Từ góc độ ngôn ngữ học, đề tài nghiên cứu nhóm tục ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ động vật có mục đích tìm hiểu về vai trò lớp từ chỉ động vật trong cấu tạo và tạo nghĩa của câu tục ngữ.. Từ
Trang 1Trờng đại học Vinh Khoa ngữ văn
=== ===
lê thị mai
khảo sát nhóm tục ngữ tiếng việt chứa từ chỉ động
vật
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên Ngành ngôn ngữ
Vinh 2006
Trang 2Lời nói đầu
Nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật là một nhóm tục ngữ có giá trị
đặc biệt, góp phần làm nên đặc trng của tục ngữ Việt Nam.
Từ góc độ ngôn ngữ học, đề tài nghiên cứu nhóm tục ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ động vật có mục đích tìm hiểu về vai trò lớp từ chỉ động vật trong cấu tạo và tạo nghĩa của câu tục ngữ.
Từ các số liệu về nhóm tục ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ động vật, khóa luận miêu tả, phân tích và nêu lên nhận xét về cấu tạo, nội dung ý nghĩa của nhóm tục ngữ này
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn thờng xuyên, tận tình của thầy hớng dẫn - TS Trần Văn Minh cũng
nh nhận đợc từ các Thầy, Cô giáo sự góp ý cụ thể, sâu sắc.
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến Thầy giáo Trần Văn Minh và các Thầy, Cô giáo đã giúp đỡ, động viên để khóa luận này đợc hoàn thành.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhng chắn chắn không tránh khỏi những sai sót Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo của quý Thầy, Cô.
Vinh, ngày 15 tháng 5 năm 2006.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Mai
Trang 3Mục lục
Lời nói đầu 1
Mục lục 2
Mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4
3 Đối tợng nghiên cứu 5
4 Lịch sử vấn đề 5
5 Phơng pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của khóa luận 8
7 Bố cục của khoá luận 8
Chơng 1 Khái niệm giới thuyết xung quanh đề tài 9
1.1 Về khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt 9
1.2 Lớp từ chỉ động vật trong tiếng Việt hiện đại 22
1.3 Văn bản khảo sát tục ngữ 24
Chơng 2 Nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật trong tiếng Việt 28
2.1 Kết quả thống kê và phân loại 28
2.2 Cấu tạo và ngữ nghĩa của nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật 36
2.3 Vai trò của từ chỉ động vật đối với cấu tạo và ý nghĩa của tục ngữ .45
Kết luận 64
Tài liệu tham khảo 66
Phụ lục 67
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cũng nh các dân tộc khác, ngời Việt ý thức đợc sức mạnh của tục ngữ với t cách là phơng tiện giao tiếp có hiệu lực nhất Trong tâm thức của mỗi ngời, lợng thông tin chứa trong tục ngữ gần nh trở thành chân lý bởi nó đợc chứng nghiệm bằng bề dầy những kinh nghiệm truyền thống của bao thế hệ Qua tục ngữ Việt Nam, có thể thấy rõ đợc lối nói, cách t duy, đặc điểm văn hoá của dân tộc Việt Qua cách sử dụng tục ngữ cũng có thể thấy đợc trình độ sử dụng ngôn ngữ của mỗi ngời Có một câu châm ngôn đã khẳng định: “Sự hiểu biết về tục ngữ cần thiết cho sự hoàn chỉnh hiểu biết”
Tục ngữ thuộc loại văn học dân gian , một thể loại rất gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân Nếu ngời trí thức thời xa thờng dùng các lời lẽ của thánh hiền làm chỗ dựa cho ý kiến của mình, thì nhân dân lao động cũng dùng những câu tục ngữ để khẳng định những điều nhận xét, giải thích hoặc khuyên răn theo thế giới quan và nhân sinh quan của mình
1.2 Cộng đồng ngời Việt tuy có quá trình hình thành và phát triển hơn 4.000 năm, với phơng thức sản xuất cơ bản là nông nghiệp Với nền sản xuất nhỏ mang tính chất tự cung tự cấp, con ngời ở đây sống trong sự lệ thuộc vào thiên nhiên, đồng thời cũng chan hoà với thiên nhiên Con ngời Đông Nam á nói chung, ngời Việt nói riêng là c dân nông nghiệp lúa nớc, gắn bó với cây cỏ, sông suối, núi rừng, biển cả thuộc khu vực nhiệt đới ẩm thấp gió mùa Do môi trờng thiên nhiên, c dân nông nghiệp gắn bó với “cây”, “con” nên các vật nuôi trong gia đình: Gia súc, gia cầm (trâu , bò, lợn, gà, chó vịt ), các con thú, con chim đợc thuần hoá đến những con vật trở thành vật thiêng trong tín ngỡng, tâm linh ( nh rồng, hổ ) đã ăn sâu vào tâm thức, t duy của ngời Việt trở thành vấn
đề đợc quan tâm, gần gũi, chiếm vị trí quan trọng trong nhận thức, tình cảm, trong sự thể hiện trí tuệ và kinh nghiệm của dân tộc Việt
Trang 5Trong các câu tục ngữ đợc sáng tác và truyền lại, chúng ta nhận thấy một
điểm nổi bật, đó là: Ngời Việt thờng đa rất nhiều hình ảnh các con vật (nhất là những con vật gắn bó, gần gũi với nhân dân lao động) vào trong các câu tục ngữ Hầu nh nội dung nào của tục ngữ cũng đều có hình ảnh các con vật và những từ chỉ con vật đợc gọi từ nhiều khía cạnh khác nhau
Trớc đây đã có một số đề tài, bài viết khảo sát nghiên cứu về hình ảnh những con vật tiêu biểu ( nh trâu , hổ, rồng, rắn ) trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao nhng ở mức độ khái quát chung, cha đi sâu vào tìm hiểu phân tích nhóm từ chỉ động vật theo một hệ thống trong một thể loại cụ thể
Đề tài “Khảo sát nhóm tục ngữ tiếng Việt có chứa từ chỉ động vật” là cần thiết để mọi ngời, đặc biệt là lớp trẻ hiện nay, nhận thức đợc giá trị to lớn của tục ngữ đối với đời sống tinh thần của ngời Việt cũng nh thấy rõ vai trò của lớp
từ chỉ động vật khi tham gia cấu tạo, ngữ nghĩa câu tục ngữ khiến cho câu tục ngữ trở nên gần gũi dễ hiểu hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
ánh số lợng, diện mạo, từ đó chỉ ra vai trò của lớp từ chỉ động vật trong cấu tạo
và tạo nghĩa tục ngữ, giúp cho ngời giáo viên dạy tốt hơn những câu ngữ trong chơng trình phổ thông
Trang 62.2.4 Rút ra nhận xét về vai trò của từ chỉ động vật đối với việc cấu tạo ngữ nghĩa của nhóm tục ngữ chứa lớp từ này.
3 Đối tợng nghiên cứu
Tục ngữ Việt Nam có số lợng rất lớn và có xu thế mở, tức là có những câu tục ngữ mới đợc bổ sung Trong đề tài này chúng tôi chỉ lấy những câu tục ngữ cổ truyền của ngời Việt làm đối tợng khảo sát của đề tài, cụ thể là những câu tục ngữ có chứa từ chỉ động vật với mọi diện mạo và tần số xuất hiện của chúng trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam” do Nguyễn Hoàng Lan su tầm (Nhà xuất bản Thanh niên, 2001)
Vì vậy tục ngữ hiển nhiên là một nguồn t liệu quý giá và là đối tợng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xã hội và nhân văn: Fôlklore, sử học, dân tộc học, phong tục học, văn học, ngôn ngữ học Đặc biệt, từ lâu hai ngành văn học và ngôn ngữ học đã xem tục ngữ là một đối tợng nghiên cứu quan trọng và
có nhiều đóng góp về mặt su tầm, biên soạn cũng nh đặt cơ sở lý thuyết cho việc phân tích, phân loại và sử dụng tục ngữ
Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ:
4.1 Nguyễn Thái Hoà trong công trình nghiên cứu “Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc và thi pháp” (Nxb KHXH, 1997 ) đã khái quát hoá gần nh đầy đủ các khuôn hình cấu trúc cơ bản của tục ngữ, chỉ ra các hớng vận động của từng khuôn hình Trên cơ sở đó, ông miêu tả một số đặc điểm trong thi pháp tục ngữ với t cách là một “tổng thể thi ca nhỏ nhất” (Chữ dùng của R.Jakobson)
Nhng tục ngữ có chứa từ chỉ động vật là vấn đề không đợc đề cập trong tài liệu đó, có chăng đó chỉ là những dẫn chứng, điểm tựa cho việc biện giải các vấn đề về cấu trúc và thi pháp của tục ngữ tiếng Việt
Trang 74.2 Trong công trình “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” ( Nxb KHXH, tái bản 1999), Vũ Ngọc Phan đã tìm hiểu sự xuất hiện của tục ngữ, đa
ra khái niệm và khái quát đặc điểm về nội dung và hình thức của tục ngữ Ông
đi sâu vào nghiên cứu về các chủ đề, nội dung mà tục ngữ, ca dao, dân ca tập trung thể hiện
Nhng ở đây, Vũ Ngọc Phan không nghiên cứu từ góc độ của ngôn ngữ học nên ông không nhắc đến các lớp từ trong cấu tạo của tục ngữ (trong đó có lớp từ chỉ động vật)
4.3 Hoàng Trinh trong cuốn “Từ ký hiệu đến thi pháp học” đã đề xuất một cách “đọc” tục ngữ khá thú vị và sâu sắc Ông khẳng định: Chỉ có cách tiếp cận liên ngành với đi đợc vào bản chất thẩm mỹ của tục ngữ Ông dành nhiều trang phân tích khá sâu về cơ chế ẩn dụ tạo nghĩa hàm ẩn trong tục ngữ và nghĩa hàm ẩn này có tác dụng triển khai nghĩa đến lâu dài, vô tận
Tuy nhiên đứng ở góc độ thi pháp học nên cách phân tích của Hoàng Trinh cha thực sự mang bản chất của ngôn ngữ học
4.4 Là chuyên gia hàng đầu về thành ngữ, Hoàng Văn Hành đã có nhiều bài nghiên cứu về tục ngữ trong đó chứa đựng những gợi ý rất bổ ích cho những ngời quan tâm đến ngôn ngữ Ông đã quan niệm: Tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật, nghĩa là tục ngữ mang hai t cách: Tục ngữ là câu nhng khác với câu thông thờng ở chỗ nó có đặc trng là thông điệp nghệ là một quan niệm rất mới,
và vơn tới đợc đặc trng bản chất của tục ngữ
4.5 Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hơng (Đại học Vinh, 1999), nghiên cứu về “Đặc trng ngữ nghĩa của tục ngữ Việt Nam” Luận văn đã đi sâu vào phân tích ngữ nghĩa của tục ngữ và tìm hiểu một số trờng nghĩa của tục ngữ: lớp từ chỉ quan hệ thân tộc; lớp từ chỉ bộ phận cơ thể ngời; lớp từ chỉ đơn
vị tính toán Riêng lớp từ chỉ động vật, tác giả có nhắc đến nhng cha đi sâu vào tìm hiểu
Ngoài ra, một số tác giả khác nh Vũ Quang Hào, Cù Đình Tú, Nguyễn Thiện Giáp cũng đề cập đến tục ngữ nhng mới chỉ dừng lại ở mức độ xây dựng
Trang 8Từ trớc đến nay, nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật là đề tài thiết thực và quan trọng, song cha thực sự đợc quan tâm đúng mức.
Trong hơn nửa thế kỷ trở lại đây mới chỉ có vài bài viết về một số hình
ảnh của các con vật (trâu, rắn, hổ, ) trong tục ngữ, thành ngữ dới góc độ văn hoá, ngôn ngữ
Có thể kể đến luận văn thạc sĩ: “Hình ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao” của Lê Tài Hoè ( Đại học Vinh, 2002) ở công trình này, tác giả đã khảo sát một số lợng lớn những câu thành ngữ, tục ngữ, bài ca dao có chứa hình ảnh các con vật và đa ra đợc bức tranh ngôn ngữ
về hình ảnh con vật cũng nh phân tích tâm thức ngời Việt về hình ảnh các con vật
Song đề tài này chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu chung, cha đi vào phân tích vai trò của lớp từ chỉ động vật tham gia cấu tạo, ngữ nghĩa trong nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật
Nhìn chung, nghiên cứu tục ngữ ở góc độ ngôn ngữ không phải là vấn đề mới Các tài liệu đã điểm qua ở trên đã giúp cho khoá luận của chúng tôi về nhiều mặt: về mặt quan niệm, cách thức miêu tả, nhận xét kết luận về đối tợng khảo sát
Việc “Khảo sát nhóm tục ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ động vật” để qua đó thấy đợc vai trò của lớp từ chỉ động vật trong cấu tạo cũng nh thể hiện ngữ nghĩa của tục ngữ nói chung là cha có ai nghiên cứu
5 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của khoá luận này chúng tôi sử dụng
đồng thời các phơng pháp và thao tác nghiên cứu khác nhau:
5.1 Phơng pháp thống kê phân loại: dùng để lập danh sách và phân loại các câu tục ngữ có chứa từ chỉ động vật
5.2 Phơng pháp phân tích miêu tả: dùng để phân tích cấu tạo và ngữ nghĩa của các câu tục ngữ và miêu tả từ chỉ động vật đợc sử dụng trong câu tục ngữ
Trang 95.3 Phơng pháp tổng hợp qui nạp: dùng trong phần lịch sử vấn đề, biểu kết các chơng cũng nh phần kết luận của khoá luận.
6 Đóng góp của luận văn
- Thống kê và phân loại các từ chỉ động vật trong tục ngữ Việt Nam
- Thấy đợc vai trò của lớp từ chỉ động vật góp phần tạo nên giá trị bản sắc của tục ngũ nói riêng và tiếng Việt nói chung
- Chứng minh lớp từ chỉ động vật có vai trò quan trọng trong cấu tạo và ngữ nghĩa của tục ngữ
7 Bố cục của khoá luận
Khoá luận gồm 71 trang Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của khoá luận gồm 2 chơng:
Chơng I: Khái niệm giới thuyết xung quanh đề tài
Chơng II: Nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật.
Trang 10Chơng 1khái niệm giới thuyết xung quanh đề tàI
1.1 Về khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt
1.1.1 Một số quan niệm về tục ngữ của các nhà ngôn ngữ học
ở Việt Nam, ngôn ngữ học ra đời và phát triển muộn nhng rất quan tâm
đến tục ngữ, đặc biệt là các nhà từ vựng học Họ đợc thừa hởng thành tựu của các nhà nghiên cứu văn học Nhng cũng do vậy, có khi họ cha phân định thật rạch ròi danh giới giữa các đơn vị ngôn ngữ
1.1.1.1 Tục ngữ không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là lời nói liên quan đến cụm từ cố định
Đó là quan điểm của hai ông Nguyễn Văn Tu (1968 và 1987) và Đái Xuân Ninh(1978) Trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt hiên đại”, ông Nguyễn Văn Tu chủ trơng: “Trong tiếng Việt, những tục ngữ, phơng ngôn và ngạn ngữ
có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối tợng của từ vựng học mà là đối tợng của văn học dân gian, nhng vì chúng là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ đợc dùng đi dùng lại để trao đổi t tởng cho nên chúng dính dáng đến cụm từ cố định Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thanh phần cú pháp nào cả”
Cùng chia sẻ với quan niệm này ta thấy có ông Đái Xuân Ninh, tác giả
“Hoạt động của từ tiếng Việt” (1978) Tác giả không chỉ xếp tục ngữ vào đối ợng của văn học dân gian mà cả ngạn ngữ ,quán ngữ (nói chung là cụm từ cố
t-định): “Cụm từ cố định bao gồm cả thành ngữ lẫn tục ngữ , ngạn ngữ, quán ngữ
là đối tợng của văn học dân gian, vì tục ngữ, ngạn ngữ quán ngữ cũng là những
đơn vị có sẵn trong lời nói” [10,24]
ở đây tác giả xem tục ngữ là đơn vị của lời nói chứ không phải đơn vị ngôn ngữ
1.1.1.2 Tục ngữ là câu hoàn chỉnh diễn đạt một ý trọn vẹn có cấu tạo
là các kết cấu hai trung tâm
Trong một bài báo trao đổi ý kiến với Nguyễn Văn Mệnh “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ”, Cù Đình Tú sử dụng chức năng làm tiêu chí
Trang 11khu biệt thành ngữ với tục ngữ: “Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng nh các sáng tạo khác của văn học dân gian nh ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phơng diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tởng
Đó cũng là lý do giải thích tục ngữ có cấu tạo kết cấu hai trung tâm” [5,14]
Đóng góp của Cù Đình Tú là sử dụng chức năng làm tiêu chí khu biệt thành ngữ và tục ngữ Luận điểm này đợc nhiều ngời chấp nhận và là bớc tiến mới trong việc nghiên cứu những đơn vị này Một đóng góp khá quan trọng và
về mặt kết cấu, Cù Đình Tú cho rằng: thành ngữ có kết cấu một trung tâm và tục ngữ có kết cấu hai trung tâm Đây là những gợi ý quan trọng cho những ng-
ời nghiên cứu về tục ngữ
1.1.1.3 Tục ngữ là những câu cố định (trong khi thành ngữ là những cụm từ cố định)
Nghiên cứu văn học ảnh hởng đến các nhà ngôn ngữ học, đó là trờng hợp tác giả Hồ Lê trong “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976): “Tục ngữ là những câu cố định mang một nội dung đúc kết kinh nghiệm sản xuất hoặc đối nhân xử thế” [9,101]
Tác giả Hồ Lê gần với truyền thống của các nhà nghiên cứu văn học ở chỗ: ông tách nội dung khỏi hình thức và nh vậy thì phải đa thêm nhiều loại,nhiều khái niệm mới, dẫn đến gây dễ lẫn lộn
1.1.1.4 Tục ngữ là những thông báo
Giáo trình “Từ vựng tiếng Việt” của Nguyễn Thiện Giáp xem tục ngữ là
“ngữ mang chức năng thông báo” dể phân biệt với quán ngữ “ngữ mang chức năng nhấn mạnh, đa đẩy rào đón”, với thành ngữ “ngữ mang chức năng định danh” [2,25] Trong lần tái bản “Từ vựng học tiếng Việt” ( 1985) tác giả đã sửa chữa, tác giả bỏ quán ngữ và thành ngữ chỉ giữ lại một câu: “Các cụm từ cũng
đợc dùng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói nh một đơn vị có sẵn; nhng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Về mặt
Trang 12nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu biểu thị một khái niệm nh thành ngữ mà biểu thị một tổng hợp khái niệm” [2,87].
Nh vậy, tác giả không chú ý đến một nét trung gian của tục ngữ mà trớc
đây (1976) tác giả đã khẳng định “tục ngữ thể hiện các bớc quá độ khác nhau giữa từ và kết cấu tự do” [2, 25], vì vậy bỏ qua sự chuyển hoá giữa thành ngữ
1.1.6 Tục ngữ là những câu thông điệp nghệ thuật
ở bài: “Tục ngữ trong cách nhìn của ngôn ngữ học” đăng trên tạp trí ngôn ngữ (số 4/ 1980), tác giả Hoàng Văn Hành từ góc độ ngữ nghĩa đã xem xét tục ngữ nh một phức thể đa diện và quan niệm tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật “Khi nói tục ngữ là câu thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng
ta nhấn mạnh lại đặc trng bản chất, không thể tách rời nhau của nó: Một là, tục ngữ là câu, nhng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thờng ở t cách là thông điệp nghệ thuật Hai là, tục ngữ là những thông điệp nghệ thuật nhng là loại thông điệp nghệ thuật khác với mọi thông điệp nghệ thuật ở chỗ hình thức của nó chỉ là một câu” [4,59]
Đây chính là một cách nhìn khá mới mẻ đối với tục ngữ Việt Nam Quan niện của Hoàng Văn Hành coi tục ngữ là “câu” phù hợp với cách xử lý trong thực tiễn và truyền thống nghiên cứu văn học, và “thông điệp nghệ thuật” phù hợp với
Trang 13quan niệm của R Jakobson là “tác phẩm thơ” hay là “tổng thể thi ca nhỏ nhất” Vấn đề cần hiểu là “câu” hay đơn vị “ngữ cú” đó nh thế nào và “thông điệp nghệ thuật” tục ngữ là gì ? Điều quan trọng nữa là cách xem xét này đặt tục ngữ ở vị trí trung gian giữa câu và văn bản (Đánh giá của Nguyễn Thái Hoà trong cuốn
“Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc và thi pháp” [ Tr 25])
Tóm lại: Tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa đơn vị ngữ cú và câu, giữa câu và văn bản và có thể nói là giữa phong cách khoa học (đúc rút kinh nghiệm) và phong cách nghệ thuật (thông
điệp nghệ thuật, tác phẩm thơ)
1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ và ca dao
Trong thực tế sử dụng cũng nh trong nghiên cứu khoa học, ngời ta thờng
đặt thành ngữ bên cạnh tục ngữ, tục ngữ bên cạnh ca dao để so sánh về các mặt: hình thái cấu trúc và chức năng ngữ nghĩa Trong đề tài “Khảo sát nhóm tục ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ động vật”, đối tợng nghiên cứu của chúng tôi là những câu tục ngữ có chứa từ chỉ động vật Vì vậy, một thao tác gần nh bắt buộc khi nghiên cứu tục ngữ là phải đặt nó trong thế đối sánh với những đơn vị gần gũi và ít nhiều có liên quan là thành ngữ và ca dao
Cả thành ngữ và ca dao đều là bộ phận rất dễ lẫn với tục ngữ Sự lẫn lộn này thể hiện qua hai hiện tợng: hình thức cấu tạo của chính các đơn vị này và cách quan niêm của các nhà nghiên cứu khi tiến hành phân loại tục ngữ, thành ngữ và ca dao Có những câu tục ngữ có cấu tạo là cụm từ, lại có những thành ngữ có cấu tạo là một câu Có những câu tục ngữ lại núp mình dới hình thức lục bát vốn là sở trờng quen thuộc của ca dao Ngoài ra chúng ta còn bắt gặp những cuốn sách chuyện viết về tục ngữ, những đơn vị này đợc các sách khác coi là thành ngữ, ca dao và ngợc lại Điều này gây không ít lúng túng cho những ngời muốn có một sự phân định nghiêm ngặt về ranh giới giữa các đơn vị trên Một
số tác giả đã tìm cách khoả lấp khó khăn này bằng cách đặt những đơn vị liền
kề nhau mà không có sự phân biệt hay giải thích rõ ràng Ví dụ nh: Giáo s
Trang 14giải thích gộp chung thành ngữ, tục ngữ theo thứ tự chữ cái ABC chứ không tách riêng hoặc chú thích đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ Một số tác giả khác lại gộp chung các đơn vị dới tên gọi tục ngữ ca dao, tục ngữ phong dao Vì vậy, vấn đè đặt ra là phải xác lập ra đợc một hệ tiêu chí phân lập: tục ngữ với thành ngữ, tục ngữ với ca dao.
Việc phân biệt này có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định đặc trng của các đơn vị nói chung và tục ngữ nói riêng Công việc này cho phép đi sâu vào bản chất tục ngữ và có nắm đợc bản chất thì mới có thể phân tích, tìm hiểu một cách đúng đắn các đơn vị bên trong nó (Lớp từ chỉ động vật)
1.1 2.1 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ
Tục ngữ và thành ngữ có nhiều đặc điểm giống nhau cả về hình thái cấu trúc lẫn khả năng biểu hiện trong giao tiếp: chúng là những đơn vị có sẵn, có tính cố định, bền vững về thành phần từ vựng và cấu trúc, giàu sắc thái biểu cảm khi đi vào hoạt động giao tiếp Chính vì vậy việc xác định ranh giới giữa hai
đơn vị này là không mấy dễ dàng
Trớc hết cần xác lập tiêu chí để phân biệt ở đây chúng tôi dựa vào ba tiêu chí sau:
a Về nội dung ý nghĩa
Nội dung của thành ngữ là nội dung của khái niệm ý nghĩa mà thành ngữ biểu thị là nghĩa bóng, toát ra từ toàn bộ kết cấu chứ không phải suy ra từ ý nghĩa của mỗi thành tố
Ví dụ: Cá nằm trên thớt
biểu thị nghĩa: Hoàn cảnh hiểm nghèo, không biết sống chết lúc nào
Mèo mù vớ cá rán.
Chuột sa chĩnh gạo
tơng đuơng với khái niệm “Sự may mắn”
Nội dung của tục ngữ là nội dung của phán đoán Tục ngữ nêu lên một kinh nghiệm sâu sắc, một nhận định cụ thể, một phơng châm xử thế, một quan niệm, một kết luận Vì vậy, ý nghĩa của tục ngữ có thể suy ra từ ý nghĩa của các thành tố
Trang 15Ví dụ: Muốn ăn cá, phải thả câu.
(vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa bóng, thờng đợc dùng theo nghĩa bóng) nêu một nhận định cụ thể “Muốn đợc hởng quyền lợi thì phài tốn công sức”
Làm ruộng không trâu,làm giàu không thóc.
có nghĩa “Nói lên tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông, chẳng khác gì thóc là biểu hiện của sự giàu ở nông thôn”
b Về chức năng
Thành ngữ có chức năng định danh (gọi tên một khái niệm, một hình
ảnh, một trạng thái) và chỉ là một bộ phận cấu tạo nên câu
Ví dụ: Chỉ buộc chân voi.
“gọi tên” một việc làm vô bổ: “việc làm cho phải phép, cho đúng thủ tục chứ thực chất chẳng chắc chắn, chẳng ăn thua gì”
Thành ngữ trên khi sử dụng vào lời nói, trong câu nó đợc coi nh một đơn
vị từ vựng nh từ: “Nó che chắn kín nhẽ cả rồi,bây giờ lập ban thanh tra thì có ăn nhằm gì, chẳng qua là chỉ buộc chân voi mà thôi”.
Khác với thành ngữ,tục ngữ có chức năng thông báo (diễn đạt một ý trọn vẹn)
Ví dụ: Đo bò làm chuồng.
diễn đạt ý: Tính toán lo liệu cho phù hợp với thực tế
Không có voi lấy bò làm lớn.
diễn đạt trọng vẹn một ý: Vì thiếu thứ tốt mà phải đề cao hoặc chấp nhận thứ kém hơn
c Về hình thức cấu tạo (ngữ pháp)
Trang 16Thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp của một cụm từ cố định (phân biệt với từ ghép, cụm từ tự do), có kết cấu bền vững, rất khó đảo tố.
Ví dụ: Rách nh tổ đỉa.
Trái lại hầu hết tục ngữ có cấu tạo của một câu
Ví dụ: Cá chuối đắm đuối vì con.
Khi bắt gặp những câu mà chúng ta không xác định đợc đó là thành ngữ hay tục ngữ thì chúng ta cần phải xem xét dồng thời cả ba tiêu chí trên
Để chốt lại nội dung sự phân biệt giữa hai đơn vị thành ngữ và tục ngữ, chúng tôi xin đợc nêu dẫn các định nghĩa trong từ điển chuyên ngành:
“Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động
nh một từ riêng biệt ở trong câu” [13, 310]
“Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền” [3, 377]
1.1.2.2 Phân biệt tục ngữ với ca dao
Tục ngữ và ca dao là hai đơn vị gần gũi và ít nhiều có liên quan đến nhau Cả hai đều là những đơn vị thông báo, trong tục ngữ và ca dao đều có những chủ đề: lao động; hôn nhân, vợ chồng; nhận xét về sự vật, con ngời; phê phán
Trang 17Bởi vậy, khi bắt gặp những câu tơng tự, chúng ta suy xét: nếu câu nào chứa nội dung thiên về lí trí, khuyên răn, nêu lên những hiện tợng phổ biến thì
đó là tục ngữ
Ví dụ: Nuôi lợn thì phải vớt bèo,
Lấy chồng thì phải nộp cheo cho làng.
Còn những câu không đơn thuần nhằm vào những nội dung khuyên răn hay nêu lên hiện tợng mang tính quy luật mà chủ yếu lấy nội dung đó làm điểm tựa cho cảm xúc thì đó là ca dao:
Ví dụ: Phải duyên thì dính nh keo,
Trái duyên chổng chểnh nh kèo đục vênh.
Xét ca dao trong tơng quan với tục ngữ, các nhà nghiên cứu văn học dân gian nh Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn đã xếp tục ngữ vào bộ phận “lời ăn tiếng nói của nhân dân”, còn ca dao thì đợc xếp vào “các thể loại trữ tình dân gian”
Trong diễn xớng dân gian cũng nh trong thực tế sử dụng, ta thấy tục ngữ
là những câu nói có vần vè, còn ca dao là những câu hát, bài ca Nếu nh tục ngữ thiên về lí trí, trí tuệ, đúc kết kinh nghiệm, triết lí thì ca dao thiên về tình cảm, biểu hiện lòng ngời
1.1.3 Đặc điểm chung của tục ngữ
1.1.3.1 Đặc điểm về nguồn gốc
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian ra đời từ rất sớm Theo Vũ Ngọc Phan (trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” Nxb KHXH,1998), tục ngữ xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết Ban đầu chỉ là những câu tục ngữ còn rất “thô sơ”, nội dung còn rất cổ, dùng bằng tiếng cổ
Từ khi tiếng Việt ra đời và là một thứ tiếng độc lập - Sử cũ Trung Quốc
Trang 18Thờng ở phía nam Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, phải phiên dịch
ba lần mới thông hiểu đợc tiếng nhau” Theo các nhà ngôn ngữ, thứ tiếng tối cổ của dân tộc ta do sự tiếp xúc giữa các dân tộc đã chịu ảnh hởng của các tiếng
ấn Độ, Mã Lai,Trung Quốc
Hiện nay chúng ta vẫn còn những câu tục ngữ có từ cổ:
.Con dại, cái mang.
Câu này có thể là rất cổ, nói đến thời mẫu hệ: những hành động của con, ngời mẹ chịu hoàn toàn trách nhiệm ( nó không giống câu “con h tại mẹ” để chỉ
những đứa con nhỏ đơc mẹ nuông chiều) Chúng ta không đoán đợc câu này xuất hiện vào thời kỳ nào mà chỉ biết nó là câu cổ cả về nội dung lẫn hình thức
Lại có câu : Con mống, sống mang.
nói đến thời phụ hệ: “mống”có nghĩa là nổi lên, làm một việc chống đối gì; còn
“sống” chỉ vào cha Câu này có nghĩa là: con làm việc gì thì cha phải chịu trách nhiệm
Việc đặt tục ngữ ra đời vào thời kỳ lịch sử nào chúng ta cha làm đợc Hiện thời chúng ta có thể sắp xếp những câu tục ngữ ra đời trớc thời Pháp thuộc(cổ đại),những câu tục ngữ ra đời trong thời kỳ Pháp thuộc(cận đại) và những câu tục ngữ xuất hiện từ cách mạng tháng Tám trở lại đây (hiện đại và đ-
- Những câu tục ngữ rút ra hoặc tách ra từ các sáng tác dân gian khác
- Những câu tục ngữ hình thành do con đờng dân gian hoá những lời hay
ý đẹp rút ra từ các tác phẩm văn học viết
Trang 19Trong ba nguồn hình thành nêu trên, nguồn chủ yếu là từ trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân.
1.1.3.2 Đặc điểm cấu tạo
Tục ngữ dù ngắn (4 tiếng: “Chó treo mèo đậy )” hay dài (20 tiếng: “Lng tôm tít, đít tôm càng, chân đi khắc khoẻ hai hàng, đợc nh lời ấy lạng vàng cũng mua ) ” đều gọi là một câu mang nội dung thông báo trọn vẹn, tức là có chủ đề, một tổ hợp ngữ nghĩa và một ngữ điệu nhất định
Phần lớn các câu tục ngữ gồm có hai vế:
Ví dụ: Chó treo / mèo đậy
Miệng bà đồng / lồng chim khớu.
Quan thấy kiện / nh / kiến thấy mỡ.
Cách cấu tạo của các vế theo luật cân đối cả về thanh lẫn ý:
Theo thống kê của Nguyễn Thái Hoà trong “Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc
và thi pháp” (Nxb KHXH, 1997) thì đa số tục ngữ đều có vần (số tục ngữ không vần chiếm tỉ lệ rất nhỏ 2%) Tục ngữ là loại tác phẩm nghệ thuật bắt đầu và kết thúc chỉ trong một câu nên vần trong tục ngữ đợc phân bố ngay trong câu
T B B T
Trang 20Dựa vào vị trí của vần, trong tục ngữ có các loại vần:
Ví dụ: Rồng vàng tắm nớc ao tù, ngời khôn ở với ngời ngu bực mình.
(loại vần này chỉ gặp trong trờng hợp câu tục ngữ có hình thức lục bát )
Vần trong tục ngữ có chức năng liên kết và phân tách cấu tạo, để liên kết
và phân tách ý nghĩa, đồng thời tạo ra sự hoà âm để dễ nhớ, dễ thuộc, dễ sử dụng
Trong tục ngữ, nhịp đóng một vai trò quan trọng, nó góp phần phân xuất thành phần cú pháp và thành phần ngữ nghĩa nhất là đối với những câu không vần (Cú kêu / cho ma ăn.).
1.1.3.3 Đặc điểm ý nghĩa
Tục ngữ là tấm gơng phản ánh, qua lời nói hàng ngày mọi biểu hiện của
đời sống dân tộc và quan niệm của nhân dân về lao động, về các hiện tợng lịch
sử xã hội, về đạo đức, tôn giáo, đợc thể hiện
Trang 21Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ cửa miệng cũng nh ngôn ngữ văn học một hình thức biểu hiện súc tích, giàu hình ảnh, do đó có tác dụng truyền cảm
và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên t tởng thâm trầm, những khái quát rộng rãi Những câu tục ngữ ngắn gọn ấy sẽ thay thế một cách có kết quả những lời thuyết lý dài dòng và dễ quên
Tục ngữ biểu hiện kinh nghiệm sống phong phú của nhân dân lao động, phản ánh tâm hồn dân tộc
Tục ngữ là tài sản tinh thần chung của dân tộc, trớc đây, hiện nay và mãi sau này tục ngữ vẫn mang một giá trị tinh thần to lớn đối với ngời Việt
1.1.4 Sử dụng tục ngữ trong giao tiếp ngôn ngữ
Tục ngữ có quan hệ mật thiết với hầu hết các lĩnh vực đời sống tinh thần
và vật chất của nhân dân Không phải ngẫu nhiên mà ở nớc ta cũng nh nhiều
n-ớc khác, các triết gia, các nhà văn lớn, các nhà hoạt động xã hội có tầm cỡ đều chú ý khai thác, vận dụng vốn tục ngữ của nhân dân (Arixtốt, Puskin, L.Tônxtôi, Targo, Lỗ Tấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh )
ở nớc ta, tục ngữ đợc sử dụng trong giao tiếp ở hầu hết mọi lứa tuổi, nghề nghiệp:
Nếu nh ở lứa tuổi thiếu niên hầu nh cha sử dụng tục ngữ nhng a thích cách nói vần vè thì đến lứa tuổi thanh niên, trung niên đã thờng xuyên sử dụng vào trong lời ăn tiếng nói hàng ngày; nhất là ngời già giàu kinh nghiệm thờng ít nói nhng đã nói là “chắc nh đinh đóng cột”, hay dùng tục ngữ vào việc răn dạy con cháu và khuyên bảo mọi ngời
Còn về nghề nghiệp, theo quan sát hàng ngày của chúng tôi, có những nghề buộc phải nói nhiều và nói hay, có những nghề không cần nói nhiều nhng
là môi trờng thích hợp sử dụng ngôn ngữ: nghề nông, nghề dạy học, nghề bán hàng, những ngòi làm nghề tuyên truyền vận động phong trào quần chúng,
Còn trong những hoàn cảnh giao tiếp nh thế nào thì tục ngữ thờng xuất hiện ? Có mấy trờng hợp sau:
Trang 22- Khi cuộc giao tiếp có vấn đề gay cấn, phải thơng lợng thuyết phục đối ợng hoặc là những trờng hợp tế nhị, khó thiết lập quan hệ, nói năng trở thành không mấy dễ dàng: đi hỏi vợ, thuyết phục những ngời nặng óc bảo thủ,
t Có những hiện tợng khó gọi tên cho thật đúng, thật sát bằng một từ thậm chí bằng một câu hay một đoạn nhiều câu trong khi ngời nói lại muốn tránh bày tỏ thai độ một cách lộ liễu, hay trong những tình thái của phát ngôn hoặc hàm ý cho ngời nghe tự suy ra mà hiểu thì ngời ta thờng sử dụng tục ngữ
- Thông thờng nhất là tục ngữ đợc dùng trong lí luận, kiến giải Chúng ta
có thể thấy trong các cuộc thoại, tục ngữ đợc dùng: làm các luận điểm chính; kết thúc một lập luận bằng một ấn tợng dễ nhớ; đa ra làm luận cứ mà không phải giải thích dài dòng
Sử dụng tục ngữ trong giao tiếp rất có hiệu quả Tuy nhiên có vài trờng hợp ngời sử dụng tục ngữ vì: lạm dụng tục ngữ, dùng quá lợng cần thiết; quá mức cần thiết về chất khiến ngời nghe bị xúc phạm, hiểu sai hàm ý của tục ngữ
Trong giao tiếp hàng ngày, tuỳ đối tợng và hoàn cảnh giao tiếp mà ngời nói sử dụng tục ngữ sao cho có hiệu quả
Khi gặp một câu tục ngữ ở ngời nói chuyện với mình, ngời nghe cảm nhận và phản ứng: lu ý, tập trung, tạo sự thông cảm với ngời nói khi ngời nói diễn đạt đúng ý mình và phát hiện ra hàm ý trong việc dùng tục ngữ ở phía ngời nói không tiện nói ra
Đối với nhà văn, việc vận dụng tục ngữ của nhân dân vào ngôn ngữ văn học một cách hợp lí và sáng tạo sẽ làm cho phong cách ngôn ngữ của họ càng thắm đợm phong cách ngôn ngữ nhân dân, làm cho tác phẩm của họ tăng thêm sức sống, đậm đà màu sắc dân tộc và gần gũi với tâm hồn quần chúng
Nh vậy, khi một câu tục ngữ đợc nói lên hoặc viết ra, ta thấy có bóng dáng của nhà thơ và nhà t tởng cùng nói và điều ấy không bao giờ cũ bởi trong mỗi chúng ta đồng thời có cả hai nhu cầu: khoái cảm thẩm mĩ và nhận thức cuộc sống
2 Lớp từ chỉ động vật trong tiếng Việt
Trang 23Lớp từ chỉ động vật là một trong những lớp từ cơ bản của tiếng Việt, bên cạnh những lớp từ khác nh lớp từ chỉ quan hệ thân tộc, lớp từ chỉ bộ phận cơ thể ngời, lớp từ chỉ đơn vị tính toán, đo lờng, v.v
1.2.1 Về ý nghĩa
Lớp từ chỉ động vật trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng trong cấu tạo và thể hiện ngữ nghĩa của phát ngôn có liên quan đến động vật Trong lời nói hàng ngày cũng nh trong các văn bản viết, chúng ta nhận thấy sự phong phú đa dạng của lớp từ này Có thể thấy sự giàu có của lớp từ chỉ động vật qua cách phân loại thành các nhóm sau:
1.2.1.1 Nhóm từ gọi tên động vật tự nhiên, hoang dã và nhóm từ gọi tên các động vật đợc con ngời thuần dỡng:
Động vật tự nhiên, hoang dã nh: voi, tê giác, chim, kiến, rắn, khỉ, rùa,
h-ơu, hổ, muỗi, cáo, sói, vợn, ong, cú, v.v
Động vật đợc con ngời thuần dỡng nh: trâu, bò, chó, gà, lợn, ngựa, lừa, mèo, vịt, dê, v.v
1.2.1.2 Theo môi trờng sống, ngời ta chia ra:
Động vật trên không nh: chim, chuồn chuồn, đom đóm, muỗi, quạ, sếu, sáo, chích choè, ong, buớm, v.v
Động vật trên cạn nh: trâu, bò, lợn, gà, chuột, rắn, giun, lừa, chó, kiến,
bọ cạp, cáo, vợn, khỉ, hổ, sói, voi, tê giác, mèo, dê, công, hơu, ngựa, tằm, v.v
Động vật dới nớc nh: tôm, tép, rơi, cá, cua, sứa, ếch, ốc, chạch, thờn bơn, trai, cáy, đỉa, v.v
Có tới hơn 135 từ gọi tên con vật (theo số liệu thống kê của Lê Tài Hoè
“Hình ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.” ( Đại học Vinh, 2002) Khi đa vào sử dụng, lớp từ này đợc phân chia một cách tỉ
mỉ với một số lợng từ phong phú
Trong hệ thống ngôn ngữ, lớp từ chỉ động vật này có khả năng kết hợp trực tiếp với các từ khác để thể hiện nội dung của phát ngôn
Trang 24Nh vậy có thể thấy rằng sự phong phú về số lợng, đa dạng linh hoạt trong cách sử dụng, lớp từ chỉ động vật chiếm một vị trí quan trọng, không thể thiếu trong lời nói hàng ngày.
1.2.2 Về nguồn gốc
Lớp từ chỉ động vật là một trong những lớp từ ra đời sớm nhất, từ khi con ngời tri giác đợc về vạn vật Theo dòng thời gian lớp từ này ngày càng mở rộng và phát triển hơn, số lợng và cách gọi tên động vật ngày càng phong phú
và đa dạng
Việt Nam là nớc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm; điều kiện này rất thuận lợi cho “cây”, “con” phát triển Vì vậy, động vật và thực vật nớc ta rất phong phú và đa dạng Con ngời nơi đây sống gắn bó chan hoà với thiên nhiên Thêm vào đó là quá trình thuần hoá động vật hoang dã trở thành vật nuôi trong gia đình Trong quá trình con ngời đối mặt với tự nhiên, nhiều muông thú đã in lại dấu ấn trong nhận thức của ngời Việt
Trong cuộc sống thờng nhật, ngời Việt đã quan sát đặc điểm về hình dáng, tập tính tự nhiên, các đặc điểm phẩm chất giống loài của từng con vật
và mối tơng quan giữa chúng, giữa con vật với con ngời Ngời dân Việt Nam đã
đa ra nhiều từ ngữ chỉ con vật, điều này thể hiện rõ trong tục ngữ tiếng Việt - một thể loại do nhân dân lao động sáng tác và lu truyền
1.2.3 Về cấu tạo
Lớp từ chỉ động vật trong tiếng Việt hầu hết có cấu tạo là từ đơn
Ví dụ: trâu, bò, lợn, gà, cá, hổ, voi, quạ, cáo, cua, cáy, ốc, ếch, tằm, đom
đóm, ba ba, tê giác, bồ câu,.v.v
Trong đó lại phân ra:
Từ gọi tên con vật là từ đơn - đơn tiết nh: trâu, bò, lợn, gà, cá, giun, chuột, chó, mèo, tằm, chấy, vọ, vạc, cóc, cò, tôm, tép, v.v
Từ gọi tên con vật là từ đơn- đa tiết ( thờng là hai âm tiết) nh: đom đóm,
ba ba, bồ câu, chuồn chuồn, bọ nẹt, cà cuống, bọ cạp, tê giác, bồ nông, tu hú, thờn bơn, dã tràng, thuồng luồng, châu chấu, nòng nọc, v.v
Một con vật lại có thể có những tên gọi khác nhau:
Trang 25Ví dụ: Để gọi tên con “hổ”: hổ, hùm, khái, ông ba mơi, ông kễnh,
Những từ chỉ động vật lại đi kèm với những từ chỉ bộ phận, đặc điểm, tính chất, của con vật đợc nhắc đến tạo nên hàng loạt từ liên quan tới từ gốc:
Ví dụ: “trâu”: trâu đen, trâu trắng, trâu cái, trâu cổ cò, trâu cày,
“chó”: chó huyền đề, chó nhà, chó chùa, chó làng,
Nh vậy, lớp từ chỉ động vật có một số lợng lớn, ra đời từ rất sớm, có cấu tạo chủ yếu là từ đơn và có khả năng kết hợp dễ dàng với các từ khác trong vốn từ tiếng Việt Đây là lớp từ có vị trí và vai trò quan trọng của tiếng Việt
Lớp từ chỉ động vật, ngoài việc hoạt động nh những lớp từ khác, còn tham gia vào trong cấu trúc và tạo nghĩa của tục ngữ Việt Nam với số lợng rất lớn Vì thế trong kho tàng tục ngữ của ngời Việt, có rất nhiều câu tục ngữ chứa
từ chỉ động vật
1.3 Văn bản khảo sát tục ngữ
Cuốn “Tục ngữ Việt Nam” ( Nguyễn Hoàng Lan su tầm, Nxb Thanh niên, 2001 ) có 3571 câu tục ngữ, chia ra thành 68 chủ đề nội dung Cụ thể nhsau:
9 Sạch bẩn, sức khoẻ, ốm đau, thuốc thang 25
Trang 26TT Chủ đề nội dung Số lợng câu
Trang 27TT Chủ đề nội dung Số lợng câu
40 Thật thà, ngay thẳng- gian dối 40
Trang 28TT Chủ đề nội dung Số lợng câu
Trang 29Chơng2Nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật
2.1 Kết quả thống kê và phân loại
Tục ngữ - một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dới hình thức những câu nói ngắn ngọn, súc tích, giàu vần
điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền
Ví dụ: Tre già măng mọc.
Chó treo, mèo đậy.
Quan thấy kiện nh kiến thấy mỡ
Không chỉ là một kho kinh nghiệm, kho tri thức vô cùng phong phú và quý giá, tục ngữ còn là một kho mĩ từ pháp, một kho kinh nghiệm sử dụng lời nói để tổng kết tri thức, diễn đạt t tởng rất lâu đời, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc của nhân dân
Tìm hiểu nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật, chúng tôi đã khảo sát ở
3571 câu tục ngữ có trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam” do tác giả Nguyễn Hoàng Lan su tầm Trong 68 chủ đề nội dung, có một số câu tục ngữ đợc sử dụng lặp lại, chúng tôi chỉ tính là một câu; còn đối với một số câu tục ngữ có những dị bản khác thì chúng tôi lựa chọn những câu tục ngữ gốc
Sau đây là số liệu thống kê về nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật và qua
đó chúng tôi đa ra một vài nhận xét cụ thể để chúng ta có cái nhìn khái quát và khách quan về vai trò của lớp từ chỉ động vật đối với cấu tạo và ý nghĩa của tục ngữ
2.1.2 Số liệu thống kê về nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật
Khảo sát 3571 câu tục ngữ, chúng tôi thống kê đợc 522 câu tục ngữ chứa
từ chỉ động vật (chiếm tỉ lệ 14,6%) Số lợng câu cụ thể ở từng chủ đề nh sau:
Trang 30TT Chủ đề nội dung Số lợng câu Tỷ lệ (%)
1 Kinh nghiệm lao động 59/522 11,30
19 Hoà thuận, tranh chấp, kiện cáo 8 1,53
Trang 31TT Chủ đề nội dung Số lợng câu Tỷ lệ (%)
28 Tiền bạc, của cải, nợ nần 6 1,15
32 Điều tất nhiên, sự nghi ngờ 6 1,15
Trang 32TT Chủ đề nội dung Số lợng câu Tỷ lệ (%)
58 Một số sự tích lịch sử và đặc điểm địa phơng 2 0,38
59 Vui - buồn, sớng - khổ,vinh- nhục 2 0,38
59 Vui - buồn, sớng - khổ,vinh- nhục 2 0,38
60 Tình thơng, sự thông cảm, sự giúp đỡ 2 0.38
61 Thật thà, ngay thẳng - gian dối 2 0,38
63 Sạch bẩn, sức khoẻ, ốm đau, thuốc thang 1 0,19
Có thể lý giải điều này nh sau:
Trong cuộc sống thờng nhật, hình ảnh các con vật nói chung và những con vật nuôi nói riêng đã ăn sâu vào nhận thức, tình cảm, trí tuệ, tâm linh ngời Việt Nhiều con trong vô số các con vật sống gần gũi với con ngời hoặc trong
Trang 33môi trờng tự nhiên núi rừng, biển cả, sông suối, đất đai đã để lại những dấu ấn không phai mờ trong tâm thức con ngời Các đặc điểm về hình dáng, tập tính tự nhiên, các đặc điểm phẩm chất, giống loài có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực, hoặc là những nét sóng đôi của những đặc điểm, phẩm chất ấy đợc ngời Việt nhận thức, đúc kết tích luỹ qua năm tháng, qua nhiều thế kỷ, thiên niên kỷ Những nhận thức và tình cảm ấy của con ngời đối với con vật vừa có dấu vết của quan hệ giữa con ngời với thiên nhiên, vừa có dấu vết của con ngời trong quan hệ xã hội; tất cả đều đợc phản ánh vào lời ăn tiếng nói hàng ngày, trong vốn từ tiếng Việt và đặc biệt rõ nét trong kho tàng tục ngữ.
2.1.2.2 Trong tổng số 68 chủ đề nội dung, nổi lên hai chủ đề có nhiều câu tục ngữ chứa từ chỉ động vật, đó là:
Thứ nhất: Chủ đề: Kinh nghiệm lao động“ ”: 59 câu/ 522 câu (chiếm 11,30% )
Thứ hai: Chủ đề: Con ng“ ời và cuộc sống :” 53 câu/ 522 câu (chiếm 10,15% )
Ta thử lí giải tại sao ở hai chủ đề nội dung này lại xuất hiện nhiều câu chứa từ chỉ động vật?
- Việt Nam là một nớc có vị trí địa lí nằm trong khu vực nắng lắm, ma nhiều, địa hình lại phong phú đa dạng (đồi núi, cao nguyên, đồng bằng ) và
đặc biệt là có nhiều sông suối Vì vậy, động thực vật ở đây có điều kiện để phát triển, dẫn đến các nghề chính là nghề nông (trồng lúa) và đánh bắt, chăn nuôi
- Do nghề trồng lúa nớc và chăn nuôi bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nên con ngời phải chú trọng tới các mối quan hệ giữa chúng, dẫn đến lối
t duy tổng hợp và biện chứng (tổng hợp có nghĩa là bao quát đợc mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng) Đó chính là đặc trng t duy của văn hoá gốc nông nghiệp mà nông nghiệp lúa nớc là điển hình Ngời Việt đã tích luỹ đợc một kho tàng kinh nghiệm hết sức phong phú thông qua quan sát các hoạt động, trạng thái tự nhiên của loài vật và đa vào các câu
tục ngữ có chủ đề Kinh nghiệm lao động“ ”:
Trang 34Muốn giàu nuôi trâu cái, muốn lụi bại nuôi bồ câu.
Ví dụ: Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà gại ổ
(Những thức ăn ngon nhất, ngời phụ nữ thời kỳ sung mãn nhất)
Chó treo, mèo đậy.
(Cách giữ thức ăn không cho chó mèo ăn vụng; có của phải biết cách giữ gìn, bảo vệ)
Cá tơi thì phải xem mang, ngời khôn xem lấy đôi hàng tóc mai.
(Mang cá có màu đỏ tơi là cá ngon, ngời khôn là ngời có hàng tóc mai dầy và
đen)
2.1.2.3 Những chủ đề nội dung có nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật ở mức độ trung bình (khoảng 13 – 18 câu) :
Chúng tôi xin đa ra một vài chủ đề cụ thể
Chủ đề Hôn nhân vợ chồng“ ” có 18 câu tục ngữ chứa từ chỉ động vật (chiếm 3,44% ) Tiêu biểu là những câu sau :
Làm ruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ.
Những ngời thắt đáy lng ong, vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Trang 35Gái có chồng nh rồng có vây, gái không chồng nh cối xay chết ngõng.
Chủ đề “Các tầng lớp thống trị và chống áp bức bóc lột” có 16 câu tục
ngữ chứa từ chỉ động vật (chiếm 3,06% ) Tiêu biểu là những câu sau :
Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu
Ví dụ : Rau nào sâu ấy.
Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết.
Đánh chó ngó chủ nhà.
Nh vậy, dù ở bất kỳ góc độ nào của cuộc sống, ngời Việt cũng có thể lấy những hình ảnh con vật để minh hoạ cho lời nói của mình Dù là nghĩa gốc hay nghĩa đợc mở rộng, nghĩa đen hay nghĩa bóng thì việc dùng từ chỉ động vật cũng là phơng thức lựa chọn tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất cho ý nghĩa của câu tục ngữ
2.1.2.4 Những chủ đề nội dung có ít câu tục ngữ chứa từ chỉ động vật hơn Tiêu biểu ở một số chủ đề :
Chủ đề: Anh, chị, em“ ” chỉ có một câu (chiếm 0,19% )
Ví dụ :
Khôn ngoan đá đáp ngời ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Chủ đề: Sự từng trải, thử thách” có 4 câu (chiếm 0,77% ).
Trang 36Gần sông quen cá, gần núi không lạ tiếng chim.
Chủ đề: Khen chê, th“ – ởng phạt– ” có 5 câu (chiếm 0,96% )
Ví dụ:
L ơn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
2.1.2.5 Trong tổng số 68 chủ đề nội dung, chúng tôi thống kê chỉ có hai chủ đề là tác giả dân gian không đa những từ chỉ động vật vào trong câu tục
ngữ Đây là một tỷ lệ rất nhỏ ( chiếm 2,9% ) Đó là chủ đề: Sinh sản“ ” và
tục ngữ chứa từ chỉ động vật chiếm tỷ lệ cao nhất Còn những chủ đề nh “Hôn nhân vợ chồng ; Các tầng lớp thống trị và chống áp bức bóc lột ; Tính chủ” “ ” “
quan ” có tỷ lệ ít hơn Với những chủ đề đi vào chi tiết cụ thể thì có số câu ít nhất Việc ngời Việt đa vào trong tục ngữ những từ, hình ảnh các con vật thật sự mang lại hiệu quả và ý nghĩa to lớn, nó đa tục ngữ về đúng với đặc trng của văn học dân gian - một thể loại văn học gần gũi, quen thuộc và thờng xuyên đi kèm với lời ăn tiếng nói của nhân dân, với những hình ảnh cụ thể, thân quen, khiến cho việc lu truyền, liên tởng và tiếp thu một cách dễ dàng
2.2 Cấu tạo và ngữ nghĩa của nhóm tục ngữ chứa từ chỉ
động vật
Nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật là một bộ phận của kho tàng tục ngữ Việt Nam Nhóm tục ngữ này chiếm một số lợng tơng đối lớn (522 câu/3571 câu, bằng 14,6%) và đóng một vị trí, vai trò quan trọng Nằm trong kho tàng tục ngữ nên nhóm tục ngữ chứa từ chỉ động vật cũng mang đặc điểm chung của tục ngữ nói chung cả về cấu tạo và nội dung ý nghĩa