Trần Văn Minh Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Hồng Phơng Vinh, 2006 Lời nói đầu Trong khoá luận này, với cố gắng của ngời bớc đầu nghiên cứu khoahọc, chúng tôi trình bày những kết quả khả
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh Khoa Ngữ văn
-Khảo sát thành ngữ tiếng việt chứa từ
chỉ bộ phận cơ thể ngời
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Khoá luận tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: TS Trần Văn Minh
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Hồng Phơng
Vinh, 2006
Lời nói đầu
Trong khoá luận này, với cố gắng của ngời bớc đầu nghiên cứu khoahọc, chúng tôi trình bày những kết quả khảo sát nhóm thành ngữ chứa từchỉ bộ phận cơ thể, nhằm chứng minh sự phong phú, giàu đẹp của tiếngViệt nói chung, của vốn thành ngữ tiếng Việt nói riêng
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Văn Minh, thầy giáo
h-ớng dẫn, đã tận tình góp ý, sửa chữa, giúp đỡ trong suốt quá trình chúng tôithực hiện đề tài khoá luận Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo,Cô giáo trong khoa, các bạn bè đồng môn đã góp ý, động viên, khích lệchúng tôi hoàn thành khoá luận này
Trang 2Vinh, ngµy 20 th¸ng 4 n¨m 2006.
§Æng ThÞ Hång Ph¬ng
Sinh viªn líp 43B1 Khoa ng÷ V¨n Trêng §¹i Häc Vinh
Trang 3Mở đầu
I Lí do chọn đề tài
1 Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong từ vựng của một ngônngữ Tiếng việt có một kho thành ngữ phong phú và đa dạng Cùng với sựphát triển của ngôn ngữ dân tộc, thành ngữ dần hình thành và đợc nhân dân
sử dụng nh một công cụ giao tiếp chung Do đợc hình thành và phát triểnlâu dài trong lịch sử dân tộc, thành ngữ có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng.Thành ngữ cũng lu giữ đợc nhiều giá trị văn hoá truyền thống Thành ngữphản ánh nhiều mặt tri thức về thế giới tự nhiên và về đời sống xã hội củacon ngời qua các thời đại đã sản sinh ra nó Thành ngữ góp phần làm giàu,làm đẹp cho tiếng Việt trên nhiều phơng diện Lâu nay thành ngữ trở thành
đối tợng tìm hiểu và nghiên cứu của nhiều học giả cũng nh của một sốngành khoa học Đã có nhiều sách vở, công trình nghiên cứu về thành ngữ.Nói nh thế không có nghĩa là việc tìm hiểu và nghiên cứu thành ngữ đãhoàn chỉnh tuyệt đối, không còn việc gì có thể tiếp tục nữa Nghiên cứuthành ngữ vẫn đang là công việc đợc nhiều ngời quan tâm Bởi vì bản thânthành ngữ chứa trong mình nó nhiều điều bí ẩn cần chúng ta tiếp tục đàosâu, phát hiện và khám phá Nh vậy, nghiên cứu về thành ngữ là rất cầnthiết
2 Khảo sát nhóm thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngời là mộtviệc rất bổ ích Bởi vì các thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể có số lợngkhá lớn, đó là một mảng phong phú trong thành ngữ tiếng Việt Việc khảosát nhóm thành ngữ này sẽ giúp ta hiểu thêm về thành ngữ tiếng Việt, về vaitrò của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể trong thành ngữ, từ đó để hiểu thêm vềvốn từ cơ bản của tiếng Việt
3 Trong vốn từ cơ bản của tiếng Việt, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể lànhóm từ ra đời sớm nhất Việc khảo sát các thành ngữ chứa từ chỉ bộ phậncơ thể góp phần khẳng định sự xuất hiện từ xa xa của các thành ngữ tiếngViệt
4 Trong hoạt động ngôn ngữ ( nói và viết) của ngời Việt, thành ngữ
có một vai trò rất quan trọng Thành ngữ là một nội dung giảng dạy trongnhà trờng với t cách là bộ phận của từ vựng tiếng Việt Với đề tài này, trongkhả năng có hạn của mình, chúng tôi mong góp phần nhỏ bé phục vụ choviệc giảng dạy và học tập thành ngữ nói riêng, bộ môn tiếng Việt nói chung
ở nhà trờng
Trang 4II Mục đích, nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu.
1 Mục đích:
Qua khảo sát và miêu tả thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngờitrong thành ngữ , khoá luận hớng tới phân tích cấu tạo và ngữ nghĩa củanhững thành ngữ đó Trên cơ sở đó góp phần giúp ngời đọc hiểu sâu hơn vềthành ngữ tiếng Việt và phần nào hiểu hơn về vốn từ cơ bản của tiếng Việt
Hiện nay, việc dạy học văn đang theo hớng tích hợp giữa Văn Tiếng Việt-Tập làm văn Dạy văn là để dạy tiếng và dạy tiếng là để hiểuvăn Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài góp phần dạy học tốt hơn thành ngữtrong chơng trình ngữ văn
hoc-2 Nhiệm vụ
a) Giới thuyết khái quát những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài:
Định nghĩa về thành ngữ, các đặc trng của thành ngữ, phân biệt thành ngữvới các đơn vị ngôn ngữ khác: tục ngữ, từ ghép; nhóm từ chỉ bộ phận cơ thểtrong tiếng Việt
b)Thống kê và phân loại nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơthể trong thành ngữ tiếng Việt, phân tích vai trò của chúng trong cấu tạocủa nhóm thành ngữ đối tợng
c) Phân tích ngữ nghĩa của thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể từ
đó rút ra các nhận xét, kết luận về giá trị của nhóm thành ngữ này tronghoạt động ngôn ngữ, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân
3 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng khảo sát của đề tài này là các thành ngữ chứa từ chỉ bộ phậncơ thể trong thành ngữ tiếng Việt, đợc thống kê ở: “Từ điển giải thích thànhngữ tiếng Việt” Nguyễn Nh ý (chủ biên) NXBGD,1995 Số lợng 3247 đơn
vị thành ngữ
III Lợc sử vấn đề liên quan đến đề tài
Nh trên đã nói, nghiên cứu thành ngữ đợc khá nhiều ngời quan tâm,
đã có một số sách, tài liệu viết về thành ngữ Bớc đầu khảo sát chúng tôithấy ở các tài liệu viết về thành ngữ thờng đi theo một hớng nhất định, cóthể kể ra ba hớng chính sau:
1 Hớng thứ nhất.
Nghiên cứu toàn diện thành ngữ nh một đơn vị từ vựng của tiếngViệt Đó là các giáo trình viết về từ vựng tiếng Việt của Đái Xuân Ninh,Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành
Trang 51.1 Trong cuốn sách “Hoạt động của từ tiếng Việt”,
(NXBKHXH ,1978) Đái Xuân Ninh đã chỉ ra đặc điểm của thành ngữ trênhai phơng diện: Nội dung và hình thức
Đặc điểm về nội dung: ý nghĩa của thành ngữ thờng không thể giảithích đợc trên cơ sở những yếu tố tạo thành mà nó thờng gắn liền với điềukiện lịch sử xã hội, của một lớp ngời nhất định
Đặc điểm về hình thức: Theo quan hệ cú pháp có ba loại: Câu bìnhthờng, câu đặc biệt, một đoạn của lời nói Trong thành ngữ thờng sử dụng
so sánh, đối xứng, có sự hoán đổi và thay đổi trật tự giữa các thành tố
1.2 Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp
(NXBGD,1998) Ông đã dựa vào cơ chế cấu tạo để phân biệt hai loại thànhngữ: Thành ngữ hợp kết (đợc hình thành do sự kết hợp của các thành tốtrong thành ngữ) và thành ngữ hoà kết (đợc hình thành trên cơ sở của một
ẩn dụ toàn bộ) Giống nh Đái Xuân Ninh, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũngchỉ ra các đặc trng của thành ngữ trên hai phơng diện: Nội dung và cấu tạongữ pháp
a) Đặc điểm về nội dung:
Thành ngữ là tên gọi gợi cảm về một hiện tợng nào đó, có tính hoànchỉnh về nghĩa, biểu thị một khái niệm tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói
b) Đặc điểm về cấu tạo cú pháp:
Đa số thành ngữ có quan hệ tờng thuật và có cấu trúc đẳng lập Loạithành ngữ so sánh có quan hệ chính phụ
1.3 Giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” Đỗ Hữu Châu
NXBGD,1999)
Trong giáo trình này qua so sánh đối chiếu thành ngữ với từ phức vàcụm từ tự do, Đỗ Hữu Châu đã đa ra định nghĩa về thành ngữ một cách gián
tiếp qua ngữ cố định: “Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý
nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhng đã cố định hoá, cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội nh từ”.
[Tr71]
Đỗ Hữu Châu còn nêu lên các giá trị ngữ nghĩa của thành ngữ và các
đặc điểm của thành ngữ về mặt ngữ nghĩa: Tính biểu trng, tính dân tộc, tínhhình tợng và tính cụ thể, tính biểu thái
2 Hớng thứ hai
Trang 6Nghiên cứu từng mặt hoặc từng loại thành ngữ ở hớng này, cha có
nhiều tài liệu, chủ yếu là một số bài báo in trên các Tạp chí Dới đây là cáctài liệu chính:
- “Thành ngữ có từ số trong tiếng Việt” (Bùi Duy Khánh,1980,
BCKH hội nghị khoa học cán bộ trẻ Viện Ngôn ngữ học
- “Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt” (Hoàng Văn
Hành, Tạp chí Ngôn ngữ 1976, số một)
- “Về tính biểu trng của thành ngữ trong tiếng Việt” (Bùi khắc Việt,
Tạp chí Ngôn ngữ, 1978, số 1)
- “Thành ngữ đối trong tiếng Việt” Bùi khắc Việt (trong sách: Giữ gìn
sự trong sáng của Tiếng Việt về mặt từ ngữ, Tập 2 NXBKHXH,1981)
- “Tính biểu trng của thành ngữ Tiếng Việt” ( Phạm Xuân Thành, Tạp
- “Tìm hiểu về việc sử dụng thành ngữ dân gian trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du” Nguyễn Thị Lý Ngữ học trẻ 1999.
Ngoài ba hớng chính trên, hiện nay việc nghiên cứu thành ngữ đang
mở ra hớng mới, đó là khảo sát những thành ngữ cụ thể Chẳng hạn các luậnvăn, khoá luận tốt nghiệp… với các đề tài nh với các đề tài nh: Thành ngữ đồng nghĩa tráinghĩa trong tiếng Việt, tìm hiểu kết cấu của thành ngữ có yếu tố “ăn”, khảosát thành ngữ có chứa từ chỉ hoạt động nói năng, khảo sát thành ngữ cóchứa từ chỉ động vật, thực vật… với các đề tài nh và khảo sát thành ngữ chứa từ chỉ bộ phậncơ thể ngời Tất cả những tài liệu và công trình nghiên cứu trên sẽ là tài liệutham khảo quan trọng để chúng tôi hoàn thành khoá luận này
IV Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phơngpháp sau đây:
1 Phơng pháp thống kê phân loại đợc dùng khi khảo sát định lợng,làm ngữ liệu, làm th mục tham khảo
Trang 72 Phơng pháp phân tích miêu tả đợc dùng khi tiến hành phân biệtthành ngữ với tục ngữ, từ ghép, khi phân tích ngữ nghĩa của thành ngữ cóchứa từ chỉ bộ phận cơ thể.
3 Phơng pháp so sánh đối chiếu đợc dùng khi so sánh số lợng củanhóm thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể với các nhóm thành ngữkhác, trong nội bộ của nhóm thành ngữ
4 Phơng pháp quy nạp đợc dùng ở phần kết luận của khóa luận
V Đóng góp của đề tài
Khoá luận này đã cung cấp danh sách 547 thành ngữ tiếng Việt chứa
từ chỉ bộ phận cơ thể, với sự phân loại chúng đồng thời chỉ ra các đặc điểm
về cấu tạo, về giá trị ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ này cũng nh của các từchỉ bộ phận cơ thể trong cấu tạo thành ngữ
VI Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, nội dung chínhcủa khoá luận đợc triển khai qua hai chơng
Chơng I: Những giới thuyết xung quanh đề tài
Chơng II:Khảo sát nhóm thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể
Trang 8Chơng I Những giới thuyết xung quanh đề tài
Năm 1976, tác giả Nguyễn Văn Tu (Từ và vốn từ tiếng Việt hiện
đại), định nghĩa về thành ngữ: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ
trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa kết hợp thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải là nghĩa của từng thành tố tạo ra Có thể có tính hình tợng Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [Tr
185]
Năm 1978, Đái Xuân Ninh (Hoạt động của từ tiếngViệt,
NXBKHXH, 1978) “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo
thành đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó, và kết hợp lại thành một khối tơng đối vững chắc và hoàn chỉnh” [Tr 212]
ở đây Đái Xuân Ninh đã rút gọn lại định nghĩa của Nguyễn Văn Tu.Nội hàm của hai định nghĩa trên không khác nhau bao nhiêu
Năm 1996, Đỗ Hữu Châu (Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt) đã đề cập
đến khái niệm thành ngữ trong khái niệm ngữ cố định “Ngữ cố định là các
cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhng đã cố định hoá cho nên cũng có tính chất chặt chẽ sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội nh từ” [Tr 71]
Năm 1997, Nguyễn Nh ý (chủ biên) trong cuốn “Từ điển giải thích
thuật ngữ ngôn ngữ học” cho rằng “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định
có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu tạo thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động nh một từ riêng biệt ở trong câu”.[ Tr
Trang 9Năm 1999, Nguyễn Văn Hằng (Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng
Việt hiện đại) nêu định nghĩa về thành ngữ nh sau : “Thành ngữ là một loại cụm từ đặc biệt có cấu trúc bền chặt (cố định), có vần điệu và thành phần ngữ âm đặc biệt; nghĩa của thành ngữ không chỉ suy ra từ tổng số nghĩa của các yêú tố thành ngữ nó : Thành ngữ có nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh, khái quát, thờng có kèm theo giá trị biểu cảm.Thành ngữ thờng dùng để
định danh những hiện tợng của hiện thực và thờng hoạt động trong câu với
t cách là một bộ phận cấu thành của nó”.
Nhìn chung tất cả các định nghĩa trên, đều đã cố gắng đa ra cách hiểucủa mình về thành ngữ Tuy nhiên, khó có định nghĩa nào có thể bao quát
đầy đủ, khái quát các đặc trng của thành ngữ
Định nghĩa của tác giả Nguyễn Văn Hằng có thể xem là mới mẻ và
đầy đủ hơn cả Ông đã tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu của tác giả đitrớc, đồng thời khắc phục hạn chế của các định nghĩa trớc Ông đã xác định
vị trí của thành ngữ giữa những đơn vị ngôn ngữ khác, bám sát đặc điểmloại hình của tiếng Việt và phân biệt thành ngữ với từ cụm từ tự do, tụcngữ… với các đề tài nhTừ đó, tác giả nêu lên các đặc điểm cơ bản của thành ngữ
Chúng tôi chấp nhận định nghĩa này làm công cụ lí thuyết cho côngviệc khảo sát nhóm thành ngữ đối tợng của khóa luận
2 Vị trí của thành ngữ trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt.
Hầu hết các công trình nghiên cứu về thành ngữ đều xem thành ngữ
là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt Theo Nguyễn Thiện Giáp “Thành ngữ là
một đơn vị trung gian giữa bậc từ vựng và bậc cú pháp ( …) một mặt chúng ) một mặt chúng
đợc cấu tạo theo những mô hình cú pháp nhng mặt khác lại hoạt động nh một đơn vị từ vựng” Xét tính hoàn chỉnh về nghĩa và chức năng định danh,
thành ngữ đợc xem là một đơn vị từ vựng cùng cấp độ với từ ghép, từ láy… với các đề tài nhTuy nhiên, trong các tổ hợp từ khác không cùng cấp độ từ vựng có cấu tạo ítnhiều mang tính tái hiện nh một đơn vị có sẵn: tục ngữ, quán ngữ Xét vềmặt cấu tạo, nó đối lập với các đơn vị mà Nguyễn Thiện Giáp gọi là “từ
điển hình” Tuy nhhiên, nó lại có nhiều điểm gần gũi với các đơn vị khác
mà ông gọi là “các cụm từ có tính hoàn chỉnh về nghĩa”- những đơn vị
trung gian giữa bậc từ vựng và bậc cú pháp, bao gồm: Ngữ định danh, ngữláy âm Giữa thành ngữ với những đơn vị này có nhiều điểm gần gũi nhaunhng không hoàn toàn tơng đồng ở khoá luận này, chúng tôi phân biệt
Trang 10thành ngữ với các đơn vị cùng cấp độ từ vựng với nó là từ ghép và khôngcùng cấp độ từ vựng với nó là tục ngữ.
Đỗ Hữu Châu (trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”) đã viết: “Đối
chiếu với từ phức với cụm từ tự do, có thể nói thành ngữ là các cụm từ, ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cum từ nh-
ng đã đợc cố định hoá cho nên cũng có tính chất chặt chẽ sẵn có, bắt buộc,
có tính xã hội nh từ”.[Tr 71]
Ví dụ: Thành ngữ : Chờ hết nớc hết cái
ý nghĩa của nó không giống nghĩa của các cặp từ ghép biệt lập hay
phân nghĩa Động từ “chờ” vẫn giữ nguyên tính chất nghĩa của nó Ta không giải thích đợc “chờ hết nớc hết cái” là thế nào, song ta vẫn hiểu đợc
cụm từ này nói lên sự chờ đợi kéo dài, vợt mức nhẫn nại của ngời phải chờ,khiến ngời đó sốt ruột bực dọc Để diễn tả nội dung trên ta có thể dùng mộtcụm từ tự do khác: Chờ quá lâu, quá sức chịu đựng làm sốt ruột, bực dọc… với các đề tài nhNhng ý nghĩa của nó không hay không hấp dẫn bằng ý nghĩa của thành ngữ
“chờ hết nớc hết cái”
Thành ngữ là một loại phơng tiện mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng có,nhằm khắc phục một phần nào tính có hạn của các từ, tính không hàm súc,cô đọng của các phơng tiện lời nói trong sự biểu vật và biểu thái Cho nênhầu nh tất cả các thành ngữ đều có cấu trúc ngữ nghĩa tơng đơng với ngữnghĩa của một cụm từ tự do Nh vậy, ta có thể xem thành ngữ là đơn vịtrung gian giữa bậc từ vựng và bậc cú pháp
Trang 11thành thành ngữ Cho nên, không phải bất cứ cụm từ cố định nào cũng cóthể trở thành thành ngữ.
- Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Đây là những cụm từ cố định, ngữ cố định nhng không phải là thành ngữ
Có thể xem tính chất cố định là tính chất bao trùm, tính chất cơ bảncủa thành ngữ tiếng Việt Tuy nhiên mức cố định ở đây chỉ mang tính chấttơng đối ở một số thành ngữ, khi sử dụng ngời Việt đã làm thay đổi hìnhthái kết cấu đi một chút Dĩ nhiên là ý nghĩa định danh, vai trò ngữ phápvẫn tơng tự
Ví dụ 1: - Mèo già hoá cáo
Kết cấu hình thái và ý nghĩa của thành ngữ là cố định Ta biết rằngkhông có loài vật nào cùng họ với mèo, giống mèo lại đợc con ngời thuầndỡng, có đặc tính già hoá cáo nh mèo Mèo già bỏ nhà đi hoang, khi trở vềtính hoang dã, giống với loài cáo.(Cáo hay bắt gà) Trên cơ sở của hiện thựcnày mà ngời ta sử dụng thành ngữ này theo nghĩa bóng, để chỉ kẻ sống lâungày đã biến chất, trở nên xảo quyệt, quỷ quái Đây là thành ngữ có tính cố
định cao, khi sử dụng hầu nh không có sự biến đổi hình thái
Ví dụ 2: - Châu chấu đá xe
Thành ngữ này cũng mang tính cố định, song khi sử dụng ngời ta vẫnthay đổi kết cấu đi một ít Thành ngữ này có khá nhiều biến thái
Ca dao cổ nói:
Nực cời châu chấu đá xe Tởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.
Nhà thơ Nguyễn Công Trứ viết:
Dẫu có thiêng liêng đành phận gái
Lẽ nào châu chấu đấu ông voi.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng có câu:
Châu chấu làm sao dám đá voi
Trang 12Xem ra nghĩ cũng nực cời
Hồ Chủ Tịch viết:
“Lực lợng ta và địch so le về nhiều nh thế, cho nên lúc đó có ngời
cho rằng : Cuộc kháng chiến của ta là châu chấu đấu voi”.
Các ví dụ trên chứng tỏ một điều rằng thành ngữ mang tính cố địnhnhng ở mức tơng đối Kết cấu hình thái của nó vẫn có thể thay đổi Đây làmặt đối lập có mức độ với tính cố định của thành ngữ
Thành ngữ tiếng Việt phổ biến thuộc loại cụm từ cố định có giá trị
t-ơng đt-ơng một từ tham gia cấu tạo câu Ngoài dạng phổ biến đó, nó còn cókết cấu của cụm từ chủ vị cố định ( ngữ cú cố định)
Ví dụ 3:
(1) Tôi chờ mãi mà không thấy anh đến.
(2) Tôi chờ anh hết n ớc hết cái mà không thấy anh đến.
Từ “mãi” ở câu (1) đã đợc thay thế bởi thành ngữ “chờ hết nớc hết
cái” ở câu (2).
(3) Nếu không hợp lực với nhau mà làm ăn thì cũng khó thoát đợc
cái đói cái rét.
(4) Nếu không chung l ng đấu cật với nhau mà làm ăn thì cũng khó thoát đợc cái đói cái rét.
Từ “hợp lực” ở câu (3) đã đợc thay thế bởi thành ngữ “chung lng đấu
Những thành ngữ này có hình thức cấu tạo là câu
Xét về phơng diện số lợng âm tiết, thành ngữ tiếng Việt đợc cấu tạorất đa dạng Có thành ngữ đợc cấu tạo từ ba âm tiết, bốn âm tiêt, năm ,sáu,thậm chí có bảy đến tám âm tiết
Thành ngữ có cấu tạo ba âm tiết thờng có kết cấu ba từ rời nhau
- ác nh hùm
- Bụng nát dạ
Trang 13- Bở hơi tai.
Trong kiểu này, có một số thành ngữ tuy có hình thức là tổ hợp của
ba tiếng một, song về mặt kết cấu đó là sự kết hợp của một từ đơn và một từghép
- Đầu mày cuối mắt
- Nóng ruột nóng gan
- Chân yếu tay mềm
Các thành ngữ bôn âm tiết có thể đợc cấu tạo từ ba kiểu sau:
Thứ nhất là kiểu kết cấu từ bốn từ đơn
Trang 14Kiểu thành ngữ này mang nặng nghĩa thực, kém phần bóng bẩy hơncác kiểu kia Loại thành ngữ có kết cấu năm hoặc sáu âm tiết cũng gần t-
ơng tự loại bốn âm tiết
- Treo đầu dê bán thịt chó
- Trẻ không tha già không thơng
- Trên không chằng dới không rễ.
Một số ít các thành ngữ có bảy, tám thậm chí hơn mời âm tiết
- Vênh váo nh bố vợ phải đấm
- Vén tay áo xô bán nhà táng giấy
- Voi đủ, chó đủ, lợn sề cũng hộc
- Ăn nh rồng cuốn, nói nh rồng leo, làm nh mèo mửa
Về mặt hoà âm, một số thành ngữ có kết cấu vần vè, và đa số là vầnliền
- Trong nhà cha tỏ ngoài ngõ đã tờng
- Ăn nh rồng cuốn, nói nh rồng leo, làm nh mèo mửa
Kiểu kết cấu có vần này làm cho thành ngữ có tính hoà âm nên dễnhớ, dễ thuộc và dễ lu truyền; tính cố định của thành ngữ nhờ đó thêm bềnvững Kết cấu hình thức nh trên là một đặc điểm quan trọng của thành ngữ,
là một tiêu chí không thể thiếu đợc để nhận diện thành ngữ
3.2 Nội dung ý nghĩa
Có thể nói nội dung ý nghĩa là phơng diện phức tạp của thành ngữ.Một bộ phận thành ngữ có tính đa nghĩa, trong đó nghĩa bóng có tầm quantrọng hơn cả Đây là nghĩa khái quát, tợng trng cho toàn bộ thành ngữ, tuyrằng đó không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cộng lại
- Đi guốc trong bụng
- Ruột để ngoài da
- Nh diều gặp gió.
Nghĩa bóng là đặc điểm quan trọng của thành ngữ Tuy nhiên, trênthực tế, tiếng Việt có một khối lợng khá nhiều các thành ngữ vẫn sử dụngtheo nghĩa thực, nghĩa đen
Trang 15- Nhóm thành ngữ chứa từ chỉhoạt động nói năng.
- Nhóm thành ngữ đồng nghĩa trái nghĩa trong tiếng việt
Đây là một hớng nghiên cứu mới về thành ngữ, nhằm khảo sát cáckiểu thành ngữ có chất liệu cấu tạo là một nhóm từ nào đó Khi nói về giátrị nội dung ngữ nghĩa của thành ngữ, chúng ta thấy rằng tất cả các thànhngữ đều có nghĩa và vai trò sử dụng tơng đơng từ Nghĩa là một thành ngữ
có thể truyền đạt một từ
Ví dụ:
- Múa rìu qua mắt thợ
Có thể diễn đạt bằng cụm từ: khoe tài tầm thờng của mình trớc ngờitái giỏi thực sự, làm sự việc trở nên lố lăng, buồn cời
Đỗ Hữu Châu trong giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã chỉ
ra bốn giá trị về nội dung ngữ nghĩa của thành ngữ nh sau:
a) Tính biểu trng
Dựa vào những bức tranh về hiện thực cụ thể, bằng nhiều phơng thứcbiểu hiện nh: ẩn dụ, hoán dụ, khoa trơng để nói về cái phổ biến, khái quát
trừu tợng “Thành ngữ (ngữ cố định) lấy những vật thực, việc thực để biểu
trng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế phổ biến khái quát.
Đặc biệt là ở các tình thế có tính biểu trng cao”.Ví dụ nh thành ngữ “Chuột
Trang 16chạy cùng sào” Đây là tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào bớc đờng
cùng, không lối thoát mặc dù đã xoay xở hết cách Nếu dùng một cụm từ tự
do thay thế cho thành ngữ này thì sẽ không nói lên đợc tình thế bi đát đó,ngợc lại còn mắc phải nhợc điểm là dài dòng, rờm rà, nhạt nhẽo
“Biểu trng là cơ chế tất yếu mà thành ngữ sử dụng để ghi nhận, diễn
đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn”
b) Tính dân tộc
Tính dân tộc là đặc điểm chung của một ngôn ngữ cụ thể, song nóthể hiện đậm nét hơn cả ở thành ngữ Biểu hiện trớc hết là ở nội dung mà nóphản ánh Đó hầu nh là tất cả các mặt của đời sống Đó có thể là một tâmtrạng, một hiện tợng, một việc, một vật cụ thể Đó cũng có thể là một kinhnghiệm sống, một thái độ đánh giá Tất cả đều mang đậm màu sắc ViệtNam Thứ hai là ở các vật thực, việc thực mà thành ngữ đã dùng làm biểutrng cho nội dung của chúng
- Ăn nh rồng cuốn, nói nh rồng leo, làm nh mèo mửa
- Cắn nhau nh chó với mèo
- Chuột chạy cùng sào
- Mật ít ruồi nhiều
- Vắng nh chùa Bà Đanh
- Nh rắn mất đầu.
Mọi sự kiện của đời sống, đợc ngời xa quan sát một cách tài tình, liên
hệ một cách thấu đáo, chính xác và tinh tế… với các đề tài nhvới những hiện tợng nhân sinh.Những chất liệu này của thành ngữ Việt Nam đã khiến cho chúng không thểnhầm lẫn đợc với bất cứ thành ngữ nào của các dân tộc khác
c)Tính hình tợng và tính cụ thể
Tính hình tợng là kết quả của tính biểu trng Tài liệu mà các thànhngữ sử dụng là sự vật, sự kiện cảm giác quan sát đợc, cho nên nhắc đếnthành ngữ, trớc hết là tái hiện lại chính hình ảnh về các sự vật hiện tợng đó.Nhờ tính hình tợng, các thành ngữ thờng gây ra một ấn tợng mạnh mẽ, độtngột, tác động của chúng đậm đà và sâu sắc, càng ngẫm càng thú vị ở giátrị này, thành ngữ phần nào mang tính chất sáng tác của văn học, đó lànhững phác thảo văn học đã cố định hoá thành phơng tiện giao tiếp
Về tính cụ thể: ở trên ta đã khẳng định thành ngữ mang tính biểu
tr-ng, phổ biến, khái quát Tại sao bây giờ lại khẳng định thành ngữ có tính cụthể Phải chăng có sự mâu thuẫn giữa hai giá trị đó Thực ra chúng không
Trang 17mâu thuẫn nhau mà có mối quan hệ chi phối lẫn nhau Tính cụ thể ở đây thểhiện ở tính bị quy định về phạm vi sử dụng Thành ngữ có ý nghĩa kháiquát, song không phải muốn sử dụng lúc nào cũng đợc,cho bất cứ sự việcnào cũng đợc.
Ví dụ: - Chuột chạy cùng sào
Thành ngữ này có thể sử dụng cho nhiều tình thế cá nhân và xã hộikhác nhau: Quân sự, chính trị, kinh tế… với các đề tài nh ng vì nó nhắc đến chuột, là mộtnhcon vật bị khinh bỉ, coi thờng, cho nên thành ngữ này không phải sử dụngcho ngời nào cũng đợc, nó chỉ dùng cho những ngời bị coi thờng
Thứ hai, mỗi thành ngữ thờng chỉ nêu một khía cạnh nào đó của tínhchất, đặc điểm… với các đề tài nh ợc nói tới mà thôi Tính cụ thể của nó thể hiện ở tính bịđquy định về sắc thái ngữ nghĩa
Ví dụ: - Lúng túng nh gà mắc tóc
Nói đến tình trạng lúng túng do rơi vào nhiều sự việc dồn dập màkhông tìm đợc cách giải quyết
- Lúng túng nh thợ vụng mất kim
Sự lúng túng không phải vì rơi vào nhiều sự việc mà là do cha có kinhnghiệm, mất tự tin
- Lúng túng nh chó ăn vụng bột
Lại là lúng túng của ngời phạm lỗi, muốn che đấu lỗi lầm của mìnhnhng vật chứng đã quá rõ ràng Tính cụ thể làm cho giá trị ngữ nghĩa củathành ngữ bị hẹp lại Muốn hiểu đợc nghĩa của thành ngữ phải hiểu thậtthấu đáo những hiện thực đợc đa vào thành ngữ
d) Tính biểu thái
Các thành ngữ thờng kèm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá qua đó
có thể nói lên lòng kính trọng, sự ái ngại, hoặc sự xót thơng, sự không tánthành, lònh khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định đối với ngời hay vật, việc
Trang 18Bốn đặc điểm trên tạo nên giá trị của thành ngữ, một trong những yếu
tố cơ bản làm cho thành ngữ cô đọng và hàm súc
3.3 Nguồn gốc của thành ngữ.
Thành ngữ tiếng Việt có hai loại nhỏ là thành ngữ thuần Việt và
thành ngữ Hán Việt, trong đó thành ngữ thuần Việt chiếm số lợng lớn hơn
và là bộ phận quan trọng nhất trong thành ngữ tiếng Việt
a)Thành ngữ thuần Việt
Thành ngữ thuần Việt đợc hình thành chủ yếu bằng ba con đờng sau:
- Hình thành trong đời sống lao động sản xuất và đấu tranh của nhân dân.
- Khai thiên lập địa (Khai thiên tịch địa).
Có khi, sự Việt hoá này dẫn tới sự thay đổi nghĩa thành ngữ gốc
Tiếng Hán: Khẩu tâm nh nhất.
Tiếng Việt: Khẩu tâm bất nhất.
- Loại do ngời Việt tạo lập bằng chữ Hán
Loại thành ngữ này có số lợng ít Nghĩa của chúng thờng dễ hiểu hơnloại thành ngữ gốc Hán
Trang 19Trên đây là các đặc trng cơ bản nhất của thành ngữ tiếng Việt xéttrên ba mặt chủ yếu: Kết cấu hình thức, nội dung ngữ nghĩa, nguồn gốc.Các đặc trng này có mối quan hệ qua lại biện chứng với nhau, cùng làm nêngiá trị độc đáo của thành ngữ tiếng Việt.
4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ đều là những đơn vị có sẵn trong lời nói.Chúng đợc sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt của xã hội, và đợc truyềnlại về sau là bởi chúng đúc kết đợc kinh nghiệm, kết tinh đợc trí tuệ củaquần chúng trong khái quát hoá hiện thực để rút ra một kết luận, một nhận
định về sự vật khách quan Đó là những nét chung nhất làm cho mọi ngời
dễ có sự nhầm lẫn giữa chúng trong nhiều trờng hợp Tuy nhiên, thành ngữ
và tục ngữ ở hai cấp độ khác nhau, cho nên mỗi loại có những đặc điểmriêng cần đợc xác định rõ ràng ở đây chúng tôi phân biệt thành ngữ với tụcngữ trên hai mặt chủ yếu sau:
a) Về cấu tạo
Xét về mặt cấu tạo sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là
ở cấp độ Thành ngữ nằm ở cấp độ thấp hơn tục ngữ Bởi vì hầu hết thànhngữ có cấu tạo là cụm từ, còn tục ngữ hầu hết có cấu tạo là câu
Ví dụ:
Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ
- Chăn đơn gối chiếc
- Mặt nh chàm đổ.
Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ
- Chạy long tóc gáy
- Ném đá dấu tay.
Trang 20Thành ngữ có cấu tạo là cụm tính từ.
- Dai nh đỉa đói
- Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác …) một mặt chúng
Do thành ngữ ở cấp độ thấp hơn tục ngữ, nên trong nhiều trờng hợptục ngữ lấy thành ngữ làm yếu tố cấu tạo nên nó
Ví dụ:
- Mẹ gà con vịt chắt chiu
Mấy đời mẹ ghẻ nâng niu con chồng.
- Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo bộ lòng mới ngon
Trong nhiều trờng hợp có hiện tợng lồng chéo giữa thành ngữ với tụcngữ Có nhiều thành ngữ có cấu tạo là một câu, thậm chí là câu ghép
- Rừng // có mạch, vách// có tai.
- Ông// ăn chả, bà// ăn nem.
Nhng có khi tục ngữ lại có cấu tạo là một cụm từ
- Lời nói đọi máu …) một mặt chúng
Nh thế, nếu chỉ dựa vào cấu tạo, trong nhiều trờng hợp ta khó phânbiệt đâu là thành ngữ đâu là tục ngữ Muốn vậy phải phân biệt chúng ở mặtthứ hai là mặt chức năng ngữ nghĩa
b) Về chức năng ngữ nghĩa
Thành ngữ là đơn vị từ vựng mang tính hoàn chỉnh về nghĩa Nộidung của thành ngữ là những khái niệm Do đó chức năng của nó là chứcnăng định danh Tục ngữ là câu với ý nghĩa trọn vẹn và hoàn chỉnh Nộidung của tục ngữ là những phán đoán, do đó nó có chức năng thông báo ýnghĩa của thành ngữ tơng đơng với ý nghĩa của từ, cụm từ; trong khi nghĩacủa tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về chân
lí, một lẽ thờng, ( Đối với một nền văn hoá nào đó) nghĩa là một t tởng hoànchỉnh
Trang 21Quan hệ nội dung giữa thành ngữ với tục ngữ là quan hệ giữa kháiniệm và phán đoán Tục ngữ là một hiện tợng ý thức xã hội, phản ánh lốisống của thời đại, lối nghĩ của nhân dân, lối nói của dân tộc Thành ngữthuộc hiện tợng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chung của cộng đồng dântộc.
Có thể khẳng định điểm giống nhau giữa thành ngữ với tục ngữ là ởtính cố định, có sẵn… với các đề tài nh
Sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ ở trên chỉ mang tính chất tơng
đối Bởi ở những điều kiện sử dụng cụ thể vẫn thấy xảy ra hiện tợng đơn vịnày đợc dùng nh đơn vị kia
và nghĩa thực tại của thành ngữ
Ví dụ:
Thành ngữ : “Chở củi về rừng”
Nghĩa khi sử dụng thành ngữ này là làm một việc thừa, vô ích ở từghép, nghĩa từ nguyên chủ yếu chỉ đóng vai trò cấu tạo ý nghĩa chung củacả đơn vị Còn ở thành ngữ nghĩa từ nguyên không chỉ cấu thành ý nghĩachung mà còn tạo cho thành ngữ giá trị biểu cảm nữa Vì vậy, sau khi từghép đợc hình thành thì vai trò của nghĩa từ nguyên sẽ chấm dứt nhờng chỗcho nghĩa thực tại khi sử dụng Đối với thành ngữ, nghĩa từ nguyên là nghĩahoàn toàn độc lập tồn tại bên cạnh ý nghĩa thực tại Nghĩa từ nguyên quy
định ý nghĩa thực tại và sắc thái biểu cảm của ý nghĩa đó
Từ ghép thờng có khả năng diễn đạt đồng thời quan hệ tổng loại vàtiểu loại Ví dụ từ “bàn nhựa” Một mặt nó biểu thị tổng loại chung là bàn.Mặt khác lại biểu thị một loại bàn riêng Bàn làm bằng chất liệu nhựa
Trong khi đó, thành ngữ không có khả năng này ý nghĩa của thành
ngữ luôn có tính cụ thể Ví dụ thành ngữ “Lúng túng nh gà mắc tóc” Biểu
thị tình trạng lúng túng do rơi vào nhiều sự việc dồn dập mà không có cáchgiải quyết
Trang 22Thành ngữ chỉ hình thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏicần có sự bình giá và biểu cảm Trong phạm vi hoạt động trí tuệ, thành ngữrất ít xuất hiện Còn từ ghép, nó dễ dàng hình thành và xuất hiện ở tất cảmọi lĩnh vực hoạt động của con ngời để thực hiện một cách mau lẹ và cóhiệu quả hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ là giao tiếp và t duy.
b) Về mặt cấu trúc cú pháp
ở từ ghép quan hệ tờng thuật rất ít khi xuất hiện; còn ở thành ngữ,quan hệ này chiếm 8,68%(282) trong tổng số 3247 thành ngữ.( Số liệu nàylấy từ luận văn thạc sỹ của Trần Anh T, chuyên ngành lý luận ngôn ngữhọc, năm 2001) [Tr 30]
ở quan hệ đẳng lập thành ngữ có cấu trúc đẳng lập khác với từ ghép
Hoặc cả thành tố đều có quan hệ chính phụ
- Ăn chay| niệm phật
- Ăn bữa hôm| lo bữa mai …) một mặt chúng
Hoặc cả thành tố đều có quan hệ tờng thuật.
- Chân yếu| tay mềm
- Bụng làm| dạ chịu
Trong số thành ngữ có quan hệ chính phụ thì phần lớn là có quan hệ
so sánh: Im nh thóc, ngu nh bò, đẹp nh tiên… với các đề tài nhmột số thành ngữ khi bị lợc
- Chạy nh chó phải pháo
- Ăn thịt ngời không tanh
Trang 23- Rớc voi dày mả tổ.
II Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt
1 Vị trí của từ chỉ bộ phận cơ thể trong vốn từ cơ bản.
Nhiều từ chỉ bộ phận cơ thể thuộc lớp từ cơ bản của ngôn ngữ Theo
ngôn ngữ học thống kê: “mọi ngôn ngữ tự nhiên đều tồn tại một lớp từ cơ
bản” Trong lớp từ cơ bản tiếng Việt, có các nhóm nh:
- Từ chỉ bộ phận cơ thể:
Ví dụ: Đầu, mặt, mắt, mày, tóc, răng, má, vai, cổ, lng, chân, tay,
cằm, tai, nách, gan, ruột …) một mặt chúng
Ví dụ: Trâu, bò, lợn, gà, chó, mèo, chuột, cá, cua, lơn, rắn, ếch,
nhái, ngựa, voi…) một mặt chúng
Ví dụ: Ông, bà, cha, mẹ ,cợ, chồng, con, chị, em, trai, gái …) một mặt chúng
- Từ chỉ sản phẩm do con ngời tạo ra:
Ví dụ: Thóc, gạo, lúa, cà, mắm, muối …) một mặt chúng
Lớp từ cơ bản của từ vựng tiếng Việt ra dời từ rất sớm, những sự vật,hiện tợng, hoạt động, trạng thái, tính chất, đặc điểm… với các đề tài nhrất thân thuộc, gầngũi với cuộc sống con ngời Chúng trở thành những hình ảnh điển hình, cósức khái quát cao, tạo mỗi liên tởng rộng rãi đợc con ngời sử dụng để tạonên thành ngữ với các phơng thức nh so sánh, ẩn dụ, hoán dụ… với các đề tài nh
Trang 24Nh vậy, từ chỉ bộ phận cơ thể là một trong những nhóm từ cơ bảnnhất thuộc lớp từ vựng tiếng Việt Nó xuất hiện từ xa xa và tất yếu với dântộc Việt.
2 Nguồn gốc của các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt
Xét về mặt nguồn gốc, đa số từ chỉ bộ phận cơ thể có nguồn gốcthuần Việt Đó là các từ chỉ bộ phận nh: Mắt, mặt, tai, mũi, miệng, nách,má, răng, má, răng, đùi, chân, tay… với các đề tài nh
Những từ này hầu hết là từ đơn tiết, chúng có số lợng khá lớn, mang
đặc trng ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt Do đó chúng sẽ đợc dùng để cấutạo nên từ phức, cả cụm từ cố định Những từ đơn triết này hầu hết đều gọitên các bộ phận cơ thể bên ngoài mà ta có thể nhìn thấy đợc nh: mắt, mặt,tai, mũi, miệng, nách, má, răng, đùi, chân, tay… với các đề tài nhTuy nhiên, vẫn có một số
từ thuần Việt gọi tên bộ phận bên trong của cơ thể: họng, ruột, máu… với các đề tài nh
Ngoài ra có một số từ chỉ bộ phận cơ thể là từ Hán Việt Các từ nàychủ yếu gọi tên các bộ phận nội trạng, có tính chất chuyên môn của y học.Chẳng hạn: Cơ hoành cách, tá tràng, đại tràng, tâm thất, tâm nhĩ, phếquản… với các đề tài nhCác từ Hán Việt này rất ít gặp trong thành ngữ tiếng Việt, còn các từthuần Việt chỉ bộ phận cơ thể rất thờng gặp trong thành ngữ Điều đó gópphần giúp ta lí giải tính phong phú về số lợng, đa dạng về hình thức và phứctạp, tinh tế về ngữ nghĩa của thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể trongthành ngữ tiếng Việt
3 Từ loại của các từ chỉ bộ phận cơ thể
Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt đều thuộc từ loạidanh từ với số lợng tuyệt đối là 100% Do từ loại của chúng là danh từ nênchức năng chủ yếu của chúng trong tiếng Việt là chức năng định danh, gọitên các bộ phận cơ thể
Ví dụ: Mắt: Gọi tên bộ phận để nhìn.
Tai: Gọi bộ phận để nghe.
Cổ: Gọi tên bộ phận để nối phần đầu và phần thân mình.
III Giới thiệu về tài liệu khảo sát thành ngữ.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã khảo sát vốn thành ngữtiếng Việt qua các tài liệu sau:
1 Thành ngữ tiếng Việt Nguyễn Lực- Nguyễn Văn Đang.
NXBKHXH,1978 Số lợng gần 3000 thành ngữ
Trang 252 Từ điển thành ngữ Việt Nam Nguyễn Nh ý - Nguyễn Văn Khang
- Phan Xuân Thành NXB Văn hoá,1993 Số lợng gần 3000 thành ngữ
3 Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt Nguyễn Nh ý (chủ biên).
NXBGD, 1995 Số lợng 3247 thành ngữ
Trong khoá luận này, chúng tôi dựa vào cuốn “Từ điển giải thích
thành ngữ tiếng Việt” để thống kê, phân tích, miêu tả về các thành ngữ chứa
từ chỉ bộ phận cơ thể Các tài liệu khác chỉ để tham khảo hoặc so sánh đốichiếu
Trang 26Khảo sát nhóm thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể
I Kết quả thống kê và phân loại.
1 Về nhóm thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể.
Trong số 3247 thành ngữ trong “Từ điển giải thích thành ngữ tiếng
Việt” (Nguyễn Nh ý- chủ biên NXBGD, 1995) chúng tôi thống kê đợc
547 thành ngữ chỉ bộ phận cơ thể (chiếm 16,8%) trong tổng số thành ngữtiếngViệt Phân ra từng nhóm tên gọi bộ phận cơ thể , chúng tôi có bảngbảng số liệu sau :
Qua kết quả thống kê và bảng số liệu ta thấy :
a) Thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể có số lợng rất phong phútrong tổng số thành ngữ chung của dân tộc.Với 547/3247 thành ngữ, chiếm
Trang 27Nhãm cã sè lîng Ýt nhÊt lµ nhãm thµnh ng÷ chøa tõ chØ c¸c bé phËn bªnngoµi: 10 thµnh ng÷ (chiÕm 1,9%).
TiÕp tôc ph©n ra sè lîng cô thÓ trong mçi nhãm ta l¹i cã :
1917.315.414.45.453.53.52.62.2
Trang 28Từ bảng số liệu ta thấy , trong nhóm thành ngữ chứa các từ chỉ bộphận ở đầu thì các thành ngữ chứa các từ đầu, mặt, mắt, miệng, là có số l-ợng lớn nhất Tiếp đến là các thành ngữ có chứa từ tai, tóc, mũi, cổ, mày,trán Còn lại có số lợng ít nhất(từ 1->5 thành ngữ)
Bảng 3: Nhóm thành ngữ chỉ bộ phận ở thân mình
292314.514.55.95.94.31.41.4
Trang 29Trong nhóm thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận thân ở mình chúng tôitiếp tục phân ra thành các nhóm thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cụ thể.Và có
đợc kết quả nh sau :
- Thành ngữ chứa từ chỉ bụng và lng có số lợng nhiều nhất
+ Thành ngữ chứa từ bụng : 20 thành ngữ ( chiếm 29%)
+ Thành ngữ chứa từ lng : 16 thành ngữ (chiếm 23%)
- Thành ngữ chứa từ vai và từ thân-mình có số lợng lớn thứ hai
+ Thành ngữ chứa từ vai có 10 thành ngữ (chiếm 14,5%)
+ Thành ngữ chứa từ chỉ thân-mình chiếm 10 thành ngữ ( chiếm4,5%)
- Thành ngữ chứa từ “rốn, vú” có số lợng ít nhất Mỗi nhóm chỉ cómột thành ngữ ( chiếm1,4%)
- Các thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận sinh dục, chứa từ nách, từ đít
49.4403.52.31.81.81.81.8
Nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ các bộ phận ở tay- chân có số lợngkhông nhiều lắm.Trong đó thành ngữ chứa từ tay và thành ngữ chứa từ chân
có số lợng tơng đơng nhau ở bộ phận của tay và chân chia ra các bộ phận
cụ thể là đùi , đầu gối, gót, ngón tay, móng tay, lòng bàn tay
3519.815.514
Trang 30ở nhóm thành ngữ này, thành ngữ chứa từ “gan” có số lợng nhiềunhất 25 thành ngữ Tiếp đến là thành ngữ chứa từ “ruột”, “xơng”, “lòng”.Thành ngữ chứa từ “máu , tủy, mật, cật, dạ, xong sống” có số lợng ítnhất
40302010
Đây là nhóm có số lợng thành ngữ ít nhất trong tổng số thành ngữchứa từ chỉ bộ phận cơ thể
Bảng 7: Thành ngữ chứa các từ chỉ bộ phận cơ thể với số lợng 10 lần
131210.6109.37.55.54.43.8
Trang 31Đây là bảng thống kê thành ngữ có chứa các từ chỉ bộ phận cơ thể với
số lợng 10 lần Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: thành ngữ chứa các từ chỉ
bộ phận ở đầu nh : Mặt, đầu, mắt, miệng, và bộ phận ở tay, chân có số lợnglớn nhất Tiếp đến là các thành ngữ chứa các từ chỉ bộ phận gan, bụng, tai,lng, tóc, ruột Cuối cùng là các thành ngữ có chứa các từ chỉ bộ phận mũi,mày, xơng, vai, mình, lòng Nh vậy, ngay trong nhóm thành ngữ có số lợng
10 lần này cũng có sự phân hóa không đồng đều nhau Nhóm thì chiếm
số lợng nhiều, nhóm thì chiếm số lợng ít Điều này liên quan đến thànhphần ngữ nghiã ta sẽ tìm hiểu ở phần sau
2 Về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể trong thành ngữ.
Cơ thể ngời có rất nhiều bộ phận, mỗi bộ phận đều có tên gọi và chứcnăng nhất định Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể là một nhóm từ thuộc lớp từ cơbản của tiếng Việt, ra đời sớm và mang đặc trng từ vựng của tiếng Việt Các
từ này đã đi vào thơ ca, nghệ thuật, ca dao dân gian từ xa xa:
Gặp đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không
Trong ca dao tình yêu ta bắt gặp hàng loạt từ chỉ bộ phận cơ thể :
Chiều chiều vịt lội bờ sông Thơng ngời áo trắng vá quàng nửa vai
Hoặc:
Cầm vàng ném xuống vực sâu Tiếng vàng không tiếc, tiếc đôi mắt bồ câu hữu tình.
Dế kêu cho giải cơn sầu Mấy lời em nói bạc đầu không quên
Trang 32Đàn ông một trăm lá gan Lá ở cùng vợ lá tan cùng nguời
Không chỉ có cổ tay, mắt, đầu, gan đợc nói đến mà còn là chân ,mồm, mồ hôi, ruột, dạ… với các đề tài nhnói chung trong ca dao xa đã nói nhiều đến các
bộ phận cơ thể để ẩn dụ cho điều mình nói
Đàn bà yếu chân mềm tay Làm ăn chả đợc lại hay nỏ mồm.
Trong thơ ca nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể cũng xuất hiện nhiều
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần.
(Vội vàng- Xuân Diệu)
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong…) một mặt chúng
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc.
(Tống biệt hành-Thâm Tâm)Ngay cả trong văn xuôi cũng thấy sự xuất hiện của nhóm từ chỉ bộphận cơ thể, nhất là ở những trang miêu tả ngoại hình, bên ngoài của nhân
vật Trong truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu có
nhiều đoạn miêu tả nhân vật Nguyệt nh sau:
“ánh đèn gầm hắt xuống mặt đờng hiện ra trớc mũi xe một đôi gót
chân hang hang …) một mặt chúng gấu quần lụa đen chấn mắt cá …) một mặt chúng a hai tay dụi mắt đ …) một mặt chúng ”
Hoặc là nhân vật tôi tự độc thoại:
“Tôi đứng chéo chân, ngắm vầng trăng khuyết mong manh bằng cặp
mắt mơ mộng …) một mặt chúng tôi bắt đầu sốt ruột …) một mặt chúng vút tr ớc mặt tựa nh ngựa đua …) một mặt chúng tôi hết sức lắng tai …) một mặt chúng ”
ở tục ngữ, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể cũng xuất hiện khá nhiều
Không bóp cổ chẳng lè lỡi.
Trăm hay không bằng tay quen.
Đầu chép mép trôi môi mè.
Trang 33Nhất có râu nhì bầu bụng.
Không riêng gì trong ca dao, thơ ca, văn xuôi, tục ngữ… với các đề tài nh mà ở ngaytrong thành ngữ nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể cũng xuất hiện với số lợngnhiều, tần số xuất hiện khá cao Khảo sát 3247 đơn vị thành ngữ , chúng tôithống kê đợc 770 từ chỉ bộ phận cơ thể, trỏ 54 bộ phận cơ thể
Trong 770 từ chỉ bộ phận cơ thể thì có 700 từ đơn và 70 từ ghép
Ví dụ:
- Từ chỉ bộ phận cơ thể là từ đơn:
+ Tóc nh rễ tre + Ruột sát nh bào + Tay yếu chân mềm …) một mặt chúng
- Từ chỉ bộ phận cơ thể là từ ghép:
+ Câm miệng hến + Bầy nhầy nh thịt bụng + Vỏ quýt dày có móng tay nhọn
6 Mũi:
Vuốt mặt không nể mũi Gần mũi xa miệng …) một mặt chúng
7 Tóc:
Trang 34Lúng túng nh gà mắc tóc Chạy long tóc gáy…) một mặt chúng
8 Cổ :
Quàng chân lên cổ Thấp cổ bé họng…) một mặt chúng
9 Họng:
Nói nh móc họng Tham bong bóng bỏ hang trâu …) một mặt chúng
10 Gáy:
Rợn tóc gáy Chạy long tóc gáy
11 Răng:
Đầu bạc răng long Trang bị đến tận răng
12 Mày:
Mặt ủ mày chau Mắt la mày lét
16 Râu
Đầu râu tóc bạc Lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia…) một mặt chúng
Trang 35Môi hở răng lạnh Khua môi múa mép
30 Vú:
Lng eo vú xếch Cả vú lấp miệng em
31 Từ chỉ bộ phận sinh dục:
Trên răng dới dái
Đắm đò nhân thể rửa trôn
32 Rốn:
Trang 36Ăn gan uống máu
Có gan ăn muống có gan lội hồ
35 Dạ :
Mặt ngời dạ thú Gan đá dạ sắt
39 Lòng:
Lòng tham không đáy Lòng cá dạ chim
44 Ngón tay :
Chỉ tay năm ngón
Đếm đầu ngón tay.