Vì vậy, kỹ thuật bón phân viên dúi sâu đã được nghiên cứu từ lâu và áp dụngnhiều nơi trên thế giới và một số tỉnh miền núi nước ta không những mang lại năngsuất, hiệu quả nhờ việc hạn ch
Trang 1KHOA NÔNG LÂM NGƯ
Trang 2Việt Nam vẫn luôn tự hào là nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới chỉ sau TháiLan nhưng ít ai lại nghĩ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp của nước ta như thế nào.Theo ông Bùi Huy Hiền, Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng nông hóa thì hiệu quả sảnxuất lúa của nước ta rất thấp Giám đốc Viện khoa học nông nghiệp Nguyễn Văn
Bộ cũng cho biết hiệu suất sử dụng đất nông nghiệp của ta rất thấp, chỉ đạt 40%, do
đó người nông dân đã lạm dụng phân bón để tăng khả năng dinh dưỡng cho câytrồng
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tưquan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm Phân bón đã gópphần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối vớicây lúa ở Việt Nam Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI),phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng Tuy nhiên khả năng
sử dụng phân bón của ta lại rất thấp, chỉ khoảng 30-33% Như vậy gần 70% lượngphân bón được thải xuống các cánh đồng đã bị thất thoát hoặc bị bay hơi hoặc bịnước cuốn trôi đi mất
Phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quyđịnh sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem
Trang 3lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc Ngược lại nếu không được sửdụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên
sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống
Vì vậy, kỹ thuật bón phân viên dúi sâu đã được nghiên cứu từ lâu và áp dụngnhiều nơi trên thế giới và một số tỉnh miền núi nước ta không những mang lại năngsuất, hiệu quả nhờ việc hạn chế tối đa việc thất thoát phân bón trong quá trình bayhơi trên bề mặt, rửa trôi do phân được dúi sâu xuống bùn so với cách bón phân vãitruyền thống Mà biện pháp này còn góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bềnvững cũng như bảo vệ môi trường
Quỳ hợp là một huyện miền núi nằm phía Tây của tỉnh Nghệ An có dân tộcThổ, Thái, Kinh sinh sống Hoạt động chính của người dân là sản xuất nông lâmnghiệp (có 81,9% số hộ trong toàn huyện), trong đó cây lúa được xem là cây trồngchính Kinh tế thuần nông, sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp là chính, cùngthói quen canh tác theo tập quán và kinh nghiệm như: Bón phân nhiều đạm, sử dụngthuốc BVTV một cách tràn lan, Điều đó, dẫn đến chi phí sản xuất cao, sâu bệnhnhiều, hiệu quả kinh tế thấp và vì thế mà cuộc sống của người dân ở đây còn gặpnhiều khó khăn
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, giúp nông dân sản xuất lúa đạt hiệuquả cao hơn thì việc áp dụng kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu trong canh tác lúa làviệc làm hết sức cần thiết Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá hiệu quả và khả năng nhân rộng của mô hình bón phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa nước tại Huyện Quỳ Hợp – Nghệ An”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình bón phân viên nén dúi sâu trongthâm canh lúa nước trên cơ sở so sánh với cách bón phân vãi thông thường lâu naycủa người dân Qua đó, thấy được những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chếtrong việc áp dụng kỹ thuật này Từ đó, thiết nghĩ khuyến cáo sâu rộng hơn nữa đếncác hộ trồng lúa để giúp cây lúa phát triển bền vững góp phần vào mục tiêu tăng
Trang 4năng xuất, cải thiện đời sống đồng thời nâng cao trình độ thâm canh cây trồng củangười dân địa phương.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích đánh giá và so sánh hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật bón phânviên nén dúi sâu và bón phân vãi thông thường
- Phân tích những tác động của mô hình đến người dân địa phương, đến kinh
tế, xã hội, môi trường
- Tìm ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện mô hình.Khuyến cáo phát triển, nhân rộng mô hình tại địa phương
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp xác định được hiệu quả của mô hìnhbón phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa nước và tác động của nó như thế nàođến các mặt kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn huyện Quỳ Hợp
Qua nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất củacác nông hộ khi áp dụng kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu sẽ thấy được nhữngvấn đề đạt được và những vấn đề còn tồn tại để làm căn cứ cho việc phát triển, nhânrộng mô hình Đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các công trình nghiên cứutiếp theo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin đáng tin cậy chothực tiễn sản xuất tại địa phương trong việc phát triển mô hình Đặc biệt, kết quảnghiên cứu của đề tài sẽ cho chúng ta thấy hiệu quả thực sự mà mô hình đem lại,đồng thời biết được các nhân tố ảnh hưởng và mối tương quan của chúng đến kếtquả sản xuất của nông hộ Và trước thực trạng đó thì Đảng, nhà nước cùng các cấpchính quyền địa phương cần có những chính sách, giải pháp gì trong thời gian tới đểkhuyến cáo cho các nông hộ trồng lúa nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất cũng như
Trang 5phát triển hơn nữa mô hình này nhằm khai thác tối ưu tiềm năng và lợi thế của địaphương.
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Hiệu quả kinh tế và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu
tố đầu tư, các nguồn lực và phương thức quản lý Nó là một đại lượng so sánh giữađầu vào và đầu ra, so sánh giữa hiệu quả đạt được và các chi phí sản xuất, bản chấtcủa hiệu quả chính là hiệu quả của xã hội, thước đo của hiệu quả là sự tiết kiệm chiphí các nguồn lực, tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hoá kết quả đạt được hoặc tốithiểu hoá chi phí
Bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xãhội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết với vấn đề của HQKT gắn liền với haiquy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật năng suất lao động và quyluật tiết kiệm thời gian
Đánh giá HQKT của mô hình bón phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúanước tại Quỳ Hợp nhằm xác định hiệu quả và tác động của mô hình này mang lạicho người dân trên địa bàn Việc đánh giá HQKT sẽ làm cơ sở cho việc xây dựngcác dự án, các mô hình sản xuất trong tương lai với các mức đầu tư phù hợp vớiđiều kiện sản xuất của địa phương Đồng thời còn là căn cứ để khuyến cáo mở rộnghay thu hẹp mô hình thay đổi dần tập quán canh tác lạc hậu lâu nay của người dân.Việc đánh giá chính xác, khoa học về hiệu quả kinh tế của mô hình bón phân viêndúi sâu cho lúa nước có ý nghĩa rất lớn và cấp thiết cho sự phát triển nông nghiệpbền vững của Quỳ Hợp trong thời kỳ hội nhập
1.1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Khi phân loại HQKT người ta thường căn cứ vào các tiêu chí khác nhau đểphân loại Ứng với mỗi tiêu chí lại có cách phân loại khác nhau
Trang 7- Căn cứ vào yếu tố cấu thành: Chia thành hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân
bổ và hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kỹ thuật: Đó là số lượng đạt được trên một đơn vị chi phí đầuvào, hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật haycông nghệ áp dụng vào sản xuất
+ Hiệu quả phân bổ: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giáđầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi thêm vềđầu vào hay nguồn lực cho một quá trình sản xuất Thực chất của hiệu quả phân bổ
là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố đầu vào và đầu ra Việc xác định hiệuquả này giống như việc xác định yếu tố đầu vào tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận
+ HQKT: Là phạm trù sản xuất trong đó đạt được cả hiệu quả kỹ thuật vàhiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa cả hai yếu tố vật chất và giá trị đều được tínhđến khi xem xét sử dụng các nguồn lực nông nghiệp Nếu chỉ đạt được một tronghai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ thì mới là điều kiện cần chưa cóđiều kiện đủ cho việc đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạtđược cả hai chỉ tiêu trên thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế
- Căn cứ vào nội dung chia thành:
+ HQKT: Là kết quả so sánh giữa chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Trong nông nghiệp, HQKT bao gồm hai mặt: Hiệu quả sinh học trong nôngnghiệp và HQKT nông nghiệp
+ Hiệu quả xã hội: Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnhcông ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội như tạo công ăn việc làm, xoá đóigiảm nghèo
+ Hiệu quả môi trường: Thể hiện ở việc bảo vệ tốt hơn môi trường về giảm ônhiễm đất, không khí
Trong các hiệu quả thì HQKT là quan trọng nhất, nhưng không thể bỏ quahiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội Vì vậy trong khi nói tới HQKT người tathường có ý bao hàm cả hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội
- Theo phạm vi: Gồm hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả vùng lãnh thổ
Trang 8Ngoài ra, HQKT còn được xem xét về mặt thời gian và không gian.
Về mặt thời gian, hiệu quả được xác định phải đảm bảo được lợi ích trướcmắt và lâu dài
Về mặt không gian, HQKT có thể đạt được một cách toàn diện khi hoạt độngcủa các bộ phận đều mang lại hiệu quả và không làm ảnh hưởng chung đến nềnkinh tế
1.1.1.3 Lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu hiệu quả kinh tế
Lý thuyết hệ thống được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựckhoa học để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ Trong thực tế sảnxuất nông nghiệp cho thấy muốn phát triển nhanh và có hiệu quả cần phải phát triểnmột cách toàn bằng việc tác động đồng thời vào nhiều mặt, tức là giải quyết vấn đềtheo quan điểm hệ thống
Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có mối quan hệ
và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như là một tập hợp các đối tượnghoặc các thuộc tính liên kết để tạo thành một chỉnh thể [6]
Theo nguyên lý hệ thống, sự tác động đồng bộ có phối hợp, có tổ chức củacác bộ phận có thể tạo nên hiệu quả khác nhau nhiều so với phép cộng đơn thuầntác động Sản xuất nông nghiệp (SXNN) mỗi vùng là một hệ thống bao gồm nhiềungành sản xuất và nhiều nhân tố kinh tế, xã hội, môi trường khác nhau
Như vậy, mục đích của việc vận dụng quan điểm hệ thống là để nghiên cứumột cách hệ thống và điều khiển sự hoạt động của nó Nội dung của điều khiển hệthống nông nghiệp thực chất là sử dụng các biện pháp kinh tế - kỹ thuật tác động lên
hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và phát triển nông nghiệpmột cách bền vững
1.1.1.4 Vai trò của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
HQKT có vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn và ra quyết định sảnxuất Nếu không có phân tích, đánh giá thì không thể xác định được mô hình bónphân viên nén dúi sâu có thực sự phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao trongnguồn lực có hạn hay không?
Trang 9Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp thì điều đó là vô cùng quan trọng Quađánh giá ta sẽ thấy được lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường từ mô hình này manglại Từ đó làm cơ sở khoa học để kết luận mức độ thích nghi và hiệu quả sử dụngcác nguồn lực tại địa phương cũng như đưa ra những khuyến cáo cho việc mở rộnghay thu hẹp sản xuất mô hình này.
Như vậy, việc đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quantrọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát triển xã hội nói chung Để đạt được mụcđích đó cần tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có, thúc đẩy tiến bộ khoa học
và công nghệ, tiến nhanh vào CNH – HĐH, phát triển kinh tế với tốc độ nhanhnhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
1.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
HQKT phản ánh một cách khách quan và toàn diện kết quả của một quá trìnhsản xuất của một chủ thể sản xuất nhất định Tính khách quan trung thực đòi hỏiphải có căn cứ khoa học và thực tiễn, tính toàn diện yêu cầu phải nhìn nhận HQKTdưới nhiều góc độ Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, điều kiện thu thập số liệuchúng tôi sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả và kết quả sản xuất của môhình của các nông hộ áp dụng kỹ thuật bón PVN dúi sâu trong thâm canh lúa nước
* Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ratrong một thời kỳ nhất định ( một vụ, hay một năm), với sản xuất nông nghiệp thì
GO chính là giá trị thu được trên một đơn vị diện tích
GO = Qi*Pi
Trong đó: GO: Doanh thu thu được trên một đơn vị diện tích lúa (1000đ)
Qi: Sản lượng giống lúa thu hoạch được trong một vụ hay mộtnăm (tạ)
Pi: Đơn giá giống lúa thu hoạch được (1000đ)
* Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các khoản chi phí thường xuyên bằngtiền mà chủ hộ bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và dịch vụ trong quá trìnhsản xuất như: Giống, phân bón, công làm đất, thuốc BVTV
Trang 10* Giá trị gia tăng (VA): Phản ánh kết quả của việc đầu tư các yếu tố trunggian, là phần giá trị tăng thêm trong thời kỳ sản xuất Nó là hiệu số giữa giá trị sảnxuất và giá trị trung gian VA = GO – IC
* Thu nhập hỗn hợp (IM): Là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuấtbao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất trên một đơn vị diệntích lúa trong một vụ MI = VA – ( A + T)
A: Là giá trị khấu hao của TSCĐ và các chi phí phân bổ T: Là thuế nông nghiệp phải nộp
*Lợi nhuận ( Pr) : Là phần thu nhập cuối cùng sau khi đã trừ chi phí laođộng gia đình Hay là kết quả đạt được sau khi lấy giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí(TC) Pr = MI – chi phí lao động gia đình
Hay Pr = GO – TC
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất : GO/IC, VA/IC, MI/IC, Pr/TC
1.1.3 Vai trò của phân bón
Đối với sản xuất nông nghiệp thì phân bón đóng một vai trò quan trọng trongviệc tăng năng suất Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử dụng phânbón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ Đặc biệt trong những năm gầnđây có rất nhiều giống lúa lai được đưa vào sử dụng có khả năng chịu phân rất tốt làtiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng tăng năng suất lúa Đối với câylúa đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất nó giữ vai trò quyết định trong việctăng năng suất Với lúa lai phân bón kali cũng có vai trò quan trọng tương đươngvới đạm [4]
Bón cân đối giữa đạm, lân, kali nhằm làm cho cây lúa hút đều các chất dinhdưỡng, tạo điều kiện cho cây lúa sống khoẻ mạnh, năng suất cao; đồng thời tạo điềukiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển tốt, cung cấp dinh dưỡng cần thiết chocây lúa [2]
Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón rất quan trọng Theonhiều nhà nghiên cứu: Khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới 50% do
Trang 11nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do quá trình phảnđạm hoá.
Khi bón vãi đạm trên mặt ruộng lúa ở đất nhẹ sau 15 ngày làm mất 50%lượng đạm; còn đất thịt sau 1 tháng mất 40% lượng đạm Khi bón vãi đạm trên mặtruộng lúa có thể gây mất tới 60 – 70% lượng đạm bón Chính vì vậy nên khi bónđạm cần bón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tầng đất nơi có bộ rễ lúa tậptrung nhiều [3]
Cây lúa hút lân mạnh hơn các cây trồng cạn Cùng với đạm, lân xúc tiến sựphát triển của bộ rễ và tăng số đẻ nhánh, đồng thời cũng làm cho lúa trổ bông vàchín sớm hơn [5] Muốn nâng cao hiệu suất phân lân phải bón kết hợp với phânchuồng, trộn với phân chuồng để hạn chế sự cố định lân của đất Phải bón lân cànggần rễ càng tốt
Kali được hút nhiều như đạm Cây lúa hút nhiều kali ở thơi kỳ đầu sinhtrưởng Trong thời kỳ lúa làm đòng, nếu gặp thời tiết xấu, cần phải bón kali bổ sung
để lúa làm đòng thuận lợi [5]
1.1.4 Kỹ thuật bón phân viên dúi sâu cho lúa nước
1.1.4.1 Phân viên
Phân viên dúi sâu NK là hỗn hợp U-RÊ và KA-LI theo tỷ lệ 55% U-RÊ và45% KA-LI CLORUA được máy nén thành viên và bón dúi sâu xuống bùn
1.1.4.2 Quy trình kỹ thuật bón phân viên cho lúa cấy
Kỹ thuật cấy lúa
+ Chuẩn bị ruộng cấy: Được cày sâu ít nhất 25cm, bừa ngả, ngâm cho nát rạ,
bừa lại cho ngấu và bón lót Lượng bón tính cho 1 sào (500m2) như sau: Phânchuồng 400 – 500kg, phân lân 20 – 22kg, vôi bột 12 – 15kg Phân và vôi được bónxuống ruộng, rồi bừa phẳng, để lắng và đem mạ vào cấy
+ Cấy lúa: Cấy theo khung, cây cách cây 12cm, hàng cách hàng 12cm và
35cm mỗi khóm lúa cấy 3 dảnh mạ (mạ chưa đẻ) hoặc 6 nhánh (mạ đã đẻ), mật độ
33 khóm/m2
Trang 12Cách cấy cải tiến cần kết hợp hai người Hai người cấy từ hai đầu bờ vàogiũa ruộng theo dây cấy Sau khi gặp nhau thì quay đầu lại và cấy ngược ra phía bờ.Khi cả hai đến bờ, cùng nhấc khung cấy lên, rồi cắm đầu dài 35cm vào hàng lúa vừacấy xong để cấy tiếp hai hàng mới Nếu trong 1m có 9 khóm lúa, mỗi khóm 3 dảnh
mạ thì đạt yêu cầu
Kỹ thuật bón phân cho lúa cấy (tính cho 1 sào 500m 2 )
Lượng phân bón cho vụ Đông Xuân
+ Bón lót: Phân chuồng 400 – 450 kg, phân lân (Lân super hoặc nung chảy)
20 – 22 kg, vôi bột 12 – 15kg
+ Bón phân viên: Tổng lượng 14 kg, trọng lượng viên phân 3,4g (loại viên to)
Lượng phân bón cho vụ Hè Thu
+ Phân chuồng 350 - 400 kg, phân lân (Lân super hoặc nung chảy) 15 – 17
kg, vôi bột 10 – 12kg
+ Bón phân viên: Tổng lượng 10 kg, trọng lượng viên phân 2,5g (loại viên nhỏ)
+ Thời điểm bón: ĐX: dúi phân viên sau 2 – 3 ngày cấy, Hè Thu dúi phân
viên sau 3 – 5 ngày cấy
Mực nước: Mực nước trong ruộng lúc bón phân sâu bằng một đốt ngón tay là vừa.Chuẩn bị phân viên: Đeo giỏ đựng phân viên bên hông, miệng giỏ luôn mở
để lấy phân dễ
Cách dúi: Một tay chuyên dùng để dúi phân, tay kia phải giữ luôn khô ráo để
lấy phân viên từ trong giỏ ra Tại mỗi điểm bón, dúi viên phân vào giữa 4 bụi lúa.Dúi sâu xuống ruộng 7 – 8 cm, ngay sau khi dúi xong, dùng tay thoa nhẹ bùn để lấpkín viên phân
Kỹ thuật tưới nước cho lúa
Điều khiển sự đẻ nhánh: Khi cấy để nước ngập 1/5 chiều cao cây mạ, khi đẻ
nhanh giữ nước nông (2 – 3cm), khi đẻ nhánh rộ rút cạn nước
Hạn chế lúa đẻ nhánh thừa: lúa đẻ đủ nhánh, rút nước phơi ruộng, tiêu chuẩn
phơi ruộng đạt yêu cầu: đi vào không lấm chân, mặt ruộng nứt nẻ, phiến lá lúa bắtđầu uốn cong; cho nước vào lại ruộng, cao khoảng 10 – 12cm, giữ mức nước này
Trang 13trong vòng 7 – 8 ngày; sau đó tháo bớt nước và giữ mức nước bình thường 5 – 6cmđến khi lúa phân hoá đòng; lúa phân hoá đòng để mức nước nông 3 – 4cm.
Thúc đẩy lúa trổ tập trung và cứng cáp: lúa trổ được 5% rút hết nước, cho
nước vào lại ruông khi lúa trổ được 85%; lúa đỏ đuôi tháo kiệt nước
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với nhữngnăm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâmcanh Việt Nam là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Mỗinăm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali trong
đó sản xuất lúa chiếm 62%.Tính từ năm 1985 tới nay, diện tích gieo trồng ở nước tachỉ tăng 57,7%, nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 51,7% (Bảng 1.1) Ngoàiphân bón vô cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu
cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại
Bảng 1.1 Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm
(Nguồn trạm khuyến nông Quỳ Hợp)
Trong số phân bón chưa được cây sử dụng, một phần còn lại ở trong đất, mộtphần bị rửa trôi theo nước mặt do mưa, theo các công trình thuỷ lợi ra các ao, hồ,sông suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt Một phần bị rửa trôi theo chiều dọc xuốngtầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình phảnnitrat hoá gây ô nhiễm không khí (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được
(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P 2 O 5 , K 2 O)
Trang 14(Nguồn trạm khuyến nông Quỳ Hợp)
Xét về mặt kinh tế thì khoảng 2/3 lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa
sử dụng được đồng nghĩa với việc 2/3 lượng tiền người nông dân bỏ ra mua phânbón bị lãng phí, với tổng thất thoát lên tới khoảng 30 nghìn tỷ đồng tính theo giáphân bón hiện nay
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa
Việc ra đời của phân hóa học đã làm tăng năng suất cây trồng của các nướcTây Âu lên 50% so với năng suất cây trồng luân canh cây bộ đậu Đến thời kỳ 1970– 1985 năng suất lại tăng gấp đôi so với năng suất đồng ruộng trước Đại chiến thếgiới lần thứ nhất [2]
Với những thành tựu Kỹ thuật gen và Công nghệ sinh học, người ta hy vọng:Bằng công nghệ sinh học các nhà sinh học sẽ giúp nhân loại những giống cây trồng
và con gia súc vừa có năng suất cao vừa có chất lượng sản phẩm tốt Song chắcchắn dù như vậy cũng phải dùng phân bón
Trong việc nghiên cứu phân bón không phải chỉ chú ý đến năng suất mà phảiđánh giá chất lượng sản phẩm Biện pháp phân bón đưa ra phải không gây ô nhiễmmôi trường sống
Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh dưỡngcần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa baogồm: đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, Có nhiều chất dinh dưỡng khoáng mà cây lúacần, nhưng 3 yếu tố dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn là: đạm, lân và kali lànhững chất cần thiết cho những quá trình sống diễn ra trong cây lúa Các nguyên tốkhoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất, nếuthiếu thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà bón bổ sung Phân bón có vai trò tối quantrọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, nó cần thiết cho suốt quátrình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch Ngoài ra chúng còn giữ vai
Trang 15trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽchết, không thể tồn tại Đối với lúa lai, bón phân là khâu quan trọng quyết định năngsuất của việc thâm canh Lượng bón cho lúa lai phải cao hơn so với các giống lúatruyền thống nhằm đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho lúa sinh trưởng và pháttriển tốt, đẻ nhánh tập trung, cây cứng, chống chịu tốt với sâu bệnh Bón phân cholúa lai cần đảm cân đối giữa các chất đạm, lân, kali, và trung, vi lượng (đặc biệt làkali và vi lượng) Nếu bón cân đối, hợp lý lúa sẽ phát triển tốt, giá thành thấp, năngsuất chắc chắn sẽ cao.
1.2.3 Một số nghiên cứu và ứng dụng phân viên nén trên thế giới và Việt Nam
1.2.3.1.Cơ sở khoa học của việc sử sụng phân viên nén
* Sự di động của đạm khi bón phân viên nén
- Sự di động của đạm ở các loại đất khác nhau:
Sự di động của đạm được xác định ở hai loại đất: đất thịt nhẹ và đất thịt trungbình phù sa Sông Hồng trên nền cấy lúa và không cấy lúa Kết quả các nghiên cứucho thấy sự di động của đạm trong đất thịt nhẹ nhanh hơn so với đất thịt nặng Sau 20ngày, ở đất thịt nhẹ đạm di động đến khoảng cách 15cm, trong khi đó ở đất thịt nặng,đạm chỉ di động đến khoảng 10cm Sau 40 ngày bón, ở đất thịt nhẹ đạm di động đếnkhoảng cách 22.5cm, còn ở đất thịt nặng chỉ di động đến khoảng cách 14cm Nếu dúimột viên phân cho 4 khóm lúa cấy với mật độ 15 x 15cm thì khoảng cách từ viênphân đến mỗi khóm lúa là 10.6cm Do vậy ở đất thịt nặng phải mất hơn 20 ngày đểphân di chuyển ở khóm lúa, còn ở đất thịt nhẹ thì cần thời gian ít hơn [3]
- Ảnh hưởng của khoảng cách và độ sâu bón đến sự di động của đạm
Sự phân bố không gian của đạm ở trong đất sau khi bón phân có ảnh hưởngrất lớn đến sự sinh trưởng của cây lúa Kết quả nghiên cứu cho thấy khi tăng khoảngcách giữa các điểm phân bón và khoảng cách cấy sẽ làm tăng thời kỳ thiếu đạm và
độ sâu bón cũng ảnh hưởng đến việc hút đạm của cây Sự di động của đạm ở các độsâu là khác nhau, sự di động của đạm vừa xuống phía dưới do tác động thấm sâu,vừa di chuyển lên phía trên do tác động của quá trình khuyếch tán Mức độ dichuyển xuống phía dưới, theo chiều ngang và lên phía trên khi bón ở các độ sâu
Trang 16khác nhau là khác nhau Ở độ sâu bón 5cm mức độ di động của đạm là nhanh hơnnhiều so với độ sâu bón 10cm và 15cm [3].
- Ảnh hưởng của mùa vụ đến sự di động của đạm trong đất
Sự di động của đạm phụ thuộc vào mùa vụ Sự di động của đạm trong vụmùa nhanh hơn trong vụ xuân Thí nghiệm được tiến hành tại Trường Đại học NôngNghiệp 1 trong năm 2001 cho thấy, khi bón urê viên nén ở độ sâu 10cm với cỡ viên1.8g cho giống lúa C70 cấy mật độ 18 x 18cm không thấy có sự chênh lệch nồng độgiữa điểm bón và xung quanh sau khi cấy 60 ngày ở vụ xuân còn trong vụ mùa thờigian này chỉ là 40 ngày [3]
* Phân viên nén và vấn đề môi trường
Có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng nitrat cao trongsản phẩm đã ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, bón nhiều chất hóa họclàm suy giảm chất lượng môi trường Kết quả nghiên cứu tại Trường Đại học Nôngnghiệp 1 cho thấy khi bón phân viên nén dúi sâu đã làm hạn chế khá lớn lượng đạm
bị mất đi khỏi đồng ruộng Lượng đạm bị mất đi chỉ cao hơn một ít so với công thứckhông bón đạm Lượng đạm mất đi này sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm môitrường nhất là khi canh tác xạ lúa không có điều kiện làm cỏ để vùi trộn phân bónvào đất, lượng đạm bị mất đi là rất lớn [3]
Với việc làm giảm thiểu lượng đạm bị mất do rửa trôi bề mặt và chảy xuốngnước ngầm, bước đầu có thể kết luận rằng bón phân viên nén dúi sâu đã có tác dụnglàm giảm thiểu tác động xấu của việc bón phân hóa học đến môi trường [3]
1.2.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân viên nén trê thế giới
Theo nghiên cứu của Trung tâm Phát triển phân bón Quốc tế (IFDC), vớicách bón vãi thông thường chỉ có khoảng 30-40% lượng phân urê được giữ lại trongđất và cung cấp cho cây lúa sử dụng, 60-70% lượng phân urê bị tổn thất do bị rửatrôi và bay hơi
Phương pháp bón phân đạm dúi sâu được thực hiện ở Nhật Bản từ nhữngnăm 1930 và ở Ấn Độ từ những năm 1950 Sau đó, phương pháp này đã được pháttriển và áp dụng nhiều vùng trồng lúa khác nhau trên thế giới
Trang 17Kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu cho lúa đã được áp dụng rất thành công ởnhiều nước châu Á như: Nhật Bản, Băngladesh, Nepal trong nhiều năm qua.
Về bản chất và kỹ thuật bón phân sâu có thể chia có thể chia làm hai phươngpháp:
Phương pháp 1: Bón phân sâu không theo điểm, trong và ngay sau khi làm đất.Phương pháp 2: Bón phân sâu theo điểm ở dạng viên, viên trộn bùn và viênlớn, sau hoặc trong thời gian cấy
Mặc dù bón phân sâu không theo điểm đã nâng cao hiệu quả sử dụng phânbón và tương đối đơn giản nhưng phương pháp bón phân này không phát triển đượctrên diện rộng ở Nhật là do khó xác định được thời gian tưới (vùi sâu trước khi tưới)
và khó vùi được toàn bộ đạm xuống sâu
Bón phân viên theo điểm ở dạng viên lớn cho ruộng lúa cấy là một phươngpháp bón mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao và là phương pháp tương đốimới Phương pháp này đã được nhiều tổ chức quốc tế đề nghị áp dụng trên diệnrộng ở các nước đang phát triển trồng lúa Phương pháp này được nhiều nông dân ởcác nước Nam và Đông Nam Á trồng lúa chấp nhận Mức độ chấp nhận phụ thuộcvào: Điều kiện khí hậu và điều kiện kinh tế xã hội; mối quan tâm của xã hội về vấn
đề môi trường và giá phân bón Nhìn chung những vùng mưa tập trung, đất dốc,điều kiện kinh tế nông hộ còn khó khăn và nhất là khi giá phân bón tăng cao thìnông dân đều mong muốn chấp nhận biện pháp này để giảm lượng phân bón Nhiềuvùng xung quanh thành phố lớn cũng mong muốn áp dụng phương pháp này chỉ vìbón có một lần, có điều kiện để cơ giới hóa, tiết kiệm thời gian cho các hoạt độngtăng thu nhập khác
1.2.3.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
- Phương pháp này đã được Bộ môn Canh tác (Khoa Đất và Môi trường)Trường ĐHNN1 nghiên cứu và khuyến cáo áp dụng nhiều nơi ở Việt Nam
Ở nước ta phương pháp này đã được áp dụng cho 18 tỉnh, thành phố gồm có:Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh
Trang 18Bình, Hưng Yên, Hà Nội, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, CaoBằng, Hà Giang, Bắc Ninh, Bắc Giang Loại phân viên dúi sâu rất phù hợp vớiruộng bậc thang, không bị rửa trôi, bốc hơi
- Năm 2000, PGS TS Nguyễn Tất Cảnh đã thực hiện nghiên cứu sản xuấtsản phẩm phân bón viên nén bằng nguồn kinh phí tự có, về sau có sự hỗ trợ kinhphí của Trung Tâm Phát triển phân bón quốc tế ( IFDC) và sự hỗ trợ của Tổ chứcPhát triển quốc tế ( IDE) trong việc thử nghiệm phân viên nén ở các tỉnh.Từ năm
2004 đến năm 2006 đã tiến hành dự án sản xuất thử nghiệm để hoàn chỉnh quy trình
áp dụng và sản xuất phân viên nén Các loại phân viên nén ( urê nén, NK và NPKviên nén) được ép từ các loại phân đạm, phân lân và phân kali có dạng hình quảbàng, trọng lượng viên phân biến động từ 1.8g đến 4.1g tùy loại phân và chất phụgia trộn vào trong phân Viên phân cứng, dễ dàng vận chuyển và đóng gói Phân cầnbảo quản nơi khô ráo và đựng trong túi ni lon kín, nếu để ẩm các viên phân dễ gắnkết với nhau, dễ vỡ nát khi bón
- Phân urê viên nén, NK và NPK viên nén đã được bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật theo quyết định số 1046 QD/BNN-KHCN ngày 11 tháng 5 năm 2005
Các loại phân viên nén bón cho lúa bằng hình thức bón sâu vào lớp đất 8cm, bón sau khi cấy lúa từ 1-5 ngày hoặc bón theo điểm trước khi gieo sạ Lúa cầnđược cấy thẳng hàng, khi bón không có lớp nước trên mặt ruộng Tuỳ từng giốnglúa và từng chân đất sử dụng lượng phân viên nén khác nhau
7-Kỹ thuật sử dụng phân viên nén này đã được in thành sách do nhà xuất bảnNông nghiệp phát hành năm 2005 và đã được phát nhiều lần trên kên truyền hìnhVTV2 và đài truyền hình các địa phương Ước tính diện tích áp dụng phân viên nénhiện nay vào khoảng 6-7 nghìn ha và mỗi vụ tiết kiệm được khoảng 9-10 tỷ đồng
Hiện nay nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục mở rộng theo hướng sản xuất raphân viên tròn để dễ cơ giới hoá, tăng thời gian bảo quản viên phân, bổ sung cácnguyên tố dinh dưỡng khác vào phân viên nén, mở rộng việc áp dụng phân viên néncho các loại cây trồng khác
Trang 19Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc đánh giá hiệu quả và khảnăng nhân rộng khi áp dụng phương pháp bón phân viên nén dúi sâu trong thâmcanh lúa nước tại Huyện Quỳ Hợp bao gồm:
- Các hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn 2 xã Châu Đình, Châu Lộc(Khoảng 60 hộ nông dân)
- Cán bộ trạm khuyến nông huyện, xã (xã Châu Đình, Châu Lộc )
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn 2 xã:Châu Đình và Châu Lộc, Huyện Quỳ Hợp, Tỉnh Nghệ An
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 05/02/ 2010 – 17/05/2010
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích đánh giá hiệu quả và tác động của mô hình của các hộ nông dânthông qua phân tích các tài liệu sơ cấp cũng như tài liệu thứ cấp thu được từ điều trathực tế về: năng suất, lợi nhuận, chi phí đầu tư, công dúi phân, ; tác động đối vớitài nguyên đất, nước và môi trường sinh thái địa phương
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với việc thực hiện
mô hình, tìm ra thế mạnh và yếu kém từ đó khuyến cáo cho người dân áp dụng kỹthuật bón phân viên nén dúi sâu trong thâm canh cây lúa nước nhằm tăng năng suất,tăng thu nhập Đồng thời, đề xuất các giải pháp để nhân rộng đại trà trên toàn bộdiện tích đồng ruộng của Quỳ Hợp
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu
2.3.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn Huyện Quỳ Hợp, Tỉnh Nghệ An.Tiến hành nghiên cứu đề tài trên cơ sở chọn điểm điều tra đảm bảo tính đạidiện cho các xã của huyện Chọn xã để lấy các mẫu điều tra đại diện cho toàn huyện
Trang 20thỏa mãn mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành chọn 2xã: Châu Đình và Châu lộc
Xã Châu Đình là xã được Trạm Khuyến nông chọn làm điểm tổ chức triểnkhai các mô hình trọng tâm của Trạm (do giao thông đi lại thuận tiện, các mô hìnhthành công dễ cho việc tham quan, học tập) Đây là xã được Trạm Khuyến nông và
dự án CBAET đặc biệt quan tâm với mô hình bón phân viên nén dúi sâu trong sảnxuất lúa nước Tuy nhiên, công tác khuyến nông ở đây vẫn chưa phát huy hết khảnăng vì vậy mà chưa đạt những kết quả như mong muốn trong các hoạt động sảnxuất nông nghiệp
Xã Châu Lộc là một xã nghèo, nhận thức của người dân hạn chế nên đờisống của họ còn rất khó khăn tuy nhiên họ luôn ý thức và mong muốn áp dụngnhững kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nhằm cải thiện cuộc sống Đây cũng là xã cócông tác khuyến nông tốt và có đóng góp đáng kể vào việc phát triển nông nghiệpcủa xã Xã có sự tác động của dự án CBAET về lĩnh vực nông nghiệp với mô hìnhbón phân viên nén dúi sâu cho lúa
2.3.1.2 Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng là các hộ nông dân sản xuất lúa nước
Ở mỗi xã được chọn, tiến hành phỏng vấn từ 25-30 hộ, việc phỏng vấn đượcthực hiện bằng phiếu điều tra hộ nông dân đã được chuẩn bị trước
Các hộ được lựa chọn theo phương pháp chọn ngẫu nhiên theo nhóm mẫu.Các hộ được chia thành 2 nhóm: (i) Hộ tham gia thực hiện mô hình, (ii) Hộ khôngtham gia mô hình Trên cơ sở danh sách 2 nhóm hộ do cán bộ khuyến nông xã cungcấp sẽ tiến hành bốc tham ngẫu nhiên Việc chia 2 nhóm mẫu để có thể đánh giá, sosánh được giữa những hộ làm mô hình và những hộ chưa làm có sự khác nhau nhưthế nào
- Đối tượng là cán bộ khuyến nông
Đối với các cán bộ làm công tác khuyến nông, việc phỏng vấn được thựchiện bằng bảng hỏi, bao gồm:
+ Cán bộ khuyến nông huyện (Trạm Khuyến nông Quỳ Hợp)
+ Cán bộ khuyến nông xã (Xã Châu Đình, Châu Lộc)
Trang 212.3.2 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp
Các thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, được thu thậpqua các báo cáo hàng tháng, báo cáo tổng kết hàng năm, các tài liệu trong các phòngban của Trạm Khuyến nông, Phòng Nông nghiệp huyện, Phòng Thống Kê UBNDHuyện, xã Ngoài ra những thông tin này còn được thu thập qua sách báo, Internet
- Thu thập số liệu sơ cấp
Các thông tin sơ cấp được thu thập qua việc sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp phỏng vấn cấu trúc, phỏng vấn bán cấu trúc: Có xây dựng
bộ câu hỏi điều tra các hộ nông dân (60 hộ nông dân của 2 xã Châu Đình và ChâuLộc) và các cán bộ khuyến nông (xem phụ lục)
+ Phương pháp phân tích lợi ích kinh tế: Phương pháp này dùng để phân tích vàtìm ra chi phí vật chất, chi phí lao động, doanh thu, lợi nhuận bình quân trên 1 ha lúa,các tỷ suất lợi nhuận/chi phí, thu nhập/chi phí để thấy rõ hiệu quả kinh tế của việc sửdụng phân viên nén dúi sâu so với cách bón phân vãi truyền thống
+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này dùng để so sánh hiệu quả giữa những
hộ sử dụng phân viên nén dúi sâu (hộ tham gia mô hình) với những hộ áp dụng cáchbón phân vãi truyền thống (hộ chưa tham gia mô hình) trong canh tác lúa nước thôngqua chỉ tiêu như: năng suất, thu nhập
+ Phương pháp quan sát
+ Sử dụng các công cụ của PRA
+ Phương pháp phân tích SWOT: Xác định những thuận lợi và lợi bất lợibằng cách phân tích những ảnh hưởng bên trong (điểm mạnh, điểm yếu) và nhữngảnh hưởng bên ngoài (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến quá trình thực hiện môhình bón PVNDS
- Xử lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được phân loại, xử lý và tổng hợp bằngphương pháp thủ công và chương trình Excel 2003
Trang 22Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
Có ranh giới tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp với huyện Quỳ Châu
- Phía Nam giáp với huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông
- Phía Đông giáp với huyện Nghĩa Đàn
- Phía Tây giáp với huyện Con Cuông, Tương Dương và một phần QuỳChâu
3.1.2 Địa hình, địa mạo
Trang 23+ Dạng địa hình đất bằng: Thường phân tán nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các khesuối và các dãy núi do đó hạn chế cho việc mở rộng diện tích đất trồng lúa nước vàtrồng màu.
- Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính là :
+ Gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam tốc độ gió trung bình năm từ 1,5 1,8 m/s Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau,mang theo mưa phùn, nhiệt độ xuống thấp, giá rét, đôi khi có sương muối, ảnhhưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
-+ Gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 04 đến tháng 09 mang theo nhiềuhơi nước và thường xuyên có mưa rào và giông, mưa lớn kéo dài, đất đá bị rửa trôi,xói mòn, gây ách tắc giao thông, công trình thuỷ lợi, kè cống kém tác dụng, năngsuất, sản lượng các loại cây trồng giảm
Ngoài hai hướng gió chính trên, về mùa hè thường xuất hiện các đợt gió tâynam, khô nóng, thiêu cháy cả cây cối, hoa màu ảnh hưởng đến năng suất, sản lượngcây trồng, bão thường xuất hiện từ tháng 08 đến tháng 10, kèm theo mưa lớn gâynên lũ lụt
- Chế độ nhiệt: Tổng nhiệt độ trung bình năm : 8.500 0C - 8.600 0C
Trang 24+ Biên độ năm 110C - 120C.
+ Biên độ ngày 60C - 70C
+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối chưa dưới 60C
+ Nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 280C - 310C
+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối chưa quá 410C
+ Nhiệt độ trung bình tháng 11 đến tháng 3 năm sau từ 150C - 200C, thấpnhất từ 40C - 60C
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.500 - 1.900 mm, tập trung từtháng 6 đến tháng 10, tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, xấp xỉ 400 mm; tháng 1 cólượng mưa nhỏ nhất từ 20 - 25 mm, lượng mưa phân bố ở các tháng không đều.Trong những năm gần đây, thỉnh thoảng có mưa lớn thất thường gây ảnh hưởng xấuđến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân, nhất là vùng chuyên canh lúa
- Ẩm độ: Ẩm độ không khí trung bình năm từ 85 - 86%; tháng 2 -3 có độ ẩmkhông khí cao nhất gần 90%, lượng bốc hơi trung bình năm khoảng 854 mm
Nhìn chung, khí hậu Qùy Hợp tương đối đồng nhất ở các vùng khác nhautrong huyện Các yếu tố khí hậu phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của nhiềuloại cây trồng như lúa, màu, lương thực, thuận lợi cho thâm canh, tăng vụ, nâng caonăng suất cây trồng tăng giá trị trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Tuy nhiên, các yếu tố khí hậu cũng gây ra những bất lợi như ảnh hưởng trựctiếp của gió bão, mưa lớn tập trung gây ra úng lụt, những biến động thất thườngkhác của thời tiết như hạn hán, rét đậm kéo dài gây ảnh hưởng đến sản xuất và đờisống của nhân dân
3.1.4 Thuỷ văn
- Nguồn nước bề mặt: Huyện Quỳ Hợp có lượng mưa trung bình hàng năm1.640,4 mm, đảm bảo nguồn nước khoảng 1,5 tỷ m3/năm, nguồn nước mặt củahuyện Quỳ Hợp chủ yếu dựa vào sông Dinh và các khe suối Độ dốc lớn, lòng sôngcách xa là một hạn chế của nguồn nước của huyện Quỳ Hợp, đòi hỏi các biện phápkhai thác, điều tiết và sử dụng khá tốn kém
Trang 25Lượng nước sông Dinh phụ thuộc vào chế độ mưa và rừng thượng nguồn:Mùa mưa dòng nước chảy lớn, nước lên nhanh, lưu tốc lớn nhất là 250m3 /s; Mùakhô lượng nước giảm nhanh, lưu tốc chỉ đạt 10m3/ s Sông Dinh chảy qua địa bànhuyện Quỳ Hợp có trên 40 nhánh lớn, nhỏ; Hệ thống khe suối toàn huyện có trên 46
hồ, đập quanh năm có nước với tổng diện tích xấp xỉ 200 ha
- Nguồn nước ngầm: Qua khảo sát cho thấy nguồn nước ngầm trên địa bànhuyện có trữ lượng rất lớn, chất lượng nước tốt Tuy nhiên khả năng sử dụng nướcngầm phục vụ cho sản xuất còn hạn chế, một số xã như: Hạ Sơn, Văn Lợi mùakhô vẫn còn tình trạng thiếu nước sinh hoạt
3.1.5 Đất đai
Trang 26Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Quỳ Hợp qua 03 năm (2007 – 2009)
Tỷ lệ (%) 08/07 09/08 Tổng diện tích đất tự nhiên 94.176,79 100 94.176,79 100 94.176,79 100 0 0
Trang 27Là huyện miền núi nên diện tích đất tự nhiên của Quỳ Hợp chủ yếu là đấtdốc Qua bảng 3.1 ta thấy, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 94.176,79 hatrong đó đất nông nghiệp năm 2007 là 19.779,00 ha chiếm 19,24% tổng diện tíchđất tự nhiên của toàn huyện Nhưng đến năm 2009 diện tích đất nông nghiệp đãgiảm xuống còn 18.122,00 ha Nguyên nhân của việc giảm đi này là sau khi có dự
án 135 đất chuyên dùng tăng lên do đầu tư mở rộng đường giao thông, đất xây dựng
cơ bản, các khu kinh tế; ngoài ra do diện tích trồng cây CN hàng năm giảm mạnhnăm 2007 là 10.145,00 ha đến năm 2009 giảm xuống còn 5.957,00 ha Như vậy,diện tích đất nông nghiệp giảm xuống cho thấy nền kinh tế ngày càng phát triểntheo hướng có lợi giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Tuy nhiên, diện tích đất trồnglúa lại có xu hướng tăng diện tích gieo trồng năm 2007 là 4.539,00 ha đến năm
2009 là 4.660,00 ha Sở dĩ người dân địa phương cũng như các cấp, ban ngành đã
và đang quan tâm đến vấn đề lương thực, đảm bảo cuộc sống ổn định và hướng tớimục tiêu xoá đói giảm nghèo; đặc biệt là phát huy lợi thế của cây lúa khi Quỳ Hợp
là huyện có diện tích trồng lúa lớn nhất trong các huyện miền núi của Nghệ An
Ngoài ra, qua bảng 3.1 chúng ta thấy diện tích đất chưa sử dụng khá caochiếm 13,31%, đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn 55,242% chủ yếu là trồng tre luồng,nứa, mét có đến khoảng 10.568.000 cây ( theo điều tra của Ban chỉ đạo xây dựngquy hoạch tổng thể thuộc UBND huyện Quỳ Hợp năm 2007 ) Nhờ chính sách giaođất lâm nghiệp và các chương trình dự án nên đã trồng, khoanh nuôi, bảo vệ tốt nên
lệ khá thấp đó là những ao nhỏ tận dụng khe suối nuôi cá nước ngọt phục vụ sinhhoạt hàng ngày
Trang 283 2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Đặc điểm dân số và lao động
Tình hình dân số và lao động của huyện Quỳ Hợp được thể hiện rõ qua bảng3.2
Dân số
Tính đến ngày 31/12/2009, toàn huyện Quỳ hợp có dân số 116.958 người với27.862 hộ sinh sống Trong đó: Nữ có 58.769 người Đang độ tuổi lao động có68.526 người chiếm 58.59%, ( trong đó: Nữ có 31.733 người chiếm 46,3%)
Trên địa bàn huyện có 52% dân số là người dân tộc thiểu số với Dân tộcThái, Thanh có: 42.198 người, dân tộc Thổ có: 18.228 người Còn lại là ngườiKinh: 56.532 người
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên năm 2008 là 1,107%; năm 2009 là 1,105%.Dân cư phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở thị trấn và các xã ven thịtrấn, ven các trục giao thông chính (Quốc Lộ 48) Mật độ dân số bình quân toànhuyện là 124 người/Km2 Mật độ dân số cao nhất là Thị trấn Quỳ Hợp: 564người/km2, nơi thấp nhất là 26 người/km2
Trang 29Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện trong 03 năm (2007 – 2009)
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 So sánh (%)
Trang 30Lao động
Qua bảng 3.2 ta thấy số lao động qua 03 năm có xu hướng tăng, bình quânmỗi năm tăng lên 0,5% Sở dĩ lao động phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên cụthể, năm 2007 là 10.833,0 người đến năm 2009 là 12.149,0 người Bình quân mỗinăm tăng lên 9,7%
Trong khi đó, lao động nông nghiệp chiếm trên 80% tổng số lao động củahuyện và có xu hướng giảm (năm 2007 chiếm 84,3% trong tổng số lao động; năm
2009 chiếm 82,3%), bình quân mỗi năm giảm đi 0,65% Nguyên nhân là lao độnglàm các ngành nghề khác như buôn bán, dịch vụ tăng nhanh trong những năm gầnđây Đặc biệt là gần đây lao dộng nông nghiệp di cư đi làm ăn nơi khác và một sốngười đi xuất khẩu lao động đã làm cho lao động nông nghiệp trong 03 năm có xuhương giảm Tuy nhiên xu hướng này giảm không đáng kể so với tỷ lệ lao độngnông nghiệp hiện nay Mỗi hộ trung bình 04 – 05 người Mỗi hộ nông nghiệp có từ
02 -03 lao động
3.2.2 Cơ sở hạ tầng
Đường giao thông: Huyện tiếp tục thực hiện đề án giao thông nông thôn.
Đến nay hầu hết các đoạn đường nông thôn đã được đổ bê tông, được nâng cấp và
mở rộng lòng đường Hiện nay, ở huyện Quỳ Hợp gồm có các trục đường chínhsau: Đường quốc lộ 48 (27km), đường 532 (tỉnh lộ) (39km), đường trong huyệntổng chiều dài 115km (tuyến Châu Quang – Bắc Sơn, tuyến Thị Trấn Quỳ Hợp –
Hạ Sơn, )
Hệ thống thủy lợi: Huyện Quỳ Hợp có lượng mưa phân bố không đều
trong năm (tập trung chủ yếu vào tháng 8, 9) trong khi độ dốc lớn, lòng sông, suốihẹp nên nguồn nước mặt ở Quỳ Hợp cũng có những hạn chế Sớm ý thức được điều
đó, Đảng bộ và nhân dân huyện Quỳ Hợp đã chăm lo đầu tư, xây dựng các côngtrình thuỷ lợi, phục vụ sản xuất Đến nay, toàn huyện có 46 hồ, đập lớn nhỏ vớitổng diện tích mặt nước có khoảng 200 ha, đáp ứng tuới tiêu cho 2.239,15 ha lúanước (2 vụ)
Trang 31Cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư xây dựng, hàng loạt các công trình mới
đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, tạo nên diện mạo mới cho huyện miền núiQuỳ Hợp Có sự đổi thay như vậy là nhờ bên cạnh sự quan tâm, trợ giúp vốn củaNhà nước, Quỳ Hợp đã huy động nguồn lực từ nhân dân, tạo nên sức mạnh tổnghợp trong phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào xâydựng mạng lưới điện, hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống kênh mương nộiđồng, trường học, trạm xá và các công trình phúc lợi khác
Giáo dục
Toàn huyện có 03 trường THPT, 01 trung tâm GDTX 100% xã có nhà trẻ,trường tiểu học và trung học cơ sở nhưng cơ sở vật chất còn nghèo nàn, dụng cụdạy học của giáo viên và đồ dùng học tập của học sinh còn thiếu thốn Chính vì vậy,
để nâng cao dân trí cần phải đầu tư nhiều hơn cho giáo dục
Y tế
Toàn huyện có 01 trung tâm y tế đóng tại thị trấn, 02 phòng khám đa khoakhu vực 100% số xã có trạm y tế với cán bộ y tế có 241 người., trong đó chỉ có04/20 xã có trạm đạt tiêu chuẩn Quốc gia Hệ thống chăm sóc sức khoẻ ở huyện cònrất thiếu thốn
3.2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện
Qua bảng 3.3 ta thấy tổng giá trị sản xuất của huyện từ năm 2007 đến năm
2009 có luôn sự tăng trưởng đáng kể, thu nhập của người dân trong huyện ngàycàng tăng lên và được đảm bảo, bình quân qua 03 năm tăng 24,4% Trong đó Nông,lâm, ngư nghiệp tăng 10,3% Nguyên nhân là do trong thời gian từ sau năm 2003đến nay nhân dân huyện Quỳ Hợp đã tiếp cận những kiến thức về trồng trọt, chănnuôi, biết áp dụng tốt những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống,đồng thời chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các giải phápphát triển kinh tế của tỉnh và huyện trong thời gian qua Chính và vậy mà giá trị sảnxuất không chỉ của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng lên mà tất cả các ngành kháccũng đều tăng lên trong thời gian qua
Trang 32Bảng 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Quỳ Hợp trong 03 năm ( 2007 – 2009)
SL (tr.đ) CC(%) 08/07 09/08 BQ
I Tổng GTSX
184.242,7 100,0 241.707,6 100,0 283.990,5 100,0 131,2 117,5 124,4
1 Nông, lâm, ngư nghiệp
476.550,0 25,9 499.605,0 20,7 577.149,0 20,3 105,1 115,5 110,32.Công nghiệp – XDCB
Trang 33 Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện
Toàn huyện có 20 xã và thị trấn Phần lớn các xã có điều kiện kinh tế rất khókhăn Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đều khá cao, trung bình mỗi xã có tới 39,8% hộnghèo Một số xã có hộ nghèo trên 40% ( xã Văn Lợi 42,7%, xã Châu Lý 43,5%).Thị trấn có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất (14,3%)
Nguyên nhân nghèo đói của huyện chủ yếu là do người dân thiếu vốn vàthiếu kinh nghiệm làm ăn Đa phần người dân sống dựa vào hoạt động sản xuấtnông nghiệp nhưng lại thiếu kiến thức kỹ thuật nâng cao năng suất, thị trường đầu
ra còn bấp bênh, chưa bền vững Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo từ năm 2007 đến năm
2009 có xu hướng giảm Sở dĩ trong ba năm qua công tác khuyến nông đã thực sự
đã đạt được những thành công nhất định và đóng góp to lớn vào sự phát triển củahuyện nhà Đặc biệt thành công từ mô hình bón phân viên nén dúi sâu trong thâmcanh lúa nước với việc tăng năng suất, thu nhập cải thiện đời sống cho các hộ nôngdân sản xuất lúa nói riêng và các hộ sản xuất nông nghiệp nói chung
Bảng 3.4 Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Quỳ Hợp trong 03 năm (2007 – 2009)
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động khá cao, người lao động đã được đào tạonâng cao tay nghề ngày càng nhiều Đây là nguồn lao động dồi dào tạo điều kiện đểtriển khai mô hình trình diễn trên diện rộng
Trang 34Là một huyện miền núi đang gặp nhiều khó khăn nên Quỳ Hợp được sự quantâm đầu tư của Chính Phủ, Tỉnh Nghệ An, các tổ chức trong và ngoài nước Có rấtnhiều chương trình, dự án đầu tư cho huyện về lĩnh vực nông nghiệp như: Chươngtrình 135, dự án CBAET
3.3.2 Khó khăn
Huyện nằm cách xa trung tâm tỉnh, các bản/xã cách xa nhau, địa hình đồi núiphức tạp, giao thông đi lại khó khăn,nhiều làng/bản biệt lập nên người dân ít có cơhội tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật
Địa bàn hoạt động của cán bộ khuyến nông là rất lớn, địa hình đi lại khókhăn Ngoài ra, Quỳ Hợp là một huyện miền núi của Nghệ An chịu ảnh hưởng lớncủa thời tiết bất thuận như: hạn hán, lũ lụt, gió Lào khô nóng nên các hoạt độngnông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn
Tổ chức khuyến nông chưa thực sự gắn liền với các đoàn, hội như: ĐoànThanh niên, Hội Phụ nữ nên cán bộ khuyến nông cơ sở chưa phát huy hết đượckhả năng của mình, người dân chưa thực sự coi cán bộ khuyến nông cơ sở là ngườibạn đồng hành của họ
Cơ sở hạ tầng thiếu thốn làm cho kinh tế chậm phát triển, thu nhập bình quântrên đầu người còn thấp Việc nâng cao năng lực cho người dân và cộng đồng cònkhó khăn
Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao và quy mô sản xuất nông nghiệp còn manh mún,lạc hậu, dựa vào tự nhiên nên việc phổ biến, xây dựng và nhân rộng các chươngtrình, dự án đến người dân còn khó khăn
Trình độ dân trí còn hạn chế và chưa đồng đều nên việc tiếp thu, khả năngứng dụng kỹ thuật mới, tiến bộ còn gặp nhiều rào cản
Là một huyện còn nghèo nên kinh phí phục vụ cho các hoạt động nông lâmnghiệp nói chung và hoạt động khuyến nông nói riêng còn khá khiêm tốn, không đủđáp ứng yêu cầu thực tế, do đó rất khó khăn trong công tác chuyển giao KHKT đặcbiệt ở vùng sâu, vùng xa
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình tham gia thực hiện mô hình bón PVN dúi sâu của các hộ điều tra
4.1.1 Đặc trưng chủ yếu của các hộ tham gia mô hình bón PVN dúi sâu
Hiệu quả của việc bón phân cân đối, đủ số lượng và đúng thời vụ thì nôngdân đã biết, nhưng cái khó là địa hình miền núi, nhiều mưa lũ thất thường rửa trôicác chất màu của ruộng Có lúc không thể bón phân đúng thời gian vì không thể làmchủ được dòng nước chảy tràn từ bờ cao xuống ruộng thấp Vì vậy “Mô hình bónphân viên dúi sâu cho lúa nước” đã được Trạm Khuyến nông Quỳ Hợp và dự ánCBAET áp dụng trên địa bàn nhằm giúp người dân nâng cao năng suất, thu nhập,giảm chi phí "đầu vào", đảm bảo an ninh lương thực đồng thời giảm tác động tiêucực đến môi trường
Để đánh giá mức độ thực hiện mô hình khi áp dụng kỹ thuật mới vào sảnxuất lúa và đánh giá mức đầu tư thâm canh chúng tôi tiến hành điều tra 50 hộ giađình
Qua điều tra 50 hộ cho thấy chủ hộ cũng là người lao động chính trong quátrình sản xuất lúa Phần lớn họ là nông dân, lại sinh ra và lớn lên trên vùng đất cótruyền thống cấy lúa nước từ lâu đời Cây lúa ở đây là cây trồng chính, thu nhập củanông dân chủ yếu từ hai vụ lúa, chính vì vậy họ rất có kinh nghiệm trong việc sảnxuất lúa Đây là điều kiện khá thuận lợi để phát triển mô hình bón phân viên nén dúisâu tại địa phương Qua bảng 4.1 ta sẽ thấy rõ hơn đặc điểm của các chủ hộ điều tra
Trang 36Bảng 4.1 Đặc điểm của các chủ hộ điều tra
TT Các chỉ tiêu ĐVT Số lượng Cơ cấu
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Qua bảng 4.1 ta thấy: Chủ hộ phần lớn là nam giới chiếm 86% số hộ điều tra,còn nữ giới chỉ chiếm 14% Độ tuổi trung bình của các chủ hộ là 43 tuổi, chủ hộ có
độ tuổi thấp nhất là 25 tuổi, cao nhất là 68 tuổi, độ tuổi từ 25 – 49 chiếm 78%, từ 50– 68 chiếm 22% Như vậy lực lượng lao động ở đây chủ yếu là lao động trẻ
Về trình độ học vấn và nghề nghiệp: Đây là yếu tố có vai trò quan trọngtrong quá trình SXNN nói chung và sản xuất lúa áp dụng kỹ thuật bón PVN dúi sâunói riêng bởi trong kinh tế hộ thì chủ hộ thường là người ra quyết định trong quá
Trang 37trình sản xuất cho gia đình Với trình độ học vấn cao và nghề nghiệp chiếm vị thếcao trong xã hội sẽ giúp cho các chủ hộ thuận lợi hơn trong việc đưa ra các quyếtđịnh về đối tượng, quy mô, phương thức sản xuất cũng như mức độ đầu tư trong sảnxuất về vật tư, phân bón, giống, lao động và các nguồn lực khác; ngoài ra còn ảnhhưởng đến kết quả sản xuất, thể hiện sự hiểu biết, sự tiếp nhận khoa học kỹ thuậtmới, sự vận dụng nhanh các kỹ thuật tự nhiên Trình độ học vấn của các chủ hộ điềutra như sau: Tiểu học (40%); THCS (36%); THPT (18%); và TCKT (6%) Như vậy,trình độ chủ yếu của các hộ điều tra là TH và THCS (chiếm 76%) Còn về cơ cấunghề nghiệp: Thuần nông chiếm số lượng lớn (88%); Hưu trí, giáo viên, KNV(8%); và Kiêm nghề khác (4%).
Điều kiện kinh tế của các hộ cũng ảnh hưởng rất lớn tới quyết định sản xuấtcủa hộ, khi có điều kiện về kinh tế các quyết định đầu tư sẽ khác với các hộ ít cóđiều kiện về kinh tế hơn, các hộ này sẽ đầu tư đúng mức hơn còn các hộ ít có điềukiện sẽ đầu tư dè dặt hơn vì thế hiệu quả mang lại cũng khác nhau Trong các hộđiều tra thì hộ trung bình có 24 hộ (chiếm 48%), hộ nghèo 17 hộ (chiếm 34%) và hộkhá có 9 hộ (chiếm 18%)
Việc thực hiện mô hình này, yêu cầu kỹ thuật ngay từ khâu cấy giăng dâyphải đảm bảo đúng mật độ là hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến việc dúi phân,lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây lúa và cuối cùng là ảnh hưởng đến năng suất
Vì vậy nắm vững kỹ thuật cấy, dúi phân và chăm sóc là hết sức cần thiết Ý thứcđược vấn đề này các chủ hộ tham gia tích cực vào các khoá tập huấn do cán bộkhuyến nông tổ chức Số hộ tham gia tập huấn chiếm 88% Điều này cho thấy phầnlớn các chủ hộ đều nhận thấy được yếu tố kỹ thuật chiếm vị trí rất quan trọng khi ápdụng mô hình này
Qua điều tra cho thấy nếu các hộ tham gia tập huấn và thực hiện đúng kỹthuật đã được hướng dẫn thì kết quả thu được sẽ cao hơn các hộ không tham gia tậphuấn kỹ thuật
4.1.2 Đối tượng tham gia lớp tập huấn kỹ thuật sử dụng PVN của các hộ điều tra
Trang 38Tuân thủ đúng quy trình gieo cấy – yếu tố quan trọng trong sản xuất vì vậy
để thực hiện tốt và đúng quy trình kỹ thuật nhằm đảm bảo năng suất, hiệu quả tốtnhất đòi hỏi các hộ gia đình phải được tập huấn, hướng dẫn về kỹ thuật, và phảiđược trực tiếp thực hành trên đồng ruộng, đặc biệt đây là kỹ thuật khá mới mẻ vớingười nông dân khi trước đây họ có thói quen, tập quán cấy tự do, bón phân tự do
Theo kết quả điều tra thì việc nam giới (chồng) tham gia vào các lớp tậphuấn kỹ thuật của mô hình chiếm tỉ lệ 53% Với những lý do được đưa ra là chồng
là người quyết định mọi vấn đề trong gia đình, chồng nắm bắt kỹ thuật tốt hơn vợ,chồng truyền tải thông tin tốt hơn vợ
Thành viên tham gia tập huấn Thành viên tham gia trên đồng ruộng
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Biểu đồ 4.1 Đối tượng tham gia tập huấn KT và thực hiện trên đồng ruộng
về mô hình bón PVNDS
Ngoài ra, 27% số hộ được hỏi trả lời vợ là người tham gia với lý do vợ làngười trực tiếp làm (cấy, bón phân ) trên đồng ruộng, chồng bận đi làm, các con đihọc
11% số hộ được hỏi trả lời có cả vợ và chồng cùng tham gia Lý do của sựphân công này theo các hộ là ai chuyên việc nào hơn thì người đó tham gia
9% thành viên khác trong gia đình tham gia lớp tập huấn kỹ thuật của môhình Đây là những hộ bố, mẹ đã già yếu nên các con tham gia (con gái, con dâu );