Với ý nghĩa, tầm vóc lớn lao đó của Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: L
Trang 1lời cảm ơn
Trong quá trình tiến hành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận đợc sự ớng dẫn khoa học của thấy giáo TS: Trần Văn Thức, cũng nh‐ sự động viên khích lệ, giúp đỡ của bạn bè, gia đình và các thầy cô giáo khác trong Khoa Lịch sử
h-Nhân dịp khóa luận đợc hoàn thành, tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn
đến thầy giáo - TS Trần Văn Thức - ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Lịch Sử Trờng Đại học Vinh, cùng gia đình, bạn bè đã hết sức giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này
Xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên: Phan Thị Vân
Trang 2
1.1.2.2 Những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt
Nam dới thời Nhật - Pháp
10
1.2 Đối sách của Đảng cộng sản Đông Dơng 12
1.2.1 Chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng - Nêu
cao nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc
2.2.2.1 Xây dựng các đội vũ trang
2.2.2.2 Đào tạo, huấn luyện, trang bị vũ khí
2.2.3 Vai trò của lực lợng vũ trang trong Cách mạng tháng Tám
28
35 36 36 37 37 45 47
Trang 359 62
A mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc, ông cha
ta đã làm nên biết bao chiến công hiển hách chói lọi tô thắm cho lịch sử dân
Trang 4tộc Trong đó Cách mạng tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, sáng ngời nhất của truyền thống đó
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không chỉ có ý nghĩa trong nớc
mà còn có ý nghĩa trên bình diện quốc tế Bởi vì trong bất cứ sự kiện lịch sử nào, nhất là trong thời đại ngày nay không thể không chịu ảnh hởng của tình hình thế giới, của các dân tộc khác và tác động trở lại đối với thế giới ảnh h-ởng và chịu ảnh hởng giữa các dân tộc đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ khi
mà xu thế toàn cầu hóa ngày càng tăng Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó
Đối với dân tộc ta thắng lợi Cách mạng tháng Tám đã tạo ra một bớc ngoặt trong lịch sử dân tộc Cách mạng tháng Tám đã giật tung xiềng xích nô
lệ của thực dân Pháp đè nặng trên đất nớc Việt Nam trên 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào đợc ngai vàng phong kiến ngự trị trên đất nớc ta ngót chục thế kỷ Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám lần
đầu tiên một nhà nớc mới đã đợc xây dựng ở nớc ta - Nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nớc của dân, do dân, vì dân Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân thực sự của đất nớc Thắng lợi đó mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Đối với thế giới: thắng lợi của Cách mạng tháng Tám có ý nghĩa hết sức to lớn Trong Cách mạng tháng Tám, chúng ta đã phải đấu tranh chống lại phát xít Nhật chiếm đóng trong gần 5 năm và đã vùng lên dành lấy chính quyền từ tay Nhật Thắng lợi đó đã góp phần cùng với nhân dân thế giới đánh bại chủ nghĩa phát xít mang lại hòa bình cho nhân loại
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra thời kỳ phi thực dân hóa trên toàn thế giới Với ý nghĩa đó, Cách mạng tháng Tám đợc xem là một “đột phá khẩu” vào bức tờng thành của chủ nghĩa thực dân thế giới
Cách mạng tháng Tám báo hiệu giờ giải phóng của các dân tộc bị áp bức đã đến
Trang 5Với ý nghĩa, tầm vóc lớn lao đó của Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới
15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” [11;59]
Tuy nhiên để có đợc thắng lợi đó phải trải qua một quá trình chuẩn bị lâu dài của toàn thể dân tộc, đứng đầu là Đảng cộng sản Đông Dơng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong quá trình đó Đảng ta và Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, chăm lo xây dựng lực lợng cách mạng và căn cứ địa cách mạng Lực l-ợng cách mạng ở đây trớc hết là lực lợng chính trị quần chúng, trên cơ sở đó từng bớc xây dựng lực lợng vũ trang cách mạng Đó là lực lợng từ nhân dân
mà ra, đợc nhân dân đùm bọc, nuôi dỡng có chỗ đứng vững chắc trong nhân dân và trong căn cứ địa cách mạng
Cách mạng tháng Tám đã đi qua nhng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm hết sức quý báu cho Đảng ta, cho nhân dân ta trong quá trình phát triển đất nớc Do đó việc khôi phục lại những trang sử vẻ vang, oanh liệt ấy
có ý nghĩa rất quan trọng để phục vụ cho cuộc sống hiện tại và tơng lai, để phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Là một sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam tôi thiết nghĩ việc nghiên cứu, tìm hiểu về quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám là việc cần thiết, bổ ích góp phần làm sáng tỏ và khẳng định thêm vai trò to lớn, quan trọng của Đảng ta trong thời kỳ lịch sử đầy biến động đó
Chính vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: Đảng ta với“
quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám” làm khóa luận tốt nghiệp
cho mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 6Từ trớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Cách mạng tháng Tám Tuy nhiên với đề tài: “Đảng ta với quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám”, cho đến nay chỉ đợc đề cập rải rác trong nhiều cuốn sách khác nhau, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề, chẳng hạn nh:
- Trong cuốn: Lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945 - NXB Chính trị quốc gia Hà Nội - 1995, chủ yếu diễn tả tiến trình cách mạng từ tháng 11/1939 đến khởi nghĩa giành chính quyền và sự thành lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
- Trong cuốn: Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Phan Ngọc Liên -NXB Từ điển bách khoa Hà Nội - 2005, trình bày một số vấn đề cơ bản của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trình bày những điểm khái quát riêng biệt
độc đáo trong sự bùng nổ và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở các tỉnh,
địa phơng trong cả nớc
- Trong cuốn: Cách mạng tháng Tám trong tiến trình lịch sử dân tộc - NXB Chính trị quốc gia Hà Nôi - 2005, chủ yếu trình bày diễn biến, tính chất, đặc điểm, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám
- Trong cuốn: Những Nghị quyết cơ bản dẫn đến thắng lợi Cách mạng tháng Tám - NXB Sự thật 1983, chủ yếu nói đến khía cạnh chuẩn bị về đờng lối của Đảng cộng sản Đông Dơng tại các Hội nghị Trung ơng lần VI, VII, VIII thời kỳ 1939- 1941
- Trong cuốn: Lịch sử cứu quốc quân - Ban nghiên cứu lịch sử Đảng khu tự trị Việt Bắc - NXB Việt Bắc - 1975, đề cập đến quá trình ra đời và tr-ởng thành nhanh chóng của đội cứu quốc quân trong quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám
- Trong cuốn: Căn cứ địa Việt Bắc của Hoàng Quang Khánh, Lê Hồng, Hoàng Ngọc La - NXB Việt Bắc - 1976, chủ yếu nói đến sự ra đời và phát triển của căn cứ địa Việt Bắc trong Cách mạng tháng Tám
- Trong cuốn: Xã hội Việt Nam trong thời Pháp - Nhật - NXB Văn Sử
Địa Hà Nội 1957, chủ yếu tố cáo tội ác của hai tên phát xít Pháp - Nhật với‐
Trang 7những thủ đoạn thâm độc, tàn bạo và cuộc sống khổ cực, cơ hàn của nhân dân ta dới hai gông xiềng xích đó
Nhìn chung các tài liệu trên cha nêu lên một cách đầy đủ, toàn diện và
có hệ thống về quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám Do đó để có một công trình chuyên khảo về vấn đề đó đòi hỏi sự đầu t công phu và chu
đáo hơn
Trong khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi cố gắng hệ thống hóa kiến thức trên cơ sở kế thừa và phát triển những tài liệu đã thu thập đợc để góp phần tái hiện lại một cách có hệ thống, đầy đủ về quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám, từ việc chuẩn bị về đờng lối đến việc xây dựng lực l-ợng chính trị quần chúng, lực lợng vũ trang nhân dân và căn cứ địa cách mạng
3 Phạm vi và đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám, trọng tâm là chuẩn bị về đờng lối, về lực lợng Cách mạng và căn
cứ địa cách mạng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài từ năm 1939 đến năm 1945 trên bình diện toàn quốc
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu Quá trình chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám của
Đảng ta, tôi tập trung khai thác các nguồn tài lệu chủ yếu: Các Chỉ thị, Nghị quyết, Thông cáo của Đảng, của Mặt trận Việt Minh; các tác phẩm của Tr-ờng Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh
Trên cơ sở những nguồn tài liệu đó, để tiến hành khóa luận này tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic, ngoài ra còn sử dụng phơng pháp so sánh, đối chiếu
Trang 9Trong thời kỳ 1936 1939, mặc dù cả loài ng‐ ời tiến bộ đã tập trung lực lợng đấu tranh chống lại sự bành trớng của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh do chúng gây ra, song với bản chất hung hăng, tàn bạo của chủ nghĩa phát xít đã làm cho tình hình thế giới ngày càng chuyển biến theo chiều hớng xấu Bởi vậy nguy cơ chiến tranh thế giới mới là khó tránh khỏi.
Ngày 1/9/1939, Đức bất ngờ tấn công Ba Lan, chính thức mở màn cho
đại chiến thế giới lần thứ II, đã đẩy nhân loại rơi vào một cuộc tàn sát ghê gớm cha từng thấy trong lịch sử loài ngời Anh - Pháp thấy vậy liền lên tiếng
đòi Đức rút quân khỏi Ba Lan, nhng đề nghị đó không đợc Đức chấp nhận Hai ngày sau Anh - Pháp tuyên chiến với Đức
Dựa vào tiềm lực kinh tế, quân sự của mình, phát xít Đức ồ ạt tấn công
và chỉ sau một thời gian ngắn đã thôn tính hầu hết các nớc Bắc Âu Tiếp đó tháng 6/1940, Đức tấn công nớc Pháp Liên quân Anh - Pháp vốn rất tự tin với chiến lũy Marinô nhng bị quân Đức bất ngờ tấn công do vậy cũng hết sức hoảng hốt chạy ra khỏi phòng tuyến, bỏ ngõ Pari cho quân Đức chiếm đóng Ngày 22/6/1940, chính phủ Pháp phải ký Hiệp ớc đầu hàng phát xít Đức - ý
và một chính phủ phản động làm tay sai cho phát xít đợc dựng lên ở nớc Pháp, kể từ đây chúng thẳng tay đàn áp Đảng cộng sản Pháp và phong trào dân chủ tiến bộ ở trong nớc cũng nh ở các nớc thuộc địa của Pháp Vì thế đã làm cho tình hình Đông Dơng chuyển sang một hớng khác
Lợi dụng những thắng lợi bớc đầu của phe phát xít ở Châu Âu, ở Châu
á phát xít Nhật cũng ráo riết đẩy mạnh hoạt động, cớp lấy thuộc địa của các nớc đế quốc, nh thuộc địa của Anh, Hà Lan, Pháp; trong đó có Đông Dơng
Đông Dơng là một khu vực đông dân, giàu có về tài nguyên thiên nhiên, có một vị trí chiến lợc quan trọng do đó đợc Nhật Bản quan tâm hàng
đầu trong chính sách Châu á Nhật Bản muốn nhân cơ hội này chiếm lấy một phần thuộc địa của Pháp để vơ vét nguồn nguyên liệu giàu có cung cấp cho
Trang 10chiến tranh, đồng thời biến Đông Dơng thành một căn cứ quân sự tấn công lên Hoa Nam, thành chiếc cầu nối xuống Nam Dơng.
Tháng 6/1940, một mặt Nhật cho quân tiến vào Quảng Tây, giáp biên giới Việt Trung Mặt khác lợi dụng Pháp bại trận ở Châu Âu, Nhật lập tức‐gửi tối hậu th cho Pháp vào ngày 19/6/1940 về vấn đề Đông Dơng Trong đó, yêu cầu Pháp phải đóng cửa biên giới Việt - Trung, phải ngừng ngay mọi việc chuyên chở etsăng, quân dụng khác Khi nhận đợc điện báo, tên toàn quyền Catơru không dám trì hoãn, vội hạ lệnh đình chỉ ngay việc chuyên chở Tiếp
đó ngày 30/8/1940, Đơcu lại phải ký một hiệp định thừa nhận đặc quyền của Nhật ở Đông Dơng và Viễn Đông Tuy nhiên đó chỉ mới là bớc đi đầu tiên của Nhật trong việc cớp chính quyền của Pháp ở Đông Dơng
1.1.2 Tình hình trong nớc
1.1.2.1 Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dơng
Ngày 22/9/1940, Nhật vợt qua đờng biên giới Việt - Trung đánh vào Lạng Sơn, đồng thời cho 6.000 quân đổ bộ lên Đồ Sơn (gần Hải Phòng) chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lợc Đông Dơng
Nếu nh Máctanh - Tổng chỉ huy quân đội Pháp đã từng lạc quan tuyên
bố rằng quân Pháp có thể đánh tan 3 s đoàn quân đội Nhật thì nay toàn bộ bọn thống trị Pháp ở Đông Dơng lại hết sức hoang mang, chỉ sau vài trận thử sức nhỏ ở biên giới Vịêt - Trung mà tên toàn quyền Đơcu đã “vội vàng noi g-
ơng đồng bọn của chúng ở Pháp, quỳ gối đầu hàng, dâng Đông Dơng cho Nhật” vào ngày 22/9/1940 [ 1;18] Kể từ đây nhân dân Việt Nam bị 2 kẻ thù phát xít Nhật -Pháp cùng thống trị, nhân dân ta rơi vào cảnh “một cổ đôi tròng” đã làm trâu ngựa cho Tây lại làm nô lệ cho Nhật
1.1.2.2 Những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam dới thời Nhật - Pháp.
Sự cấu kết chặt chẽ giữa Pháp - Nhật trong âm mu xâm lợc nớc ta với chính sách vơ vét, bóc lột hết sức tàn bạo của chúng đã làm đảo lộn mọi mặt trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nhân dân ta
Trang 11- Về kinh tế: đối với bọn đế quốc Pháp, để có đợc một cuộc ăn cớp lớn
lao nhằm cung ứng cho phát xít Nhật, để duy trì bộ máy hành chính ở Đông Dơng chúng đã sử dụng rất nhiều thủ đọan Thực dân Pháp thực thi ở Đông Dơng chính sách kinh tế chỉ huy mà thực chất là lợi dụng thời chiến để nắm
độc quyền về kiểm soát giá cả, kiểm soát sản xuất phân phối “để xiết chặt cái thọng lọng có sẵn vào cổ nhân dân Việt Nam hơn nữa” [27;112] Mặt khác, chúng còn tăng thêm các loại thuế gián thu nh: thuế tiêu thụ, thuế vận chuyển, thuế muối, thuế rợu thu mua lúa gạo, thực phẩm theo lối cỡng bức với giá rẻ mạt
Còn phát xít Nhật “từ ngày giặc Nhật sang ta, đồng bào ta không lạ gì những thủ đọan ăn cớp của chúng Nào cân hàng cớp chợ; nào phá màu trồng
đay (ở Bắc Kỳ), phá bông trồng Lạc (ở miền Bắc - Trung Kỳ); nào tịch thu nhà cửa, xe cộ, thuyền bè; nào đuổi dân chiếm đất làm trờng bay, đóng trại; cớp trâu, bò, lợn, gà cho binh lính; đến nỗi cắt lúa chín của dân cho ngựa ăn; cớp cả bó rơm, mớ rau, quả trứng Có nơi giặc Nhật vin vào lý do quân sự để thi hành thủ đọan tham tàn; chúng còn cớp cả đình chùa, nhà thờ đạo Lòng tham của chúng quyết không dung thứ cả đến tín ngỡng” [27;83]
Với những chính sách tàn bạo mà bọn chúng đã làm cho đồng bào ta thiếu thốn, đói rách đủ trăm bề, làm cho hai triệu đồng bào ta phải chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945
Trang 12một số trờng Cao đẳng, Đại học: Cao đẳng khoa học; Cao đẳng thể dục chỉ vì một lẽ chúng cần thêm một số viên chức làm tay sai trong việc bóc lột, hay chúng tổ chức những trò chơi nh: đua xe, bơi lội trong đó có cả thanh niên Pháp và thanh niên Việt Nam cũng tham gia để tạo ra một vẻ bề ngoài đoàn kết nhng thực chất là để ru ngủ thanh niên Việt Nam.
Phát xít Nhật cũng tung ra nhiều thủ đoạn tuyên truyền xảo trá Chúng cho phát hành phim chuyện, sách báo nói về chiến thắng của Nhật ở Singapo ; Mở lớp dạy tiếng Nhật tuyên truyền thuyết “Đại Đông á” nhằm tạo ra tâm lý sợ Nhật, ru ngủ nhân dân ta và gạt ảnh hởng của Pháp Mặt khác phát xít Nhật còn duy trì chính quyền thực dân Pháp để làm hậu phơng an toàn cho chúng khi mở rộng chiến tranh
‐ Về mặt xã hội: dới hai tầng áp bức phát xít Nhật - Pháp, chỉ trừ một
bộ phận đại địa chủ, bọn đầu cơ tích trữ đợc thực dân phát xít dung dỡng, còn lại tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam đều trở nên điêu đứng, cực khổ Cụ thể là:
+ Giai cấp công nhân: Bị tớc đọat hết những thành qủa giành đợc trong thời kỳ đấu tranh dân chủ Thay vào đó là sự áp bức bóc lột hết sức thậm tệ: giờ làm việc tăng lên từ 60 - 72 giờ/tuần trong khi tiền lơng bị cắt giảm, bị
động viên đi lính, gia đình ly tán
+ Giai cấp nông dân: Chịu 3 tầng áp bức, bóc lột của Nhật - Pháp và phong kiến Ruộng đất bị cớp đọat, su cao, thuế nặng, tài sản bị vơ vét, phải
đi phu, đi lính làm cho đời sống nông dân vốn đã cực khổ nay càng trở nên khổ cực hơn nữa
+ Giai cấp tiểu t sản: cũng chịu chung số phận nộ lệ Họ bị đẩy vào con đờng bế tắc phá sản Tiểu t sản thành thị buộc phải đóng cửa hiệu vì thuế má tăng cao, hàng hóa ế ẩm Đội ngũ viên chức bị sa thải, làm thêm giờ học sinh, sinh viên thiếu trờng học, học xong không có việc làm
Trang 13+ Giai cấp t sản: chỉ trừ bộ phận t sản mại bản lợi dụng chiến tranh để
đầu cơ, tích trữ, còn phần đông t sản dân tộc cũng lâm vào cảnh bế tắc, sa sút, phá sản
+ Giai cấp địa chủ, phong kiến: trừ tầng lớp đại địa chủ ôm chân phục
vụ đế quốc, nói chung đa số trung, tiểu t sản thiệt hại không ít, chẳng hạn nh: tài sản bị sung công phục vụ chiến tranh, giá lúa hạ phải bán rẻ
Nhìn chung, ta thấy đại đa số quần chúng nhân dân đều lâm vào cảnh
“Thực không bao giờ con ngời lại bị dày xéo, chà đạp bởi trăm thứ khốn nạn
Ngay từ khi mới ra đời, trong cơng lĩnh chính trị đầu tiên của mình,
Đảng ta đã khẳng định con đờng phát triển của cách mạng Việt Nam là: đi từ cách mạng t sản dân quyền tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm 2 giai đọan: giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Đến Luận cơng chính trị, tháng 10/1930 đã chỉ rõ: Cách mạng dân tộc dân chủ ở nớc ta có 2 nhiệm vụ cơ bản: dân tộc và dân chủ; chống đế quốc và phong kiến Luận cơng nêu lên mối quan hệ hữu cơ giữa 2 nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến tiến hành đồng thời, nhng lại cha xác định đợc nhiệm vụ nào phải đặt lên hàng đầu
Đến thời kỳ 1939 1945, khi chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Đảng‐cộng sản thấy tình hình mới cho phép và đòi hỏi một sự chuyển hớng chiến l-
ợc nhằm tạo ra đầy đủ khả năng đoàn kết tất cả các dân tộc không chừa một
Trang 14giai cấp nào dù là địa chủ, t sản, đoàn kết xung quanh công nông liên minh tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Trong đờng lối chuyển hớng chiến lợc đó, Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh quyết định rút bớt khẩu hiệu cách mạng phản phong Cách mạng Việt Nam từ nay là cách mạng giải phóng dân tộc, chủ yếu nhằm đạt mục đích
độc lập, tự do, lập chính quyền dân chủ cộng hòa trên cơ sở đại đoàn kết toàn dân trong đấu tranh chính trị và vũ trang chống Pháp, chống Nhật Và đây đ-
ợc xem là thành công lớn nhất của Đảng ta về đờng lối chỉ đạo chiến lợc cách mạng trong thời kỳ 1939 1945 Bởi lẽ Đảng đã nhận thức đ‐ ợc đúng đắn hai mâu thuẫn cơ bản trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở nớc ta Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân, dân tộc ta với đế quốc là mẫu thuẫn chủ yếu Giải quyết đợc mâu thuẫn chủ yếu này sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết các mâu thuẫn khác, trong đó có mẫu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến, do đó nhiệm vụ chống phong kiến phải luôn luôn phục vụ nhiệm
vụ chống đế quốc, mọi vấn đề phải đợc giải quyết trên cơ sở huy động tối đa nhân lực, vật lực cho cách mạng
1.2.2 Những Thông cáo, Chỉ thị, Nghị quyết thể hiện đờng lối chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng.
Sự kiện đầu tiên thể hiện t tởng chuyển hớng của Đảng ta là ngay trớc khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp nổ ra Đảng đã kịp chỉ thị cho các cấp
Đảng ủy Trong đó nêu lên các Đảng ủy phải mau chóng rút lui vào hoạt
động bí mật và giữ liên hệ với quần chúng; Duy trì cơ sở ở thành thị đồng thời chuyển trọng tâm công tác về vùng nông thôn, biến nông thôn thành một căn cứ địa rộng lớn của cách mạng
Tiếp đó là bản Thông cáo ngày 29/9/1939 của Trung ơng Đảng gửi cho các cấp bộ Đảng Bản thông cáo nêu rõ: "Hoàn cảnh Đông Dơng sẽ tiến bớc đến vấn đề dân tộc giải phóng" và Thông cáo cũng yêu cầu các đồng chí cán bộ, đảng viên phải nhận rõ hoàn cảnh vô cùng khó khăn, hiểm nghèo trớc
Trang 15mắt của cách mạng để đề cao tinh thần hy sinh, khắc phục tự do, lững chững Mỗi đồng chí nhịn ăn, bớt mặc tổ chức lạc quyên để giải quyết khó khăn tài chính
Nh vậy, từ bản chỉ thị đến bản thông cáo của TW gửi cho các cấp
Đảng ủy đã bớc đầu uốn nắn những nhận thức chính trị, t tởng cho các đồng chí cán bộ đảng viên và đặt ra vấn đề dân tộc giải phóng Tuy nhiên sự kiện
đánh dấu sự chuyển biến trong nhận thức cũng nh trong chỉ đạo chuyển hớng chiến lợc của Đảng ta phải kể đến Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ
VI (11/1939)
Vào tháng 11 năm 1939, Đảng ta đã triệu tập Hội nghị Ban chấp hành
TW lần thứ VI để “quyết định những chủ trơng mới một cách toàn diện và cơ bản hơn” [22; 22] Hội nghị đợc tiến hành từ ngày 6 8/11 tại Ba Điểm Hóc‐ ‐Môn Gia Định do đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí th‐ đảng chủ trì Hội nghị đã phân tích tình hình thế giới và trong nớc
Về tình hình thế giới:
‐ Hội nghị nhận định chiến tranh thế giới thứ II
là một cuộc chiến tranh đế quốc, là một thứ chiến tranh cớp bóc, phản động trái với công lý Đồng thời nêu lên tiền đồ cách mạng sẽ đa tới một cuộc khủng hoảng mới làm cho trật tự cũ lung lay tận gốc, còn nhân dân lao động
ở các nớc t bản cũng nh thuộc địa sẽ vùng dậy đấu tranh liều chết với đế quốc
đời sống xã hội của các dân tộc Đông Dơng
Hội nghị cũng đã phân tích thái độ và tình hình của giai cấp xã hội ở trong xứ, từng đảng phái chính trị, từng tôn giáo và từ đó rút ra đợc mối quan
hệ lực lợng giữa các giai cấp: Một bên là đế quốc Pháp nắm hết mọi quyền
Trang 16lợi dựa vào bọn vua quan bản xứ thối nát, bọn chó săn bán lợi ích dân tộc; Một bên là các dân tộc Đông Dơng bị chúng áp bức đến tận xơng tủy: và
"những thảm trạng do đế quốc chiến tranh gây nên sẽ làm cho trình tự giai cấp tiến hóa và cách mệnh hóa của quần chúng hết sức mau chóng, lòng phẩn uất sẽ sôi nổi, cách mạng sẽ bùng nổ " [16 ; 40]
Hội nghị BCHTW lần thứ VI đã quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dơng thay cho Mặt trận dân chủ trớc đó không còn thích hợp nữa, để đoàn kết các dân tộc Đông Dơng, các đảng phái chính trị, các giai cấp đặng tranh đấu chống lại đế quốc phát xít xâm lợc giành lại
độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dơng: “Bớc đờng sinh tồn của cách mạng Đông Dơng không còn con đờng nào khác hơn là con đờng đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc [16 ; 42]
Hội nghị xác định cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc Đông Dơng của Mặt trận phản đế là một kiểu cách mạng t sản dân quyền, trong đó hai nhiệm vụ phản đế và phản phong là mấu chốt, không thay đổi song phải áp dụng một cách khôn khéo để thực hiện đợc nhiệm vụ chính là đánh đổ đế quốc Vì vậy Hội nghị quyết định thay đổi khẩu hiệu: “Thành lập chính phủ công nông binh” thành “Chính phủ liên bang cộng hòa dân chủ Đông D‐ ‐ -
ơng” Theo đó các hình thức đấu tranh cũng đợc Đảng ta chủ trơng thay đổi cho phù hợp với tình hình mới nhằm “Chuẩn bị những điều kiện bớc tới bạo
động làm cách mệnh giải phóng dân tộc, song Đảng ta cũng chỉ rõ đấu tranh phải đợc chuẩn bị chu đáo tránh việc đấu tranh non, đấu tranh vô phơng pháp, vô chuẩn bị” [16 ; 59]
Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần VI cũng đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng Hội nghị đã đề ra đợc nhiều biện pháp và nguyên tắc nhằm cũng cố hơn nữa tổ chức Đảng về mọi mặt trong thời kỳ mới, ví nh: Phải thống nhất giữa ý chí và hành động; phải vũ trang lý luận cách mạng; phải liên hệ mật thiết với quần chúng; phải biết lựa chọn cán bộ mới; phải
Trang 17khôi phục hệ thống tổ chức và liên lạc mật thiết với nhau; phải chú trọng gây dựng cơ sở ở Miên, Lào
Với những nội dung trên, Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần VI đã
đánh dấu sự chuyển hớng đúng đắn về chỉ đạo chiến lợc và mở đầu cho một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam
Nhờ có Nghị quyết của Hội nghị BCH Trung ơng lần VI đợc phổ biến rộng rãi nên nhiều địa phơng đã vợt qua đợc sự khủng bố gay gắt của địch để rồi vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các tổ chức cơ sở Đảng, đồng thời thành lập thêm các tổ chức phản đế Có áp bức có đấu tranh và cuộc đấu tranh của nhân dân ta cũng không nằm ngoài quy luật đó Nhân dân ta vốn có truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngọai xâm, nay rơi vào cảnh một cổ đôi tròng nên cũng đã vùng dậy đấu tranh mạnh mẽ khắp nơi trong cả nớc tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn
Nhân lúc Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy qua đờng Bắc Sơn về Thái Nguyên, hệ thống chính quyền Pháp ở đây hoàn toàn tan rã, nhân dân Bắc Sơn đã chớp lấy cơ hội nổi dậy đấu tranh dới
sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phơng vào ngày 27/9/1940 Nghĩa quân đã cớp lấy vũ khí của tàn binh Pháp chạy qua, đồng thời kéo đến huyện, lỵ đập tan chính quyền địch, đốt hết hồ sơ án từ, đơn kiện, tịch thu dấu ấn và tài sản Nhng sau đó Nhật Pháp đã cấu kết với nhau đánh úp ta ở Vũ Lăng làm cho‐phong trào bị đàn áp đẫm máu
Tuy thất bại song cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn có ý nghĩa to lớn và để lại bài học kinh nghiệm xơng máu quý giá và sau cuộc khởi nghĩa này đội du kích Bắc Sơn đợc thành lập để làm vốn quân sự đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa sau này
Cũng trong thời gian đó thực dân Pháp đang tiến hành chiến tranh với Thái Lan, chúng bắt nhân dân ta phải đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng
Mặt khác địch tổ chức nhiều cuộc sùng lục bắt bớ nên nhiều đồng chí lãnh đạo TW đã bị bắt
Trang 18Trớc tình hình đó, đặc biệt là sự sục sôi của phong trào cách mạng trong nớc, đặt ra cho Đảng ta vấn đề phải nhanh chóng kiện toàn lại sự lãnh
đạo của Trung ơng Đảng, do đó Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ VII
đã đợc triệu tập
Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ VII đợc tổ chức từ 6 ‐ 9/11/1940 tại làng Đình Bảng Từ Sơn Bắc Ninh Tham dự Hội nghị gồm‐ ‐các đồng chí: Trờng Chinh (chủ trì Hội nghị), Phan Đăng Lu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt
Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ VII nhận định tình hình thế giới và Đông Dơng nh sau:
Tình hình thế giới:
‐ Cuộc chiến tranh thế giới thứ II ngày càng lan rộng và càng trở nên quyết liệt Đó là cuộc chiến tranh đế quốc giữa 2 phe Anh - Pháp và Đức ‐ ý Nhật đang vật lộn nhau để chia lại thị tr‐ ờng thế giới,
để cớp bóc nguyên liệu, căn cứ quân sự Và cuộc chiến tranh đế quốc này có thể chuyển thành chiến tranh giữa đế quốc với Liên Xô Hội nghị cũng đã khẳng định cuộc chiến tranh đế quốc càng kéo dài càng làm cho các nớc t bản khủng hoảng rối loạn thêm, đẩy nó rơi xuống vực thẳm Cùng với điều
đó là phong trào phản chiến ngày càng dâng cao mạnh mẽ ở các nớc tham chiến và các nớc phụ thuộc, thuộc địa Và đó là nhân tố góp phần đánh đổ đế quốc, kết thúc chiến tranh
Mặt khác, Hội nghị cũng nhìn thấy tơng lai của cuộc cách mạng là có
sự giúp đỡ chỉ đạo của Quốc tế cộng sản, của Liên Xô - Một nớc xã hội mạnh nhất hoàn cầu :“Cuộc đế quốc chiến tranh lần thứ I Liên Xô đã cứu hàng trăm triệu con ngời ra khỏi đế quốc chiến tranh và thế giới t bản Lần đại chiến thế giới thứ II này, Liên Xô cứu toàn thể nhân lọai ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ II ấy” [16;88]
Về tình hình Đông D
‐ ơng: Hội nghị chỉ rõ Nhật Pháp cấu kết với‐nhau trên nhiều mặt nhằm áp bức bóc lột đồng bào ta, vơ vét tài nguyên thiên nhiên của ta, làm cho mọi mặt trong đời sống của nhân dân ta trở nên túng
Trang 19thiếu, khổ sở đồng thời làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dơng với phát xít Nhật Pháp càng trở nên gay gắt hơn buộc họ phải đứng dậy đấu‐tranh quyết liệt để sống: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy
Đảng phải chuẩn bị để dành lấy cái sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dơng võ trang bạo động giành lấy quyền tự do,
Về nhiệm vụ cách mạng: Hội nghị khẳng định chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu‐cách mạng ruộng đất đợc đề ra trong Hội nghị BCH TW lần thứ VI là đúng
đắn
Hội nghị xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dơng lúc này là đế quốc, phát xít Pháp Nhật Do đó chiến thuật của Đảng ta là: tập trung hết‐thảy các lực lợng phản đế, phản phong để thành lập ra một Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Mặt trận đó là sự liên minh các lực lợng rộng rãi “không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo Mục đích là việc thực hiện thống nhất hành động giữa các lực lợng ấy đặng đấu tranh tiến lên võ trang bạo động đánh đổ đế quốc Pháp Nhật và các lực l‐ ợng phản động ngọai xâm, diệt trừ phong kiến và các hạng phản bội nguồn lợi dân tộc, làm cho Đông D-
ơng đợc hoàn toàn giải phóng, thiết lập liên bang cộng hòa dân chủ Đông
Trang 20D-ơng” [16;132] Hội nghị đã xác định chơng trình của Mặt trận cũng nh cách thức để mặt trận tuyên truyền rộng rãi, củng cố và phát triển mặt trận
Hội nghị còn thảo luận và quyết định hai vấn đề cấp thiết "nhng không
đợc ghi thành văn bản để đảm bảo bí mật" [3;493] Thứ nhất, Hội nghị quyết
định duy trì lực lợng vũ trang Bắc Sơn, thành lập ra các đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác khi cần thiết thì chiến đấu chống khủng bố của
địch, bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân, tiến tới thành lập căn cứ du kích, lấy vùng Bắc Sơn Vũ Nhai làm trung tâm do TW chỉ đạo, giao cho‐
đồng chí Hoàng Văn Thụ thực hiện Nghị quyết này Thứ hai, Hội nghị quyết
định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do ch‐ a có đủ điều kiện đảm bảo cho sự thắng lợi Trung ơng giao cho đồng chí Phan Đăng Lu truyền đạt lại nghị quyết này cho Xứ ủy Nam Kỳ
Hội nghị đã bầu ra BCH Trung ơng Đảng lâm thời do đồng chí Trờng Chinh làm Bí th
Hội nghị BCH Trung ơng lần thứ VII đợc xem là Hội nghị bổ sung quá trình chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc cách mạng đã đợc đề ra từ trớc
Sau hội nghị Trung ơng VII phong trào cách mạng cả nớc phát triển Hòa mình trong phong trào chung của cả nớc, không khí khởi nghĩa cũng lên cao sôi nổi khắp Nam Kỳ, không chỉ có phong trào quần chúng mà còn có cả binh lính Trớc tình thế đó Đảng bộ cộng sản Nam Kỳ đã quyết định khởi nghĩa mặc dù cha có sự chuẩn y của Trung ơng, cho nên khi đồng chí Phan
Đăng Lu đa nghị quyết đình chỉ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ của Trung ơng về
đến Sài Gòn thì đã muộn không có cách nào hoãn đợc nữa, vì vậy vào ngày 23/11/1940 cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn diễn ra theo đúng dự định ban đầu
Quân khởi nghĩa đã làm rung chuyển cả một vùng rộng lớn, nhiều đồn bốt của địch bị hạ, các đờng giao thông bị phá đứt từng quãng, có đoạn tới 20 ngày sau mới sửa chữa đợc, nhân dân đã thành lập ra chính quyền và tòa án cách mạng Điều đặc biệt là lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên đã đợc xuất hiện
Trang 21trong cuộc khởi nghĩa Mặc dù nghĩa quân đã chiến đấu rất anh dũng nhng phần vì cha có đủ điều kiện khách quan, chủ quan thuận lợi, phần vì kế hoạch
đã bị lộ, vì vậy mạng lới khủng bố của địch đã kịp thời tung ra và một cuộc tàn sát cha từng có ở Đông Dơng bắt đầu diễn ra, số ngời bị địch bắt đông
đến nỗi không có chỗ giam giữ Chúng phải dùng dây thép gai xâu qua bàn tay hoặc bắp chân thành từng chuỗi để vứt xuống biển
Tiếp theo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, một cuộc đấu tranh lớn, mạnh mẽ cũng đã diễn ra ở Trung Kỳ đó là cuộc đấu tranh của một số anh em binh lính ngời Việt trong quân đội Pháp Vào ngày 13/1/1941, binh lính ở đồn chợ Rạng Đô L‐ ơng Nghệ An d‐ ới sự lãnh đạo của Đội Cung đã tự động nổi dậy giết chết giặc Pháp, nghĩa quân chiếm đồn chợ Rạng, sau đó kéo chiếm đồn
Đô Lơng, giữ lại đây ít ngời, số còn lại lên xe ôtô định kéo về Vinh chiếm thành, trại lính, kho bạc nhng khi đến thành Vinh thì bị địch bắt
Cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, binh biến chợ Rạng Đô L‐ ơng tuy diễn ra tự động không có sự chỉ đạo của Trung
ơng và cuối cùng đều thất bại nhng nó vẫn có ý nghĩa to lớn: chứng tỏ tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân ta, đồng thời “là những tiếng súng báo hiệu cho một cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bớc đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dơng” [26;189]
Trớc những chuyển biến to lớn của thời cuộc, Ngyễn ái Quốc sau nhiều năm bôn ba ở nớc ngoài đã quyết định về nớc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam Tháng 12/1940, Nguyễn ái Quốc về đến biên giới Việt Trung, Ng‐ ời đã nhận thấy vị trí quan trọng của Cao Bằng đối với cách mạng Việt Nam sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn Chính vì vậy, khi vừa đặt‐chân lên vùng đất Cao Bằng (28/1/1941) ngời đã đặt cơ quan ở Pắc Bó Hà‐Quang Cao Bằng và chỉ đạo thí điểm việc thành lập Mặt trận Việt Minh,‐cũng nh việc tiếp tục mở các lớp huấn luyện công tác Đảng và công tác quần
Trang 22chúng để chuẩn bị cho Hội nghị BCH Trung ơng lần VIII sắp tới Công tác thí điểm của Ngời đã đạt kết quả tốt Chỉ sau một thời gian ngắn nhân dân Cao Bằng đã hăng hái tham gia vào các đoàn thể cứu quốc Các địa phơng nhanh chóng xây dựng đợc nhiều tổ chức cứu quốc Trên cơ sở đó Nguyễn ái Quốc tổ chức ra lực lợng nửa vũ trang, xây dựng Cao Bằng thành một căn cứ
địa cách mạng Điều đó chứng tỏ chủ trơng thành lập Mặt trận Việt Minh của Ngời là hoàn toàn đúng đắn
Sau một thời gian nghiên cứu, phân tích, chuẩn bị kỹ, Nguyễn ái Quốc đã triệu tập Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ VIII ở Pắc Bó Cao‐Bằng, họp từ ngày 10 19/5/1941 Tham dự Hội nghị gồm có các đồng chí‐Nguyễn ái Quốc, Trờng Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh dới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn ái Quốc
Cũng nh Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ VI, VII, Hội nghị Trung ơng lần VIII trớc hết cũng đi vào phân tích tình hình thế giới và trong nớc trong giai đoạn hiện tại
‐ Về tình hình thế giới: Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm,
tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II Cụ thể là: Cuộc chiến tranh thế giới thứ II nổ ra là do mâu thuẫn sâu sắc giữa các nớc TBCN, đây là một cuộc chiến tranh dữ dội có nhiều đặc điểm khác cuộc đại chiến lần thứ I Chính những đặc điểm đó đã trở thành điều kiện để mau chóng giết chết bọn t bản mang lại nhiều thuận lợi cho cách mạng thế giới rằng: “nếu cuộc chiến tranh
đế quốc lần trớc đã đẻ ra Liên Xô một n‐ ớc XHCN thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nớc XHCN, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nớc thành công"[16;142]
Về tình hình Đông D
‐ ơng: Hội nghị phân tích sự đổ nát về kinh tế, sự
rối ren về chính trị của xứ Đông Dơng khi bị giặc Pháp cuốn vào guồng máy chiến tranh, đặc biệt từ khi Nhật nhảy vào Đông Dơng Mặt khác Hội nghị
Trang 23chỉ ra sự phát triển mạnh mẽ, sôi nổi của phong trào cách mạng và xác định rằng cách mạng Đông Dơng là một bộ phận của cách mạng thế giới, lúc đó là một bộ phận của phong trào dân chủ chống phát xít Do đó vận mệnh của các dân tộc Đông Dơng gắn liền với vận mệnh của Liên Xô, Trung Quốc.
Từ việc phân tích cụ thể tình hình trên Đảng ta đi đến xác định nhiệm
vụ của cách mạng Việt Nam: dới ách áp bức Pháp Nhật quyền lợi của tất cả‐các giai cấp đều bị thủ tiêu, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng, do đó phải giải phóng dân tộc Đông Dơng ra khỏi ách của phát xít Nhật Pháp đã trở thành một yêu cầu cấp bách, bức thiết lúc bấy giờ Vì vậy‐Hội nghị BCH Trung ơng VIII khẳng định lại một lần nữa chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc dơng cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên trên là đúng
đắn Và để dơng cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng đó Đảng ta đã đề ra những chủ trơng, chính sách cụ thể hơn, thiết thực hơn Đồng thời Hội nghị còn nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc giải phóng dân tộc lúc này là: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết đợc vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đợc độc lập, tự do cho dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đợc” [16;156] Có xác định nh vậy mới huy động đợc đông đảo mọi giai tầng, mới tạo nên sức mạnh tổng‐hợp, mới phân hóa hơn nữa hàng ngũ kẻ thù đặng giải phóng dân tộc
Trên cơ sở đó Hội nghị BCH Trung ơng VIII quyết định tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia lại ruộng đất cho dân cày” bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc Việt gian, nêu thêm khẩu hiệu: “giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến tới thực hiện ngời cày có ruộng”
Về vấn đề dân tộc:
‐ Nếu nh trong các hội nghị trớc vấn đề dân tộc
đ-ợc đề ra trong khuôn khổ cả Đông Dơng thì nay Hội nghị lần VIII Đảng ta‐chủ trơng đặt hẳn vấn đề dân tộc trong phạm vi mỗi nớc Đông Dơng theo nh
Trang 24sáng kiến của Nguyễn ái Quốc Điều đó vừa phù hợp với nguyên tắc dân tộc
tự quyết của Lênin, vừa phát huy đợc tính độc lập, tự chủ của mỗi nớc ở Việt Nam, Hội nghị chủ trơng thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), “để cho nó có tính dân tộc hơn, có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn” [16;165], các tổ chức yêu nớc chống đế quốc đều lấy tên là “Hội cứu quốc” ví nh: công nhân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc Còn ở Lào, Cămphuchia thành lập ra Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên
độc lập đồng minh, để sau đó thành lập ra Đông Dơng độc lập đồng minh
Nói đến quyền dân tộc tự quyết ở đây tức là còn biểu hiện ở quyền của mỗi nớc sau khi giành đợc độc lập có thể tổ chức thành Liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng là tùy ý Riêng ở Việt Nam sẽ thành lập ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa lấy cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ Song để làm đợc
điều đó thì trớc hết phải có một lực lợng thống nhất tất thảy các dân tộc Đông Dơng hợp lại để đánh đuổi Nhật, Pháp
‐ Về vấn đề khởi nghĩa vũ trang: Trớc đây ở các Hội nghị Trung ơng
VI, VII mới có những dự kiến và phác họa bớc đầu, nay căn cứ vào kinh nghiệm của ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lơng và dự đoán tình hình sắp tới, hội nghị Trung ơng VIII (5/1941) đã xác định đợc nhiều vấn đề
cụ thể hơn nh: vị trí của cuộc cách mạng, điều kiện, hình thái, thời cơ, phơng pháp cách mạng:
Hội nghị khẳng định cuộc cách mạng Đông Dơng sẽ kết thúc thắng lợi bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang Tuy nhiên muốn giành đợc thắng lợi phải hội tụ đủ các điều kiện khách quan và chủ quan, cụ thể là: “ Mặt trận cứu quốc đã đợc thống nhất toàn quốc; nhân dân ta không thể sống đợc nữa dới
ách thống trị của Nhật Pháp, mà đã sẵn sàng hy sinh b‐ ớc vào con đờng khởi nghĩa; phe thống trị Đông Dơng đã bớc vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực điểm về kinh tế, chính trị lẫn quân sự; Những điều kiện khách quan thuận
Trang 25tiện cho cuộc khởi nghĩa nh: cách mạng Pháp hay Nhật nổi lên, quân đồng minh Anh Mỹ tràn vào Đông D‐ ơng ” [16;173].
Để tận dụng đợc điều kiện, thời cơ thuận lợi đó ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lợng sẵn sàng để có thể tiến hành “Một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phơng, cũng có thể giành đợc thắng lợi mở đờng cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” [16;175] Vì vậy vấn đề chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đợc xem là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta, toàn dân ta trong giai đoạn hiện tại
đó là sự sáng tạo của Đảng ta trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác ‐ Lênin về vấn đề khởi nghĩa vũ trang trong hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam
‐ Về công tác xây dựng Đảng: cũng đợc Hội nghị đặc biệt quan tâm
Vì Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, là lực lợng lãnh đạo cuộc cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng Nhng tình hình Đảng hiện nay còn rất nhiều hạn chế nh: thiếu cán bộ chỉ huy, cán bộ chuyên môn, Đảng tuy là của giai cấp vô sản nhng thành phần vô sản trong Đảng còn ít Vì thế phải gấp rút
đào tạo cán bộ, Đảng không thể bỏ qua một phút Đồng thời vừa phải đẩy mạnh công tác vận động quần chúng nh: vận động thợ thuyền, binh lính vừa phải chú ý đến phát triển phong trào cho đều ở cả nông thôn lẫn thành thị
Để kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng, Hội nghị đã bầu ra BCH Trung ơng chính thức, bầu đồng chí Trờng Chinh làm Tổng Bí th, đồng thời bầu ra Ban thờng vụ Trung ơng Đảng, gồm các đồng chí: Trờng Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt đảm nhận
Với tất cả những nội dung đó chứng tỏ Hội nghị BCH Trung ơng VIII
có một ý nghĩa lịch sử to lớn vì đã hoàn chỉnh việc chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc trong thời kỳ mới Hội nghị đã chỉ ra đ‐ ợc những mâu thuẩn chủ
Trang 26yếu trong xã hội Việt Nam, vạch ra những sách lợc cụ thể sát hợp, nhằm giải quyết mục tiêu chiến lợc số một của cách mạng nớc ta là độc lập dân tộc
Ngày 6/6/1941 Một tháng sau Hội nghị BCH Trung ‐ ơng VIII, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết th gửi đồng bào cả nớc với nhan đề “Kính cáo
đồng bào th”
Trong th Nguyễn ái Quốc đã tóm tắt tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, làm nổi bật tinh thần cơ bản của nghị quyết Trung ơng VIII Ngời nhấn mạnh “trong lúc này quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ đế quốc và Việt gian
đặng cứu giống nòi ra khỏi nớc sôi lửa bỏng” [22; 48]
Ngời vừa động viên vừa nhắc nhở mọi ngời góp mình vào sự nghiệp cách mạng: Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu nớc là việc chung Ai là ngời Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: ngời có tiền góp tiền, ngời có của góp của
Đồng thời Ngời cũng nêu cao tinh thần đấu tranh: chúng ta hãy tiến lên, toàn thể đồng bào hãy tiến lên
Việt Nam cách mạng thành công muôn năm!
Thế giới cách mạng thành công muôn năm!
Bức th của Nguyễn ái Quốc đã đáp ứng yêu cầu của cách mạng ở nớc
Đông Dơng Tác động sâu sắc đến tinh thần yêu nớc của các tầng lớp, các giai cấp Cùng với Nghị quyết của Trung ơng Đảng, bức th của Nguyễn ái Quốc đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng lực lợng cách mạng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, góp phần quyết định đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám
Nh vậy thắng lợi của cuộc cách mạng không phải tự nó đến mà phải chuẩn bị nó, phải giành lấy nó Sự chuẩn bị càng chu đáo, càng kỹ càng thì thắng lợi càng nhanh chóng và vững chắc Vì vậy, có thể nói rằng thắng lợi
Trang 27của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam không phải là một sự
ăn may nh một số học giả phơng Tây vẫn nói mà đó là nhờ sự chuẩn bị về mọi mặt của Đảng ta mà trớc hết ở đây là chuẩn bị về đờng lối Đờng lối đề
ra có chính xác, đúng đắn, có phù hợp với quy luật khách quan thì việc triển khai các hành động của các chủ trơng đó mới có kết quả Và đờng lối của
Đảng ta đề ra ở đây là dơng ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu dựa trên cơ sở phân tích kỹ tình hình thế giới và trong nớc Đờng lối đó đợc manh nha
từ Chỉ thị gửi cho các cấp đảng ủy và bản thông cáo ngày 29/9/1939, thực sự bắt đầu từ Hội nghị BCH Trung ơng VI để rồi tiếp tục đợc bổ sung hoàn thiện tại Hội nghị Trung ơng VII, VIII cùng với bức th: Kính cáo đồng bào của Nguyễn ái Quốc, dĩ nhiên, đờng lối dơng cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đ-
ợc đảng ta đề ra trong Hội nghị Trung ơng VI, VII, VIII thời kỳ 1939 1941‐còn tiếp tục đợc bổ sung và phát triển trong các Hội nghị của Đảng thời kỳ
1941 1945 Đ‐ ờng lối chủ trơng đó đã thể hiện sự nhạy bén chính trị và năng lực lãnh đạo cách mạng đầy sáng tạo của Đảng ta, nó có ý nghĩa tiên quyết
đối với Cách mạng Tháng Tám 1945
Trang 28ớc Việt Nam, đợc tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi Đoàn kết dân tộc là một nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh đã biết kế thừa và phát huy truyền‐thống đoàn kết của dân tộc ta trong quá trình đấu tranh dựng nớc và giữ nớc,
đồng thời biết vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác Lênin xem cách‐mạng là sự nghiệp của quần chúng vào thực tiễn cách mạng nớc ta Vì thế,
Trang 29Đảng ta hơn ai hết hiểu rõ cách mạng muốn thắng lợi phải do nhân dân tự
đứng lên giải phóng cho mình
Do đó, ngay từ khi mới ra đời Đảng ta đa đặt ra vấn đề xây dựng lực ợng chính trị quần chúng, thông qua việc thành lập mặt trận dân tộc thống nhất Trong chỉ thị của thờng vụ Trung ơng Đảng vào ngày 18/11/1930 về vấn đề thành lập Hội phản đế đồng minh đã nêu rõ: giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng t sản dân quyền mà không tổ chức đợc toàn dân lại thành một lực lợng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công
l-Đến thời kỳ 1936 1939, tr‐ ớc nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới mới
Trớc hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 1933, Đảng ta chủ‐trơng thành lập Mặt trận thống nhất dân chủ nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ
Mặt khác, chúng ta thấy trong quá trình cai trị nớc ta thực dân Pháp cũng sớm nhận rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân nên chúng dùng mọi thủ đoạn, tìm mọi cách để chia rẽ, ly gián nhân dân ta nhằm gây hằn thù, mâu thuẫn, nghi kị lẫn nhau để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu lực lợng cách mạng ta Trong thực tế Pháp đã chia nớc ta thành ba kỳ với ba chế
độ cai trị khác nhau
Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trở thành quốc sách trong đờng lối cách mạng của Đảng ta Đặc biệt trong thời kỳ 1939 1945, d‐ ới hai tầng áp bức Nhật Pháp với vô vàn thủ đoạn chính trị xảo trá, kinh tế bịp bợm, thì‐việc củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc xung quanh mặt trận thống nhất Việt Nam dựa trên cơ sở liên minh công nông, dới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản sẽ trở thành sức mạnh để dành lại độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho nhân dân
Trang 30Nói về sự đoàn kết đó, Hồ Chí Minh đã rút ra bài học mang tính chất nguyên lý về sự thành công của sức mạnh đoàn kết trên con đờng giải phóng dân tộc:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công
2.1.2 Quá trình chuẩn bị lực lợng chính trị
Quá trình chuẩn bị lực lợng chính trị của Đảng ta và Hồ Chí Minh đợc thể hiện thông qua việc thành lập và hoạt động của các hình thức tổ chức mặt trận Việt Minh trong thời kỳ 1939 1945 ‐
Trớc hết để xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất thì phải dựa vào sức mạnh đoàn kết toàn dân Trong bức th ngày 6/6/1941, Nguyễn ái Quốc đã vạch rõ quan điểm toàn dân đoàn kết đánh đuổi Nhật Pháp: “Hiện thời‐muốn đánh đuổi Pháp Nhật ta chỉ cần một điểm ‐ toàn dân đoàn kết Việc cứu nớc là việc chung, ai là ngời Việt Nam đều phải gánh vác một phần trách nhiệm” [3;547] Hay trong bài Lịch sử nớc ta, Nguyễn ái Quốc cũng đã khẳng định: “Sự nghiệp cứu nớc nhất định thành công nếu nhân dân ta một lòng đoàn kết, tham gia mặt trận Việt Minh, tham gia sự nghiệp cứu nớc Nguyễn ái Quốc thiết tha nhắc nhở:
Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” [3;549]
Bởi vì nguy cơ diệt vong đang bày ra trớc mắt, hiện thời chúng ta chỉ
có một con đờng mu sống là đoàn kết thống nhất đánh đuổi Nhật Pháp, trừ‐khử Việt gian
Mở ra con đờng ấy cho đồng bào, Việt Nam độc lập đồng minh ra đời (Việt Minh) chào các bạn [26; 461]
Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh ra đời Năm tháng sau Mặt trận đã tuyên bố Tuyên ngôn, chơng trình, điều lệ
Trang 31Chơng trình cứu nớc của Mặt trận Việt Minh gồm 41 điểm là một hệ thống chính sách đối nội, đối ngoại; chính sách về kinh tế , chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao; chính sách đối với công nhân, binh lính nhằm cốt thực hiện 2 điều mà toàn thể đồng bào mong ớc:
1 Làm cho nớc Việt Nam đợc độc lập
2 Làm cho dân Việt Nam đợc sung sớng tự do [26;470]
Chơng trình cứu nớc của Mặt trận Việt Minh đợc đúc kết thành 10 chính sách lớn đem thực hiện ở khu giải phóng Việt Bắc và sau này đợc Quốc dân đại hội Tân Trào thông qua trở thành những chính sách cơ bản của nớc Việt Nam mới Việt Nam dân chủ cộng hòa.‐
Chơng trình đó của mặt trận Việt Minh vừa thiết thực, vừa phù hợp với lợi ích nguyện vọng của quần chúng nhân dân nên đã thu hút ngày càng đông
đảo các tầng lớp nhân dân, các đồng bào dân tộc thiểu số tham gia
ở Cao Bằng nơi thí điểm xây dựng Hội cứu quốc của Mặt trận Việt‐Minh thu đợc nhiều kết quả thành công do đó các Hội cứu quốc đã phát triển nhanh chóng từ Cao Bằng lan ra các tỉnh Bắc Cạn, Lạng Sơn Đến 1942, ở khắp các xã, tổng, châu đều có Hội cứu quốc, trong đó có những xã, tổng, châu hoàn toàn
ở nhiều tỉnh miền Bắc và miền Trung phong trào Việt Minh cũng đã
đợc nhen nhóm Nhiều Hội cứu quốc đợc thành lập nh: công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc
Hai tháng sau kể từ khi thành lập, Mặt trận Việt Minh đã cho ra đời số báo đầu tiên vào ngày 01/8/1941 gọi là báo Việt Nam độc lập in ở Khuổi Nậm Pác Bó Cao Bằng Báo ra mỗi tháng 3 kỳ, mỗi kỳ trên 400 bản Báo‐ ‐
in trên giấy khổ nhỏ gồm có 2 trang Báo Việt Nam độc lập là cơ quan tuyên truyền của ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng nhằm: “cốt làm cho dân ta hết ngu hèn biết đoàn kết đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho nớc Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do” [3;523]
Trang 32Báo do đồng chí Nguyễn ái Quốc sáng lập và trực tiếp lãnh đạo, viết bài, biên soạn trong thời gian đầu Về sau, khi Ngời đi công tác ở Trung Quốc Từ đó báo Việt Nam độc lập do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách.
Báo Việt Lập thực sự là thứ vũ khí sắc bén luôn chỉa mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù Nhật Pháp và bọn tay sai Vạch trần tội ác, âm m‐ u, thủ
đoạn của chúng Đồng thời hớng dẫn cụ thể cách thức tổ chức, nhiệm vụ,
ph-ơng hớng hoạt động của các đoàn thể quần chúng Vì vậy báo Việt Lập đã trở thành ngời tuyên truyền, ngời cổ động tập thể, ngời tổ chức, ngời bạn tâm tình, ngời thầy giàu kinh nghiệm của quần chúng Tờ báo đã góp phần to lớn trong việc tuyên truyền xây dựng lực lợng cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa dành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám
Để hớng dẫn cụ thể việc xây dựng lực lợng chuẩn bị khởi nghĩa, ngày 01/12/1941 Đảng ta ra chỉ thị về công tác tổ chức Mục tiêu của công tác tổ chức đã làm cho Đảng có đủ khả năng đoàn kết hết thảy các lực lợng cách mạng, lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc Chỉ thị nhấn mạnh cần phân biệt tổ chức Đảng với tổ chức quần chúng Tổ chức
Đảng phải nghiêm ngặt, chặt chẽ, còn tổ chức quần chúng phải nhẹ nhàng, rộng rãi Về tổ chức quần chúng phải có nhiều hình thức tổ chức thích hợp với từng giai cấp, từng lớp nhân dân, từng lứa tuổi, do vậy ngoài đoàn thể cứu quốc, Đảng ta cần phải tổ chức nhiều đoàn thể đơn sơ Bởi theo nh Lênin thì trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có thứ vũ khí nào khác hơn là tổ chức
Nhờ chủ trơng, chính sách đó của Đảng phong trào Việt Minh từ mấy vùng thí điểm đã lan rộng ra cả nớc
ở nhiều tỉnh thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ, cuối 1941 đầu 1942 đã xuất hiện các tổ chức cứu quốc của Mặt trận Việt Minh nh: Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hng Yên, Hà Nam, Sơn Tây