1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng

72 374 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Tác giả Phạm Thị Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Hiền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Sinh học thực nghiệm
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 889,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mất nước do vận động ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh hoá, sinh lý máu: - Nồng độ các chất điện giải trong máu Na+, K+, Ca++, Cl- tăng do trong quá trình vận động sẽ xảy ra hiện tượng

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tập luyện TDTT sự tiêu hao năng lượng và trao đổi chất của cơ thể lúc tập luyện lớn gấp 10-20 lần so với lúc nghỉ ngơi Phần lớn năng lượng tiêu hao cho hoạt động cơ bắp, phần khác cho quá trình chuyển hoá Lượng vận động tập luyện càng lớn, sinh nhiệt càng nhiều, thân nhiệt càng cao Do

đó để điều hòa thân nhiệt, cơ thể tăng thải nhiệt bằng tăng bài tiết mồ hôi, vì thế sẽ xảy ra tình trạng cơ thể mất nước và điện giải [4] Lượng nước mà cơ thể mất trong tập luyện có thể vượt quá 1 lít nước/1 giờ [22] Mất nước và điện giải sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tim mạch, giảm thể tích máu, giảm bài tiết nước tiểu, gây rối loạn chuyển hoá tế bào, làm tăng urê máu, gây đau và co cứng cơ [3], [4]

Sự bù đắp nước và điện giải trước và trong quá trình vận động là không

đủ để bù lại lượng chất lỏng đã bị mất nhất là trong điều kiện tập luyện với cường độ cao và khí hậu nóng ẩm [14] Ngoài ra, phục hồi sự mất nước sau tập luyện không chỉ yêu cầu bù lượng nước đã tổn hao mà còn cần tính đến bù

đủ điện giải đã mất Do vậy, để giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục cân bằng nước và điện giải, cần bù đắp một lượng nước và điện giải ngay sau vận động Một trong những yêu cầu để phục hồi được lượng nước đã mất sau tập luyện TDTT là lượng nước uống bù vào phải lớn hơn lượng nước đã tổn hao [4], [14], [34] Sau vận động do mất nước nhiều nên cơ thể mệt mỏi, cảm giác vị giác kém và việc uống nước để phục hồi cân bằng chất lỏng là khó khăn do vậy nếu nước khó uống sẽ hạn chế sự bù nước sau vận động Bởi vậy cảm quan của nước uống rất quan trọng vì nó sẽ kích thích vị giác của người uống giúp uống được nhiều hơn [34]

Tại Việt Nam theo khảo sát của Trung tâm dinh dưỡng và Sở TDTT thành phố Hồ Chí Minh, đa số vận động viên bù nước một cách tự phát do

Trang 3

khát chứ chưa ý thức rõ ràng về việc bù nước để phục hồi cân bằng chất lỏng cho cơ thể [7] Trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về bù dịch cho vận động viên sau vận động như “Đánh giá hiệu quả bù dịch của nước dừa với đồ uống giải khát chứa carbonhydrate và nước lọc [34] hay

“Phục hồi sự mất nước sau vận động với nước giải khát thông thường và nước tinh khiết” [26] Dù vậy, số lượng các nghiên cứu về vấn đề này còn ít, các loại dịch dùng để bù nước và điện giải sau vận động cũng chưa phong phú và đặc biệt là không thích hợp cho điều kiện ở Việt Nam Để làm phong phú thêm các nghiên cứu cho vấn đề này và đưa ra gợi ý cho việc lựa chọn, sử dụng một loại dịch phù hợp nhằm phục hồi tổn hao chất lỏng và điện giải sau

vận động chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả bù dịch sau

vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động của nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng

- So sánh hiệu quả bù dịch sau vận động giữa nước dừa non với dung dịch oresol và với nước khoáng

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lượng nước trong cơ thể

1.1.1 Hàm lượng nước trong cơ thể

Nước chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ thể, ở người trưởng thành nước chiếm khoảng 55 - 65% trọng lượng cơ thể và thay đổi theo tuổi, giới tính, thể trạng Ngay trong một cơ thể hàm lượng nước cũng thay đổi theo tổ chức và các cơ quan khác nhau [14]

Bảng 1.1 Tỷ lệ nước trong cơ thể trẻ em và người trưởng thành

Đối tượng (năm tuổi) % nước Trẻ em

Sơ sinh

1 tuổi6- 7 tuổi

755862

Nam trưởng thành

16- 30 tuổi31- 60 tuổi61- 69 tuổi

58,954,751,6

Nữ trưởng thành

16- 30 tuổi31- 91 tuổi

50,945,2

1.1.2 Phân bố nước trong cơ thể

Nước được phân bố đều khắp mọi tổ chức trong cơ thể và được chia làm hai khu vực:

- Nước trong tế bào chiếm khoảng 55% tổng lượng nước của toàn bộ cơ thể và chủ yếu là nước kết hợp

- Nước ngoài tế bào chiếm 45% tổng lượng nước của toàn bộ cơ thể và là nước tự do hay nước lưu thông Nước ngoài tế bào được chia làm hai loại:

Trang 5

Nước trong mạch máu và nước ở gian bào Giữa hai phần được phân cách bởi thành mạch máu; thành mạch cũng cho nước đi qua một cách chọn lọc và kiểm soát chặt chẽ những chất hoá học đi qua Thể tích nước trong mạch máu

và trong tế bào tương đối hằng định Nước gian bào có thể tăng hoặc giảm để đáp ứng với tổng lượng nước trong cơ thể Trong trường hợp này phần lớn nước gian bào được coi như là một ‘‘vùng đệm’’, từ đó nước có thể vào trong

tế bào hoặc ra ngoài tế bào để cân bằng nồng độ nước giữa trong và ngoài tế bào Nước trong và ngoài tế bào bị phân cách bởi màng bán thấm của tế bào; màng này cho phép nước đi qua một cách có chọn lọc

Bảng 1.2 Sự phân bố nước trong cơ thể

Nước theo khu vực Tỷ lệ %

di chuyển của nước sẽ ngừng lại khi áp lực thẩm thấu của hai màng tế bào cân bằng nhau Như vậy nước có thể di chuyển qua màng tế bào một cách tự do nhằm cân bằng áp lực thẩm thấu trong và ngoài màng tế bào Đây là con đường cơ bản của việc tự điều hoà áp lực thẩm thấu của cơ thể, điều hoà nước giữa các khoang của cơ thể, giữa trong và ngoài tế bào

1.1.3 Chức năng của nước trong cơ thể

Trang 6

1.1.3.1 Là dung môi

Dung môi là một dung dịch lỏng để hoà tan nhiều chất hoá học khác nhau; nước là một dung môi sống Không có dung dịch nước rất ít các phản ứng hoá học có thể xảy ra, các chức năng sống của cơ thể không thể điều hoà

và thực hiện được Nhờ việc hoà tan vào dung môi trong hoặc ngoài tế bào

mà các chất hoá học của cơ thể sống có thể tồn tại và linh động thực hiện các chức năng trong cơ thể sống

Khi thực phẩm vào cơ thể, nó sẽ được tiếp xúc ngay với các dịch tiêu hoá (chứa nhiều nước) tại nước bọt, trong dạ dày, ruột non Thực phẩm được nhào trộn và phản ứng với các chất hoá học để thực hiện chức năng tiêu hoá Các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thu vào máu: Máu chứa khoảng 3 lít nước Nước trong mạch máu giúp cho máu có dạng lỏng và hoà tan các chất dinh dưỡng, để vận chuyển chúng đến các mô và tế bào của cơ thể Nước trong mách máu còn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển nhiều chất quan trọng khác như hoocmon, các kháng thể từ nơi tổng hợp đến tận cơ quan sử dụng chúng Những chất thừa sinh ra trong quá trình chuyển hoá như cacbon dioxit, urê… cũng được hoà tan trong nước của máu và được chuyển đến thận

và phổi để vận chuyển ra ngoài Những sản phẩm thừa của quá trình chuyển hoá trong tế bào sẽ đi theo con đường ngược lại để ra khỏi tế bào Nước trong

tế bào là một môi trường để các chất dinh dưỡng tham gia vào các phản ứng sinh hoá nhằm xây dựng và duy trì tế bào Nước cũng là môi trường để các chất chuyển hoá được vận chuyển từ các cơ quan khác nhau trong tế bào, tạo nên môi trường thuận lợi cho các phản ứng xảy ra trong tế bào

Nước đóng vai trò quan trọng trong việc trong việc duy trì cấu trúc và hình dạng của màng tế bào Sự tương tác chọn lọc giữa phân tử nước và phần

ưa nước của màng tế bào tạo nên một lực đẩy chuỗi hydrocacbon kị nước tạo nên và duy trì cấu trúc của màng tế bào

Trang 7

1.1.3.2 Chất phản ứng

Các chất tham gia vào phản ứng hoá học được gọi là chất phản ứng Nước là một chất phản ứng tham gia vào các phản ứng khác nhau của cơ thể Trong quá trình phản ứng, phân tử nước thường bị phân tách, cho nguyên tử

H, ion H+, nguyên tử O, ion O2-, nhóm OH hoặc OH- tham gia vào các phản ứng hoá học của cơ thể

Trong phản ứng thủy phân các phần tử có trọng lượng lớn như polysacchariede, chất béo, đạm được phân cắt thành các phần tử nhỏ hơn khi phản ứng với nước Trong quá trình thủy phân, ion H+ từ nước được tách ra và gắn vào các phần tử nhỏ mới tạo thành, trong khi đó phần OH- còn lại sẽ gắn với các sản phẩm khác của phản ứng Nước còn tham gia vào nhiều sản phẩm khác của các phản ứng trong tế bào

1.1.3.3 Chất bôi trơn

Các dung dịch lỏng có tính bôi trơn do chúng dễ dàng bao phủ lên các chất khác, nước có tác dụng bôi trơn các cơ quan quan trọng của cơ thể, đặc biệt là nơi tiếp xúc các đầu nối, bao hoạt dịch và màng bao, tạo nên sự linh động tại đầu xương và sụn, màng phổi, cơ hoành và miệng

1.1.3.4 Điều hòa nhiệt độ

Nước có một vai trò quan trọng trong việc điều hòa nhiệt độ cho cơ thể Nhiệt sinh ra do quá trình chuyển hoá, oxy hoá sinh năng lượng của các chất dinh dưỡng Năng lượng sinh ra có tác dụng duy trì nhiệt độ của cơ thể ở 370C

và giúp cơ thể thực hiện các hoạt động thể lực Nhiệt sinh ra thường vượt quá nhu cầu duy trì nhiệt độ của cơ thể, nhiệt thừa sẽ được toả ra ngoài theo đường truyền trực tiếp hoăc phát nhiệt, một trong những cách toả nhiệt có hiệu quả là qua đường hô hấp hoặc qua da Khi nước bay hơi từ dạng nước sang dạng hơi, chúng hấp thụ và mang theo nhiệt Bay hơi 1 lít qua đường mồ hôi của da làm mất 580 kcal nhiệt lượng của cơ thể Trong điều kiện bình thường, cơ thể tự làm lạnh bằng bay mồ hôi qua da, tương đương 25% năng lượng chuyển hoá

Trang 8

cơ bản Khi mất 350 - 700ml mồ hôi /ngày trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm bình thường được gọi là bài tiết mồ hôi không cảm thấy.

1.1.3.5 Nước cung cấp nguồn chất khoáng cho cơ thể

Dù thành phần của nước là hydro và oxy, nhưng nước mà chúng ta sử dụng hàng ngày chứa một lượng đáng kể các chất khoáng: Canxi, magiê, mangan, natri, đồng, flo Tỷ lệ các chất khoáng này phụ thuộc vào nguồn nước và các nhà sản xuất Nước cứng là nước có chứa từ 50 mg canxi/lít và 120mg magiê/lít; nước mềm là nước có chứa thấp hơn các chất khoáng trên nhưng lượng natri cao hơn 250 mg/lít

Các chất khoáng trong nước có lợi cho cơ thể nhưng cũng có thể có hại cho sức khoẻ Hai lít nước cứng có thể cung cấp trên 240mg magiê, chiếm 2/3 nhu cầu đề nghị hàng ngày Tiêu thụ nước cũng có liên quan đến việc giảm các bệnh tim mạch Nước mềm có chứa trên 250mg natri/lít, khi tiêu thụ nước mềm có thể liên quan tới việc tăng huyết áp và bệnh tim mạch Vì nước là dung môi hoà tan nhiều chất khoáng và tham gia vào các phản ứng hoá học trong cơ thể, nó cũng có thể là dung môi mang nhiều chất độc như chì, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất thải công nghiệp Do vậy, việc theo dõi giám sát chất lượng nước cung cấp cho cơ thể là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng

1.1.4 Nhu cầu nước của cơ thể

Cơ thể hàng ngày cần khoảng 2 lít nước từ thực phẩm và đồ uống để bù lại lượng nước mất qua các con đường khác nhau Ngay trong những điều kiện mất nước ít nhất, lượng nước cung cấp cũng cần khoảng 1,5 lít Nhu cầu này phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể, lứa tuổi điều kiện sống, chế độ làm việc và chế độ hoạt động TDTT của mỗi người Ở người lớn nhu cầu nước vào khoảng 35 g/kg trọng lượng cơ thể trong 24 giờ Trẻ em nhu cầu nước gấp 3 - 4 lần người lớn

Bảng 1.3 Cân bằng nước ở người trưởng thành

Nguồn nước đưa vào cơ thể Số lượng(ml)

Trang 9

1900- 2500 Mất nước Số lượng(ml)

300- 500200

1900- 2500

1.1.5 Nguồn nước cung cấp cho cơ thể

Nước được đưa vào cơ thể bằng ba con đường chính: Nước uống, từ thực phẩm và nước còn được cung cấp từ chính các sản phẩm của quá trình chuyển hoá trong cơ thể

Bảng 1.4 Các con đường đưa nước vào cơ thể

Hấp thu Số lượng ml nước/ ngày % tổng lượng nước

Trong đó nước biến dưỡng có nguồn gốc từ [15]:

- 100 gam chất béo đốt cháy bởi sự oxy hoá cho ra 107 gam nước

- 55 gam đường và đạm cho ra 41 gam nước

Trẻ em cần một lượng nước nhiều hơn người lớn Người sống ở xứ nóng tiêu thụ nước nhiều hơn người sống ở xứ lạnh do nước bị bay hơi để toả nhiệt nhiều hơn Những người làm việc thể lực nhiều hơn sẽ tiêu thụ nhiều nước

Trang 10

hơn Lượng nước tiêu thụ hằng ngày ở người trưởng thành từ khoảng 900ml đến 1500ml, trung bình 1100ml trong điều kiện bình thường, chiếm 55% lượng nước cung cấp hàng ngày Những đồ uống chứa cồn, trà, cà phê là nguồn cung cấp nước cho cơ thể nhưng nó có tác dụng lợi tiểu nên chúng làm tăng tốc độ mất nước qua da và thận.

Những thực phẩm hàng ngày khác cũng có thể chứa tới 96% nước, đại

đa số chiếm trên 50% trọng lượng nước, cung cấp 30% lượng nước hàng ngày cho cơ thể Một chế độ ăn cung cấp 2000 kcal từ thực phẩm rắn cũng cung cấp khoảng 500- 800ml nước

Nước sinh ra từ quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng của cơ thể cũng

là nguồn đáng chú ý, chiếm 15% (khoảng 269 ml) lượng nước cung cấp hàng ngày (13,5ml/100 kcal)

Bảng 1.5 Nước sinh ra từ các sản phẩm chuyển hoá với chế độ ăn 2000kcal

Nguồn kcal % Kcal Kcal trong

2000 kcal

Trọng lượng thức ăn (g)

Nước sinh

ra (ml/g)

Tổng nước sinh ra (ml/200 kcal)

1.2 Các chất điện giải trong cơ thể

1.2.1 Phân bố chất điện giải trong cơ thể

Cơ thể có thể thực hiện môt số chức năng kiểm soát cân bằng thẩm thấu Một trong những chức năng quan trọng nhất là kiểm soát chuyển động của nước phối hợp với nồng độ của một số ion trong và ngoài màng tế bào Các ion này tồn tại tự do trong các dung dịch của cơ thể nhưng khi chúng kết hợp với các phân tử trung tính sẽ tạo nên các dung dịch muối, thành phần có Na+,

Trang 11

Cl-, K+, Ca++ Các ion này khi hoà tan trong nước được gọi là các chất điện giải do chúng có tính dẫn điện Các chất điện giải có ở mọi nơi trong cơ thể nhưng chúng được chia thành 2 khu vực chính là trong và ngoài tế bào Ngoài

tế bào lại chia làm khu vực gian bào và khu vực lòng mạch

Bảng 1.6 Sự phân bố chất điện giải trong cơ thể

Chất Lòng mạch Gian bào Tế bào

1.2.2 Vai trò của một số chất điện giải trong cơ thể

1.2.2.1 Ion natri (Na + )

Na+ là ion chủ yếu của khu vực ngoại bào có vai trò rất quan trọng trong

sự cân bằng điện giải của cơ thể Cùng với Cl-, K+ mà Na+ bảo đảm đúng thành phần của nước bên trong tế bào, xung quanh tế bào và máu vì thế nó

Trang 12

đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ thần kinh và cơ bắp Na+ cũng

hỗ trợ cơ thể hấp thu glucose và một số axit amin từ ruột

Na+ tồn tại trong cơ thể chủ yếu là hóa hợp với Cl-, HCO3-, một phần kết hợp với axit hữu cơ và protein Na+ còn tồn tại ở gian bào và ở các dịch của cơ thể như: Máu, bạch huyết Na+ được thu nhận vào cơ thể chủ yếu dưới dạng muối NaCl

Gần như 100% Na+ được hấp thu qua ruột Khoảng 50% Na+ được tìm thấy trong máu và xung quanh tế bào 10% Na+ được tìm thấy trong tế bào và phần còn lại được tìm thấy ở dạng ký gởi trong trong xương Chuyển hóa Na+

chịu sự điều hòa của hoocmon tuyến thượng thận

Thường mỗi ngày một người trưởng thành cần khoảng 4 - 5g Na+ tương ứng với 10- 12,5g muối NaCl ăn được đưa vào cơ thể Đưa nhiều Na+ vào cơ thể là không có lợi Ở trẻ em trong trường hợp này thân nhiệt sẽ bị tăng lên cao ta gọi là sốt muối Na+ được thải ra ngoài theo đường nước tiểu (khoảng 45% Na+ đã được nhận vào) Na+ được thải ra theo mồ hôi không được nhiều Tuy vậy khi mà nhiệt độ xung quanh tăng lên cao, thì lượng Na+ sẽ mất đi theo mồ hôi là rất lớn Vì vậy, ta nên sử dụng dung dịch NaCl ưu trương để giảm bớt sự bài tiết mồ hôi

Trang 13

là do tác động của thuốc, K+ mà thải nhiều theo nước tiểu sẽ gây rối loạn các chức năng sinh lý của cơ tim K+ có vai trò rất quan trọng trong sự cân bằng điện giải trong cơ thể vì thế nó đóng trò quan trọng trong hoạt động của hệ thần kinh và cơ bắp Cân bằng K+ liên quan chặt chẽ với Na+ ở huyết tương cũng như ở thận.

1.2.2.3 Ion canxi (Ca ++ )

Ca++ là ion khoáng nhiều nhất của cơ thể (chiếm 2% trọng lượng cơ thể) Tổng lượng Ca++ của cơ thể là 1-1,5kg hay 10-20g/kg trọng lượng cơ thể Ca++ chiếm 99% ở trong xương dưới dạng muối phosphate hay muối carbonate, còn lại ở trong dịch ngoại bào Ca++ có ảnh hưởng đến nhiều phản ứng của các enzim trong cơ thể Ca++ có vai trò rất quan trọng trong quá trình đông máu, tham gia vào thành phần cấu tạo của hệ xương, trong hoạt động của hệ cơ và

hệ thần kinh nói chung Hàng ngày, cơ thể nhận 800 - 3000mg Ca++, 1/3 lượng Ca++ của cơ thể được hấp thu qua ruột non một cách chủ động (tùy theo vitamin D) hay hấp thu một cách thụ động Bình thường lượng Ca++ trong máu là 8,5-10,2mg/dl và điều hòa nhờ hoomon tuyến phó giáp

1.2.2.4 Ion clo (Cl - )

Cl- tồn tại trong cơ thể chủ yếu dưới dạng muối NaCl và một phần ở dạng muối KCl Cl- còn có trong dịch vị ở dạng HCl Khi cơ thể nhận được nhiều muối ăn thì Cl- sẽ được dự trữ dưới da Cl- được đào thải ra ngoài cơ thể theo nước tiểu, phân và một ít theo mồ hôi Cl- tham gia vào quá trình cân

Trang 14

bằng các ion trong tế bào và bảo đảm đúng thành phần của nước bên trong, xung quanh tế bào và máu Nếu thiếu Cl- cơ thể sẽ kém ăn và nếu thừa Cl- thì

có thể gây ngộ độc cho cơ thể Bổ sung Cl- cho cơ thể chủ yếu là dưới dạng muối NaCl Mỗi ngày mỗi người cần khoảng 10 – 12,5g NaCl

1.2.3 Nguồn gốc của các chất khoáng trong cơ thể

Do nguồn thức ăn từ động vật và thực vật đưa vào Mỗi loại thức ăn có một hàm lượng chất khoáng khác nhau Do đó muốn cơ thể được cung cấp đầy đủ các chất khoáng thì phải ăn các loại thức ăn đa dạng

1.2.4 Sự đào thải chất khoáng của cơ thể

Các chất khoáng được đào thải ra ngoài chủ yếu theo nước tiểu, mồ hôi

và phân Khi hoạt động cơ bắp, cùng với sự mất nhiều nước cơ thể còn mất đi một lượng lớn chất khoáng trong đó đặc biệt là Na+ và K+ Cũng như nước, từng chất điện giải được hấp thu và đào thải cân bằng nhau Thừa ứ hay thiếu hụt chúng trong cơ thể đều có thể gây những rối loạn Khi vào cơ thể, trong các dịch, các chất điện giải có xu hướng làm tăng áp lực thẩm thấu gây cảm giác khát làm cho cơ thể phải hấp thụ một lượng nước thích hợp để đưa áp lực thẩm thấu trở về đẳng trương Ví dụ đưa vào cơ thể 9g NaCl, cảm giác khát sẽ giúp ta uống vào 1 lít nước [15] Đó là cách thích nghi tạm thời về cơ bản, để khỏi tích lũy lớn lượng chất khoáng cơ thể sẽ thải chúng qua thận

1.3 Sự trao đổi nước và điện giải của cơ thể

1.3.1 Trao đổi nước và điện giải qua màng tế bào

Màng tế bào có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động tế bào và tham gia trực tiếp vào mọi quá trình chuyển hoá tế bào Màng tế bào được cấu tạo bởi lipoprotein, trên màng tế bào có lỗ nhỏ (đường kính 5,5–8,0 A0 ) để cho các chất có thể qua màng theo cách khuyếch tán thông thường Ở mặt trong của màng tế bào có hệ thống men và có thể có các chất vận chuyển trung gian (bản chất chưa rõ) để vận chuyển tích cực các chất đi ngược bậc

Trang 15

thang nồng độ (đó là hệ thống bao gồm ATPaza, ATP và chất vận chuyển trung gian) Sự trao đổi nước và điện giải qua màng tế bào rất phức tạp, còn nhiều điểm chưa rõ Màng tế bào ngăn cách giữa lòng mạch và tế bào không

để cho các ion tự do khuyếch tán qua do vậy thành phần điện giải giữa hai khu vực này khác hẳn nhau nhưng tổng lượng chúng lại tương tự nhau nên áp

lự thẩm thấu giữa hai bên vẫn ngang nhau Nếu áp lực thẩm thấu chênh lệch thì nước sẽ trao đổi để lập lại sự cân bằng về áp lực thẩm thấu Bình thường mặt trong tế bào tích điện âm, nên để các ion trái dấu qua và đẩy các ion cùng dấu ra, các ion nhiều hoá trị như HPO4 , SO4 là những ion không khuyếch tán được và bị giữ trong tế bào

Các ion Cl-, HCO3- không vào được bên trong tế bào vì chúng cùng dấu với màng tế bào Tuy nhiên riêng với Cl- trong điều kiện hoạt động, điện tích của màng tế bào thay đổi thì lúc đó Cl- có thể vào trong tế bào cùng với Na+ Ion K+ trong tế bào có thể ra dịch gian bào dễ dàng (vận chuyển thụ động) còn khi từ ngoài vào trong tế bào do ngược với bậc thang nồng độ nên

sự xâm nhập có khó khăn và phải vận chuyển tích cực (trong quá trình này có tiêu thụ ATP)

Về ion Na+ màng tế bào không chỉ thấm riêng đối với K+ mà còn cả đối với Na+ (đồng thời kèm theo cả vận chuyển đường, axit amin vào trong tế bào) còn khi từ trong tế bào ra ngoài ngược với bậc thang nồng độ, Na+ cũng như K+ được vận chuyển tích cực nhờ “bơm Na – K” Tóm lại, các ion qua màng tế bào tương đối khó khăn, phức tạp, chậm chạp và tiêu hao năng

lượng Còn nước thì qua lại rất dễ dàng, cho nên sự trao đổi nước và điện giải

ở đây chủ yếu và thực chất là quá trình di chuyển nước giữa trong và ngoài tế bào Nước vận chuyển qua màng tế bào là do sự chênh lệch áp lực thẩm thấu giữa 2 khu vực: Bên nào áp lực thẩm thấu cao (chủ yếu là do nồng độ Na+

Trang 16

quyết định) thì nước sẽ di chuyển về bên đó (ưu trương ngoại bào) gây mất nước tế bào, trái lại nhược trương ngoại bào gây ngấm nước vào tế bào.

1.3.2 Trao đổi nước và điện giải qua thành mao mạch

Thành mao mạch là màng ngăn cách giữa gian bào và lòng mạch Màng này với những khe, lỗ nhỏ cho phép nước, ion và các phần tử nhỏ (M<68.000) khuếch tán qua lại tự do Vì vậy bình thường protein trong lòng mạch cao hơn hẳn trong dịch gian bào, còn thành phần điện giải thì tương tự nhau Trên thực

tế, thành phần điện giải giữa chúng có hơi khác nhau vì do protein mang điện tích âm nên đã đẩy một số anion sang gian bào (Cl-, HCO3-) và hấp dẫn một số cation (Na+, Ca++) Tuy vậy khi cân bằng Donnan đã xác lập thì tổng lượng điện giải giữa hai khu vực vẫn tương đương, do đó áp lực thẩm thấu 2 bên vẫn bằng nhau (đẳng trương) Khi mất cân bằng về khối lượng nước và điện giải xảy ra giữa hai khu vực này thì có sự trao đổi cả nước lẫn điện giải để lập lại cân bằng

Vai trò của áp lực thủy tĩnh và áp lực thẩm thấu keo trong trao đổi nước giữa hai khu vực là rất quan trọng: Đầu mao mạch luôn có dòng nước đi ra gian bào và cuối mao mạch liên tục có dòng nước từ gian bào đi vào lòng mạch vì số mao mạch rất lớn nên lượng nước trao đổi nói trên lên tới hàng nghìn lít mỗi ngày

Cơ chế của hiện tượng trên là tim trái co bóp tạo ra một áp lực máu (áp lực thủy tĩnh), áp lực này giảm dần khi càng xa tim Đến đầu mao mạch áp lực này còn 40mm Hg, rồi 28mm Hg và 16mm Hg ở cuối mao mạch, nó có xu hướng đẩy nước ra gian bào Protein trong lòng mạch (chủ yếu do albumin đảm nhiệm) tạo ra một áp lực thẩm thấu keo đạt giá trị 28mm Hg có xu hướng kéo nước từ gian bào vào Sự cân bằng giữa 2 áp lực làm cho lượng nước thoát ra khỏi mao mạch tương đương lượng nước được kéo vào Một lượng nước rất nhỏ (3 - 5 lít) không về mao mạch ngay mà theo đường bạch huyết

Trang 17

về tuần hoàn chung Khi cân bằng giữa áp lực thẩm thấu - keo và áp lực thủy tĩnh bị thay đổi hay mao mạch tăng thấm với protein thì cân bằng vận chuyển nước và điện giải ở mao mạch sẽ bị phá vỡ dẫn đến trao đổi nước và điện giải qua thành mao mạch bị rối loạn.

1.4 Sự mất nước của cơ thể

Mất nước xảy ra khi mất cân bằng giữa lượng nước nhập và xuất hoặc cung cấp nước không đủ cho cơ thể hay do mất nước ra ngoài quá nhiều [15]

1.4.1 Nguyên nhân gây mất nước cho cơ thể

1.4.1.1 Mất nước do mồ hôi

Lượng mồ hôi thay đổi rất lớn dao động từ 0,2 - 1 lít/24 giờ Mất nước

do mồ hôi phụ thuộc vào thời tiết, điều kiện lao động và cường độ lao động

Mồ hôi có tính chất nhược trương nhưng nồng độ các chất điện giải cũng rất dao động trong đó Na+: 10 - 80mEq, Cl-: 5 - 65mEq tùy thuộc vào sự thích nghi rèn luyện của cơ thể Trong những trường hợp đặc biệt như lao động nặng trong điều kiện nóng ẩm và ít thông khí, mồ hôi có thể mất 3 - 4 lít/ giờ [4], [14] Sự bù đắp nước trong mất mồ hôi thường dễ dàng bằng đường uống, nhưng khi mất 5 lít mồ hôi trở lên thì dù cơ thể đã thích nghi nhưng lượng muối mất đi cũng đáng kể, cho nên ngoài nước vẫn phải bù đắp thêm muối Nếu chỉ bù riêng nước sẽ gây tình trạng mất nước nhược trương cho cơ thể

1.4.1.2 Mất nước do sốt

Khi sốt thân nhiệt tăng quá trình chuyển hóa các chất, chuyển hóa năng lượng tăng, hoạt động các cơ quan tăng dẫn đến nhu cầu O2 tăng, lượng CO2 cần đào thải tăng do đó họat động hô hấp (thở) tăng Nhiệt độ tăng làm độ bão hòa hơi nước trong hơi thở cũng tăng Khi sốt lượng nước mất theo hơi thở có thể gấp 10 lần bình thường (cơn sốt 400C kéo dài 4 giờ có thể làm mất 5- 7 lít nước) Cuối cơn sốt cơ thể còn mất 1-3 lít mồ hôi [15] Như vậy trong sốt,

Trang 18

mất nước chủ yếu theo đường hô hấp và sau là mồ hôi Sốt gây tình trạng mất nước ưu trương.

1.4.1.3 Mất nước do nôn

Trong khi nôn cơ thể bị mất nước và muối nhưng khó bù lại bằng đường uống Đặc biệt là ở phụ nữ có thai và trẻ nhỏ do quá trình chuyển hóa mạnh nên dễ dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng

1.4.1.4 Mất nước do thận

Gặp trong đái nhạt, việc bù khối lượng nước và điện giải tương đối dễ dàng, ít gây rối loạn về chuyển hóa điện giải và thăng bằng axit - bazơ

1.4.1.5 Mất nước do ỉa chảy

Khi bị ỉa chảy cơ thể mất nước nhanh, nhiều qua phân Ở người lớn nếu mất từ 5% trọng lượng cơ thể trở đi là bắt đầu có biểu hiện rối loạn Ở trẻ nhỏ mức độ mất nước tính theo kilogam cân nặng Mức độ mất nước sẽ nặng dần khi trẻ bị mất từ 25 - 100 g/kg

1.4.2 Phân loại

1.4.2.1 Theo mức độ

Dựa vào trọng lượng cơ thể khi bị mất nước để đánh giá mức độ mất nước của cơ thể Mất nước mà trọng lượng cơ thể giảm 5% thì các dấu hiệu rối loạn bắt đầu xuất hiện Bởi vậy về mức độ người ta phân loại căn cứ vào lượng nước đã mất ở một người nặng 60kg nếu [15]:

* Mất dưới 4 lít (mất nước độ I) cảm giác khát của cơ thể xuất hiện sớm nhất và quan trọng nhất ngoài ra không còn dấu hiệu nào khác

* Mất từ trên 4 - 6 lít (mất nước độ II) cơ thể khát nhiều, suy nhược, miệng và lưỡi khô, khó nuốt do thiếu nước bọt, thiểu niệu, khả năng lao động vẫn còn Sốt là dấu hiệu toàn thân quan trọng nhất và đặc biệt là của mất nước

tế bào

Trang 19

* Mất từ trên 6 - 8 lít (mất nước độ III) các triệu chứng kể trên của cơ thể nặng hơn, khả năng lao động (trí óc và chân tay) giảm sút, phát sinh nhiều rối loạn thần kinh và tâm thần (vật vã, vô cảm, chuột rút, ngủ lịm, ảo giác, hôn mê) Tất cả các triệu chứng này là do mất nước tế bào, đặc biệt là tế bào thần kinh trung ương nhạy cảm nhất đối với rối loạn chuyển hoá nước Và người ta coi rằng giảm 1kg coi là mất nước, khi mất 20- 25% lượng nước (trên 8 lít) thì rất nguy hiểm cho cơ thể.

1.4.2.2 Căn cứ lượng chất điện giải mất kèm theo nước

* Mất nước ưu trương: Khi mất nước nhiều hơn mất chất điện giải sẽ gây ra tình trạng mất nước ưu trương trong cơ thể, có thể gặp các trường hợp: Mất nước do đái nhạt, do sốt, do mồ hôi, tiếp nước không đủ cho người mất nước Hậu quả là không những giảm khối lượng nước ngoại bào mà còn giảm lượng nước nội bào (do nước bị kéo ra ngoại tế bào) Điều này sẽ khiến cơ thể rơi vào cảm giác khát nước dữ dội

* Mất nước đẳng trương: Thường do nôn, ỉa lỏng, mất máu…ở những trường hợp này cơ thể mất đồng thời cả nước và chất điện giải Tình trạng kéo dài sẽ đẫn đến trụy tim mạch, hạ huyết áp và nhiễm độc thần kinh

* Mất nước nhược trương: Khi lượng chất điện giải mất nhiều hơn nước, làm cho dịch cơ thể thành nhược trương mà hậu quả là nước ngoại bào xâm nhập vào tế bào gây phù tế bào, đó là các trường hợp: Suy thận trường diễn, bệnh addison Hoặc còn do sai lầm trong điều trị do mất mồ hôi nhiều mà chỉ

bù bằng nước không kèm muối, tiếp nước (glucose) có quá ít điện giải cho người mất nước đẳng trương, rửa dạ dày quá lâu bằng dịch nhược trương Hậu quả sẽ là Na+ ngoại bào giảm, nước gian bào vào tế bào, màng tế bào sẽ

để K+ thoát ra ngoài

Trang 20

1.4.2.3 Dựa vào khu vực mất nước

* Mất nước ngoại bào: Gặp trong đa số các trường hợp vì khu vực ngoại bào trực tiếp trao đổi nước với môi trường Triệu chứng nổi bật là giảm khối lượng tuần hoàn (giảm 1/3 là nguy hiểm, giảm 2/3 thường dẫn đến tử vong) Huyết áp giảm có thể đưa đến trụy tim mạch, do giảm hoặc ngừng bài tiết ở thận gây nhiễm độc Lưu lượng tuần hoàn giảm gây thiếu oxy, gan giảm chức năng chống độc, não thiếu oxy và dẫn đến nhiễm độc thần kinh

* Mất nước nội bào: Nước trong tế bào kéo ra ngoài do tình trạng ưu trương ngoại bào Tình trạng này gặp khi bù không đủ nước trong sốt, trong

mổ ống tiêu hóa, giảm chức năng thận làm giữ lại Na+, ưu năng thượng thận gây tăng aldosteron, đái nhạt… Tùy mức độ biểu hiện bằng các dấu hiệu:

- Khát: Khi mất 2,5% dịch nội bào

- Mệt mỏi, khô miệng, thiểu niệu khi mất 4 - 7%

- Buồn ngủ, chuột rút, ảo giác, tăng thân nhiệt, mê man khi mất 7 - 14%

1.4.3 Các con đường mất nước của cơ thể

1.4.3.1 Qua nước tiểu

Nước tiểu chiếm 97% lượng nước đào thải hàng ngày do máu được lọc qua thận với tốc độ 125 ml/phút tạo nên Trước khi được thải ra khỏi cơ thể, nước còn được tái hấp thụ tại thận nhằm đảm bảo thể tích máu ổn định Lượng nước tiểu đào thải trung bình 1 - 2 lít/ngày, phụ thuộc vào lượng nước cung cấp qua đường ăn và uống

Hàng ngày cần phải có một lượng tối thiểu nước tiểu khoảng 300- 500ml, được bài tiết cùng với các sản phẩm chuyển hoá của cơ thể Khi lượng nước tiểu thấp hơn lượng tối thiểu thì những sản phẩm chuyển hoá có thể tích trữ lại trong máu và gây hại cho cơ thể Thận của trẻ em chưa hoàn thiện các chức năng trong việc bài tiết các chất điện giải, vì vậy khi cung cấp một lượng

Trang 21

thừa Na+ hoặc khi ăn khẩu phần chứa quá đặc hoặc quá loãng các vi khoáng

có thể gây nên quá tải cho thận trẻ em

1.4.3.3 Qua phổi

Nước bị mất liên tục qua phổi trong quá trình thở, bình quân khoảng 300 ml/ngày Trong điều kiện khí hậu khô nóng lượng nước mất qua phổi và da có thể nhiều hơn qua đường nước tiểu

1.4.3.4 Qua phân

Mỗi ngày có khoảng 8 - 10 lít nước được bài tiết vào đường tiêu hoá Hầu hết các dịch này được tái hấp thụ, chỉ còn khoảng 200ml được bài tiết qua phân hàng ngày Lượng dịch bài tiết hàng ngày phu thuộc vào lượng nước

có trong thực phẩm Nước bọt được bài tiết nhiều nhất khi thức ăn khô, ít nhất khi thức ăn chứa nhiều nước Lượng dịch tiêu hoá của dạ dày, tụy, ruột cũng

có thể thay đổi phụ thuộc vào lượng nước trong thực phẩm Lượng mật bài tiết phụ thuộc vào lượng mỡ có trong thực phẩm

Tiêu chảy cũng làm mất một lượng nước đáng kể của cơ thể qua đường phân, nôn Tình trạng mất nước sẽ gây nguy hiểm nếu như không bồi phụ kịp thời Na+ và nước

1.4.4 Mất nước trong thể thao

1.4.4.1 Quá trình mất nước

Trong hoạt động thể lực, mức sinh nhiệt có thể tăng lên gấp 20 lần [4], [14] do tăng chuyển hóa trong các cơ hoạt động và một phần do chính các

Trang 22

chuyển động cơ học của cơ Sự tăng sản nhiệt trong hoạt động cơ bắp làm cho thân nhiệt tăng lên Sự tăng nhiệt độ đó, một mặt là kết quả của hoạt động nhưng mặt khác nó cũng có tác dụng đảm bảo cho các phản ứng sinh hóa xảy

ra thuận lợi hơn, làm cho cơ thể nhanh chóng thích nghi với cường độ vận động Tuy nhiên nhiệt sinh ra thường vượt quá nhu cầu duy trì nhiệt của cơ thể, lượng nhiệt này có thể làm cho nhiệt độ của cục bộ của cơ thể lên tới

420C Nếu không có cơ chế thải nhiệt đặc biệt thì trong hoạt động thân nhiệt

về lý thuyết sẽ tăng lên 100C - 150C Như vậy cần phải có một quá trình thải nhiệt để nhiệt lượng sinh ra bên trong cơ thể giữ được ổn định Nhiệt năng được thải ra khỏi cơ thể bằng hai cách: Truyền nhiệt và bay hơi nước Tuy nhiên phương pháp thải nhiệt bằng bay hơi nước có vai trò quan trọng hơn khi nhiệt độ môi trường bên ngoài tăng cao, trong trường hợp đó phương thức thải nhiệt bằng truyền nhiệt bị hạn chế rất nhiều Theo Volpert trong môi trường nhiệt độ 350C - 400C thải nhiệt bằng bay hơi chiếm tới 100% nhiệt tỏa

ra khỏi cơ thể

Thải nhiệt bằng bay hơi nước xảy ra dựa trên cơ sở là khi chuyển từ thể lỏng sang thể khí nước sẽ thu nhiệt vào Một lít nước khi bay hơi từ cơ thể sẽ mất của cơ thể một lượng nhiệt bằng 580 kcal [4], [14]

Trong cơ thể nước bay hơi từ da và đường hô hấp Nước bay hơi ở đường hô hấp do niêm mạc đường hô hấp tiết ra để làm ẩm không khí trước khi đi vào phế nang Lượng nhiệt thải ra theo hơi nước từ đường hô hấp phụ thuộc vào thông khí phổi, nhưng nói chung không có ý nghĩa quan trọng trong thải nhiệt của người Ở nhiệt độ môi trường 300C tỷ lệ nhiệt thải ra theo đường hô hấp chỉ chiếm 1/50 so với bay hơi nước ở da

Nước bay hơi ở da dưới hai dạng là thấm nước qua da và bài tiết mồ hôi Trung bình một ngày một đêm lượng nước thấm qua da từ 250 đến 500ml và

Trang 23

gần như không đổi theo nhiệt độ không khí Vì vậy nó cũng không có vai trò quan trọng trong phản ứng thải nhiệt của cơ thể.

Lượng mồ hôi bài tiết ra trong một giờ thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thân nhiệt Khi môi trường lạnh, mồ hôi có thể hoàn toàn không bài tiết ra và có thể bài tiết tới 2,5 - 3 lít/giờ khi hoạt động cơ nặng và khí hậu nóng Cùng với sự thay đổi lượng mồ hôi đó, lượng nhiệt bị thải ra khỏi cơ thể cũng thay đổi theo Mồ hôi chỉ giúp cho cơ thể thải nhiệt khi bay hơi trên da Nếu lượng mồ hôi này không bay hơi mà chỉ chảy trên bề mặt da thì không xảy ra hiện tượng giảm thân nhiệt, mà lượng mồ hôi có thể bay hơi lại phụ thuộc vào độ ẩm của không khí và sự đối lưu của chúng, tức là phụ thuộc vào tốc độ gió

1.4.4.2 Hậu quả của mất nước trong thể thao

Sự mất nước bắt đầu từ nhẹ đến nặng, khởi đầu là nước ở gian bào giảm trong trường hợp này chỉ cần uống nước vào cơ thể là trở lại bình thường Trường hợp nặng, nước ở gian bào và nội bào bị mất đưa đến sự giảm bài tiết nước trong cơ thể Trong trường hợp cơ thể mất 500ml nước sẽ đưa đến những ảnh hưởng sau:

- Giảm số lượng huyết thanh từ 3000ml xuống còn 2500ml

- Giảm tổng lượng máu trong cơ thể từ 5000ml xuống con 4500ml

- Số lượng huyết cầu trong máu lưu thông chậm vì bị đặc lại

- Đưa đến số lượng chất đạm trong máu gia tăng dẫn đến sự tăng thẩm thấu làm cho tế bào thiếu nước

- Làm mất một số lượng chất điện giải

Trang 24

Bảng 1.7 Những biểu hiện của cơ thể khi bị mất nước

% tổng lượng nước mất Biểu hiện cơ thể

2% ( 500ml) Khát nước, lơ mơ, ăn mất ngon và tiểu ít4% ( 1200ml) Buồn nôn, tim đập nhanh, huyết áp thấp, bí đái5% ( 1500ml) Mất tập trung, rối loạn chuyển hoá

10% ( 3000ml) Co cơ, mê man, đe doạ tính mạng

Trong hoạt động thể lực sự tăng sản nhiệt trong hoạt đông cơ bắp làm cho thân nhiệt tăng lên Khi nhiệt độ tăng 0,20C đã kích thích trung khu điều nhiệt làm tăng tiết mồ hôi Sự mất nước và điện giải qua mồ hôi có thể đạt tới

2 - 2,5 l/h [9], [22] Mặt khác trong khi vận động và thi đấu cơ thể mất một lượng nước tương đương với 2% trọng lượng cơ thể Trong mồ hôi nước chiếm 93 - 99% do vậy trong tập luyện mồ hôi mất đi có thể gây nên tổn hao chất lỏng cơ thể vượt quá 1 lít nước bằng 2% trọng lượng cơ thể qua việc đổ

mồ hôi Mất nước và chất điện giải sẽ làm ảnh hưởng đến hệ tim mạch, giảm thể tích máu, giảm bài tiết nước tiểu, gây rối loạn chuyển hóa tế bào làm tăng ure, gây đau cơ co cứng

Rối loạn do nóng là vấn đề thường gặp nhất ở vận động viên trong quá trình luyện tập và thi đấu Khi cơ thể hoạt động, chỉ có 20 - 25% năng lượng

dự trữ của glycogen hay chất béo chuyển sang hoạt động của cơ bắp, trong khi phần còn lại 70 - 80% bị mất đi dưới dạng nhiệt và dẫn đến tình trạng mất nước của cơ thể Cơ thể có thể tăng thân nhiệt lên 100C trong vòng từ 5 - 8 phút [9]

Hậu quả của việc mất nước tùy thuộc vào mức độ thiếu nước và thường được đánh giá bằng việc giảm trọng lượng cơ thể Cơ thể mất một lượng nước bằng 2% trọng lượng cơ thể đã ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tim mạch và

sự điều nhiệt Nhiệt độ tăng thêm 0,40C - 0,50C khi mỗi 1% trọng lượng cơ thể giảm đi Giảm 4% trọng lượng cơ thể làm giảm khả năng vận động mất

Trang 25

nước sẽ dẫn đến giảm thể tích máu, tăng nhịp mạch và tăng nhiệt, gây lo lắng, mệt mỏi, căng thẳng và giảm sút ý chí thi đấu Mất natri sẽ dẫn đến đau cơ co cứng, tiểu ít, giảm cân Tất cả những triệu chứng này biểu hiện mất nước từ 1-2% cân nặng cơ thể.

Mất nước ở mức độ nào cũng làm giảm thành tích đặc biệt rõ rệt nếu vượt quá 2% trọng lượng cơ thể Mất một lít nước nhịp mạch tăng 8 lần/ phút, cung lượng tim giảm 1lít /phút và nhiệt độ cơ thể tăng 0,30C Mất nước trên 10% trọng lượng cơ thể là nguy hiểm đến tính mạng [15]

Mất nước do vận động ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh hoá, sinh lý máu:

- Nồng độ các chất điện giải trong máu (Na+, K+, Ca++, Cl-) tăng do trong quá trình vận động sẽ xảy ra hiện tượng mất nước nhược trương (mất nước nhiều hơn mất muối) nên nồng độ các chất điện giải tăng lên do máu bị cô đặc

- Trong quá trình vận động để đáp ứng với nhu cầu vận động thì số lượng hồng cầu tăng lên làm nhiệm vụ vận chuyển oxy cho tổ chức và tế bào hoạt động Sự tăng hồng cầu trong vận động dẫn đến sự tăng hàm lượng Hb, Hct trong máu [4], [12], [16]

Mất nước do vận động ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh hoá nước tiểu: Sau khi vận động dẫn đến tình trạng mất nước của cơ thể kết quả là tỉ trọng nước tiểu và độ pH nước tiểu tăng do khi hoạt động cơ bắp thì trong cơ thể xảy ra quá trình phân bổ lại máu Lượng máu đi đến thận giảm nên lượng nước tiểu được tạo ra trong vận động được giảm đáng kể Bên cạnh việc cung cấp ít máu hơn cho thận, lượng nước trong hoạt động cơ bắp bị mất nhiều do mất mồ hôi sẽ làm cho tuyến yên tiết nhiều vazoprexin dưới tác dụng của hoocmon này, sự tái hấp thụ nước ở các ống thận được tăng cường vì vậy lượng nước tiểu lại càng giảm đi

Ngoài số lượng, trong hoạt động cơ bắp thành phần nước tiểu cũng thay đổi Việc tăng cường quá trình trao đổi chất làm cho hàm lượng các sản phẩm

Trang 26

axit và sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi đạm được thải thêm vào nước tiểu điều này dẫn đến tỉ trọng của nước tiểu sau vận động tăng Độ axit của nước tiểu tăng do nồng độ axit lactic và axit photphoric trong nước tiểu tăng do đó pH của nước tiểu nhỏ hơn 7 [4], [12], [14], [16].

Khi mất nước nhiều chức năng sinh lý của cơ thể và chức năng vận động giảm Cơ thể mất khoảng 2% thì năng lực sức bền giảm, mất 4% thì giảm sức bền và sức mạnh cơ, mất 7% nước sẽ gây ảo giác và mất 10% sẽ gây đột quỵ

và mất nhiều hơn nữa thì tuần hoàn máu yếu có thể dẫn đến tử vong Cơ sở sinh lý của vấn để này là: Mất nước thì lượng nước trong cơ thể giảm dẫn đến giảm lưu lượng tâm thu không đáp ứng được nhu cầu luyện tập của cơ thể Khi tập luyện cơ thể cần duy trì một lượng máu đầy đủ [6]

Khát nước, nước tiểu ít và vàng sậm, chuột rút là ba triệu chứng chiếm tỉ

lệ cao nhất sau tập luyện ở vận động viên Điều đó cho thấy sau vận động cơ thể rơi vào tình trạng mất nước và điện giải do vậy cần phải bù lượng nước và điện giải đủ cho vận động viên [7]

1.5 Phương pháp bù nước

Trong quá trình tập luyện TDTT thì tình trạng mất nước và chất điện giải qua mồ hôi dễ xảy ra Mất nước và chất điện giải sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tim mạch, giảm thể tích máu, giảm bài tiết nước tiểu, gây rối loạn chuyển hoá tế bào, làm tăng ure máu, gây đau và co cứng cơ [4], [22] Để giúp cơ thể mau chóng phục hồi cân bằng chất lỏng trong cơ thể nên bù đắp ngay một lượng nước sau vận động vì sự bù nước trước và trong quá trình tập luyện là không đủ để bù lại lượng nước đã mất nhất là trong điều kiện tập luyện với cường độ lớn và độ ẩm không khí cao

Theo Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Ngọc Cừ [2], Nguyễn Văn Quang [11] thì thời gian hồi phục sau vận động cũng là một trong những dấu hiệu phản ánh rõ nhất về tình trạng sức khỏe và sự tập luyện của mỗi người Bởi vậy

Trang 27

phục hồi tốt giúp cơ thể đáp ứng nhanh hơn đối với yêu cầu chiến thuật đề ra

Do vậy phục hồi tổn hao chất lỏng cho cơ thể sau vận động là rất cần thiết cho chức năng của tim mạch và điều chỉnh nhiệt trong khi luyện tập sau đó [34] Khi bổ sung lượng nước cần uống một lượng nước vừa đủ và cho uống cách quãng Có nghĩa là trong khi uống nên uống ít nước (150 - 200ml) và chia làm nhiều lần mỗi lần cách nhau 20 - 30 phút Đây là cách đưa nước từ từ vào cơ thể nhằm làm dung lượng máu của cơ thể không thay đổi đột ngột, nội môi cân bằng không tăng gánh nặng cho tim và dạ dày

1.5.1 Bù nước bằng đường uống

Khi tập luyện trong điều kiện môi trường nắng nóng với cường độ lớn và thời gian tập kéo dài thì cơ thể sẽ mất nhiều mồ hôi Trong trường hợp này cơ thể thiếu một lượng nước nhất định vì thế phải bổ sung kịp thời Về nguyên tắc trong điều kiện thời tiết nắng nóng, các đối tượng tập luyện TDTT được uống nước không hạn chế có thể uống nước chè xanh giải khát hoặc các loại hoa quả, nước khoáng, sữa và các sản phẩm làm từ sữa cũng có tác dụng giải khát đồng thời chúng còn chứa một lượng lớn muối khoáng và vitamin Trong các buổi tập thể thao căng thẳng và kéo dài vào mùa nắng nóng khi mồ hôi bài tiết ra nhiều nên cho các đối tượng tập luyện TDTT uống các loại nước lạnh nhược trương (dưới 2,5%) với đường để tạo ra sự tích nước nhất định trong cơ thể

Các loại dung dịch đường uống gồm :

- Oresol pha với nước đun sôi để nguội Dung dịch này thay thế (8 thìa

cà phê đường, một thìa nhỏ muối pha trong một lít nước hoặc nước cháo nấu

từ 50g gạo và khoảng 3,5g muối hoặc nước dừa non có pha một chút muối)

- Nước ép trái cây : 1 phần nước ép trái cây cộng với 2 phần nước

- Nước ép từ rau : Một phần nước ép rau cộng với một phần nước

- Nước tăng lực: 1 phần pha loãng với 3 - 4 phần nước

Trang 28

- Sử dụng nước uống thể thao: Nước uống thể thao là loại nước giải khát nhằm giúp các vận động viên chống mất nước, cũng như bổ sung các chất điện giải, đường và các dưỡng chất bị cạn kiệt sau những giờ luyện tập hoặc thi đấu căng thẳng Thành phần của nước uống thể thao ngoài thành phần chính là nước còn có carbohydrate giúp ngăn ngừa giảm đường huyết xuống dưới mức quá thấp, đồng thời giúp duy trì nguồn dự trữ trong cơ thể Trong nước uống thể thao carbohydrate ở nhiều dạng: Glucose, fructose, đường saccharose hay maltodexin và chúng được tính toán để phối hợp theo một tỷ lệ

cụ thể Chất điện giải Na+, K+ cũng với thành phần thích hợp, ngoài ra còn có các chất điều chỉnh độ chua, hương liệu, chất màu, chất bảo quản Nước uống thể thao có chứa protein tốt hơn trong việc cải thiện thành tích của vận động viên Nghiên cứu đăng trong tạp chí Hội dinh dưỡng thể thao quốc tế của BioMed Central đã chứng minh rằng nước uống có chứa hỗn hợp cacbonhydrate và protein thì tốt hơn nước uống chỉ có cacbonhydrate trong việc cải thiện sự hồi phục sau khi luyện tập của vận động viên xe đạp

1.5.2 Bù nước bằng đường truyền

Nhóm cung cấp các chất điện giải dùng trong trường hợp mất nước Đó là các dung dịch Lactate ringer, Natri clorua 0,9%, Natri bicarbonate 1,4%, dịch muối 0,9% hay dịch mặn (gồm nước và muối ăn) dùng để bù dịch cho cơ thể khi mất nước Độ mặn của dịch bằng độ mặn của máu Các loại dịch truyền hầu như

sử dụng trong mọi loại chỉ định đối với tình trạng mất nước của cơ thể

1.5.3 Bù nước bằng nguồn thức ăn

Trong các loại thức ăn cho người thì đã có tương đối đầy đủ các loại muối khoáng cần cho con người trừ muối NaCl Do đó cần phải bổ sung và cho thêm vào thức ăn hàng ngày [15]

1.6 Thực trạng mất nước sau vận động, tình hình nghiên cứu về bù dịch sau vận động ở Việt Nam và trên thế giới

Trang 29

1.6.1 Thực trạng mất nước sau vận động

Khi cơ thể chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái hoạt động vận động, cùng với tăng công suất hoạt động hệ cơ thì gây nên những biến đổi sinh lý mạnh của hệ tuần hoàn, hô hấp, bài tiết và sự chuyển hoá của cơ thể Đòi hỏi nguồn năng lượng cung cấp cho các cơ quan tham gia hoạt động vận động tăng lên, do đó chuyển hoá năng lượng được tăng cường Gần 75% năng lượng được tạo thành biến thành nhiệt độ cơ thể (thân nhiệt), do đó thân nhiệt tăng lên Để điều hòa nhiệt độ thì cơ thể phải tăng thải nhiệt bằng con đường

mồ hôi là chủ yếu Sau khi tập luyện TDTT thì cơ thể vẫn xảy ra tình trạng mất mồ hôi (mất nước và chất điện giải) do sau khi ngừng tập luyện sẽ có những biến đổi để đưa cơ thể về trạng thái trước vận động thông qua việc đào thải các sản phẩm trao đổi chất và phục hồi dự trữ các vật chất cấu trúc, năng lượng và các men đã bị tiêu hao trong thời gian hoạt động cơ bắp Mức độ mất nước của cơ thể phụ thuộc vào điều kiện tập luyện và công suất hoạt động Theo Kox [9] thì mức độ mất nước theo đường mồ hôi là khác nhau ở các nội dung tập luyện: Chạy, đi bộ, chèo thuyền, đá bóng và leo núi điều này được thể hiện qua bảng sau :

Bảng 1.8 Lượng mồ hôi thoát ra khi tập luyện một số môn thể thao

Môn thể thao Thời gian tập Lượng mồ hôi

Theo khảo sát do Trung tâm Dinh dưỡng và Sở TDTT thành phố Hồ Chí Minh khi bị mất nước thì trọng lượng cơ thể sụt trung bình 2,1% so với trọng lượng ban đầu Sau các buổi tập căng thẳng thì cơ thể sẽ có những triệu chứng chủ yếu sau [7] :

Trang 30

Như vậy thực trạng mất nước sau vận động được các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới nghiên cứu kỹ nhằm mục đích phục hồi tổn hao chất lỏng sau vận động một cách tốt nhất.

1.6.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam thì tình hình nghiên cứu bù dịch của cơ thể sau vận động đang là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học Tuy nhiên việc nghiên cứu chỉ mới tiến hành ở mức khảo sát các loại dịch mà vận động viên thường uống sau khi tập luyện tập như cuộc khảo sát do Trung tâm Dinh dưỡng và Sở TDTT thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tiến hành [7] Nội dung nghiên cứu tình trạng mất nước của vận động viên ở các bộ môn: Điền kinh, bơi lội, quần vợt, taekwondo tuyến dự tuyển, vận động viên bóng đá nữ quốc gia và vận động viên bóng đá tuyến năng khiếu tập trung Đã đưa ra kết quả cho thấy khi

bị mất nước các vận động viên thường sụt trung bình 2,1% so với trọng lượng ban đầu Thực tế chỉ cần mất 1% trọng lượng cơ thể cũng đủ ảnh hưởng xấu đến thành tích đỉnh cao Cuộc nghiên cứu còn đưa ra những kết quả đáng lo ngại hơn: Hầu hết vận động viên bù nước một cách tự phát do khát, chứ chưa

có ý thức rõ ràng về việc bù nước để nâng cao thành tích 100% nước uống cho các vận động viên tại sân tập là trà đá (rẻ tiền và dễ thực hiện) chứ không phải những loại có mùi vị thơm ngon, ướp lạnh theo khẩu vị ưa thích để họ uống được nhiều hơn Trong 4/5 bộ môn được khảo sát, huấn luyện viên

Trang 31

không cấm nhưng cũng không nhắc nhở vận động viên uống nước thường xuyên, nên chưa làm giảm được tình trạng mất nước Cụ thể đội tuyển bơi lội, sau 150 phút tập luyện căng thẳng dưới hồ bơi Yết Kiêu, nhiệt độ trung bình

27oC, thời tiết có mưa nhẹ và nắng vừa phải (theo các huấn luyện viên đây là loại thời tiết mát mẻ), thế nhưng vận động viên đã sụt cân dao động từ 1-2 kg Điều đáng nói là một số huấn luyện viên còn cấm vận động viên uống nước khi tập luyện vì sợ làm giảm khả năng thi đấu

Việc xác định loại dịch nào có thể bù đắp nhanh nhất lượng tổn hao chất lỏng sau vận thì hầu như chưa có nghiên cứu cụ thể nào Việc xác định các loại dịch cần bù sau vận động chủ yếu dựa vào cơ chế mất nước trong bệnh học Theo PGS TS Lê Quý Phượng - trung tâm y học TDTT [11] thì vận động viên phải được bổ sung nước một cách hợp lý trước trong và ngay sau khi tập luyện Nước trái cây là nguồn cung cấp năng lượng tốt nhất hoặc là là uống dung dịch glucose 8% rất có lợi cho vận động viên, đặc biệt là vận động viên ở các môn thể thao có thời gian tập luyện và thi đấu kéo dài hơn 90 phút Tiếp tục bù nước dựa trên sự căng cơ hay theo dõi nước tiểu, nếu đậm màu là thiếu nước

Như vậy việc nghiên cứu bù dịch sau vận động ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc điều tra khảo sát các loại đồ uống mà vận động viên thường uống trước, trong và sau qua trình vận động

1.6.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Bù dịch sau vận động là một vấn đề được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này

Một trong những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến sự mất dịch của cơ thể trong các môi trường nóng đã được tiến hành vào năm 1938, Adolph và Dill phân tích các tổn thất chất dịch thông qua nước tiểu trong tập thể dục trên

sa mạc (môi trường nóng và khô) kết quả cho thấy lượng nước tiểu giảm và tỉ

Trang 32

trọng nước tiểu tăng Trong chiến tranh thế giới thứ II thì nước dừa được sử dụng làm dịch truyền bởi thành phần của nước dừa giống với thành phần của dung dịch truyền lúc bấy giờ.

Theo nghiên cứu “Tác động của mất mồ hôi đến dịch cơ thể” của Kozlowski S, Saltin B (1964) thì thấy rằng mất mồ hôi thì sẽ dẫn đến mất một lượng nước và chất điện giải quan trọng của cơ thể [30]

Theo Costill DL, Sparks KE (1973) ông cho rằng cần phải nhanh chóng thay thế lượng chất lỏng bị mất ngay sau tập luyện trong môi trường nhiệt [23].Theo Chavalittamrong, Pidatcha, Thavisri (1982) ông tiến hành nghiên cứu hàm lượng các chất điện giải, đường, độ pH của nước giải khát và nước dừa thì ông thấy rằng trong nước dừa hàm lượng các chất điện giải, đường, độ

pH cao hơn trong nước giải khát [20]

Nghiên cứu của Gonzale- Alonzo và cs (1992) tiến hành bù dich sau vận động bằng nước lọc, coca cola và đồ uống có chứa carbohydrate thì thấy hiệu quả bù dịch sau vận động bằng đồ uống có carbohydrate là tốt nhất [26]

Theo nghiên cứu của Lamberts CP, Costill DL, McConell GK, Benedict

MA Lambert GP, Robergs RA, Fink WJ (1992) thì thấy rằng việc sử dụng đồ uống có chứa carbohydrate có tác dụng bù dịch tốt hơn đồ uống không chứa carbohydrate trong trưòng hợp cơ thể mất nước vì đồ uống có chứa carbohydrate làm tăng nồng độ glucose trong máu, nồng độ huyết tương và hàm lượng các chất điện giải tốt hơn so với đồ uống không chứa carbohydrate [32]

Nghiên cứu “ Tác động của Na+ trong đồ uống lên phục hồi sự mất nước trong tập luyện ở người đàn ông” của Maughan RJ, Leiper JB (1995) thì ông cho rằng lượng chất lỏng được hấp thụ vào cơ thể nhiều hay ít phụ thuộc vào nồng độ Na+ trong đồ uống [35]

Theo nghiên cứu của Campbell-Faick, Thomas, Faick TM, Clem K

Trang 33

(2000) thì cho rằng sử dụng nước dừa tươi như là một chất lỏng tốt thay thế cho sự mất nước của cơ thể Nghiên cứu được tiến hành trên đảo Tarawa, Gilbert ở Thái Bình Dương, ông sử dụng 50 mẫu nước dừa để truyền cho bệnh nhân bị bệnh tả thì ông thấy rằng sự mất nước của cơ thể được phục hồi nhanh chóng vì trong thành phần của nước dừa có hàm lượng muối kali, đường cao và hàm lượng natri clorua và natri bicarbonate thấp, hàm lượng các chất trong nước dừa tương đương với các dịch bù mất mất nước bằng đường uống sử dụng trong bệnh tả Và ông cũng đề nghị khi sử dụng nước dừa để truyền thì nên bổ sung thêm hàm lượng muối natri [19].

Theo Mohamed-Saatva và cs (2002) thì cho rằng sau khi vận động nên bù dịch bằng nước dừa non là phục hồi cân bằng chất lỏng của cơ thể nhanh nhất [30]

Theo nhiên cứu của các nhà TDTT Trung Quốc thì sau khi vận động nên uống loại nước được bổ sung các chất làm giảm thất thoát điện giải trong máu thì sẽ nhanh chóng phục hồi được tổn hao chất lỏng sau vận động [3], [6]

Trang 34

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2.1 Thể loại nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu giao chéo với hình thức nghiên cứu trước sau nhằm đánh giá hiệu quả bù nước và điện giải của nước dừa non, oresol và nước khoáng

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại trường cao đẳng TDTT Thanh Hoá Đối tượng nghiên cứu là nam sinh viên năm thứ nhất của trường cao đẳng TDTT Thanh Hoá

2.3 Vật liệu nghiên cứu

Oresol chúng tôi sử dụng là oresol 27,9 gam được sản xuất tại công ty

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính toán dựa vào công thức [32], [34], [41]

Trang 35

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn ngẫu nhiên 25 nam sinh viên từ tất cả nam sinh viên năm thứ nhất khoẻ mạnh, đang học tập tại trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá tình nguyện tham gia nghiên cứu Tất cả các đối tượng tham gia thử nghiệm được giải thích về mục đích và cách thức tiến hành thử nghiệm trước khi ký vào bản cam kết tham gia thử nghiệm

Tất các các thử nghiệm được tiến hành vào buổi sáng và 2-3 giờ sau khi các đối tượng được ăn sáng và uống 500ml nước để đảm bảo cân bằng nước trước khi thử nghiệm Các đối tượng tham gia thử nghiệm cũng được yêu cầu không tham gia các hoạt động thể lực cường độ cao trong vòng 48 giờ trước khi tham gia thử nghiệm Các thông số cân nặng, mẫu máu và mẫu nước tiểu được thu thập như mô hình 1

Trước khi tập luyện các đối tượng được nghỉ ngơi thoải mái trong vòng

15 phút Sau đó cho các đối tượng chạy trên máy tập chạy với tốc độ chạy ở mức 60%VO2 max trong vòng 90 phút ở điều kiện nhiệt độ môi trường 29oC-

31oC Sau đó các đối tượng nghiên cứu được nghỉ ngơi thoải mái và hồi phục lại tại vị trí trong vòng 2 giờ

Thời điểm lấy máu: Lấy máu trước khi vận động và tại thời điểm 0, 60,

120 phút của thời kỳ bù dịch

Trang 36

Thời điểm lấy nước tiểu: Lấy nước tiểu trước khi vận động và tại thời điểm 0, 30, 60, 90, 120 phút của thời kỳ bù dịch.

Thời điểm cân thể trọng thực tế: Vào thời điểm trước khi vận động, ngay sau khi vận động và tại thời điểm 0, 120 phút của thời kỳ bù dịch

Thời điểm bù dịch ngay sau khi kết thúc tập luyện và trong vòng 2 giờ:

Ở thời điểm 0 phút bù 50% lượng dịch mất, ở thời điểm 30 phút bù 40% lượng dịch mất và ở thời điểm 60 phút bù 30% lượng dịch mất [34]

Vào thời điểm 0, 30, 60, 90, 120 phút của thời kỳ bù dịch chúng tôi phát phiếu điều tra in sẵn để cho các đối tượng nghiên cứu trả lời về cảm giác

Lấy máu trước khi vận động và tại thời điểm 0, 60, 120 của thời kỳ bù dịch

Nghỉ ngơi Chạy với cường độ 60% VO2 max Thời kỳ bù dịch

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. B. M. Daxưorxki (1978), Các tố chất thể lực của vận động viên, Nxb thể dục thể thao, 219 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của vận động viên
Tác giả: B. M. Daxưorxki
Nhà XB: Nxb thể dục thể thao
Năm: 1978
2. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Ngọc Cừ (2000), Mệt mỏi, hồi phục và dinh dưỡng cho VĐV, Viện khoa học thể dục thể thao Hà Nội, 57 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mệt mỏi, hồi phục và dinh dưỡng cho VĐV
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Ngọc Cừ
Năm: 2000
3. Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên (1982), Về những thông số sinh học của người Việt Nam, Nxb KH&amp; KT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những thông số sinh học của người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên
Nhà XB: Nxb KH& KT Hà Nội
Năm: 1982
4. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý học thể dục thể thao, Nxb Thể dục thể thao, 498 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thể dục thể thao
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb Thể dục thể thao
Năm: 2003
5. Tôn Thị Bích Hoài (2004), Ảnh hưởng của Rabiton và hải sâm lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá của sinh viên năng khiếu TDTT trường đại học Vinh, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ sinh học- Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Rabiton và hải sâm lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá của sinh viên năng khiếu TDTT trường đại học Vinh
Tác giả: Tôn Thị Bích Hoài
Năm: 2004
6. Nguyễn Thị Kim Hưng (2003), Nước và thành tích thể thao, Nxb Y học Hà Nội, 88 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước và thành tích thể thao
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hưng
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2003
8. Hà Huy Khôi (2001), Dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp, Nxb Y học Hà Nội, 212 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Tác giả: Hà Huy Khôi
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2001
9. Kox I. M. (1989), Sinh lý vận cơ. Nxb Mir, Moskva, 120tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý vận cơ
Tác giả: Kox I. M
Nhà XB: Nxb Mir
Năm: 1989
10. Chu Văn Mẫn (2001), Ứng dụng tin học trong sinh học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tin học trong sinh học
Tác giả: Chu Văn Mẫn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Nguyễn văn Quang (1999), Y học thể dục thể thao, Nxb thể dục thể thao Hà Nội, 410 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thể dục thể thao
Tác giả: Nguyễn văn Quang
Nhà XB: Nxb thể dục thể thao Hà Nội
Năm: 1999
12. Trịnh Hùng Thanh (1999), Đặc điểm sinh lý các môn thể thao, Nxb Thể dục thể thao Hà Nội, tr 67-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh lý các môn thể thao
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh
Nhà XB: Nxb Thể dục thể thao Hà Nội
Năm: 1999
13. Lê Ngọc Trọng, Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường (2003), Các giá trị sinh học người Việt nam bình thường ở thập kỷ 90 -Thế kỷ XX. Nxb Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt nam bình thường ở thập kỷ 90 -Thế kỷ XX
Tác giả: Lê Ngọc Trọng, Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2003
14. Trường đại học Thể dục Thể thao Hà Tây (2004), Sinh lý học thể dục thể thao, Nxb thể dục thể thao Hà Nội, 447 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thể dục thể thao
Tác giả: Trường đại học Thể dục Thể thao Hà Tây
Nhà XB: Nxb thể dục thể thao Hà Nội
Năm: 2004
15. Trường Đại học Y, Sinh lý bệnh, Nxb Y học, tr 95-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý bệnh
Nhà XB: Nxb Y học
16. V.V Mensicop, N.I. Volcop (1997), Sinh hoá thể dục thể thao, Nxb thể dục thể thao Hà Nội, 445 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoá thể dục thể thao
Tác giả: V.V Mensicop, N.I. Volcop
Nhà XB: Nxb thể dục thể thao Hà Nội
Năm: 1997
17. Vũ Đình Vinh (2001), Hướng dẫn sử dụng các xét nghiệm sinh hóa, Nxb Y học Hà Nội.B. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng các xét nghiệm sinh hóa
Tác giả: Vũ Đình Vinh
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội.B. TIẾNG ANH
Năm: 2001
18. American College of Sports Medicine (1996), "Exercise and fluid replacement", Position Stand Med Sci Sports Exercíse 2, :I- VI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exercise and fluid replacement
Tác giả: American College of Sports Medicine
Năm: 1996
19. Campbell-Faick D, Thomas T, Faick TM, Tutuo N, Clem K2000), "The intravenous use of coconut water", Am J Emerg Med 18, pp. 108–111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The intravenous use of coconut water
20. Chavalittamrong B, Pidatcha P, Thavisri U (1982), "Electrolytes, sugar, calories, osmolarity and pH of beverages and coconut water", Southeast Asian J Trop Med Public Health 13, pp. 427–431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electrolytes, sugar, calories, osmolarity and pH of beverages and coconut water
Tác giả: Chavalittamrong B, Pidatcha P, Thavisri U
Năm: 1982
21. Costill DL, Cote R, Fink W (1976), "Muscle water and electrolytes following varied levels of dehydration in man", J Appl Physiol 40, pp. 6–11 22. Costill DL (1977), " Sweating: Its composition and effects on body fluids Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muscle water and electrolytes following varied levels of dehydration in man", J Appl Physiol 40, pp. 6–1122. Costill DL (1977)
Tác giả: Costill DL, Cote R, Fink W (1976), "Muscle water and electrolytes following varied levels of dehydration in man", J Appl Physiol 40, pp. 6–11 22. Costill DL
Năm: 1977

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ nước trong cơ thể trẻ em và người trưởng thành - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 1.1. Tỷ lệ nước trong cơ thể trẻ em và người trưởng thành (Trang 4)
Bảng 1.5. Nước sinh ra từ các sản phẩm chuyển hoá với chế độ ăn 2000kcal - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 1.5. Nước sinh ra từ các sản phẩm chuyển hoá với chế độ ăn 2000kcal (Trang 10)
Bảng 1.6.  Sự phân bố chất điện giải trong cơ thể - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 1.6. Sự phân bố chất điện giải trong cơ thể (Trang 11)
Bảng 3.12. Xác định tốc độ chạy ở 60%VO 2  max - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 3.12. Xác định tốc độ chạy ở 60%VO 2 max (Trang 44)
Bảng 3.16.  Nồng độ Cl -  trong máu ở các thời điểm của thời kỳ bù dịch - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 3.16. Nồng độ Cl - trong máu ở các thời điểm của thời kỳ bù dịch (Trang 50)
Bảng 3.18.  Hàm lượng Hct trong máu ở các thời điểm của thời kỳ bù dịch - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 3.18. Hàm lượng Hct trong máu ở các thời điểm của thời kỳ bù dịch (Trang 53)
Bảng 3.20.  Tỉ trọng của nước tiểu ở các thời điểm của thời kỳ bù dịch - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 3.20. Tỉ trọng của nước tiểu ở các thời điểm của thời kỳ bù dịch (Trang 55)
Bảng 3.21. Cảm giác về chất lỏng - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng
Bảng 3.21. Cảm giác về chất lỏng (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w