1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết nguyễn phan hách

103 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Tiểu Thuyết Nguyễn Phan Hách
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Thành
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn có thể nghiên cứu một cách toàn diện về tiểu thuyết của ông đồng thời mang đến được cái nhìn mới về Nguyễn Phan Hách cùng những đón

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THỦY

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN PHAN HÁCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội –2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THỦY

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN PHAN HÁCH

Chuyên ngành : Văn Học Việt Nam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bá Thành, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô khoa Văn học, phòng sau Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội đã tạo cho tôi được học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Lời cuối cùng cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà văn Nguyễn Phan Hách, người luôn đồng hành, tận tình giúp đỡ, cùng người thân, bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên để tôi có thể hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu: 7

5 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN PHAN HÁCH TRONG BỐI CẢNH CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 8

1.1 Khái niệm về tiểu thuyết 8

1.2 Sự vận động và phát triền của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 11

1.3 Sự nghiệp sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Phan Hách 18

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Phan Hách 18

1.3.2 Quan niệm về nghệ thuật của Nguyễn Phan Hách 20

1.3.3 Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách 22

Tiểu kết chương 1 25

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN PHAN HÁCH 26

2.1 Hiện thực trong tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách 26

2.1.1 Hiện thực lịch sử đau thương 26

2.1.2 Hiện thực sinh hoạt đời thường 34

2.2 Con người trong tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách 42

2.2.1 Con người mang vận mệnh lịch sử 42

2.2.2 Con người trong sự lựa chọn bắt buộc 52

2.2.3 Con người trong mối quan hệ với gia đình 57

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN PHAN HÁCH 63

Trang 5

3.1 Đặc điểm thể loại 63

3.1.1 Đa dạng kết cấu 63

3.1.2 Sự pha trộn thể loại 71

3.2 Ngôn ngữ 78

3.2.1 Ngôn ngữ giản dị, gần gũi 79

3.2.2 Ngôn ngữ tính dục 82

3.3 Giọng điệu 87

3.3.1 Giọng điệu triết lý, chiêm nghiệm 88

3.3.2 Giọng điệu u mua, hóm hỉnh 91

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới (sau 1986) được “cởi trói” và

thỏa sức tự do đã tạo ra những thay đổi căn bản trong thực tiễn sáng tạo nghệ thuật và đời sống tiếp nhận văn học Bước chuyển mạnh mẽ của sự giao thoa hội nhập ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học bởi vừa tiếp nhận thêm những

tư tưởng lý thuyết mới của thế giới vừa rà soát lại những giá trị đích thực mà trước đây chúng ta đã bỏ qua hoặc đánh giá chưa thỏa đáng

Trong nhiều thể loại của văn học giai đoạn này, tiểu thuyết là mảnh đất

“màu mỡ” cho các nhà văn sáng tạo nghệ thuật Những nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, Lê Văn Thảo, Nguyễn Bình Phương,… nổi lên như các nhà văn viết tiểu thuyết tiêu biểu thời kì đổi mới Vấn đề được các nhà văn đề cập đến trong giai đoạn này thường liên quan đến con người và hiện thực xã hội trên nhiều bình diện khác nhau Đặc biệt là những khía cạnh từ sâu bản thể con người được soi chiếu dưới góc độ thế sự, đời tư trong xã hội khi mà những giá trị xưa cũ dần bị

“quên lãng” và con người phải chấp nhận và sống chung với những điều “phi lý” trong đời sống hiện đại

1.2 Đề tài của văn học trong giai đoạn mới vô cùng phong phú trong

đó những tác phẩm tìm về với lịch sử vẫn chiếm số lượng lớn Nguyễn Phan Hách cũng đã lựa chọn cho mình con đường theo mạch gắn với lịch sử như vậy Yếu tố “sử” trong văn học đương đại được lồng ghép vào rất nhiều các tác phẩm như một sự khẳng định theo hướng đi riêng Con người trong tiểu thuyết lịch sử đương đại không còn theo tiêu chí danh nhân lịch sử mà là nhân vật trong tiểu thuyết được đặt trong đời sống thực, mới mẻ hơn, sinh động hơn Điều này cũng đặt ra yêu cầu các nhà văn phải phát huy tối đa trí tưởng tượng, sự hư cấu để “hưởng thụ lịch sử” (Võ Thị Hảo) Những thay đổi này khiến cho không chỉ nhà văn mà người tiếp nhận cũng có quyền được làm

Trang 7

công việc phán xét cả lịch sử, chưng cất lịch sử, tranh luận với sử học về nhân sinh, thế sự giúp nhận thức thêm, nhận thức lại lịch sử Với Nguyễn Phan Hách, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống nho học, trên quê hương Kinh Bắc giàu truyền thống văn hóa đã nuôi dưỡng tâm hồn khiến ông tiếp nhận và sáng tác thơ ca từ rất sớm Độc giả biết đến ông với tư cách một nhà thơ, một người viết truyện ngắn nhiều hơn là một nhà tiểu thuyết Không phải là một tên tuổi đặc biệt nổi tiếng với công chúng song Nguyễn Phan Hách được giới chuyên môn đánh giá cao trong những nỗ lực không ngừng trên mọi thể loại của văn học và cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên mặt trận thơ

ca và truyện ngắn Dù đã thử sức với thể loại tiểu thuyết từ rất sớm với các tác

phẩm như “Mây tan”, “Người đàn bà buồn”, “Mê Cung”, song đến “Cuồng

phong” tên tuổi của ông mới được nhiều người biết đến

1.3 Tìm hiểu về đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách, chúng tôi

muốn đi sâu tìm hiểu về một tác giả tiểu thuyết vẫn còn khá mới mẻ với nhiều bạn đọc nhưng có những đóng góp không nhỏ trên diễn đàn văn chương Hơn

nữa, theo nghiên cứu của chúng tôi chưa có một công trình nào viết về “Đặc

điểm tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách” Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này

với mong muốn có thể nghiên cứu một cách toàn diện về tiểu thuyết của ông đồng thời mang đến được cái nhìn mới về Nguyễn Phan Hách cùng những đóng góp của ông dành cho văn chương

2 Lịch sử nghiên cứu

Đã có khá nhiều những bài viết về Nguyễn Phan Hách và các tác phẩm của ông Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách một cách có hệ thống

và đầy đủ Bởi độc giả và công chúng phần lớn đều chỉ quan tâm đến tiểu

thuyết “Cuồng phong”, một tác phẩm gây được tiếng vang lớn nhất gần đây

và đã được tái bản nhiều lần

Theo như khảo sát của chúng tôi thì có hai công trình nghiên cứu khoa

học về Nguyễn Phan Hách và tiểu thuyết “Cuồng Phong” Trước hết đó là

Trang 8

công trình nghiên cứu của Nguyễn Khánh Vân (2012) với tựa đề, “Tìm

hiểu một số đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết cuồng phong của Nguyễn Phan Hách”, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà

Nội 2 Trong luận văn tác giả đi vào hai nội dung chính và cơ bản nhất là

những đặc điểm nghệ thuật về không gian nghệ thuật và hình tượng nhân vật, cùng đó là cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu trong tiểu thuyết

“Cuồng Phong” Luận văn chỉ dừng lại ở việc khai thác một số đặc sắc

nghệ thuật của tiểu thuyết chứ chưa có cái nhìn tổng quan, khái quát có

hệ thống để thấy được những đặc điểm trên phương diện nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách

Cùng khai thác, tìm hiểu về tiểu thuyết Cuồng phong là khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Ánh Tuyết (2016), Đại học sư phạm Hà Nội, nghiên cứu

về “Đặc sắc tiểu thuyết Cuồng Phong của Nguyễn Phan Hách” Khóa luận

tập trung vào bức tranh toàn cảnh của lịch sử xã hội Việt Nam thế kỉ XX và đặc sắc nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuy nhiên đây chỉ là một công trình nghiên cứu quy mô nhỏ dừng lại ở duy nhất một tiểu thuyết, chưa thấy được toàn diện và phát hiện đầy đủ những đặc sắc cũng như những điểm nổi bật trong đa số các tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách

Bên cạnh những công trình nghiên cứu, các bài báo viết về tiểu thuyết

“Cuồng phong” cũng được đăng trên các báo, tạp chí Bài viết “Cơn bão cuộc

đời trong tiểu thuyết Cuồng Phong” của Nguyễn Thanh Lâm, Hội văn nghệ

Hà Nội đăng trên báo Văn nghệ Công An có những nhận định, mô tả một cách khái quát nội dung của tiểu thuyết và nhận định của cá nhân người viết

về những phân đoạn ấn tượng trong cuốn sách

Trong một bài viết khác của Gia Bách (2008) được đăng trên báo An

Ninh Thủ đô với tựa đề “Thầy Hách hô phong hoán vũ trong cơn Cuồng

phong” đã giới thiệu sơ lược nội dung và nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết

Cùng một số bài được đăng trên báo Thể thao Văn hóa, Hoàng Hồng (2008)

thực hiện bài viết “Tôi nhát gan lắm”; Thiên Anh (2008), “Nguyễn Phan

Trang 9

Hách: Một số trang viết của tôi giống sex dân gian” Là những cuộc đối thoại

chân thực, được tác giả trực tiếp chia sẻ xung quanh tiểu thuyết “Cuồng

phong” và những ý kiến của ông về văn hóa đọc hiện nay của giới trẻ đồng

thời đưa ra những giải pháp khắc phục hiện trạng này

Tất cả các bài viết và công trình nghiên cứu trên đây mà chúng tôi tìm hiểu dừng lại ở mức độ khái quát một phần những khía cạnh trong tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách Bởi phần đa độc giả và nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào

tiểu thuyết “Cuồng phong”, cuốn sách để đời của tác giả chứ chưa tìm hiểu,

nghiên cứu kĩ lưỡng về những cuốn tiểu thuyết trước đó của ông, cũng có thể

vì các cuốn sách đó chưa có tiếng vang Chính vì vậy, trong luận văn này chúng tôi muốn tìm hiểu tập trung nghiên cứu ba cuốn tiểu thuyết của ông bao

gồm: “Người đàn bà buồn”, “Mê cung” và “Cuồng phong” đều được viết từ

sau thời kỳ đổi mới để làm rõ những giá trị tổng quát nhất của tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách từ nhiều góc độ khác nhau để có một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nhà văn này cũng như quan niệm về tiểu thuyết của ông

3 Đối tƣợng, mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy đối tượng khảo sát chính là

ba cuốn tiểu thuyết: “Mê Cung”, “Người đàn bà buồn”, “Cuồng phong”

Đồng thời tiến hành nghiên cứu những đặc điểm của ba cuốn tiểu thuyết trên

3.3 Phạm vi nghiên cứu: Để thực hiện luận văn này, bên cạnh tập

trung nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách thông qua ba

tiểu thuyết của ông là “Người đàn bà buồn”, “Mê Cung” và “Cuồng Phong”,

chúng tôi đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu, từ các giáo trình, từ điển đến các

Trang 10

bài nghiên cứu trên báo, tạp chí, cũng như những tư liệu được cung cấp từ chính tác giả và các nguồn tư liệu khác chúng tôi tìm kiếm, tham khảo được trong quá trình triển khai đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Tìm hiểu tư liệu lịch sử, bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỉ XX để nghiên cứu những biến động diễn ra trong tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách dưới góc nhìn khách quan, chân thực

- Phương pháp loại hình (Tiểu thuyết): Trên cơ sở dựa vào đặc trưng loại hình của thể loại tiểu thuyết chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu với đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách để thấy được khả năng tiếp nhận, phát triển trong tiểu thuyết của ông

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đưa ra những đánh giá, phân tích

về phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đồng thời phản ánh thông điệp tác giả gửi gắm trong các tác phẩm

- Phương pháp thống kê, so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê những tác phẩm tiêu biểu ứng với một nội dung nghiên cứu nhất định đồng thời so sánh với các tác phẩm cùng thể loại, chủ đề để làm nổi bật được nội dung vấn đề cần nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì cấu trúc luận văn gồm có 3 chương chính sau

- Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách trong bối cảnh của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

- Chương 2: Hiện thực xã hội và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách

- Chương 3: Một số đặc điểm về nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách

Trang 11

Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN PHAN HÁCH TRONG BỐI CẢNH

CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Khái niệm về tiểu thuyết

Tiểu thuyết lâu nay luôn được coi là một thể loại trọng yếu của văn học Tiểu thuyết còn là loại hình tiêu biểu, căn bản của văn xuôi ở mỗi thời kì, tư tưởng văn học, là công cụ được sử dụng phổ biến của nhiều cây bút văn xuôi Đặc biệt khi cuộc sống con người ngày càng chứa đựng những biến đổi khôn lường, nhà văn muốn đi sâu khai thác những góc khuất theo chiều dài cuộc đời nhân vật thì tiểu thuyết là sự lựa chọn ưu tiên hàng đầu Bàn về tiểu thuyết, nhà phê bình văn học Nga M.Bakhtin cho rằng “Tiểu thuyết là sản phẩm tinh thần tiêu biểu cho thời đại mới của lịch sử loài người, là thành quả rực rỡ có giá trị như một bước nhảy vọt thực sự vĩ đại của hàng ngàn năm văn chương thế giới” [34]

Từ điển “Thuật ngữ văn học” của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa tiểu thuyết là một “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh được số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục; đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[12; tr.328]

Trong cuốn “Lý luận văn học” của Hà Minh Đức (chủ biên) cũng đưa

ra những khái niệm tổng quát nhất về thể loại tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian Khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh tổng thể

rộng lớn về đời sống xã hội…”[8; tr.236] Tất cả cái khái niệm trên đều khẳng

Trang 12

định tính chất đặc biệt và vai trò của tiểu thuyết nhằm phản ánh hiện thực rộng lớn trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, số phận con người

Về bản chất, tiểu thuyết mang trong mình những đặc trưng cơ bản, trước hết trong mối quan hệ tương quan với các thể loại khác, “tiểu thuyết nổi bật lên ở những khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống” [8; tr 238] Giá trị hiện thực của tiểu thuyết được phản ánh bởi một thế giới nghệ thuật “siêu hiện thực” mà ở

đó nhà văn không hề chịu một giới hạn nào về số lượng nhân vật, khối lượng các sự kiện, biến cố, về không gian, thời gian, môi trường, hoàn cảnh Bức tranh hiện thực đó phản ánh chính cuộc sống nhiều chiều của con người, tất cả đều hiện lên với dáng vẻ chân thực và sinh động nhất mà các thể loại khác khó có thể phản ánh hết được như tiểu thuyết

Cùng với khả năng tạo dựng một không gian với quy mô rộng lớn và hoành tráng thì khả năng khắc họa chân dung nhân vật thông qua sự khám phá những vấn đề của số phận cá nhân và thân phận con người cũng là đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết Sức hấp dẫn của tác phẩm sẽ được tăng lên đáng

kể khi nhà văn biết xoáy sâu vào những vấn đề cá nhân Ma Văn Kháng, nhà văn nổi tiếng của văn học đương đại cũng khẳng định tiểu thuyết là nghệ thuật khám phá đời sống của con người và với tiểu thuyết “người ta tìm đến để có được bức tranh tổng thể về cuộc sống và khả năng lôi cuốn, dẫn dắt độc giả đi

từ khởi đầu đến kết thúc, chứa đựng sự giải tỏa mọi băn khoăn tò mò” [29; 423] Bởi thông qua nhân vật, người đọc thấy được sự chuyển biến của cả một thời đại mà còn đọc được những vấn đề muôn thuở trong thân phận con người Nhân vật vì thế mà trở thành trung tâm của sự mô tả nghệ thuật Với khuôn khổ không gian, thời gian rộng lớn cho phép người viết tiểu thuyết khai thác nhân vật một cách toàn diện, tỉ mỉ theo từng bước thăng trầm của số phận

để tạo nên được những hình tượng nhân vật xuất sắc

Trang 13

Tiểu thuyết tạo dựng được tính đa dạng và màu sắc thẩm mỹ riêng Nó

có thể dung nạp được mọi vấn đề, tùy thuộc theo khả năng sáng tạo của nhà văn trên khuôn khổ rộng lớn như thế nào Nếu như các thể loại khác chỉ có thể dừng lại ở một khía cạnh đặc trưng thì tiểu thuyết có thể khắc họa một cách toàn diện, đa dạng vấn đề và tái tạo lại một chỉnh thể thống nhất với những màu sắc thẩm mỹ Bằng khả năng ấy, tiểu thuyết có thể đi tận cùng ngõ ngách của mọi vấn đề Bởi tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn biến đổi,

do đó, nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực Theo M Kundera: “Tất cả mọi tiểu thuyết của thời đại đều chăm chú vào bí ẩn của cái tôi Từ lúc anh bắt đầu sáng tạo một con người tưởng tượng, một nhân vật, tức thì anh đối mặt với câu hỏi: Cái tôi là gì? Bằng cách nào nắm bắt được cái tôi? Đây là một trong những câu hỏi cơ bản, trên đó tiểu thuyết được hình thành với tư cách là tiểu thuyết” [35; tr.27]

Cuối cùng khả năng tổng hợp của tiểu thuyết cũng vô cùng to lớn Là thể loại ra đời muộn nhất nên tiểu thuyết có khả năng tổng hợp phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như kí, kịch, thơ, kết hợp những thủ pháp nghệ thuật lân cận như điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… để tạo nên màu sắc riêng biệt Nói về vị trí của thể loại này so với các thể loại văn chương khác, nhà văn Tô Hoài chỉ rõ: “Tiểu thuyết là một thể hỗn hợp thu hút được hết các thể loại khác Không ai trói được nó trong bất cứ một chừng mực nào Chúng ta có thể đem vào tiểu thuyết một hình thức nào đó của văn xuôi cũng được: kịch, bút ký, truyện ngắn, truyện dài và cả thơ nữa, đem từng chương, từng đoạn hoặc từng chữ - dùng thẳng hay dùng tinh thần nó - để miêu tả một ý nghĩ, một hành động nhân vật, hình thức nào tiểu thuyết cũng dung nạp được tất”[25; tr.180] Cùng một lúc tiểu thuyết có thể có được nhiều phong cách sáng tạo khác nhau nên thường hướng tới sự đa dạng, muôn màu

Trang 14

1.2 Sự vận động và phát triền của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tiểu thuyết xuất hiện muộn ở Việt Nam qua những sáng tác văn xuôi

cổ điển xa xưa như Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái Tuy nhiên phải đến những năm ba mươi của thế kỉ XX, văn học Việt Nam mới xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết đúng nghĩa thể loại của nó với những tên tuổi, tác

phẩm tiêu biểu như Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm), Nguyễn Trọng Thuật (Quả

dưa đỏ),…Cùng với phong trào thơ mới, tiểu thuyết 1930-1945 đánh dấu một

thời kỳ rực rỡ huy hoàng trong văn học dân tộc Các nhà tiểu thuyết lãng mạn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và các nhà tiểu thuyết hiện thực với những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng Tất cả đã tạo nên thời kì hoàng kim của tiểu thuyết trước cách mạng Cùng với sự vận động của dòng chảy văn học và phong trào đấu tranh, giải phóng dân tộc, văn học trở thành vũ khí chiến đấu chống kẻ thù ngoại xâm Đội ngũ các nhà tiểu thuyết sinh ra từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vô cùng đông đảo: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Hồ Phương,…Văn học thời kì hậu chiến thì có thể nhắc đến các tên tuổi như Ma Văn Kháng, Chu Lai, Bảo Ninh…

Trải qua hơn một thập kỷ vận động và phát triển, tiểu thuyết vẫn đứng

ở vị trí then chốt trong đời sống văn học toàn nhân loại Đặc biệt sau đổi mới tiểu thuyết với những biến động phức tạp thực sự trở thành vùng đất lý tưởng cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Nói về vị trí của tiểu thuyết trong văn học Nguyễn Minh Châu nhận định “Trong thể loại tiểu thuyết, lòng người và trường đời đã được tổng kết một cách sâu sắc không phải bằng vài ba khái niệm khô gầy mà nó hiện ra với tất cả mọi hình vẽ tươi mát và sống động y như cuộc đời thực, còn thực và hay hơn cuộc đời thực, bởi vì cuộc đời chỉ diễn ra tự nhiên, còn cuộc đời trong tiểu thuyết nó lại vừa tổng kết, vừa diễn biến, phơi bày” [29; tr.356] Nhà văn Tạ Duy Anh khi viết về những đòi hỏi

Trang 15

cần đặt ra trong tiểu thuyết đã khẳng định: “Tôi chủ tâm đòi hỏi tiểu thuyết phải như vậy, bản thân nó phải là một thế giới thay vì chỉ phản ảnh đời sống một cách đơn giản và nó phải tạo ra nhiều cấp đối thoại”[2; tr.155] Chính vì vậy, tiểu thuyết yêu cầu ở người cầm bút sự dũng cảm, tài năng, vốn sống và chiều sâu xúc cảm để khám phá phát hiện những vấn đề của đời sống

Tiểu thuyết Việt Nam gắn liền với sự vận động, phát triển của các chặng đường dân tộc theo khuynh hướng khác nhau Cùng với những cách tân trên nhiều phương diện, tiểu thuyết ngày càng khẳng định vai trò vị thế của mình trong lịch sử văn học hiện đại Những chuyển biến này còn tạo nên nhiều cây bút trẻ với cách viết mới làm cho không khí của văn chương thêm sôi động Hòa cùng với những đổi mới của văn học đương đại, tiểu thuyết có những thay đổi đáng kể về cả nội dung, hình thức và cách thức thể hiện Trước hết, tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới có những thay đổi trong quan

niệm về hiện thực Nhu cầu sáng tạo và tìm kiếm giá trị hiện hữu trở thành

vấn đề đặt ra với các nhà văn Văn học được nhấn mạnh ở sức mạnh khám phá thực tại và ý thức về sự thật Bên cạnh những thay đổi quan niệm về tư duy ý thức của các nhà văn, hiện thực trong văn chương được coi là đối tượng phản ánh của văn học Chính vì lẽ đó văn chương lúc này đã mở rộng, toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn

Văn học đương đại đặc biệt quan tâm đến số phận cá nhân và khám phá chiều sâu thế giới nội tâm phức tạp của con người Nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận: “Văn học chăm chú quan tâm hơn đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tầng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa dạng với toàn xã hội và với chính mình”[23] Nguyễn Minh Châu ủng hộ hướng tìm tòi như thế của tiểu thuyết; ông nói “Chúng ta tiếp thu các hình thức tiểu thuyết chính là để trở về xem xét con người Việt Nam một cách sáng tỏ và để đào xới vào nó sâu hơn”[4; tr.2] Có thể nói, sau công cuộc đổi mới đất nước, các nhà văn Việt Nam có sự

Trang 16

thay đổi trong việc tiếp cận hiện thực về con người để phù hợp với nhu cầu tiếp nhận văn học của thời đại mới Con người trong giai đoạn này không còn đơn giản, xuôi chiều, thay vào đó con người nhìn nhân vật ở nhiều chiều kích,

ở những bậc thang giá trị, ở những tọa độ ứng xử khác nhau, chân thực và toàn diện hơn Nhờ thay đổi quan niệm về con người nhà văn đã cắt nghĩa những vấn đề cuộc sống con người theo hướng đa chiều và phong phú hơn

Những thay đổi quan niệm về con người và hiện thực đã chi phối cách lựa chọn để tài của tiểu thuyết đương đại Tiểu thuyết lịch sử là một trong những đề tài thường xuyên được các nhà văn đề cập và hướng đến Với xu hướng đi dọc chiều dài thời gian, khái quát lại những biến cố đã qua, theo sát từng sự kiện lịch sử, các cuộc cách mạng lớn của dân tộc cùng với đó là những câu chuyện của cuộc sống hiện đại Tất cả được lồng ghép với nhau tạo nên một không gian xưa cũ nhưng cũng mang dáng dấp, suy nghĩ của thời đại mới được các tác giả thể hiện một cách tinh tế Thêm nữa, bối cảnh lịch sử hiện thực rộng lớn trải dài qua nhiều thập niên đã được soi chiếu và thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau tạo nên một cốt truyện đa tầng và một bầu không khí lịch sử cho các tác phẩm Tiêu biểu cho tiểu thuyết lịch sử phải kể đến các tác

phẩm Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Thăng

Long Kí (Nguyễn Khắc Phục)… Các tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này tiến sâu

vào những đặc điểm mang tính chất của tiểu thuyết, người đọc được tiếp xúc với các tiểu thuyết thực sự mà không phải chỉ là các sự kiện lịch sử Khác với trước đây, lịch sử luôn là yếu tố quan trọng để các nhà viết tiểu thuyết lịch sử bám sát thì ngày nay lịch sử chỉ là chất liệu vốn có được các tác giả vay mượn

và từ đó để viết lên câu chuyện của mình Nhân vật lịch sử không còn được thần thánh hóa mà mang dáng dấp của con người đời thường của những điều đơn giản mà gần gũi

Bên cạnh đó, tiểu thuyết viết về về số phận cá nhân, thế sự đời tư cũng

đã trở thành đề tài quan trọng cho những sáng tác của văn học Việt Nam

Trang 17

đương đại Từ sự thay đổi quan niệm trong cách nhìn nhận về con người, các nhà văn xoáy sâu vào nhân vật và những vấn đề xoay quanh đời sống con người Trần Thị Mai Nhân (2012) trong công trình nghiên cứu của mình đã nhận xét “Ngày nay do đổi mới quan niệm nghệ thuật, nhân vật đã bước vào tiểu thuyết với một tư thế mới Nhà tiểu thuyết không khuôn nhân vật vào bất

cứ công thức nào Vì vậy, nhân vật trong giai đoạn tiểu thuyết 1986-2000

đã thực sự thoát ra khỏi hình thức sơ đồ hóa để hiện lên đầy đặn hơn, sống động hơn Nhà tiểu thuyết đã đi sâu vào đời sống tinh thần con người, để qua đó tìm thấy hình bóng cuộc đời”[24; tr.102] Không gian trong tiểu

thuyết được mở rộng với những góc nhìn gần gũi và nhân đạo hơn “Thời

xa vắng” (Lê Lựu), tác phẩm được coi là bước đột phá đại diện cho những

cách tân về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết thời kì đổi mới, được

ví như một giọt nước làm tràn ly nước Tiểu thuyết nhận thức được rõ những hiện thực còn tồn đọng trong xã hội và viết theo tinh thần của cái

bi kịch Giang Minh Sài là một nhân vật bi kịch, bi kịch của sự ngộ nhận,

đánh mất bản ngã Về thi pháp thể loại, có thể nói, “Thời xa vắng” cơ bản

vẫn nằm trong phạm trù truyền thống nhưng đồng thời chứa đựng yếu tố

tự truyện, mở ra một dòng tiểu thuyết tự thuật được các nhà văn ưa chuộng sau này Điều đáng ghi nhận trong tiểu thuyết này đó là cái nhìn nghệ thuật về cuộc sống và con người đã có những biến đổi quan trọng -

đó là cái nhìn về hiện thực và khát khao giải phóng con người ra khỏi những giáo điều hà khắc của cá nhân để giải phóng bản thân

Sau “Thời xa vắng” vào cuối thế kỉ XX tiểu thuyết được ghi nhận ở sự bùng nổ của những tác giả viết tiểu thuyết đỉnh cao, phải kể đến như: “Chim

én bay” (Nguyễn Trí Huân), “Lời nguyền hai trăm năm” (Khôi Vũ), “Bến không chồng” (Dương Hướng), “Mảnh đất lắm người nhiều ma” (Nguyễn

Khắc Trường), “Thân phận tình yêu” (Bảo Ninh), “Đám cưới không có giấy

giá thú” (Ma Văn Kháng), “Góc tăm tối cuối cùng” (Khuất Quang Thụy),

Trang 18

“Tiễn biệt những ngày buồn” (Trung Trung Đỉnh), “Thuỷ hoả đạo tặc” (Hoàng Minh Tường), “Hành lang phía đông” (Bùi Bình Thi), “Nắng quái”

(Trầm Hương)… cũng nghiêng về khai thác những hoàn cảnh số phận của con người trong cái nhìn “nhiều chiều” đầy phức tạp Hình tượng nhân vật trong giai đoạn này được xây dựng có nhưng thay đổi đáng ghi nhận, bên cạnh những con người anh hùng, con người của cộng đồng xã hội đã xuất hiện những con người mang thân phận bi kịch cá nhân

Nhìn chung, trong giai đoạn xã hội có những thay đổi mới, con người

cá nhân được đặt ở vị trí trung tâm trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội càng ngày càng trở nên phức tạp Cảm hứng thế sự đời tư nổi lên như một vấn

đề trọng tâm cho mọi nỗ lực sáng tác của tiểu thuyết đương đại Dù viết về đề tài nào với quy mô rộng hay hẹp, các nhà văn vẫn xoáy sâu vào những vấn đề cốt yếu của đời sống thông qua tâm điểm nhân vật Mọi vui buồn, sướng khổ, được mất của con người đã đi vào văn chương một cách chân thực, nhân bản và giàu tính hướng thiện nhất Số phận của con người cá nhân được tác giả văn học trong giai đoạn này đặt trong những hoàn cảnh đặc biệt, những phân đoạn đối lập: nhân tính và phi nhân tính, đạo lý và thất đức, bản ngã và phi bản ngã…đồng thời cũng không ngại mà né tránh những mặt khuất lấp của cuộc đời này Vì vậy, nhân vật trong giai đoạn này đã không còn mờ nhạt, đơn thuần thay vào đó là những con người được xây dựng từ sự kết hợp giữa hình dạng và nội tâm, ý thức và vô thức, giữa dục vọng bản năng và ý thức thánh thiện Thế giới nhân vật của tiểu thuyết thời kì đổi mới đa phần đều nhuốm màu sắc bi kịch cá nhân Đó là những con người mang trong mình nỗi đau, trăn trở, những mất mát đau thương, những gập ghềnh sóng gió trong cuộc đời Tuy nhiên, đó là những bi kịch mang nghĩa thức tỉnh, luôn hướng đến sự hoàn thiện về mặt nhân cách Thậm chí để tồn tại con người ráo riết đi tìm những điểm tựa trong cuộc sống, đức tin, tin rồi theo hay theo rồi tin đã trở nên không còn quan trọng Con người tự thiết lập cuộc sống cho mình một

Trang 19

chỗ ẩn náu, nhưng điều đó lại càng khiến họ trở nên cô đơn hơn Điều này dẫn tới sự bất tín nhận thức, sự dao động về ý thức cũng như ý nghĩa về sự tồn tại của cuộc sống mà có một thời con người đã đặt niềm tin vào Nhân vật trong

tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh); “Lão Khổ”, “Đi tìm nhân

vật” (Tạ Duy Anh); “Trong sương hồng hiện ra” (Hồ Anh Thái)…luôn trong

trạng thái hụt hẫng về đời sống tinh thần với đời sống nghiệt ngã và những mối quan hệ đầy toan tính trong cuộc đời Viết về những vấn đề nội tại mang yếu tố cá nhân, Sex cũng là một vấn đề được đề cập đến trong văn học đương đại dù trước đó đây được coi là một trong những vấn đề hết sức tế nhị ở giai đoạn trước Bước vào giai đoạn đổi mới, ảnh hưởng của làn sóng văn hóa phương tây, sex được khai thác nhiều hơn với những con thần kinh dưới cơn bạo bệnh, hiện tượng quần hôn, tạp hôn, đồng tính…được phơi bày trên trang giấy, được đẩy lên cao trào và nhận được những đánh giá trái chiều Các tác

phẩm nổi bật như “Mười lẻ một đêm” (Hồ Anh Thái); “Chinatown”, “Pari 11

tháng 8”, “Vân Vy”, “T mất tích” (Thuận), “Kín” (Nguyễn Đình Tú); “Thiên thần sám hối” (Tạ Duy Anh)…đã không ngần ngại miêu tả sắc dục, tình yêu

nhục thể, một lĩnh vực rất riêng tư, thầm kín của đời sống cá nhân qua đó nhà văn thăm dò soi chiếu tinh thần của con người

Bên cạnh tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử, tiểu thuyết mang khuynh hướng thế sự, đời tư thì tiểu thuyết theo dòng chảy tự truyện cũng xuất hiện

nhiều và gây ấn tượng với bạn đọc Các tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng tiểu thuyết tự truyện phải kể đến: “Tấm vé phóng dao” (Mạc Can); “Thượng

đế thì cười” (Nguyễn Khải), “Chuyện của thiên tài” (Nguyễn Thế Hoàng

Linh); “Gia đình bé mọn” (Dạ Ngân), “Một mình một ngựa” (Ma Văn

Kháng) Nói về yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết, nhà văn Mỹ Thomas Wolf cho rằng: “Mọi tác phẩm nghiêm túc suy đến cùng đều là có tính chất tự truyện, một người nếu muốn sáng tạo một cái gì chân thực và có giá trị thì phải sử dụng kinh nghiệm và tài liệu trong cuộc sống của mình”[37] Tìm đến

Trang 20

với tự truyện nhà văn trở về với chính cuộc đời của mình Cốt truyện thường được xây dựng trên chính những sự kiện, biến cố mà tác giả đã từng trải qua hay cuộc đời con người của chính tác giả Mọi sự kiện không được khắc họa một cách chính xác mà có sử dụng yếu tố hư cấu Đây là một dạng truyện được viết theo lối chiêm nghiệm, thấm đẫm cảm quan cá nhân, không có sự

“tự hoàn chỉnh” mà công việc của mỗi người là sự chắp nối các mảnh hồi ức rời rạc trong suy tưởng

Về mặt hình thức nghệ thuật của văn học đương đại cũng có những thay đổi và cách tân so với giai đoạn trước đó Nếu như trước đây các sáng tác trong văn học thời kì kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ số lượng lên đến hàng nghìn trang thì ngày nay tiểu thuyết thường gói gọn trong số lượng vài trăm trang Những thay đổi về độ dài ngắn của sách không hề làm hạn chế những cách tân về mặt thi pháp Do vậy, kết cấu tác phẩm trở nên sáng tạo và linh hoạt hơn Bên cạnh kết cấu truyền thống, tức theo trình tự thời gian song song với đoạn đường đời của nhân vật được sử dụng nhiều trong các tác phẩm

văn học như “Bến không chồng” (Dương Hướng); “Mảnh đất lắm người

nhiều ma” (Nguyễn Khắc Trường); “Thời xa vắng” (Lê Lựu)…thì kết cấu

tâm lý theo dòng hồi tưởng của nhân vật cũng được sử dụng trong các tác

phẩm như: “Thân phận tình yêu” (Bảo Ninh), “Ăn mày dĩ vãng” (Chu Lai),

“Góc tăm tối cuối cùng” (Khuất Quang Thụy)…Với kết cấu không theo quy

luật trật tự thời gian, đời sống nhân vật được quan sát dưới nhiều sắc thái từ suy nghĩ, cảm xúc, tiềm thức, vô thức…Về điểm nhìn trần thuật cũng được xê dịch, thay đổi liên tục nhờ đó mà phá vỡ được lối kể đơn điệu, thiếu khách quan của tiểu thuyết truyền thống, bớt đi giáo huấn một chiều, giúp cho tiểu thuyết đương đại cởi mở, tự do sáng tạo và phóng khoáng và có những góc nhìn đa chiều hơn

Nhìn chung những cách tân về mặt nội dung và hình thức của tác phẩm văn học là một hành trình tất yếu trong sự vận động của văn học Việt Nam Qua

Trang 21

đó chúng ta nhận thấy được sự thay đổi tư duy làm mới mình của các nhà văn viết tiểu thuyết đương đại, họ tiến hành đổi mới trên tinh thần tiếp thu những giá truyền thống mà không lặp lại bản thân trong những lối cũ quen thuộc Ý thức tìm tòi, đổi mới tư duy nghệ thuật đó cùng sự nỗ lực sáng tạo không ngừng nghỉ

đã làm nên diện mạo mới cho bức tranh văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng trong dòng chảy liên tục của văn học Việt Nam

1.3 Sự nghiệp sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Phan Hách

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Phan Hách

Nguyễn Phan Hách sinh ngày 13/1/1944 tại làng Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Vùng đất nằm ở trung tâm đồng bằng châu Thổ sông Hồng, đất đai màu mỡ, cảnh thiên nhiên tươi đẹp, là cái nôi của nền văn minh Đại Việt Bắc Ninh còn có một hệ thống dày đặc các di tích Chùa, Tháp, Đền, Đài, Lăng, Tẩm được xây dựng qua nhiều triều đại phong kiến Kinh Bắc xưa, tỉnh Bắc Ninh ngày nay, không chỉ tự hào về truyền thống anh hùng của miền phía Bắc Thăng Long mà còn tự hào là một vùng quê hương có nền văn hiến lâu đời Đến với Bắc Ninh chúng ta được không chỉ được sống trong một không gian văn hóa làng quê với những câu hát quan họ say đắm lòng người của các liền anh, liền chị mà con được tham gia hòa mình vào các lễ hội phong phú, độc đáo với lễ hội làng Đại Lâm, hội Lim, hội Đền Đô, hội Phù Đổng, hội chùa Dâu…Chính những nét đẹp văn hóa ấy đã thấm đượm trong tâm hồn mỗi con người nơi đây và tạo nên những con người ưu tú

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống, Nguyễn Phan Hách

đã được tiếp cận với những giá trị văn hóa quê hương nên thơ văn của Nguyễn Phan Hách phần nào mang hơi thở của miền quan họ Hình ảnh quê hương, nghi lễ ngày tết truyền thống, cùng những giá trị văn hóa khác đi vào thơ văn Nguyễn Phan Hách tự nhiên, chân thực Gia đình cũng là cầu nối để Nguyễn Phan Hách được tiếp cận với văn chương ngay từ khi còn là một cậu

bé Ông nội Nguyễn Phan Hách là một ông đồ có tiếng trong vùng từng mở

Trang 22

trường “Lạc giáo” Lúc mở trường dạy chữ nho, người dạy người học đều theo lối khoa cử cũ, sau này trong cách dạy có sự thay đổi, trường dạy cả chữ quốc ngữ Tất cả những điều đó đã tạo nên một con người yêu cái đẹp, có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động trước những biến thiên lớn lao của thời cuộc cho đến những chuyển động rất nhỏ của cuộc sống xung quanh Văn chương của Nguyễn Phan Hách vì thế mà lãng mạn, dung dị nhưng cũng không kém phần hài hước, hóm hỉnh

Thuở còn thiếu thời, Nguyễn Phan Hách theo học trường làng, trường Huyện Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm, năm 1962 ông về dạy học ở huyện miền núi Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Năm 1967, ông chuyển về làm việc tại ty văn hóa Hà Bắc với nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Năm 1973, Nguyễn Phan Hách làm biên tập thơ cho tuần báo Văn nghệ Năm 1978, ông làm cán bộ biên tập văn xuôi cho Nhà xuất bản Tác phẩm mới (này là Nhà xuất bản Hội nhà văn) Từ năm 1996-2008, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc rồi Giám đốc Nhà xuất bản Văn học Sau khi về hưu, Nguyễn Phan Hách tiếp tục công tác và giữ chức vụ Tổng Biên tập Nhà xuất bản Dân Trí

Nguyễn Phan Hách bắt đầu sáng tác văn chương từ rất sớm Khi mới chỉ là một cậu học sinh lớp 5 Nguyễn Phan Hách đã có sáng tác đầu tay với

truyện ngắn “Khỏi ốm” đăng trên báo văn nghệ Khi làm cán bộ ở Ty văn hóa

Hà Bắc, tài năng của Nguyễn Phan Hách tiếp tục được bộc lộ với truyện ngắn

“Sân tranh” được đăng trên tuần báo Văn nghệ Đây là truyện ngắn đánh dấu

bước trưởng thành trong văn chương của ông Trong thể loại thơ, tài năng của Nguyễn Phan Hách được công nhận và được công chúng biết đến khi bài thơ

“Làng quan họ” được Nguyễn Trọng Tạo phổ thành bài hát” Làng quan họ

quê tôi” vô cùng nổi tiếng và được yêu thích

Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình Nguyễn Phan Hách đã cống hiến nhiều tác phẩm có giá trị ở nhiều thể loại khác nhau Với thể loại thơ tính

đến nay Nguyễn Phan Hách đã sáng tác được 4 tập thơ; “Người quen của em”

Trang 23

- Ty văn hóa Hà Bắc 1981; “Hoa sữa” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2000; “Vô

tình” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2007; “Những ngôi sao tuổi thơ” - Nhà

xuất bản Dân Trí 2011 Trong đó, bài thơ “Người quen của em” và “Nhìn

sao” đã nhận được giải thưởng của báo Văn nghệ lần lượt trong các năm

1969, 2014

Truyện ngắn và truyện vừa của ông tính đến nay cũng rất đáng kể Tiêu

biểu phải kể đến những sáng tác như; “Vườn hoa cổng ô” - Nhà xuất bản Văn học 1974, “Tổ chim sẻ” - Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1978, “Sau những cách

xa” - Nhà xuất bản Hà Nội 1984, “Cây Vĩ Cầm cảm lạnh” - Nhà xuất bản

Kim Đồng 2000, “Khớp ngựa ô” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1987, “Tình

đùa” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1996, “Phong Thánh” - Nhà xuất bản Hội

Nhà văn 2006, “Đại Bàng Kim Điêu” - Nhà xuất bản Dân Trí 2012, “Thị xã

và anh lính” - Nhà xuất bản Dân Trí 2015

Bên cạnh thơ, truyện vừa và truyện ngắn, Nguyễn Phan Hách còn thử sức mình trên mặt trận tiểu thuyết và kịp ghi dấu ấn với độc giả bằng 4 tác

phẩm, “Mây tan” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1983, “Người đàn bà buồn” -

Nhà xuất bản Hội Nhà văn, “Mê cung tình ái” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn,

“Cuồng phong” - Hội xuất bản Nhà văn 2008

Suốt cuộc đời gắn bó với nghiệp cầm bút, Nguyễn Phan Hách luôn miệt mài sáng tạo nghệ thuật và thử sức ở nhiều thể loại khác nhau cùng những trăn trở về văn chương, nghệ thuật và các vấn đề cuộc sống Suy tư

về đời và người vừa là chất liệu cũng là nguồn cảm hứng cho rất nhiều những sáng tác của ông

1.3.2 Quan niệm về nghệ thuật của Nguyễn Phan Hách

Trong thời đại văn hóa nghe nhìn chiếm thế thượng phong, địa vị văn chương không được như xưa Nói quá đi có khi người ta còn đặt câu hỏi: Rút cục thì giá trị lớn nhất của văn chương nói chung (tiểu thuyết nói riêng) là gì?

Đó là những trăn trở trong sự nghiệp cầm bút của Nguyễn Phan Hách Khao

Trang 24

khát phản ánh hiện thực, những biến thiên của thế kỉ XX đã qua chính là niềm thôi thúc khiến Nguyễn Phan Hách không ngừng tìm tòi, sáng tạo cho đứa con tinh thần của mình dù ông cũng phải thú nhận rằng “Tiểu thuyết chưa bao giờ

là thế mạnh của tôi nhưng tiểu thuyết mới là thứ tôi thích nhất Tôi cũng cay

cú lắm khi "Tan mây", "Mê cung tình ái và “Người đàn bà buồn" không được

mấy ai biết đến trừ mấy người trong nghề dù mấy cuốn đó cũng thú vị

lắm”[17] Nguyễn Phan Hách cũng tâm sự rằng: “Hình như cấu trúc của tiểu thuyết bây giờ đã có thay đổi Phải thú nhận rằng cấu trúc cổ điển như "Chiến

tranh và hòa Bình" của L.Tônxtôi, "Con đường đau khổ" của A Tônxtôi…

hay quá, nhưng bây giờ học theo thầy khó quá, vả lại bây giờ cũng ít ai xây lâu đài như mẫu các cung điện xưa Phải có “mẫu mã” khác Nhưng mẫu gì thì mẫu, lâu đài bên trong phải là những sảnh lớn, phòng rộng, những không gian để con người sử dụng Tiểu thuyết hiện đại cũng vậy Người ta phải dùng lối kết cấu mới, nhưng nội dung vẫn phải phản ánh hiện thực của thời đại

này”[17] Cũng bởi vậy, cả ba tiểu thuyết “Mê cung”, “Cuồng phong”,

“Người đàn bà buồn” đều lấy bối cảnh xã hội thế kỉ XX – giai đoạn gắn liền

với những biến động lớn của dân tộc Nguyễn Phan Hách quan niệm rằng tiểu thuyết dù có thay đổi thế nào đi nữa thì cũng thể tách rời khỏi hiện thực và trách nhiệm đó một phần thuộc về những người cầm bút Khao khát có thể

“ôm trọn” lịch sử, Cuồng phong ra đời là câu trả lời xác đáng cho những điều Nguyễn Phan Hách muốn thể hiện Chia sẻ về cuốn tiểu thuyết “Cuồng

Phong” gây được tiếng vang lớn, ông nói “Tôi cũng không có khả năng làm

những cuốn sách mang tầng tầng lớp lớp những triết lý theo kiểu hậu hiện đại

Tôi chỉ có tư duy truyền thống thôi.“Cuồng phong” của tôi có thể hay, có thể

không Nhưng tôi tin là khi gạt đi những cái dốt của anh viết văn, người đọc vẫn thấy cuốn sách thực sự có ích vì có thể tìm thấy câu chuyện cả một thế kỷ đầy biến động, mà có thể nói dữ dội nhất trong lịch sử Việt Nam - Thế kỉ XX”[17]

Trang 25

Nhận thức được giá trị văn học phải gắn liền với hiện thực đời sống của con người Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách thường tập trung vào các nhân vật mang trong mình vận mệnh lịch sử của dân tộc Sứ mệnh của họ cũng gắn liền với những diễn biến của lịch sử Soi chiếu vào tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách, dòng chảy lịch sử được xuyên suốt trong mọi câu chuyện, lồng ghép vào đó là câu chuyện gia đình trong vòng xoáy tạo nghiệt của số phận, cùng tình yêu giản đơn mà đầy cao thượng Nguyễn Phan Hách thành thực trong việc phản ánh tâm hồn con người Bởi văn chương với ông phải nhằm hướng tới con người cùng giá trị cao đẹp vì vậy văn chương dung dị, đơn giản nhưng thấm đẫm cảm xúc của Nguyễn Phan Hách ngấm dần vào lòng bạn đọc

1.3.3 Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách

Dù nổi lên với vai trò là một nhà thơ, song tiểu thuyết mới là niềm đam

mê bất tận của Nguyễn Phan Hách Bởi với ông tiểu thuyết sẽ lưu giữ lại những giá trị trong quá khứ, là sản phẩm còn mãi với thời gian Chính vì vậy trong những sáng tác của mình Nguyễn Phan Hách lựa chọn những vấn đề lịch sử mang tính thời đại của thế kỉ XX làm chất liệu sáng tác Bởi đó là một giai đoạn hào hùng, đau thương nhưng quá đỗi tự hào của dân tộc Khai thác vấn đề về lịch sử không còn là mới nhưng cái lạ ở đây là Nguyễn Phan Hách

đã lựa chọn cho mình một con đường riêng Đặt lịch sử lớn lao ấy trong vòng xoay của một gia tộc lớn gồm nhiều thế hệ Mâu thuẫn, xung đột, và cách giải quyết vấn đề cũng gói ghém gọn gàng trong gia tộc ấy Điều đó được thể hiện

rất rõ qua 4 cuốn tiểu thuyết của ông: “Tan mây”, “Mê cung”, “Người đàn bà

buồn” và “Cuồng phong”

“Tan mây” là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Phan Hách được

viết vào năm 1986 Cuốn sách đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển con đường văn chương của Nguyễn Phan Hách Bối cảnh cuốn sách được tác giả lấy cảm hứng từ sự kiện nhà nước thực hiện khoán 10, giao khoán ruộng đất cho các hộ nông dân làm cho năng suất lao động lên cao, nông nghiệp

Trang 26

bừng lên sức sống mới Câu chuyện diễn ra ở một vùng quê, một hợp tác xã với nhân tố mới là nhân vật Thụ - người lính trở về đã dũng cảm chỉ ra những bất cập, trì trệ trong phương thức sản xuất cũ Thụ bị lực lượng bảo thủ ngăn cản nhưng cuối cùng nhiệt huyết và sự sáng suốt đã đưa anh vượt qua tất cả Hợp tác của anh đã hòa nhập với đời sống mới, ấm no, khá giả, trở thành điển hình tiên tiến đổi mới từ bao cấp cũ đến khoán 10, giải phóng sức lao động của nông dân

“Người đàn bà buồn”, cuốn tiểu thuyết tiếp theo của Nguyễn Phan

Hách, được ông viết xoay quanh nhân vật Mỹ Dung, tiểu thư cành vàng lá ngọc của ông quan Nghè đã vượt tuyến vào Nam cùng cuộc tình của cô lỡ dở với hai người bạn trai thời thơ ấu về sau trở thành hai kẻ đối đầu ở hai đầu trận tuyến Nam - Bắc Cuộc sống đưa đẩy cô trở thành vợ cố vấn người Mỹ Năm 1975, miền Nam được giải phóng đồng nghĩa với sự thất bại của đế quốc

Mỹ và sụp đổ của chế độ miền nam Cộng hòa Mỹ Dung buộc phải sang Mỹ định cư, suốt những năm tháng đó, chưa bao giờ Mỹ Dung quên đi quê hương, xứ sở của mình Sự xa cách chỉ làm cho cô thêm yêu và khao khát được quay trở lại Khắc họa cuộc đời của một người phụ nữ trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước, Nguyễn Phan Hách không chỉ phá bỏ rào cản nghi lễ, cung cách của một tiểu thư con nhà quý tộc, quan lại mà đặt nhân vật của mình vào bước đường cùng và buộc phải lựa chọn giữa lý trí và tình cảm Phải chăng ở tận cùng những đau khổ và thử thách người ta dám như

Mỹ Dung băng sông, vượt biển để vượt qua cái ràng buộc mong manh của cuộc đời Câu chuyện của Mỹ Dung phản ánh hiện thực của một thời kỷ đầy biến động và số phận của những con người trong vòng xoáy khắc nghiệt ấy

“Mê cung” là tiểu thuyết giàu tính nhân văn được Nguyễn Phan

Hách lấy bối cảnh thế kỉ XX, xoay quanh những biến động của đất nước cùng câu chuyện tình yêu của các nhân vật: Ông Quang Huy, bà Đức Hạnh và Nôen; Dục - Trà Mi; Trinh - Hảo Họ đều là những con người rơi

Trang 27

vào vòng xoáy khắc nghiệt của lịch sử Năm tháng qua đi, chiến tranh kết thúc, thời đại mới lên ngôi cùng những giá trị khác biệt, mong muốn nhìn lại quá khứ, một thời đã qua nhưng luôn lưu giữ trong kí ức của các nhân vật được Nguyễn Phan Hách đặc biệt quan tâm Khắc họa thành công hình ảnh của các tuyến nhân vật, sự mâu thuẫn, bi kịch trong một gia đình cách mạng cùng câu chuyện tình yêu được Nguyễn Phan Hách thể hiện được nét rất riêng trong bút pháp Đồng thời Nguyễn Phan Hách còn bộc lộ những trăn trở của một con người đã kinh qua giai đoạn lịch sử và có những suy ngẫm rất “đời” về tương lai khi những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng mờ nhạt trong thời đại mở cửa hội nhập

“Cuồng phong” được Nguyễn Phan Hách thai nghén trong gần 10 năm

và cho đến khi về hưu ông mới hoàn thành xong cuốn sách Đây cũng được

coi là cuốn tiểu thuyết để đời của ông, “Cuồng phong” là sự cộng hưởng,

mở rộng vấn đề từ những tiểu thuyết trước được ra mắt năm 2008 và ngay lập tức đã gây ra một hiệu ứng không nhỏ với một bộ phận độc giả yêu tiểu thuyết Cảm hứng để viết cuốn tiểu thuyết này bắt nguồn từ chính câu chuyện xảy ra trong dòng tộc của Nguyễn Phan Hách và ngôi làng nơi tác

giả được sinh ra “Cuồng phong” có sự dung hợp giữa thể tài lịch sử (lịch

sử dân tộc) và thể tài tiểu thuyết (thế sự, đời tư), lấy hiện thực xã hội thế kỉ

XX làm chất liệu chính cho toàn bộ sáng tác Qua câu chuyện về gia tộc bốn thế hệ, lịch sử đất nước hiện lên chứa đựng nhiều đau thương mà bi tráng Thế hệ thứ nhất, cụ cả Cồ - người nông dân với lòng yêu nước bản năng, ghét cường quyền bạo lực nên cụ đã khởi dậy chống Pháp Thế hệ thứ hai, ông Nghè Nguyễn Đức Nguyên thoát ly giáo lý Khổng Mạnh ngàn đời, cụ khao khát Duy Tân và góp phần tạo nên diện mạo mới cho dân tộc Thế hệ thứ ba có sự phân chia trận tuyến, đối kháng giai cấp, một bên vẫn bám vào ngoại bang, tiếp tục quyền lợi thống trị của mình (anh cả Nguyễn Đức Vĩnh), và một bên là chiến sĩ tham gia cách mạng, hy sinh thân mình

Trang 28

để giành độc lập tự do cho dân tộc (người em Nguyễn Đức Hàm, con nuôi

Vũ Hùng) Thế hệ thứ tư là Lữ, Viết Thiều, những con người của cuộc sống hiện đại, luôn có khao khát tái hiện lại lịch sử huy hoàng của gia tộc qua những thước phim Tất cả mạch sự kiện, tuyến nhân vật được hòa quyện vào dòng chảy của đại gia đình và lớn hơn là vòng quanh lịch sử, của bánh

xe số phận Có thể nói, tiểu thuyết “Cuồng phong” là minh chứng rõ nhất

cho tham vọng “ôm trọn” lịch sử của Nguyễn Phan Hách, với khối lượng lên đến gần nghìn trang, cuốn sách đã đi qua hết những thăng trầm của lịch

sử và con người trong những biến thiên của thời đại ấy

Tiểu kết chương 1

Trong nội dung của chương 1, chúng tôi tập trung khái quát đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết, những khái niệm cơ bản của thể loại này, cùng quá trình vận động của tiểu thuyết được tiếp nhận tại Việt Nam từ khi manh nha vào khoảng đầu thế kỉ XX cho đến nay, để thấy được tiến trình phát triển của tiểu thuyết và những khuynh hướng sáng tác thể loại này qua từng thời kì lịch sử

Thông qua những nghiên cứu về tác giả, tác phẩm chúng tôi nêu lên những vấn đề cơ bản trong cuộc đời, sự nghiệp sáng tác cùng những quan điểm về văn chương nghệ thuật của Nguyễn Phan Hách Tiểu thuyết và những thành tựu cá nhân đạt được của ông trong suốt quá trình lao động sáng tác để

có một cái nhìn khách quan, chân thực về những đóng góp của Nguyễn Phan Hách trên nhiều thể loại văn học đặc biệt là tiểu thuyết

Trang 29

Chương 2 HIỆN THỰC XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT

NGUYỄN PHAN HÁCH 2.1 Hiện thực trong tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách

2.1.1 Hiện thực lịch sử đau thương

Hiện thực và văn học từ trước tới nay luôn gắn bó mật thiết với nhau Việc phản ánh hiện thực đến đâu luôn là một trong những tiêu chí quan trọng

để đánh giá được sức nặng của một tác phẩm văn học nghệ thuật “Hiện thực

là cái dâng sẵn, chỉ chờ đợi nhà văn phản ánh vào tác phẩm Hiện thực trong tác phẩm và hiện thực ngoài đời sống là một, đó là cái con người phải sờ vào tận tay, nhìn tận mắt Nếu hiện thực trong tác phẩm không giống với hiện thực ngoài cuộc sống thì tác phẩm không được tán dương, không được cộng đồng thừa nhận”[18] Bất kì một hình thức, thể loại văn học nào cũng cần cái gốc là hiện thực Nhà văn tích lũy hiện thực từ vốn tri thức về hiện thực cuộc sống ngay trong quá trình sáng tác hoặc trước đó khi mới hình thành ý tưởng, cảm hứng Sự tích lũy càng phong phú thì trường sáng tạo của nhà văn ngày càng mở rộng Hiện thực cuộc sống cùng những trải nghiệm và quá trình tìm tòi, học hỏi vì vậy trở thành những tiêu chí quan trọng hàng đầu trong quá trình sáng tạo nghệ thuật

Với quan niệm tiểu thuyết phải thực hiện đúng với sứ mệnh của nó Bức tranh tổng thể xã hội Việt Nam được khắc họa đầy đủ trong tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách không màu mè mà trần trụi đôi khi đến phũ phàng: hiện thực tăm tối của hai phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những sai sót trong phong trào cải cách ruộng đất, những bất cập trong hợp tác hóa nông nghiệp, số phận con người trong hiện thực chiến đấu của hai giới tuyến khác biệt, đến những đổi mới mang tính chất “manh nha” của thời kì kinh tế thị trường Tất cả không chỉ thuận chiều, đơn dòng mà chứa đựng đầy bi kịch, bất hạnh Nhưng chính trong hiện thực đau thương,

Trang 30

con người nhận ra được những giá trị đích thực của cuộc sống Nhìn nhận vấn

đề không chỉ từ góc độ đẹp đẽ đơn thuần mà khách quan nhất về một thời đã qua Nguyễn Phan Hách cũng nhạy cảm với từng những vấn đề của đời sống

và trải nghiệm nó trên chính từng trang viết

Bối cảnh rộng lớn của hiện thực lịch sử được tác giả dụng công gây

dựng trong phần lớn các tiểu thuyết Trong đó, “Cuồng phong” miêu tả kĩ

lưỡng nhất những biến cố dân tộc Tất cả đều được nhắc đến với quy mô rộng lớn, hoành tráng, từ đó hiện thực lịch sử của một giai đoạn đau thương nhưng cũng đầy tự hào được bắt đầu Đó là phong trào chiến đấu chống Phú Lang sa

ở cuối thế kỉ XIX của cụ Cả Cồ, phong trào Duy Tân của ông nghè Nguyễn Đức Nguyên, và những sự kiện đầy biến động của thế kỉ XX gắn liền với các tuyến nhân vật Đức Hàm - Đức Vĩnh, Lữ - Trung - Viết Thiều, những con người tham gia vào phong trào đấu tranh ở hai chiến tuyến đối lập Sự kiện

mang dấu ấn bùng nổ trong tiểu thuyết “Cuồng phong” của Nguyễn Phan

Hách bắt đầu khi Cách mạng tháng Tám diễn ra trong không khí sôi động, hồ hởi ở khắp các làng quê Việt Nam, những ngôi làng bao đời nay âm thầm chìm đắm trong nếp sống quen thuộc, sáng sáng ra đồng cày cấy, chiều tối đánh trâu về làng mà những ngày này nổ tung lên tất cả “Cả làng Bút Nam và các làng khác lên cướp Huyện giành chính quyền ngày 19-8…Đêm áp phiên cách mạng, chẳng ai ngủ Gà gáy canh một đã dậy nấu cơm Mỗi người một nắm đem bên hông oai như lựu đạn Giáo mác gậy tày, đòn gánh, rùng rùng ra

đi Trên trời đầy sao Con đường lên huyện mờ trong đêm Từ các ngả, người

đi như nước chẩy Trống đánh âm vang Toàn trống to lấy từ đình làng [9; tr 14] Đi cùng đó là những khẩu hiệu quen thuộc “Cách mạng muôn năm”; “Lật

đổ chế độ thực dân phong kiến”; “Việt Minh muôn năm”; “giành chính quyền

về tay nhân dân” Niềm vui thắng lợi cách mạng thành công không kéo dài được bao lâu, Pháp quay trở lại đánh chiếm miền Bắc Sự kiện này được ngòi bút Nguyễn Phan Hách nhắc đến dưới cái nhìn của Hàm khi Hà Nội chìm

Trang 31

trong 60 ngày đêm năm 1947 cùng với đó là tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân Hà Nội “Hàm thấy ở đây hàng ngàn tự vệ, vốn người dân chưa biết súng đạn là gì, bây giờ tình nguyện chiến đấu trong tình thế hiểm ý, cái chết kề bên Công nhân, dân nghèo, tiểu thương, học sinh, sinh viên, anh bán phở rong, chú bé đánh giày, chị bán hàng hoa…bây giờ tự nhiên sát cánh bên nhau thành hàng ngũ Nòng cốt thực sự ở đây chỉ có một đại đội vệ quốc đoàn

và một số tự vệ đã được huấn luyện Còn lại là “dân tự phát” đã trở thành chiến binh Hàng vạn dân chưa kịp tản cư, cũng biến thành hàng vạn chiến sĩ” [9; tr 96]

Không chỉ trong những năm tháng chiến đấu chống Pháp, cuộc chiến với đế quốc Mỹ được trang bị tối tân hiện đại và chính quyền Ngụy - Sài Gòn

đã gây ra không biết bao nhiêu thảm cảnh đau lòng cũng được khắc họa với những điều chân thực nhất “Tiếng máy bay xé trên đầu, đạn rít chíu chiu”

“Bom rơi lỗ chỗ trên mặt đất Mặt đất biến thành gương mặt bị bệnh đậu mùa, nốt rỗ sâu hoắm Không còn khoảng đất nào trống không có hố bom Máy bay oanh kích 24/24 suốt dải đất miền Trung”[9; tr.249] Chiến trường Phan Rang hiện lên với sự khốc liệt “Tiếng đại bác làm cho đất rơi lả tả trên đầu Tiếng súng của hai bên giao chiến xé rách bầu trời”[9; tr.249] Tiếng đại bác đó làm cho Đức Vĩnh giật thót Bom đạn không có mắt, thân phận con người dần trở nên nhỏ bé trước cơn lốc mang tên lịch sử Cái chết tan xương nát thịt luôn vây quanh, hiện hữu ở khắp mọi nơi Khắp chiến trường đâu đâu cũng nguy hiểm, cái chết rình rập con người bất cứ lúc nào Sự khốc liệt của chiến tranh hiện hữu trên từng ngõ ngách của đời sống, chiến tranh lan rộng ra miền Bắc, những con phố xưa kia yên bình, đẹp đẽ là thế vậy mà trong chiến tranh mọi thứ trở nên hoang tàn đổ nát hết cả “Đường phố Khâm Thiên, xưa giòn vang tiếng cô đầu tom chát, tiếng cười nói lả lơi, tiếng hát đắm đuối của người kĩ nữ…giờ gầm rú những tràng trung liên, lựu đạn, quật vỗ mặt đoàn viễn chinh”[9; tr 94] Thậm chí hơn thế nữa đó là hình ảnh “Tiếng đại bác từng

Trang 32

hồi cấp tập, vò nhàu trời đất, xé rách từng mảng mây, làm rạn nứt từng thớ đất Tiếng gầm của thép làm chủ không gian, thời gian, ngạo nghễ chế nhạo

sự sống của mặt đất Từng chiếc lá, từng viên ngói, mảng tường nứt toác ra, bay biến vào hư vô…” [9; tr 289] Chiến tranh đã đi đến tận cùng của mọi giới hạn, thiên nhiên vạn vật đều chịu nỗi đau do cuộc chiến này mang đến Những khoảnh khắc huy hoàng đắt giá trong ngày giải phóng miền Nam cũng được ghi lại dưới ống kính lịch sử vào ngày thống nhất đất nước xe tăng của

ta tiến vào Dinh Độc lập, hòa bình ngay trước mắt nhưng vẫn còn có những chiến sĩ hy sinh trong giây phút huy hoàng ấy, Đức Trung chứng kiến cảnh tượng đau khổ ấy mặt anh xanh đạm, mắt nhìn bật máu “Sài Gòn trước mắt đây rồi mà sao đồng đội của anh còn phải đổ máu trước vạch ngưỡng của nó” [9; tr 296] Nguyễn Phan Hách nhìn nhận lịch sử khách quan, từ khoảnh khắc

ở ngưỡng cửa mang tính chất quyết định Vòng xoáy của cuộc chiến khép lại bằng hình ảnh vừa tự hào xen lẫn đau đớn Hiện thực trần trụi ấy nhắc nhở về những năm tháng vàng son nhưng cũng đầy đau thương của dân tộc

Đau thương mất mát không chỉ hiện hữu trong không gian của hiện thực chiến trường mà còn chứa đựng cả trong những sai lầm đến từ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc những năm đầu giải phóng Cải cách ruộng đất, những sai lầm của một giai đoạn lịch sử được miêu tả như một chặng đường buồn và nhiều ký ức đối với tác giả Bởi những con người, vẫn mặt mũi chân tay cũ, mà đã hoàn toàn khác về ý nghĩ Mọi sự đảo lộn ngược lại, đầu xuống đất, chân chổng lên trời Cuộc cách mạng này được Nguyễn Phan Hách phản ánh là “ấu trĩ, sai sót” Cùng lý thuyết người nghèo là cốt cán của xã hội Trước kia ăn trộm bắt được thì cắt gân cho không đi được nhưng nay thì truy nguyên tại sao phải đi ăn cặp Vì nghèo Tại sao nghèo? Vì bọn nhà giàu bóc lột Vậy là tội của địa chủ càng nặng hơn, vì có lỗi với giai cấp nông dân Cuộc cải cách ruộng đất được thể hiện rất rõ qua cuộc đấu tố

ở Thạch Gia Trang (Cuồng phong) Gia đình bà Nghè bị quy vào giai cấp

Trang 33

địa chủ bóc lột, bị đem ra đấu tố đầu tiên bởi bà giàu, có của cải Của cải giờ phải là của chung, chứ không còn của riêng bất cứ ai nữa Dù chỉ thị ở trên có phân biệt giữa địa chủ cách mạng và địa chủ bóc lột Chỉ thị là như thế nhưng cấp dưới đã làm sai đường lối của trên, không phân biệt ai là ta,

ai là địch, cứ nhà giàu là tiêu diệt Đứng trước hoàn cảnh đó Vũ Hùng và Hàm là những người con tiêu biểu của cách mạng đều ôm bà Nghè mà khóc Đó chính là giọt nước mắt của sự bất lực, đau thương không dễ giải tỏa, vì chính cả hai cũng phải đứng ngoài cuộc này nếu không muốn bị coi

là kẻ thù của cách mạng

Cảnh chia tài sản Thạch Gia Trang là một phân đoạn đáng nhớ, đắt giá Ngòi bút Nguyễn Phan Hách tỏ ra khá sắc sảo khi dựng lên khung cảnh ở Bút Nam trong những ngày đấu tố “Sau khi lên xong kế hoạch, một ngày tháng chạp đoàn bần cố Bút Nam cả trăm người, xếp hàng vào đội, vào Thạch Gia Trang thực hiện chia quả thực Thóc lúa được hành gia kìn kìn Đang năm đói, bần cố mấy ngày mới được một bát cơm, giờ trông thấy thóc mắt sáng rực lên, lòng “căm thù giai cấp bóc lột bừng dậy sôi sục” [9; tr 144] Trước hoàn cảnh đó, bà Nghè thậm chí còn không hiểu lý do mình bị đấu tố, người

ta hỏi bà sao giầu, bà không hiểu lý do, bà không bóc lột ai, làm khó ai, phải chăng vì người ta ghen bà giàu có nên mới đấu tố, ra làm nhân chứng để tố cáo tội của bà Và tội ấy là gì, là đẩy một thằng người làm trộm cắp ra khỏi nhà, là vì bà sinh ra đã đẹp, con nhà danh giá, ăn trắng mặc trơn, các con thì đều người tài giỏi Chỉ với lý lẽ đó bà bị phải tội Đến cuối cùng bà Nghè chỉ còn một đấu gạo, một cái nồi, hai chiếc bát, hai đôi đũa và bị đẩy ra góc vườn, nơi có cái chuồng bò bỏ hoang Tuy nhiên, qua cơn bão táp lịch sử Bà Nghè được trao trả lại công bằng Trước phải sống trong cảnh bị dè bỉu, coi thường,

ra đường không dám ngẩng mặt nay người ta trao trả cho bà được sống như một con người đàng hoàng Cùng hoàn cảnh với bà Nghè Vũ Thị Ngần

(Cuồng phong), ông cụ Nghè Trại Sơn (Người đàn bà buồn) cũng là địa chủ

Trang 34

theo cách mạng nhưng không may mắn, sau khi bị đem ra đấu tố, ông uất ức đến độ treo cổ tự vẫn, đến cuối đời Quan Nghè nằm trong chuồng bò và chết chỉ có manh chiếu rách quấn thân mà vẫn bị bật nắp quan tài kiểm thảo xem khi chết ông có giấu vàng mang theo hay không Người thi hành cũng mong manh nhận ra rằng “Những người thực hiện đã vận dụng sai cương lĩnh mất rồi” bởi “Cải cách diễn ra đáng lẽ phải là: địa chủ tự nguyện bỏ ruộng ra Hoặc không tự nguyện thì bắt buộc Sau đó chia đều ruộng đất cho nông dân Tất cả từ nay cùng có “tư liệu sản xuất” cùng làm ăn, cùng xây dựng xã hội mới Sao “cải cách” lại đưa bọn khố rách áo ôm lưu manh lên ngôi, để làm đảo lộn tùng phèo tất cả” [11; tr 160] Cùng đó là sự bất mãn, tiếng than như

ai oán với sai lầm của cải cách “Nhân nghĩa cuộc đời ở đâu Lẽ phải ở đâu

Mù quáng hết rồi” Sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất vốn là vấn đề nhạy cảm của hiện thực xã hội Việt Nam thế kỉ XX, ít được tiểu thuyết giai đoạn cùng thời điểm phản ánh song Nguyễn Phan Hách thể hiện sự “nặng lòng” với một trong những biến cố to lớn của một giai đoạn đã qua

Đề cập đến vấn đề hiện thực khi nông dân vươn lên làm chủ cách mạng, Nguyễn Phan Hách nhắc lại đến một bộ phận quần chúng nhân dân ngỡ ngàng khi chính quyền về tay, người yếu thế vươn lên làm chủ nhưng thiếu trình độ, chỉ chạy theo phong trào chứ không biết thực hư, cốt lõi của vấn đề Đáng buồn hơn là trên giao cho dưới phải tố cáo để đủ số lượng Tài sản tịch thu được chia đều cho người nghèo để họ tích cực đi phát hiện, tìm kiếm “địa chủ”, bởi cuộc cách mạng này phải làm cho “triệt để” nên gây ra tình trạng phải ghép tội, bịa ra tội cho người khác để đủ chỉ tiêu Cán bộ thì phải “cùng

ăn, cùng ở, cùng làm việc với bần cố, hàng ngày đi “bắt rễ sâu chuỗi”, phát

động “ai có khổ tố khổ” tiếp tục phát hiện bọn địa chủ”, chỉ tiêu không hoàn

thành thì đội cải cách phải chịu trách nhiệm Vì thế mà ai giàu hơn nông dân đều lơm lớp lo sợ Những thằng Mõ, Chuột nghèo nhất giờ vươn lên trở thành lực lượng lòng cốt của cách mạng, cốt cán của phong trào đấu tố Ngày xưa

Trang 35

chuyên đi làm thuê, giờ bầu ai thành địa chủ ngay nên “Đứa nào có bát ăn bát

để ở Bút Nam lơ mơ láo với Chuột, Chuột tố điêu cho một câu: „Nó xưa bóc lột tôi, thuê tôi đi cày, cho ăn đói‟, thế là thành địa chủ như chơi” [9; tr 145]

Cuộc cải cách vùng trại sơn trong tiểu thuyết “Người đàn bà buồn” cũng

miêu tả kĩ, phong trào đấu tố địa chủ không tha cho bất kì một ai kể cả những con người trước đó đã từng làm cách mạng, có công với cách mạng, vừa là đồng chí hôm trước thì nay “Ai đồng chí với chúng mày Chúng mày là giai cấp bóc lột chui vào hàng ngũ kháng chiến Nhà chúng mày có ruộng, có trâu, cơm tẻ ngày hai bữa…Rồi là vờ vịt đi kháng chiến” [11; tr 97], đến

Bí thư tỉnh ủy giờ quay sang phải sợ bà cấp dưỡng bếp ăn giờ “vì trước đây

có lần trót quát mắng bà vì tội cơm khê, cơm sống” giờ thành người nắm quyền sinh quyền sát trong tay Bần cố được tập hợp về để tố giác, hồ sơ đấu tố dày đến cả trăm trang Những “Mõ và Quét chợ là thành phần lưu manh, lười lao động, chứ chẳng ai bóc lột gì nhưng thành phát hiện địa chủ

nhưng toàn tố điêu, tố gian” (Người đàn bà buồn) đã vạch trần bản chất của

người “chuyên đi tố giác địa chủ”

Hiện thực xã hội trong giai đoạn Hợp tác xã nông nghiệp cũng được Nguyễn Phan Hách đề cập đến như một dấu mốc quan trọng của lịch sử cần được phản ánh một cách chân thực nhất Trong giai đoạn này phương thức sản xuất tư hữu được coi là bóc lột Tất cả đều thuộc quyền quản lý của nhà nước Tuy nhiên cũng chính mô hình đó dẫn đến một vấn đề khác, có những người lợi dụng sự “chung” để ăn bơ làm biếng mà vẫn được hưởng thành quả Sức lao động, tinh thần phấn đấu không tồn tại bởi ai cũng như ai Năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân ngày một khó khăn, bề ngoài thì vẫn thực hiện đúng với chức năng nhiệm vụ đề ra, bên trong thì dần trở nên thoái hóa

“Đề cao làm phục vụ mọi người, chứ không phải làm cho mình, vì mọi người chứ không vì mình, quên đi các quyền lợi cá nhân, nên các cá nhân xã viên mồm thì nói rất hay theo chính sách, trào lưu, nhưng thực tế thì làm giả dối,

Trang 36

chây lười” (Cuồng phong) Hàm, bí thư tỉnh ủy xã Đông Phong là người được

“điểm mặt” để chứng kiến cơn lốc mang tên đổi mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Anh chính là người mở đầu trong phong trào hợp tác xã nông nghiệp, cũng là người nhận ra những hạn chế của phong trào đó để mà sửa sai, nhưng cơn cuồng phong của lịch sử nào có thay đổi nhanh như thế, Hàm bị cách chức Bí thư chỉ vì giao khoán ruộng riêng cho từng nhà làm để tăng năng suất, thay đổi bộ mặt nông thôn nhưng lại nhận kết cuộc xấu Suy cho cùng cơn cuồng phong duy ý chí chưa tiêu tan, sự đổi mới chưa đến nơi đã làm cho phong trào đổi mới ở Đông Phong nói riêng mà toàn miền Bắc nói chung hàm chứa những sai sót mang tính chất lịch sử

Nhìn về quá khứ vàng son của một thời kì đã qua, hiện thực cuộc sống thời đại mới sau khi chiến tranh kết thúc với nhiều biến đổi luôn trăn trở trong suy nghĩ của Nguyễn Phan Hách Khung cảnh đời sống hiện đại luôn hiện lên với đầy rẫy những cám dỗ con người, là những thách thức đặt ra và cần có những hướng đi hiệu quả để giải quyết Hiện thực đó được Nguyễn Phan Hách phơi bày trong phần lớn những sáng tác thể hiện trên khía cạnh cá nhân, bản thể, con người dần bị chi phối bởi đồng tiền, đặt những giá trị vật chất lên trên tình cảm giữa người với người, chạy theo lối sống phương Tây mà quên

đi những giá trị cốt lõi truyền thống Từ điểm nhìn khách quan, Nguyễn Phan Hách phê phán thực tại, khơi gợi những giá trị tốt đẹp để hướng đến tương lai đầy hy vọng

Hiện thực lịch sử hiện lên với cả những đau thương, bất hạnh mà cũng những chiến tích hào hùng vang dội Các chặng đường biến đổi của dân tộc được khai thác trên nhiều phương diện Là một con người đã từng kinh qua các giai đoạn lớn của lịch sử dân tộc, Nguyễn Phan Hách thể hiện cái nhìn khách quan, nhiều chiều và thậm chí ông đã thẳng thắn nhìn vào những sai lầm nhiều hơn bởi ông tôn trọng lịch sử và muốn phản ánh đúng với sự thật

Trang 37

những gì đã diễn ra Dù đó là những vấn đề đáng ca ngợi tự hào hay những sai lầm muốn quên đi đều được tác giả khắc họa rõ nét

2.1.2 Hiện thực sinh hoạt đời thường

Hiện thực cuộc sống đa dạng, phức tạp sinh động luôn là đối tượng phản ánh của văn học đặc biệt là tiểu thuyết Nếu như tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1975 đòi hỏi một quan niệm lạc quan về hiện thực, cái nhìn lý tưởng hóa về sự vật, hiện tượng, tính minh họa nổi trội thì sau năm 1975 tiểu thuyết có những biên độ được mở rộng hơn rất nhiều Hiện thực với bức tranh muôn màu được các nhà văn sáng tạo, khai thác một cách triệt để trên nhiều phương diện

Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách nắm bắt được tinh thần của thời đại mới xây dựng nên một không gian hiện thực với nhiều mảng màu khác biệt Đó là việc lồng ghép giá trị truyền thống dân tộc với hình ảnh làng quê giếng nước, gốc đa, hình ảnh lễ hội văn hóa, đám đông, cùng với đó

là những cuộc vận động, biểu tình chính trị nhưng được viết rất tự nhiên Các giá trị hiện thực của đời sống vận động theo dòng chảy của lịch sử dân tộc được đưa vào tác phẩm như vốn dĩ phải tồn tại trong hầu hết các sáng tác của Nguyễn Phan Hách Trước tiên không gian sinh hoạt gắn liền với hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, với khung cảnh của một nếp sống nho gia đã qua Đó là giấc mơ ban đầu thủa còn thơ bé của nhân vật

“Tôi” trong tiểu thuyết “Cuồng phong”: “Đây rồi, cây đa đầu làng, giếng

nước, trăng vàng, ngõ trúc ao thu có Tam Nguyên Yên Đổ chẳng thiết làm quan đại thần về quê câu cá làm thơ Tôi mở cổng tre Mẹ tôi làm khăn mỏ quạ trong ngôi nhà rơm vàng óng bước ra Tôi ăn cơm cà pháo với canh cua, chơi đánh đáo, thả diều xem chị Mõ trêu các vị kì mục trong làng ăn khoán cô

màu chửa hoang” (Cuồng phong) Hay hình ảnh “Cảnh cầu ao tre có cô gái

vén quần khỏa chân Cảnh mái đình cong vút Ngõ trúc quanh co, bóng người đàn bà nón thúng quai thao Cây đa giếng nước đầu làng”[10] Không chỉ

Trang 38

ngẫu nhiên mà trong phần lớn các tiểu thuyết của mình, Nguyễn Phan Hách

đều xây dựng nên một không gian cổ kính như Thạch Gia Trang (Cuồng

Phong), Trại Sơn (Người đàn bà buồn), đồn điền Trại Dẻ (Mê Cung) Nơi đây

chính là khoảng không gian lưu giữ những giá trị sinh hoạt truyền thống, vẻ đẹp của thời kì nhà nho; “Gia trang xưa mênh mông, có ngòi tiểu khê, có hồ Thanh Trì, có lầu Nghênh Phong, có vườn cổ thụ, có cầu Thệ Thủy Nhà cổ đại khoa dài bát ngát cả chục gian Sân, hè, bậc thềm, đường đi toàn lát đá xanh lấy trên núi gần nhà”[9, tr 9] Hay vẻ đẹp nên thơ, trữ tình, mang đậm màu sắc của lưu luyến những ngày tháng đã qua đồng thời cũng gần gũi, dung

dị với những hồn người thổn thức “Chiếc cổng rào tre được chống lên, trước mắt cậu Cử là khuôn hình phong cảnh nếp nhà tranh, sân đất rêu, con cún vàng đang nằm ngủ, chum hứng nước mưa dưới gốc cau xanh”[10] Đó còn là

“Cả một vùng đồi thấp được trồng dã hương thành hoa viên Có suối chảy bên

bờ đá cuội, có hồ thả sen mênh mông, giữa có lầu mái đá để thưởng trà, ngắm

trăng hóng gió…”(Người đàn bà buồn) Một khung cảnh đẹp, buồn đến não

lòng mà cũng đầy chất thơ được gắn mác trong hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Phan Hách Phong cách sinh hoạt nhàn nhã, hưởng thụ của một bộ phận quan lại nhà nho xưa thích “thưởng họa ngắm trăng” với các nàng hầu xinh đẹp biết đàn ca, hát ngọt cũng được tác giả thường xuyên đề cập đến, nét văn hóa nho nhã của một thời nay chỉ còn trong dĩ vãng “Ông Nghè cấm cung trong dinh Trại Sơn…Bốn mùa ánh nắng lọc qua tàng đại thụ Dã Hương mới rọi được xuống mái hiên Sáng uống trà Tàu, trưa nhấp rượu Cúc, chiều dạo bước Lan Viên, tối có nàng hầu trẻ đẹp nâng giấc”[11; tr 44] Chính trong không gian sinh hoạt ấy đã khơi ngợi nguồn cảm hứng và góp phần hình thành lên tính cách của các nhân vật và cũng là nơi chứng kiến những thay đổi, biến động của cả một giai đoạn lịch sử

Hiện thực sinh hoạt còn gắn liền với không gian của một vùng văn hóa được liên tục nhắc lại thông qua các lễ hội truyền thống Không gian sinh hoạt

Trang 39

trong những ngày lễ hội ở làng quê được miêu tả như một bức tranh dân dã thân thuộc gắn với những phong tục tập quán của người dân xứ Bắc Đây cũng được coi là một khoảng không gian trai gái làng xưa có dịp gặp gỡ nhau

để thỏa ước nguyện lứa đôi Trong tiểu thuyết “Mê Cung”, Nguyễn Phan

Hách miêu tả khung cảnh hội hè: “Tháng Giêng làng nào chẳng có hội Làng Trúc bên kia có hội chen đêm Nắng tháng riêng reo như bọt nước tan Suốt

cả đêm gái trai làng Trúc mong đợi hội này Suốt chiều người ta rập rình ở các ngõ, để chờ tắt nắng một cái là lao ra đường”[10; tr 23] Vậy là trong những lễ hội Chen trôi qua trên đường như những đợt sóng Trái ngược trong đình làng đang có cuộc tế thần, hết canh ba mới lễ tất thì ngoài đình “Con trai con gái tha hồ chen nhau, sờ soạng nhau Có thế mới mưa thuận gió hòa, lúa

má chẳng sâu xia, người không có dịch bệnh, quan ôn chẳng đến làng…”[10;

tr 24] Nét phong tục xưa của con người Kinh Bắc cứ vậy được khắc họa rõ nét thông qua những hoạt động văn hóa chung Cảnh tượng quen thuộc ấy thậm chí còn in đậm trong mỗi tâm hồn của con người Việt Nam Lễ hội Chen kết thúc bằng những hình ảnh đặc biệt “Ngoài nhà giải vũ bọn trương tuần quản xã đã dốc ngược các chai rượu tu giọt cuối cùng, xé lá chuối gói lấy phần thịt mỡ xương xẩu ăn thừa Mỗi đứa một chiếc roi song lăm lăm Chúng

có nhiệm vụ khi tiếng trống thu không vừa dứt, là xông ra đường Thời hạn cho trai gái nô đùa nhau đã hết” [10; tr 24] Khung cảnh của những lễ hội khác cũng được nhắc đến như lễ hội Vật trâu, thậm chí là những nét sinh hoạt thường thấy ở làng quê như trai làng đánh nhau với đám con trai phố Phủ hay

xuống ghẹo gái làng (Cuồng phong); cảnh lao động tập thể được nhìn dưới

góc độ vui vẻ, gần gũi của thanh niên nam nữ giống như lễ hội ngày mùa

được khắc họa trong tiểu thuyết “Cuồng phong” “Hùng khỏe quá, đập lúa mà

cứ như trò chơi Chỉ quật vài ba cái xuống cối đá, lúa đã rụng hết Khi néo lúa Hùng quật xuống, cứ như thế nhịp nhàng trong ánh trăng như múa…cả đoàn thợ gặt, cô nào cũng đòi đu tay Được quay mấy vòng mới đi đập lúa tiếp”[9]

Trang 40

Không gian hiện thực sinh hoạt còn là khúc hát hào hùng về cuộc sống văn hóa lao động trong những năm tháng chiến đấu chống giặc ngoại xâm Đó

là cuộc sống đổi mới của con người ở khắp các làng quê Bút Nam trong tiểu

thuyết “Cuồng phong” khi có luồng gió mới của cách mạng xuất hiện Khung

cảnh sinh hoạt được thể hiện rõ với những nét biểu hiện trong không khí hồ hởi, vui tươi của cách mạng Làng quê không còn thân thuộc như bao năm tháng trước mà dân làng hào hứng với những nhịp bước của cuộc chiến đấu

Gà gáy trưa phụ nữ ra đình tập một hai mốt cùng hô to khẩu hiệu “Cùng nhau

đi hùng binh Đều chân ta cùng bước…Tiến tới hy sinh Tiến lên quân hồng”[9; tr 69] Con trai con gái xưa chỉ biết quanh quẩn với con trâu, đám

mạ thì nay đều ra đình tập trận còn trêu ghẹo nhau nữa Những ngày này còn được tác giả miêu tả rằng “Chẳng ai thiết ra đồng cày cấy gì nữa Chỉ suốt ngày ngồi bàn chuyện, cách mạng Làm cách mạng, sao còn phải đi cấy cày”[9; tr 70] Không gian làng quê vì vậy không chỉ khắc họa những bức tranh đơn sơ, giản dị mà còn chứa đựng những biến động theo từng quá trình vận động của lịch sử dân tộc và nhân loại Cách mạng còn mang đến sự bình đẳng trong đời sống, có cách mạng, con trai con gái ngang hàng nhau, cách mạng cho đàn bà được tham gia tất cả các công việc xã hội, đàn bà làm chiến

sĩ tự vệ, tập mốt hai mốt cùng đàn ông

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, gặp phải nhiều những khó khăn, thách thức khi bị giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng bao vây chống phá Nhưng cũng từ đây những phong trào lao động, học tập diễn ra sôi nổi trên khắp các làng quê Không khí vừa sản xuất, vừa chiến đấu diễn ra nhộn nhịp cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Để giải quyết được nạn đói, chương trình “Hũ gạo cứu

đói” được thực hiện tích cực “Trong mỗi lần vo gạo thổi cơm, bốc ra một

nắm cho vào cái hũ riêng, để ủng hộ người đói Tức là nhà mình bớt đi một hai bát cơm, góp lại cho người thiếu ăn” [9; tr 89], phong trào thể hiện tinh

Ngày đăng: 12/07/2021, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn Anh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm, biên soạn 2003), Chủ nghĩa hậu hiện đại - Những vấn đề lý thuyết, NXB Hội Nhà văn, VHNN Đông Tây - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hậu hiện đại - Những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Anh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2003
2. Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, NXB. Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên thần sám hối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: NXB. Hội Nhà văn
Năm: 2004
4. Nguyễn Minh Châu, Vài suy nghĩ về tiểu thuyết, Báo Văn nghệ, số 39-1983, tr.2 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1983
5. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
6. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1974
7. Nguyễn Đăng Điệp (2016), Một số vấn đề văn học Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2016
8. Hà Minh Đức (chủ biên 2012), Lý luận văn học, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
9. Nguyễn Phan Hách (2015), Cuồng phong, NXB Dân Trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuồng phong
Tác giả: Nguyễn Phan Hách
Nhà XB: NXB Dân Trí
Năm: 2015
10. Nguyễn Phan Hách (2013), Mê Cung, NXB Dân Trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mê Cung
Tác giả: Nguyễn Phan Hách
Nhà XB: NXB Dân Trí
Năm: 2013
11. Nguyễn Phan Hách (2012) Người đàn bà buồn, NXB Dân Trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà buồn
Tác giả: Nguyễn Phan Hách
Nhà XB: NXB Dân Trí
Năm: 2012
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
13. Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giàn thiêu
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2005
14. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình Văn học từ lý thuyết đến hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình Văn học từ lý thuyết đến hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
15. Đỗ Đức Hiếu (2000), Thi pháp học hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiếu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
16. Nguyễn Thị Năm Hoàng, Vài nét về kết cấu trong truyện ngắn, Báo Văn nghệ Quân đội, số ra ngày 20/1/2017.Link: http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/vai-net-ve-ket-cau-trong-truyen-ngan-9966.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về kết cấu trong truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Thị Năm Hoàng
Nhà XB: Báo Văn nghệ Quân đội
Năm: 2017
17. Hoàng Hồng, Nhà văn Nguyễn Phan Hách: Tôi nhát gan lắm, Báo An Ninh Thủ đô số ra ngày 15/12/2008.Link: https://anninhthudo.vn/giai-tri/nha-van-nguyen-phan-hach-toi-nhat-gan-lam/338801.antd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Phan Hách: Tôi nhát gan lắm
Tác giả: Hoàng Hồng
Nhà XB: Báo An Ninh Thủ đô
Năm: 2008
19. Dương Hướng (2007), Bến không chồng, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến không chồng
Tác giả: Dương Hướng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
Năm: 2007
20. Tôn Phương Lan (2004), Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 11, tr.23 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu văn học
Năm: 2004
21. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên 1985), Các nhà văn nói về văn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn nói về văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1985
22. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2009), Khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4, tr. 56-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh
Năm: 2009

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w