Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương tại trại thực nghiệm Nông nghiệp khoa Nông
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -LÊ QUANG VỊNH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG NGHIỆP
KHOA NÔNG LÂM NGƯ - ĐẠI HỌC VINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
VINH – 1.2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG NGHIỆP
KHOA NÔNG LÂM NGƯ - ĐẠI HỌC VINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài.
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là một trong những cây trồng có
lịch sử trồng trọt lâu đời, được trồng ở nhiều nước trên thế giới, từ châu Âu, châu
Á , châu Phi, châu Mỹ, nhất là ở vùng Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới Hạt đậu tươngđược dùng làm thực phẩm cho con người, làm thức ăn trong chăn nuôi và làmnguyên liệu cho các ngành công nghiệp Ngoài ra cây đậu tương còn là cây trồng
có tác dụng cải tạo đất, một hecta đậu tương phát triển tốt sau khi thu hoạch có thể
để lại trong đất từ 50 - 70 kg N (Nguyễn Danh Đông, 1982;[8] Đậu tương lànguồn chất hữu cơ quan trọng góp phần nâng cao độ phì nhiêu cho đất trồng, vì thế
nó trở thành cây trồng quan trọng trong luân canh và xen canh ở nhiều nước trênthế giới Sản lượng đậu tương của thế giới dành 98% cho chăn nuôi, chỉ có 2%được dùng làm thực phẩm cho con người và trong lượng dầu đậu tương có đến90% được dùng làm thực phẩm cho con người, 10% dùng trong các ngành côngnghiệp
Hạt đậu tương chứa nhiều thành phần dinh dưỡng như Lipit, Gluxit,Protein, Vitamin A, B1, B2, E, các enzyme, sáp, nhựa, và các khoáng chất; trong
đó hàm lượng Protein là cao nhất chiếm 38 - 44%, hàm lượng dầu 18 - 25%,Hydrat cacbon 30 - 40%, khoáng chất 4 - 5%
Đậu tương là cây trồng ngày ngắn, mỗi năm có thể trồng từ 3 - 4 vụ tùytheo tập quán và điều kiện của mỗi địa phương Cây đậu tương là một trong 4 câytrồng chính trên thế giới sau lúa mỳ, lúa và ngô Tuy nhiên phát triển sản xuất đậutương của Việt Nam còn rất chậm, năng suất và sản lượng còn thấp Theo số liệuthống kê của Cục Trồng trọt (năm 2005), năm 1985 diện tích trồng đậu tương củaViệt Nam là 102 ngàn ha, năng suất 7,8 tạ/ha, sản lượng đạt 79,1 ngàn tấn nhưngđến năm 2005 diện tích tăng lên 203,6 ngàn ha, năng suất 14,3 tạ/ha, sản lượng291,5 ngàn tấn Như vậy sau 20 năm diện tích trồng đậu tương của Việt Nam tănggấp 2 lần, năng suất tăng gần gấp 2 lần Theo kế hoạch dự báo Quốc gia, để đápứng yêu cầu tiêu dùng trong nước thì sản lượng đậu tương của nước ta cần đạt
Trang 4được 1,5 triệu tấn vào năm 2020 Để đạt được mục tiêu trên chúng ta cần có diệntích trồng đậu tương là 700.000 - 1.000.000 ha, với năng suất trung bình 15 - 20 tạ/
ha Hiện tại thì sản lượng và năng suất đậu tương ở nước ta còn thấp mới chỉ đạt39,2% năng suất bình quân thế giới Do một số nguyên nhân như chưa có nhiềugiống tốt cho năng suất cao, phù hợp với từng vụ, từng vùng khác nhau
Riêng ở vùng sinh thái Nghệ An, diện tích trồng đậu tương còn thấp, chỉtrồng ở một số vùng với diện tích ít, sản phẩm chủ yếu dùng để chế biến thựcphẩm cho một số làng nghề Nói chung người dân không thích trồng cây đậutương, do các nguyên nhân như năng suất còn thấp, bị sâu bệnh nhiều Mặt kháccác quy trình so sánh khảo nghiệm và việc nhập các giống đậu tương mới chonăng suất cao, có tính chống chịu với sâu bệnh tốt để đưa vào sản xuất còn rất ít.Nghiên cứu tìm ra các giống đậu tương tốt có tiềm năng, năng suất cao, khả năngthích ứng tốt phẩm chất phù hợp với điều kiện cụ thể để đẩy mạnh sản xuất là mộtyêu cầu bức thiết
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả
năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương tại trại thực nghiệm Nông nghiệp khoa Nông Lâm Ngư - Đại Học Vinh”.
2 Mục đích yêu cầu của đề tài
* Mục đích
Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, đặc điểm hình thái, khả năngchống chịu sâu bệnh, tính chống đổ, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.Làm cơ sở cho việc nghiên cứu phát triển đậu tương trên loại đất này hay không?
* Yêu cầu
- Để đạt mục đích nghiên cứu trên cần theo dõi tình hình sinh trưởng, pháttriển, khả năng đạt năng suất và chất lượng của 5 giống tham gia thí nghiệm
- Theo dõi khả năng chống chịu của các giống
- Khả năng cải tạo đất của cây đậu tương
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 5- Làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật gieo trồng, chămsóc thích hợp cho cây đậu tương.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung các giống đậu tươngthích hợp trên chân đất cát pha ở vùng nghi lộc Nghệ An
- Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc mở rộng sản xuất đậu tương ởNghệ An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Sử dụng một số giống đậu tương có triển vọng ở trong nước: gồm cácgiống sau: DT96, DT26, DT84, DT22, VX93
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới
Trên thế giới Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc ở Viễn đông - nơi loạicây này đã được trồng trọt lâu đời và là cây trồng chủ yếu, song cho tới nay sảnxuất đậu tương hiện tại ở Bắc Mỹ đã vượt xa vùng Viễn đông Hiện nay đậu tương
có diện tích, năng suất và sản lượng lớn nhất trong các cây đậu đỗ Sản lượng câyđậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% năm 1980 Ngược lại sản lượng của câylạc lại giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và CS,1999) [7]
Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở trên thế giới
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn: Faostat, January 2006.)
Hiện nay cây đậu tương đã được trồng ở 78 nước trên thế giới của các châulục Năm 2005 diện tích đậu tương của thế giới là 93,37 triệu ha, tập trung nhiềunhất ở châu Mỹ (73,03%), tiếp đến là châu Á (22,88%)
Trang 7Hình 1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
Qua số liệu ở bảng và hình trên cho ta thấy: Diện tích trồng đậu tương trênthế giới liên tục tăng trong những năm qua
Năm 2005, diện tích đậu tương của thế giới là 93,37 triệu ha so 1985 là54,07 ha, như vậy sau 20 năm diện tích đậu tương của thế giới đã tăng 39,3 triệu
ha đạt tốc độ tăng trưởng trung bình là 3,63%/năm về diện tích; tương ứng tốc độtăng trưởng diện tích thì năng suất tăng là 1,67%/năm và sản lượng tăng là 7,17%/năm Đây là những bước chuyển biến lớn so với thời kỳ những năm 1990 - 1992tốc độ tăng trưởng chỉ ở mức 1,09%/năm về diện tích và 1,26 %/năm về sản lượng
Các nước có nhiều diện tích đậu tương nhất là Mỹ Hiện nay tổng sảnlượng đậu tương của Mỹ chiếm 70% sản lượng đậu tương thế giới Nước thứ haitrồng nhiều đậu tương trên thế giới là Braxin, rồi đến Argentina (Châu Mỹ);Trung Quốc, Indonexia, Nhật Bản (châu Á) và các nước trong Liên Bang XôViết trước đây (châu Âu)
Bảng 2: Diện tích năng suất và sản lượng đậu tương của một số
Trang 8châu lục và một số nước.
Tên nước
Năm 2003 Năm 2005Diện tích
(tr.ha)
Năngsuất(tạ/ha)
Sảnlượng(tr.tấn)
Diện tích(tr.ha)
Năngsuất(tạ/ha)
Sảnlượng(tr.tấn)Thế giới 83,61 22,67 189,52 93,37 23,0 214,8Châu Á 18,03 14,22 25,64 19,5 13,0 26,3Châu Âu 0,97 20,19 1,97 1,7 18,0 2,1
Mỹ 29,26 22,48 67,79 29,9 28,0 85,0Brazil 18,44 27,95 51,54 21,9 22,0 51,1Argentina 12,20 28,52 34,80 14,0 27,0 38,3Trung Quốc 9,50 17,36 16,50 9,5 17,0 16,8
Ấn Độ 6,45 10,54 6,80 7,5 9,0 6,8Paraguay 1,60 27,50 4,40 1,9 20,0 3,9Indonexia 0,82 8,26 0,68 0,6 8,0 0,7Nigeria 0,62 0,70 0,44 0,45 7,0 0,45Thái Lan 0,22 12,17 0,27 0,14 15,0 0,2
(Nguồn: Faostat, January 2006)
Số liệu bảng trên cho thấy, Mỹ là nước có diện tích, năng suất đậu tươngđứng đầu thế giới, mặc dù cây đậu tương ở Mỹ mới được chính phủ Mỹ quan tâmđúng mức từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Diện tích năm 2005 là 29,9 triệu havới sản lượng là 85 triệu tấn chiếm 39,6% sản lượng đậu tương của toàn thế giới,
so với những năm 1980 -1983 Mỹ là nước luôn chiếm tới 63% sản lượng trên thếgiới (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [7], chứng tỏ các nước khác trên thế giới đã cónhiều tiến bộ tăng trưởng về sản xuất đậu tương trong những năm qua
Ở châu Á, Trung Quốc là nước có diện tích sản xuất lớn nhất, năng suấtcũng cao nhất và sản lượng đạt khá cao (đã đạt 9,50 triệu ha với sản lượng là 16,8triệu tấn năm 2005)
Như vậy, 4 nước sản xuất đậu tương luôn đứng đầu thế giới là Mỹ, Brazin,Argentina, Trung Quốc (chiếm 80,7% diện tích và 89,01% sản lượng đậu tươngcủa thế giới trong năm 2005)
Trang 9Các nước của châu Á có diện tích sản xuất đậu tương chỉ tương đương vớidiện tích sản xuất đậu tương của Brazin, nhưng sản lượng mới chỉ đạt xấp xỉ 50%của Brazin; một trong những lý do bởi năng suất của các nước trong khu vực cònrất thấp: Ấn Độ 9 - 10 tạ/ha, Việt Nam 13 - 15 tạ/ha, Indonexia 10 - 11 tạ/ha Sảnlượng đậu tương châu Á đáp ứng được 1/2 nhu cầu tiêu dùng đậu tương làm thựcphẩm và thức ăn chăn nuôi Những nước nhập khẩu đậu tương nhiều là: TrungQuốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malayxia, Philipines Một sốnước Đông Âu có nhu cầu nhập khẩu đậu tương rất lớn Lượng đậu tương nhậptăng từ 120.000 tấn năm 1965 tới trên 800.000 tấn năm 1981, Đông Âu chủ trươngđẩy mạnh công nghiệp chế biến trong nước (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [7].
Hiện nay, nguồn gen đậu tương được lưu trữ chủ yếu ở 15 nước trên thếgiới: Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malayxia, Trung Quốc, Nhật Bản, NamPhi, Australia, Thụy Điển, Pháp, Nigeria, Ấn Độ, Mỹ, Liên Xô cũ, Thái Lan, vớitổng số 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long, 1991) [16]
Trung tâm phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánhgiá (Soybean – Evaluation trial - Aset) giai đoạn 1 đã phân phát được trên 20.000giống đến 546 nhà khoa học của 164 nước Nhiệt đới và Á Nhiệt đới Kết quả đánhgiá giống Aset với các giống đậu tương là đã đưa vào trong mạng lưới sản xuấtđược 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn Thị Út, 1994) [10] Ví dụ AK03 bắtnguồn từ giống đậu tương nhập nội G 2261, được đưa vào mạng lưới sản xuất năm
1998 ở Việt Nam, giống BPT – SyT6 năm 1990 tại Philipines, giống Kaohsung N3năm 1991 tại Đài Loan, giống KPS 292 năm 1992 taị Thái Lan Những năm gầnđây các nguồn giống đã được thành lập tại các tổ chức, các cơ quan như: Việnnghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt Đới (HTA), Trung tâm đào tạo nghiên cứu Nôngnghiệp cho vùng Đông Nam Á (SEARCA) Chương trình hợp tác nghiên cứu câythực phẩm các nước Trung Mỹ (PPCCMA), Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)
và nhiều trường Đại học khác
Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương Nhờcác phương pháp chọn lọc và nhập nội, gây đột biến và lai tạo, họ đã tạo ra được
Trang 10những giống đậu tương mới Những dòng nhập nội có năng suất cao đều được sửdụng làm vật liệu trong các chương trình lai tạo và chọn lọc Từ thí nghiệm đầu tiên
ở Mỹ được tiến hành vào năm 1804 tại bang Pelecibuanhia, đến năm 1893 ở Mỹ cótrên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập được từ các nơi trên thế giới Giai đoạn
1928 - 1932 trung bình mỗi năm nước Mỹ nhập nội trên 1.190 dòng từ các nướckhác nhau Hiện nay đã đưa vào sản xuất trên 100 dòng, giống đậu tương, đã lai tạo
ra một số giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh Phyzoctonia và thích ứng rộng
như: Amsoy 71, Lee 36, Herkey 63, Clark 63 Hướng chủ yếu của công tác nghiêncứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai cũng như nhập nội, thuần hoá trở thànhgiống thích nghi với từng vùng sinh thái, đặc biệt là nhập nội để bổ sung vào quỹgen Mục tiêu của công tác chọn giống ở Mỹ là chọn ra những giống có khả năngthâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bấtthuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến
Ở Thái Lan, sự phối hợp giữa 2 Trung tâm MOAC và CGPRT nhằm cảitiến giống có năng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính (gỉ sắt,sương mai, vi khuẩn ) đồng thời có khả năng chịu được đất mặn, hạn hán và ngắnngày
Viện Khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạogiống từ năm 1961 và đã đưa vào sản xuất các giống Kaohsing 3, Tai nung 3, Tainung 4 Các giống được xử lý Nơtron và tia X cho các giống đột biến Tai nung.Tai nung 1 và Tai nung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ quả không bịnứt Các giống này (đặc biệt là Tai nung 4) đã được dùng làm nguồn gen khángbệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác nhau như Trạm thínghiệm Marjo (Thái Lan), Trường Đại học Philipines (Vũ Tuyên Hoàng và CS,1995) [10]
Ngay từ năm 1963, Ấn Độ đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương
và nhập nội tại Trường Đại học Tổng hợp Pathaga Năm 1967, thành lập chươngtrình đậu tương toàn Ấn Độ với nhiệm vụ lai tạo và thử nghiệm giống mới và họ
đã tạo ra được một số giống mới có triển vọng như: Birsasoil, DS 74-24-2, DS
Trang 1173-16, tổ chức AICRPS (The All India Coordinated Research Porject on Soybean) vàNRCS (National Research Centre for Soybean) đã tập trung nghiên cứu vềgenotype và đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu Nhiệt đới, đồng thờiphát hiện những giống chống chịu cao với bệnh khảm virut.
Thời vụ gieo trồng cũng được xác định là có những tương tác chặt với cácgiống đậu tương Khi nghiên cứu sự tương tác của 4 giống và 44 dòng, được chiathành 3 nhóm ở 3 địa điểm trong 2 năm cho thấy, khoảng 50% của sự tương tácgiữa giống với môi trường cho năng suất hạt được xác định đối với nhóm có năngsuất thấp và 25% đối với nhóm có năng suất cao và năng suất trung bình; khinghiên cứu các dòng, giống ở các thời vụ và nền phân bón khác nhau đã cho thấy
sự tương tác rất có ý nghĩa đối với tất cả 12 tính trạng nghiên cứu, trong đó cónăng suất hạt
Hiện nay công tác nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới đã được tiếnhành với quy mô lớn Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được các tổ chức Quốc
tế khảo nghiệm ở rất nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm thực hiện một số nộidung chính như : Thử nghiệm tính thích nghi của giống ở từng điều kiện, môitrường khác nhau tạo điều kiện so sánh giống địa phương với giống nhập nội, đánhgiá phản ứng của các giống trong những môi trường khác nhau Đã có được nhiềuthành công trong việc xác định các dòng, giống tốt, có tính ổn định và khả năngthích ứng khác nhau với các điều kiện môi trường khác nhau
Trong thời gian qua có rất nhiều cơ quan, tổ chức Quốc tế cùng tham gianghiên cứu ở nhiều lĩnh vực trong Nông nghiệp Ví dụ như Viện lúa Quốc tế (IRRI)Philipines trước năm 1975, Viện này chủ yếu nghiên cứu về cây lúa Từ năm 1975trở lại đây mở ra triển vọng nghiên cứu về cây đậu đỗ, đặc biệt là cây đậu tương chovùng canh tác lúa nhằm phá vỡ thế độc canh của cây lúa, góp phần cải tạo đất, cảitạo khẩu phần dinh dưỡng cho người dân
Trung tâm phát triển rau màu châu Á (AVRDC),khi nghiên cứu sâu hại đậu
tương thấy rằng giòi đục thân Melamgromyza soja gây hại mạnh nhất ở 4 tuần đầu tiên sau khi gieo, cùng phá hoại với giòi này còn có giòi Ophionyia phaseoli và
Trang 12Ophionyia centrosematis chúng có thể đục vào lá non khi cây mới mọc.
Theo Đặng thị Dung (2006) [3] thì các loại sâu hại nguy hiểm đối với đậu
tương là: Giòi đục thân Melamgromyza soja và sâu xanh Heliothiolis armigera, sâu đục quả Etiella Zickenella và bọ xít xanh Neza ViridulaL Ở vùng Nhiệt Đới
giòi đục thân phổ biến ở Thái Lan và Indonexia, ở những nước này tỷ lệ hại dogiòi đục thân có thể tới 90 -100% cây bị hại
1.1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
Ở nước ta, đậu tương là cây trồng cổ truyền, thích nghi với nhiều vùng sinhthái và khí hậu khác nhau Trước đây đậu tương chủ yếu được trồng ở các tỉnhmiền núi (Cao Bằng, Lạng Sơn ) với diện tích hẹp bằng các giống địa phương sau
đó được lan rộng ra khắp cả nước Sau năm 1954 mặc dù có những điều kiện thuậnlợi hơn, nhưng những nghiên cứu về đậu tương vẫn không có giá trị tiến triển
Khi nghiên cứu về tiềm năng khí hậu và hệ thống cây trồng, các tác giả củaViện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã có những nhận xét với vùngTrung du, Đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh Hoá: Hàng năm, trong điều kiện có tưới,vùng này hoàn toàn có khả năng sản xuất 3 vụ cây xứ nóng trong năm như: LúaXuân, lúa Mùa sớm, cây vụ Đông (ngô, khoai lang, đậu tương ) hoặc 4 vụ trongnăm như: Lúa Xuân, lúa Mùa sớm, đậu tương Đông, rau các loại Trong tương lailúa Đông Xuân và lúa Mùa chính vụ hay Mùa muộn của vùng này sẽ được thu hẹplại (Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, 1988) [18]
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam
Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 13Hình 2: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam
Qua bảng và hình trên cho thấy, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tươngcủa Việt Nam liên tục tăng trong các năm qua Sau 27 năm từ 1980 - 2007 chúng ta
đã có tốc độ tăng trưởng khá lớn: về diện tích tăng từ 42,2 - 190,1 nghìn ha; năngsuất tăng từ 6,6 - 14,5 tạ/ha và sản lượng tăng từ 32,1 - 275,5 nghìn tấn Nếu tính sau
25 năm từ năm 1980 - 2005 tỷ lệ về diện tích tăng bình quân 15,30%/năm; năng suấttăng bình quân 4,67%/năm và sản lượng tăng bình quân 32,32%/năm Để đạt đượcnhững kết quả trên có đóng góp không nhỏ của nhiều nghiên cứu và triển khai rộngkhắp của một mạng lưới các nhà khoa học thuộc các cơ quan từ Trung ương đến địaphương
Cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương Năm 1993 vùng ĐôngNam Bộ có diện tích lớn nhất cả nước (chiếm 26,2% diện tích trồng đậu tương của
cả nước), miền núi Bắc Bộ 24,7%, Đồng bằng Sông Hồng 17,5%, Đồng bằngSông Cửu Long 12,4% Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 66,6% Còn lại là Đồngbằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên Đậu tương được trồng ở vụ Xuân
Trang 14chiếm 14,2%, vụ Hè thu là 31,3%, vụ Thu đông là 22,1%, vụ Đông xuân 29,7%.
Hiện nay các tỉnh miền Bắc nước ta đã hình thành 3 vụ đậu tương trongnăm
- Vụ Xuân gieo 10/2 - 10/3
- Vụ Hè gieo 20/5 - 15/6
- Vụ Đông gieo 5/9 - 5/10
Trước đây, ở trên đất trồng hai vụ lúa thường không trồng hoặc có trồng rất
ít cây vụ Đông, những năm gần đây nhờ ứng dụng những tiến bộ khoa học, kỹthuật trồng đậu tương Đông trên nền đất ướt bằng phương pháp làm đất tốt thiểu
đã làm cho ruộng trồng 2 vụ lúa thành trồng được 3 vụ trong năm
Chúng ta đã có nhiều chương trình nghiên cứu triển khai phát triển đậu đỗtrên quy mô toàn quốc từ những năm 1980 trở laị đây như:
- Đề tài cấp nhà nước giai đoạn 1980 - 1985 do KS Nguyễn Danh Đônglàm chủ nhiệm
- Đề tài cấp nhà nước “Chọn tạo giống đậu đỗ” mã số 02A - 05 - 01 doVS.TSKH Trần Đình Long làm chủ nhiệm (1986-1990)
- Đề tài cấp nhà nước “Kỹ thuật thâm canh đậu đỗ” mã số 02A - 05 - 02 doGSTS Ngô Thế Dân làm chủ nhiệm (1986-1990)
- Đề tài nhánh cấp nhà nước “Chọn tạo giống đậu đỗ và các biện pháp kỹthuật thâm canh đậu đỗ” mã số KHCN 08 - 02 do PGS.VS.TSKH Trần ĐìnhLong làm chủ nhiệm (1996-2000)
- Đề tài cấp ngành “Nghiên cứu tạo giống và kỹ thuật thâm canh cây đậu đỗ ănhạt” GS VS TSKH Trần Đình Long làm chủ nhiệm (2001 -2005)
Giai đoạn 1986 - 1990 đã thu nhập, nhập nội và đánh giá 4.188 lượt mẫugiống đậu tương trong đó có 200 mẫu giống địa phương; 2.521 mẫu giống đậuxanh; trong đó có nhiều loài hoang dại; nhiều giống quý được nhập từ Viện nghiêncứu cây trồng toàn Liên Bang Nga (VIR) và Trung tâm rau màu Châu Á
Trang 15(AVRDC), trong quỹ gen nổi bật là có một loài đậu tương hoang dại có đặc tínhkháng bệnh và chống chịu với điều kiện môi trường khắc nghiệt Một trong nhữngnội dung tiếp tục là đang bảo tồn khai thác có hiệu quả nguồn gen trên (Trần ĐìnhLong, 2002) [17].
Nguyễn Huy Hoàng (1997) [9] khi nghiên cứu và đánh giá khả năng chịuhạn của 1.004 mẫu giống đậu tương nhập nội từ năm 1988 -1991 thấy: Nhữnggiống có khả năng chịu hạn tốt đều có nguồn gốc từ Trung Quốc và những giốngnày thường thấp cây, có phiến lá dầy, nhỏ và nhọn, có mật độ lông che phủ trênthân lá cao Tác giả còn cho biết khả năng chịu hạn của đậu tương có tương quanthuận, chặt với mật độ lông phủ và mật độ khí khổng ở cả mặt trên và mặt dưới lácủa cây Trong giai đoạn 1991 - 1995 đã cải tiến được nhiều giống đậu tươngthích hợp cho các vùng sinh thái, các vụ gieo trồng khác nhau: 6 giống quốc gia
đã được công nhận là: M103, ĐT80, VX9-2, AK05, DT84 và HL2, năng suất cácgiống đạt từ 2,4 - 2,5tấn/ ha Hàng loạt các giống khác được công nhận khu vực hóanhư: G87-1, G87-5, G87-8, VX9-1, L1, L2, ĐT90, DT2, VN1, AK04, ĐT93 và V47;nếu tính từ năm 1997 - 2002, có 19 giống đậu tương mới được công nhận trong tổng
số 324 giống cây trồng mới, tuy nhiên năng suất nếu so với thế giới và các nướctrong khu vực thì đậu tương ở Việt Nam năng suất mới chỉ bằng 65% (17 tạ/ ha)
Một số kỹ thuật đã được nghiên cứu thử nghiệm và đang phát huy trongthực tế sản xuất: Trồng đậu tương trên đất mạ Xuân với giống AK03 trong điềukiện sản xuất trung bình năng suất đạt 8 - 10 tạ/ha, trồng xen đậu tương với ngô,trồng xen đậu đỗ với cây bông đem lại lãi suất tăng 20 - 60% so cây bông trồngthuần (Ngô Thế Dân, C.L.L.Gowda, 1991) [6]
Để phát huy mạnh đậu tương ngoài việc tạo thêm giống mới, cần chú ýchọn lọc các giống cũ vẫn được sản xuất ưa chuộng, ưu tiên sản xuất các giốngnhư: VX9-2, VX9-3, AK06
Kỹ thuật trồng đậu tương trên đất ướt bằng biện pháp làm đất tối thiểu donhóm tác giả Ngô Quang Thắng, Trần Văn Lai, Nguyễn Thị Chinh và các cộng
Trang 16sự (1996) [5] đã được công nhận là tiến bộ kỹ thuật mới, là cơ sở cho việc mởrộng diện tích sản xuất cây đậu tương ở các địa phương.
Ở Việt Nam, công tác tạo giống và phát triển sản xuất đậu tương đang tậptrung vào các hướng chính sau đây:
Tiếp tục nhập nội các nguồn gen quý hiếm ở trên thế giới
Sử dụng các phương pháp chọn tạo giống truyền thống (chọn lọc, lai tạo,
Giống VX93, được tuyển chọn từ năm 1983 từ dòng K7002 (tập đoàngiống của Viện cây trồng toàn Liên Bang Nga - VIR) có nguồn gốc từ Philipin.Thời gian sinh trưởng 90-100 ngày, năng suất trung bình từ 15 - 20 tạ/ha Chịurét tốt, chống chịu sâu bệnh trung bình, thích ứng trong vụ Thu Đông, vụ Đông
và vụ Xuân Giống VX93 được công nhận giống năm 1990, (Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn, 2005) [1]
Giống DT84 do Viện di truyền Nông nghiệp chọn lọc từ dòng đột biến của
tổ hợp lai DT80 x DH4 Cây cao 50 - 60 cm, thời gian sinh trưởng từ 80 - 90ngày, hạt có màu vàng đẹp, rốn nâu Năng suất đạt 12 - 27 tạ/ha Giống DT84sinh trưởng tốt nhất và đạt năng suất cao nhất ở vụ Hè Giống DT84 được côngnhận giống Quốc gia năm 1996
Giống ĐT22 do Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ - Viện khoahọc Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo ra Thời gian sinh trưởng trung bình từ 80 -
Trang 1795 ngày, khối lượng 1000 hạt đạt 145 - 180 g, tỷ lệ quả 3 hạt cao 33% Năng suấttrung bình từ 17 - 25 tạ/ha, diện tích thâm canh đạt 30 tạ/ha Giống có khả năngchống chịu sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất thuận khá, thích ứng rộng trong sảnxuất Giống ĐT22 có thể trồng được cả 3 vụ/năm, nhưng thích hợp nhất trong vụXuân và vụ Hè (Trần Đình Long và CS, 2007) [14].
Giống đậu tương mới ĐT26 do Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu
đỗ - Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo ra Thời gian sinh trưởngtrung bình từ 90 - 95 ngày, chiều cao cây từ 50 - 60cm, phân cành khá 2,0 - 2,5
Tỷ lệ quả 3 hạt cao trung bình 18 - 22% Năng suất đạt trung bình ở độ ẩm 12%
là 22 - 28 tạ/ha, trong điều kiện thâm canh cao, ở diện tích hẹp, năng suất có thểđạt tới 30 - 32 tạ/ha Hạt màu vàng đẹp, hàm lượng protêin cao (42,21%) và lipit19,72% (Trần Đình Long, Trần Thị Trường và CS, 2007) [15]
Giống đậu tương DT96 do nhóm tác giả Viện Di Truyền Nông Nghiệpchọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính giữa hai giống đang được phổ biến trongsản xuất là DT90 và DT84 Thời gian sinh trưởng trung bình từ 90 - 98 ngày,chiều cao cây từ 45 - 58 cm, thân có 12 - 15 đốt, sinh trưởng hữu hạn, phân cànhvừa phải, cây gọn, hình dáng đẹp, lá hình tim nhọn, màu xanh sáng, lông nâu.Hoa tím, quả chín màu vàng rơm, số quả chắc trên cây 25 - 35, cao trên 180 quả,
tỷ lệ quả 3 hạt cao 16 - 20%, khả năng chống đổ khá, chống các bệnh rỉ sắt,sương mai, đốm nâu vi khuẩn, lở cổ rể tốt, chịu nhiệt tốt và lạnh khá Hạt màuvàng sáng, rốn hạt trắng, hạt to, khối lượng 1000 hạt = 190 - 220g Tỷ lệ proteincao: 42,86%, dầu béo: 18,34% Năng suất đạt 25,8 tạ/ha, vụ xuân 35,23 tạ/ha.Giống DT96 đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhậnkhu vực hóa năm 2002, cho phép phát triển rộng ở các tỉnh phía Bắc và tiếp tụcthử nghiệm ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệmđậu đỗ với CSIRO trong dự án ACIAR CS1/95/130 “Cải thiện giống và thíchnghi đậu ở Việt Nam và Australia” Nhiều giống đậu tương đã được nhập nội từAustralia và được khảo nghiệm ở các vùng sinh thái của Việt Nam từ năm 1999 -
Trang 182000 Kết quả thử nghiệm 56 mẫu giống cho thấy có nhiều mẫu giống thích hợp
vụ Đông như: CPAC 386 - 76, CPAC 31 - 76
Những kết quả nghiên cứu, triển khai sản xuất đậu tương của Việt Nam trongthời gian qua đã đánh dấu hướng sử dụng khai thác nguồn gen có sẵn trong nước kếthợp nhập nội Nhiều giống đậu tương phù hợp thích nghi trong sản xuất hiện nay đãđược nghiên cứu chọn tạo bằng các con đường đó
Tuy nhiên sự phong phú của giống chưa nhiều, bởi vậy việc xác định bộgiống phù hợp thích ứng cho đặc điểm sản xuất, đặc biệt là cho việc gieo trồngcây đậu tương là cấp bách, cần thiết
Cùng với việc đánh giá xác định giống thì việc tìm hiểu, nghiên cứu biệnpháp kỹ thuật sản xuất phù hợp cho việc thâm canh, phát huy tiềm năng năngsuất giống cũng cần được chú trọng
1.1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Nghệ An
Trước đây, Nghệ An là một tỉnh gặp rất nhiều khó khăn do cơ sở nghiêncứu nghèo nàn, khí hậu khắc nghiệt…nên sản xuất nông nghiệp chưa được đầu tưthỏa đáng, chưa mạnh dạn áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật và chưa có điềukiện đầu tư nghiên cứu thâm canh
Do vậy, diện tích cũng như sản lượng đậu tương ở đây còn thấp Hiện nay,cây đậu tương đang được tỉnh Nghệ An chú trọng đưa vào sản xuất và mở rộngdiện tích để tạo sự đa dạng hóa cây trồng
Trong 5 năm qua, từ 2001 - 2005 sản lượng và diện tích cây đậu tươngtăng rõ được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An từ 2001 - 2005
Năm
2001 2002 2003 2004 2005Diện tích (ha) 1063 772 985 1147 1107Năng suất (tạ/ha) 6,54 7,64 8,16 8,47 8,62Sản lượng (tấn) 59,10 55,60 57,70 63,50 67,20
(Nguồn: Bộ NN & PTNT, 2006)
Trang 19Bình quân trong 5 năm (từ: 2001 - 2005), diện tích trồng đậu tương đạtcao nhất ở Nam Đàn (204 ha), Nghĩa đàn (105 ha), Diễn Châu (70 ha), HưngNguyên (25 ha), và chiếm tỷ lệ không đáng kể như Nghi Lộc và Quỳnh Lưu
Đối với vùng Bắc Trung Bộ các giống đã và đang được sản xuất đại trà là:Cúc nam Đàn, Cúc Thọ Xuân, AK03 Đây là vùng có diện tích canh tác và sảnlượng đậu tương hàng năm tương đối cao, nhưng việc mở rộng và phát triển câyđậu tương theo hướng sự dụng các giống cao sản đang còn gặp nhiều khó khăn
về kỹ thuật sản xuất và khí hậu
1.1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu.
* Đặc điểm tự nhiên của Nghệ An.
Vị trí địa lý: Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý:
18033’10” - 19024’33” vĩ độ Bắc
103052’53” - 105045’50” kinh độ Đông
Diện tích tự nhiên của Nghệ An: 16.487km2
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giápLaos, phía Đông giáp Biển Đông
Đặc điểm khí hậu – thời tiết:
- Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt Từtháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, chịu ảnh hưởng của gió phơn TâyNam khô và nóng Từ tháng 11 đến tháng 3 dương lịch hàng năm, chịu ảnhhưởng của gió Đông Bắc lạnh và ẩm ướt
- Lượng mưa trung bình hàng năm 1610,9mm Lượng mưa thấp nhất là1110,1mm ở huyện Tương Dương Nhiệt độ trung bình: 25,20C, số giờ nắngtrong năm: 1.460 giờ
Trang 20- Dân số năm 2007 là: 3103,4 (nghìn người), mật độ dân số trung bình 188
(người/km 2 ), (theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2008).
- Dân cư phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10%diện tích, nhưng dân số lại chiếm 80% toàn tỉnh
* Diễn biến khí hậu thời tiết vụ Xuân 2008 trên địa bàn Nghệ An
Bảng 5 Diễn biến khí hậu thời tiết vụ Xuân 2008 trên địa bàn Nghệ An
Lượngmưa( mm)
Số ngàymưa(ngày)
Ẩm độ( %)
Số liệu bảng 5 cho thấy: thời tiết vụ Xuân 2008 có nền nhiệt độ tương đối
thấp khá, được đánh giá là vụ Xuân lạnh Không khí lạnh hoạt động mạnh và kếtthúc muộn Đặc biệt tháng 2 có nhiều ngày rét đậm, nhiệt độ trung bình tháng 2
là 13,80C thấp hơn trung bình nhiệt độ trung bình tháng 2 năm 2007 là 8,30Cnhưng sang tháng 3 nhiệt độ đã tăng lên đáng kể song vẫn còn thấp đạt 20,830C,nói chung nhiệt độ tháng 2 và 3 ở vụ xuân 2008 là rất thấp, đây là điều khác biệt
so với trung bình nhiều năm Tổng tích nhiệt hữu hiệu ở mức cao hơn trung bìnhnhiều năm và cao hơn vụ Xuân 2006 Tổng lượng mưa toàn vụ xấp xỉ trung bìnhnhiều năm, với 59 ngày mưa, trong đó tháng 1 và tháng 5 lượng mưa cao hơn sovới vụ xuân 2007, các tháng còn lại lượng mưa đều thấp Độ ẩm trung bình vụxấp xỉ trung bình nhiều năm nhưng ẩm độ tháng 5 thấp hơn nhiều so với trungbình năm 2007 Tổng số giờ nắng trong vụ thấp hơn trung bình nhiều năm, riêng
Trang 21tháng 2 chỉ có 8 giờ nắng thấp hơn nhiều so với trung bình nhiều năm.
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây đậu tương
Cây đậu tương thuộc bộ Fabales, họ Fabaceae, họ phụ Leguminosae, chi
Glycine L Đậu tương trồng trước đây mang nhiều tên khác nhau, Ricker và
Morse (1948) [20] đã đề xuất tên chính thức của đậu tương trồng là GlyCine max
(L) Merrill, kết luận này nói chung là được chấp nhận và đã được dùng hầu như
duy nhất để chỉ đậu tương trồng trong các tài liệu khoa học Glycine được chia ra làm 2 họ phụ là Glycine và Soja Glycine và Soja là tên gọi chính thức cho các
loại đậu tương hoang dại từ năm 1997
Chi phụ Glycine có 16 loài, đa số ở đảo Nam Thái Bình Dương, Papua
Newguinea, Philipin, Đài Loan Đa số các loại có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 40
(có một số loài 2n = 28, 78, 80) Chi phụ Soja (Moech) F.J Hern có 2 loài: Loài
G Soja Sieb và Zucc, phân bố ở Trung Quốc, Nga, Đài Loan, Nhật Bản, Triều
Tiên Loài GlyCine max (L) Merrill là đậu tương trồng hiện nay trên thế giới,
chúng có số nhiễm sắc thể 2n = 40
Đậu tương là cây trồng cổ nhất của nhân loại, có nguồn gốc từ Mãn Châu(Trung Quốc) vào thế kỷ XI trước công nguyên Từ thế kỷ thứ nhất sau côngnguyên, đậu tương mới phát triển khắp Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên Từ thế
kỷ thứ I đến XVI, đậu tương được di thực tới Nhật Bản, Đông Nam Á và Trung Á
Từ năm 1970, cây đậu tương đã được các nhà truyền giáo mang từ Trung Quốc vềtrồng ở vườn thực vật Pari và Hoàng gia Anh
Đậu tương ban đầu được trồng chủ yếu làm thực phẩm ở các nước như:Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và một số nước ở châu Á: Ấn Độ, Việt Nam,Lào, Thái Lan, Philipin và Inđonexia nhưng mãi đến năm 1909 cây đậu tương mới
có tầm quan trọng lớn Sau này, cây đậu tương được đưa sang trồng ở Bắc Mỹ và đãtrở thành cây trồng đóng vai trò quan trọng ở Mỹ, đây là thành công về công tácnhập nội giống đậu tương của Mỹ Từ Mỹ đậu tương lan rộng ra các nước châu Mỹ
Trang 22khác, đáng chú ý là Braxin và Argentina (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [7].
1.2.2 Sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương
* Giai đoạn nảy mầm cây con
- Giai đoạn nảy mầm: Bắt đầu từ khi hạt hút nước trương lên, mầm phôiphát động sinh trưởng, sau đó nảy mầm mọc lên khỏi mặt đất nhờ sự duỗi ra củavòng cung trục dưới lá, xòe lá tử diệp
Điều kiện: Hạt hút nước nhiều hay ít là chất chiếm ưu thế trong hạt, hạtnhiều protein hút nước nhiều hơn so với hạt nhiều tinh bột Hạt đậu tương hútnước nhiều trong thời gian một giờ đầu tiên là những hạt cho năng suất cao
- Giai đoạn cây con: Thời kỳ này cây đậu tương sinh trưởng dựa vào chấtdinh dưỡng do tử diệp và lá mầm cung cấp để phát triển thân non và bộ rễ Chấtdinh dưỡng trong lá mầm là nguồn thức ăn chủ yếu cho cây đậu tương trongvòng một tuần sau khi cây mọc
* Sự phát triển của thân cành
Chiều cao của thân cây, số đốt biến động tùy thuộc vào đặc tính di truyền
và điều kiện ngoại cảnh Thân cao từ 0,2 - 1,5 m, gồm nhiều đốt từ 8 - 14 đốt
Tốc độ sinh trưởng của chiều cao thân cây cũng tăng dần từ khi cây mọcđến khi cây ra hoa rộ và hình thành quả, sau đó thì giảm dần đến khi thu hoạch.Chiều cao thân là chỉ tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng và khả năng cho năng suất
Gieo vụ xuân chỉ có một hoặc hai cành, giống gieo muộn gieo vụ hè cóthể có 4 - 10 cành
Các cành mọc từ chồi ở nách lá Các chồi ở phía dưới thân chính sẽ pháttriển thành các cành quả, các chồi ở phía giữa và ngọn cây thì phát triển cácchùm hoa Số cành trên cây liên quan trực tiếp đến số quả Cành trực tiếp là cànhquả Vì vậy cành phát triển nhiều sẽ cho quả nhiểu
* Sự phát triển của bộ lá
Lá đậu tương là lá kép gồm 3 chét, cá biệt có 4 hoặc 5 lá chét Các lá nàymọc đối diện nhau: Dài, hẹp tròn, bầu dục hoặc hình lưỡi mác, hình thoi nhưng
Trang 23người ta cũng thường quy định hai loại khác nhau là lá rộng hoặc lá hẹp, lá cólông hoặc không có lông.
Sự phát triển của bộ rễ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp đầy đủchất dinh dưỡng, nước đảm bảo năng suất cây đậu tương
* Sự hình thành nốt sần và sự cố định Nitơ của vi khuẩn nốt sần
Những nốt sần đầu tiên xuất hiện ở giai đoạn 10 - 15 ngày sau khi mọc (có
lá kép) Lượng nốt sần tăng nhanh vào thời kỳ ra hoa đến đâm tia hình thành quả,
có màu hồng thẫm, kích thước lớn Đến giai đoạn cây già thì nốt sần giảm, lượngnốt sần già thì khô đi, nốt sần có màu đen bị vỡ ra Nốt sần phân bố ở rễ chính và
rễ bên
Nốt sần được hình thành là do sự cố định của vi khuẩn cộng sinh
Rhizobium japonicum, những vi khuẩn này có khả năng tổng hợp nitơ (N2) khítrời Vì vậy mà khi thu hoạch, rễ đậu tương đã để lại cho đất hàm lượng đạm lớntham gia cải tạo đất và tạo sự cân bằng hệ sinh thái
Thời tiết thuận lợi cho việc nở hoa là lúc mà nhiệt độ ngoài trời là 25
-280C, độ ẩm không khí khoảng 75 - 80%
Trang 24Đậu tương là cây mà hoa của nó tự thụ phấn nghiêm ngặt Việc thụ phấnxảy ra vào sáng hôm sau lúc 8 - 9 giờ sáng trước khi nụ và hoa nở hoàn toàn.
Thời kỳ quả non được bắt đầu từ giai đoạn ra hoa, quả đầu tiên được hìnhthành trong vòng 7 - 8 ngày kể từ khi hoa nở, sau 3 tuần quả đã phát triển đầy đủ
Lúc các chùm quả non đã xuất hiện thì các chất dinh dưỡng trong thân, láđược vận chuyển và làm cho hạt mẩy dần, lúc này sự sinh trưởng của cây chậmlại
Đậu tương có hai loại sinh trưởng là sinh trưởng hữu hạn và sinh trưởng
vô hạn Những nét đặc trưng của hai loại này được thể hiện vào giai đoạn hìnhthành quả, hạt
Khi hạt đậu tương mới hình thành chứa 90% độ ẩm, các khoang hạt đãkín, quả đã đầy đủ mầm thì cây ngừng sinh trưởng Trong quá trình lớn lên, độ
ẩm trong hạt giảm dần đồng thời với sự tích lũy chất khô và tăng kích thước,lượng nước trong hạt giảm xuống chỉ còn 60 - 70% Khi sự tích lũy chất khô gầnhoàn thành, độ ẩm trong hạt giảm nhanh, vài ngày có thể giảm từ hơn 30% xuống
15 - 20% Lúc này là thời kỳ chín sinh lý, toàn bộ lá vàng và một nữa lá rụng (cóthể một số lá không rụng)
Khi bề ngoài thấy vỏ quả có màu vàng nâu là thu hoạch được
1.2.3 Yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây đậu tương.
Đậu tương được trồng từ vĩ độ 550 Bắc đến 550 Nam, từ những vùng thấphơn mặt nước biển cho đến những vùng cao trên 2000 m so với mặt nước biển
Tính thích ứng là đặc tính hoặc khả năng của một kiểu gen hoặc một quầnthể các kiểu gen cho phép sự biến đổi các tiêu chuẩn của sự thích ứng xảy ra, tiếpsau nhằm đáp ứng lại áp lực của chọn lọc thay đổi, còn sự thích ứng là một trạngthái của sự phù hợp với một điều kiện môi trường xác định
Tính ổn định kiểu hình hay là khả năng thích ứng rộng là một trong nhữngđặc tính quan tâm nhất của một giống trước khi đưa ra sản xuất đại trà Cho đếnnay đã có nhiều phương pháp thống kê sinh học nhằm đánh giá ổn định kiểu hìnhcủa các dòng giống khác nhau
Trang 25Sự biểu hiện của tính trạng thời gian sinh trưởng thay đổi rất lớn theo mùa
vụ và theo từng năm, trong đó chỉ khoảng 75 - 80% phụ thuộc vào các điều kiệnsinh thái môi trường (Nguyễn Huy Hoàng, 1997) [9]
* Yêu cầu về nhiệt độ
Đậu tương có nguồn gốc ở vĩ độ tương đối cao (400 vĩ độ bắc), nên yêu cầu
về nhiệt độ không cao lắm Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn đề này nhiều tác giảcho rằng đậu tương là cây ưa ấm Tổng tích ôn của cây đậu tương khoảng 2000 -
29000C, nhưng tuỳ nguồn gốc, tuỳ thời gian của giống mà lượng tích ôn tổng sốcũng khác nhau nhiều Nhiệt độ thì nó chủ yếu quyết định bởi thời gian sinhtrưởng và đặc điểm của giống
Những giống đậu tương ngắn ngày có tổng tích ôn 1700 - 22000C, trongkhi đối với những giống dài ngày là 3200 - 38800C tương đương 140 - 160 ngày
Đậu tương có thể sinh trưởng phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ khárộng, mặc dù vậy nhiệt độ ấm vào khoảng 200C là lý tưởng cho cây đậu tương,nhìn chung đậu tương có khả năng chịu được ở nhiệt độ cao (35 - 370C) ở tất cảcác pha sinh trưởng
Qua các nghiên cứu về sự nẩy mầm của hạt giống đậu tương có thể nẩymầm ở nhiệt độ của môi trường từ 5 - 400C, nhưng nẩy mầm nhanh nhất ở 300C
Nhiệt độ đất thay đổi làm cho tốc độ nẩy mầm của hạt giống đậu tươngnhanh hay chậm, nghiên cứu ở vùng Nhiệt Đới và vùng Cận Nhiệt Đới, nhiệt độđất 200C hạt đậu tương nẩy mầm sau 3 - 5 ngày khi độ sâu gieo hạt là 5 cm; nhiệt
độ đất ở 120C hạt giống nẩy mầm sau 12 ngày và nhiệt độ đất 170C nẩy mầm sau 7ngày
Các tác giả nghiên cứu nhiệt độ ảnh hưởng sinh trưởng phát triển của câythấy rằng: ở pha đầu (thời kỳ cây con) nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến nhómđậu tương chín sớm, ít mẫn cảm với quang chu kỳ; nhưng ít ảnh hưởng đến nhómchín muộn Chiều cao của cây đậu tương tăng trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 27,2 -32,20C (Bùi Huy Đáp, 1961) [2]
Trang 26Các cây trồng có nguồn gốc địa lý khác nhau phản ứng với điều kiện nhiệt độcũng không giống nhau: Nhiệt độ có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây đậutương, đậu tương từ khi gieo đến khi ra hoa gặp thời tiết ấm nhiệt độ (24 - 260C), thời
kỳ sinh trưởng nói trên là 35 - 45 ngày, thời gian bắt đầu và kết thúc ra hoa trên dưới
20 ngày, tổng thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày; Nhiệt độ từ 200C trở xuống từgieo đến ra hoa là 50 - 60 ngày, tổng thời gian sinh trưởng là 145 - 150 ngày Thời kỳbắt đầu và kết thúc ra hoa càng kéo dài khi gặp rét và tỷ lệ rụng hoa cao, khả nănghình thành quả trong trường hợp này chỉ còn 20 - 25%
* Yêu cầu lượng mưa:
Nhiều tác giả cho rằng đậu tương là cây ưa ẩm Đối với đậu tương, nếunhiệt độ không khí, quang chu kỳ có ảnh hưởng nhiều tới sinh trưởng của cây thìchế độ ẩm là một trong những yếu tố khí hậu quan trọng có liên quan chặt chẽ đếnnăng suất hạt Tổng lượng nước cần cho một vụ đậu tương khoảng 370 - 450 mmtrong điều kiện không tưới Còn nếu được tưới đầy đủ thì lượng nước tiêu thụ củađậu tương lên đến 670 - 720 mm, (Nguyễn Huy Hoàng, 1997) [9]
Lượng mưa và độ ẩm là yếu tố hạn chế chủ yếu đối sản xuất đậu tương.Mối quan hệ giữa lượng chất khô tích luỹ của đậu tương Đông và bốc thoát hơinước từ lá có liên quan tuyến tính rất chặt
Chế độ mưa đóng vai trò quan trọng tạo nên độ ẩm đất, nhất là vùng chịuảnh hưởng của nước trời Nhiều tác giả cho rằng: năng suất đậu tương khác nhaugiữa các năm ở một vùng sản xuất là do chế độ mưa quyết định
* Yêu cầu về ánh sáng
Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, có phản ứng với độ dài ngày, có rất ítgiống không nhậy cảm với quang chu kỳ
Morse và các tác giả cho rằng: phản ứng quang chu kỳ của đậu tương là yếu
tố quan trọng nhất quyết định tính thích ứng của giống và vấn đề chọn vùng chođậu tương Để cây đậu tương có thể ra hoa kết quả được, yêu cầu phải ngày ngắn,nhưng các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày cũng khác nhau, ánh sáng là
Trang 27yếu tố quyết định quang hợp Sự cố định Nitơ và lượng chất khô cũng như nhiềuđặc tính khác lại phụ thuộc vào quang hợp Phản ứng quang chu kỳ của cây đậutương biểu hiện ở chỗ: trong thời gian sinh trưởng dinh dưỡng, nếu đậu tương gặpđiều kiện ngày ngắn thì sẽ rút ngắn thời gian từ mọc đến ra hoa, do đó rút ngắnthời kỳ phân hoá mầm hoa, dẫn tới làm giảm tích luỹ chất khô và giảm số lượnghoa Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn, thời gian sinh trưởngkhông bị ảnh hưởng, nhưng khối lượng chất khô toàn cây giảm Nguyễn Văn Luật(1979) [11], cho rằng phản ứng quang chu kỳ của đậu tương còn tác động đếnnhiều chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của đậu tương như: chiều cao thân chính,tích luỹ chất khô, số hoa, số quả/cây, do đó ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đếnnăng suất
Tìm hiểu phản ứng của đậu tương từ khi lá mầm xuất hiện trên mặt đất với
độ dài chiếu sáng khác nhau, thời gian sinh trưởng sinh dưỡng của cây đậu tươngphụ thuộc vào độ dài chiếu sáng 8, 10, 12, và 14 giờ sau khi cây nẩy mầm từ hạt
Tóm lại, phản ứng quang chu kỳ của đậu tương được nhiều tác giả đề cậpđến từ rất sớm trên nhiều mặt: ảnh hưởng của quang chu kỳ đến sinh trưởng, cácchỉ tiêu phát dục và các yếu tố năng suất của đậu tương Nhưng với tập đoàngiống phong phú hàng vạn giống và do phản ứng giống với quang chu kỳ rấtkhác nhau nên những nghiên cứu gần đây ít nhấn mạnh đến vấn đề này hơn Nhìnchung những kết luận đều thống nhất nhận định phản ứng đa dạng của đậu tươngvới quang chu kỳ: những giống chín muộn mẫm cảm hơn với quang chu kỳ,những giống này thường được trồng ở vùng vĩ độ cao trong mùa hè Vùng vĩ độthấp thường gieo trồng những giống chín sớm, cực sớm hoặc ít phản ứng trungtính với quang chu kỳ nên có thể gieo trồng được nhiều vụ/năm
Các giống đậu tương ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính: nhóm chínsớm, chín trung bình và chín trung bình muộn Nhóm chín sớm ít phản ứng với
độ dài ngày, nên ra hoa và chín gần như ở cả 3 thời vụ: Xuân, Hè và vụ Đông Sựchệnh lệch về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữacác vùng trồng, do đó nó phản ứng khá chặt với độ dài chiếu sáng (Đoàn Thị
Trang 28- Trên đất cát đậu tương thường cho năng suất không ổn định.
- Trên đất thịt nặng đậu tương khó mọc, nhưng sau khi mọc lại thích ứngtốt hơn so với các loại cây màu khác
Đất khó tiêu, thoát nước, có cấu trúc mịn muốn có năng suất cao chỉ nêncầy sâu 15 - 20cm, do đất ẩm ướt nhiều vi khuẩn gây thối rễ hoạt động dẫn đếnnăng suất giảm có thể làm giảm tới 17,5% (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [7]
* Yêu cầu về dinh dưỡng
Các yếu tố N, P, K đều cần suốt trong quá trình sinh trưởng của cây Nitơ
có vai trò thúc đẩy sinh trưởng thân lá Phốt pho giúp quá trình hình thành nốtsần ở rễ cho cây cứng cáp, cải thiện phẩm chất quả và chống chịu sâu bệnh Kalithúc đẩy quá trình tích luỹ vật chất quang hợp vào quả, tăng chất lượng hạt vàtăng khả năng chống chịu của cây trên ruộng Để có năng suất 1 tấn/ha, cây đậutương cần hấp thụ 1 lượng Nitơ là 80 kg, một nửa lượng Nitơ đó là do vi khuẩn
cố định đạm trong cây tạo ra Lượng Phốt pho và Kali mà cây đậu tương cần là
90 kg và 85 kg Ngoài ra, chúng còn yêu cầu 1 lượng nhỏ phân vi lượng sẽ đemlại hiệu quả rõ rệt
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Điều kiện khí hậu ở Việt Nam thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng vàphát triển Mặt khác đậu tương cũng là cây trồng ngắn ngày, nên đậu tương có thểtrồng luân canh, xen canh, gối vụ rất thích hợp, vì vậy đậu tương sẽ là cây trồng cónhiều triển vọng ở nước ta và đặc biệt những vùng có tiềm năng mở rộng diện tíchnhư ở Nghệ An