Đa phần người dân ở đây vẫncoi tài nguyên rừng như một kho nguyên liệu vô tận, sẵn sàng cung cấp mọi thứ chocuộc sống của họ, nên ý thức bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng vẫn chưa được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG CÁC LOẠI CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI BẢN COỌC - XÃ YÊN HOÀ - HUYỆN
TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn : Ths Trần Xuân Minh
Vinh, 05/2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) trong rừng nhiệt đới hết sức đa dạng và phongphú, nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống của các cộng đồng dân cư sống phụthuộc vào rừng Cũng như có vai trò to lớn trong cấu thành tài nguyên rừng và giátrị của nó là không thể thay thế được Để hệ sinh thái rừng phát triển bền vững thìviệc hiểu biết về thực trạng LSNG và việc sử dụng nó một cách hợp lý là vấn đềkhông thể bỏ qua Tuy nhiên hiện nay việc quản lý, sử dụng tài nguyên rừng nóichung và lâm sản ngoài gỗ nói riêng vẫn chưa thực sự được sự quan tâm của các cấpcũng như người dân Chính điều này đã làm LSNG đang bị cạn kiệt cùng với sự suythoái của rừng bởi ảnh hưởng của sự gia tăng dân số, sự khai thác lạm dụng, sự mởrộng diện tích canh tác nông nghiệp, sự chăn thả gia súc không kiểm soát, sự thu háichất đốt Điều này đã làm giảm thu nhập của người dân, làm cho cuộc sống của họkhó khăn hơn
LSNG có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội như cung cấp lương thực, thựcphẩm, nguyên liệu làm thủ công mỹ nghệ, dược liệu, đến giải quyết công ăn việclàm, phát triển các ngành nghề Là nguồn tài nguyên gắn bó và không thể thiếu đượctrong đời sống của các cộng đồng dân cư sống gần rừng
LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng, chúng đóng góp vào
sự đa dạng sinh học của rừng Chúng là nguồn gen quý, cần được bảo tồn để phục
vụ cho sản xuất, đời sống và nghiên cứu khoa học trong giai đoạn trước mắt cũngnhư trong tương lai
Bản Coọc, xã Yên Hòa là bản miền núi, thuộc vùng khó khăn (vùng 135),sống trên địa bàn chủ yếu là đồng bào dân tộc thái (70%) Đời sống của người dântrong bản phụ thuộc rất lớn vào rừng Diện tích đất canh tác nông nghiệp ít (8,4ha),nên sinh kế của các gia đình trong bản phần lớn dựa vào làm nương rẫy, chăn nuôi
và vào các hoạt động thu hái các LSNG Nhưng việc khai thác không có kế hoạch vàkhai thác bừa bãi đã làm cho LSNG tại khu vực này ngày càng cạn kiệt Nguyên
Trang 3nhân sâu xa là do nhận thức về việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này ở trênđịa bàn vẫn còn mang nặng thói quen tự cấp, tự túc Đa phần người dân ở đây vẫncoi tài nguyên rừng như một kho nguyên liệu vô tận, sẵn sàng cung cấp mọi thứ chocuộc sống của họ, nên ý thức bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng vẫn chưa đượcngười dân trong bản chú ý dẫn đến hậu quả là nhiều loài cây quý hiếm dần dần bịmất đi cùng với nó là nguồn gen quý không được bảo tồn, mất sự đa dạng sinh học,gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của nhân dân
Như vậy, nâng cao hiểu biết về LSNG nhằm quản lý và sử dụng bền vữngnguồn tài nguyên này đang là vấn đề cấp bách, được đặt ra cho các cộng đồng dân
cư sống ở gần rừng cũng như cộng đồng dân cư ở bản Coọc đã và đang gắn bó vớinguồn tài nguyên LSNG trên địa bàn và chịu sự chi phối của khai thác và tiêu thụ.Vậy chúng ta cần hỗ trợ, tác động thế nào để họ có thể quản lý và sử dụng hợp lýnguồn LSNG nói riêng và tài nguyên rừng nói chung Nhằm vừa nâng cao được đờisống vật chất và tinh thần của họ, vừa bảo vệ và phát triển được tài nguyên rừng.Nhưng cho đến nay rất thiếu nguồn tài liệu nghiên cứu một cách tổng thể để trả lờicho các vấn đề có liên quan như:
- Thực trạng và vai trò của LSNG trong đời sống cộng đồng như thế nào?
- Mối quan hệ giữa truyền thống quản lý, sử dụng LSNG của cộng đồng vàtiêu thụ trên thị trường như thế nào?
- Những cải tiến nào là cần thiết để hỗ trợ quản lý và sử dụng LSNG có hiệuquả và bền vững?
Để góp phần giải quyết vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện
trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng các loại cây lâm sản ngoài gỗ tại Bản Coọc - Xã Yên Hoà - Huyện Tương Dương - Tỉnh Nghệ An”
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Góp phần xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc quản lý và sử dụngbền vững LSNG tại bản Coọc, xã Yên Hòa, huyện Tương Dương, Nghệ An
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng nguồn tài nguyên LSNG của khu vực nghiên cứu
- Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đến LSNG
- Đề xuất một số giải pháp quản lý và sử dụng các loại LSNG
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
LSNG là nguồn tài nguyên rừng có nhiều tiềm năng to lớn của rừng Mặc dù
vậy, nhưng chúng chưa được phát triển đúng tầm để có những đóng góp quan trọngvào sự phát triển của các địa phương và cả nước Việc đánh giá đúng hiện trạngnguồn tài nguyên LSNG ở các địa phương nước ta là hết sức quan trọng và cần thiết,nhằm để xuất được các giải pháp hợp lý để phát triển tài nguyên quý giá này
Muốn thực hiện việc này, trước hết phải hiểu rõ thế nào là LSNG Hiện nay có rấtnhiều định nghĩa khác nhau về lâm sản ngoài gỗ, như De Beer và Mc Dermott(1989, 1996); Wicken G E (1991); Herman H.J (1995); Tổ chức chuyên gia tư vấn
về lâm sản ngoài gỗ của Châu Á Thái Bình Dương (1991); Tổ chức chuyên gia về tưvấn lâm sản ngoài gỗ của Châu phi (1993), Một trong những khó khăn lớn nhất để
đi đến thống nhất thuật ngữ Lâm sản ngoài gỗ là do tính chất đa dạng của các loạiphẩm này và ở một khía cạnh nào đó, còn liên quan đến quản lý và sử dụng chúng.Thời kỳ đầu, loại sản phẩm này được hiểu như là một loại sản phẩm phụ (mirrorforest products) Khi các loại sản phẩm này được khai thác với số lượng nhiều vàgiá trị cao, thì chúng được dùng với thuật ngữ “Lâm sản ngoài gỗ” (Non-timberforest products hoặc Non-wood forest products)
Những định nghĩa dưới đây được xem là khá hoàn chỉnh về lâm sản ngoài gỗ:Lâm sản ngoài gỗ (Non-Timber Forest Products - NTFPs) bao gồm tất cả các sảnphẩm sinh học không phải là gỗ được khai thác trong rừng tự nhiên vì các mục đích
sử dụng khác nhau của con người (Freudenberger KS và Koppenll C., 1995; H DeBeer, J Mcdermott, 1989) Chúng bao gồm những sản phẩm được làm thức ăn,thuốc chữa bệnh, gia vị, dầu ăn, nhựa mủ, gôm, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, độngvật hoang, nhiên liệu - chất đốt và nguyên liệu (Wicken G E., 1991).[33]
Tổ chức chuyên gia tư vấn về lâm sản ngoài gỗ của Châu Á Thái BìnhDương (IEC., 1991), đã thống nhất đưa ra định nghĩa: Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất
Trang 6cả các sản phẩm có thể tái tạo và hữu hình, mà không phải là gỗ, củi nhiên liệu, củi,thu được từ rừng hoặc bất kỳ loại hình sử dụng đất nào.
Định nghĩa FAO đưa ra năm 1995 [30]: “Các lâm sản ngoài gỗ (Non-WoodForest Products - NWFPs) bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học trừ
gỗ, cũng như các dịch vụ thu được từ rừng và có các kiểu sử dụng đất tương tự” (Cả ba định nghĩa đang được sử dụng rộng rãi trên cũng có những điểm chưa phânbiệt rõ Điểm quan trọng nhất để phân biệt giữa các loại sản phẩm này với gỗ là ởchỗ gỗ (Lim, sến táu, đinh hương, gụ mật, gụ lầu, kiền kiền ) được khai thác vàquản lý trên quy mô công nghiệp vì những nhu cầu hay lợi ích đặt ở phía bên ngoàirừng Còn đối với LSNG, nhiều sản phẩm của chúng có thể là đầu vào của rất nhiềunền công nghiệp chính của các đô thị (gôm, nhựa, tinh dầu, cây thuốc, ) Tất cả số
đó có đặc tính chung là đều có thể được khai thác, chiết, tách bởi các công nghệ đơngiản của những người dân địa phương sinh sống ở trong hay cạnh rừng
Nghĩa của “ngoài gỗ” còn chưa được thỏa mãn khi bao hàm các tài nguyênquan trọng có nguồn gốc từ rừng được sử dụng vì cuộc sống con người, như chấtđốt, cọc chống trong xây dựng, và gỗ nhỏ được sử dụng trong thủ công mỹ nghệ vàvật dùng hàng ngày Rõ ràng, sự khác biệt giữa “gỗ” và “ngoài gỗ” hay “không phảigỗ” có thể trở thành không rõ ràng khi xem xét ranh giới của một bên là số lượnglớn các chất đốt được khai thác cho thị trường ở các đô thị và với một bên sử dụng
gỗ cho việc xây dựng nhà cửa của những người dân ở nông thôn sống trong rừnghay cạnh rừng Ở góc độ về chất đốt, nó loại bỏ cái nền tảng cơ sở là xâm phạm đếntiêu chuẩn phân chia và việc sử dụng/lợi ích ở nông thôn Ở vấn đề sau lại, lại loại
bỏ qua khi xem xét những tiêu chuẩn quan trọng (H De Beer, J McDermott, 1996)
Một trong những mục đích quan trọng của việc định nghĩa sản phẩm là thúcđẩy và chính xác hoá việc phân loại sản phẩm đó, đưa ra một khuôn khổ để cố địnhviệc tính toán trong sản xuất và thống kê Về nguyên tắc chung, tất cả các sản phẩm,hàng hoá và dịch vụ đều có thể được cắt ngang Vì thế các định nghĩa đã được nêu
ra về LSNG; và ngay cả hai định nghĩa trên được xem là hoàn hảo hơn cả, cũng
Trang 7không thể đưa ra được một mô hình chung về lợi ích mà LSNG mang lại và vì vậykhông thể cắt ngang các lợi ích đó để tính toán, ví như các giá trị về văn hoá.
Nhưng dù ở mức độ này hay mức độ khác thì các định nghĩa đã nêu vềLSNG đều được hình thành dựa trên một khái niệm khác là “Rừng” Rừng nghĩa làmột hệ sinh thái tự nhiên mà trong đó cây là thành phần quan trọng và có ý nghĩaquyết định Tuy vậy, các sản phẩm rừng không chỉ từ mỗi cây gỗ to, mà còn từ tất
cả các thực vật khác, nấm và động vật mà hệ sinh thái rừng là nơi sống của chúng
Sự can thiệp của con người thực ra đã làm cho hệ sinh thái rừng không còn tự nhiênnữa, dẫu cho khởi thuỷ của con người cũng là tự nhiên Kể từ đây, việc quản lýnhững cánh rừng thứ sinh, rừng kiệt là nhằm vào tài nguyên LSNG
Tại các khu rừng ẩm nhiệt đới, số lượng sản phẩm phụ được hàng triệu ngườikhai thác với số lượng rất lớn, và từ “Lâm sản phụ” chỉ được hiểu theo nghĩa đen.Nếu như so sánh với các cây gỗ - cây rất cao và to, thì những sản phẩm khác, ví nhưquả, hạt, cây mây, song, thú săn, cá và nhiều thứ khác; thì trong nhận thức của nhiềungười chúng rất nhỏ bé, là phụ
Thực ra, các sản phẩm được gọi là phụ đó được thu hái rất nhiều và khi gộpchúng lại thì có khối lượng và mức độ kinh tế rất lớn và từ “phụ” về thực chất làkhông đúng Các giá trị của sản phẩm phụ, nếu đánh giá một cách đúng đắn, chúngcòn có giá trị lớn hơn nhiều so với gỗ cả ở mức độ không gian và thời gian Chính vìvậy, dùng khái niệm “Lâm sản ngoài gỗ” sẽ sát với thực tiễn hơn so với lâm sản phụ
Như vậy, khái niệm lâm sản ngoài gỗ tương đối rộng, bao hàm rất nhiều loài
và rất nhiều loại hình sử dụng khác nhau trừ gỗ Với mức độ đa dạng như vậy, côngviệc hoạch định chính sách quản lý cũng như việc thực thi quản lý gặp nhiều khókhăn Cùng với những khó khăn đó, sự khai thác quá mức không chỉ đe dọa sự tuyệtchủng đối với một số loại động thực vật quý hiếm mà còn gây nên sự suy kiệt đốivới những loại phổ biến
Với các phân tích trên định nghĩa do FAO (1995) [30] nêu ra là cơ sở lý luận
của đề tài: “Các lâm sản ngoài gỗ (Non-Wood Forest Products-NWFPs) bao gồm
Trang 8tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học trừ gỗ, cũng như các dịch vụ thu được
từ lâu, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước nhiệt đới đã đầu tư nghiên cứu vềLSNG nhằm định hướng quy hoạch phát triển
Năm 1985, khi nghiên cứu về cộng đồng người Kenyah, Chin đã cho biếtngười dân địa phương đã có một vụ thu hoạch tốt vào các năm 1973 và 1980 Toàncộng đồng trong năm 1980 đã thu hoạch hơn 10.000kg quả Hạch giá trị thu được rấtcao
Trong quá trình nghiên cứu, Peter (1989) đã tìm thấy 5 loài cây thuộc LSNG
có giá trị kinh tế ở vùng Amazon - Peru các loài này hàng năm cho thu hoạch đạt giátrị khoảng từ 200-6000 USD/ha.[33]
Năm 1989, Mendelsohn [32] đã căn cứ vào giá trị sử dụng của LSNG vàphân thành 5 nhóm bao gồm:
- Nhóm các sản phẩm thực vật ăn được
- Nhóm cho keo dán và nhựa
- Nhóm cho thuốc nhuộm và ta nanh
- Nhóm cây cho sợi
- Nhóm cây làm thuốc
Trang 9Heinzman (1990) đã chỉ ra rằng việc khai thác các cây họ Cau dừa ở vùngPeten của Guatemana cho thu hoạch quan trọng.
Hội nghị Quốc tế tháng 11/1991 tại Bangkok đã chia LSNG làm 6 nhóm:
- Nhóm 1 Các sản phẩm có sợi: bao gồm tre nứa, song mây, lá và thân có sợi
và các loại cỏ
- Nhóm 2 Sản phẩm lầm thực phẩm: gồm các sản phẩm có nguồn gốc thựcvật như: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, Các sản phẩm có nguồn gốc động vật như : Mậtong, thịt động vật rừng, trứng và côn trùng,…
- Nhóm 3 Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật
- Nhóm 4 Các sản phẩm chiết xuất: Nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh, dầubéo, tinh dầu
- Nhóm 5 Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ,động vật sống, chim, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ
- Nhóm 6 các sản phẩm khác
Theo Mendelsohn (1992) đã kết luận là bằng cách duy trì tính nguyên vẹncủa rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có nuôi dưỡng tính đa dạng sinh học vàbảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời việc khai thác có kiểm soát nguồn tài nguyênLSNG sẽ góp phần cung cấp và đáp ứng các nhu cầu của xã hội về các loại LSNGmột cách bền vững.[32]
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, hội nghị môi trường và phát triểncủa liên hợp quốc (UNCED), họp tại Riodeano năm 1992 đã thông qua chương trìnhnghị sự về các nguyên tắc về rừng, đã xác định LSNG là một đối tượng quan trọng,một nguồn lợi môi trường cho phát triển lâm nghiệp bền vững
Balick và Mendelsonh (1992), khi nghiên cứu về LSNG đã kết luận rằng giátrị về mặt y học 1 ha trong rừng thứ sinh của Beliz cũng cao hơn giá trị thu được từnông nghiệp
Theo Mendelsohn (1992) [32] đã kết luận là bằng cách duy trì tính nguyênvẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có nuôi dưỡng tính đa dạng sinh
Trang 10học và bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời việc khai thác có kiểm soát nguồn tàinguyên LSNG sẽ góp phần cung cấp và đáp ứng các nhu cầu của xã hội về các loạiLSNG một cách bền vững.
Falconer (1993) khi tiến hành điều tra nghiên cứu ở Ghana đã chỉ ra là LSNG
có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, đồng thời cũngchiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình
Năm 1993, Koppell đã tiến hành điều tra đánh giá khu vực sản xuất LSNG ở
Ấn Độ hàng năm đã tạo việc làm cho 30 triệu lao động
Theo Jonon 1993, riêng vườn quốc gia Langtang ở Nepal có 172 loài thực vậtcho LSNG được ghi chép, trong đó 91 loài đang được sử dụng để làm thuốc chữabệnh
Năm 1996, khi nghiên cứu nhiều vùng ở Đông Nam á, De Beer cho thấy, cóthể xác định một cách chắc chắn là nguồn cung cấp cho đời sống hàng ngày từ rừng
đã đảm bảo cuộc sống cho ít nhất 27 triệu người sống ở trong các vùng của ĐôngNam Á Trong đó có trường hợp thu lượm mật ong rừng và khai thác nhựa cây
Dipterocarpus kerrii ở đảo Malaysia.[28]
Tại Trung Quốc, riêng năm 1998 giá trị sản phẩm chỉ tính riêng tre trúc đãmang về cho Trung quốc 17 tỷ NDT trong đó xuất khẩu đạt 500 triệu USD (ChinaNational Bamboo research Center - 2001).[26]
Năm 1994, FAO đã cho thấy LSNG có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
an toàn lương thực và đóng góp một phần đáng kể vào lượng chất dinh dưỡng của
hộ gia đình Hiện nay có hàng triệu người dân địa phương chế biến LSNG tại giađình để sinh sống và nâng cao thu nhập Các dược thảo cũng quan trọng trong các hệthống chăm sóc sức khoẻ truyền thống đặc biệt ở các vùng nông thôn miền núi
Pitamber Sharma (1995) cho biết, LSNG là một trong số tài nguyên mà nóliên kết với tất cả các khía cạnh của sự phát triển toàn vẹn miền núi LSNG cung cấpcác cơ sở tiềm tàng cho sự tương tác và trao đổi giữa vùng cao và vùng thấp Một sốlượng lớn kiến thức dân gian đã được truyền lại liên quan đến LSNG mà các cộng
Trang 11đồng miền núi đã phụ thuộc hàng thế kỷ Những kiến thức bản địa này cùng vớikiến thức khoa học hiện đại có thể được sử dụng làm tăng việc sử dụng cũng nhưviệc bảo tồn tài nguyên LSNG
FAO năm 1995 đã công bố: trên thế giới hiện nay có hàng triệu người thu háiLSNG không đúng quy trình kỹ thuật và không chú trọng đến khai thác bền vững[30]
Tóm lại, qua một số công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã cho thấy giátrị lớn lao của LSNG, đã khẳng định được vai trò quan trọng của LSNG trong đờisống KT-XH của con người Tuy nhiên, nhiều nơi trên thế giới việc bảo tồn LSNG
có khai thác lại chưa được chú ý đúng mức, chưa thực hiện đúng quy trình kỹ thuậtthu hoạch và sử dụng, công nghệ sau thu hoạch còn lạc hậu
cư Xuất phát từ thực tế đó, để nhận thức được vai trò to lớn và tầm quan trọng của LSNG,cũng như để khôi phục và bảo vệ, quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên này, nhiều côngtrình nghiên cứu ở trong nước về LSNG đã được triển khai trong nhiều năm qua
Từ năm 1986 - 1990 hàng năm Việt Nam xuất khẩu một lượng LSNG đạt giátrị khoảng 40 triệu USD/năm Ngoài giá trị về kinh tế, LSNG còn có một vai tròquan trọng là góp phần bảo vệ, phát triển và quản lý khai thác rừng bền vững(Lương Văn Tiến, Hà Chu Chử, 1999)
Năm 1993, Christian Rate và đồng nghiệp tiến hành nghiên cứu về LSNG ởTây Bắc, đã thống kê được diện tích rừng tre nứa ở Tây Bắc có khoảng 26.000 ha,
Trang 12bình quân lượng tre nứa khai thác hàng năm là 13 tỷ cây trong đó khoảng 90% do hộnông dân khai thác, thu 300 triệu USD từ năm 1986 đến năm 1992.
Năm 1995, Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Văn Thính với côngtrình “Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật và sinh thái núi cao Sa Pa”
đã thống kê được tập đoàn thực vật LSNG có giá trị làm thuốc ở địa phương.[15]
Thông qua việc triển khai một số công trình nghiên cứu, các nhà khoa họcxác định được danh mục các loài thực vật ngoài gỗ ở Việt Nam trong đó có khoảng
40 loài song mây, 60 loài chứa tanin, 26 loài cho dầu và nhựa, 160 loài chứa tinhdầu, 70 loài chứa chất thơm và hàng trăm loài làm thức ăn Riêng với các loài dượcliệu, theo tài liệu của viện dược học Việt Nam đã phát hiện 1863 loài cây làm thuốcthuộc 1033 chi 236 họ và 101 bộ 17 lớp 11 ngành thực vật con số này ngày càngđược bổ sung (Trần Văn Kỳ, 1995) Đến năm 2000 trong “Phân tích phân ngànhLSNG ở Việt Nam” Hà Chu Chử, Trần Quốc Tuý và Jenne H de Beer đã thống kêđược ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài cho ta nanh, 93 loài cho chấtmàu, 260 loài cho tinh dầu và 1498 loài cho các dược phẩm
Năm 1997, Phạm Xuân Hoàn đã nghiên cứu phân loại LSNG tại Phia Đén –Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng theo mục đích sử dụng đã cho thấy đại bộ phận ngườikhai thác LSNG là nông dân, công việc khai thác được tiến hành hầu như quanhnăm, phương thức khai thác LSNG phụ thuộc vào bộ phận sử dụng, hầu hết là khaithác theo kiểu huỷ diệt làm cho một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, nông dânkhông có nguồn thu nhập nào khác nên họ chỉ biết khai thác LSNG bất kỳ lúc nào
Từ đó tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển bền vững nguồn tàinguyên này ở địa phương như: Tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng phát triển,thúc đẩy giao đất giao rừng cho hộ gia đình, tăng cường hiệu lực của công tác quản
lý bảo vệ rừng
Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) khi nghiên cứu ở Vườn quốc gia Ba Vì
-Hà Tây đã xác nhận từ năm 1997 đến 1998 ở địa phương này đã khai thác xấp xỉ
Trang 13200 tấn cây dược liệu; ước tính gần 60% dân tộc Dao tại Ba Vì tham gia vào thu hái
và hiện LSNG là nguồn thu nhập đứng thứ hai sau lúa và cây lương thực khác
Năm 2001, Cục khuyến nông và khuyến lâm đã xuất bản tài liệu “Trồng câynông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng” do Nguyễn Ngọc Bình và PhạmĐức Tuấn biên soạn Các tác giả đã nói lên tầm quan trọng của phương thức canhtác trồng xen dưới tán rừng và những nguyên tắc chung về kỹ thuật trồng xen cáccây dược liệu, cây ăn quả, cây đặc sản chịu bóng hoặc ưa bóng dưới tán rừng.[1] Năm 2002, Triệu Văn Hùng (chủ biên), Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương
đã xuất bản ấn phẩm “Kỹ thuật trồng một số loài cây đặc sản rừng” trong tài liệu nàycác tác giả đã giới thiệu tóm lược kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG thuộc 4nhóm cây quan trọng trong đó: nhóm cho sản phẩm sợi gồm 6 loài, 4 loài thuộcnhóm cho thực phẩm, nhóm cho sản phẩm dược liệu gồm 6 loài, 5 loài thuộc nhómcho sản phẩm hương liệu và mỹ phẩm.[12]
Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm, tinh dầu, dược liệu ngày càng tăng và để đadạng hoá sản phẩm, hạn chế sự độc canh trong trồng trọt và chăn nuôi Năm 2003,Cục Lâm nghiệp đã xuất bản ấn phẩm “Kỹ thuật nuôi trồng một số cây - con dướitán rừng” do Võ Đại Hải làm (chủ biên), Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương thamgia biên soạn, các tác giả đã giới thiệu vai trò, lợi ích của phương thức nuôi trồngdưới tán rừng và làm thế nào để thực hiện phương thức nuôi trồng dưới tán rừng.[10]
Năm 2007, Dự án hỗ trợ chuyên ngành LSNG tại Việt Nam - Pha II đã xuấtbản nhiều ấn phẩm liên quan đến các loài cây LSNG trong đó phải kể đến công trình
“Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” được biên soạn do một tập thể có nhiều kinh nghiệmcho từng nhóm loài cây Tài liệu này đã giới thiệu các loại LSNG có giá trị thuộc 6nhóm là: nhóm cây có sợi, nhóm cây ăn được, nhóm cây làm thuốc, nhóm cây chodầu và nhựa, nhóm cây cho tanin và thuốc nhuộm, nhóm cây cảnh và cây bóng mát.Phần tổng quan nhóm tác giả đã đề cập chi tiết từ khái niệm LSNG, tiềm năngLSNG, quan điểm, định hướng, giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn
Trang 142006 - 2020 Đặc biệt phần thị trường LSNG các tác giả đã cho thấy: Thị trườngLSNG của Việt Nam trước giai đoạn đổi mới rất nhỏ bé, phân tán, chủ yếu là thịtrường trong nước hoặc trong từng vùng nhỏ Xuất khẩu LSNG và các hàng hoá từLSNG phát triển mạnh từ 1999 với sản phẩm do các doanh nghiệp tư nhân, các làngnghề và cả doanh nghiệp nhà nước, trong đó đáng chú ý thị trường xuất khẩu mặthàng mây tre đan đã tăng lên 94 nước và khu vực trong năm 2003 Tài liệu cũng đãphân loại LSNG ở Việt Nam làm 6 nhóm tổng hợp dựa vào công dụng và nguồn gốcgồm:
- Nhóm sản phẩm cây có sợi: tre nứa, song mây, các loại cây thân lá có sợi và vỏ
- Nhóm cho dược liệu, chất thơm và cây có chất độc.
- Nhóm cho những sản phẩm chiết xuất như: các loại nhựa, tanin, chất màu,
dầu béo và tinh dầu,…
- Nhóm động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm
như: các loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà, xương, cánh kiến đỏ
- Nhóm cho những sản phẩm khác như: Cây cảnh, lá để gói,…
Tóm lại, phần lớn các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu theohướng như phát hiện loài, mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, công dụng vàgiá trị kinh tế mà hầu như chưa có những nghiên cứu tổng hợp quy hoạch phát triểnLSNG gắn kết giữa người gây trồng với các làng nghề truyền thống và các công ty xínghiệp gia công chế biến để thúc đẩy nhận thức của người dân về LSNG như một tàinguyên quan trọng cần bảo tồn, gây trồng và khai thác một cách bền vững
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các loại LSNG là thực vật tại bản Coọc, xãYên Hoà, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ an
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
* Không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi hẹp, được giới hạn trong khu
rừng cộng đồng bản Coọc, xã Yên Hoà, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ an
* Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 05 tháng 2 năm 2010 đến
ngày 17 tháng 5 năm 2010
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố bên trong đến tài nguyên LSNG
- Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên rừng
- Nghiên cứu hiện trạng nguồn LSNG
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng nguồn tài nguyên LSNG
2.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài tác động đến LSNG
- Vai trò của LSNG trong đời sống cộng đồng bản Coọc - xã Yên Hòa
- Nghiên cứu thực trạng khai thác, tiêu thụ LSNG
- Ảnh hưởng của chính sách đối với phát triển LSNG
2.2.3 Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng LSNG
- Về quản lý nguồn LSNG
- Về sử dụng nguồn LSNG
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa có chọn lọc những tài liệu đã có: Về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội, hệ thống bản đồ, cơ sở dữ liệu liên quan đến LSNG và các kết quả nghiên cứu
Trang 16về LSNG từ trước tới nay tại khu vực nghiên cứu, những tài liệu, văn bản hiện có,những số liệu thống kê, lưu trữ hàng năm, những thông tin còn có tính thời sự, còn
có độ chính xác trong tình hình hiện nay và đáp ứng theo độ chính xác của đề tài
2.3.1.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa được tiến hành thu thập số liệu trên các đốitượng: tầng cây cao, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi, cây LSNG thông qua lập ÔTC
Cả khu rừng có tổng diện tích 62 ha chia thành 3 lô, mỗi lô có diện tíchkhoảng 20 ha, trên cơ sở đó tiến hành điều tra theo tuyến, lập 15 ÔTC tạm thời điểnhình cho khu vực nghiên cứu tương đương mỗi lô 5 ÔTC, mỗi ÔTC có diện tích là3000m2 (100m x 30m)
Điều tra có sự tham gia của người dân trong ÔTC:
* Tầng cây cao:
- Đo đường kính ngang ngực (D1.3):
+ Đo chu vi (Đo vanh) bằng thước dây chia đến cm+ Tính đường kính cây
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn): dùng thước Blumeleiss
Thông qua mẫu biểu điều tra tầng cây cao sau:
BIỂU 01: ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO Tỉnh:………… Huyện:………… Xã:……… Bản:…
Số hiệu ÔTC:…… Vị trí:……… Diện tích:………Tên lô rừng:… Hướng dốc:…… Độ dốc:……
Ngày điều tra:…… Người điều tra:…………
TT Tên địa phương Tên phổ thông Chu vi(cm) Chiềucao Thể tích(m3) STPT Giá trị sửdụng1
2
…
Trang 17* Cây tái sinh:
- Trong ÔTC 3000m2 sẽ tiến hành điều tra thành phần cây tái sinh theo ôdạng bản (ÔDB), 5 ÔDB/1 ÔTC 3000m2, mỗi ô dạng bản có diện tích 45m2 và đượcphân bố theo nguyên tắc đường chéo
Thông qua mẫu biểu điều tra cây tái sinh sau:
BIỂU 02: ĐIỀU TRA CÂY TÁI SINH
Số hiệu ÔTC:………… Tên lô rừng:………
Người điều tra:………… Ngày điều tra:……
1
2
…
* Cây bụi thảm tươi: Điều tra tương tự cây tái sinh
Thông qua mẫu biểu điều tra cây bụi thảm tươi sau:
BIỂU 03: ĐIỀU TRA CÂY BỤI THẢM TƯƠITỉnh:………… Huyện:………… Xã:……… Bản:…
Số hiệu ÔTC:…… Vị trí:……… Diện tích:………Tên lô rừng:…
Trang 18BIỂU 04: ĐIỀU TRA CÂY LSNG DẠNG BỤI, DÂY LEO, THÂN THẢO
Số hiệu ÔTC:………… Tên lô rừng:………
Người điều tra:………… Ngày điều tra:……
STT Loài cây chủ yếu lượngSố Dạngsống STPT Giá trị sửdụng Ghi chúTên địa phương Tên phổ thông
- Kết quả phỏng vấn được ghi trong biểu phỏng vấn hộ gia đình (khung biểuđược trình bày trong phần phụ biểu 05)
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập ngoài thực địa được tiến hành tổng hợp và xử lý trên phầnmềm Microsoft Office Excel và SPSS 13.0:
- Tính toán các chỉ tiêu trung bình mẫu của rừng: D1.3, Hvn…
- Tiết diện ngang: G = 4 D12.3
- Trữ lượng/ha: M = Ncây/ha×G×H×F (với hình số F được lấy là 0,5)
- Lập danh mục tên các loài cây cho LSNG chủ yếu trong khu vực, tra cứuphân chia, sắp xếp theo Ngành, Lớp, Bộ, Họ, Chi, Loài
- Tổng hợp biểu phỏng vấn hộ gia đình về giá thị sử dụng và phân loại nhữngloài thực vật cho LSNG theo công dụng, bộ phận sử dụng
- Tổng hợp kết quả điều tra phân tích thị trường tiêu thụ LSNG
Trang 19Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Bản Coọc là một bản miền núi thuộc xã Yên Hòa, huyện Tương DươngNghệ An, là bản nằm ở trung tâm xã
Bản Coọc có ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp bản Xốp Kha
- Phía Nam giáp bản Ngọn
- Phía Đông giáp bản Cành Khỉn
- Phía Tây giáp bản Xiềng Líp
Bản có tuyến đường nối quốc lộ 7 với quốc lộ 48 chạy qua, bên cạnh đó bảncòn có nhiều cơ quan đóng trên địa bàn nên rất thuận lợi trong việc giao lưu hànghoá, đi lại giữa các thôn bản trong xã và các xã bên cạnh, góp phần làm tăng thunhập, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng
3.1.2 Địa hình địa mạo
Bản Coọc có địa hình khá phức tạp, có độ cao trung bình 700 m so với mặtnước biển Phía Bắc và phía Nam bản là hai dải nhúi cao, phía Đông và phía Tâycủa bản tương đối bằng phẳng, đây là vùng tập trung dân cư và các hoạt động sảnxuất nông nghiệp của bản hiện nay
Nhìn chung, địa hình của bản thấp dần từ Đông sang Tây Nằm giữa hai dãynúi cao là khu vực dân cư và là cánh đồng trũng chủ yếu thuận lợi phát triển cấy lúanước mang lại hiệu quả kinh tế cao
3.1.3 Khí hậu thời tiết
Bản Coọc nằm ở trung tâm của xã nên mang toàn bộ những đặc điểm khíhậu, thời tiết của xã Yên Hòa
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu Tây Nam Nghệ An với đặc điểmkhí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4
Trang 20đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với các đặc trưng chính nhưsau:
- Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ không khí bình quân năm biến đổi từ 23oCđến 35oC, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7: 39 - 41 oC, tháng có nhiệt độ thấpnhất là tháng 1: 8oC (Có năm xuống đến 3oC)
- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân đạt 1450 mm, song phân bố không đều
- Gió: Chịu ảnh hưởng một phần gió Tây Nam (Gió Lào) xuất hiện từ tháng 4đến tháng 8, mạnh nhất vào tháng 6, gây khô nóng bốc hơi mạnh, và gió mùa ĐôngBắc thổi từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau gây khô hanh và rét
- Lượng bốc hơi mạnh vào tháng 5, 6, 7, 8
- Độ ẩm không khí: Bình quân 83%, chênh lệch giữa các tháng trong nămkhông đáng kể Hàng năm thỉnh thoảng vẫn có hiện tượng sương muối thườngxuyên xảy ra chủ yếu vào các tháng 1, 2, 12
Tuy nhiên trong những năm gần đây điều kiện thời tiết, khí hậu trên địa bàn
có những biến động thất thường, nguy cơ thiên tai, lũ lụt xảy ra là rất lớn.
3.3.4 Thủy văn và sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi của bản tương đối phong phú Nguồn nước chủ yếu cungcấp từ hai con khe chảy qua khe Nạm Ngân và khe Nạm Chà Hạ và các khe suối nhỏkhác…Trên các khe suối đã được xây dựng các đập chứa nước phục vụ cho sản xuất vàđời sống sinh hoạt, còn hệ thống ao, hồ rất ít chủ yếu ao nhỏ, cả bản chỉ có 14 ao vớidiện tích 0,42 ha trữ lương nước nhỏ Mặt khác nguồn sinh thủy ở bản phụ thuộc vàokhả năng giữ đất, giữ nước nên cần có biện pháp bảo vệ rừng có hiệu quả
3.1.5 Các nguồn tài nguyên
3.1.5.1 Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê năm 2008 của xã Yên Hòa thì bản Coọc có tổng diệntích đất tự nhiên 550 ha
Trang 21a) Diện tích các loại đất
Bảng 3.1 Bảng hiện trạng đất tự nhiên của bản
0,730,0767,2729,091,531,31
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tổng kết hoạt động năm 2008-2009 và phương hướng nhiệm
vụ năm 2010 - 2013 của BQL bản Coọc)
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đất tự nhiên của bản
Thổ cư
Ao hồ Đất lâm nghiệp Đất rẫy luân canh Đất trồng lúa Đất trồng các loại hoa màu khác
67,27 % 29,09%
Trang 22sa của các vùng đồng bằng, vùng này do lũ lớn, nước rút nhanh, chỉ kịp lắng đọngnhững hạt lớn, thành phần cơ giới thường thịt nhẹ hoặc cát pha được nhân dân sửdụng chủ yếu để trồng lúa và trồng các loại hoa màu khác.
* Nhóm đất đồi núi:
- Đất Feralit đỏ vàng chiếm phần đa diện tích đất tự nhiên, được hình thànhtrên diện tích đất đá vôi tạo thành những dải đất ở ngay những lèn đá vôi, đặc điểmđất có màu vàng, đỏ nâu, độ xốp cao, thích hợp cho sản xuất cây công nghiệp vàtrồng cây ăn quả
- Đất mùn vùng núi cao, chiếm diện tích nhỏ, đất có màu vàng, có tỷ lệ mụncao, độ ẩm, phân bố chủ yếu ở những ngọn núi cao, hướng sử dụng những loại đấtnày chủ yếu vào lâm nghiệp
3.1.5.2 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt chính của bản Coọc chủ yếu được khai
thác từ hai khe chạy qua gặp nhau tại ngã ba xã Yên Hòa gọi là khe Nạm Ngân vàkhe Nạm Chà Hạ Đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất và sinh hoạt củanhân dân trong bản Nguồn nước thường bị nhiễm bẩn sau mỗi đợt mưa lũ nên khikhai thác để cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt cần được xử lý làm sạch bên cạnh
đó còn có một số ao, hồ nhỏ nằm rải rác trong bản, các rộc trũng nằm sát chân núicũng là nguồn nước mặt rất quan trọng cho sản xuất trong bản Nhìn chung nguồnnước mặt của bản Coọc khá phong phú, quanh năm đủ phục vụ sản xuất và sinhhoạt
- Nguồn nước ngầm: Hiện nay chưa có số liệu thống kê, đánh giá về nguồn
nước ngầm, nhưng qua khảo sát một số hộ trong bản cho thấy nguồn nước ngầm khádồi dào nhưng lại phân bố ở độ sâu, khó khăn cho việc khai thác phục vụ sinh hoạt
và sản xuất
Trang 233.1.6 Môi trường
- Về môi trường đất: Do trình độ thâm canh sản xuất nông nghiệp còn thấp và
chưa có biện pháp bảo về môi trường nên các hoạt động sản xuất nông nghiệp trongbản đã làm cho đất suy thoái, chủ yếu là xói mòn, rửa trôi bạc màu, tập quán ducanh du cư, phát triển làm nương rẫy của đồng bào dân tộc đã làm rừng của bản suygiảm đa dạng sinh học, tuy nhiên trong những năm gần đây việc trồng rừng trên bản
đã được đẩy mạnh Hiện nay năm 2010 bản có 36,7 ha đất rừng trồng, chiếm 9,92%
đất lâm nghiệp của bản 81 hộ gia đình trong bản đã có bìa đỏ chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp [Theo quyết định QĐ số 727 ngày 31/10/ 2003 của UBND
huyện Tương Dương] với diện tích đất bìa đỏ 183 ha, chiếm 49,5% đất lâm nghiệp
của bản, có 62 ha rừng cộng đồng do dự án OxFam Hồng Kông tài trợ năm 2008
Do vậy độ che phủ rừng đã được tăng lên đã ngăn ngừa một phần tác động tiêu cựcđến môi trường
- Về môi trường nước: Việc mất rừng gây nên sự suy thoái về trữ lượng nước
trong bản và làm ô nhiễm môi trường nước Dạng nhiễm bẩn chủ yếu nhất là cát bùnlàm tăng độ đục của sông suối, việc sử dụng phân hóa học và hóa chất bảo vệ thựcvật trong sản xuất nông nghiệp trong bản hiện tại khá phổ biến nhưng chưa tác độnglớn đến môi trường nước Tuy nhiên đây là một nguyên nhân tiềm ẩn tác động đếnchất lượng nước của bản, bên cạnh đó điều kiện vệ sinh môi trường của nhân dâncòn nhiều bất cập, gia súc gia cầm nuôi trong bản Coọc còn thả rông làm ảnh hưởngđến nguồn nước mặt dùng cho sinh hoạt
3.1.7 Nhận xét chung điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi
- Vị trí địa lý của bản tương đối thuận lợi nằm trong trung tâm của xã nên có
ưu thế để phát triển giao lưu mọi mặt, trao đổi hàng hóa, bố trí các cơ sở sản xuất,kinh doanh, buôn bán với các bản, xã vùng trong
- Nằm trên tuyến đường nối quốc lộ 7 và quốc lộ 48, đây là tuyến giao thôngthuận tiện trong giao lưu kinh tế - văn hóa với các bản, xã, thị trấn trong huyện và
Trang 24các vùng phụ cận là những điều kiện cơ bản để đẩy nhanh tốc độ kinh tế thươngmại, xây dựng vùng kinh tế trung tâm…
- Bản Coọc nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chiathành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau Thời tiết ở đây rất thuận lợi cho sự phát triển các loài cho sảnphẩm ngoài gỗ, đặc biệt là những loài có giá trị dược liệu
- Đất đai của bản có tính ổn định cao, khá thuận lợi cho việc phát tiển kinh tế
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, lao động, phân bố dân cư
Bản Coọc có 101 hộ với tổng số nhân khẩu là 405 khẩu Tổng số lao độngtrong độ tuổi là 191 người, chiếm 47,2% chủ yếu lao động trong nông nghiệp, một
số ít hoạt động trong ngành nghề khác như làm kinh tế thương mại và dịch vụ
Dân cư trong bản chủ yếu sống tập trung dọc theo tuyến đường trục nối quốc
lộ 7 và quốc lộ 48, hai cụm dân cư sống ven hai bên đường, một số ít sống làm kinh
tế bên bờ hai con sông gặp nhau khe Nạm Ngân và khe Nạm Chà Hà
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên bình quân những năm gần đây đạt 1,2% /năm
3.2.2 Thu nhập và đời sống
Theo kết quả tổng kết hoạt động năm 2008 - 2009 và phương hướng nhiệm
vụ năm 2010 - 2013 của BQL bản Coọc cho thấy thu nhập bình quân đầu người ởbản năm 2009 là 250.000 đồng/người/tháng
- Số hộ trung bình là 64 hộ chiếm 63,37%
- Số hộ nghèo là 37 hộ chiếm 36,63%
Trang 25- Không có hộ khá và hộ giàu.
3.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh
3.2.3.1 Sản xuất nông nghiệp
a/ Trồng trọt:
+ Trồng trọt là ngành sản xuất quan trọng của bản, mà chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp, song diện tích sản xuất nông nghiệp ở đây lại rất ít, chỉ tập trung vàosản xuất một số loại cây trồng ngắn ngày và cây hàng năm như ngô, sắn, lúa Trong
đó diện tích trồng thóc trên rẫy dốc chiếm phần lớn nhưng lại đạt hiệu quả kinh tếkhông cao được thống kê theo bảng sau:
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tổng kết hoạt động năm 2008-2009 và phương hướng
nhiệm vụ năm 2010 - 2013 của BQL bản Coọc)
Đất trồng ngô Đất trồng săn, khoai, màu khác
Trang 26- Lúa nước: Năm 2008 diện tích là 8,4ha; sản xuất 2 vụ; năng suất đạt 60%
Năm 2009 diện tích cấy là 8,4ha; sản xuất 2 vụ; năng suất bình quân kém hơn
so với năm 2008 xuống còn 48%, do ảnh hưởng dịch vàng lùn xoắn lá nhiều diệntích lúa của bản bị tiêu hủy
- Ngô: Năm 2008 có diện tích là 3,4ha; năng suất đạt 1,2 tấn/ha.
Năm 2009 diện tích giảm còn 2,8 ha; năng suất đạt 1,1 tấn/ha
- Sắn , khoai, hoa màu khác đạt 4,5ha
Tổng đàn gia cầm năm 2009 có 1015 con
Diện tích thả cá năm 2009 là 0,42 ha sản lượng ước đạt khoảng 45 tạ
Công tác phòng chống dịch cúm gia cầm được chú trọng quan tâm nên năm
2009 không có dịch bệnh lớn xảy ra với gia cầm, tuy nhiên bệnh tụ huyết trùng vẫnxảy ra với đàn gia súc nhưng do kịp thời xử lý, dịch bệnh không gây ra thiệt hại lớn.Tiêm phòng dại cho đàn chó được 50 con đạt 30,7% so với kế hoạch
Trang 273.2.3.2 Sản xuất lâm nghiệp
Bảng 3.3 Bảng hiện trạng đất lâm nghiệp của bản
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tổng kết hoạt động năm 2008-2009 và phương hướng nhiệm
vụ năm 2010 - 2013 của BQL bản Coọc)
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đất lâm nghiệp của bản
Đất trồng rừng Đất trồng cây phân tán
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của bản là 370 ha trong đó chủ yếu trồng một sốloài cây như keo, tràm,…và một số loài cây LSNG Hiện nay người dân trong bảnthường vào rừng để khai thác nguồn LSNG có giá trị về: dược liệu (Ráy rừng, Bách
bộ, Sa nhân, Hà thủ ô,…), thực phẩm (Rau sắng, Rau tầu bay, Củ mài,…), cây cảnh(Lan kiếm, Thiên tuế,…) Có thể nói nguồn thu nhập từ LSNG của người dân, đãgóp phần làm tăng tổng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân trong bản
Trang 28Do sự đầu tư về lâm nghiệp của bản chưa cao nên năng suất thu nhập từ lâm nghiệpcòn thấp nhưng đây sẽ là một tiềm năng phát triển của bản khi được đầu tư, tổ chức,quy hoạch sản xuất một cách phù hợp.
3.2.3.3 Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Trong những năm gần đây địa phương đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp tăng tỷ trọng ngành tiểu thủ côngnghiệp và dịch vụ nhưng đến nay các ngành nghề này vẫn trong tình trạng chậmphát triển Hiện bản có 5 hộ gia đình với khoảng 21 lao động hoạt động trong ngànhkinh tế thương mại và dịch vụ chiếm 11% tổng số lao động của bản, chủ yếu làmcác dịch vụ cung cấp vật tư nông nghiệp, sửa xe máy Một số hộ mở các cửa hàngtạp hóa, buôn bán nhỏ ở thôn bản
- Hệ thống điện: Cho đến nay 100% các hộ gia đình trong bản đã được sửdụng mạng lưới điện quốc gia, giá bán điện đến hộ gia đình 1200 đ/KW, chất lượngphục vụ tốt
- Hệ thống thuỷ lợi: Phục vụ cho tưới tiêu chủ yếu thông qua kênh các cấp.Nhìn chung hệ thống kênh mương nội đồng đều đã được bê tông hoá rất thuận lợicho việc sản xuất của bà con
- Hệ thống giáo dục: Bản Coọc có 3 trường học đóng trên địa bàn: 1 trườngmẫu giáo, 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở với công tác giảng dạy đạtchất lượng, cơ sở vật chất tương đối tốt Nhìn chung các em trong bản đến độ tuổi
đi học đều được đến trường đầy đủ, không còn tình trạng trẻ em thất học Trong
Trang 29năm 2009 bản có 15 cháu mầm non, 32 em tiểu học, 38 em trung học cơ sở, 13 emtrung học phổ thông, 3 em cao đẳng, 3 em đại học
- Y tế: Trong bản có 1 trạm y tế của xã và 1 phòng khám đa khoa phục vụcho các bản bên cạnh và chung cho 6 xã vùng trong như Yên Tĩnh, Yên Na, YênThắng, Nga My…mọi hoạt động khám chữa bệnh ở xã đều tập trung tại đây
- Hệ thống thông tin: Trong bản có 1 trạm viễn thông và 1 bưu điện văn hóa
xã, 2 cột thu phát sóng viễn thông Có khoảng 70% hộ gia đình trong bản có máyđiện thoại đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc với bên ngoài, 85% số hộ có ti vi
- Bản đã có nhà văn hoá cộng đồng và hệ thống nước tự chạy do chương trình
135 tài trợ đưa nước đến tận thôn bản, đảm bảo nước sinh hoạt và phục vụ đời sống
3.2.5 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế - xã hội
*Thuận lợi: - Lực lượng lao động dồi dào: Đa số dân trong bản sống bằng
nghề nông, lâm, ngư nghiệp số người trong độ tuổi lao động nhiều (47,2%)
- Kiến thức bản địa của người dân phong phú rất có ý nghĩa khi kết hợp vớikiến thức khoa học hiện đại trong phát triển kinh tế địa phương nói chung và pháttriển nguồn tài nguyên LSNG nói riêng
*Khó khăn: - Trình độ phát triển kinh tế còn ở mức thấp, sản lượng sản
xuất các ngành NLN, tiểu thủ công nghiệp, còn nhỏ lẻ
- Nhìn chung cơ sở sản xuất các hộ nông dân phần lớn còn thiếu vốn, kỹthuật Nguồn nhân lực dồi dào nhưng trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật thấp, thiếuđội ngũ tri thức, lao động có tay nghề cao
- Lâm nghiệp vẫn chưa được quan tâm đúng mức Hiệu quả kinh tế từ hoạtđộng sản xuất lâm nghiệp còn thấp Người dân vào rừng khai thác một cách tự do
mà không có cơ quan nào quản lý Tài nguyên rừng ngày càng bị khai thác bóc lộtmột cách thô bạo, các loài có giá trị trở lên cạn kiệt và khan hiếm
Trang 30Tóm lại: Với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình cũng như điều kiện
kinh tế xã hội của bản là cơ sở vững chắc, là tiềm năng to lớn cho sự phát triển kinh
tế - xã hội bản Coọc cũng như phát triển rừng nói chung và LSNG nói riêng
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố bên trong đến tài nguyên LSNG
4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng bản Coọc
4.1.1.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao
Tầng cây gỗ của rừng bao gồm các loài chiếm tầng trên, có tác động chủ đạotrong việc hình thành tiểu hoàn cảnh của rừng, là một nhân tố quan trọng đối vớiviệc tồn tại và phát triển của các sinh vật rừng trong đó có các loài thực vật choLSNG
Qua khảo sát thực địa trên 15 ô tiêu chuẩn của 3 lô rừng kết hợp với tài liệunghiên cứu và mô tả của người dân, đã xác định được các trạng thái rừng hiện có tạikhu vực là:
- Trạng thái II: Trong đó được phân thành hai trạng thái IIA , IIB: Chủ yếu là cây
ưu sáng, thuần loài có đường kính 6 - 32 cm, trữ lượng nhỏ Đây là đối tượng cần đượcnuôi dưỡng
- Trạng thái III: Chủ yếu cây gỗ lớn có đường kính 6 - 54 cm Đây là trạngthái có tầng cây cao phân bố không đều do đã bị khai thác chọn
Kết quả điều tra tầng cây cao được thể hiện ở bảng sau:
Trang 31Bảng 4.1 Các nhân tố bình quân tầng cây cao
- N : Số cây trong một ô tiêu chuẩn.
- : Đường kính (tại 1,3 m) trung bình (cm)
- H vn : Chiều cao vút ngọn trung bình (m)
- G : Tiết diện ngang trung bình (m2)
3
Trang 32- V cây : Thể tích trung bình một cây (m3)
- M0 : Trữ lượng trung bình 1 ô tiêu chuẩn (m3)
Trữ lượng trung bình của một ô tiêu chuẩn:
M = ∑Mo/15 = 17,15 (m3)
Trữ lượng trung bình của 1 ha
M / ha = (M0* 10)/3 = 57,16 (m3)
Bảng 4.2 Diện tích và trữ lượng các lô rừng
- S : Là diện tích của lô rừng tính bằng (ha)
- : Trữ lượng trung bình của một ha tính bằng (m3)
- Mlô : Trữ lượng của một lô rừng tính bằng (m3)
Trữ lượng tầng cây cao là 3543,9 m3
Qua đó cho thấy trữ lượng gỗ tại khu vực nghiên cứu còn tương đối thấp Sở
dĩ rừng ở đây còn trữ lượng gỗ như vậy là do trước đây người dân khai thác cây gỗvới ý thức không cao để phục vụ lợi ích trước mắt như làm nhà, làm cột, làm chuồngtrại gia súc, củi đun và các nhu cầu khác nên TNR bản Coọc bị cạn kiệt đi nhiều.Gần đây do công tác khoanh nuôi bảo vệ, sự tài trợ của dự án OxFam Hồng Kông(năm 2008) nên TNR của bản đang dần được phục hồi Trong khu vực nhìn chungchủ yếu trạng thái rừng non chiếm đa phần trong trạng thái II, sản lượng gỗ thấptrạng thái rừng này cần được nuôi dưỡng, bảo vệ Với thực trạng TNR như vậy, đặt
ra một vấn đề cho bản là ngoài các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, cần có
) ( /ha m3
M
ha
M /
Trang 33biện pháp trồng bổ sung các loài có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện tựnhiên của bản và tổ chức quy hoạch quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên này mộtcách hợp lý để đạt được hiệu quả cao nhất Ở dưới tầng cây cao còn nhiều loài câyrất phong phú, đa tác dụng cho các loài LSNG có giá trị kinh tế cao, sống dưới dạngdây leo, cây bụi và cây cỏ đặc trưng với các tổ thành chính như: Rau tầu bay
(Crassocephalum crepidioides (Benth.) S Moore ), Lụi (Rhapis cochinchinensis (Lour.) Mart), Sa nhân (Amomum xanthioides Wall ex Baker), Rau dớn (Callipteris
esculenta (Retz.) J Smith), Nứa (Neohouzeana dullooa (Gamble) A Camus),…Có
thể nói đó là một tiềm năng lớn cho việc phát triển thực vật cho LSNG, làm tăng thunhập từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong khu vực
4.1.1.2 Hiện trạng tầng cây tái sinh
Tầng cây tái sinh có vai trò quan trọng, chúng có khả năng sinh trưởng vàphát triển thành cây gỗ chính, là tiềm năng để phát triển tài nguyên rừng Vậy đểbiết được tình hình sinh trưởng của tầng cây tái sinh tôi đã tiến hành điều tra trêncác ô tiêu chuẩn với các trạng thái rừng II, III kết quả điều tra như sau:
Bảng 4.3 Bảng hiện trạng tầng cây tái sinh
Qua bảng 4.3 cho thấy:
Các cây tái sinh trong khu vực nghiên cứu sinh trưởng tương đối tốt, trong đótrạng thái III chiếm tỷ lệ sinh trưởng tốt nhất (66,99%) phần lớn là các cây như Săng
lẻ, Chẹo, Dẻ,…Trạng thái IIgồm IIA và IIB cũng cho thấy tình hình sinh trưởng khá
Trang 34cao, chủ yếu là những cây có chiều cao trung bình từ 1 - 3m, hầu hết chúng là nhữngcây ưu bóng trong giai đoạn đầu và một số ít ưu sáng Đó là tiềm năng lớn để pháttriển tài nguyên rừng Do vậy trong thời gian tới cần có các biện pháp khoanh nuôi,bảo vệ, xúc tiến chúng phát triển thành các cây gỗ chính.
Qua điều tra cũng cho thấy tầng cây tái sinh ở đây ít về số lượng do sự chèn
ép của cây bụi thảm tươi
4.1.1.3 Hiện trạng cây bụi thảm tươi
Tầng cây bụi thảm tươi là tầng phản ánh các yếu tố về mức độ đa dạng sinhhọc, góp phần hình thành tiểu khí hậu dưới tán rừng, cũng như phản ánh một phầntính chất đất, ảnh hưởng đến khả năng chống xói mòn bề mặt, tăng cường tính chất
lý hóa, ẩm độ của đất Với vai trò quan trọng như vậy tôi đã tiến hành điều tra thuđược kết quả như sau:
Bảng 4.4 Bảng tóm tắt các loài cây chủ yếu ở các trạng thái
Độ che phủ(%)
IIA
Sa nhân, Rau dớn, Ngải si, Đơn
IIB
Sa nhân, Môn thục, Dẻ, Ngải si,
Thiên niên kiện, Cơm nguội, Sữa,
Săng lẻ, Cam thảo đất,…
Trang 35loài cây cỏ dây leo ở đây có rất nhiều loại cho LSNG như Sa nhân (Amomum
xanthioides Wall ex Baker), Rau dớn (Callipteris esculenta (Retz.) J Smith), Có
tác dụng làm thuốc, làm thực phẩm,…Chúng sinh trưởng phát triển tương đối tốt, cóchiều cao trung bình từ 0,42 - 0,77 m độ che phủ từ 35,62% - 70%
4.1.2 Hiện trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ bản Coọc
Thông qua điều tra thực địa trên các ô tiêu chuẩn, kết hợp với phỏng vấnngười dân địa phương tôi đã thống kê được danh mục tên các loài thực vật choLSNG chủ yếu trong khu vực nghiên cứu, kết quả được thể hiện trong bảng sau:
Trang 36Bảng 4.5 Danh mục các loài thực vật cho LSNG chủ yếu của bản
Embelia Embelia ribes Burm f. Dây chua ngút
Maesa Maesa perlarius (Lour.)Merr. Đơn nem
(Thunb.) Sweet,
Mò đỏ
Hoa mõm chó
(Scrophulariaceae)
Scoparia Scoparia dulcis L. Cam thảo đất
Picria Picria fet-terrae Lour Mật đất
Cẩm quỳ(Bông)
(Malvales)
Đay (Nghiến, Còke)