chúng ta thấy rõ tất cả những cung bậc tình

cảm của con ngời từ tiếc nuối, hoài niệm, hy vọng, tuyệt vọng rồi phản khánggay gắt và khát khao mạnh mẽ… ng Tất cả diễn ra cho thấy quá trình phát triểntính cách của nhân vật ẩn đằng sau những cung bậc tình cảm đó là một khátvọng lên đến đỉnh điểm về cuộc sống hạnh phúc, là nhu cầu thoả mãn tìnhcảm ái ân vợ chồng Tiếng nói này có giá trị to lớn trong văn chơng Việt Namthời trung đại Nội dung khát vọng ái ân của ngời phụ nữ không phải ở những

tác phẩm trớc đó không nói tới nhng điều quan trọng là phải chờ đến Cung

oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ra đời thì vấn đề này mới đợc đề cập

một cách công khai trực tiếp Ngời ta đánh giá rằng cùng với Chinh Phụ

Ngâm của Đặng Trần Côn, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là

một trong hai tác phẩm mở đầu cho một t tởng mới trong văn học Việt Nam– thái độ công khai thể hiện tất cả những nhu cầu nhục cảm của con ngời

nh là một vấn đề tất yếu mang tính chất nhân văn của đời sống là vì thế

Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến, tiếng nói của bản năng kia dù chỉ

đợc đề cập trong văn học thôi vẫn mang giá trị to lớn, khẳng định những giátrị của con ngời và chống lại quan niệm của giai cấp thống trị đang đè nén,toả chiết hạnh phúc con ngời

Lịch sử đã ghi nhận những câu thơ đầy hàm ý của Lê Thánh Tông:

Vái hậu địa khom khom cật

Tế hoàng thiên ngửa ngửa lòng

Tuy nhiên ở thời kỳ đầu, tiếng nói bản năng con ngời mới chỉ đợc trình

bày một cách tế nhị Nàng Vũ Thị Thiết trong Ngời con gái Nam Xơng của Nguyễn Dữ trong buổi tiễn chồng ra mặt trận đã nói: Lang quân đi chuyến

này, thiếp chẳng mong đem đợc ấn phong hầu trở về quê cũ, chỉ xin đem về hai chữ bình yên, thế là đủ rồi Còn nhân vật ngời chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn cũng chỉ dám bày tỏ hết sức tế nhị:

Thiếp xin chàng chớ bạc đầu Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung

Trang 27

Chỉ đến Cung oán ngâm khúc, tiếng nói đòi đợc quyền hởng hạnh

phúc và thoả mãn nhu cầu ái ân của con ngời mới đợc thể hiện công khai vàmãnh liệt

Ngời cung phi trong Cung oán ngâm khúc không chỉ ngầm thể hiện

khát vọng hạnh phúc, nhu cầu nhục cảm của mình thông qua những nhớmong, tiếc nuối, những uất hận và sự phản kháng mãnh liệt mà nàng còn thểhiện nó một cách trực tiếp bằng chính lời nói của mình Toàn khúc ngâm làmột không khí đầy nhục cảm

Ngay từ những dòng đầu của bài thơ, tác giả đã để cho cung nữ thốt ranhững lời diễn tả khát vọng ái ân của mình hết sức lộ liễu nh :

Khi nhắc đến hạnh phúc của buổi đầu vào cung nàng đã dùng những lời

lẽ táo bạo và những hình ảnh tràn đầy sắc dục, gợi khoái cảm xác thịt vớinhững cảm giác đắm đuối khó tả, những sự rạo rực hoan lạc của ngời trongcuộc:

Cái đêm hôm ấy đêm gì?

Bóng dơng lồng bóng trà my trập trùng …

… Xiêm nghê nọ tả tơi trớc gió

áo ngũ kia lấp ló trong giăng …

Đệm hồng thúy thơm tho mùi xạ Bóng bội hoàn nhấp nhá trăng thanh Mây ma mấy giọt chung tình

Đình Trầm Hơng khoá một cành mẫu đơn …

… Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt Lúc cời sơng cợt tuyết đền phong

Rồi khi bị bỏ rơi, thất vọng, nàng lại càng khao khát ái ân:

Tình rầu rĩ khôn khuây nhĩ mục Chốn phòng không nh dục mây ma

ở đây hạnh phúc ái ân trong quá khứ và những khát khao đó của cungphi trong hiện tại khổ đau đã chi phối ngôn ngữ của nàng mỗi khi nàng hoài

Trang 28

niệm và nhắc tới những kỷ niệm êm đềm, nồng thắm của mình với đấng quânvơng Với những dòng thơ nóng hổi cảm giác nhục thể trên đây, rõ ràngNguyễn Gia Thiều đã tách mình ra khỏi giai tầng xuất thân của mình, hoà vàovới t tởng tiến bộ của nhân dân, bênh vực và bảo vệ cho những số phận bấthạnh và điển hình là số phận của những ngời cung nữ Đó là giá trị nhân vănsâu sắc của tác phẩm.

Nhân vật cung phi trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

hết nhớ về quá khứ huy hoàng lại nhìn vào hiện thực phũ phàng Ngay khi nói

về quan niệm nhân sinh của mình nàng cũng trực tiếp bày tỏ sự khao khát mộtcuộc sống gia đình lứa đôi hạnh phúc và tự thấy thân phận của mình khôngbằng loài điểu thú:

Kìa điểu thú là loài vạn vật Dẫu vô tri cũng bắc đèo bòng

Có âm dơng có vợ chồng Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê

Cảnh này trở thành tấm gợng phản chiến nỗi cô đơn, khắc khoải đợichờ đến héo mòn trong lòng ngời cung phi Nó thổi bùng lên ngọn lửa khátkhao hạnh phúc vốn thờng trực âm ỉ cháy trong lòng nàng Tất cả giao hoà,

âu yếm trong một tình yêu đôi lứa rạo rực và viên mãn, đồng thời khoét sâunỗi đau về tình trạng phòng không chiếc bóng của cung phi, lại càng thôi thúcnàng khao khát ớc mơ về một cuộc sống hạnh phúc, sum vầy Chẳng phảikhao khát đó rất Ngời hay sao

Đối diện với tấn bi kịch của đời mình, nàng hối hận vì đã chọn con ờng sai lầm Chối bỏ thực tại cuộc sống nơi cung cấm, nàng cũng khẳng địnhcuộc sống thanh đạm đầy tình ngời nơi thôn dã:

đ-Miếng cao lơng phong lu nhng lợm Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon Cùng nhau một giấc hoành môn Lau nhau ríu rít cò con cũng tình

Sự đối lập giữa cuộc đời đầy nghiệt ngã nơi cung cấm và ớc mơ về mộtcuộc sống giàu tình ngời nơi thôn dã này của con ngời đã thực sự phủ nhậnthực tại xã hội phong kiến Hạnh phúc êm êm nhỏ nhoi này cung nữ biết mìnhkhông thể nào thực hiện đợc Chế độ cung tần đã cớp đi hạnh phúc của nàng ởchốn thâm cung và cũng quyết cớp đi quyền đợc hởng điều đó của nàng ởngoài xã hội Mặc dù vậy, khát khao, hy vọng này ít ra cũng cho nàng một

điểm tựa mong manh, một mục đích để tồn tại Điều đó trên thực tế còn hơn

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, 150 từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia HN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia HN
2. Phan Ngọc, Lê Ngọc Cầu, Nội dung xã hội mỹ học tuồng đô – , NXB Khoa học và xã hội, H,1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung xã hội mỹ học tuồng đô
Nhà XB: NXB Khoa học và xã hội
4. Ngô Văn Đức, Ngâm khúc Qúa trình hình thành phát triển và đặc tr – ng thể loại, NXB Thanh niên, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngâm khúc Qúa trình hình thành phát triển và đặc tr"– "ng thể loại
Nhà XB: NXB Thanh niên
5. Lơng Văn Đang - Nguyễn Thạch Giang (giới thiệu và chú giải), Những khúc ngâm chọn lọc, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khúc ngâm chọn lọc
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
6. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXBĐH Quốc Gia, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXBĐH Quốc Gia
7. Dơng Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, NXB Hội nhà văn, 2002 (bản in lần đầu tiên năm 1943) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
8. Dơng Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, NXB Hội nhà văn, 2001 (bản in lần đầu tiên năm 1943) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
9. PTS. Hồ Sĩ Hiệp – Lâm Quế Phong (chủ biên), Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy ích, NXB Văn nghệ, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy ích
Nhà XB: NXB Văn nghệ
10. Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII hết thế kỷ XIX – , NXBGD, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII hết thế kỷ XIX
Nhà XB: NXBGD
11. Nguyễn Lộc, Hoàng Hữu Yên, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX (2 tập), NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
12. Phạm Văn Luận – Lê Hoài Nam, Lịch sử văn học Việt Nam (tập 3) – văn học viết giai đoạn giữa thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, NXBGD, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: NXBGD
13. Phan Ngọc, Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, NXB KH&XH, H, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Nhà XB: NXB KH&XH
14. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXBGD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: NXBGD
15. Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, NXBGD, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật thơ
Nhà XB: NXBGD
16. Đỗ Lai Thuý, Hồ Xuân Hơng, hoài niệm phồn thực, những mơ mộng nghệ thuËt, NXB VHTT, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng, hoài niệm phồn thực, những mơ mộng nghệ thuËt
Nhà XB: NXB VHTT
17. Hoàng Hữu Yên, Giảng văn văn học Việt Nam, NXBGD, 1954 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học Việt Nam
Nhà XB: NXBGD

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w