DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 1 Quan hệ giữa tuổi - chiều dài và khối lượng của cá Giò nuôi trong lồng trên biển tại Cát Bà.... Đối với nghề nuôibiển, cá Giò là đối tượng nuôi tương đối mới, có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
-NGÔ QUỐC VĂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN NHÂN TẠO ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ GIÒ
(RACHYCENTRON CANADUM) GIAI ĐOẠN
TỪ 15 ĐẾN 36 NGÀY TUỔI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
VINH, 1.2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Người thực hiện: Ngô Quốc Văn
VINH, 1.2009
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời
cám ơn sâu sắc đến KS Lê Minh Hải là người thầy đã định hướng và tận
tâm hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tiếp theo tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến trường Đại học Vinh, Khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi Trồng Thuỷ Sản cùng các thầy cô giáo đã luôn tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khoá luận này.
Tôi xin chân thành cám ơn tập thể cán bộ công nhân viên của Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài.
Tôi xin nói lời cám ơn đến các anh chị, các bạn và những người đã luôn động viên, giúp đỡ và cổ vũ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập.
Và cuối cùng con xin nói lời cám ơn sâu sắc đến ông bà, cha mẹ, người
đã có công sinh thành, chăm sóc và giáo dưỡng con đến ngày hôm nay.
Vinh, 24/12/2008
Sinh viên
Ngô Quốc Văn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Giò 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 3
1.1.3 Phân bố và tập tính 4
1.1.4 Thức ăn và tập tính bắt mồi 4
1.1.5 Sinh trưởng 4
1.1.6 Sinh sản 6
1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Giò trên thế giới 7
1.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Giò ở Việt Nam 10
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu 14
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 14
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
2.4.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 17
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.5.1 Phương pháp đo môi trường 18
2.5.2 Phương pháp đo chiều dài 18
2.5.3 Phương pháp xác định tỷ lệ phân đàn 19
2.5.4 Phương pháp xác định hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 19
2.5.5 Phương pháp xác định tỷ lệ sống 20
2.5.6 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế 20
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 20
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 21
3.1.1 Nhiệt độ (T o ) 21
3.1.2 Hàm lượng Oxy hoà tan (DO) 22
3.1.3 Nồng độ pH 24
3.1.4 Độ mặn (S‰) 26
3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của cá Giò 27
3.2.1 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài tiêu chuẩn (SL, mm) 27
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng tương đối theo chiều dài tiêu chuẩn (SGR SL ,%/ngày) 29
Trang 63.3 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ phân đàn 31
3.4 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến hệ số chuyển đổi thức ăn FCR 32
3.5 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống 33
3.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
4.1 Kết luận 36
4.2 Kiến nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC a
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Quan hệ giữa tuổi - chiều dài và khối lượng của cá Giò
nuôi trong lồng trên biển tại Cát Bà 5
Bảng 2 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Giò 5
Bảng 3 Cỡ thức ăn công nghiệp tương ứng với khối lượng cá Giò 12 Bảng 4 Thành phần nguyên liệu của các loại thức ăn 15
Bảng 5 Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 21
Bảng 6 Diễn biến hàm lượng Oxy hoà tan trong quá trình thí nghiệm 23
Bảng 7 Biến động pH trong quá trình thí nghiệm 24
Bảng 8 Biến động độ mặn trong quá trình thí nghiệm 26
Bảng 9 Tăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài tiêu chuẩn 27
Bảng 10 Tăng trưởng tương đối theo chiều dài tiêu chuẩn 29
Bảng 11 Diễn biến tỷ lệ phân đàn của cá Giò trong quá trình thí nghiệm 31
Bảng 12 Hệ số chuyển đổi thức ăn của các loại thức ăn 32
Bảng 13 Tỷ lệ sống của cá Giò giai đoạn 15 - 36 ngày tuổi 33
Bảng 14 Bảng thống kê chi tiết quá trình ương cá Giò 35
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 8STT Tên hình Trang
Trang 9Hình 1 Hình dạng ngoài của cá Giò 3
Hình 2 Phôi cá Giò 6
Hình 3 Ấu trùng cá Giò 3 ngày tuổi 7
Hình 4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 16
Hình 5 Sơ đồ khối nghiên cứu. 17
Hình 6 Chiều dài chuẩn cá và độ cao thân (Theo Trine Galloway, 1999) 18
Hình 7 Đồ thị biến động nhiệt độ 22
Hình 8 Đồ thị biến động hàm lượng Oxy hoà tan 24
Hình 9 Đồ thị biến động pH 25
Hình 10 Đồ thị biến động độ mặn 27
Hình 11 Đồ thị biểu thị tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài tiêu chuẩn 29
Hình 12 Đồ thị biểu thị tốc độ tăng trưởng tương đối theo chiều dài tiêu chuẩn 30
Hình 13 Đồ thị biểu thị tỷ lệ phân đàn 32 Hình 14 Đồ thị tỷ lệ sống của cá Giò giai đoạn 15 - 36 ngày tuổi 34
Trang 10DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
FCR: Hệ số chuyển đổi thức ăn
l: lít
SGR SL : Tốc độ tăng trưởng tương đối theo chiều dài tiêu chuẩn
SL: Chiều dài tiêu chuẩn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cá Giò là loài cá nổi, có tập tính di cư, phân bố rộng từ vùng biển nhiệtđới, cận nhiệt đới đến các vùng nước ấm của biển ôn đới Đối với nghề nuôibiển, cá Giò là đối tượng nuôi tương đối mới, có giá trị kinh tế cao, sinhtrưởng nhanh, thịt ngon, có hàm lượng axit béo không no EPA, DHA cao hơnnhiều so với các đối tượng nuôi biển khác [13] Mặt khác, cá Giò có khả năngchống chịu tốt với điều kiện sóng gió, là đối tượng tiềm năng cho phát triểnnuôi lồng xa bờ và những vùng biển hở
Cá Giò (Rachyentron canadum) là một trong những loài cá Giò đắt giá
nhất do chất lượng của chúng Giá thị trường khoảng 120.000đ - 140.000đ/Kgtại Việt Nam vào đầu năm 2008
Trang 11Quy trình công nghệ sản xuất giống đã được nghiên cứu và áp dụngrộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay Đài Loan là nước dẫn đầu tronglĩnh vực sản xuất giống nhân tạo và nuôi cá Giò thương phẩm Đây là loàinuôi phổ biến và được xem là đối tượng tiềm năng cho nghề nuôi lồng biểncủa Đài Loan Ngoài Đài Loan một số nước khác như Trung Quốc,Austraylia, Mỹ… cũng đã có chương trình nghiên cứu sản xuất giống và nuôiđối tượng này.
Ở Việt Nam nghề nuôi cá Giò đã phát triển tương đối mạnh và nhanhtrong 10 năm trở lại đây ở các tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An,Phú Yên, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Phú Quốc với mô hình nuôi lồng bè Từnăm 1997 đến nay đã có nhiều tài nghiên cứu sinh sản cá Giò tại Hải Phòng,Quảng Ninh, Nghệ An và thu được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên tỷ lệsống của ấu trùng còn thấp và chưa ổn định, giá thành sản xuất còn cao
Hiện nay, công nghệ sản xuất giống cá Giò chủ yếu có hai phươngpháp: Phương pháp nuôi quảng canh trong ao nước lợ đã gây màu hoặc vớtthức ăn tự nhiên từ ao đất và phương pháp nuôi thâm canh bằng thức ăn sốngđược sản xuất nhân tạo (rotifer, Artemia được cường hóa) Thực tế khi sửdụng Copepod trong tự nhiên cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng tỷ lệsống thấp do bị nhiễm mầm bệnh từ ao đất Việc nghiên cứu về nhu cầu dinhdưỡng, thành phần dinh dưỡng và khẩu phần ăn hợp lý, khả năng tiêu hoáthức ăn, đặc biệt là ảnh hưởng của thức ăn đến đời sống của loài cá này tronggiai đoạn đầu của quá trình ương nuôi còn gặp nhiều khó khăn và thu đựơckết quả còn hạn chế Để có những hiểu biết cơ bản về đặc tính dinh dưỡng củaloài cá này và dần làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên tôi đã tiếnhành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng của các loại thức ăn nhân tạo đến sự phát triển của cá Giò (Rachycentron canadum) giai đoạn từ 15 đến 36 ngày tuổi”
Trang 122 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá hiệu quả sử dụng của các loại thức ăn nhân tạo trong ươngnuôi cá Giò để từ đó rút ra được loại thức ăn tốt nhất và cho hiệu quả kinh tếcao nhất
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Giò
Loài: Rachycentron canadum
Tên tiếng anh: Black Kingfish hoặc Cobia
Hình 1 Hình dạng ngoài của cá Giò
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Thân dài hình khí động học, đầu dẹp và rộng, miệng rộng, hàm dướinhô dài hơn hàm trên, răng nhỏ mịn phân bố đều ở cả 2 hàm và trên vòmmiệng Lưng và 2 bên sườn màu nâu đậm, dọc thân có 2 dải sáng bạc hẹpchạy dài từ sau mắt đến cuống đuôi Vây lưng thứ nhất có 6 - 9 tia cứng ngắn
và khoẻ, giữa các tia không có màng liên kết, vây lưng thứ 2 dài có màng liênkết giữa các tia mềm Vây ngực nhọn và dài Vây hậu môn tương tự vây lưngthứ 2 nhưng ngắn hơn Vây đuôi ở cá con hình tròn, khi trưởng thành lõm vàohình trăng khuyết, thuỳ trên dài hơn thuỳ dưới Vẩy tấm nhỏ nằm sâu dướilớp da dày Đoạn dưới của đường bên hơi giống đường sóng lượn, đoạn sauthẳng Bụng có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt [15]
Cá thể lớn nhất đã từng gặp dài 2m nặng tới 68kg [16]
Trang 141.1.4 Thức ăn và tập tính bắt mồi
Cá Giò thuộc loại động vật ăn thịt, thức ăn chính của cá Giò gồm cácloại cua, giáp xác, cá, mực và một số loại động vật khác sống ở biển Cá hoạtđộng suốt cả ngày và đêm, chúng thường bơi lội ở vùng nước có đáy là cátpha lẫn vỏ sò, vùng rạn đá san hô, quanh các phao tiêu, cọc đáy vùng gần bờ
và quanh các vật thể trôi nổi ngoài đại dương để săn mồi [5] Khi nuôi tronglồng dưới biển cá Giò rất phàm ăn, bất kể lúc nào có mồi ném xuống chúngđều tranh nhau lao lên đớp mồi Thức ăn dùng để nuôi cá Giò thường dùng làcác loài cá tạp như cá Trích, cá Nục, cá Liệt, cá Đù, Mực và một số loài giápxác nhỏ… [5]
1.1.5 Sinh trưởng
Cá Giò là loài có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh Trong tự nhiên cáGiò đánh bắt được nhiều ở vùng vịnh Mexico, phổ biến ở chiều dài 0,8m - 1,2mnặng từ 8kg - 25kg, độ tuổi 2 - 5 Trong điều kiện nuôi thì cá Giò là loài cásinh trưởng nhanh Nuôi lồng trên biển tại Trung Quốc trong vòng một năm nuôi
có thể đạt từ 5kg - 6kg, sau hơn hai năm nuôi có thể đạt khối lượng 8kg - 10kg.Còn ở Đài Loan với lồng 80m3 thức ăn là cá tạp thì cá Giò có thể tăng trưởngtới 7kg - 9kg trong thời gian khoảng 15 tháng, cá trên hai năm tuổi có thể đạt
Trang 15khối lượng từ 10kg - 23kg [11] Theo Wheelr (1975) [16] cá Giò có thể đạtchiều dài 2m và nặng nhất đạt 68kg Cá Giò có thể sống 10 năm tuổi, tối đatới 15 năm [15]
Cá Giò có tốc độ tăng trưởng nhanh Trong tự nhiên cá Giò 2 - 5 tuổichiều dài đạt 0,8m - 1,2m nặng từ 8kg - 25kg Trong điều kiện nuôi, sau 1 năm
cá Giò có thể đạt khối lượng 3kg - 4kg, sau 2 năm có thể đạt 8kg - 10kg
Bảng 1 Quan hệ giữa tuổi - chiều dài và khối lượng của cá Giò
nuôi trong lồng trên biển tại Cát Bà
(Nguồn: Báo cáo đặc điểm sinh học của cá Giò
R Canadum, Đỗ Văn Minh, 1997)
Khi nghiên cứu về tương quan giữa chiều dài (L) và khối lượng (M)của cá Giò người ta thấy rằng ở một số vùng biển khác nhau cũng có sự khácnhau thể hiện bởi bảng sau
Bảng 2 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Giò
Địa điểm Mối tương quan giữa L và M
Trang 16Cá Giò thành thục vào lứa tuổi 2 tuổi, mùa đẻ trứng từ tháng 4 đếntháng 9 và thường đẻ 1 - 2lần/năm, đẻ rộ vào tháng 5 [3] Lượng trứng đẻ từ1,5 triệu đến 2 triệu trứng/lần Vào mùa sinh sản, chỉ số tuyến sinh dục của cácái có khối lượng cơ thể 14,5kg chiếm từ 8,1% - 9,2% khối lượng cơ thể [5]
Quá trình phát triển và biến thái của cá Giò
- Thời kỳ phát triển phôi
Theo Svennevig (2003) [14], trứng cá nở sau 31h kể từ lúc được thụtinh ở nhiệt độ khoảng 26oC, độ mặn 34‰ - 35‰ Đường kính trứng khoảng1,53mm, ấu trùng mới nở đạt chiều dài 3,5mm, sau 12h đạt 4mm, sau 24h đạt4,7mm và sau 72h đạt 5,1mm Chúng mở miệng và bắt đầu ăn thức ăn ngoàisau 60h - 64h ở nhiệt độ 25 oC - 28oC
Hình 2 Phôi cá Giò
- Thời kỳ ấu trùng và ấu niên (Early juvenile)
Cũng theo Svennevig (2003) [14], ấu trùng sau 2 ngày kể từ khi nở đã
có thể nuôi trong bể hoặc trong ao và dinh dưỡng bằng Rotifer hoặc Nauplicủa Copepoda
Từ ngày thứ 5: Ấu trùng đã sử dụng gần hết noãn hoàng, mắt và miệngphát triển giúp ấu trùng có thể bắt mồi chủ động, linh hoạt, màu sắc cá biếnđổi sang màu nâu
Trang 17Ngày thứ 6: Ấu trùng đạt 6,8mm (To: 26oC - 28oC) đã có thể sử dụngArtemia bung dù và Copepoda trưởng thành.
Thời kỳ biến thái bắt đầu từ ngày thứ 10 - 11
Ngày thứ 12: Ấu trùng đạt chiều dài 1,1cm miệng và mắt phát triểnhoàn thiện, các tia vây và vây ngực bắt đầu xuất hiện
Tới ngày thứ 21 cá đạt được chiều dài 3cm, có thể luyện cho ăn thức ăncông nghiệp
Ngày thứ 35 - 40 cá có thể sử dụng thức ăn công nghiệp cỡ 1,8mm, đạtkích cỡ cá giống
Hình 3 Ấu trùng cá Giò 3 ngày tuổi
1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Giò trên thế giới
Cá Giò là đối tượng nuôi mới đầy tiềm năng đã được nhiều nước trênthế giới tiến hành nghiên cứu và đưa vào sản xuất Đài Loan là nước dẫn đầutrong lĩnh vực sản xuất giống và nuôi thương phẩm Cá Giò được nuôi ở ĐàiLoan từ năm 1990, sinh sản nhân tạo cá Giò lần đầu tiên vào năm 1992 đếnnăm 1997 hoàn thành kỹ thuật sản xuất giống đại trà [8] Cá Giò giống sảnxuất quy mô thương mại đã được tiến hành ở Đài Loan và Trung Quốc bằngphương pháp ương bán thâm canh trong ao đất Năm 1999, Đài Loan sản xuấtđược 5 triệu cá Giò giống không những phục vụ đủ nhu cầu nuôi trong nước
mà còn xuất khẩu sang các nước như Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam Cá
Trang 18Giò nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở Đài Loan, chiếm 80%lồng nuôi biển Tổng sản lượng cá Giò năm 1999 là 1800 tấn, đến năm 2001 là
3000 tấn, riêng năm 2002 sản lượng có giảm đi do sự bùng phát dịch bệnh [10]
Ở khu vực bắc Mỹ đã cho sinh sản nhân tạo thành công bằng cáchtiêm hormone sinh dục cho cá bố mẹ thu ngoài tự nhiên và tiến hành nuôithương phẩm cá Giò Tại Mỹ, nuôi cá Giò thương phẩm được tiến hành từnăm 2002 và ngày càng phát triển, từ 15.000 con nuôi trong lồng ngầm tạiCulebra, Puerto Rico năm 2002 đến đầu năm 2003 chuyển thêm 25.000 con
cá Giò giống tới nuôi tại Puerto Rico, Texas, trung Florida… Cuối năm 2003
Mỹ tiếp nhận 850.000 trứng với tỷ lệ sống trung bình của ấu trùng là 80%, đạtđược 70.000 ấu trùng chuyển tới các công ty thương mại trên khắp nước Mỹ.Kết quả là năm 2003 nước Mỹ đã sản xuất thêm được hơn 100.000 con cágiống Hiện nay Châu Á là khu vực tiêu thụ sản phẩm cá Giò cao nhất thếgiới Trung Quốc từ năm 1992 đã bắt đầu tiến hành nuôi cá Giò và đến nay cáGiò nhanh chóng chiếm ưu thế và trở thành loài nuôi công nghiệp trong hệthống nuôi lồng xa bờ [18] Từ năm 1997 có được công nghệ sản xuất giốnghàng loạt [17] Nhật Bản đã nhập con giống từ Trung Quốc và tiến hành nuôitrong lồng ở khu vực đảo Okinawa
Nguồn thức ăn được sử dụng để ương nuôi ấu trùng cá Giò hiện nayrất phong phú Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng thức ăn sống
bao gồm các loài tảo Isochrysis sp, Tetraselmis sp, Nanochloropsis sp,
Chlorella sp, luân trùng dòng lớn và dòng nhỏ, Artemia, Copepod cho giai
đoạn đầu từ 0 - 30 ngày tuổi Giai đoạn 2 cá được bổ sung thức ăn tổng hợphoặc thức ăn viên ẩm [6] Theo Liao (2001) [9] trong sản xuất giống cá Giò ởĐài Loan chủ yếu dùng Copepod làm thức ăn cho giai đoạn ấu trùng Đối vớigiai đoạn 75 - 180 ngày tuổi (0,3kg - 1kg) sử dụng thức ăn viên với hàm
Trang 19lượng dinh dưỡng 48% protein, 12% lipid với hệ số chuyển đổi thức ăn FCR1,02 - 1,48 [14]
Ở Đài loan, cá này là loài bản địa và thích hợp để nuôi lồng Do nó cógiá thành cao trên thị trường nội địa và quốc tế nên kỹ thuật nuôi loài cá này
đã được phát triển nhanh chóng trong những năm qua [19]
Những kỹ thuật này bao gồm sinh sản nhân tạo đại trà bằng cách cho đẻ
tự nhiên cá bố mẹ được nuôi vỗ, ương nuôi ấu trùng, ương cá giống trên bể,
ao và lồng gần bờ, nuôi thịt trong lồng ngoài khơi Sinh sản nhân tạo của loài
cá này tương đối dễ dàng vì cá thành thục sinh dục trong vòng hai năm nuôi.Mùa đẻ trứng ngoài tự nhiên diễn ra suốt năm ở nhiệt độ từ 23oC - 27oC, vớiđỉnh cao vào mùa xuân và mùa thu Trứng thụ tinh nở trong vòng 21h - 37h ởnhiệt độ nước 31oC - 22oC Ấu trùng tăng trưởng nhanh và có khả năng chịuđựng môi trường khắc nghiệt rất cao so với ấu trùng của một số loài cá biểnkhác Cá bột có thể được sản xuất hàng loạt trong ao ngoài trời với giá thànhtương đối rẻ Cá hương từ 20 ngày tuổi trở đi được chuyển sang cho ăn bằngthức ăn viên Ương cá từ 10g - 30g lên 100g được tiến hành trong các ao ngoàitrời hoặc lồng gần bờ Bệnh thường gặp ở cá Giò chủ yếu là bệnh do vi khuẩn
(Pasteurellosis, Vibriosis, và Streptoccosis), ký sinh trùng (Myxosporidea,
Trichodina, Neobenedenia và nhiễm Amyloodinium), virus (Lymphocystis) [20]
Những năm gần đây, hệ thống thâm canh và tuần hoàn siêu thâm canhdùng cho ương cá giống (từ 2g lên 100g - 150g) được phát triển với tỉ lệ sốnghơn 90% Trong ương và nuôi thịt trong lồng xa bờ, cá Giò từ 100g - 600gnuôi trong vòng 1 - 1,5 năm đạt kích thước xuất khẩu 6kg - 8kg cho thị trườngNhật Bản, hoặc 8kg - 10kg cho thị trường nội địa Hiện nay, khoảng 80%lồng nuôi cá biển ở Đài loan dành cho nuôi cá Giò Tuy nhiên vẫn còn một sốvấn đề tồn tại cần được quan tâm và giải quyết trong nuôi cá Giò để nâng caosản lượng như là tỷ lệ tử vong cao do sốc khi vận chuyển từ bể ương hoặc
Trang 20lồng ương gần bờ đến lồng nuôi thịt, bệnh dịch trong quá trình ương và nuôithịt làm cho tỉ lệ sống thấp dẫn đến thu hoạch kém [19]
1.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Giò ở Việt Nam
Ở nước ta nghề nuôi cá biển cũng có từ lâu theo hình thức lấy giống tựnhiên vào đầm nước lợ và nuôi theo hình thức quảng canh dân gian cổ truyền,đối tượng nuôi không có sự lựa chọn, chủ yếu là cá Đối, cá Tráp và cá Vược,khoa học công nghệ không có gì đặc sắc và rõ nét Những năm trở lại đây với
sự cố gắng đáng kể đã làm nên sự phát triển của nghề nuôi cá biển ở ViệtNam với nhiều loài như cá Song, cá Hồng, cá Cam, cá Giò, tôm Hùm… bướcđầu thành công và gia tăng nhiều vùng nuôi công nghiệp mới [12]
Những năm gần đây cá Giò đang dần trở thành đối tượng nuôi đượcquan tâm để phát triển nghề nuôi cá biển Những nghiên cứu sinh sản nhântạo cá Giò đã được Viện nghiên cứu Hải sản tiến hành từ năm 1992 đến năm
1999 trong đề tài “Nghiên cứu công nghệ sinh sản nhân tạo và nuôi một số
loài cá biển” từ năm 1998 đến năm 2000 đã sản xuất được đợt cá giống đầu
tiên 12.000 con, năm 2000 là 1000 con cỡ 4cm - 6cm, số cá giống này đươcchuyển cho dân nuôi thử và thu được kết quả tốt Mặc dù quy trình sản xuấtchưa ổn định và còn phụ thuộc vào việc thu thức ăn ở tự nhiên làm thức ănnuôi ấu trùng nhưng những kinh nghiệm thu được rất có giá trị
Trong khuôn khổ dự án NORAD của Viện nghiên cứu Nuôi trồngthủy sản I cùng với sự tài trợ của dự án SUMA, năm 2001 ở Cát Bà - HảiPhòng đã sản xuất được 13.000 con giống cỡ 8cm - 12cm Năm 2002 trại Cát
Bà Hải Phòng sản xuất được 6.000 con giống (12cm 15cm), trại Cửa Hội Nghệ An sản xuất được 20.000 con giống (12cm - 15cm) [2] Ương nuôi cáGiò hiện nay chủ yếu theo hai phương pháp là ương thâm canh và bán thâmcanh Với sự hỗ trợ của dự án NORAD, quy trình ương nuôi cá Giò thâmcanh đã đi vào thế ổn định hơn
Trang 21-Trong những năm gần đây, cá Giò là đối tượng hấp dẫn và được nuôiphổ biến ở các vùng kín sóng gió ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ
An, Vũng Tàu, Kiên Giang… Đặc biệt gần đây có các doanh nghiệp tư nhântrong và ngoài nước đầu tư vào nuôi lồng cá Giò với quy mô tương đối lớngóp phần thúc đẩy nghề nuôi này theo hướng công nghiệp
Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân hạn chế tốc độ phát triểnnghề nuôi cá Giò là khả năng cung cấp con giống ở nước ta hiện nay còn hạnchế cả về số lượng, chất lượng và thời điểm cung cấp giống Mặc dù chúng ta
đã có những tiến bộ đáng kể trong việc cải tiến quy trình sản xuất giống thâmcanh, tăng sản lượng giống trong 3 năm gần đây [2] Hiện nay khả năng cungcấp giống vẫn chưa thực sự ổn định, chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi cá Giò,
tỷ lệ chết vẫn còn cao và tập trung vào các giai đoạn cơ bản như giai đoạn mởmiệng bắt đầu ăn thức ăn ngoài, giai đoạn biến thái và giai đoạn luyện thức ăncông nghiệp Hiện tại tỷ lệ sống của cá Giò đến giai đoạn cá giống (8cm - 10cm)mới chỉ đạt 2% - 4%, còn giai đoạn cá hương từ 20 ngày tuổi lên giống đạt tỷ
lệ sống cao nhất khoảng 60% - 70% và không ổn định, năng suất cá hương(2,3cm - 3cm) đạt từ 75.000 - 8.000 con/m3 [2] Hiện nay, vẫn còn nhập khẩunguồn giống từ Trung Quốc, khó quản lý được chất lượng con giống và khókiểm soát được dịch bệnh
Dự án NORAD, hợp phần nghiên cứu nuôi biển đã tiến hành nuôi cáGiò thương phẩm ở khu vực đảo Hòn Ngư - Nghệ An là nơi chịu ảnh hưởng lớncủa gió mùa đông bắc, nhiệt độ nước trung bình năm 26oC (18,1oC - 32,5oC), độmặn trung bình 24‰ (8,0‰ - 32,4‰) Từ cỡ cá giống 190g - 320g sau 1 nămnuôi đã đạt được khối lượng trung bình 5kg với hệ số thức ăn 8kg cá tạp cho1kg tăng trọng, tỷ lệ sống cao (90%) Kết quả nuôi cá Giò ở khu vực này chothấy cá Giò có khả năng thích nghi với các điều kiện bất lợi về thời tiết nhưnhiệt độ thấp vào các tháng mùa đông và chịu được điều kiện sóng gió Điều
Trang 22này cho thấy, ngoài các vịnh kín sóng gió cá Giò còn là đối tượng tiềm năngnuôi lồng xa bờ [14]
Nuôi cá Giò thương phẩm quy mô lớn đã triển khai ở Vũng Tàu trongnhững năm gần đây Thị trường chính tiêu thụ thịt cá Giò sống là Hồng Kông
và Nhật Bản, nhưng thức ăn chủ yếu của cá Giò là cá tạp có hàm lượng mỡthấp nên chất lượng thịt cá Giò khó đáp ứng được tiêu chuẩn cá ăn gỏi củaNhật Bản Sản phẩm chủ yếu được bán cho nhà máy chế biến thủy sản ởVũng Tàu có thị trường xuất khẩu ở Nhật Bản và Mỹ Đây là những bướckhởi đầu đầy hứa hẹn cho nghề nuôi cá Giò ở nước ta [14]
Sử dụng thức ăn công nghiệp chất lượng tốt để nuôi cá Giò, mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn cá tạp, chủ động nguồn thức ăn và giảm thiểu được ônhiễm môi trường Có các cỡ thức ăn phù hợp theo tăng trưởng của cá: từ2mm - 16 mm Cho cá ăn ngày 2 lần, sáng và chiều, khẩu phần cho ăn từ1,5% - 2% khối lượng cá/ngày Hệ số thức ăn dao động từ 1,5kg - 1,8kg cho1kg tăng trọng [20]
Bảng 3 Cỡ thức ăn công nghiệp tương ứng với khối lượng cá Giò
Trang 23Khi sử dụng cá tạp để cho cá Giò ăn cần phải dùng cá tươi Ngày cho
ăn một lần vào buổi sáng Mỗi lần cho ăn đến no, khoảng 5% - 8% tổng khốilượng đàn cá nuôi Hệ số thức ăn sử dụng cá tạp dao động từ 8kg - 10kg cátạp/1kg cá thịt [19]
Việt Nam có tiềm năng to lớn để phát triển nghề nuôi biển Tuy nhiênnghề nuôi biển ở nước ta đang còn trong giai đoạn đầu của sự phát triển vàcòn nhiều khó khăn hạn chế Vì vậy, rất cần các nghiên cứu bổ sung nhằmnâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng góp phần hoàn thiện quy trình sảnxuất giống cá Giò phục vụ sản xuất
Trang 24Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu bao gồm ba loại thức ăn đó là thức ăn IHIMOTO,thức ăn NRD và thức ăn chế biến Là các loại thức ăn của cá Giò giai đoạn từ
cá hương lên cá giống
Thức ăn IHIMOTO là thức ăn nhập khẩu của Nhật
Thức ăn NRD là thức ăn nhập khẩu của hãng INVE (THAILAND)
Nguyên liệu: Đạm sinh vật biển, bột ngũ cốc, đạm thực vật, dầu cá, tảo,
men, chất chống oxy hoá
Bảo quản: Bảo quản nơi khô ráo (To tối đa 25oC) Tốt nhất là trong tủ lạnh(To = 4oC) Sản phẩm đã mở nên sử dụng trong vòng một tháng, đóng kín sảnphẩm và bảo quản bằng tủ lạnh
Công ty sản xuất: CÔNG TY DV SX TM NGỌC TRAI
Thức ăn chế biến bao gồm hỗn hợp thức ăn phối trộn theo tỷ lệ 5 quảtrứng vịt với 1kg thức ăn CP
Trang 25Bảng 4 Thành phần nguyên liệu của các loại thức ăn
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Cá Giò (Rachycentron canadum) giai đoạn từ 15 đến 36 ngày tuổi.
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình nghiên cứu.
- Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăngtrưởng của cá Giò (tăng trưởng về chiều dài)
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến mức độ phân đàn của
cá Giò
- Đánh giá hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của các loại thức ăn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Giò
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại thức ăn
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc
- Địa chỉ: Xã Xuân Đám - Huyện Cát Hải - TP Hải Phòng
- Thời gian: Từ tháng 05 đến tháng 08 năm 2008