Phục vụ tốt yêu cầu của cuộcsống hằng ngày, lao động sản xuất và chiến đấu.Đối với học sinh THPT việc tập luyện môn nhảy cao, trong đó cónhảy cao nằm nghiêng giúp các em rèn luyện phát t
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao là hoạt động không thể thiếu trong đời sống vănhóa xã hội loài người Ngay từ khi mới ra đời TDTT là một bộ phận hữu cơcủa nền văn hóa xã hội và là một phương tiện giáo dục TDTT còn mangđầy đủ tính lịch sử, giai cấp, tính bản sắc dân tộc Vì vậy thông qua TDTT
mà ta có thể đánh giá được sự phát triển của văn hóa thể chất ở mỗi địaphương, dân tộc, quốc gia
Trong những năm gần đây phong trào luyện tập TDTT phát triểnmạnh mẽ trong cả nước Các cơ quan, doanh nghiệp, các địa phương vàđặc biệt là trong các trường học trên toàn quốc ngày càng dành nhiều sựquan tâm hơn tới vấn đề luyện tập TDTT của đơn vị mình Cùng với sự pháttriển của xã hội các hình thức tập luyện TDTT cũng đa dạng, phong phú vềcác môn như: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, điền kinh
Trong hệ thống các môn TDTT thì điền kinh là một trong nhữngmôn đựơc nhiều người ưa thích tập luyện bởi nó là bộ môn rất gần gũi vớihoạt động hàng ngày của con người như đi, chạy, nhảy mặt khác nó làmột môn cơ bản, dễ học, dễ tập luyện, cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyệnkhông phức tạp Tập luyện điền kinh không chỉ có tác dụng nâng cao sứckhỏe mà còn là phương tiện để phát triển tất cả các tố chất thể lực giúp conngười phát triển toàn diện Điền kinh bao gồm nhiều môn thi đấu trong đónhảy cao là một nội dung tập luyện và thi đấu phổ biến rộng rãi từ trungương tới địa phương
Nhảy cao nói chung và nhảy cao kiểu nằm nghiêng nói riêng là mộttrong những môn học cơ bản trong chương trình đào tạo ở trường THPT,phương tiện tập luyện đơn giản được đông đảo đối tượng học sinh sinh viêntham gia tập luyện Tuy nhiên thành tích nhảy cao nằm nghiêng của họcsinh - sinh viên so với khu vực và thế giới còn nhiều hạn chế
Nhảy cao có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động của nội tạng, pháttriển các tố chất như sức bật, sức nhanh, sự khéo léo Không chỉ vậy nhảycao nằm nghiêng còn có tác dụng rèn luyện tinh thần dũng cảm, khắc phục
Trang 2khó khăn vợt qua những chướng ngại vật Phục vụ tốt yêu cầu của cuộcsống hằng ngày, lao động sản xuất và chiến đấu.
Đối với học sinh THPT việc tập luyện môn nhảy cao, trong đó cónhảy cao nằm nghiêng giúp các em rèn luyện phát triển các tố chất như:Sức nhanh, sức mạnh, độ mềm dẻo, tính linh hoạt Vì vậy trong giảng dạy
áp dụng những bài tập nhằm nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng làviệc làm cần thiết, quan trọng và nó góp phần làm phong phú thêm phươngtiện giáo dục thể chất trong trường phổ thông
Ở nước ta việc áp dụng các phương pháp, phương tiện tập luyện tiêntiến vào giảng dạy và tập luyện cũng như việc nghiên cứu lựa chọn các bàitập để ứng dụng vào tập luyện còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhânnhư: cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên môn của giáoviên chưa cao Điều đó đã ảnh hưởng không tốt tới chất lượng giảng dạy
và tập luyện, làm cho chất lượng giáo dục thể chất ở trường phổ thông còngạp nhiều hạn chế
Xuất phát từ thực tế nêu trên vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu đưa ramột số bài tập phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao thành tích mônnhảy cao nằm nghiêng trong chương trình giảng dạy ở các trường phổthông Xuất phát từ mục đích nêu trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
"
Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A1 trường THPT Hoàng Mai"
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập trong chương trình giảng dạy
kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT Hoàng Mai
2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập trong môn nhảy
cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A1 trường THPT Hoàng Mai
Trang 3Chương 1:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDTC
Trong những năm gần đây phong trào tập luyện thể dục thể thao pháttriển mạnh mẽ Đặc biệt là thế hệ trẻ học sinh - sinh viên Là một nước xãhội chủ nghĩa đang chuyển mình toàn diện về mọi mặt để phù hợp, thíchứng với xu thế phát triển của nhân loại Vì vậy, Đảng và Nhà nước rất quantâm đến sự phát triển thể chất cho mọi người, đặc biệt là học sinh - sinh
viên Các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước luôn đánh giá “Công tác giáo
dục thể chất cho thế hệ trẻ là một mặt quan trọng không thể thiếu được trong giáo dục và đào tạo”.
Ngày nay, với quan điểm giáo dục toàn diện về “Đức, trí, thể, mỹ”
trong đó giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ, là yêu cầu tất yếu, là nộidung quan trọng của quá trình giáo dục thế hệ trẻ, bởi xét về góc độ nào đóthì giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm tăng cường bảo vệ sứckhoẻ cho mọi người Đặc biệt là học sinh THPT, những chủ nhân tương laicủa đất nước Với chiến lược phát triển con người toàn diện thì việc tậpluyện thể dục thể thao chiếm vị trí quan trọng ở mỗi cấp học
Theo chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư TW Đảngcộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thểdục thể thao là hình thành nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, gópphần nâng cao sức khoẻ, thể lực đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần củanhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thểthao quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam Á
Đối với bộ môn điền kinh, trong các cuộc thi đấu thể thao đây là mộttrong những môn thế mạnh của nước ta trên các đấu trường quốc tế, ở mỗi
Trang 4nội dung chúng ta đều có những VĐV đạt nhiều huân huy chương như:VĐV Thu Lan đạt HCV môn nhảy xa tại sea game 21, VĐV Trương ThanhHằng đạt huy chương vàng chạy 1500m nữ tại Sea game 24 Và ở mônnhảy cao chúng ta cũng tự hào khi VĐV Bùi Thị Nhung đạt HCV nhảycao giải Điền kinh ngôi sao Châu Á, diễn ra tại Bhopal Ấn Độ năm 2009
Để có được kết quả rèn luyện giáo dục thể chất toàn dân, toàn diện phụthuộc vào sự cố gắng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân đặc biệt là những nhàkhoa học, những người hoạt động trong công tác thể dục thể thao
1.2 Cơ sở lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng học sinh nam lớp 10 tại trường THPT Hoàng Mai
Trong tập luyện thể dục thể thao nói chung và tập luyện môn nhảy
cao nằm nghiêng nói riêng thì vấn đề yếu tố thể lực được đặt lên hàng đầu
và giữ vai trò quan trọng Nhảy cao nằm nghiêng là một hoạt động vừa cótính chu kỳ và không có chu kỳ, có tác dụng nâng cao năng lực hoạt độngcủa cơ thể, phát triển các tố chất như sức nhanh, mạnh bền, khéo léo…Trong tập luyện môn nhảy cao nằm nghiêng tố chất thể lực thể hiện rõ vớihoạt động dùng sức mạnh bột phát để đưa cơ thể đi cao nhất Để làm đượcđiều đó việc huy động các tố chất nhanh, mạnh, bền, khéo léo trong từnggiai đoạn của nhảy cao nằm nghiêng là điều hết sức quan trọng Nhưng yếu
tố cốt lõi cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho kết quả thực hiện vẫn là việcchuẩn bị thể lực, trong đó tố chất nhanh, mạnh, bền là những yếu tố quantrọng nhất Để đánh giá vai trò của các tố chất đó trong nhảy cao nằmnghiêng chúng ta phải hiểu được bản chất của từng tố chất đó
1.2.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh
Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ.Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:
- Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ
Trang 5- Chế độ co của đơn vị vận động (sợi cơ) đó.
- Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co
Khi số lượng cơ là tối đa các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng vàchiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa,lực đó gọi là sức mạnh tối đa Sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc và sốlượng sợi cơ và tiết diện ngang (độ dày) của các sợi cơ
Thực tế sức mạnh cơ của con người được đo khi cơ co tích cực, tức
là có sự tham gia của ý thức Vì vậy sức mạnh đó thực tế là sức mạnh tíchcực tối đa
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh
+ Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi
• Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ học làcácyếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh, hoàn thiện kỹ thuật động tác làtạo điều kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ
• Độ dày (tiết diện nang của cơ): Khi độ dày của cơ tăng thì sức mạnhcũng tăng Tăng tiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực gọi là phì đại cơ
• Đặc điểm các loại sợi cơ chứa trong cơ: tỷ lệ các loại sợi chậm(nhóm I) và nhanh (nhóm II - A, II - B) chứa trong cơ
+ Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợpgiữa các sợi cơ và cơ trước tiên là khả năng, chức năng của nơron thầnkinh vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao
- Cơ chế cải thiện sức mạnh: Cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh là
tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là cácđơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn
Nhiệm vụ trong giáo dục sức mạnh nói chung là phải phát triển toàndiện các loại sức mạnh: Sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh bột phát… sử dụng
Trang 6hợp lý trong các điều kiện khác nhau Vì thế, trong khi lựa chọn các bài tập hayphương tiện khác để giáo dục sức mạnh thì phải tạo ra được sự căng cơ tối đa.
1.2.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh
- Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gianngắn nhất Nó là tố chất tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành là: Thời gian phảnứng, thời gian của động tác riêng lẻ và tần số hoạt động
- Các yếu tố ảnh hưởng tới sức nhanh:
+ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh: thể hiện biến đổi nhanhchóng giữa hưng phấn và ức chế trong trung tâm thần kinh, ngoài ra độ linhhoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các dâythần kinh ở ngoại vi
+ Tốc độ co cơ: phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơchậm trong cơ Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II
- A có khả năng tốc độ cao hơn
- Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh.
Trong TDTT để phát triển sức nhanh cần lựa chọn những bài tậpgiúp tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâmthần kinh và bộ máy vận động, tăng cường phối hợp giữa các sợi cơ và các
cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Chọn những bài tập tần số cao trọng tảinhỏ,thời gian nghỉ dài
1.2.3 Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền
- Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó haynói cách khác sức bền là một khái niệm chuyên biệt thể hiện khả năng thựchiện lâu dài một hoạt động chuyên môn nhất định
- Sức bền đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lựckéo dài liên tục từ 2 - 3 phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ
Trang 7bắp lớn (từ 1/2 toàn bộ cơ bắp của cơ thể) nhờ sự hấp thụ O2 để cung cấpnăng lượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí Nhưvậy, sức bền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắptoàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính chất ưa khí.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới sức bền: Sức bền không chỉ phụ thuộc
vào tiềm lực năng lượng của con người mà còn phụ thuộc vào việc biếtcách dự trữ năng lượng một cách tiết kiệm
- Cơ chế cải thiện sức bền: Cơ sở của phương pháp huấn luyện sức
bền hệ cơ là phát triển sức bền trong sự phát triển lực của hệ cơ Vì thế pháttriển sức mạnh của cơ bắp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao thànhtích những môn thể thao đòi hỏi sức bền hệ cơ
Biện pháp nhằm làm tăng sức bền:
+ Cần loại bỏ co cơ thừa không năng suất và sự căng thẳng
+ Cần giảm bớt động tác thừa, không hiệu quả
+ Sử dụng năng lượng được hồi phục
+ Phải lựa chọn cường độ vận động tối ưu về mặt tiết kiệm
+ Cần thực hiện sự chuyển đổi vận động tối ưu
1.3 Các yếu tố quyết định đến thành tích nhảy cao
Theo cơ học, độ cao khi bay của một vật được bắn trong không gian hợpvới mặt phẳng nằm ngang một ngang một góc Được tính theo côngthức:
2 2
0 sin 2
V H
Trang 8Trong thực tế môn nhảy cao, để đưa cơ thể vượt qua xà ở mức độ nào đóthì độ cao của trọng tâm cơ thể được tính theo công thức trên Qua công thứctrên, ta thấy độ cao của tổng trọng tâm cơ thể khi bay ở tỷ lệ thuận với độ lớn củagiá trị V0 vàsin2 và tỷ lệ nghịch với gia tốc rơi tự do g ( g là hằng số khôngđổi ) cho nên hai yếu tố V0 và quyết định trọng tâm của cơ thể khi bay, độ caonày quyết định đến thành tích lần nhảy Ngoài ra độ cao của trọng tâm cơ thể khibay còn phụ thuộc vào độ cao của trọng tâm cơ thể trước khi bay dẫn đến sự thayđổi của trọng tâm cơ thể khi bay Độ cao đó được tính theo công thức sau :
2 2 0
0
sin 2
Trang 9Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 30 học sinh nam lớp 10A1 trường THPT Hoàng Mai Chia 2 nhóm: + 15 học sinh thuộc nhóm đối chứng
+ 15 học sinh thuộc nhóm thực nghiệm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Khi xác định hướng nghiên cứu mảng đề tài này chúng tôi tìm hiểu,thu thập các tài liệu có liên quan Qua đó chúng tôi chắt lọc, ghi chép, đánhdấu những nội dung cần thiết để đưa ra các giả định hay kết luận quantrọng giúp chúng tôi tìm hiểu hoàn thành đề tài
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Trong quá trình thực tập tại trường, chúng tôi sử dụng phương phápquan sát sư phạm, dự giờ của các thầy cô giáo trong môn điền kinh, đặcbiệt là quá trình học nhảy cao nằm nghiêng Qua đó, chúng tôi rút ra nhữngkinh nghiệm thực tiễn kết hợp với lý luận để xác định áp dụng bài tập hợp
lý nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn nhảy cao nằm nghiêng
2.2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Trong quá trinh nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng phương pháp điềutra phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, giáo viên thể dục, huấn luyện viêncác sở TDTT, học sinh Từ đó bổ sung thêm các dữ liệu cần thiết loại bỏ
Trang 10những vấn đề chưa phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi, xác định hiện trạngvấn đề nghiên cứu.
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm được tiến hành theo hình thức thực nghiệm song songtrên 2 nhóm đối tượng:
+ Nhóm thực nghiệm ( nhóm TN ): gồm các học sinh được tập luyệntheo giáo án do chúng tôi xây dựng
+ Nhóm đối chứng (nhóm ĐC): gồm các học sinh được tập luyệntheo giáo án bình thường của trường THPT
- TTCB: Hai chân đứng rộng bằng vai, 2 mũi bàn chân hướng về
phía trước thân người đứng thẳng tự nhiên
- Cách thực hiện: Từ tư thế chuẩn bị người tập khuỵu gối hạ thấp trọng
tâm, góc giữa đùi và cẳng chân 1200 -1300, thân người gập ở khớp hông,người hơi đổ về trước, trọng tâm dồn đều vào 2 chân, 2 tay vung ra sau Sau
đó, duỗi các khớp hông, khớp gối, cổ chân tác dụng xuống mặt đất với 1 lựclớn nhất nhanh chóng bật ra trước, lên cao Khi chuẩn bị chạm đất với dài 2chân ra phía trước đồng thời đánh tay từ trên xuóng dưới, từ trước ra sau
- Cách đánh giá: Thành tích tính bằng khoảng cách từ điểm bật đến điểm
rơi gần nhất của cơ thể Bật 2 lần lấy lần có thành tính cao nhất Đơn vị đo: cm
Trang 11Test 2: Bật cao tại chỗ
+ TTCB: Người đứng thẳng sát với bờ tường không kiễng gót và đưa
tay giơ lên cao rồi đánh dấu ở điểm tay với cao nhất vào bờ tường
+ Cách thực hiện: Từ tư thế chuẩn bị người tập khuỵu gối hạ
thấp trọng tâm, góc độ giữa đùi và cẳng chân từ 110 – 120 độ, thânngười gập ở khớp hông, người hơi ngả về trước, trọng tâm dồn đềuvào 2 chân, 2 tay đưa ra sau Sau đó nhanh chóng nhanh chóng bậtlên cao vươn tay với tới điểm cao nhất có thể trên bờ tường
+ Cách đánh giá: Thành tích được tính bằng khoảng cách từ điểm tay
với được trước lúc bật nhảy đến điểm tay với được sau khi bật nhảy đã đượcđánh dấu vào bờ tường, đơn vị (cm) thực hiện 2 lần lấy thành tích cao nhất
Test 3: Chạy 30m xuất phát cao
- TTCB: Đứng chân trước chân sau, thân người hơi đổ về trước,
trọng tâm cơ thể dồn vào chân trước
- Cách thực hiện: Khi nhận được tín hiệu người tập nhanh chóng
chạy hết cự ly 30m với tốc độ tối đa
- Cách đánh giá: Thành tích tính bằng thời gian chạy hết cự ly trên
đơn vị giây, chạy 1 lần và lấy thành tích
Test 4: Thực hiện toàn bộ kỹ thuật nhảy cao.
- TTCB: Đứng tư thế chân trước chân sau người hơi ngã về sau,
trọng tâm dồn về chân sau
- Cách thực hiện: Chạy với tốc độ hợp lý giậm nhảy qua xà cao.
- Cách đánh giá: Cho đối tượng nghiên cứu nhảy tới mức xà cao
nhất có thể, mỗi mức xa nhảy 3 lần Lấy thành tích cao nhất
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp này để
xử lý số liệu, đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng các bài tập mà chúng tôilựa chọn gồm các công thức:
Trang 12- Công thức tính trung bình cộng: 1
n i i
X X
X X n
X X n
B
X Là giá trị trung bình của nhóm thực nghiệm
nA, nB là số người của 2 nhóm
- Nếu Ttính > Tbảng thì sự khác biệt có ý nghĩa
- Nếu Ttính < Tbảng thì sự khác biệt không có ý nghĩa
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Trường THPT Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An
- Trường Đại Học Vinh
Trang 132.4 Thiết kế nghiên cứu
Với đề tài này trước hết tôi tìm hiểu quan điểm của Đảng, nhà nước vềTDTT và thực trạng về vấn đề mà mình đang tìm tòi, nghiên cứu Sau đóchúng tôi sẽ xây dựng hệ thống bài tập phát triển thể lực, bài tập bổ trợ kỹthuật nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng và xây dựngđược kế hoạch giảng dạy cụ thể cho từng tháng, từng tuần và từng tiết học
Để đánh giá được hiệu quả của việc làm trên chúng tôi đã có những testkiểm tra đánh giá trước và sau thực nghiệm đối với cả 2 nhóm đối chiếu vàthực nghiệm để khẳng định hiệu quả của công việc mà chúng tôi đặt ratrước đó Từ kết quả thu được trước và sau thực nghiệm giúp chúng tôi có
cơ sở rút ra được những kết luận kiến nghị hợp lý và thiết thực
Và trình tự xây dựng đề tài đựơc trình bày chi tiết qua mô hình sau:
Chương 3:
HS nam trường THPT Hoàng Mai
Test kiểm tra
Nhóm TN(n = 15)
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 14KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Giải quyết mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập trong chương trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT Hoàng Mai
Để có thể tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác giảng dạy kỹthuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho hoc sinh lớp 10 tại trường THPTHoàng Mai chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp sau
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
3.1.1 Thực trạng giáo dục thể chất ở trường THPT Hoàng Mai
Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện trong nhà trườngphổ thông, nó có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ, nâng cao sức khoẻ thểlực cho học sinh, chuẩn bị cho người lao động trong tương lai đáp ứng yêucầu của sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
Với mục tiêu “Khoẻ để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,
“khoẻ để chinh phục đỉnh cao tri thức” giáo dục thể chất đã góp phần trang
bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng để rèn luyện sức khoẻ, góp phầngiáo dục đạo đức, ý chí và xây dựng lối sống lành mạnh, đồng thời giúphọc sinh giải toả những căng thẳng do thiếu vận động tạo nên Song côngtác giáo dục thể chất học đường nói chung và giáo dục thể chất trongtrường THPT nói riêng vẫn còn là mối day dứt, lo âu của nhiều nhà khoahọc chuyên ngành Thực tế thấy rằng từ trước đến nay giáo dục thể chấtvẫn được xem là môn phụ ở các trường phổ thông Bởi nó không thuộc cácmôn văn hóa và không phải là môn thi tốt nghiệp Sự quan tâm và đầu tưđối với giáo dục thể chất cũng chưa đầy đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy vàtập luyện vẫn còn nhiều thiếu thốn Hiện nay, hầu hết tất cả các trường họctrong cả nước học sinh học môn thể dục ngoài sân Nếu mưa các em phảinghỉ vì điều kiện sân bãi chưa thực sự tốt và được đầu tư đúng mức Hơn
Trang 15thế nữa việc đầu tư trang thiết bị phục vụ cho học tập và tập luyện cònthiếu thốn.
Đánh giá về thực trạng giáo dục thể chất trong trường học các tác giả
Vũ Đức Thu, Nguyễn Kỳ Anh nhận xét "Công tác giáo dục trong nhà
trường còn chưa có nề nếp, nhà trường còn chưa tiến hành giảng dạy theo đúng chương trình, hiện tượng bỏ giờ, cắt xén nội dung và thời gian còn mang tính phổ biến thường xẩy ra ở nhiều trường Hoạt động thể dục thể thao quần chúng còn nghèo nàn, thiếu kế hoạch, chưa lôi cuốn được học sinh tham gia".
Trường THPT Hoàng Mai có tổng cộng 7 giáo viên giảng dạy bộmôn GDTC và 100% đều là giáo viên tốt nghiệp các trường đại học chínhquy trong nước Phần lớn giáo viên bộ môn GDTC trường THPT HoàngMai đều có tuổi đời còn trẻ cụ thể:
+ Từ 40 - 45 tuổi: 1 giáo viên, chiếm: 14,3%
+ Từ 35 - 39 tuổi: 1 giáo viên, chiếm: 14,3%
+ Từ 30 - 34 tuổi: 2 giáo viên, chiếm: 28,6%
+ Từ 25 - 30 tuổi: 3 giáo viên, chiếm: 42,8%
Qua thời gian tìm hiểu nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng công tácgiảng dạy GDTC tại trường THPT Hoàng Mai còn tồn tại nhiều bất cập khichưa bố trí hợp lý giữa học tập các môn văn hóa và môn thể dục, khi chỉđưa ra 2 tiết học thể dục trong 1 tuần, tỷ lệ 2 tiết trong 1 tuần quả là quá ít
so với nhu cầu vận động ở lứa tuổi các em Hơn thế nữa thời gian các emđược phân bố lịch học cũng chưa hợp lý Thay vì nên xếp lịch vào 1 buổiriêng thì đa số các trường THPT lại xếp lịch học xen với học văn hóa Thiếtnghĩ rằng, nếu các em học thể dục 1tiết, 2 tiết đầu thì tiết văn hóa sau các
em sẽ khó hoặc không thể tiếp thu được vì quá mệt mỏi Nếu các em phảihọc thể dục vào 2 tiết cuối khi các em đã mệt mỏi và đói thì hiệu quả họctập sẽ ra sao khi các em thiếu năng lượng cho sự vận động
Trang 163.1.2 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT
Để tìm hiểu thực trạng và quan điểm sử dụng hệ thống bài tập bổ trợchuyên môn trong giảng dạy nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh lớp 10trường THPT Hoàng Mai Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 15 thầy
cô giáo có thâm niên trong và ngoài trường Nội dung phỏng vấn như sau:
- Quan điểm của thầy (cô) về việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môntrong giảng dạy nhảy cao kiểu nằm nghiêng
- Đánh giá của thầy (cô) về thực trạng sử dụng bài tập chuyên môntrong giảng dạy nhảy cao kiểu nằm nghiêng
Kết quả phỏng vấn cho thấy: Có tổng số 13/15 giáo viên chiếm86,67% cho rằng việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn còn chiếm tỷ lệnhỏ hơn so với bài tập bổ trợ chung, các dạng bài tập bổ trợ còn ít tận dụnghết phương tiện tập luyện, các bài tập bổ trợ chuyên môn cần phải sử dụngmột cách hệ thống Chỉ có 2/15 giáo viên chiếm 13,33% cho rằng các bàitập bổ trợ chuyên môn như hiện nay là phù hợp, không cần thiết phải sửa đổi
Từ những kết quả đã đạt được chúng tôi nhận xét về thực trạngviệc sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹthuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh THPT như sau:
- Tỷ lệ sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn còn ít, lượng vậnđộng của các bài tập còn thấp, mật độ còn thưa, cường độ còn thấp, tỷ lệbài tập bổ trợ chuyên môn còn nhỏ so với bài tập bổ trợ chung
- Các bài tập phát triển thể lực chuyên môn còn đơn điệu, chưa tạođược hiệu quả phát triển sức mạnh, sức nhanh cần thiết cho học sinh
- Các bài tập bổ trợ trong giảng dạy chưa đủ để dẫn dắt và tạo cảmgiác cho người tập về không gian, thời gian trong quá trình thực hiện độngtác
Trang 17- Các bài tập chuyên môn còn chưa đa dạng, chưa tận dụng đượcquy luật chuyển hoá kỹ năng của các kỹ năng khác nhau, chưa tận dụngđược các phương pháp tập luyện.
3.1.3 Đặc điểm môn nhảy cao và thực trạng giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng tại trường THPT Hoàng Mai
Trong học tập và thi đấu TDTT nói chung và môn nhảy cao kiểu nằmnghiêng nói riêng đòi hỏi người tập phải có sự nỗ lực lớn về cơ bắp do đó
đã tạo nên sự căng thẳng thần kinh Vì thế mà quá trình tập luyện giúp chongười tập phát triển toàn diện cơ thể Tập luyện môn nhảy cao kiểu nằmnghiêng có tác dụng phát triển các tố chất thể lực, đặc biệt là sức mạnh bộtphát Do đó quá trình giảng dạy cần áp dụng những bài tập bổ trợ chuyênmôn để phát triển sức mạnh bột phát nhằm nâng cao thành tích và góp phầnlàm phong phú thêm phương tiện GDTC trong nhà trường THPT
Nhưng thực trạng ở các trường THPT cho thấy việc giảng dạymôn điền kinh chưa được chú trọng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn,dụng cụ tập luyện thô sơ, hệ thống bài tập đơn giản chưa đáp ứng đượcyêu cầu phát triển thể lực cho học sinh Vì vậy thành tích tập luyện củacác em chưa cao, đặc biệt là trong môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng
Qua khảo sát thực tế tại trường THPT Hoàng Mai, chúng tôi thấy cómột số nguyên nhân chính sau đây làm giảm thành tích của các em:
+ Chưa có sự đầu tư, quan tâm đúng mức của các cấp và của nhà trường.+ Do sự hạn chế của người dạy như: trình độ chuyên môn còn hạn chế + Do các điều kiện bên ngoài như: dụng cụ, sân bãi
+ Do các yếu tố chủ quan của người học như: thể lực, tâm lý
Trong đó, nguyên nhân sâu xa là do người làm công tác giảng dạy chưachú ý phát triển các tố chất thể lực chuyên môn đúng mức
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy nội dung nhảy cao kiểu nằmnghiêng cần quan tâm đến việc phát triển các tố chất thể lực chuyên
Trang 18môn trong giờ học Sử dụng hệ thống bài tập một cách khoa học đểphát triển sức mạnh bột phát nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểunằm nghiêng cho học sinh lớp 10.
3.2 Giải quyết mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập trong môn học nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A 1 Trường THPT Hoàng Mai
3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A1 trường THPT Hoàng Mai
a Các yêu cầu khi lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng:
Để xác định được những yêu cầu khi lựa chọn bài tập bổ trợ chuyênmôn cho học sinh khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng chúng tôitiến hành như sau:
Xác định các yêu cầu qua tham khảo và tổng hợp tài liệu Bằng việcđọc và tham khảo các tài liệu như: Điền kinh, lý luận và phương phápTDTT, học thuyết huấn luỵên, tâm-sinh lý TDTT chúng tôi đã tổng hợpđược một số yêu cầu cần đạt được của hệ thống bài tập bổ trợ chuyên mônnhăm nâng cao khả năng tiếp thu kỹ năng cho học sinh khi giảng dạy kỹthuật nhảy cao nằm nghiêng sau đây:
1 Bài tập bổ trợ chuyên môn phải trực tiếp giúp cho ngưòi học nắmđược các khâu riêng lẻ cũng như hoàn chỉnh của kỹ thuật
2 Bài tập bổ trợ chuyên môn phải mở rộng được kỹ năng kỹ xảo chongười tập
3 Bài tập bổ trợ chuyên môn phải giúp khắc phục các yếu tốảnh hưởng tới việc nắm bắt kỹ thuật và nâng cao thành tích như: các
tố chất thể lực, tâm lý
Trang 194 Cần đa dạng hoá các hình thức tập luyện triệt để, lợi dụng các phươngtiện tập luyện để giúp cho quá trình chuyển đổi và liên kết kỹ năng tốt hơn.
5 Các bài tập phải hợp lý , vừa sức và được nâng cao dần độ khó,đặc biệt chú ý đến khâu an toàn để tránh xảy ra chấn thương
Sau khi xác định được 5 yêu cầu trên, để tăng thêm độ tin cậy chúngtôi đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia và các thầy cô giáo trong vàngoài bộ môn Tổng số người được phỏng vấn là 15 người, kết quả phỏngvấn được trình bày ở bảng 3.1:
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn về yêu cầu lựa chọn bài tập bổ trợ
Như vậy 5 yêu cầu chúng tôi đã xác định để lựa chọn hệ thống bài tập
bổ trợ chuyên môn cho học sinh lớp 10 trường THPT Hoàng Mai khi họcnhảy cao nằm nghiêng đã được sự đồng ý với tỷ lệ rất cao từ 80% đến 100%
Vì vậy, chúng tôi sử dụng 5 yêu cầu này để tham khảo, đối chiếu trong khilựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn cho học sinh
b Lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn
Dựa vào các yêu cầu và các cơ sở lựa chọn đối với bài tập bổ trợchuyên môn được chúng tôi nêu ở trên Kết hợp tham khảo các tài liệuchuyên môn, các kết quả khảo sát công tác huấn luyện và giảng dạy ở một
số trường THPT Từ đó chúng tôi đã bước đầu xác định được hệ thống bàitập bổ trợ chuyên môn cho học sinh khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằmnghiêng gồm 2 hệ thống: bài tập bổ trợ kỹ thuật và bài tập bổ trợ thể lực,các bài tập dược thể hiện cụ thể như sau:
Trang 20* Hệ thống bài tập bổ trợ kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng
- Nhóm I: Bài tập bổ trợ kỹ thuật giậm nhảy:
Bài tập 1: Chạy đà nhảy cao tự do để xác định chân giậm nhảy.
Bài tập 2: Đứng chân giậm nhảy trước (sát mép hố cát) chân lăng
sau Tạo đà và giậm nhảy qua xà thấp (tiếp đất bằng chân giậm nhảy) Khitạo đà và giậm nhảy cần phối hợp với đánh mạnh 2 tay từ trước ra sau, vềtrước dừng đột ngột
Bài tập 3: Đi 3 bước giậm nhảy thực hiện động tác bước bộ.
- Nhóm II : Bài tập bổ trợ kỹ thuật chạy đà kết hợp giậm nhảy:
Bài tập 4: Chạy chậm 3, 5, 7 bước giậm nhảy thực hiện động tác
bước bộ
Bài tập 5: Chạy đà chính diện giậm nhảy đá lăng qua xà thấp.
Bài tập 6: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng qua xa thấp Bài tập 7: Chạy đà 5, 7, 9 bước giậm nhảy đá lăng chạm vào vật
chuẩn treo trên cao (chạm vật chuẩn bằng chân lăng)
- Nhóm II: Bài tập bổ trợ kỹ thuật giai đoạn trên không và tiếp đất: Bài tập 8: Đứng tại chỗ đá lăng xoay mũi bàn chân.
Bài tập 9: Tập mô phỏng chân lăng giai đoạn trên không.
Bài tập 10: Chạy đà giậm nhảy bằng chân giậm nhảy thực hiện động
tác trên không và tiếp đất (có xoay người)
Bài tập 11: Tập mô phỏng động tác chân giậm nhảy giai đoạn
trên không
Bài tập 12: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng cao thu nhanh
chân giậm nhảy rồi tiếp đất tại chỗ (xà để ở mức cao, chú ý không nhảyqua xà)
- Nhóm IV: Bài tập hoàn thiện kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng:
Trang 21Bài tập 13: Chạy 3-5 bước đà thực hiện hoàn chỉnh kỹ thuật nhảy
cao nằm nghiêng
Bài tập 14: Chạy 5-7 bước đà thực hiện hoàn chỉnh kỹ thuật
nhảy cao nằm nghiêng
Bài tập 15: Chạy đà thực hiện hoàn chỉnh kỹ thuật nhảy cao
năm nghiêng
* Hệ thống bài tập nhằm phát triển thể lực:
Bài tập 1: Nhảy dây.
Bài tập 2: Chạy đạp sau 25m.
Bài tập 3: Chạy nâng cao đùi 20m.
Bài tập 4: Ngồi xổm trên chân giậm nhảy, chân lăng duỗi về trước,
đứng lên ngồi xuống
Bài tập 5: Chạy 30m xuất phát thấp.
Bài tập 6: Bật cao tại chỗ.
Bài tập 7 : Chạy đà bật nhảy bằng hai chân với tay chạm vật cố định trên cao Bài tập 8: Chạy lò cò tiếp sức bằng chân trụ.
Bài tập 9: Ke cơ bụng gập chân vuông góc với thân người.
Bài tập 10: Đi vịt.
Bài tập 11 : Bật cóc liên tục 20m.
Bài tập 12: Gánh tạ đứng lên ngồi xuống với trọng lượng tạ vừa phải Bài tập 13: Ngồi xổm trên một chân, chân kia duỗi thẳng phía trước,
2 tay chống hông, bật nhảy đổi chân
Bài tập 14: Đứng lên ngồi xuống bằng 2 chân.
Bài tập 15: Chạy đuổi, mỗi đợt chạy gồm 2 nhóm, mỗi nhóm 2 - 5
học sinh, đứng ở tư thế xuất phát cao 2 nhóm đứng cách nhau 4 - 5m, trongtừng nhóm có người này cách người kia 1,5m Sau khi nghe lệnh các emđồng loạt cùng xuất phát, em sau đuổi em trước với đoạn đường 25 - 30m
Sau khi xây dựng được nhóm bài tập, để lựa chọn được những bàitập tối ưu nhất chúng tôi đã phỏng vấn 30 người đó là các thầy cô giảng
Trang 22dạy thể dục trường chúng tôi trực tiếp nghiên cứu, một số VĐV và huấnluyện viên bộ môn điền kinh có kinh nghiệm
Kết quả thu được thể hiện rõ qua bảng 3.2
Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn hệ thống bài tập bổ trợ kỹ thuật (số người
phỏng vấn n = 30)
ý
Tỷ lệ (%)
Nhó
m I
Bài tập 1: Chạy đà nhảy cao tự do để xác định chân giậm nhảy. 30 100
Bài tập 2: Đứng chân giậm nhảy trước (sát mép hố cát) chân
lăng sau Tạo đà và giậm nhảy qua xà thấp (tiếp đất bằng
chân giậm nhảy) Khi tạo đà và giậm nhảy cần phối hợp với
đánh mạnh 2 tay từ trước ra sau, về trước dừng đột ngột
Bài tập 5: Chạy đà chính diện giậm nhảy đá lăng qua xà thấp 30 100
Bài tập 6: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng qua xa thấp. 27 90
Bài tập 7: Chạy đà 5, 7, 9 bước giậm nhảy đá lăng chạm vào
vật chuẩn treo trên cao (chạm vật chuẩn bằng chân lăng) 21 70
Nhó
m III
Bài tập 8: Đứng tại chỗ đá lăng xoay mũi bàn chân. 29 97
Bài tập 9: Tập mô phỏng chân lăng giai đoạn trên không. 27 90
Bài tập 10: Chạy đà giậm nhảy bằng chân giậm nhảy thực
hiện động tác trên không và tiếp đất (có xoay người) 27 90
Bài tập 11: Tập mô phỏng động tác chân giậm nhảy giai
Bài tập 12: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng cao thu
nhanh chân giậm nhảy rồi tiếp đất tại chỗ (xà để ở mức cao,
chú ý không nhảy qua xà)
Trang 23Qua bảng 3.2 trên ta thấy, đối với việc lựa chọn bài tập bổ trợ kỹ thuậtthì bài tập 1, 2, 3, 5, 6, 8, 9, 10,12,15 là được lựa chọn nhiều và có tỉ lệ % caonhất chiếm 90% trở lên Điều đó một phần khẳng định tính tối ưu của bàitập được lựa chọn.
Từ kết quả phỏng vấn trên (bảng 3.2) tôi thu được 10 bài tập để ápdụng cho nhóm thực nghiệm tập luyện nhằm bổ trợ kỹ thuật nhảy cao Cụthể là các bài tập sau:
- Nhóm I: Bài tập bổ trợ kỹ thuật giậm nhảy:
Bài tập 1: Chạy đà nhảy cao tự do để xác định chân giậm nhảy.
Bài tập 2: Đứng chân giậm nhảy trước (sát mép hố cát) chân lăng
sau Tạo đà và giậm nhảy qua xà thấp (tiếp đất bằng chân giậm nhảy) Khitạo đà và giậm nhảy cần phối hợp với đánh mạnh 2 tay từ trước ra sau, vềtrước dừng đột ngột
Bài tập 3: Đi 3 bước giậm nhảy thực hiện động tác bước bộ.
- Nhóm II : Bài tập bổ trợ kỹ thuật chạy đà kết hợp giậm nhảy:
Bài tập 5: Chạy đà chính diện giậm nhảy đá lăng qua xà thấp.
Bài tập 6: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng qua xa thấp.
- Nhóm II: Bài tập bổ trợ kỹ thuật giai đoạn trên không và tiếp đất: Bài tập 8: Đứng tại chỗ đá lăng xoay mũi bàn chân.
Bài tập 9: Tập mô phỏng chân lăng giai đoạn trên không.
Bài tập 10: Chạy đà giậm nhảy bằng chân giậm nhảy thực hiện động
tác trên không và tiếp đất (có xoay người)
Bài tập 12: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng cao thu nhanh chân
giậm nhảy rồi tiếp đất tại chỗ (xà để ở mức cao, chú ý không nhảy qua xà)
- Nhóm IV: Bài tập hoàn thiện kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng:
Bài tập 15: Chạy đà thực hiện hoàn chỉnh kỹ thuật nhảy cao năm nghiêng.
Tương tự như trên, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn các thầy cô,VĐV, huấn luyện viên gồm 30 người với nhóm bài tập nhằm phát triển thểlực để góp phần nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng cho học sinhlớp 10A1 trường THPT Hoàng Mai Kết quả được trình bày qua bảng sau:
Trang 24Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn hệ thống bài tập phát triển thể lực
(số người phỏng vấn n = 30)
chọn
Tỷ lệ (%)
1 Bài tập 1: Nhảy dây. 22 73,3
2 Bài tập 2: Chạy đạp thẳng chân sau 25m. 30 100
3 Bài tập 3: Chạy nâng cao đùi 20m. 29 97
4 Bài tập 4: Ngồi xổm trên chân giậm nhảy, 2 tay chống
hông, chân lăng duỗi về trước, đứng lên ngồi xuống 30 100
5 Bài tập 5: Chạy 30m xuất phát thấp. 28 93,3
6 Bài tập 6: Bật cao tại chỗ. 27 90
7 Bài tập 7: Chạy đà bật nhảy bằng hai chân với tay
8 Bài tập 8: Chạy lò cò tiếp sức bằng chân trụ 29 97
9 Bài tập 9: Ke cơ bụng gập chân vuông góc thân người. 20 66,7
12 Bài tập 12: Gánh tạ đứng lên ngồi xuống với trọng
13 Bài tập 13: Ngồi xổm trên một chân, chân kia duỗi
thẳng phía trước, 2 tay chống hông, bật nhảy đổi chân 26 86,6
14 Bài tập 14: Đứng lên ngồi xuống bằng 2 chân. 25 83,3
15
Bài tập 15: Chạy đuổi, mỗi đợt chạy gồm 2 nhóm,
mỗi nhóm 2 - 5 học sinh, đứng ở tư thế xuất phát
cao 2 nhóm đứng cách nhau 4 - 5m, trong từng
nhóm có người này cách người kia 1,5m Sau khi
nghe lệnh các em đồng loạt cùng xuất phát, em sau
đuổi em trước với đoạn đường 25 - 30m
Qua bảng (3.3) trên tôi nhận thấy bài tập (theo số thứ tự) 2, 3, 4, 5, 6,
8, 10, 11, 13, 14 được thầy cô, các VĐV và HLV lựa chọn nhiều hơn cảchiếm 83,3% trở lên Điều đó một phần khẳng định tính tối ưu trong việcphát triển thể lực của hệ thống bài tập được lựa chọn
Trang 25Từ kết quả phỏng vấn trên (bảng 3.3) tôi thu được 10 bài tập để ápdụng tập luyện cho nhóm thực nghiệm nhằm phát triển thể lực Nhóm bàitập đó được trình bày cụ thể như sau:
Bài tập 2: Chạy đạp sau 25m.
Bài tập 3: Chạy nâng cao đùi 20m.
Bài tập 4: Ngồi xổm trên chân giậm nhảy, chân lăng duỗi về trước,
đứng lên ngồi xuống
Bài tập 5: Chạy 30m xuất phát thấp.
Bài tập 6: Bật cao tại chỗ.
Bài tập 8: Chạy lò cò tiếp sức bằng chân trụ.
Bài tập 10: Đi vịt.
Bài tập 11 : Bật cóc liên tục 20m.
Bài tập 13: Ngồi xổm trên một chân, chân kia duỗi thẳng phía trước,
2 tay chống hông, bật nhảy đổi chân
Bài tập 14: Đứng lên ngồi xuống bằng 2 chân.
Khi đã lựa chọn được nhóm bài tập, để đảm bảo tính hiệu quả trướckhi áp dụng vào đối tượng học sinh lớp 10A1 Trường THPT Hoàng Maichúng tôi đã tiến hành kiểm tra bước đầu nhằm đánh giá về thể lực vàthành tích liên quan đến nhảy cao đối với 2 nhóm đối chứng và thựcnghiệm Chúng tôi tiến hành qua 4 test kiểm tra:
* Test 1: Bật xa tại chỗ (đánh giá sức mạnh chân)
* Test 2: Bật cao tại chỗ
* Test 3: Chạy nhanh 30m xuất phát cao (đánh giá thể lực)
* Test 4: Thực hiện toàn bộ kỹ thuật nhảy cao theo kiểu bất kì (đánh
giá ban đầu về thành tích nhảy cao)
3.2.2 Kiểm tra thành tích trước thực nghiệm
Test 1: Bật xa tại chỗ (đánh giá sức mạnh chân)
Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.4:
Trang 26Bảng 3.4 Bảng kiểm tra thành tích bật xa tại chỗ
Qua bảng (3.4) ta thấy: Khi so sánh thành tích giữa 2 nhóm thực nghiệm
và đối chứng toán học thống kê không tìm thấy sự khác biệt giữa 2 nhóm
|Ttính| = 0,63 < |Tbảng| = 2,093 (P >5%)
Từ đó cho thấy, sự khác biệt về thành tích bật xa tại chỗ giữa nhómthực nghiệm và đối chiếu là không đáng kể
Nhận xét: Qua các số liệu thu được ở 2 nhóm khi tiến hành bật xa tại
chỗ cho ta thấy thành tích của 2 nhóm là tương đương nhau và tương đốiđồng đều Song thành tích đạt được còn chưa cao
* Test 2: Bật cao tại chỗ
Kết quả kiểm tra được trình bày ở bảng 3.5:
Bảng 3.5 Bảng kiểm tra thành tích bật cao tại chỗ