Đối tượng tiếp cận nguồn vốn tíndụng ngày càng được mở rộng với trên 9 triệu hộ và doanh nghiệp ở nông thôntiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, trong giai đoạn từ 1994 - 2007 tỉ l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt nam đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng Cùng với sự phát triển về kinh tế, Đảng vàChính phủ đã có những chủ trương chính sách đồng bộ huy động sức mạnh tổnghợp toàn xã hội để thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN, giải quyết công ănviệc làm và ổn định xã hội
Thực hiện chủ trương trên, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành thựchiện cơ chế tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách (Nghị định số78/2002/NĐ-CP) Sau hơn 4 năm triển khai (từ 2003 - 2007), chính sách tín dụngcủa Chính phủ đã giúp hơn 900.000 hộ gia đình thoát nghèo; tạo công ăn việclàm cho hơn 1,2 triệu lao động trong xã hội; xây dựng hơn 230.000 công trình vệsinh nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn; hơn 80.000 học sinh, sinh viên cóhoàn cảnh khó khăn được vay vốn để học tập Đây là những kết quả hết sức tolớn của chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách trongthời gian qua
Hoạt động tín dụng nông nghiệp nông thôn thời gian gần đây cũng đã cónhững bước phát triển nhất định Mạng lưới cho vay nông nghiệp nông thôn ngàycàng được mở rộng Nguồn vốn, doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càngtăng (tính đến 31/10/2008 dư nợ cho vay trong lĩnh vực này đạt 294.853 tỷ đồngchiếm 23% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế) Đối tượng tiếp cận nguồn vốn tíndụng ngày càng được mở rộng với trên 9 triệu hộ và doanh nghiệp ở nông thôntiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, trong giai đoạn từ 1994 - 2007 tỉ lệ
hộ gia đình nông thôn được vay tiền từ các tổ chức tài chính tăng từ 9% lên đến70% Hoạt động tín dụng đã thực sự gắn với làng, bản, xóm thôn, gần gũi với bàcon nông dân nhất là các hộ nghèo
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt ra khỏi đóinghèo Nhưng vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào thông thường như hạt giốnghay phân bón, vốn giúp người nghèo nắm quyền kiểm soát các tài sản khác, giúpcho tiếng nói của họ có trọng lượng hơn trong các giao dịch kinh tế cũng như
Trang 2quan hệ xã hội Nói cách khác, trong những thảo luận về phát triển kinh tế, khảnăng tiếp cận tín dụng được xem là một yếu tố quan trọng để “tăng thế lực” chongười nghèo Đồng thời nó cũng là động lực để người nghèo, đặc biệt là PNNhọc hỏi và phát huy khả năng tiềm ẩn của mình Và riêng đối với phụ nữ thì nócòn là công cụ tạo ra bình đẳng giới nữa.
Những năm gần đây, trong các chương trình dự án phát triển nông thônXĐGN tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng tạo mọi điều kiện đểngười nghèo nhất là PNN có nhiều cơ hội tiếp cận với nguồn vốn tín dụng Việcgiao vốn cho phụ nữ thường tạo ra cảm giác yên tâm trong tâm lý của những tổchức tín dụng vì họ cho rằng phụ nữ có khả năng thanh toán cao hơn và ít “bùng”
nợ hơn nam giới
Chống đói nghèo là một cuộc chiến đấu lâu dài và quyết liệt Mặc dù đấtnước còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên giành nguồnlực để XĐGN Một trong những quyết tâm đầu tư của Nhà nước cho XĐGN phải
kể đến sự ra đời của NHCSXH, đây có thể coi là “người cứu tinh” của ngườinghèo Từ khi ra đời, từ đồng vốn vay với lãi suất ưu đãi đã giúp cho hàng triệu
hộ đã và đang thoát nghèo
Văn Sơn là một xã thuần nông thuộc huyện Đô lương Trong những nămgần đây, xã có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, tỷ lệ hộ nghèo luôn giảm quacác năm (cụ thể tỷ lệ hộ nghèo qua các năm của xã Văn Sơn: năm 2006 là14,06%, năm 2007 là 11,55%, năm 2008 là 9,39%) Tuy nhiên đời sống của nhândân trong xã cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, với tư cách là người bạn đồnghành của người nghèo trong những năm qua NHCSXH đã và đang là kênhchuyển tải vốn chủ yếu đến hộ sản xuất có hoàn cảnh khó khăn trong xã, gópphần tạo công ăn việc làm giúp nông dân làm giàu chính đáng bằng nội lực từcác hộ Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ lẻ, địabàn hoạt động rộng nên việc cho vay hộ sản xuất gặp nhiều khó khăn Vì vậy,thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHCSXH gặp khó khăn trong hoạt động tíndụng đối với loại hình này, khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng nhất làPNN còn nhiều vấn đề bất cập NHCSXH huyện Đô Lương cũng không tránh
Trang 3khỏi những khó khăn này khi mà khách hàng có quan hệ với Ngân hàng đa số làcác hộ nông dân nằm trong đối tượng chính sách.
Với ý nghĩa đó, để xem xét mức độ tham gia của hộ nông dân nói chung
và PNN nói riêng trong các chương trình XĐGN như thế nào? Khả năng tiếp cậnnguồn vốn của họ ra sao? Hiệu quả sử dụng vốn vay của họ như thế nào? Cầnphải làm gì để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho PNN? Chúng tôi quyết định
nghiên cứu đề tài: “Đáng giá hiệu quả sử dụng vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội cho phụ nữ nghèo xã Văn Sơn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của PNN xãVăn Sơn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An từ đó đề xuất một số giải pháp nhằmphát triển thị trường vốn tín dụng nông thôn cũng như các biện pháp nâng caohiệu quả sử dụng vốn của PNN trong xã
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tín dụng nông thôn và tín dụng cho PNN
- Đánh giá thực trạng sử dụng vốn vay của PNN trong xã
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vay của PNN trong xã
- Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến sử dụng vốn vay không hiệu quả của PNN
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng vốn vay có hiệu quả
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay từ Ngân hàngchính sách xã hội cho phụ nữ nghèo xã Văn Sơn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ an”,nên đối tượng nghiên cứu của đề tài là
Trang 4- Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu từ ngày16/02/2009 đến ngày 10/5/2009.
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay từ NHCSXH chophụ nữ nghèo xã Văn Sơn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ an”, vì vậy nội dung
nghiên cứu của đề tài là: Đánh giá thực trạng, nhu cầu và hiệu quả sử dụng vốn
vay từ đó tìm ra những vấn đề tồn tại trong quá trình cho vay và vay vốn củaPNN xã Văn Sơn Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốncủa PNN và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn củaPNN trong xã
Trang 5Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế,hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong nhữnglúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năngtruyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ítđược tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không đượcngười khác tôn trọng [16]
Tại hội nghị bàn về đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương doESCAP tổ chức tại Băng Kốc tháng 9 năm 1993 đưa ra định nghĩa nghèo nhưsau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoã mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội công nhận tuỳ theo trình độphát triển KT - XH và phong tục tập quán của các địa phương” [7]
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng vàkhông có khả năng thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc, ở, nhucầu văn hoá, y tế, giáo dục và giao tiếp) để duy trì cuộc sống mà những nhu cầu
Trang 6này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tậpquán của địa phương.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trungbình của cộng đồng xét trên mọi phương diện tại nơi đang xét [15]
Khái niệm nghèo mà khóa luận dùng để nghiên cứu tập trung vào nghèotương đối và được đo lường bằng mức chuẩn nghèo chung do Chính phủ đề ra
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8tháng 7 năm 2005 Về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -
2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vựcthành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Như vậy, dựa trên khái niệm và chuẩn nghèo này, người nghèo được địnhnghĩa như sau: Người nghèo là những người có thu nhập và chi tiêu không đủ đểđảm bảo tiêu dùng và có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng trênphương diện tại nơi đang xét Họ thiếu năng lực tham gia vào đời sống KT - XHcủa quốc gia, đặc biệt họ thiếu khả năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của sựphát triển một cách có hiệu quả
Trên cơ sở khái niệm nghèo, người nghèo, chúng ta hãy xem xét bản chất
đa phương diện của nghèo
Xét trên phương diện kinh tế, nghèo gắn bó mật thiết với yếu tố phổ biến
là thiếu tài sản Thiếu tài sản vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tình trạngnghèo khổ Tài sản này tồn tại dưới các dạng như: Tài sản con người đó là khảnăng có được sức lao động, kỹ năng và sức khỏe; tài sản tự nhiên như đất đai; tàisản tài chính như tiết kiệm và tiếp cận được vốn vay; tài sản xã hội như các mốiquan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ cậy
Tuy nhiên, có những người có tài sản có nghĩa là khả năng bị tổn thương ítnhưng do năng lực thấp kém, họ không biết dùng tài sản đó để tạo ra thu nhậpcho bản thân Vì thế, việc sở hữu tài sản chỉ là một khía cạnh, yếu tố quan trọng
Trang 7là khả năng sử dụng tài sản đó như thế nào để tạo ra hàng hóa, tạo thu nhập vànâng cao chất lượng cuộc sống.
Trên phương diện xã hội, nghèo phản ánh trình độ thấp kém phát triển vềmặt xã hội của mỗi quốc gia, mỗi cá nhân và khả năng tham gia vào các dịch vụ
y tế, giáo dục, của mỗi cá nhân rất hạn hẹp Sức khỏe yếu, năng lực kém, khảnăng tiếp cận các dịch vụ và cảm giác bị tự ti và xã hội không quan tâm cũngphản ánh sự khốn cùng của tài sản cá nhân
Vì thế, dưới góc độ KT - XH hay chính trị, nghèo là do con người thiếu sựlựa chọn và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế và xã hội của quốc gia.Chính khả năng lựa chọn và năng lực tham gia là hai nhân tố quan trọng quyếtđịnh quá trình phát triển của mỗi một quốc gia, vùng miền, hộ gia đình và cánhân người lao động
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, ở Việt Nam thị trường và cơ chế thịtrường đã đặt ra những yêu cầu liên quan tới sự phát triển KT - XH mà mỗi cánhân người lao động phải đáp ứng Chính khả năng đáp ứng đó là khác nhau giữacác cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên kết quả của nó là hiệntượng phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Nền kinh tế thị trường đã mở ra nhiều khả năng cho con người phát triển,cung cấp cho con người nhiều phương án lựa chọn nhưng nó cũng làm cho tìnhtrạng phân hóa giàu nghèo càng thêm sâu sắc Bộ phận dân cư nghèo đa phần tậptrung ở nông thôn, lúc này lại càng khó thâm nhập vào kinh tế thị trường, cũngnhư khó tiếp cận các nguồn lực của kinh tế thị trường do năng lực yếu kémkhông đạt được những yêu cầu đặt ra của kinh tế thị trường so với nhóm nhữngngười giàu Chính vì thế nghèo trong giai đoạn hiện nay ở nông thôn Việt Nam lànghèo trong tiến trình phát triển chung của đất nước
Như vậy bản chất đa phương diện của nghèo đã giúp chúng ta hiểu sâu vềnhững nguyên nhân của nghèo đói Từ đó chỉ ra rằng muốn nâng cao khả năngtiếp cận của người nghèo tới các nguồn lực của thị trường đặc biệt là nguồn lựctín dụng để giúp giảm nghèo thì vấn đề là phải có một tập hợp toàn diện hơn cácgiải pháp hỗ trợ và lồng ghép ngoài giải pháp trực tiếp về tín dụng
Trang 81.1.1.2 Nghèo với nguồn lực tín dụng: Quan điểm tiếp cận nghèo của Amartys Sen
Ở hầu hết những nước đang phát triển, đặc biệt là ở nông thôn, nghèo làhiện tượng phổ biến và thường diễn ra với nhiều lý do phức tạp Theo Sen và một
số nhà khoa học khác như Nolan và Devewexu, thì nghèo không chỉ đơn giản làvấn đề giảm tổng số phúc lợi trên đầu người và nó không phải là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến nghèo của con người Sen đã đưa ra một sự giải thích sâu sắchơn về những điều đã xảy ra đối với vấn đề nghèo khổ và lý giải tại sao mọingười (đặc biệt là những người sống ở nông thôn và phụ thuộc vào nông nghiệp)lại thường lâm vào cảnh nghèo [15]
Cách tiếp cận của Sen chỉ ra rằng, khi phân tích vấn đề nghèo khổ vànhững vấn đề khác chúng ta nên nhìn vào “tài sản có sở hữu” mà mọi người cókhi tham gia vào thị trường, có nghĩa là nhìn vào “quyền sử dụng hay cách thứctiếp cận và kiểm soát tài sản đã sở hữu”(entitlement) Đây là một cách tiếp cậnmới của Sen
Cách tiếp cận này tập trung vào khả năng mà con người đạt được hàng hóathông qua việc tiếp cận, kiểm soát hay sử dụng các nguồn lực sản xuất Nói cáchkhác, cách tiếp cận này tập trung vào “entitlement” của mỗi con người đối vớihàng hóa và xem xét nghèo như là kết quả của một sự thất bại về “entitlement”
“Entetlement”, theo Sen đó là sự tiếp cận và sử dụng hay kiểm soát màmỗi con người có thể đạt được đối với hàng hóa theo hai cách: 1) Sử dụng nhữngnguồn lực riêng của họ bằng con đường sản xuất trực tiếp; 2) Sử dụng chúng đểtrao đổi, mua và bán trên thị trường Trên thực tế, một số người có thể có tài sản
và có sức lao động nhưng họ sẽ không có “entitlement” nếu những tài sản đókhông được bán, trao đổi, sử dụng hoặc nếu việc làm của họ không được trả công
để từ đó giúp họ có thể có được hàng hóa
Sen phân biệt những dạng khác nhau của “entitlement”: “Entitlement”trực tiếp là thông qua sản xuất và tiêu dùng riêng của con người để có được hànghóa; “entitlement” thương mại là thông qua việc bán sản phẩm hàng hóa mà cóđược hàng hóa thích hợp khác; “entitlement” trao đổi là sự đạt được hàng hóathông qua việc bán sức lao động
Trang 9Sen đã phân tích vấn đề nghèo đói dưới dạng những ảnh hưởng có tínhchất nguyên nhân mà làm “entitlement” của một bộ phận dân cư giảm mạnh Nétnổi bật của “entitlement” và các nhân tố có tính chất nguyên nhân mà ảnh hưởngtới chúng tập trung vào các biến như: mô hình sử dụng đất đai, vốn, lao động,thất nghiệp, Bởi vì, những biến nguyên nhân quan trọng này, trên thực tếthường bị lờ đi trong nhiều trường hợp phân tích nạn đói nghèo, cho nên vấn đề
có ý nghĩa quan trọng của hướng nghiên cứu trong cách tiếp cận của Sen đã đượcông đặt ra ở đây Sen đã phân tích nạn đói ở một số nước và rút ra kết luận:Nguyên nhân của nghèo đói là do có một sự thất bại của “entitlement” Điều này
có nghĩa: Nghèo là do con người không có khả năng với các nguồn lực trên thịtrường hay sử dụng các nguồn lực mà họ có để tạo ra hàng hóa chứ không phảiđơn thuần là họ không có các nguồn lực sản xuất
Như vậy, theo cách tiếp cận của Sen, nguyên nhân nghèo khổ của mỗi cánhân là do sự thất bại của cách tiếp cận và sử dụng nguồn lực vốn tín dụng Sựthất bại này có thể xảy ra hoặc là sự giảm về “tài sản có sở hữu” (chẳng hạn nhưthiếu vốn hoặc không có vốn để sản xuất), hoặc là do sự thay đổi không theochiều hướng thuận lợi về việc sử dụng hay kiểm soát vốn (chẳng hạn như mấtkhả năng kiểm soát hoặc sử dụng vốn tín dụng mà mọi người có khi gia nhập vàonền kinh tế thị trường)
Nói cách khác, nếu mọi người không thành công trong việc tiếp cận cũngnhư sử dụng nguồn lực vốn tín dụng để có được những hàng hóa thích hợp thìnhững người này sẽ lâm vào cảnh đói hoặc nghèo so với những người kháctrong xã hội Chính vì thế, để giảm nghèo thì một trong những phương tiệnquan trọng mà các quốc gia đang phát triển sử dụng đó là nguồn lực tín dụng -một trong những nguồn lực cũng như công cụ quan trọng của kinh tế thị trường,của sự phát triển
1.1.2 Khái quát về tín dụng và hệ thống tín dụng nông thôn
1.1.2.1 Khái quát về tín dụng
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thi trường
đã hình thành và phát triển nhiều loại hình sở hữu, có sự phân công lao động, tổ
Trang 10chức hoạt động sản xuất kinh doanh Luôn tồn tại một thực tế là ở bất kỳ mộtthời điểm nào trong nền kinh tế cũng xảy ra hiện tượng thừa vốn hay thiếu vốntạm thời do tính chất mùa vụ, chu kỳ sản xuất kinh doanh Người thiếu vốn cầnvay vốn để giải quyết nhu cầu, người thừa vốn lại muốn cho vay để kiếm thêmlợi nhuận Đây chính là tiền đề tạo ra quan hệ tín dụng.
Có quan điểm cho rằng “Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủthể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụngtrong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàntrả theo thời hạn đã thoả thuận” [15]
Theo đại từ điển kinh tế thị trường “Tín dụng là những hành động cho vay
và bán chịu hàng hoá và vốn giữa những người sở hữu khác nhau Tín dụngkhông phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện,tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức Tín dụng là hình thức đặc thù vận độnggiá trị khác với lưu thông hàng hoá đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tớiphương thức mượn tài khoản, bồi hoàn giá trị thanh toán” [8]
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Tín dụng dựa trên cơ
sở lòng tin, nghĩa là người cho vay tin tưởng vào người đi vay sử dụng vốn cóhiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi” [1]
Mặc dù có những khái niệm về tín dụng theo những cách diễn đạt khácnhau nhưng có thể nêu một cách tổng quát như sau: Tín dụng là quan hệ traođổi tiền tệ hoặc hàng hoá giữa người cho vay và người đi vay dựa trên cơ sởlòng tin hay một sự đảm bảo nào đó và một sự thoả thuận mà hai bên có thểchấp nhận được
* Bản chất tín dụng
Khi nói về bản chất của tín dụng, Các Mác đã viết như sau: “Tiền chẳngqua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thờichuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền khôngphải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiềnchỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát saumột kỳ hạn nhất định” [8]
Trang 11Đồng thời Các Mác cũng đã chỉ rõ yêu cầu của việc tiền quay trở về điểmxuất phát phải là “vẫn giữ nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêmtrong quá trình vận động”.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá là sự phát triển của thịtrường vốn năng động và đa dạng Quá trình hình thành và phát triển của tín dụngđều gắn liền với một điều kiện KT - XH nhất định, chúng bổ sung cho nhau và cóthể phủ nhận nhau trong tiến trình phát triển
Tóm lại, bản chất của tín dụng có thể được diễn đạt theo nhiều cách khácnhau nhưng đều đề cập đến mối quan hệ, một bên là người cho vay một bên làngười đi vay Trong mối quan hệ ấy, tiền hoặc hàng hoá chỉ chuyển quyền sửdụng chứ không chuyển quyền sở hữu và đều dựa trên nguyên tắc hoàn trả có lãi
* Các hình thức tín dụng
Cho đến nay, có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về các hình thức tín dụngtrong nền kinh tế thị trường Những nghiên cứu đó thường tập trung phân tích tíndụng theo các tiêu thức nhất định như: thời gian, đối tượng cho vay, mục đích vàhình thức biểu hiện của vốn và chủ thể các quan hệ tín dụng
- Căn cứ vào thời gian cho vay: Tín dụng được chia thành: tín dụng ngắn
- Căn cứ vào chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng: Tín dụng bao gồm:
tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tư nhân, cánhân, tín dụng tiêu dùng, tín dụng thuê mua
.- Căn cứ trên phương diện tổ chức: Tín dụng được chia thành: tín dụngchính thức và tín dụng phi chính thức
1.1.2.2 Hệ thống tín dụng nông thôn
Hiện nay chưa có một định nghĩa nhất quán về tín dụng nông thôn, do vậy
có khái niệm khác nhau ở các tổ chức khác nhau Điểm chung của các khái niệm
Trang 12đó là đều đề cập tới hoạt động cung cấp vốn và huy động tiết kiệm trên địa bànnông thôn
Theo tác giả Phạm Thị Dung: “Tín dụng nông thôn là các hoạt động dịch vụnhằm hỗ trợ vốn cho nông dân phát triển kinh tế nông thôn dựa trên cơ sở huyđộng các nguồn vốn trong xã hội” [13]
Theo một số tác giả: “Tín dụng nông thôn là việc cung cấp các dịch vụ tàichính như cho vay, gửi tiền các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm tớicác hộ nghèo, hộ thu nhập thấp và các doanh nghiệp quy mô nhỏ ở khu vực nôngthôn nhằm góp phần phát triển nông thôn - XĐGN” [12]
Do tính chất của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nên hoạtđộng tín dụng nông nghiệp nông thôn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ngàycàng phát triển đa dạng và phong phú Điều này thể hiện ở hệ thống các tổ chứccung cấp tài chính tín dụng cho nông thôn, các hình thức tín dụng, các phươngpháp cho vay và trả nợ
* Nếu xét trên phương diện pháp lý, thì nguồn cung cấp tín dụng cho khuvực nông thôn bao gồm 3 bộ phận sau:
- Khu vực tín dụng chính thức: Bao gồm những tổ chức được thành lập vàhoạt động theo luật ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng Những tổ chức nàyhoạt động dưới sự kiểm tra và giám sát của Ngân hàng Trung ương (Ngân hàngNhà nước) Đó là hệ thống các ngân hàng thương mại, Ngân hàng tiết kiệm, Quỹtín dụng nhân dân và các công ty tài chính
- Khu vực tín dụng bán chính thức: Là những tổ chức hoạt động tín dụngkhông đặt dưới sự kiểm tra và giám sát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước, khôngđược cấp pháp hoạt động tín dụng theo Luật của các tổ chức tín dụng Bao gồmcác tổ chức quần chúng như Hội phụ nữ; Hội nông dân; Chương trình tín dụng
ưu đãi của Chính phủ cho nông nghiệp, nông thôn; Hợp tác xã nông nghiệp; Các
tổ chức phi chính phủ (NGO)
- Khu vực phi chính thức: Đó là các nguồn tín dụng từ những ngườichuyên cho vay ở nông thôn, các tư thương dưới hình thức bán chịu, các hìnhthức chơi hụi, họ, phường, vay mượn từ bạn bè, họ hàng, làng xóm Hoạt động
Trang 13của các chủ thể kênh tín dụng này không chịu sự chi phối của Nhà nước, thậmchí một số hoạt động bị cấm (cho vay nặng lãi).
* Nếu xét trên phương diện tổ chức, một số tác giả cho rằng: Tín dụngnông nghiệp bao gồm 2 bộ phận là khu vực tín dụng chính thức và khu vực tíndụng không chính thức
- Khu vực tín dụng chính thức: Đó là hệ thống các Ngân hàng thương mại,Ngân hàng tiết kiệm, Quỹ tín dụng nhân dân, các Công ty tài chính, Hội phụ nữ,Hội nông dân, Chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ cho nông nghiệp,nông thôn; Hợp tác xã nông nghiệp, Tổ chức phi chính phủ (NGO)
- Khu vực tín dụng không chính thức: Chủ thể của khu vực này là các hiệucầm đồ, các cá nhân chuyên cho vay, các nhóm tín dụng tiết kiệm quay vòng(như hụi, họ, phường), các nhóm sở thích, người buôn bán hàng hoá, gia đình,bạn bè, hàng xóm
1.1.2.3 Sự cần thiết của tín dụng trong sự phát triển nông thôn và nông nghiệp
Tín dụng đối với nông nghiệp chủ yếu là tín dụng chi phí sản xuất, tức làcác khoản mà các TCTD cấp cho nông dân để chi phí về giống cây trồng, gia súc,gia cầm, thức ăn chăn nuôi, phân bón Ngoài ra, tín dụng đối với nông nghiệpcòn bao gồm các khoản cho vay trung và dài hạn để cải tạo đồng ruộng, XDCTchăn nuôi, xây dựng kho tàng, cơ sở chế biến Tín dụng giữ một vai trò rất quantrọng trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn đặc biệt là trong sự nghiệpCNH - HĐH của nước ta hiện nay Nó là nguồn cung quan trọng cung cấp những
cơ hội để có được khả năng sản xuất kinh doanh tốt hơn cũng như tạo ra những
ưu thế cho doanh nghiệp trong tương lai
Hiện nay khu vực nông thôn và nông nghiệp là nơi nhận nhiều tiền vaynhất từ các quỹ hỗ trợ trong nước cũng như nước ngoài Đã có nhiều tác giảnghiên cứu về vai trò và ảnh hưởng của vốn tín dụng đến hoạt động KT - XH của
hộ nông dân Họ đều khẳng định vai trò to lớn của vốn tín dụng trong sự pháttriển nông thôn và nông nghiệp Cụ thể nó có một số vai trò sau:
- Vai trò trung gian thu hút vốn và tài trợ vốn
Trang 14Các TCTD giữ địa vị trung gian thể hiện qua chức năng thu hút vốn vàcho vay Khi người nông dân thu hoạch, tiêu thụ được sản phẩm người nông dân
đó dư tiền chưa biết đầu tư vào đâu Khi đó các TCTD sẵn sàng tiếp nhận cácnguồn vốn nhàn rỗi đó dưới các hình thức ký thác Điều đó giúp cho người nôngdân làm cho các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi của họ sinh lợi và dự trữ antoàn cho việc sử dụng sau này
Nhưng điều đáng nói hơn là khi người nông dân cần vốn để phục vụ choviệc tiến hành sản xuất thì các TCTD là người bạn đắc lực của nông dân, các tổchức này cung cấp một khoản tài chính để người nông dân mua sắm tư liệu sảnxuất, trả công lao động kịp thời vụ
- Tín dụng giữ vai trò trung gian giữa sản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất khác
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từnông nghiệp dưới dạng tư liệu sản xuất Nếu sản xuất nông nghiệp gặp khó khănthì công nghiệp dịch vụ cũng gặp khó khăn theo Khi ngành nông nghiệp vào vụthu hoạch thì tín dụng nông nghiệp chủ yếu sẽ phục vụ cho thu mua, tiêu thụhàng hoá do ngành nông nghiệp sản xuất ra Lúc này các TCTD có thể cho các tổchức tiêu thụ sản phẩm vay như thương nghiệp, công nghiệp để các tổ chức này
có thể dự trữ hàng hoá do ngành nông nghiệp sản xuất ra Trong điều kiện này,các tổ chức tín dụng đồng thời là người phát vốn ra cho các tổ chức tiêu thụ,đồng thời là người thu hút vốn của những người nông dân vào mùa thu hoạch
Trong nền kinh tế quốc dân, một điều quan trọng là phải có sự kết hợpchặt chẽ giữa các ngành sản xuất để tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển Sựđầu tư của các ngành công nghiệp chế biến luôn luôn phải quan tâm đến đầu tư
để sản xuất ra nguyên vật liệu Trong đó các TCTD vừa là người thúc đẩy quátrình sản xuất của nông nghiệp vừa là trung gian đưa sản phẩm nông nghiệp vàocác ngành sản xuất công nghiệp và ngược lại
- Tín dụng nông nghiệp thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn
Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể phát triển khi nó chuyển sang hình thứcsản xuất hàng hoá Khi đó sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra được trao đổi với
Trang 15các ngánh sản xuất khác phục vụ cho ngành sản xuất công nghiệp, tiêu dùng ởcác đô thị và xuất khẩu ra nước ngoài Mà muốn làm được điều đó thì phải cóvốn và đặc biệt là cần có sự tài trợ của các tổ chức tín dụng Nói cách khác nhờ
có tín dụng mà nền nông nghiệp nông thôn sẽ được tổ chức lại theo hướng sảnxuất hàng hoá chuyên môn hoá với quy mô sản xuất lớn từ đó góp phần tích cựcvào quá trình CNH - HĐH đất nước
- Vốn tín dụng góp phần giải quyết việc làm cho những lao động nông nghiệp dư thừa ở nông thôn.
Điều đó không những tạo ra thu nhập cho kinh tế hộ, mà còn hạn chế laođộng nông thôn di chuyển ra thành thị tìm kiếm việc làm, gây nên sự quá tải vàgia tăng các tệ nạn xã hội ở thành phố
1.1.3 Tín dụng cho PNN và vai trò của nó trong việc giảm nghèo ở nông thôn
1.1.3.1 Tín dụng cho PNN
Cho phụ nữ vay vốn đặc biệt là PNN đã từng được xem là giải pháp mang
tính cách mạng Tuy nhiên, chỉ trong ba thập kỷ gần đây, một loạt đột phá đã chothấy phụ nữ - đặc biệt là PNN - là đáng tin cậy và là những khách hàng tuyệt vờicủa các sản phẩm tài chính
Ngày nay, đa số các khách hàng của các tổ chức tài chính nói chung và tàichính siêu nhỏ nói riêng trên khắp thế giới đều là phụ nữ, và điều này đặc biệtđúng với các chương trình dành cho PNN Không chỉ các tổ chức tài chính có lợiích đến với phụ nữ, mà ngược lại, phụ nữ cũng có lợi ích cho các tổ chức tàichính Phụ nữ là người tiết kiệm tích cực và hoàn trả khoản vay của họ đúng thờihạn, với tỷ lệ cao hơn nam giới
Trong nghiên cứu Các dịch vụ tài chính cho phụ nữ, C.Jean Weidemann
đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản để cung cấp tín dụng cho PNN, đó là cungcấp các khoản vay vốn nhỏ đầu tư ngắn hạn cho các doanh nghiệp kinh doanh
và thương mại; khắc phục những khó khăn về đi lại bằng cách đến tận nơi họsống và làm việc; vượt qua các trở ngại pháp lý bằng cách sử dụng sự “phụthuộc lẫn nhau”, hoặc thông qua một tổ chức, thông qua những người bảo lãnh
Trang 16và những người chứng nhận về tiêu chuẩn hợp lệ hơn là ký quỹ; dựa vào cácmối quan hệ và các tổ chức nhóm hơn là các thủ tục giấy tờ để phụ nữ mù chữcũng có thể tham gia; và cung cấp kiến thức về cách thức để trở thành mộtkhách hàng tín dụng tốt.
* Các quan điểm tín dụng cho PNN
Tín dụng choPNN theo quan điểm cũ
Đây là dịch vụ tài chính có tính chất từ thiện, do chính phủ hay các tổchức xã hội tài trợ Ở Châu Âu tín dụng cho người nghèo nói chung và cho PNNnói riêng có từ thế kỷ XIX Thực tế cho thấy Chính phủ phải bỏ tiền ra rất nhiềuvào dịch vụ tài chính này do: Chi phí giao dịch cực cao do nhiều lý do khác nhau
Ví dụ như địa bàn rộng, phải quản lý quá nhiều khoản vay nhỏ, phải có chút đútlót quà cáp cho cán bộ tín dụng thì mới được vay nhanh và nhiều, tỷ lệ thu hồi nợcực thấp (18% ở Bangladesh, 41% ở Ấn Độ)
Đằng sau những dịch vụ tài chính cho PNN như trên là các quan niệmlạc hậu:
- Kinh doanh tài chính: Tín dụng cho PNN không có khả năng sinh lời
- Phương pháp giải quyết vấn đề: Coi PNN là vấn đề mà Chính phủ phải
ra tay giải quyết
- Chi phí quản lý cao
- PNN thì không biết làm ăn, đưa tiền thì cũng tiêu xài hết, tín dụng cũngchẳng để làm gì
Từ đó đưa ra các kết luận có tính chất xem thường PNN:
- PNN không có học thức, cách tốt nhất giúp họ là phải cai trị họ thậtnghiêm khắc
- Dân chủ với PNN là không tốt, cho họ dân chủ (quyền tự quyết cho cuộcsống của họ) tức là thả họ “trôi” vào cuộc sống nghèo khó
- PNN sẽ mãi mãi nghèo
Tín dụng cho PNN theo quan điểm mới
Trang 17Việc ngân hàng Grameen của Yunus ra đời ở Bangladesh đã làm thay đổihoàn toàn quan niệm tín dụng cho người nghèo, đặc biệt là tín dụng cho PNN Vềbản chất, tín dụng cho PNN theo quan điểm mới là:
- PNN quá nhiều, họ vừa là vấn đề phải giải quyết, họ cũng chính là phươngtiện giải quyết vấn đề Hay nói cách khác, họ phải tự giúp họ
- PNN nếu có cơ hội làm ra tiền sẽ thanh toán nợ (tất nhiên tâm lý xù nợ ởPNN không phải là không có nhưng tỷ lệ này rất thấp)
- Tài chính vi mô sẽ là trung gian tài chính để đưa vốn đến với PNN nóiriêng và người nghèo nói chung
1.1.3.2 Vai trò của tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn
Tín dụng là một lĩnh vực khá rộng, hầu hết các nhà kinh tế đều thừa nhậnvai trò của tín dụng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và giảm nghèo đói
Họ chỉ ra rằng, một trong những chiến lược XĐGN là tăng cường khả năng tiếpcận đối với các nguồn lực, đặc biệt là sử dụng chúng có hiệu quả và đây là cơhội thuận lợi để có thể hoà nhập nhanh chóng vào sự phát triển KT - XH Tíndụng cho người nghèo là một trong những nguồn lực căn bản nói trên, giúpngười nghèo nông thôn có cơ hội tự tạo việc làm và tăng thu nhập để vượt quanghèo khó
Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi
và phát triển để hoà nhập vào nền kinh tế chung của toàn cầu như ở Việt Nam vàmột số nước đang phát triển, tín dụng được xem là công cụ và là đòn bẩy giúpngười nghèo chuyển đổi dần phương thức sản xuất lạc hậu của mình để giảmnghèo và tăng thu nhập Tuy nhiên, đồng vốn chỉ có ý nghĩa khi người sử dụng
nó biết dùng vào những việc có sinh lời và dùng như thế nào mà thôi Nói cáchkhác, nguồn lực và cách thức sử dụng các nguồn lực luôn có quan hệ mật thiết tới
sự phát triển kinh tế hay sự phát triển không thể thiếu được nguồn lực cũng nhưcách sử dụng sao cho phù hợp và có hiệu quả Vì vậy, vai trò của tín dụng trongphát triển nông thôn và giảm nghèo ở nông thôn được thể hiện như sau:
- Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Nó cungcấp nguồn để mua các vật tư, máy móc thiết bị cần thiết cho sản xuất và các đầu
Trang 18vào khác để nâng cao năng suất lao động Mặt khác, nó là một trong những điềukiện để đổi mới thiết bị công nghệ cũng như làm gia tăng sự tiếp cận công nghệmới và tiến bộ của KH-KT đối với nông dân nói chung và những người nghèonói riêng Từ đó từng bước đưa sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất lớn vớicác sản phẩm không những phong phú và đa dạng mà còn chứa đựng nhiều chấtdinh dưỡng Để từ đó thu nhập của người dân được cải thiện góp phần XĐGN ởnông thôn.
- Vốn giúp người nghèo mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụsản phẩm
- Vốn tạo cơ hội cho việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuấtnông nghiệp để từ đó tăng thu nhập cho người nông dân trong đó có người nghèo
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tín dụng cho phụ nữ nghèo ở một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Ngân hàng Grameen ở Bangladesh
Dự án ngân hàng Grameen ra đời tại làng Jobha nước Bangladesh vào năm
1976 Năm 1983 dự án này được chuyển đổi thành ngân hàng chính thức nhờ một
bộ luật đặc biệt được thông qua cho sự hình thành của nó Ngân hàng do chínhnhững người nghèo vay nợ làm chủ, hầu hết họ là phụ nữ Hiện nay những ngườivay nợ nắm giữ 95% cổ phần ngân hàng, Nhà nước chiếm 5% cổ phần còn lại
Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất trên thế giới
về tín dụng nông thôn Sự thành công trong dịch vụ tín dụng nông thôn, đặc biệt
là đối với người nghèo nhất là PNN của GB chủ yếu dựa vào mô hình tín dụngtheo nhóm với những quy định rõ ràng, minh bạch, và sự ràng buộc, tự kiểm soátlẫn nhau GB có mạnh lưới chi nhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở, mỗi chi nhánhphục vụ từ 15 đến 22 làng Hiện nay, Ngân hàng Grameen có 2.517 chi nhánh,hoạt động tại 82.312 làng, có tổng cộng 24.489 nhân viên
Đối tượng phục vụ: Ngân hàng đặc biệt quan tâm đến tầng lớp thấp nhấtcủa xã hội và thu nhập của khách hàng nơi đây hầu như thấp nhất Chính do thunhập thấp và thiếu tài sản thế chấp nên ở đây việc vay tiền chủ yếu ngân hàng
Trang 19thông qua các nhóm liên đới thống nhất, đặc biệt có gắn với tiết kiệm bắt buộc Ởđây ngân hàng đã sử dụng đến hình thức phát huy tính trách nhiệm tập thể củanhững người vay gọi là hình thức “bảo đảm theo nhóm” Mỗi nhóm gồm nămngười có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giống nhau trong đó sẽ bầu ra mộtnhóm trưởng và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Khoảng năm hoặc sáunhóm sẽ lập thành một trung tâm trong cùng địa phương Từ các trưởng nhóm sẽbầu ra Trưởng trung tâm - là người chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu
về các quy định của ngân hàng và chủ trì cuộc họp hàng tuần
Phương thức tiết kiệm ở GB là bắt buộc Tại mỗi cuộc họp hàng tuần mỗithành viên đóng 1 kata (Đơn vị tiền tệ của Banglades; 37,5 kata = 1 USD) vàoquỹ nhóm Ngoài việc đóng góp 1 kata mỗi tuần, mỗi thành viên khi vay đượctiền phải đóng góp 5% tiền vay vào quỹ nhóm Khoản tiết kiệm này được xemnhư một hình thức tự bảo hiểm của GB
Bằng các dịch vụ tiết kiệm tín dụng linh hoạt, ngân hàng GB đã rất thànhcông trong việc tiếp cận được tầng lớp nghèo nhất (đặc biệt là phụ nữ nông thônkhông có tài sản chiếm 97% trong tổng số khách hàng), đạt tỷ lệ thu hồi nợ caolên tới 98,1% và nâng cao vị thế KT - XH của khách hàng
Ngân hàng Grameen bắt đầu với một niềm tin rằng tín dụng cần phải đượcchấp nhận là một nhân quyền và từ đó xây dựng nên một hệ thống nơi nhữngngười không có của cải gì được ưu tiên cao nhất trong việc vay tín dụng Phươngthức Grameen không dựa vào việc đánh giá sở hữu vật chất của một con người
mà nó dựa trên việc đánh giá năng lực của một con người Grameen tin rằng tất
cả nhân loại bao gồm cả những người nghèo khổ nhất đều được trời phú chonăng lực tiềm tàng vô tận
Mục tiêu của ngân hàng Grameen là đem lại dịch vụ tài chính cho ngườinghèo đặc biệt là PNN và những người cùng khổ để giúp họ chiến đấu với đóinghèo, tạo thu nhập và vững chắc tài chính Đó là một mục tiêu tổng hợp từ tầmnhìn kinh tế và xã hội
Nguyên tắc đầu tiên của ngân hàng Grameen là khách hàng không nên đếnngân hàng mà thay vào đó ngân hàng nên đi đến khách hàng Chính vì vậy, mà
Trang 20hàng tuần 24.489 nhân viên ngân hàng Grameen đến và đem dịch vụ tín dụngđến tận nhà của khách hàng ở 82.312 ngôi làng trải dài khắp đất nướcBangladesh.
Việc hoàn nợ cũng được thực hiện thật dễ dàng bằng cách chia khoản nợ
ra thành những khoản hoàn nợ bé xíu trả theo tuần Làm kinh doanh theo cáchnày đòi hỏi ngân hàng tốn nhiều công sức nhưng nó lại thuận tiện rất nhiều chongười vay tín dụng Trong trường hợp, khi người vay dư nợ quá hạn đã cam kết,ngân hàng Grameen cho phép họ vay tái sắp xếp lại khoản nợ mà không làm chongười vay cảm thấy họ phạm lỗi
Nhiều nghiên cứu đánh giá rằng Grameen cải thiện tính đoàn kết giữa cácthành viên, nâng cao ý thức của họ, khuyến khích họ lập những trường học quy
mô nhỏ và tổ chức các sự kiện thể thao cho con cái họ, loại bỏ tập tục của hồimôn, phòng chống những bệnh thường gặp như tiêu chảy và chứng quáng gà ởtrẻ em, và chống bất công trong xã hội Phần lớn những cam kết này được nêutrong “16 quyết định” mà thành viên nào cũng thuộc làu, thể hiện quyết tâm xâydựng một cuộc sống đàng hoàng và tươi đẹp hơn
Tại Grameen, người ta thấy người nghèo tựa như cái cây trong chậubonsai Nếu một hạt giống tốt của một cái cây to được trồng vào trong một cáichậu, thì hạt giống sẽ mọc lên thành một tiểu phiên bản của cái cây to lớn kia Đókhông phải là do bất kỳ lỗi nào ở hạt giống mà đó chẳng qua là vì hạt giốngkhông được đặt vào một môi trường thực sự để phát triển Người ta nghèo vì xãhội đã từ chối trao cho họ nền tảng KT - XH để phát triển Nỗ lực của Grameen
là dịch chuyển họ từ “cái chậu hoa” ra đến vùng đất thực sự của xã hội Nếuchúng ta làm được việc này thành công thì sẽ không còn những con người
“bonsai” trên thế giới, chúng ta sẽ có một thế giới không đói nghèo
1.2.1.2 Dự án tín dụng sản xuất cho phụ nữ nông thôn Nepal
Năm 1982, với kinh phí của nhiều tổ chức viện trợ như IFAD, USAID,UNICEF và CIDA, dự án Tín dụng sản xuất cho phụ nữ nông thôn (PCRW) triểnkhai tại 5 khu vực hành chính, và đến nay lan rộng ra 49 trong số 75 khu vựchành chính của Nepal Đối tượng chính là những PNN ở nông thôn, đặc biệt là
Trang 21các gia đình do phụ nữ làm chủ hộ và không có đất, cũng như những người thuộctầng lớp thấp nhất trong xã hội Dự án này có 3 hoạt động chính: Tín dụng, đàotạo và phát triển cộng đồng Nhìn chung, mục tiêu của dự án là tăng thu nhập chongười nghèo, giúp cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển, tạo điều kiện chophụ nữ tiếp cận với hệ thống tín dụng chính thức bằng một cơ chế bền vững.
Dự án này không có nguồn tài chính để cho vay trực tiếp, mà dựa vào luậtngân hàng Nepal quy định cho vay đối với những khu vực được ưu tiên, vàPCRW nằm trong diện đó Dự án kết nối phụ nữ nông thôn với các ngân hàngthương mại và quốc doanh hiện có, cùng với nhiều cơ quan ban ngành khác nhaucủa Chính phủ để hỗ trợ chuyên môn và cơ sở hạ tầng Những gia đình có thunhập bình quân đầu người ít hơn 2410 rupee (khoảng 30 USD) mỗi năm sẽ đượccấp tín dụng Đây là ngưỡng khá cao và có tới 40% gia đình có thu nhập chưa tới
4 rupee/ngày (khoảng 1400 rupee/năm)
Các cán bộ phát triển phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong dự án này làmcầu nối giữa các ngân hàng địa phương và cơ quan đầu ngành với phụ nữ Nhữngcán bộ này đảm nhận truyền bá thông tin và tổ chức phụ nữ thành nhóm đội Khimột phụ nữ trong nhóm muốn vay tiền, cán bộ phát triển phụ nữ sẽ đi cùng vớingười đó đến ngân hàng địa phương và bảo đảm với ngân hàng về “tín chấp củanhóm” Sau đó, cán bộ phát triển phụ nữ giúp người này liên hệ với cơ quan đầungành để được hỗ trợ chuyên môn Cán bộ phát triển phụ nữ chịu trách nhiệmgiám sát việc trả nợ, xác định các hoạt động sản xuất phù hợp để tạo thu nhập vàđánh giá tính khả thi của chúng
Mỗi nhóm có từ 4 đến 6 thành viên, thường là chung đẳng cấp xã hội,trưởng nhóm được bầu chọn và nhóm họp thường kỳ hàng tháng với cán bộ pháttriển phụ nữ Ban đầu họ chỉ được vay số tiền nhỏ để giảm rủi ro Mức vay trungbình là 2015 rupee, phần lớn các khoản vay có thời hạn từ 18 tháng đến 3 nămvới thời gian ân hạn 6 tháng Lãi suất được trợ cấp tuỳ theo thời hạn, mức vay, vàmục đích vay
Nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy PCRW có tỷ lệ trả nợ khá cao, từ78% đến 93% Một nghiên cứu so sánh về các dự án phát triển tín dụng ở Nepal
Trang 22cho thấy PCRW có tỷ lệ trả nợ thuộc loại cao nhất nhờ sự giám sát chặt chẽ củacác cán bộ dự án Tuy nhiên các nghiên cứu có kết luận khác nhau về việc huyđộng tiết kiệm Một nghiên cứu phê phán dự án này vì chỉ khuyến khích tiết kiệmbằng cách khấu trừ bắt buộc 5% tiền vay Một nghiên cứu khác tán thành việcthết lập các hộp tiết kiệm để phụ nữ dành dụm, sau đó cán bộ phát triển phụ nữ sẽthay mặt họ thường xuyên đem tiền gửi vào một ngân hàng địa phương Nghiêncứu này ước tính 65% phụ nữ có tiết kiệm, và các cán bộ phát triển tín dụng đượcxem là động cơ chính Tuy nhiên, không rõ lượng tiết kiệm là bao nhiêu.
Bắt đầu hoạt động năm 1982, đến nay PCRW đã mở rộng đáng kể, giúpcho hơn 2.300 nhóm vay được vay hơn 30 triệu rupee, và hỗ trợ hơn 8.000 đốitượng trực tiếp Tuy không có số liệu cụ thể về tác động đối với thu nhập và mứcsống của người tham gia chương trình nhưng tất cả các nghiên cứu cho thấy phụ
nữ hưởng nhiều lợi ích từ chương trình này Những lợi ích khác gồm: mua sắmđược nhiều hàng hoá tiêu dùng mà trước đây phụ nữ không có khả năng chi trả,dành dụm được tiền phòng khi nguy cấp và cho hội hè, tăng khả năng biết chữ vàbiết tính toán, cho con cái học hành và không còn sợ khi giao dịch với các địnhchế tài chính chính thức và cơ quan nhà nước
1.2.1.3 Acleda Bank Plc - ngân hàng cho người nghèo ở Campuchia
Cấp phát vốn cho những người buôn bán trái cây, ngư dân và thợ rèn, mộtngân hàng thương mại có tiền thân là một tổ chức phi chính phủ đang cung cấp cáccông cụ tài chính hữu hiệu cho người nghèo Campuchia để giúp họ thoát nghèo
Trong những năm qua, Acleda Bank Plc đã cung cấp hơn 900.000 khoảnvay cho những người cần chỉ vài trăm USD để khởi sự hoặc mở rộng các doanhnghiệp nhỏ của họ Khoảng 77% các khoản vay của Acleda là các khoản vaynhỏ, bình quân chỉ 193 USD trong tháng 4 “Khi họ có cơ hội tiếp cận đượcnguồn tài chính, cuộc sống của họ sẽ tốt hơn bởi họ có thể mở rộng hoạt độngkinh doanh của mình” - In Chani, Giám đốc Ngân hàng Acleda, nói Ông gọi đây
là một phương tiện mạnh mẽ để giảm đói nghèo
Hiệp hội các cơ quan phát triển địa phương (Acleda) là một tổ chức phichính phủ được thành lập vào năm 1993, tập trung vào việc giảm nghèo thông
Trang 23qua hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ Năm 2003, nó được biến đổi thành mộtngân hàng thương mại Acleda phát triển nhờ nhu cầu vốn vay từ tổ chức nàytrong những năm qua Trong năm 2003, lợi nhuận ròng sau thuế của Acleda tăng235%, đạt gần 2 triệu USD Trong khi đó, các khoản nợ khó đòi ngày càng giảm
đi Đa phần các khách hàng giao dịch với một trong 111 chi nhánh của Acledatrên toàn Campuchia là những người hành nghề độc lập
Tại Acleda gần 70% người vay vốn là phụ nữ, với các mức lãi suất daođộng từ 2% - 4%/tháng, đồng thời giúp khách hàng tránh phải đi vay trong làng
mà đôi khi họ chịu lãi suất cao tư 10% - 20%/tháng Acleda tự hào với nỗ lựccung cấp cái “cần câu cơm” cho những người dân nghèo Campuchia Acleda đãgóp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của dân nghèo Campuchia và ngược lại,người nghèo Campuchia đã giúp ngân hàng tồn tại và phát triển
1.2.2 Tín dụng cho phụ nữ nghèo ở Việt nam
1.2.2.1 Khu vực chính thức
Khu vực cung cấp tài chính chính thức ở nông thôn Việt nam bao gồm 2 tổchức điển hình: NHNo và NHCSXH
* Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn: NHNo là ngân hàng
cung cấp tài chính lớn nhất cho khu vực nông thôn được thành lập năm 1988 nhưnghoạt động thực sự bắt đầu từ tháng 12 năm 1990 Do tiếp nhận hệ thống ngân hàngNhà nước để lại nên Ngân hàng này có mạng lưới ở tất cả các huyện với doanh số chovay chiếm tới 76% tổng doanh số cho vay ở khu vực nông thôn Do đó mà ngân hàngnày giữ vai trò chủ lực trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Cho đến nay ngânhàng này vẫn hoạt động tương đối tốt nhờ có được sự phát triển mạnh mẽ trong khivẫn giữ được tỷ lệ hoàn trả cao
* Ngân hàng chính sách xã hội: NHCSXH có tiền thân là Ngân hàng phục
vụ người nghèo được thành lập vào tháng 8 năm 1995 theo Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ Trong đề án tái cơ cấu lại ngân hàng, NHCSXH đãđược thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 Quyết địnhnày nhằm quy các hoạt động chính sách về một mỗi, là điều kiện để mở rộng thêm đối
Trang 24525/QĐ-tượng phục vụ là hộ nghèo, HSSV có hoàn cảnh khó khăn, các đối 525/QĐ-tượng chính sáchcần vay vốn để giải việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các tổ chứckinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi,vùng sâu, vùng xa, và các đối tượng chính sách khác khi có quyết định của Chínhphủ với mức cho vay ưu đãi Đây thực sự là tin vui đối với các đối tượng chính sách
vì họ tiếp tục có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi chính thức của Nhà nước Cáckhách hàng được toàn quyền sử dụng vốn vay vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh,dịch vụ kể cả trong lĩnh vực tiêu dùng khi gặp hoàn cảnh khó khăn Các khoản vaydành cho người nghèo từ Ngân hàng này chiếm một tỷ trọng lớn
NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được Nhà nước đảm bảokhả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không tham gia bảo hiểm tiềngửi, được miễn thuế và các khoản nộp ngân sách khác, thực hiện tín dụng ưu đãi đốivới hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác để phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạoviệc làm cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu xóa đói, giảmnghèo, ổn định xã hội Theo kết quả điều tra mức sống của Tổng cục thống kê 2005,NHCSXH đã cung cấp vốn cho 58,3% số hộ nông dân nghèo được điều tra và NHNocho vay 23,8% hộ nghèo được điều tra [12]
Như vậy, NHCSXH tổ chức tài chính cung cấp tín dụng lớn nhất cho các hộnghèo nói chung và PNN nói riêng Với những chính sách ưu đãi, Ngân hàng đã giúpcho không ít hộ nghèo thoát được nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng Chứng tỏ
sự ra đời của NHCSXH đã trở thành “vị cứu tinh” cho những người nghèo
Ngoài ra khu vực này còn có các Quỹ tín dụng nhân dân nhưng PNN ít cóquan hệ tín dụng với tổ chức này
1.2.2.2 Khu vực bán chính thức
Với mạng lưới trải rộng cả bốn cấp hành chính (Trung ương, tỉnh thành, quậnhuyện và phường xã), các tổ chức quần chúng đóng vai trò đặc biệt trong việc đem tíndụng đến tận người dân ở cơ sở Các tổ chức này hỗ trợ chính phủ trong việc cho vaytheo những chương trình của nhà nước, ví dụ như Chương trình quốc gia về XĐGN,Chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, Chương tình giải quyết việc làm Ngoài ra,
Trang 25các tổ chức này được xem là “người môi giới” giữa NHNo/NHCSXH và người đivay.
Những tổ chức quần chúng tham gia tích cực vào hoạt động tiết kiệm và tíndụng là Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh vàHội người làm vườn Tuy chủ yếu dựa vào nguồn quỹ của chính phủ, nhưng với vaitrò trung gian xã hội của mình, các tổ chức quần chúng có năng lực lớn trong pháttriển cộng đồng, và nhờ đó góp phần lớn vào phát triển tài chính vi mô Kinh nghiệmhoạt động của các nhóm tiết kiệm và tín dụng cho thấy một kết luận rất quan trọng:Người nghèo là những khách hàng tốt, coi trọng những dịch vụ tiết kiệm và tín dụng
do các tổ chức bán chính thức cung cấp, được thể hiện rõ bằng tỷ lệ trả nợ và động lựctiết kiệm cao
Tư đầu thập niên 1990, các tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài đã bắtđầu tham gia hỗ trợ kỹ thuật cho các chương trình tín dụng cho người nghèo Họ thamgia tích cực vào việc huy động tiết kiệm, cũng như đào tạo năng lực cho các nhómTK-TD, và các tổ chức quần chúng Khách hàng của NGO là PNN, cộng đồng dântộc thiểu số, và người nghèo ở vùng sâu vùng xa; thường là những đối tượng mà khuvực tài chính chính thức chưa đủ khả năng tiếp cận để phục vụ
Hiện nay khu vực này đang triển khai rất nhiều chương trình, dự án tín dụngcho PNN như: Dự án tín dụng Việt - Bỉ, quỹ “Tau Yeu Mai” (TYM), dự án “Hỗ trợphụ nữ nghèo lập nghiệp” của quỹ Unilever Việt nam, Quỹ hỗ trợ phụ nữ XĐGN củaHội liên hiệp phụ nữ Việt nam, Chương trình “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo” doHội liên hiệp phụ nữ phát động
1.2.2.3 Khu vực phi chính thức
Khu vực tài chính phi chính thức chiếm một mảng lớn trong tín dụng nôngthôn Việt Nam, cung cấp 51% lượng vốn cho vay đối với các hộ gia đình nông thôn.Những PNN lại rất ít hoặc không có quan hệ tín dụng với khu vực tài chính này.Nguồn tín dụng của khu vực này gồm các nguồn như: Vay mượn từ gia đình, bạn bè,láng giềng; chơi hụi/họ, từ những người cho vay lãi
1.3 Một số bài học kinh nghiệm từ hoạt động tín dụng cho phụ nữ nghèo
Trang 26* Vai trò của người phụ nữ: Ngay từ phong trào Grameen và trong các
chương trình tín dụng ở mọi nơi, phụ nữ đã là đại đa số những người tham gia và làyếu tố chính của sự thành công Vì những người nghèo nhất thường là phụ nữ, khôngđược học hành, không có tài sản riêng, thiệt thòi đủ mặt trong xã hội Họ đa số là laođộng không có chuyên môn tay nghề Với vai trò ba mặt, cùng một lúc họ phải quánxuyến cả công việc nhà, công việc sản xuất và tái sản xuất Hơn ai hết họ thấm thía cáikhổ của nghèo túng vì vậy mà phụ nữ là những người kiên quyết nhất khi có cơ hội đểvươn lên Với sự tần tảo, chịu thương chịu khó vốn có của người phụ nữ, họ kiên trìhơn nam giới trong nỗ lực mưu sinh Họ chính là những con nợ lý tưởng của các tổchức tài chính, có tỷ lệ hoàn trả mà ngân hàng nào cũng phải ao ước từ 97 - 99%
Tín dụng cho phụ nữ không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn đem lại nhiềulợi ích khác nữa Tín dụng là phương tiện giải phóng phụ nữ, cho phép họ hòa nhậpvào xã hội Bao nhiêu PNN vay vốn mà qua đó đã học được chữ, học được nghề, họccách bảo vệ bản thân và học cả cách quản lý cuộc đời
* Phương châm “mang ngân hàng đến với PNN” là chìa khóa thành công.
Hệ thống tài chính chính thức cần mở rộng mạng lưới chi nhánh, lập văn phòng giaodịch bán thời gian tại cơ sở (ấp/thôn), hay mở quầy ngay tại chợ nông thôn
* Kết nối nguồn cung tín dụng với việc huy động tiết kiệm Khi cung cấp
dịch vụ tài chính cho PNN, điều quan trọng là giúp họ có cả chỗ vay vốn lẫn chỗ gửitiền (dù là những khoản tiết kiệm rất nhỏ) Tiết kiệm bảo đảm khả năng phát triển bềnvững của chương trình tín dụng, cũng như tăng tính tự chủ của người đi vay
* Cho vay không nên là hoạt động biệt lập với chương trình phát triển nông thôn Một sai lầm phổ biến là chỉ cố gắng cấp tín dụng cho PNN càng nhiều càng tốt.
Trên thực tế, bản thân tín dụng chưa phải là một công cụ hữu hiệu để kích thích sảnxuất và tăng thu nhập cho nông dân nhất là người nghèo Tín dụng cần phải được bổsung bằng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, hỗ trợ về vật tư đầu vào như phân bón, hạt giống,
và có thị trường để trao đổi nông sản và những sản phẩm khác do nông dân làn ra.Các chương trình tín dụng cần kết hợp các nội dung phát triển cộng đồng như xâydựng năng lực cho cán bộ địa phương, bồi đắp tinh thần tương thân tương trợ, gắn kết
xã hội thông qua những đội, nhóm vay chung cùng chịu trách nhiệm Ngoài ra, công
Trang 27tác đào tạo cũng có vai trò quan trọng theo nguyên tắc “không nên cho con cá mà nêncho cần câu và dạy cách câu cá”.
* Làm giảm chi phí giao dịch đối với người cho vay và người đi vay Quá
trình đợi xét duyệt cho đến khi thực sự nhận được tiền thường rất mất thời gian - chiphí cơ hội cho vay là khoản thu nhập mất đi trong khi chờ đợi Đôi khi những chi phígiao dịch đó còn cao hơn cả lãi vay Giảm chi phí giao dịch của các tổ chức tín dụngbằng cách hoàn thiện công tác thẩm định dự án, tinh giảm quá trình xét duyệt đơn xinvay, hợp lý hóa bộ máy thu hồi nợ, đào tạo cán bộ tín dụng có khả năng đi sâu đi sátvới quần chúng để nhanh nhạy nắm bắt và đáp ứng nhu cầu vế vốn cũng như nắm rõgia cảnh khách hàng để quản lý tín dụng tốt hơn
* Áp dụng hình thức cho vay theo nhóm chịu trách nhiệm chung Việc
chia sẻ rủi ro và tự quản lý nhau giúp tăng khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.Mỗi thành viên của nhóm là người bảo lãnh cho tất cả các thành viên khác Chỉcần một người không trả nợ đúng hạn thì cả nhóm sẽ mất quyền vay vốn Ngoài
ra hình thức tín dụng theo nhóm giúp giảm chi phí giao dịch cho cả người vay lẫnngười cho vay, tăng tỷ lệ thu hồi nợ, tăng khả năng tiết kiệm và tạo nguồn quỹphòng khi khẩn cấp, tăng lợi thế kinh tế nhờ tăng quy mô trong việc cung cấp tíndụng, góp phần khuyến khích một số giá trị xã hội (như tăng tính đoàn kết vàtương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm)
Như vậy có nhiều bài học kinh nghiệm được đúc rút từ hoạt động tín dụng choPNN Nhưng những kinh nghiệm, bài học này cần phải thận trọng trong việc áp dụng.Bởi vì, khi một giải pháp nào đó được đưa ra có thể phù hợp với điều kiện, môitrường KT - XH của nơi này nhưng chưa chắc đã phù hợp với điều kiện hoặc môitrường KT - XH ở nơi khác
Trang 28Chương 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp điều tra hộ
Việc thu thập số liệu ở phạm vi hộ bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Chọn mẫu điều tra
Để phục vụ nghiên cứu của đề tài, số hộ vay vốn được lựa chọn phục vụđiều tra là 60 hộ Những hộ này là những hộ tham gia vay vốn từ NHCSXH tronggiai đoạn 2006 - 2008
- Bước 2: Xây dựng phiếu điều tra
Phiếu điều tra này được xây dựng cho hộ điều tra, nội dung cơ bản củaphiếu điều tra bao gồm những thông tin chủ yếu như: Những thông tin cơ bản về
hộ điều tra như tên chủ hộ, tên người được phỏng vấn, tuổi, giới tính, trình độvăn hóa, số nhân khẩu, số lao động, tình hình sử dụng vốn vay của hộ vào cácmục đích (như chăn nuôi, làm vườn, làm nghề ), các yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả sử dụng vốn vay, quan điểm của hộ
- Bước 3: Phương pháp điều tra
Tiến hành điều tra thử một số hộ sau đó hoàn chỉnh lại tập câu hỏi cho phùhợp với tình hình thực tế Và cuối cùng tiến hành phỏng vấn toàn bộ số hộ điềutra Trong quá trình điều tra chủ yếu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các hộvay vốn, tổ trưởng tổ vay vốn Ngoài ra còn vận dụng phương pháp quan sát trựctiếp trong suốt quá trình phỏng vấn hộ, vấn đề quan sát được ghi chép lại phục vụcho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp cho phép sử dụng kế thừa các số liệu, các kết quả đã đượccông bố trong các nghiên cứu, báo cáo, Nghị quyết, thu thập số liệu trong cácsách báo, tạp chí, những báo cáo khoa học đã được công bố Đề tài thu thập sốliệu từ các ban ngành có liên quan thuộc xã như Thống kê xã, Ban XĐGN
Trang 292.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng điều tra trực tiếp các hộ vay vốn, là đạidiện cho các hộ trong vay vốn trong xã thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu.Trong quá trình thu thập số liệu sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn(RRA), phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân(PRA) và phương pháp chuyên khảo
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) là phương pháp đánh giánhanh nông thôn được thực hiện bởi những chuyên gia ngoài cộng đồng nhằmmục đích thu thập nhanh chóng thông tin và đưa ra những giả thuyết mới về vấn
đề nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân(PRA) PRA bao gồm các cách tiếp cận và các phương pháp lôi cuốn người dâncùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và vấn
đề nghiên cứu
Vận dụng phương pháp này vào thực tế khi làm đề tài: Chúng tôi tiếnhành thảo luận nhóm các hộ vay vốn để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến quátrình vay vốn, sử dụng vốn vay vào các mục đích khác nhau, những khúc mắccủa họ trong quá trình vay và sử dụng vốn vay
- Phương pháp chuyên khảo là phương pháp dùng để phân tích đánh giátại một số hộ điển hình trong sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả và các hộ
sử dụng vốn sai mục đích Qua nghiên cứu điển hình này cho thấy được cácnguyên nhân thành công cũng như thất bại của các hộ là do đâu khi họ cùng sốngtrong một vùng địa lý tương đồng
2.3 Công cụ xử lý số liệu
Xử lý số liệu là việc chuyển hóa, sửa soạn số liệu thô cho việc phân tích
và trình bày kết quả phân tích Các tài liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểmtra để phát hiện sự thiếu chính xác khi ghi chép, bổ sung những thông tin cònthiếu, sau đó được tổng hợp lại và tính toán cho phù hợp với mục đích của đề tài.Toàn bộ tập phiếu được điều tra sau khi phỏng vấn sẽ được dùng chính trong tính
Trang 30toán và phân tích Công cụ để xử lý số liệu là chương trình tính toán Excel trênmáy vi tính.
2.4 Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp mô tả toàn bộ sự vật và
hiện tượng trên cơ sở các số liệu được tính toán Phương pháp này được thựchiện thông qua sử dụng số bình quân
* Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp thống kê so sánh bao
gồm so sánh số tuyệt đối và so sánh số tương đối để đánh giá động thái phát triểncủa hiện tượng, sự vật theo thời gian và theo không gian Việc so sánh được tiếnhành theo nguyên tắc đồng nhất về thời gian hoặc đối tượng so sánh Sau đó tìm
ra quy luật của chung của hiện tượng nghiên cứu
Trang 31Chương 3KẾT QUẢ NGHÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Văn Sơn là một xã thuộc huyện Đô Lương tỉnh Nghệ an, xã nằm gần trungtâm huyện, cách thị trấn Đô Lương 2 km về phía Đông Xã có quốc lộ 7A chạyqua, đây là điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu buôn bán của nhân dântrong xã với các địa phương khác
Về vị trí địa lý: xã có các mặt tiếp giáp với các xã như sau:
- Phía Đông: tiếp giáp với xã Thịnh sơn
- Phía Tây: tiếp giáp với xã Yên sơn
- Phía Bắc: tiếp giáp với xã Bài sơn, xã Đông sơn
- Phía Nam: Tiếp giáp với xã Xuân sơn
3.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Văn Sơn nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắnglắm, mưa nhiều nên nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình từ 23-24oC và ít biến độngtrong năm Nhiệt độ cao nhất trong năm là 37-39oC vào mùa hè và thấp nhất từ 9-
12oC vào mùa đông Lượng mưa trung bình từ 1.200 - 1.300 mm/năm, tập trungchủ yếu trong 4 tháng từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm 80% lượng mưa cả năm và
độ ẩm trung bình hàng năm 81% Ngoài ra, với bức xạ phong phú, nền nhiệtlượng cao là một thuận lợi cho xã phát triển trồng trọt và chăn nuôi
3.1.1.3 Thủy văn
Xã có con sông Đào chảy qua - là nhánh sông được bắt nguồn từ sôngLam Con sông này cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp cho xã vàcác xã khác trong huyện Với việc chủ động được nguồn nước tưới nên nhân dântrong xã rất thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất lúa
Trang 323.1.1.4 Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm (2006-2008)
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 462,62 ha không thay đổi qua 3 năm.Địa hình của xã chủ yếu là đồng bằng, dốc từ Bắc sang Nam Với diện tích đấtnông nghiệp là 358 ha (năm 2008) chiếm 77,39% trong tổng diện tích đất tựnhiên Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, tuy nhiên để khaithác được hiệu quả tiềm năng này thì nhu cầu về vốn là yếu tố hàng đầu để bàcon nông dân đầu tư mở rộng sản xuất Trong những năm gần đây diện tích đấtnông nghiệp có xu hướng tăng lên, bình quân tăng 0,14%/năm Có được điều này
là do Uỷ ban nhân dân xã đã tích cực chỉ đạo nhân dân tiến hành sản xuất trênnhững vùng đất chưa sử dụng (Bảng 3.1)
Địa hình của xã tương đối bằng phẳng, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ
lệ lớn trong tổng diện tích tự nhiên, vì vậy xã cần có những chính sách đầu tư vềtín dụng để giúp bà con nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đờisống nhân dân
Trang 33B ng 3.1 Tình hình s d ng ảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm (2006-2008) ử dụng đất đai của xã qua 3 năm (2006-2008) ụng đất đai của xã qua 3 năm (2006-2008) đất đai của xã qua 3 năm (2006-2008) đ t ai c a xã qua 3 n m (2006-2008) ủa xã qua 3 năm (2006-2008) ăm (2006-2008)