Diện tích và sản lượng tôm nuôi tại Việt Nam Bảng 1.3 Một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường Bảng 3.1 Theo dõi nhiệt độ, độ kiề
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
========
đánh giá hiệu quả sửdụng chế phẩm sinh học em trong
mô hình nuôi tôm sú (penaeus monodon fabricius, 1798)
thâm canh theo hệ ít thay nớc tại công ty tnhh minh
phú, xã hòa điền kiên l – kiên l ơng kiên giang – kiên l
KHoá luận tốt nghiệp
Kỹ s Nuôi trồng thuỷ sản
Ngời thực hiện : Trơng Văn Sử Ngời hớng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Thanh
Vinh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Trong quá trình thực hiện đề tài khoá luận này ngoài sự nỗ lực của bảnthân, tôi còn nhận được sư giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, đoàn thể, cánhân.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô Nguyễn Thị Thanh cùng cácquý thầy cô trong khoa Nông Lâm Ngư đã tận tình hướng dẫn tôi trong quátrình thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng các anh em công nhâncủa công ty TNHH Minh Phú Kiên giang, cùng các bạn trong lớp đã giúp tôihoàn thành tốt đợt thực tập này
Do điều kiện thực tập còn thiếu thốn và trình độ còn hạn chế nên khôngtránh khỏi thiếu sót Rất mong quý thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệpđóng góp ý kiến để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Danh mục các bảng viết tắt
Trang 3TT Từ viếttắt Ý nghĩa TT Từ viếttắt Ý nghĩa
1 EM Effective Microorganism 11 Ha Hecta
Bảng 1.1 Sản lượng tôm nuôi trên thế giới
Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng tôm nuôi tại Việt Nam
Bảng 1.3 Một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 3.1 Theo dõi nhiệt độ, độ kiền, độ mặn
Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng tôm (g)
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài toàn thân của tôm Bảng 3.4 Tỷ lệ sống của tôm trong các công thức thí nghiệm (%)
Bảng 3.5 Kết quả thu hoạch tôm thực tế
Bảng 3.6 Hạch toán kinh tế
Trang 4Danh m c các hìnhục các bảng
Hình 3.1 Biến động độ trong ở các công thức thí nghiệm
Hình 3.2 Màu nước trong ao nuôi ở CT1
Hình 3.3 Biến động độ kiềm trong suốt vụ nuôi ở 2 công thức
Hình 3.4 Biễu diễn pH trong quá trìnhtheo dõi ở hai công thức thí nghiệm.
Hình 3.5 Biễu diễn pH trong quá trìnhtheo dõi ở hai công thức thí nghiệm.
Hình 3.6 Biến động hàm lượng NH3trong hai công thức thí nghiệm
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng trungbình khối lượng tôm trong 2 công
Hình 3.8 Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung bình tôm
Hình 3.9 Tỷ lệ sống của tôm nuôi ở 2 công thức thí nghiệm
Hình 3.10 Năng suất tôm trong 2 Công thức thí nghiệm
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã và đang trên
đà phát triển mạnh mẽ, sản phẩm tạo ra trở thành hàng hoá có giá trị trên thịtrường thế giới
Việt Nam, Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với hơn 3260 kmđường bờ biển, khoảng 2500 ha rừng ngập mặn, nhiều đầm phá, eo vịnh, bãitriều Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển NTTS trong đó có nghề nuôitôm
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sự phát triển quá nhanh về diệntích nuôi nhưng lại không bắt kịp với kỹ thuật nuôi mới nên nghề nuôi tôm ởnước ta đã gặp nhiều rủi ro: Ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, chất lượng vàsản lượng tôm nuôi giảm sút Đây không chỉ là vấn đề của ngành thuỷ sảnViệt Nam mà là vấn đề chung của nghành thuỷ sản thế giới
Giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong aonuôi tôm và nâng cao chất lượng tôm nuôi chính là việc dùng chế phẩm sinhhọc kết hợp với phương pháp nuôi tôm ít thay nước Đây là một giải pháp đã
và đang được các nước có nghề nuôi tôm công nghiệp phát triển như: Mỹ, Úc,Nhật, Thái lan sử dụng và đem lại kết quả cao trong nhiều năm CPSH đượccoi như là một trong những thành phần có thể thay thế cho các loại thuốckháng sinh, hoá chất để nâng cao sức đề kháng, ngăn ngừa dịch bệnh, tránhtồn dư kháng sinh, hạn chế ôi nhiễm môi trường, góp phần nâng cao năng suất
và giá trị kinh tế của tôm nuôi
Trang 6Chế phẩm sinh học EM (Effective Microorganism) là tập hợp các visinh vật (VSV) hữu hiệu do giáo sư tiến sĩ Teruo Higa, sáng tạo và áp dụngthực tiễn vào đầu năm 1980 [18]
EM có khoảng 80 loài vi sinh vật thuộc các nhóm: Vi khuẩn quang hợp,
vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn Hiện nay, EM đuợc sử dụnghiệu quả trong NTTS ở nhiều nước trên thế giới
Tại Việt Nam việc sử dụng CPSH nói chung và EM trong nuôi tômthương phẩm đã được áp dụng từ cuối những năm 1990 Tuy nhiên hiện naytrong xu thế thương mạI của nghề NTTS hàng loạt các CPSH đã được nhậpkhẩu và sản xuất Trong đó nhiều loại chế phẩm giá thành rất cao mà hiệu quảđem lại chưa rõ rệt Do đó việc lựa chọn CPSH giá thành hợp lý, dễ bảo quản,
dễ sử dụng đem lạI hiệu quả kinh tế trong các ao nuôi tôm thâm canh là điềucần thiết
Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, ban giám đốc
công ty TNHH Minh Phú chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học EM trong mô hình nuôi tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) thâm canh theo hệ ít thay nước tại công ty TNHH Minh Phú, Xã Hoà Điền - Kiên Lương - Kiên Giang”
Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá hiệu quả sử dụng của chế phẩm EM trong nuôi tôm sú thâmcanh nhằm hạn chế và thay thế dần việc sử dụng các loại hoá chất, kháng sinhtiến tới NTTS bền vững
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới.
Nghề nuôi tôm trên thế giới xuất hiện từ lâu đời nay với những hình thứcnuôi lạc hậu mà chủ yếu là quảng canh năng suất thấp Để theo kịp với sựphát triển của đời sống xã hội và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của conngười, nghề nuôi tôm thực sự bắt đầu phát triển từ năm 1933 khi tiến sĩ ngưòinhật Motasaki Fujinaga cho sinh sản nhân tạo thành công loài tôm He Nhật
Bản (Penaeus Japonicus) Tuy nhiên mãi đến năm 1964, quy trình sản xuất
giống nhân tạo tôm He Nhật Bản mới được hoàn chỉnh Trên cơ sở này cácnhà khoa học của nhiều quốc gia đã nghiên cứu và cho đẻ thành công nhiềuloài tôm, từ nguồn giống nhân tạo này đã tạo tiền đề cho nghề nuôi tômthương phẩm ra đời và phát triển một cách nhanh chóng [1]
Hiện nay trên thế giới có trên năm mươi quốc gia nuôi tôm và tập trungchủ yếu ở hai khu vực: Nam Mỹ và Nam Á Khu vực Nam Á có sản lượngtôm nuôi chiếm khoảng 80% tổng sản luợng tôm nuôi trên thế giới với cácnước có sản lượng tôm nuôi cao như: Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc,Indonexia, Việt Nam Khu vực Nam Mỹ chiếm khoảng 20% tổng sản luợngtôm nuôi trên thế giới với các nước có sản lượng tôm cao như: Ecuado,Colombia, Mehico, Hondoras, Brazil [17]
Xét về năng suất trung bình, những quốc gia có tổng diện tích nuôi tôm
ít (< 2500 ha) thường đạt năng suất cao (> 2000 kg/ha) như: Venezuela, Mỹ,Nhật, Úc, Đài Loan, Malaysia Các nước này có nền kỹ thuật tiến bộ và khả
Trang 8năng đầu tư công nghiệp cao Trong khi đó các nước có diện tích nuôi lớn,hình thức nuôi quảng canh, bán thâm canh chiếm tỷ lệ lớn nên năng suất bìnhquân thấp Năng suất tôm nuôi có mối tương quan chặt chẽ với mật độ thảnuôi: 5 - 10 con/m2 có thể đạt năng suất 1 - 2 tấn/ha/vụ; Mật độ nuôi 20 - 30con/m2 đạt năng suất 3 - 4 tấn/ha/vụ và năng suất 10 tấn/ha/vụ với mật độ thảnuôi 50-60 con/m2 [5].
Sản lượng tôm nuôi trên thế giới đã tăng lên đáng kể cùng với sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật và chiếm một tỷ phần lớn trong tổng sản lượng tômtrên thế giới (29,9%)
Bảng 1.1 Sản lượng tôm nuôi trên thế giới
nổ ở một số nước gây thiệt hại lớn Cụ thể: Từ sau năm 1970 dịch bệnh đã raliên tiếp ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt dịch tôm chết ở Đài Loan năm
1987 1988 đã làm tiêu hao 80% sản lượng tôm nứơc này Đến năm 1993
Trang 9-1994 dịch bệnh lại xảy ra ở Trung Quốc, Indonexia Đa số các nước nuôi tômhiện nay đều đứng trước vấn đề dịch bệnh và ô nhiễm nước nghiêm trọng.Năm 2000 sản lượng tôm nuôi đạt 865000 tấn chiếm 22,5% tổng sản luợngtôm toàn thế giới với giá trị trung bình 5,9 USD/kg tôm thương phẩm Trong
đó tôm Sú là đối tượng nuôi quan trọng nhất và có giá trị cao nhất Năm 2000sản luợng tôm Sú là 585000 tấn trị giá 3,7 tỷ USD, chiếm 67,6% sản lượng
tôm nuôi, tôm thương phẩm có giá trị trung bình 6,34 USD/kg [5]
Những năm gần đây do nhận thức của người nuôi tôm được nâng caocùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học đã làm cho nghềnuôi tôm dần đi vào ổn định
1.1.2 Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm đã xuất hiện khá lâu, ước tính khoảng hơntrăm năm nay, nhưng thực sự phát triển mạnh vào những năm đầu thập niênchín mươi của của thế kỷ hai mươi, khi lượng tôm giống nhân tạo được cungcấp với quy mô lớn, đáp ứng đầy đủ tiềm năng diện tích mặt nước nuôithương phẩm
Hiện nay, diện tích nuôi tôm ở Việt Nam đã tăng lên một cách nhanhchóng, năm 2001 tăng 97,08% so với năm 2000
Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng tôm nuôi tại Việt Nam
Trang 10(Trung tâm tư liệu thống kê- Tổng cục thống kê Việt Nam)
Những năm 1986 - 1988 mâu thuẫn giữa diện tích và năng suất nuôi làmột vấn đề nan giải, khi diện tích nuôi tăng nhưng năng suất không tăng lêntương ứng Nhưng những năm gần đây sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam đãtừng bước chuyển mình đi lên, năm 2000 đạt 105.000 tấn, năm 2001 đạt158.755 tấn, năm 2003 đạt 193.973 tấn tăng 84,737% so với năm 2000 [10].Theo nội dung chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 - 2010 của Bộthuỷ sản (nay là Bộ nông nghiệp và PTNT) trong những năm tới chủ yếu làthay đổi phương thức nuôi: giảm mạnh diện tích nuôi quảng canh và tăng diệntích nuôi thâm canh từ 15 - 25%, tổng diện tich nuôi nước lợ, bình quân tăng
từ 4000 - 5000 ha/năm, năng suất nuôi bình quân đạt 2 - 2,5 tấn/ha/vụ, phấnđấu đến năm 2010 đáp ứng 80% tôm xuất khẩu là tôm nuôi (Chủ yếu là tôm
Sú chiếm từ 70 - 80%) Trước hết là tập trung nuôi ở những nơi có điều kiện
và kinh nghiệm, nhất là các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ, sau đó mở rộng racác tỉnh lân cận và phía Bắc
Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long có sản lượng tôm nuôi lớn nhấttrong cả nước Năm 2005 sản lượng tôm nuôi nước lợ là 263,560 tấn (bằng
Trang 1181,2% sản lượng tôm nuôi cả nước), Tăng gấp 4,5 lần sản lượng năm 1999.Tuy nhiên phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh và quảng canh cải tiếnnên năng suất trung bình không cao (492 kg/ha).
Khu vực Đông Nam Bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 20.010 tấn,tăng gấp 1,67 lần so với năm 2004
Khu vực các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ có sản lượng tôm nuôi năm
2005 là 21.600 tấn , thấp hơn năm 2004 do diện tích nuôi giảm
Các tỉnh Bắc Trung Bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 12.390 tấntăng gấp 8,1 lần so với năm 1999
Các tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Hồng có sản lượng tôm nuôi năm
2005 là 15,750 tấn, tăng 13,247 tấn so với năm 1999 [10]
Miền Trung là khu vực đi đầu trong lĩnh vực nuôi tôm Sú công nghiệp.Năm 1996 nhờ áp dụng quy trình nuôi của tập đoàn CP một số mô hình nuôi
ở Ninh Hoà, Nha Trang, Cam Ranh đã đạt sản lượng 5 tấn/ha/vụ trong khinăm 1995 chỉ đạt năng suất 415 - 1.114 kg/ha/vụ [13] Các tỉnh phía Nam cóđóng góp lớn nhất cho sản lưọng tôm nuôi Việt Nam nhờ áp dụng hình thứcnuôi công nghiệp vào đầu năm 1997, năng suất tôm nuôi đạt 5 tấn/ha/vụ ở TràVinh Năm 1998 đạt năng suất 7 tấn/ha/vụ tại Tiền Giang [5] Đây là nhữngkết quả khởi đầu cho phong trào công nghiệp hoá nghề nuôi tôm Sú ở ViệtNam Hiện nay năng suất tôm Sú nuôi có sự khác nhau tuỳ theo vùng, theo vụ
và theo từng quy trình nuôi cụ thể Trong năm 2005 sản lượng tôm nuôi trung
bình của tỉnh Sóc Trăng đạt 3,29 tấn/ha/vụ [27] Trong khi đó tại Khánh Hoà
đạt năng suất 9,2 tấn/ha/vụ, tại Bạc Liêu năng suất trung bình là 4,41tấn/ha/vụ, năng suất cao nhất là 10 tấn/ha/vụ [5]
Trang 12Tuy nhiên tình hình ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đang ảnh hưởngnghiêm trọng đến năng suất và chất luợng tôm Sú nuôi tại Việt Nam Theobáo cáo của Bộ Thuỷ Sản về tình hình dịch bệnh tôm năm 2002 cho thấy: Hầuhết các tỉnh nuôi tôm: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Phú Yên, Minh Hải,Kiên Giang, Sóc Trăng, Nha Trang, đều bị thiệt hại nặng do dịch bệnh gây ra.Tình hình dịch bệnh ở tôm đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân vàgây khó khăn cho nhà quản lý Theo thống kê của Bộ Thuỷ Sản (nay là Bộnông nghiệp và PTNT), năm 2002, tại Bạc Liêu 60% diện tích tôm Sú nuôi bịchết, ước tính thiệt hại lên tới 200 tỷ đồng Tỉnh Kiên Giang , mức độ tômchết nặng hơn, lên tới 80 - 90% do tôm bị bệnh đốm trắng Ở Sóc Trăng , tômchết hàng loạt trên diện rộng gây thiệt hại rất lớn cho sản xuất và làm ô nhiễmmôi trường nghiêm trọng [12]
Hiện nay để phòng trị bệnh cho tôm, người dân có thói quen sử dụngthuốc kháng sinh Tuy nhiên kháng sinh “là con dao hai lưỡi”, chính vì vậyviệc lạm dụng kháng sinh không những không mang lại hiệu quả mà còn gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Việc sử dụng kháng sinh không đúng cáchtạo ra hiện tượng “nhờn thuốc” không những vi sinh vật gây bệnh không chết
mà còn phát triển nhanh về số lượng và gây hại cho tôm, dư lượng kháng sinhtrong tôm Sú thương phẩm sẽ làm giảm giá trị của sản phẩm và ảnh hưởngxấu đến sức khoẻ người tiêu dùng
1.2 Một số đặc điểm sinh học của tôm sú.
1.2.1 Hệ thống phân loại.
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Trang 13Bộ: Decapoda
Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon Fabricius, 1798.
Tên tiếng Anh: Giant tiger prawn, Black tiger Shimp
Tên thường gọi: Tôm Sú
1.2.2 Đặc điểm phân bố.
Tôm Sú phân bố rộng, phần lớn tập trung ở Ấn Độ Dương, Thái BìnhDương, Đông và Nam Châu Phi, vùng biển Đông Nan Á và Châu Á: ĐàiLoan, Thái Lan, Philipine, Indoneisia, Triều Tiên, Trung Quốc, Malaysia,Việt Nam Ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở vùng duyên hải miền Trung
1.2.3 Đặc điểm thích nghi.
Nhìn chung tôm Sú thuộc loài rộng muối Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạnphát triển, cá thể có nhu cầu và khả năng thích ứng khác nhau Với điều kiệnthuần hoá dần dần, tôm Sú có khả năng tồn tại và sinh trưởng ở độ mặn 1,5 -40‰, nhưng thích hợp từ 10 - 34‰ Tôm Sú có khả năng thích ứng với sựthay đổi lớn của nhiệt độ nên cũng thuộc loài rộng nhiệt
Tôm có tập tính sống vùi mình trong đáy, nền đáy thích hợp cho tôm
Sú là đáy bùn cát [1]
B ng 1.3 : M t s y u t môi trảng ột số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú ố yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú ếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú ố yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú ường trong ao nuôi tôm Sú.ng trong ao nuôi tôm Sú
Yếu tố môi trường Khoảng chịu đựng Khoảng sống tốt Tốt nhất
Trang 14phát triển cá thể Giai đọan Nauplius dinh dưỡng bằng noãn hoàng Giai đoạn
Zoea ăn lọc, thức ăn chủ yếu là tảo tươi, tảo khô Giai đoạn Mysis và Postlarvae bắt mồi chủ động thức ăn là Artemia, thứ ăn tổng hợp Giai đoạn
trưởng thành ăn tạp, thức ăn ưa thích là động vật, trong quá trình nuôi có thểcho ăn thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp
Trang 15Hình 1.1 Vòng đời phát triển của tôm Sú
1.2.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển.
Tôm sú là loài có kích thước và sinh trưởng nhanh nhất trong họ tôm
He [8] Tôm thực hiện quá trình hấp thụ nước, các chất dinh dưỡng qua mang
và hệ thống tiêu hoá kích thích tôm lột xác Qua mỗi lần lột xác trọng lượngtôm tăng lên đáng kể Sau bốn tháng nuôi có thể đạt kích thước 30 ÷ 40 g/con
Trong các hệ thống nuôi, tăng trưởng của tôm nuôi phụ thuộc vào côngnghệ nuôi tôm, sự chăm sóc, quản lý ao nuôi Ở mật độ thả 10 con/m2, tômđạt trọng lượng 39g sau 120 ngày nuôi, trong khi tôm chỉ đạt 31g và 35g ởmật độ 30 và 20 con/m2 trong khoảng thời gian nuôi như nhau [10]
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm thương phẩm
Trang 161.3.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm thương phẩm
Trong tự nhiên, nhờ hoạt động sống của vi sinh vật (VSV) một lượnglớn các chất hữu cơ được khoáng hóa Các hợp chất hữu cơ được chuyển hóaqua hàng loạt các phản ứng hóa sinh học, trong đó có nhiều loại VSV cùngtham gia, sản phẩm chuyển hóa của loài VSV này lại là cơ chất cho VSVkhác, hoạt động của VSV diễn ra phức tạp và có mối liên quan chặt chẽ vớinhau Sự phân hủy các chất hữu cơ diễn ra với tốc độ khác nhau phụ thuộcvào thành phần, số lượng và điều kiện môi trường Thành phần chủ yếu củahợp chất hữu cơ trong nước và bùn ao nuôi tôm bao gồm: protein, lipit,hydratcacbon, kitin Các vi khuẩn có khả năng phân giải protein thường gặp
thuộc chi Pseudomonas, Clostridium, Bacillus Chúng phân giải protein thành
các polypeptit, axitamin, NH3
Nhóm vi sinh vật phân hủy các hydratcacbon bao gồm chi Bacillus,
Aspegillus, streptomyces, Streptocococcus, Clostrium Trong quá trình này,
các hydratcacbon (tinh bột, xenluloza, pectin, hemixenluloza, ) được phângiải thành những phần nhỏ hơn, tạo ra các sản phẩm của quá trình trao đổichất như các chất khí (NH3, CO2) , axit focmic, axit axetic, axit propionic,axit béo, axit lactic , các chất khoáng và sinh khối mới của VSV.Một trong những đặc điểm quan trọng của VSV là chúng sinh trưởng nhanh,khi nuôi cấy trong môi trường thích hợp chỉ sau 24 giờ từ một tế bào VSV cóthể thu được một khối lượng rất lớn sinh khối VSV Hơn nữa VSV có thểnuôi cấy dễ dàng trên các cơ chất rẻ tiền, không tốn nhiều diện tích và việcsản xuất không phụ thuộc vào sự thay đổi của thời tiết
Trang 17Có 3 nguyên tắc cơ bản để lựa chọn các chủng VSV sản xuất chế phẩmsinh học phục vụ cho nuôi trồng thủy sản là: Các chủng VSV phải có hoạttính sinh học mạnh như khả năng sinh phức hệ enzyme cao và ổn định;Không gây độc cho người và động vật; VSV hữu ích và nuôi cấy dễ dàng,sinh trưởng tốt trong môi trường tự nhiên, thuận lợi cho quá trình nhân giốngthu sinh khối
Các nhóm VSV được sử dụng để sản xuất chế phẩm VSV trong nuôitrồng thủy sản ở Việt Nam:
1.3.1.1 Các nhóm VSV sử dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ xử
lý môi trường nuôi trồng thủy sản
Nhóm VSV dị dưỡng hoại sinh: Một số loài của nhóm vi khuẩn Bacillus (Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Bacillus sp, Bacillus megaterium )
dùng để làm sạch môi trường nhờ khả năng sinh các enzyme (proteaza,amylaza, xenlulaza, kitinaza) phân hủy các hợp chất hữu cơ và kiểm soát sựphát triển quá mức của VSV gây bệnh do cơ chế cạnh tranh nguồn dinhdưỡng giữ cho môi trường luôn ở trạng thái cân bằng sinh học
Nhóm VSV khử amoni và nitrat: Các loài thuộc chi Nitromonas, Nitrobacter
chúng amoni hóa NH3 và nitrat hóa NO
-3 thành nitơ phân tử làm giảm độc chomôi trường
1.3.1.2 Các nhóm VSV dùng để sản xuất thức ăn và kiểm soát VSV gây bệnh (probiotic)
Gồm: Enterococcus faecium, Streptomyces cinnamonensis, Bacillus
subtilis, Lactobacillus sp., Acetobacteria sp., Saccharomyces sp., Pediococcus acidilatici, Lactobacillus acidophilus, L sporogenes
Trang 181.3.1.3 Vi khuẩn lactic
Đây là nhóm VSV đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát cácVSV gây bệnh bởi các chủng VSV này có khả năng sinh axit lactic,bacteroxin có tác dụng ức chế sự phát triển của các VSV gây bệnh cho tôm,
cá trong môi trường Nhóm VSV này thường được sử dụng để bổ sung vàothức ăn cho tôm, cá, làm cân bằng khu hệ VSV đường ruột, ngăn cản sự thâmnhập của các VSV có hại vào đường ruột, tăng khả năng phòng ngừa một sốbệnh đường ruột Đồng thời, còn có tác dụng tăng khả năng tiêu hóa và hấpthụ thức ăn, giúp cho vật nuôi khỏe mạnh và phát triển nhanh
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm trên thế giới.
CPSH (probiotic) được Parker đưa ra định nghĩa: “probiotic là nhữngsinh vật hoặc những chất góp phần làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột”.Fuller định nghĩa “probiotic là các vi sinh vật sống, được cho vào thức ăn cóảnh hưởng tốt với ký chủ bằng cách cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột”.Tannock định nghĩa “ probiotic là các tế bào vi sinh vật sống, được cho vàothức ăn nhằm mục đích cải thiện sức khỏe” Thực ra ý tưởng sử dụng vikhuẩn probiotic đã được Elie Metnhicoff đưa ra năm 1907 Khi kiểm tra việc
tiêu thụ sữa chua tác giả đã tìm thấy ảnh hưởng vi khuẩn Lactobacillus
delbrueckii.ssp bulgaricus đến việc kéo dài tuổi thọ của người Bungary
Mặc dù vậy, việc sử dụng các chế phẩm vi sinh trong nuôi thủy sản vẫncòn khá mới mẻ Các chế phẩm sử dụng trong nuôi thủy sản hiện nay có thểchia làm 3 nhóm:
Trang 19- Nhóm thứ nhất gồm những vi sinh vật sống như các vi khuẩn thuộc
giống Bacillus, Lactobacillus, Saccharomyces … người ta thường trộn trực tiếp vào thức ăn hoặc gián tiếp qua trung gian như Artemia, Rotifer…
- Nhóm thứ hai gồm các vi sinh vật có tính đối kháng hoặc cạnh tranh
thức ăn với vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn Bacillus licheniformis,
Bacillus sp Vibrio alginolyticus…
- Nhóm thứ 3 gồm các vi sinh vật cải thiện chất lượng môi trường như vi
khuẩn Nitrosomonas, Nitrobacter, Actinomyces, các loài Bacillus khác nhau, các loại tảo, các vi khuẩn tía không lưu huỳnh như Rhodobacter.sp.
Rhodospirillum, Rhodopseudomonas viridis, Rhodopseudomonas palutris, Rhodomicrobium vanniell, các loại nấm Aspergillus oryzae, Aspergillus niger, Rhizopus sp… Tuy nhiên có nhiều chủng vi sinh vật thực hiện được
nhiều chức năng khác nhau nên ranh giới giữa 3 nhóm này đôi khi khôngđược phân chia rõ ràng, vì vậy ngày nay nhiều người gọi chung các chế phẩm
vi sinh sử dụng trong nuôi thủy sản là probiotic
Huis in’T Veld & ctv, (1994) cho rằng việc phân lập các chủng vi khuẩnprobiotic là việc làm mang nhiều tính chất kinh nghiệm, ít cơ sở khoa học, vìvậy có vô số các nghiên cứu về probiotic bị thất bại, điều đó có thể là do việclựa chọn các chủng vi sinh không thích hợp Các bước lựa chọn được xácđịnh, nhưng cần phải thích ứng với từng ký chủ và từng môi trường Cần phảihiểu cơ chế hoạt động của probiotic để vạch rõ tiêu chuẩn chọn lọc cácprobiotic hữu hiệu
Griffith (1995) thông báo nhờ việc đưa probiotic vào nuôi tôm giống ởEcuador trong năm 1992, mà các trại nuôi tôm giống giảm thời gian nghỉ để
Trang 20làm vệ sinh ở các bể nuôi từ 7 ngày trong một tháng đến 21 ngày trong mộtnăm, sản lượng tôm giống tăng 35% và giảm sử dụng các chất diệt khuẩn đến94%
Năm 1995, Garrique và Arevalo đã tóm lược việc sản xuất và sử dụngnhững vi khuẩn sống được phân lập để điều khiển hệ vi khuẩn trong việc sản
xuất giống tôm Post Panaeus vanamei ở Ecuado Các tác giả này cho rằng việc dùng vi khuẩn Thiobacillus như những sinh vật hữu ích có thể làm tăng
sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của hậu ấu trùng tôm
Ở Châu Á đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các chế phẩm vi sinh trongnuôi tôm, đặc biệt ở Thái Lan Jiravanichpaisal & ctv (1997) đã sử dụng
Lactobacillus sp trong nuôi tôm sú (P monodon) Ở Trung Quốc, nghiên cứu
probiotic trong nuôi thủy sản được tập trung vào vi khuẩn quang hợp QiaoZhenguo & ctv (1992) nghiên cứu 3 chủng vi khuẩn quang hợp sử dụng cho
tôm (P chinensis) bằng cách cho vào thức ăn hoặc cho vào nước nuôi tôm,
cho thấy có sự gia tăng khả năng phát triển của tôm, loại trừ nhanh chóng
NH3-N, H2S, acid hữu cơ và những chất có hại, cải thiện chất lượng nước, cânbằng độ pH
Zhermant & ctv (1997) cho biết trong ruột của ấu trùng protozoea cónhiều vi khuẩn của môi trường xung quanh nên có thể gây trở ngại cho các thínghiệm probiotic Khi nuôi các chủng vi khuẩn probiotic trong bể với ấu
trùng Naupllius của tôm Litopenaeus vannamei với mật độ 103 tế bào/ ml thì
đã ngăn cản được sự xâm nhiễm các vi khuẩn gây bệnh ngay ở nồng độ 107 tếbào/ml Nấm men và nấm mốc cũng được sử dụng để cải thiện tỷ lệ sống và
năng suất ấu trùng tôm Litopenaeus vannamei (Intriago et al., 1998)
Trang 211.3.3 Tìh hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm tại Việt Nam.
Trong những năm gần đây, để giảm thiểu những rủi ro từ việc sử dụnghóa chất và kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, việc nghiên cứu và sử dụngcác chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi tôm ở nước ta đang phát triểnmạnh Theo Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hiện có khoảng gần 200 thươnghiệu chế phẩm sinh học đang bán trên thị trường nước ta chủ yếu thuộc cácnhóm:
- Chế phẩm xử lý môi trường nuôi tôm như: ACCELOBACDAG,AGROSTIMTM, VIME – Yucca, BIO – DIBAPES, ENVIRON- ACTM,ECO MARINE, MIC – 999, SUPER MAZO, MIC – 888, BRF-2AQUAKIT, SUPER CLEAN, ESM, BIO MARINE, BIO – BACTER,POND-CLEAR, SOIL PRO, BIO- DW, BIO - YUCCA, BZT, Long Lizyme,Microzyme, BIOTIC For Shrimp, Super MAZAL, EMS tác dụng chủ yếukhử ô nhiễm bùn, ô nhiễm nước, loại thải khí độc (NH3, H2S, NO2 ), phânhủy các chất thải và chất hữu cơ, tăng nguồn dinh dưỡng cung cấp cho sự pháttriển của phiêu sinh vật, kích thích sự tăng trưởng, cải thiện hệ số chuyển hóathức ăn, giảm chất cặn bã, độ axit ở đáy ao, ổn định pH cho môi trường, ngănngừa dịch bệnh, tăng độ ôxy hòa tan, kiểm soát các chất lơ lửng trong nước
- Nhóm chế phẩm giúp tăng cường tiêu hoá, nâng cao sức đề kháng vàphòng trị bệnh cho tôm nuôi như: feedadd nc 5.1, Primi, MIC – E, TOPe – 35,V.E.m, AR – 01, Biozyme, Thepazyme, larva là hỗn hợp vi khuẩn
(Enterococcus faecium, Streptomyces cinnamonensis, Bacillus subtilis,
Lactobacillus sp; Acetobacteria sp., Saccharomyces sp., Pediococcus
Trang 22acidilatici, Lactobacillus acidophilus, L sporogenes ), các hệ enzyme, các
vitamin: A, E, B1, B2, B3, B6 các nguyên tố vi lượng
Tác dụng của chúng là làm tăng tính ngon miệng, giúp tiêu hóa hoàntoàn các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, giảm tiêu hao thức ăn do tiêu hóakém, tăng cường sức đề kháng, phòng ngừa các bệnh đường ruột như nhiễmE.coli, ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại Các chế phẩm này còn tănghàm lượng các VSV có lợi trong thành ruột của tôm
Trong quá trình nuôi tôm cao sản, khối lượng bùn được tạo ra hàng nămrất lớn, làm ô nhiễm môi trường và phát sinh bệnh cho tôm Sử dụng các chếphẩm VSV đã góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Nhìn chung cácchế phẩm vi sinh đang lưu hành trên thị trường nước ta có thành phần VSVrất hạn chế, chủ yếu là các vi khuẩn có hoạt tính phân giải protein, tinh bột vànhóm vi khuẩn nitrat hóa Trong đó có rất ít chế phẩm có các nhóm nấm sợi,
xạ khuẩn phân hủy xenluloza và kitin
Các chế phẩm trên đa số là các chế phẩm sinh học có nguồn gốc nhậpngoại và một số chế phẩm được sản xuất trong nước nhưng phần lớn các chếphẩm này chưa được công bố về xuất xứ nguồn gốc Hiện nay cũng chưa cónghiên cứu nào đánh giá việc đưa các chủng VSV ngoại nhập có phù hợp vớiđiều kiện khí hậu của Việt Nam hay không? Có làm ảnh hưởng đến sự bềnvững của hệ sinh thái môi trường không? Trước tình hình đó, Bộ Thủy sản,
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện một
số đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho những giải pháp tổngthể khắc phục những bất cập nêu trên và tạo ra các chế phẩm VSV phù hợp
Trang 23với điều kiện khí hậu của Việt Nam phục vụ nuôi trồng thủy sản là hết sứccần thiết.
Năm 2000 để khắt phục và cải thiện dần môi trường phục vụ cho nghề nuôi tôm, với mục tiêu hướng đến một môi trường nuôi tôm bền vững, trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Việt Nam đã chọn giải pháp ứngdụng chế phẩm sinh học vào qúa trình quản lý môi trường ao nuôi tôm và loạichế phẩm sinh học được sử dụng là Efective Mieroorganism gọi tắt là EM
Qua một thời gian sử dụng thử nghiệm ban đầu ở nhiều hộ nuôi tôm cho thấy chế phẩm sinh học EM có khả năng ; Phân giải tốt các chất thải hữu
cơ trong qúa trình nuôi; phân hủy chất thải hữu cơ hòa tan và không hòa tan, đồng thời duy trì được chất lượng nước, màu nước cho ao nuôi; ức chế khả năng phát triển của vi sinh vật gây hại như Vibrio, Aeromonas và những mầmbệnh vi khuẩn khác; làm tăng lượng ôxy hòa tan trong môi trường nước ao nuôi tôm và giảm thiểu lượng NH3; điều hòa hàng loạt các yếu tố môi trường kèm theo sự phát sinh trong quá trình nuôi như PH, ôxy hòa tan, cặn lắng, độ trong, phân giải, NH3, H2S, nitric, nitrat
* Về khả năng sinh trưởng của tôm: Thời gian theo dõi 40 ngày, đối với ao nuôi tôm có sử dụng về EM giống, thức ăn lên men từ EM, Sức ăn mạnh hơn,nhanh hơn so với ao đối chứng ( không dùng EM) là 260kg/ 180kg
* Mức tăng trưởng: ao sử dụng chế phẩm EM mức tăng trưởng đo được: 7,63g/ con, ao đối chứng đạt 5,9 g/con
Kết qủa theo dõi trong 40 ngày nuôi khi sử dụng chế phẩm sinh học EM môi trường nước ao nuôi hết sức ổn định, không có mùi hôi lạ, mật độ tảo ổn định,tôm khỏe, ăn nhiều, mức độ tăng trọng bình thường, hạn chế được tối đa việc
Trang 24sử dụng các hoá chất khác.
Việc sử dụng chế phẩm sinh học vào nuôi tôm vốn đã được khuyến khích từ lâu Bởi có như vậy, mới hạn chế được việc dùng hoá chất trong nuôi tôm và đây cũng là điều kiện cần thiết để có được môi trường nuôi tôm bền vững, phù hợp với quy trình nuôi tôm thâm canh
Năm 2002 đề tài "Nghiên cứu quy trình sản xuất và ứng dụng chế phẩm
vi sinh hữu hiệu EM phục vụ trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tạiBình Định" của PGS-TS Lê Dụ - giảng viên trường Đại học Quy Nhơn - đãcho thấy những kết quả khả quan trong việc ứng dụng chế phẩm EM vào quytrình nuôi tôm Sú thâm canh Qua 2 năm tiến hành thử nghiệm trên 2 ao nuôidiện tích 1 ha tại thôn Vinh Quang (xã Phước Sơn - Tuy Phước) Quá trình xử
lý ao nuôi như nhau, riêng ao thực nghiệm có dùng thêm EM Ông NguyễnMinh Thiện - chủ hai hồ tôm nói trên - cho biết: "Hai hồ nuôi đều được thảcùng một loại con giống, quá trình xử lý ao nuôi và chăm sóc như nhau Ở aothực nghiệm, màu nước rất đẹp, độ kiềm và độ pH dao động không đáng kể,tôm không bị nhớt và phát triển ổn định…" Trong thời gian tiến hành thựcnghiệm, chỉ tính riêng khu vực Hồ Úc (thôn Vinh Quang) có khoảng 14 hồnuôi thì chỉ còn 4 hồ chưa có dấu hiệu tôm bị dịch Trong đó, có 2 hồ đangtrong giai đoạn thí điểm của đề tài Điều đó cho thấy, việc sử dụng chế phẩm
EM đã giảm hẳn tình trạng ô nhiễm môi trường nước, EM đã góp phần hạnchế những virut, vi khuẩn gây bệnh cho tôm
Năm 2007 trung tâm khuyến ngư Bến Tre cho biết đã xây dựng thàngcông mô hình trình diễn nuôi tôm Sú thâm canh sử dụng chế phẩm vi sinh
EM Theo đó đây là quy trinh nuôi tôm Sú thâm canh sử dụng hoàn toàn
Trang 25CPVS được thực hiện ở hai xã Vĩnh An và An Hoà Tây, huyện Ba Tri, sau
101 đến 112 ngày nuôi ở mật độ 40 con/m2 năng suất thu được từ 10 đến 12tấn/ha, cỡ tôm từ 37 đến 38 con/kg [27]
1.3.4.2 Thành phần của chế phẩm EM
Thành phần của chế phẩm EM bao gồm:
+ Thành phần các loài vi sinh vật hữu ích trong các chế phẩm sinh họcEM
- Vi khuẩn Lactic > 109 tế bào/ml (CFU/ml)
- Vi khuẩn quang hợp > 107 tế bào/ml (CFU/ml)
- Nấm men >107 tế bào/ml (CFU/ml)
- Các loại nấm sợi, xạ khuẩn
+ Thành phần nguyên liệu: EM gốc, rỉ đường, phân hữu cơ, nước
Trang 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Tôm Sú (P.monodon Fabricius 1798), từ giai đoạn P15 đến khi thu
hoạch thương phẩm
2.2 Vật liệu nghiên cứu.
- Chế phẩm sinh học EM gồm các loại: EM1, EM2, EM5, EM tỏi, EMBokashi
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 05/5/2008 đến ngày 05/10/2008
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty TNHH Minh Phú - Xã Hoà Điền - KiênLương - Kiên Giang
2.4 Nội dung nghiên cứư.
- Các biện pháp quản lý môi trường trong các Ao nuôi thí nghiệm
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi
- Đánh giá hiệu quả kinh tế
2.5 Phương pháp nghiên cứu.
2.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Điều kiện thí nghiệm
Trang 27- Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên ở mức một nhân tố.
- Thí nghiệm được bố trí theo hai công thức:
+ Công thức thí nghiệm 1 (CT1): Công thức sử dụng chế phẩm sinhhọc EM (từ Ao C1 - C2 - C3)
+ Công thức thí nghiệm 2 (CT2): ao D1 – D2 – D3 không sử dụngCPSH EM
- Mỗi công thức thí nghiệm lặp lại 3 lần
* Sơ đồ khối nghiên cứu
2.5.3 Phương pháp xác định và thu thập số liệu.
2.4.3.1 Phương pháp xác địmh các yếu tố môi trường.
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
1 Oxy hoà tan 6 - 7h và 14 - 15h 2 lần/ngày Test đo DO
3 pH 6 - 7h và 14 - 15h 2 lần/ngày Test đo pH
Công thức 1
Kết luận
Các biện pháp quản lý môi Theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi
- Đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 284 Độ mặn 14 - 15h 1 tuần/lần Khúc xạ kế
Wtb1 - 2
Wtb
Trong đó:
+ DWG (g/ngày): Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng tôm.+ Wtb2: Khối lượng trung bình tôm cân ở thời điểm t2
+ Wtb1: Khối lượng trung bình tôm cân ở thời điểm t1
+ t2- t1: Khoảng thời gian giữa hai lần cân (ngày)
- Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài tôm (cm/ngày)
+ Ltb1: Chiều dài trung bình tôm đo được ở thời điểm t1
+ t2 - t1: Khoảng thời gian giữa hai lần đo (ngày)
- Tỷ lệ sống:
Công thức tính:
Trang 29
Tổng số tôm chài được(con)
Số tôm trong Ao = × diện tích ao (m2)
Tổng diện tích chài(m2)
Số tôm hiện có trong ao(con)
Tỷ lệ sống (%) = × 100%
Số tôm ban đầu(con)
- Công thức tính tỷ lệ chuyển đổi thức ăn FCR
Tổng khối lượng tôm thu hoạch
+ K: năng suất (kg/ha)
+ W: Sản lượng thu hoạch tôm (kg)
+ S: diện tích ao nuôi (m2)
2.6 Xử lý số liệu.
Các số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học và phầnmền MS-Excell 2003
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Quản lý các yếu tố môi trường.
3.1.1 Kết quả quản lý các yếu tố môi trường nước ao nuôi.
Các yếu tố môi trường trong ao nuôi có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinhtrưởng và phát triển của tôm trong ao nuôi Việc áp dụng mô hình nuôi ít thaynước là một thành công quan trọng liên quan đến năng suất tôm nuôi của công
ty Tuy nhiên trong mô hình này việc quản lý chất lượng nước sẽ khó khănhơn, đòi hỏi trình độ quản lý tốt Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thuđược kết quả theo dõi các yếu tố môi trương như sau:
Trang 31Bảng 3.1 Theo dõi các yếu tố môi trường CT
7 , 0 4 , 29
9 , 0 9 , 30
67 , 7 76 , 93
110 50
86 , 9 82
3 , 14 44
- Diễn biến nhiệt độ nước.
Nhiệt độ nước biểu thị trạng thái nhiệt của nước, là một trong những yếu
tố thuỷ lý quan trọng, sự thay đổi của nhiệt độ nước là nguyên nhân chính làm
Trang 32thay đổi tốc độ bắt mồi, rối loạn sự hô hấp, làm mất cân bằng pH máu, làmthay đổi chức năng điều hoà áp suất thẩm thấu [22] Kết quả cho thấy nhiệt độnước của cả hai công thức nghiên cứu vào buổi sáng giao động trong khoảng
27 – 310C, vào buổi chiều dao động trong khoảng 28 - 320C Khoảng nhiệt độnày giao động không lớn và tương đối ổn định, thích hợp cho sự sinh trưởng
và phát triển của tôm Sú Qua theo dõi cho thấy nhiệt độ nước trong các aonuôi thực nghiệm thay đổi theo thời tiết, có những ngày nhiệt độ không khílên tới 330C nhưng do độ sâu của ao lớn (1,6 - 1,7m) nên sự dao động nhiệt độnước là không đáng kể và vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi sinhtrưởng và phát triển bình thường
- Quản lý độ trong và màu nước.
Độ trong và màu nước phản ánh mật độ và thành phần loài tảo trong
ao nuôi Qua độ trong có thể biết được sự biến động của một số yếu tố môitrường khác như: Độ pH, DO, lượng chất thải, lượng sinh vật phù du…Độtrong của nước được đo bằng đĩa secshi khi độ trong thấp hơn 20 cm cho thấy
ao quá đục Nếu ao đục do tảo phát triển quá tạo nên hiện tượng thiếu Oxycho ao nuôi vào buổi sáng sớm, pH ao nuôi sẽ tăng cao vào buổi trưa nắng.Nếu ao đục do các chất lơ lửng trong nước thì năng suất ao nuôi sẽ không cao,
sự hiện diện của các chất lơ lửng này thường rất bất lợi cho tôm nuôi
Trang 330 10 20 30 40 50 60 70 80 90
1 3 5 7 9 11 13 15 17 Tuần nuôi
Độ trong (cm)
C1 C2 C3 D1 D2 D3
Hình 3.1 Biến động độ trong ở các Ao trong công thức thí nghiệm
Độ trong của nước trong các ao trong CT thí nghiệm có sự biến độnglớn trong những ngày đầu của quá trình nuôi do lúc này trong ao nuôi chưa cónhiều chất dinh dưỡng, chất vẫn hữu cơ, mật độ tảo còn thưa Độ trong, trongthời gian đầu ở cácCT2 khá cao và có sự giao động lớn mà nguyên nhân chủyếu là do sự biến động số lượng tảo trong ao nuôi
Độ trong các ao giảm dần theo thời gian nuôi, về cuối vụ nuôi độ trongkhông có sự giao động lớn Độ trong của nước trong ao giảm là do ao nuôi cónhiều chất thải, chất vẩn hữu cơ, tảo phát triển mạnh Các ao ở CT1 do việc
sử dụng định kỳ EM2, EM5 do vậy phần lớn các chất hữu cơ lơ lửng trong aođược các vi sinh vật sử dụng, về cuối vụ độ trong vẫn đảm bảo cho tôm pháttriển (28 - 35 cm) trong khi đó các ao ở trong CT2 về cuối vụ nước đã đục (16
- 20 cm) dẫn đến một số ngày đã xuất hiện tôm nổi đầu ở các ao ảnh hưởngrất lớn đến việc bắt mồi, tốc độ tăng trưởng và lệ sống của tôm
Màu nước: màu nước trong ao biến đổi không lớn chủ yếu là màu xanh
lá chuối, màu vàng, vàng xanh Tảo phát triển trong ao chủ yếu là tảo khuê,
Trang 34tảo lục Các ao trong CT1 màu nước ít thay đổi trong quá trình nuôi, trong khi
đó ở các ao CT2 màu nước đã thay đổi nhiều lần trong suốt vụ nuôi đó là do
sự thay đôi về thành phần tỷ lệ các loài tảo trong ao nuôi, ở cuối vụ xuất hiệnmàu nâu đen
Dùng EM Bokashi để gây màu nước cho kết quả tốt hơn Thời gian 2 2,5 ngày sau khi dùng đạt độ trong 50 - 60 cm, nước có màu xanh lá cây thíchhợp cho việc thả tôm giống Việc gây màu bằng EM Bokashi với liều lượng
-30 - 40 kg/ha/lần có thể duy trì sự ổn định của tảo trong thời gian khá dài (1,5
- 2 tuần) trong những tháng nuôi đầu khi mà màu nước thường không ổnđịnh Trong khi đó để đạt độ trong này ở công thức 2 cần 3 - 4 ngày bón phânliên tiếp, chỉ duy trì được tảo trong khoảng 5 - 7 ngày, muốn duy trì màu nước
ao cần bón phân định kỳ Ngoài ra ở các ao này thường xuất hiện tảo đáytrong thời gian nuôi đầu
Hình 3.2 Màu nước trong ao nuôi ở CT1
Trang 35- Quản lý độ mặn.
Theo Nguyễn Trọng Nho (2002), độ mặn thích hợp cho tôm Sú phát triển
là 15 - 25‰ [7] Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hoà áp suất thẩmthấu, sự thay đổi độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích nghi của tôm đều gây racác phản ứng sốc cho tôm nuôi Qua quá trình theo dõi cho thấy thời gian đầu
độ mặn trong các ao là tương đối thích hợp cho tôm phát triển (21,5‰), trongquá trình nuôi độ mặn giảm dần về cuối vụ (21,5‰ → 17,5‰), điều này thíchhợp cho sự tăng trưởng của tôm
- Quản lý độ kiềm.
Độ kiềm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đệm của ao nuôi, đâyđược xem là một trong những chỉ tiêu để duy trì sự biến động thấp nhất của pH,hạn chế tác hại của chất độc có sẵn trong nước không để hiện tượng sốc xảy racho tôm nuôi Trong quá trình theo dõi cho thấy độ kiềm các ao là tương đối thấp
và không ổn định trong tháng nuôi đầu, trong đó có ngày xuống thấp hơn rất nhiều
so với khoảng thích hợp cho tôm (50 mg/l ở CT2), Trong những ngày độ kiềmxuống thấp như vậy để nâng độ lên đạt mức 70 – 75 mg/l chúng tôi phải dùng
Na2HCO3 kết hợp với CaMg(CO3)2 với tỷ lệ 1 : 4, khi độ kiềm đạt mức 75 – 80mg/l chúng tôi duy trì độ kiềm bằng CaCO3 và CaMg(CO3)2, độ kiềm tăng dần và
ổn định về cuối vụ nuôi Qua đồ thị cũng cho thấy độ kiềm trong các ao ở CT2 có
sự biến động lớn hơn so với các ao trong CT1 Độ kiềm ở trị số 100 – 120 mg/lđược xem là thích hợp cho tôm lột xác [22]
Trang 360 20
0 20 40 60 80 100
120
140
Độ kiềm (mg/l)
C1 C2 C3
Hình 3.3 Biến động độ kiềm trong suốt vụ nuôi ở các ao thí nghiệm
- Quản lý pH.
pH là một trong những yếu tố thuỷ hoá rất quan trọng, độ pH cho biếtquá trình sinh học, hoá học xảy ra trong trong hệ thống sinh thái ao nuôi do
Trang 37đó pH ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đối tượng nuôi Theo NguyễnVăn Hảo (2002),độ pH thích hợp cho tôm nuôi là 7,5 - 8,5 [3].
6.5 7.0 7.5 8.0 8.5 9.0
(ngày)
pH
CT1S CT1C CT2S CT2C
Hình 3.4 Biễu diễn pH trong quá trình theo dõi ở 2 công thức thí nghiệm.
Sự giao động pH trong ngày là tương đối lớn đặc biệt là ở trong côngthức thí nghiệm 2 (0,5 – 1,0) nhưng vẫn nằm trong khoảng chấp nhận đượctuy có ảnh hưởng tới đối tượng nuôi nhưng không lớn Giá trị pH ở công thức
1 ổn định hơn công thức 2 trong suốt vụ nuôi, sự giao động pH ở công thức 1(7,8 – 8,0) nhỏ hơn công thức 2 (7,7 – 8,0) Trong công thức 2 pH có lúc vượt
ra ngoài khoảng thích hợp cho tôm thấp nhất vào buổi sáng (7,0) và cao nhất(9,0) vào buổi chiều làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôm ( nổi đầu, bám bờ)nhưng tôm không có hiện tượng bị chết Sự mất ổn định pH trong ao mộtphần là do đất ở khu vực nuôi bị nhiễm phèn nặng pH thường xuyên bị giảmxuống thấp, ngoài ra trong những ao nuôi đó sự phát triển của tảo thườngkhông ổn định Trong trường hợp này việc sử dụng EM2 định kỳ (5
Trang 38ngày/1lần), EM5 đặc biệt có tác dụng rất tốt, hệ vi sinh vật có lợi của EM2,EM5 đặc biệt đã lấy lại sự cân bằng sinh thái cho ao nuôi, pH được giữ ổnđịnh trong khoảng thích hợp suốt vụ nuôi làm cho sức khoẻ tôm được cảithiện đáng kể
- Quản lý oxy hoà tan.
Theo Nguyễn Trong Nho, (1994) DO từ 4 - 7 mg/l là khoảng thích hợpcho tôm Sú ( tốt nhất là > 5 mg/l) [7] Có thể tăng lượng oxy hoà tan trong aobằng cách thay nước, sử dụng quạt nước, sục khí và duy trì sự ổn định củatảo
0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0 7.0 8.0 9.0
40 48 56 64 72 80 88 96 104 112 120 Ngày nuôi
CT1C CT2S CT2C
Hình 3.5 Biểu diễn hàm lượng Oxy hào tan trong 2 công thức thí
nghiệm.
Hàm lượng Oxy hoà tan trong CT1 cao hơn so với CT2 và giảm dần vềcuối vụ nuôi Sự giao động DO trong ngày ở CT1 (4,9 - 6,9 mg/l) nhỏ hơn sovới CT2 (4,5 - 7,5 mg/l) DO trung bình cao nhất vào buổi sáng là 4,9 mg/l,
Trang 39buổi chiều đạt 8 mg/l (CT1) và thấp nhất vào buổi sáng là 3,5 mg/l, cao nhấtvào buổi chiều 7,5 mg/l CT2).
- Hàm lượng NH 3
Trong hệ thống nuôi được gọi là ổn định và chất lượng nước tốt khihàm lượng Amonia tổng số < 0,1 mg/l Amonia được chia làm hai nhóm: Mộtnhóm NH3 (un-ionized) và nhóm NH+
4 (ionized) chỉ có nhóm NH3 là gây độccho động vật thuỷ sản Sự tồn tại của NH3 tromg nước phụ thuộc vào nhiệt độ
và pH của nước, khi nhiệt độ và pH tăng thì hàm lượng NH3 càng cao Nếutăng một đơn vị pH sẽ tăng mười lần tỷ lệ của NH3 [22]
0.000 0.020 0.040 0.060 0.080 0.100 0.120 0.140
5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 Tuần nuôi
NH3 (mg/l)
C1 C2 C3 D1 D2 D3
Hình 3.6 Biến động hàm lượng NH 3 trong hai công thức thí nghiệm.
Hàm lượng NH3 trung bình ở hai công thức thí nghiệm nằm trongkhoảng 0 - 0,022 mg/l và tăng theo thời gian của chu kỳ nuôi, trong đó hàmlượng NH3 ở các ao trong CT2 tăng nhanh hơn và cao hơn so với các ao trongCT1 Từ đầu chu kỳ nuôi đến tuần thứ 5 hàm lượng NH3 ở các ao nuôi thínghiệm chưa xuất hiện và nằm ở mức 0 mg/l nhưng đến tuần nuôi thứ 6 NH3
Trang 40xuất hiện ở ao D3 của CT2 (0,005 mg/l) và tăng cao đến hết vụ nuôi, sangcuối tuần thứ 7 NH3 xuất hiện ở ao nuôi C2 của CT1 (0,005 mg/l) và tăng dầntheo thời gian nuôi nhưng hàm lượng NH3 ở các ao trong CT 1 tăng chậm hơn
so với hàm lượng NH3 ở các ao trong CT2, càng về cuối vụ nuôi NH3 càngtăng nhanh và đạt giá trị cực đại ở ao D2 trong CT2 ( 0,12 mg/l) nó vượt rangoài khoảng thích hợp (0,1 mg/l), các ao khác của CT2 hàm lượng NH3
cũng xấp xỉ (0,1 mg/l)
3.2 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi ở các công thức thí nghiệm.
Tại cơ sở thực tập chúng tôi đã chọn và sử dụng thức ăn công nghiệp
UP của công ty TNHH Uni President Việt Nam Khối lượng thức ăn cho tôm
ăn dựa vào khối lượng tôm nuôi trong ao Cách quản lý thức ăn ở các côngthức thí nghiệm tương tự nhau Tuy nhiên đối với các ao của công thức thínghiệm 1 chúng tôi đã sử dụng EM5 tỏi trộn vào thức ăn nhằm kích thích tômbắt mồi, giúp quá trình tiêu hoá, hấp thụ thức ăn của tôm tốt hơn Kết quả sửdụng EM5 tỏi trộn vào thức ăn ở CT1 đã cho kết quả tốt hơn cụ thể là: tômnuôi ở CT1 tăng trưởng nhanh hơn đồng thời tỷ lệ sống cũng cao hơn so vớicác ao nuôi tại CT2
3.2.1 Tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi.
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra tốc độ tăng trưởng định kỳ 10 ngày/lần,mỗi lần kiểm tra ngẫu nhiên 30 mẫu tôm nuôi mỗi ao để xác định khối lượng
và chiều dài tôm nuôi kết quả được thể hiện qua các bảng và hình sau:
3.2.1.1 Tăng trưởng về khối lượng tôm.