2- Lập bảng từ láy dùng trong phần Tập đọc, và phần Từ ngữ vớinhững thông số về nguồn gốc, về tần số xuất hiện, về khuân hình cấu tạo.3- Khảo sát miêu tả vốn từ láy ở trong phần Tập đọc
Trang 1Mục lục
Chơng I: Một số giới thiệu chung Trang 10
II. Giới thiệu về văn bản khảo sát Trang 18
Chơng II: Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa
của từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4. Trang 19
I. Đặc điểm ngữ pháp của từ láy
II. Vai trò ngữ nghĩa của từ láy
Tài liệu tham khảo Trang 50
1. Danh sách từ láy trong phần Tập đọc Trang 51
2. Danh sách từ láy trong phần Từ ngữ Trang 57
Lời nói đầu
Từ láy là một lớp từ có giá trị đặc biệt, góp phần làm nên bản sắc củaTiếng Việt Với giá trị gợi ý, gợi hình, gợi cảm đặc biệt, từ láy đã thu hút
sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều ngời
Trang 2Dựa vào lý thuyết của Việt ngữ học chuyên sâu vào từ láy, đề tài nàykhảo sát từ láy trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 4 (dùng từ năm
1994 đến năm 2005) với mục đính tìm hiểu về lớp từ láy cung cấp cho họcsinh qua môn Tiếng Việt lớp 4
Từ các số liệu về lớp từ láy, khóa luận miêu tả, phân tích và nêu lênnhận xét về cấu tạo, về đặc trng ngữ nghĩa, về vai trò của chúng đối với họcsinh lớp 4
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi, đã đợc sự hớng dẫntận tình của thầy hớng dẫn - PTS Trần Văn Minh Chúng tôi cũng nhận đợc
từ các thầy cô giáo sự góp ý cụ thể sâu sắc
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến các thầycô giáo đã giúp đỡ để khóa luận này đợc hoàn thành
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài mặc dù đã cố gắng rất nhiều
nh-ng chắc chắn khônh-ng tránh khỏi sai sót Chúnh-ng tôi monh-ng nhận đợc góp ýthiết thực của qúy thầy cô
Đặc điểm của từ láy là sự hòa phối âm thanh trong các khuân hình cấutạo Nghĩa của từ láy thiên về giá trị gợi cảm, tợng thanh, có sức luyến láy
và gọi tên những trạng thái hoạt động nội tâm, hoạt động tinh thần của ngờiViệt Nam từ ngàn xa đến tận hôm nay và mãi mãi về sau
Từ láy đợc dùng nhiều trong thơ văn (đặc biệt trong thơ ca) Có thể nóirằng: các tác phẩm văn chơng là kho tàng lu giữ từ láy với những diện mạo
Trang 3khác nhau tùy theo tài năng của tác giả, tùy theo thể thể loại và nội dungmỗi tác phẩm.
Trớc đây, một số đề tài đã khảo sát hoạt động và tác dụng của từ láytrong các tác phẩm văn chơng (Trung đại, cận đại và hiện đại) Đề tài nàykhảo sát từ láy trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 4 (NXBGD 1994-2005) là xu hớng cần thiết để tìm hiểu học sinh tiểu hoc hiện nay đợc cungcấp một lớp từ láy nh thế nào, có giá trị ra sao, về mặt ngữ nghĩa là cầnthiết
II mục đích đề tài
Từ láy ra đời từ lâu, đợc dùng phổ biến trong Tiếng Việt để giao tiếp,
để t duy, để sáng tác văn thơ, để nghiên cứu giảng dạy
Chọn khảo sát từ láy ở hai phần Tập đọc và Từ ngữ (trong hai tậpsách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - NXBGD 1994) là việc cần làm Qua khảosát, khóa luận nhằm phản ánh số lợng, diện mạo và vai trò của lớp từ láy đ-
ợc cung cấp cho học sinh lớp 4 qua môn Tiếng Việt
Đề tài này có các nhiệm vụ sau:
1- Khảo sát tất cả các từ láy có trong hai phần Tập đọc và Từ ngữ,sách Tiếng Việt lớp 4 (tập 1, 2)
2- Lập bảng từ láy dùng trong phần Tập đọc, và phần Từ ngữ vớinhững thông số về nguồn gốc, về tần số xuất hiện, về khuân hình cấu tạo.3- Khảo sát miêu tả vốn từ láy ở trong phần Tập đọc sách giáo khoamôn Tiếng Việt lớp 4 (tập 1, 2) về cấu tạo, từ loại và vai trò ngữ pháp củachúng trong câu
4- Nhận xét cách sử dụng từ láy ở hai phần Tập đọc, Từ ngữ trong sáchgiáo khoa Tiếng Việt lớp 4
III Đối tợng nghiên cứu:
Đề tài này có đối tợng khảo sát là tất cả các từ láy với mọi diện mạo, tần
số của chúng đợc dùng trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 (trong phầnTập đọc) và tần số từ láy (trong phần Từ ngữ)
1 Phần Tập đọc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 gồm các bài sau:
Trang 4Ngµy khai trêng
CËu häc sinh giái nhÊt líp
ViÖt Nam th©n yªu
TrÇn §¨ng Khoa
Lª Nguyªn Long-Ph¹m Ngäc Toµn TrÝch (“Cuéc sèng vµ sù nghiÖp”)
§Æng HiÓn NguyÔn Khoa §iÒm Th¹ch Lam
Tó Mì NguyÔn §×nh Thi NguyÔn ThÕ Héi NguyÔn Bao
Vâ Qu¶ng
Vò Tó Nam Hoµng Trung Th«ng NguyÔn Phan H¸ch
Vò Trung Th«ng NguyÔn Th¸i V©n
Hµnh qu©n gi÷a rõng xu©n
Vên qu¶ Cï Lao s«ng
§Êt Cµ Mau
Ng« V¨n Phó
Hå Ph¬ng
Hå ChÝ Minh TrÇn Lª V¨n T« Ngäc HiÕn Thi S¸ch TrÇn ThuËn Minh Thôy Ch¬ng NhiÒu t¸c gi¶
Thiªn L¬ng
§oµn Giái
Lª Anh Xu©n
Vò §×nh Minh Mai V¨n T¹o
Trang 5Hồ Minh Hà
Vũ Thanh Sơn Trần Nguyên Đào Tô Hoài
Hoàng Trung Thông Nguyễn Minh Châu
Ma Văn Kháng Ngô Tất Tố
Lê Tấn Nguyễn Hoài Giang Ngọc Tân- Lê Quang Long
Đình Trung Quang Huy
Võ Nguyên Giáp
Tố Hữu Dơng Bá Trác
2 ở phần Từ ngữ, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 có các chủ đề từ ngữ sau:
Tiết Chủ đề
1 Thầy Trò
Trang 6Trong cuốn Ngữ Pháp Tiếng Việt (Tiếng-Từ ghép- Đoản ngữ), NguyễnTài Cẩn (1975) đã phát biểu ý kiến của mình về từ láy và miêu tả tỉ mỉ cáckiểu loại của từ láy Ông nêu rõ sự khác nhau giữa từ láy và dạng láy của
từ Theo ông, mặc dù đều là sản phẩm của phơng thức láy, những từ láy là
ở bậc từ, còn dạng láy của từ là đơn vị của bậc đoản ngữ
Đỗ Hữu Châu (“Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt” NXBGD, 1999) địnhnghĩa: “Từ láy là những từ cấu tạo theo phơng thức láy, đó là phơng thứclặp lại toàn bộ hay một phần hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị
có nghĩa Giao trình chấp nhận tiêu chí phân loại từ láy và dựa vào số lầntác động của phơng thức láy, dựa vào phần đợc láy lại trong âm tiết củahình vị cơ sơ và dựa vào trật tự trớc sau của hình vị cơ sở so với hình vị láykết hợp với tiêu chí sự khác nhau của cái bị thay đổi (sđđ-trang 41)
Hồ Lê (Mấy vấn đề cấu tạo từ của Tiếng Việt hiện đại” NXBKH-XH,1976) Miêu tả cấu tạo của từ láy trong những kiểu dạng cụ thể Tất cảnhững miêu tả này của các tác giả đều dựa trên quan điểm đồng đại
Trang 7Khảo sát về những từ láy đợc dùng (Trong một tác phẩm văn học cụ thểhoặc một thời kỳ xác định) có các tác giả sau:
Năm 1981, Trần Xuân Ngọc Lan đã thống kê từ láy trong “ ừ điển Latinh- Bồ Đào Nha” và một số văn bản văn xuôi về đề tài tôn giáo của thế
Việt-kỷ XVII Qua việc thống kê tác giả đã phác họa diện mạo của từ láy TiếngViệt ở thế kỷ đó, đồng thời rút ra những sự khác biệt về thanh điệu về vần
và rút ra tác dụng của từ láy đối với tác phẩm thơ cổ điển nói trên
Năm 1998, Đặng Thị Lan trong luận văn thạc sĩ của mình cũng đãnghiên cứu các loại từ láy trong thơ hiện đại và so sánh từ láy của hai tácgiả trong đề tài “Từ láy trong thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên”
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hà (2004) nghiên cứu “Từ láytrong ngâm khúc”
Khóa luận cũng đã miêu tả đợc số lợng, vai trò về mặt ngữ âm và ngữnghĩa của từ láy trong thể ngâm khúc
Nhìn chung các tài liệu đã đợc điểm qua ở trên đã giúp đỡ cho khóaluận của chúng tôi về nhiều mặt: về mặt quan niệm, về cách thức miêu tả,
về nhận xét, kết luận, về đối tợng khảo sát
Các công trình đi trớc đã ít nhiều giúp lựa chọn một số giải pháp khảosát từ láy phù hợp với mục đích đề tài chứ không cung cấp ngữ liệu cụ thể.Việc “Khảo sát từ láy trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 4” nóiriêng, sách giáo khoa tiểu học nói chung cha có ai khảo sát
3 Phơng pháp quy nạp dùng trong phần nêu lịch sử vấn đề liên quan đến
đề tài, biểu kết các chơng cũng nh phần kết luận của luận án
VI Dự kiến cáI mới của đề tài
Trang 8Cung cấp bức tranh toàn cảnh về lớp từ đã đợc dùng, cung cấp chohọc sinh lớp 4 thông qua sách giáo khoa Tiếng Việt lớp này.
Thống kê phân loại các từ láy ở các phần tập đọc và từ ngữ trongsách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 (hai tập)
Thấy đợc tác dụng của từ láy góp phần làm nên giá trị bản sắc củaTiếng Việt
Chứng minh từ láy mãi mãi còn giá trị trong văn học Việt Nam vớinhững ánh sắc âm thanh và ngữ nghĩa đặc trng của nó
VII Kết cấu của khóa luận
Để giải quyết tốt những mục đích và nhiệm vụ đề ra, khóa luận củachúng tôi, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, có hai chơng nội dung: Chơng I: Một số giới thiệu chung
Chơng II: Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ láy trong sáchgiáo khoa môn Tiếng Việt lớp 4
Chơng IMột số giới thiệu chung
Láy là một hiện tợng ngôn ngữ phong phú và đa dạng nhng cũng đầyphức tạp Nghiên cứu hiện tợng này tuy khó khăn nhng cũng đầy lí thú Từláy Tiếng Việt càng ngày càng thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều ngời
Nó không những đợc các nhà ngôn ngữ học trong nớc đề cập đến nhiều màcòn nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới bàn đến Sở dĩ nh vậy là vì từ láymang trong mình những đặc trng có tính chất loại hình của Tiếng Việt cũng
nh của các ngôn ngữ đơn lập ở Phơng Đông
Xung quanh khái niệm từ láy, từ trớc tới nay lớp từ này đã đợc gọi bằngnhiều tên khác nhau: từ lấp láy, từ láy âm, từ trùng điệp, từ ngữ kép phảnphúc, ngữ láy âm…
Rõ ràng với một hiện tợng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng nh từ láy, việcnhóm lại một cách tổng quát về nó là cần thiết
I Một số cách nhìn về từ láy
Trang 9Lịch sử ngôn ngữ học đã chứng kiến nhiều cách tiếp cận, nhiều cáchnhìn khác nhau đối với hiện tợng từ láy.
Một số tác giả đã bỏ khá nhiều công phu trong việc thu thập t liệu vàmiêu tả hoạt động của từ láy một cách khách quan và tỉ mỉ (tiêu biểu làM.B.Emeneau (1951), A.N.Babonova (1961), Đào Thản (1970), NguyễnPhú Phong (1977),…
Các tác giả đã có sự đóng góp qúy báu trong khi trình bày các sự kiện
và rút ra những quy tắc cụ thể của việc cấu tạo từ láy Các tác giả đó, ở mức
độ khác nhau, đã phác họa lên cho chúng ta một bức tranh chung về hiện ợng láy trong Tiếng Việt cũng nh trong ngôn ngữ khác
t-Một số tác giả xem xét lại hiện tợng láy trong cách nhìn từ góc độ của líluận ngôn ngữ học đại cơng L.Bloomfild (1933), Enida (1946), B.Pontier(1967),…Có thể lợc ra mấy xu hớng chính sau:
Sau L.Bloomfield, còn một số tác giả khác cũng theo quan điểm này:Enidal (1946) thuộc trờng phái ngôn ngữ học miêu tả Mỹ, đã gộp láy vàPhụ tố vào phơng thức phụ gia
Trong giới Việt ngữ học, Lê Văn Lý (1972) tuân theo quan điểm này
Ông gọi từ láy là “từ ghép phản phúc” trong cuốn “sơ thảo Ngữ pháp ViệtNam” (1972) ông viết “Láy là những từ đơn đợc lặp đi lặp lại trong nhữngyếu tố thành phần của chúng” Phải nói rằng những ý kiến trên đây gâykhông ít tranh cãi trong giới ngôn ngữ học Cho đến nay, cuộc bàn cãi xungquanh vấn đề này vẫn còn tiếp tục
Những từ láy nằm ở vị trí trung gian giữa cực có tính chất cú pháp vàcực có tính chất phi cú pháp Những từ này có quan hệ giữa các thành tốcủa chúng tơng ứng với một kết cấu cú pháp nào đó nhng đồng thời lại có
Trang 10một sự sai lệch nhất định so với quan hệ giữa các thành tố trong kết cấu cúpháp ấy.
Trong giới Việt ngữ học ở Việt Nam, Trơng Văn Chính và Nguyễn Hiến
Lê cũng có cách nhìn tơng tự
Trong cuốn “Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam” (1963), các tác giả viết:
“Chúng ta có nhiều từ hai âm, cũng có từ ba âm và từ bốn âm Tiếng đôi,tiếng ba, tiếng t gọi là kép trong ngôn ngữ của chúng ta, từ kép hai âmnhiều nhất, từ ghép ba, bốn ít hơn Dù hai, ba, bốn âm từ kép cũng chỉ diễntả ý đơn giản nh từ đơn” (Trang 62)
Vì thế, các tác giả thờng gộp láy với ghép và một khái niệm chung baoquát hơn gọi là “Từ ghép”
Khái niệm “Từ ghép” này gần nh tơng đồng với khái niệm từ ghép mànhiều nhà thơ Việt ngữ học vốn quen dùng Gần đây, có ngời còn cho rằng:
Từ láy âm là loại từ ghép trong đó có các thành tố trực tiếp kết hợp vớinhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm (Nguyễn Tài Cẩn (1975), trang 68).Nguyễn Văn Tu (1976) gọi chung những từ láy âm là từ ghép “Vì thựcchất, chúng đợc tạo ra bởi một từ tố với bản thân nó” (trang 68)
Nh vậy so với quan điểm trên, quan điểm này triệt để hơn bởi vìL.Bloomfield chỉ xếp “Từ trùng điệp” có biến đổi ít nhiều vể âm trongtiếng Anh vào từ ghép phi cú pháp thì các tác giả nói trên đều xếp vào hiệntợng ghép các kiểu từ trong Tiếng Việt
3. Coi từ láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trng hóa.
Quan niệm này có thể nhìn thấy trong truyền thống ngữ văn văn học củachúng ta cũng nh trong ngôn ngữ học thế giới
Trần Trọng Kim (1953), Đinh Trọng Lạc (1964) cho rằng: Láy là sự hòaphối ngữ âm, trong hiện tợng láy có sự chi phối của luật hòa âm, hòa thanh,
Hài hòa phụ âm đòi hỏi hơn một hình vị (Monpheme) có phụ âm nào đó
sẽ kéo theo một phụ âm tơng ứng khi cấu tạo từ (Lexeme)
Hiện tợng Pottier nêu ở trên rất giống hiện tợng láy nhng vấn đề cần bàn
là sự hòa ấy có giá trị ngữ âm không, hay nói cách khác là âm có nghĩa ở
đây có quan hệ gì với nhau không?
O.Jespersen trong nhiều công trình nghiên cứu của mình đã đi đến kếtluận “Giá trị biểu trng của âm có phạm vi ứng dụng rộng rãi từ sự môphỏng trực tiếp các âm tự nhiên cho đến sự biến đổi về lợng của một số từ
mà những từ ấy vốn không có giá trị biểu trng (“Ngôn ngữ”- trang 406).Phạm vi sử dụng giá trị biểu trng của âm thật rộng rãi Giá trị biểu trng nàykhông nhất thiết phải đi liền với hiện tợng hài âm, nhng một khi đã có hiện
Trang 11tợng hài âm thì dờng nh bao giờ cũng có giá trị tạo nghĩa tức là có giá trịbiểu trng hóa.
Vì vậy khi nói về giá tri biểu trng của âm, các tác giả luôn sử dụng dẫnliệu là từ láy
Muốn hiểu đợc hiện tợng của từ láy thì không thể không chú ý đến hiệntợng hài âm và giá trị biểu trng hóa của nó
Theo hớng đó, trong bài viết “Về những từ gọi là từ láy trong TiếngViệt” (1972), Hoàng Tuệ cho rằng “Từ láy nên đợc xét về mặt cơ trình cấutạo của nó nữa, chứ không chỉ về mặt cấu trúc mà thôi” Ông nhấn mạnh:
“Nên hiểu rằng láy là một phơng thức cấu tạo, những từ mà trong đó có sựtơng quan âm nghĩa nhất định, tơng quan ấy có tính chất tự nhiên, trực tiếpnhng tơng quan ấy tinh tế hơn nhiều và có thể nói là đợc cách điệu hóa Sựcách điệu ấy chính là sự biểu trng hóa ngữ âm Mối tơng quan này tạo rasắc thái biểu cảm gợi ý, giá trị của từ láy”
Nh vậy tác giả hiểu là từ láy khi có một sự hòa phối ngữ âm giữa nhữngyếu tố tơng ứng của các âm tiết Đó là “một sự hòa phối ngữ âm có tácdụng biểu trng hóa” (Hoàng Tuệ)
Cách nhìn này đã chú ý đến cả hai mặt âm và nghĩa, đến mối quan hệ
đặc biệt của hai mặt ấy
Nếu cách nhìn thứ nhất (xem láy là phụ tố, là ghép) chỉ xét từ láy về mặtcấu tạo thì cách nhìn thứ hai đã xét cả mặt cấu tạo lẫn mặt ý nghĩa Quanniệm này giải thích rõ: láy để làm gì? Vì sao cùng một tiếng gốc ngời ta lạitạo ra nhiều kiểu từ láy khác nhau?
Đồng thời cách nhìn này còn xem xét láy trong cơ trình cấu tạo và tronghành chức với t cách là một loại tín hiệu đặc thù của ngôn ngữ
4. Nguyễn Hữu Quỳnh Ngữ pháp tiếng Việt-NXB từ điển bách
Trong từ láy, một thành tố có thể có nghĩa từ vựng và một thành tố không
có nghĩa từ vựng, yếu tố có nghĩa từ vựng có thể đứng trớc hoặc đứng sau,(thí dụ: chim chóc, hay ho, nhấp nhô, lập lòe…) Hoặc cả hai thành tố đềukhông có ý nghĩa cấu tạo từ, thí dụ: đủng đỉnh, lon ton, lóng lánh, phauphau
Từ láy thờng xuất hiện trong danh từ, động từ, tính từ, nhất là trong tính
từ, (thí dụ: chuồn chuồn, cào cào, châu chấu, đu đủ, lạnh lẽo, đẹp đẽ, thâmthấp, mập mạp)
Mối quan hệ ngữ âm giữa các thành tố của các từ láy có thể tạo ra cho
từ tác dụng gợi tả về một trạng thái tâm lý, một cử chỉ, một hình dáng, mộthình ảnh nào đó Bởi vậy có những từ đợc gọi là từ tợng hình hay từ gợi
Trang 12hình (thí dụ: bâng khuâng, thớt tha, cheo leo, đủng đỉnh) Một bộ phận từláy tạo nên từ tợng thanh (thí dụ: ríu rít, róc rách, lịch bịch, lóc cóc, lộpbộp, răng rắc, sùng sục).
Nguyễn Hữu Quỳnh còn phân biệt từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận,
đồng thời đề cập đến vai trò của từ láy đối với văn học một cách khái quát
Từ láy và thành ngữ là những phơng tiện miêu tả rất hiệu quả trong vănhọc, nhất là thơ ca Nguyễn Hữu Quỳnh đã phân biệt từ láy với dạng láycủa một từ và hiện tợng dùng lặp một từ (sđđ, trang 102-103)
5. Nguyễn Tài Cẩn (Ngữ pháp Tiếng Việt- NXB ĐHQG Hà Nội, 1996) Quan niệm nh sau về từ láy:
Từ láy âm là loại từ ghép trong đó theo con mắt nhìn của ngời Việt hiệnnay, các thành tố đợc kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm.Quan hệ ngữ âm đợc thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự t-
ơng ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu đoạn tính (thành điệu) và yếu
tố đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần)
Về yếu tố âm đoạn tính: các thành tố trực tiếp phải tơng ứng với nhauhoặc phụ âm đầu (thí dụ: làm lụng, đất đai, mạnh mẽ, lảm nhảm, lác đác,lắc rắc)
Về yếu tố siêu đoạn tính: (các yếu tố nói chung phải có thanh thuộccùng âm vực: thuộc âm vực cao (thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc), ví dụ:hay ho, méo mó, lỏng lẻo, ngay ngắn; thuộc âm vực thấp (thanh huyền,thanh ngã, thanh nặng), ví dụ: dùng dằng, lụng thụng, lững thững, rầu rĩ,
đủng đỉnh, lục đục,…
Theo con mắt của ngời Việt hiện nay, nhiều tổ hợp vốn trớc đây thuộcvào kiểu ghép nghĩa, nhng hiện nay đứng trên diện đồng đại mà xét thì đãchuyển sang thành láy âm
Có hai trờng hợp chuyển từ ghép nghĩa sang láy âm:
Thứ nhất trờng hợp trong đó đã xảy ra song song đồng thời hai quá trình
bổ sung lẫn nhau: quá trình mất quan hệ ý nghĩa của kiểu ghép nghĩa vàquá trình hình thành quan hệ ngữ âm của kiểu láy âm
Ví dụ: trốc mào trục mào,
chóc mào chào mào
Thứ hai, là trờng hợp xảy ra một mình hiện tợng mất nghĩa mà thôi.nhng ở đây cũng có sự chuyển đổi từ ghép nghĩa sang kiểu láy âm là vìngay trong thời kỳ cha mất nghĩa, các thành tố đã mặc nhiên có sự tơngứng với nhau về mặt phát âm Do đó khi có thành tố mất nghĩa thì tự nhiênquan hệ nghĩa bị lu mờ và cái quan hệ ngữ âm có tính chất ngẫu nhiên kialập tức nổi lên hàng đầu, trở thành quan hệ chủ chốt
Ví dụ: đề huề, hỏi han, tuổi tác.
Xu thế chuyển đổi từ kiểu ghép sang kiểu láy âm hiện nay vẫn đang tiếptục diễn ra, nhất là trong phạm vi kiểu ghép gồm hai thành tố đẳng lập.Trong kiểu láy âm có khi cả mấy thành tố tự thân đang mang một ýnghĩa rõ rệt, (ví dụ: bơ vơ, lác đác, ba ba…)
Trang 13Nhng cũng có khi một thành tố tự thân đang mang một ý nghĩa rõ rệt,(ví dụ: bơ vơ, đất đai, làm lụng, đẹp đẽ…).
6. Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học Tiếng Việt, NXBGD, 2002) gọi
đơn vị từ láy của Tiếng Việt là ngữ láy âm
Ngữ láy âm là những đơn vị đợc hình thành do sự lặp lại có kèm theo
sự biến đổi nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa cógiá trị gợi cảm, gợi tả Hiện tợng láy không phải chỉ riêng Tiếng Việt màcòn nhiều ngôn ngữ khác trong vùng Đông Nam á (sđđ, trang 86-87) Tácgiả phân loại ngữ láy âm thành ngữ láy âm đơn nhất và ngữ láy âm môhình
7. Đỗ Hữu Châu (Từ Vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt-NXBGD, 1999).
Từ láy đợc cấu tạo theo phơng thức láy, đó là phơng thức lặp lại toàn bộhay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theohai nhóm gồm nhóm cao (thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngã, thanh nặng) củamột hình vị hay đơn vị có nghĩa
Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ Cầnchú ý đến tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng cáctiêu chí đó Giáo trình chấp nhận các tiêu chí phân loại từ láy: dựa vào sốlần tác động của phơng thức láy, dựa vào cái đợc giữ lại trong âm tiết củahình vị cơ sở và dựa vào trật t trớc sau của hình vị cơ sơ so với hình vị láykết hợp tiêu chí sự khác nhau của cái bị thay đổi (sđđ trang - 41)
Láy là phơng thứ cấu tạo từ đặc biệt của Tiếng Việt Mỗi từ láy là một
“nốt nhạc” về âm thanh chứa đựng trong mình một “bức tranh cụ thể củacác giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác” kèm theonhững ấn tợng về sự cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độcủa ngời nói trớc sự vật, hiện tợng, đủ sức thông qua các giác quan hớngngoại, và hớng nội của ngời nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ Cho nêncác từ láy là những công cụ tạo hình rất đắc lực của nghệ thuật văn họcnhất là thơ ca (sđđ - trang 54)
8. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (Ngữ văn Tiếng Việt-tập 1, NXBGD, 1992) cho rằng:
Có thể gọi từ láy là từ phức đợc tạo ra bằng phơng thức láy âm và tácdụng tạo nghĩa Để tạo ra nhạc tính cho sự hoà phối âm thanh đối với ngônngữ giàu nhạc tính nh Tiếng Việt, từ láy không đơn thuần là sự lặp lại âmthanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến đổi âmthanh nhất định dù là ít nhất, để tạo ra cái thế vừa khác nhau lại vừa giốngnhau Cái đó đợc gọi là thế vừa điệp vừa đối
Do vậy, với cấu tạo có điệp (chỗ lặp) mà không có đối (chỗ khác biệt)thì ta có dạng lặp chứ không phải từ láy Dạng lặp Tiếng Việt thờng có ýnghĩa “số nhiều” (điều khắp)
Ví dụ: ai ai, đâu đâu, ngời ngời (sđđ-trang51).
Trong Tiếng Việt thờng dùng từ láy bậc I và từ láy bậc II Từ láy bậc I
là từ láy do phơng thức láy đợc hình hiện lần thứ nhất tạo ra Thông thờng
đấy là từ láy hai tiếng tuy nhiên cũng gặp không ít từ láy bốn tiếng thuộcbậc I, (ví dụ: vội vàng, đẹp đẽ, sạch sành sanh, buồn thỉu buồn thiu…) Từ) Từ
Trang 14láy bậc II là từ láy đợc tạo ra do phơng thức láy đợc thực hiện lần thứ 2 đốivới một cái vốn đã là từ láy Trong trờng hợp này từ láy bậc I trở thànhphần gốc trong từ láy bậc II,
Ví dụ: mõm mòm mom, cuống cuồng cuồng, vội vội vàng vàng
(sđđ-trang 54)
Đáng chú ý là từ láy đôi (từ láy xét theo số lợng tiếng) chiếm vị trí quantrọng hàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lợng lớn, tuyệt đối mà chính là nóhội tụ đủ các đặc trng bản chất của hiện tợng láy xét ở mặt cấu tạo âmthanh cũng nh cấu tạo nghĩa Các tác giả đã chia ra từ láy bộ phận, từ láy
âm và từ láy vần Từ láy âm là kiểu nhỏ trong láy bộ phận Xét tác dụngcủa các bộ phận tham gia cấu tạo nghĩa của từ, từ láy đợc chia ra thành banhóm (chủ yếu nói về từ láy đôi), đó là từ láy phỏng thanh, từ láy sắc tháihóa, từ láy cách điệu
9. Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp Tiếng Việt, NXBGD, 1999) cho rằng :
Từ láy là những từ đợc cấu tạo dựa trên phơng thức láy ngữ âm (ví dụ:mấp mô, chon von, ngẩn ngơ) Tác giả dựa trên ba chỉ tiêu để phân loại từláy: căn cứ vào số lợng âm tiết (láy đôi, láy ba, láy t), căn cứ vào bộ phận
đợc láy (láy hoàn toàn và láy bộ phận) và căn cứ vào tính mô phỏng haykhông mô phỏng ý (từ tợng thanh, từ tợng hình và từ láy biểu trng) Tác giả
Đỗ Thị Kim Liên cũng đã chỉ ra đặc điểm của từ láy trong văn học nóichung
Ngoài những tác giả nói trên, còn nhiều tác giả khác nghiên cứu về từláy nh một lớp từ đáng quan tâm trong vốn từ Tiếng Việt
Nói chung các công trình nghiên cứu này đã cố gắng đi sâu vào miêu tả
từ láy, nêu định nghĩa, cơ sở phân loại, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động, vai trònói chung của từ láy trong văn học ở góc độ ngôn ngữ học, khi bàn về từláy, một số tác giả đã nêu lên tác dụng của từ láy đối với sáng tạo nghệthuật nói chung và văn thơ nói riêng Tuy nhiên dờng nh họ chỉ dừng lại ởmặt lý thuyết sơ lợc, chung chung, mang tính khái quát cha có mấy côngtrình nghiên cứu trực tiếp đặt ra vấn đề từ láy trong tác phẩm văn học thànhmột hệ thống hoàn chỉnh sinh động, đặc biệt là ít đi vào khảo sát trực tiếp
từ láy ở các bài thơ bài văn cụ thể
Căn cứ vào những nghiên cứu từ láy của các tác giả thì cách thứ ba đã đi
đến một sự khái quát hóa, quán xuyến cả về mặt cấu trúc và chức năng củahiện tợng trong trạng thái động Rõ ràng quan điểm thứ ba (“Láy là sự hòaphối ngữ âm có giá trị biểu trng hóa” dễ chấp nhận hơn cả Khóa luận nàylấy quan điểm đó làm cơ sở khoa học cho quá trình khảo sát từ láy trongnhững tác phẩm cụ thể của phần Tập đọc và phần Từ ngữ ở sách Tiếng Việtlớp 4 (tập 1, 2)
Trang 15II Giới thiệu về văn bản khảo sát
(Sách Tiếng Việt lớp 4 tập 1, 2)Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 tập 1, NXBGD có 34 bài tập đọc vớihai chủ đề:
Trang 16I đặc điểm của từ láy trong phần tập đọc
Láy là phơng thức cấu tạo từ trong đó có sự hòa phối âm giữa các tiếng,
có sự biểu trng hóa về nghĩa Có nhiều từ láy có chung khuân cấu tạo cómột số tơng quan âm nghĩa nhất định, chính sự tơng quan đó dới nhiềuhình thức khác nhau đã làm cho từ láy có sự gợi cảm lớn Nó không nhữnggợi ra những âm thanh tự nhiên mà còn gợi lên hình tợng độc đáo Từ láykhông những có giá trị gợi ý, mà nó còn làm cho ngời đọc, ngời nghe cảmthụ, hình dung một cách cụ thể tinh tế, sống động các màu sắc, âm thanh,hình ảnh, sự vật Từ láy có giá trị biểu cảm lớn, từ láy diễn tả thái độ tìnhcảm của ngời nói đối với sự vật, thuộc tính do ngời nói biểu thị khơi dậy ởngời nghe một thái độ đánh giá một tình cảm tơng ứng
Nắm bắt đợc những giá trị đó của từ láy, các nhà thơ, nhà văn đã sửdụng thành công các loại từ láy trong tác phẩm của mình
Từ láy đã làm tăng giá trị biểu đạt phong cách của mỗi tác giả và tạo nêndiện mạo riêng của văn thơ Việt Nam
1 Tiểu dẫn về lớp từ láy âm trong Tiếng Việt.
Lớp từ láy âm trong Tiếng Việt đã đợc nhiều tài liệu Việt ngữ đề cậptrong chơng trình môn Tiếng Việt ở trờng phổ thông, lớp từ láy này đợc đavào giảng dạy cho học sinh Trong giao tiếp ngôn ngữ hàng ngày, ngời Việtthích dùng từ láy vào câu nói để tạo nên sự cân đối, hài hòa, gợi cảm ở ngờinghe Từ láy không phải là một khái niệm mới, xa lạ với chúng ta Tuynhiên để hiểu về từ láy một cách đầy đủ, toàn diện, trớc khi đi vào khảo sáthoạt động của chúng trong các bài tập đọc, cân nhắc lại những kiến thức, líthuyết về từ láy âm đã đợc Việt ngữ học đúc kết
Trong “Từ điển từ láy Tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành chủ biên), cókhoảng 5000 từ láy đôi, láy ba Nh vậy từ láy âm có số lợng không nhỏtrong Tiếng Việt Trong các sáng tác nghệ thuật bằng ngôn từ, từ láy đợcdùng nhiều và có giá trị miêu tả rõ rệt, vậy từ láy âm là gì? Nó có những
đặc điểm ý nghĩa gì?
1.1 Khái niệm của từ láy.
Từ láy âm là từ gồm hai hoặc hơn hai tiếng, đợc cấu tạo theo phơngthức láy âm, đó là phơng thức lặp lại toàn bộ phần hình thức âm tiết (vớithanh điệu giữ nguyên hay biến đổi trong cùng nhóm) đợc xem là gốc
Ví dụ: Gọn gàng, đẹp đẽ, xinh xinh, hay ho, khấp khểnh, thấp
thoáng…
1.2 Phân loại từ láy âm Tiếng Việt.
1.2.1 Căn cứ vào số lợng âm tiết, có thể chia ra làm từ láy đôi và từ láy ba,
từ láy t
a Từ láy đôi là sản phẩm của lần láy thứ nhất: phơng thức láy tác độnglần đầu vào âm tiết gốc tạo ra từ láy đôi
Trang 17Ví dụ: Gọn Gọn gàng
Đẹp đẹp đẽHay Hay ho, hay hớm, hay hay
…
b Phơng thức láy cũng có thể tác động một lần vào một hình vị một âmtiết cho ta một từ láy ba âm tiết
Ví dụ: Sạch Sạch sành sanh
Tẻo Tẻo tèo teoDng Dửng dừng dng
c Tiếp đó phơng thức láy có thể tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi
để cho ta các từ láy âm bốn âm tiết
a Từ láy hoàn toàn gồm hai trờng hợp:
- Láy toàn bộ âm còn thanh điệu giữ nguyên
Ví dụ: Xanh xanh, xinh xinh, đâu đâu, xa xa, là là, tà tà, bùng bùng,
chuồn chuồn, …
- Láy toàn bộ âm và biến đổi thanh điệu
Ví dụ: Đo đỏ, tim tím, nho nhỏ, thoang thoảng, loang loáng.
b Từ láy bộ phận gồm hai trờng hợp:
- Láy vần:
Ví dụ: Lao xao, lim dim Lộp bộp, Lập bập, lập cập, là đà, lác đác,
líu díu, lè nhè, …
- Láy phụ âm đầu:
Ví dụ: Mênh mông, rì rào, lung linh, rì rầm, thấp thoáng, bay bổng,
dúm dó, nhăn nhở, khin khít, khăng khít
1.2.3 Căn cứ vào tính chất mô phỏng, hay không mô phỏng (biểu trng),
có thể chia từ láy ra ba loại:
a Từ láy tợng thanh: mô tả âm thanh trong tự nhiên với những mức độkhác nhau (mô phỏng gần đúng hay mô phỏng ít nhiều đã có sự cách
điệu hóa, tính võ đoán cao hơn)
Ví dụ: Êm êm, lao xao, lộp bộp, đì đẹt, tí tách, lách cách, lạch cạch,
cọc cạch, rúc rích
b Từ láy tợng hình: mô tả hình dáng, gợi hình ảnh con ngời sự vật
Ví dụ: Bâng khuâng, bát ngát, mênh mông, gồ ghề, khấp khểnh, chót
vót, cheo leo, khúc khuỷu, ngoằn ngoèo…
c Từ láy biểu trng: vừa biểu trng hóa về ngữ âm vừa chuyên biệt hóa
về ngữ nghĩa
Trang 18Ví dụ: Buồn bã, vội vàng, xấu xa, xót xa, lạnh lẽo, cô đơn, …
1.3 Đặc điểm của từ láy.
1.3.1 Đặc điểm tổng thể của kết cấu từ láy âm.
Kết cấu láy âm biểu thị ý nghĩa tổng thể của quá trình thuộc tính đợcbiểu thị bằng quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa hay cùng trờng nghĩa giữahai thành tố
Ví dụ: Cao cao, xanh xanh, lo lo, xa xa, sờ sợ…
1.3.2 Đặc điểm của thành tố
a Thành tố gốc có khả năng tách ra đứng độc lập và có khẳ năng kếthợp với thành tố khác khi điều kiện cho phép
Ví dụ: Lạnh (lẽo), (nho) nhỏ, (tim) tím, (đo) đỏ, xinh (xắn), (đèm)
Láy bộ phận có láy phụ âm đầu và láy vần
Ví dụ: Lúng liếng, thon thả, đủng đỉnh, nhã nhặn, mềm mại, cheo
leo, chon von, lăn tăn, lim dim, bát ngát…
1.4 Về ý nghĩa của từ láy.
Vì các từ láy hình thành do phơng thức láy tác động vào các hình vịcơ sở, cho nên ý nghĩa của các từ láy cũng hình thành từ ý nghĩa củahình vị cơ sở Do đó khi xét ý nghĩa của từ láy cần phải đối chiếu ýnghĩa của nó với ý nghĩa của hình vị cơ sở
Ví dụ: Để biết nghĩa của từ “Bối rối” cần đối chiếu với nghĩa của từ
“rối”
ý nghĩa của từ “bối rối”, “nhẹ nhàng”, … sắc thái hóa ý nghĩa hình
vị cơ sở “rối”, “nhẹ”, … Sắc thái hóa là điển hình của phơng thức láy.Nghĩa của từ láy biểu thị: Nghĩa mạnh hơn so với hình vị cơ sở
Ví dụ: Sạch sành sanh, cỏn còn con, dửng dừng dng, khập khà khập
khiễng, lù đà lù đù,…
- Nghĩa biểu thị nhẹ hơn
Ví dụ: Đo đỏ, tim tím, xa xa, trăng trắng, vàng vàng, cao cao, biêng
biếc,…
- Nghĩa có tính chất khái quát tổng hợp
Ví dụ: Cây cối, chim chóc, chùa chiền,…
- Nghĩa có phạm vi thu hẹp hơn so với nghĩa của hình vị gốc
Ví dụ: Xanh xao, (khác “xanh”), tim tím (khác “tím”), lạnh lẽo
(khác “lạnh”), đo đỏ (khác “đỏ”), trăng trắng (khác “trắng”)
Trang 19Trong văn chơng, từ láy đợc vận dụng khá phổ biến với tác dụngbiểu cảm và có giá trị gợi tả cao Các nhà văn, các nhà thơ đã dùng từláy nh một biện pháp nghệ thuật để mô tả âm thanh hình dáng sự vật,những tâm trạng cảm xúc của nhân vật cũng nh sự đánh giá của mình.
Ví dụ:
Rặng Liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
……
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy sơng mỏng manh
(Đây mùa thu tới-Xuân Diệu).Sông Đuống chôi đi
Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trờng kỳ
(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm)
2 Kết quả thống kê phân loại từ láy trong phần tập đọc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4.
II.1 Kết quả thống kê phân loại.
Chúng tôi khảo sát phần tập đọc (sách Tiếng Việt lớp 4) gồm 66 bài.Trong đó có thơ, văn xuôi, tục ngữ, ca dao, câu đố và thu đợc 256 từ láy với
Dạng đối thanh có 14 từ với 19 lợt dùng (chiếm 27,5%)
Có 205 từ láy bộ phận với 265 lợt dùng (chiếm 80,1%)
Từ láy bộ phận có cả nhóm từ láy phụ âm đầu và nhóm từ láy vần.Nhóm từ láy phụ âm đầu có 155 từ với 207 lợt dùng (chiếm 75,6%)
Nhóm từ láy vần có 50 từ với 58 lợt dùng (chiếm 24,4%)
Kết quả thống kê phân loại có thể tóm tắt qua bảng
Bảng 1: Các loại từ láy trong phần Tập đọc (Tiếng Việt lớp 4).
Các loại từ
láy Số từláy Tỉ lệ(%) dùngLợt Hệ số sửdụng Ví dụ
Bậc I 255 99,6% 331 1,3 Lộp bộpXinh xinh
Trang 20Bậc II 1 0,4% 1 1 Khập khiễng khập khàCộng 256 100% 332
Bảng 2: Các kiểu từ láy bậc I trong phần Tập đọc (Tiếng Việt lớp 4).
Kiểu láy Số từ láy Tỉ lệ (%) Lợt dùng Hệ số sửdụng Ví dụ
Hoàn toàn 51 19,9% 67 1,3
Rào ràoDầm dầnChuồn chuồn
Bộ phận 205 80,1% 265 1,3
Lim dimLon tonNhanh nhảu
vần 50 24,4% 58 1,2
Lấm tấmLim dim
Trang 21II.2 Các nhận xét định lợng về cấu tạo của từ láy trong phần Tập đọc
(Tiếng Việt lớp 4).
2.2.1 Từ góc độ số lợng hầu nh các từ láy đợc dùng ở phần Tập đọc sáchtiếng việt lớp 4 là loại láy bậc I (Từ láy đôi)
Từ láy bậc II chỉ có một từ: Khập khiễng khập khà (Từ láy t)
2.2.2 Từ bình diện cấu tạo chúng tôi thấy rằng trong các tác phẩm văn xuôi,thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố ở phần Tập đọc có đầy đủ hai kiểu cấu tạo khácnhau của từ láy: kiểu láy hoàn toàn và kiểu láy bộ phận Trong mỗi kiểu lại
có đủ các dạng láy
Kiểu láy hoàn toàn có hai dạng: Từ láy hoàn toàn điệp vần (điệp phụ âm
đầu, phần đầu và thanh) và từ láy hoàn toàn đối thanh (điệp phụ âm đầu vàvần, những khác nhau trong cùng nhấn bổng hoặc trầm
Kiểu láy bộ phận cũng có hai dạng: láy bộ phận vần còn gọi là từ láyvần (điệp khuôn vần và thanh điệu) nhng đối phụ âm đầu và láy bộ phận
đối vần còn gọi là láy phụ âm đầu (lặp âm đầu, đối khuôn vần)
Láy bộ phận điệp vần: Bát ngát, đột ngột, lim dim, lác đác
Láy bộ phận đối vần: Phập phồng, rộn ràng, lừng lững, ngây ngô…
Trong kiểu láy bộ phận có nhóm láy phụ âm đầu chiếm đa số (155 từtrên tổng số 256 từ láy trong phần tập đọc)
2.2.3 Qua kết quả thống kê, dạng từ láy phụ âm đầu có nhiều phụ âm đầu
có tần suất xuất hiện cao chẳng hạn
“t” : 28 từ
Ví dụ: - Con gà trống nhà ông Bảy hay bới bậy Nó có bộ mã khá đẹp
lông trắng, mỏ búp chuối, mào cờ, hai cánh nh hai vỏ chai úp, nhng lại hay
cứ làng nào ven sông Đến khi thấy thấp thoáng chỏm tháp nhọn vàng ngôi
chùa đỉnh núi Phu-xi, mới biết đấy là Luông pha bang
(Luông pha bang-Tô Hoài)
“n” “ 25 từ
Ví dụ: - Âu yếm nhanh nhảu
Ông vịn vai cháu!
(Thơng ông- Tú Mỡ)
- Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa layơn
màu đen nhung hiếm quý
(Đờng đi Sapa - Nguyễn Phan Hách)