Mô hình can thiệp gia đình trong điều trị cho bệnh nhân tâm thần được nghiên cứu bởi Schooler, Keith, Severe, Mathews, Bellck, Glick vào năm 1924 trong mô hình này bác sĩ gia đình với bệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LOAN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN
LIỆT NHẰM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỰ PHỤC VỤ
( Can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LOAN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN
LIỆT NHẰM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỰ PHỤC VỤ
( Can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa hoc: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện với sự hướng
dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Hồi Loan Các nội dung và kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố,
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để đạt được kết quả này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tới Quý các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Hồi Loan, là
người thầy trực tiếp giảng dạy môn học “CTXH trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần”
và cũng là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, người đã dày côn giúp đỡ, chỉ bảo
để em hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cũng như tập thể các y, Bác sĩ, điều dưỡng viên, bộ phận hành chính của bệnh viện Đặc biệt là giám đốc Trịnh Đình Tuấn đã tận tình chỉ đạo đội ngũ nhân viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hành tại viện
Tiếp đến, là sự chân thành cảm ơn của bản thân tôi tới chính bệnh nhân và gia đình, người thân của họ đã vô cùng nhiệt tình cộng tác và giúp đỡ tôi trong thời gian tại viện
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên về vật chất, tinh thần, kết nối các mối quan hệ, nhằm tạo dựng lên nguồn lực tốt nhất để tôi hoàn thành công việc học tập
Mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng của bản thân, song luận văn vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của Quý các Thầy giáo, Cô giáo, của bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU………1
1.Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp 10
2 Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến vấn đề can thiệp 11
2.1 Trên thế giới: 12
2.2 Tại Việt Nam 15
3 Ý nghĩa của can thiệp 18
3.1 Ý nghĩa lý luận: 18
3.2 Ý nghĩathực tiễn: 18
4 Mục đích can thiệp: 19
5 Khách thể, vấn đề cần can thiệp 19
5.1 Khách thể can thiệp: 19
5.2 Vấn đề can thiệp: 19
6 Phạm vi can thiệp 19
7 Phương pháp can thiệp 19
8 Tiêu chuẩn theo dõi và đánh giá 20
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀTHỰC TIỄN CỦA THỰC NGHIỆM 23
1 Lý thuyết ứng dụng thực tiễn trong can thiệp 23
1.1 Thuyết học tập xã hội 23
1.1.1 Nội dung cơ bản của thuyết 23
1.1.2 Ứng dụng 23
1.2 Thuyết nhu cầu: 25
1.2.1 Nội dung cơ bản của thuyết: 25
1.2.2 Ứng dụng: 25
Trang 61.3 Thuyết vai trò 26
1.3.1 Nội dung cơ bản của thuyết: 26
1.3.2 Ứng dụng 27
2 Kỹ năng CTXH nhóm được áp dụng để triển khai công việc can thiệp cho bệnh nhân TTPL phục hồi chức năng tự phục vụ 27
2.1 Nhóm kỹ năng giao tiếp, nhận diện vấn đề, xác định nhu cầu và thiết lập hoạt động của nhóm 27
2.2 Nhóm kỹ năng triển khai và duy trì hoạt động của nhóm: 33
2.3 Nhóm kỹ năng đánh giá hoạt động của nhóm: 37
3 Các khái niệm chính trong can thiệp 39
3.1 Tâm thần phân liệt: 39
3.2 CTXH nhóm 39
3.3 Khái niệm về chức năng và phục hồi chức năng 40
3.4 Khái quát về bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang 41
3.5 Cơ sở pháp lý của can thiệp: 43
3.6 Đặc điểm của bệnh nhân TTPL: 44
3.7 Đặc điểm của đối tượng trước khi can thiệp: 46
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP, TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỰ PHỤC VỤ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CTXH NHÓM. 49
2.1 Các bước CTXH nhóm được áp dụng để triển khai công việc can thiệp cho bệnh nhân TTPL phục hồi chức năng tự phục vụ 49
2.1.1 Bước 1:Chuẩn bị và thành lập nhóm 49
2.1.2 Bước 2: Khởi động và bắt đầu hoạt động 53
2.1.3 Bước 3: Tập trung hoạt động- giai đoạn trọng tâm 56
Trang 72.1.4 Bước 4:Lượng giá và kết thúc 58
2.2 Thực nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp người mắc bệnh tâm thần phân liệt phục hồi chức năng tự phục vụ 60
2.2.1 Bước 1: Chuẩn bị và thành lập nhóm 60
2.2.2 Bước 2: Khởi động và bắt đầu hoạt động 71
2.2.3 Bước 3: Tập trung hoạt động- giai đoạn trọng tâm: 75
2.2.4 Lượng giá kết quả thực nghiệm: 87
2.3 Bài học kinh nghiệm: 91
2.3.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu của đối tượng can thiệp: 91
2.3.2 Mối liên hệ giữa kiến thức, lý thuyết, phương pháp ứng dụng và kiến thức thực tế 91
2.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp và biện pháp khắc phục 92
Tiểu kết chương 2 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
1 Kết luận: 97
2 Khuyến Nghị 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BLĐTB&XH Bộ lao động thương binh và xã hội
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Điểm thực trạng các chức năng tự phục vụ của từng thân chủ trước khi can thiệp………39 Bảng 1.2: Điểm thực trạng các chức năng tự phục vụ của từng thân chủ sau khi can thiệp ………83
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp
Tại sao tôi lại chọn đề tài này? Đó là lý do xuất phát từ những trăn trở của bản thân, từ sự hứng thú đam mê cũng như tính cấp thiết và ứng dụng cao của đề tài
Từ khi là học sinh tôi tự nguyện lựa chọn ngành học CTXH, đến khi trở thành sinh viên thì được học đối tượng của CTXH chính là những người yếu thế trong xã hội( trẻ em mồ côi, trẻ nhiễm HIV, trẻ em lang thang, người già cô đơn, người già bị bạo hành, phụ nữ bị bạo hành, người đồng tính nam, đồng tính nữ, những người bị thất nghiệp ) tóm lại là có đủ tất cả già, trẻ, gái, trai miễn sao có vấn đề cần đến CTXH, bởi vậy mà nhóm đối tượng này đã được nghiên cứu rất nhiều trên những chiều cạnh khác nhau Nhưng điều thật đáng buồn là có rất ít những nghiên cứu về những người bị mắc bệnh TTPL thuộc đối tượng làm việc của CTXH, phải chăng đây là đối tượng nghiên cứu còn tương đối mới ở nước ta?
Tôi tưởng rằng những câu hỏi mình đặt ra vì những ánh mắt ấy sẽ lãng quên trong tôi giữa dòng đời mưu sinh cơm, áo, gạo, tiền Nhưng thật may mắn cho tôi khi con đường học vấn còn được bước tiếp và trở thành học viên cao học, được học
sâu rộng hơn bậc đại học rất nhiều, trong đó phải kể đến môn học “ CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần” do thầy PGS.TS Nguyễn Hồi Loan trực tiếp giảng
dạy, qua đó đã đánh thức niềm trăn trở bấy lâu trong tôi về đối tượng bệnh nhân là người mắc bệnh tâm thần, qua những bài giảng của thầy là hành trang ban đầu cho tôi dấn thân vào đam mê nghiên cứu về đối tượng này mà khi nêu tên đề tài thôi
khiến bạn bè trong lớp đều có chung nhận xét “sao chọn đề tài khó quá vậy?”
Mặt khác, khi chọn đề tài nghiên cứu theo hướng thực hành bản thân tôi đã rất mong muốn ứng dụng những lý thuyết được học trên lớp vào thực tiễn để nhằm minh chứng cho tính ứng dụng cao, tính đặc thù của ngành học được công nhận là một nghề chuyên nghiệp này Bên cạnh đó tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ phía ban lãnh đạo bệnh viện, đội ngũ y, bác sĩ, điều dưỡng viên cũng như đông đảo bạn bè, đồng nghiệp, gia đình quan tâm, động viên khích lệ
Trang 11Như chúng ta đều đã biết, bệnh tâm thần nói chung và TTPL nói riêng nó đã
để lại những hệ quả vô cùng to lớn cho xã hôị và chính bản thân, gia đình người bệnh Theo số liệu của WHO thì số người mắc bệnhTTPL trên thế giới là 1,3 đến 1,5% dân số và ở Việt Nam là 1% dân số [15, tr27] Đây là những con số đáng buồn, một mảng tối trong bức tranh “sức khỏe” của xã hội
Tại tỉnh Bắc Giang người mắc bệnh TTPL được tập trung ở 2 nơi, thứ nhất là tại trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh, thứ 2 tại bệnh viện tâm thần Tuy nhiên ở trung tâm bảo trợ xã hội thì chỉ là hoạt động nuôi nhốt, các hoạt động can thiệp y tế còn
vô cùng nghèo bởi vậy mà hoàn toàn không hề có chương trình phục hồi chức năng Đây là một lỗ hổng trong quá trình chăm sóc, trợ giúp bệnh nhân thuộc sự quản lý của BLĐTB&XH Còn ở bệnh viện tâm thần tỉnh trong mô hình PHCN thì các hoạt
động diễn ra được “mặc định” theo sự hưỡng dẫn của đội ngũ nhân viên y tế phụ
trách, điều này tức là thiếu sự tiếp cận họ dưới khía cạnh tâm lý, xã hội, không đi sâu vào việc tìm hiểu những nhu cầu, mong muốn, tâm tư tình cảm của họ…do vậy
mà hiệu quả trong quá trình phục hồi vẫn chưa cao
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất bằng việc tìm hiểu và xác định đúng các chức năng cần được phục hồi và các biện pháp can thiệp trong mô hình PHCN cho bệnh nhân TTPL và phải có tính ứng dụng cao Với cách tiếp cận vấn đề bằng phương pháp CTXH nhóm trên cơ sở đam mê của nhà nghiên cứu chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả trong việc PHCN cho bệnh nhân tại mô
hình Vì những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài“ CTXH nhóm với bệnh nhân tâm thần phân liệt nhằm phục hồi chức năng tự phục vụ”(Can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang)
2 Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến vấn đề can thiệp
Sức khỏe tâm thần nói chung và TTPL nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại Bởi vậy mà đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về căn bệnh này, nhưng chủ yếu là từ góc nhìn y học, nhưng đó lại
là nền tảng hiểu biết về bệnh mang tính quyết định cho việc ứng dụng CTXH với
Trang 12đối tượng là bệnh nhân TTPL Sau đây là những nghiên cứu và can thiệp liên quan đến vấn đề
2.1 Trên thế giới:
Bệnh TTPL đã có từ rất lâu nhưng đến mãi đến thế kỷ XVIII mới được miêu
tả trong y văn Sự hiểu biết về TTPL bắt đầu bằng quan niệm của Griesinger, ông gọi đó là sự điên loạn tiên phát Morel vào năm 1857 mô tả một loại bệnh tâm thần
ở người trẻ tuổi dẫn đến mất trí Hecker vào năm 1871 mô tả thể thanh xuân thường xuất hiện ở người trẻ tuổi với những triệu chứng dữ dội và bệnh nhân nhanh chóng
đi đến trạng thái sa sút về trí tuệ, tan rã nhân cách Năm 1874 Khlboumk mô tả thể căng trương lực với một hội chứng chủ yếu là rối loạn tâm lý Magnan V vào năm
1983 mô tả bệnh hoang tưởng mãn tính, trong đó một số bệnh nhân kết thúc bằng mất trí vô cảm Korsakov vào năm 1891 mô tả một bệnh tâm thần tiến triển cấp tính như là một bệnh độc lập, về mặt lâm sàng có nhiều nét phù hợp với với bệnh TTPL tiến triển cấp tính Năm 1898 Kraepelin E thống nhất tất cả các bệnh độc lập được các tác giả mô tả ở trên thành một bệnh riêng biệt được gọi là bệnh mất trí sớm, bệnh phát sinh ở tuổi trẻ và dẫn đế sa sút Bleuler P.E vào năm 1911, khi phân tích diễn biến lâm sàng của bệnh thấy đặc điểm nổi lên là tính chia cắt, mất thống nhất trong các hoạt động tâm thần và gọi là Schizophrenia – TTPL và thuật ngữ này
đã nhanh chóng được các tác giả ở nhiều nước trên thế giới chấp nhận, đến đây căn bệnh đã được gọi tên một cách chính thức [ 7, tr17]
Quan niệm hiện tại về TTPL rất mới, bệnh này dần dần được tách ra khỏi các bệnh tâm thần trong thế kỷ trước, nó vẫn còn đang được bàn cãi bởi rất nhiều các tác giả
Từ 1857, một tác giả người Pháp là Morel đã nêu ra với cụm từ “sa sút sớm”
để chỉ các thanh niên có hư hại trí tuệ tiến triển nhanh Nhưng chính ở Đức mới thật
sự có quan niệm hiện đại về TTPL Như Kahlbaum năm 1863 đã viết về bệnh mà
học trò của ông là Hecker đã góp nó vào năm 1871 là “ bệnh thanh xuân” cũng như
sa sút sớm của Morel, bệnh thanh xuân đến sau tuổi dậy thì và biểu hiện bằng sự phát triển trí tuệ dẫn đến sa sút Năm 1874 Kahlbaum luôn mô tả căng trương lực
Trang 13trong khi đó các rối loạn vận động là hàng đầu nhưng được phối hợp thêm với các rối loạn khí sắc và hoang tưởng [7, tr18]
Kraepeline trong nghiên cứu chủ yếu của mình ông cho rằng tâm thần học hiện đại là sự thừa kế trực tiếp sẽ hợp nhất các mô tả khác nhau và trong lần xuất
bản thứ 6 các tác phẩm của ông năm 1899 đã gộp lại dưới danh từ “sa sút sớm” Nó
đã thừa nhận 2 tiêu chuẩn chính: Triệu chứng học được đánh dấu bởi sự tan rã các chức năng trí tuệ, các rối loạn cảm xúc, hành vi ngôn ngữ, tư duy và tiến triển nặng dần đến sự sa sút sau cùng [7, tr18]
Eugen Bleuler (1857-1939) vào năm 1911 đề nghị thay từ “sa sút sớm” bằng
danh từ TTPL một từ bắt nguồn theo danh từ của Hy Lạp “Schlzein” tách ra hoặc
chia ra Ông muốn đặt một dấu cộng thêm cho sự quan trọng của sự chia cắt các chức năng tâm thần cũng như sự tiến triển của sa sút Ông cũng nhấn mạnh đến điều
mà TTPL không được tạo nên bởi một bản chất hoàn toàn dứt khoát mà nó là một
tổng hợp các rối loạn tâm thần “ Tôi muốn đặt tên sự sa sút sớm là TTPL bởi vì, như tôi muốn chứng minh sự chia cắt các chức năng tâm thần nhiều loại là một trong những tính chất rất quan trọng của nó Để cho thuận lợi tôi dùng danh từ ở số ít mặc dù một nhóm gần như rất nhiều bệnh”[3, tr21]
Ở Pháp một lập luận tương tự cũng được thực hiện tiếp theo đó là Chasline, ông là người đặt sự thiếu hòa hợp vào nguồn gốc cá biểu hiện lâm sang của TTPL, chính sự thiếu hòa hợp này mà Bleuler trước kia mô tả là sự phân ly Chaslin làm rõ ràng sự thiếu hòa hợp này qua những cử chỉ của bệnh nhân nhất là về phương diện hành vi [10, tr29]
Các trường phái nói tiếng Anh nhất là Hoa Kỳ đã cho ho ra những công trình hiện đại nhất liên quan đến lâm sàng của TTPL kể từ những năm 1950 Quan niệm
về TTPL ở đây đã được mở rộng bằng tất cả những nghiên cứu về tiến triển, về nguyên nhân hoặc tâm thần bệnh lý; tất cả những trường hợp này đều theo sát các công trình nghiên cứu ở Châu Âu [ 16, tr9]
Thật đáng buồn là trong một thời gian dài việc tổ chức chữa bệnh cho họchưa được đặt ra
Trang 14Thời trung cổ phần lớn những bệnh nhân TTPL được đưa vào các tu viện và các nhà cứu tế, người ta nghĩ ra cách trói họ vào ghế để bệnh nhân không còn kích động được nữa
Đến cuối thế kỷ XVIII, thái độ đối bệnh nhân TTPL đã được cải thiện, sự xuất hiện các cơ sở điều trị chuyên khoa cho các bệnh nhân tâm thần là bước tiến bộ rất đáng kể cho sự tiến bộ của ngành tâm thần học Vào năm 1793 nhà tâm thần học người Pháp là Pinel P đã đề xuất cải tạo những nhà cứu tế bệnh nhânthành những bệnh viện tâm thần [24, tr36]
Đầu thế kỷ XX hầu hết các bệnh viện tâm thần với quy mô lớn từ 1000-3000 giường được xây dựng ở hầu hết các nước phát triển nhằm điều trị và quản lý bệnh nhân.Nhưng hiện nay xu hướng điều trị trói buộc bệnh nhân tâm thần trong các bệnh viện đã dần được thay đổi bằng cách giảm dần số lượng giường bệnh và tăng cường việc chăm sóc tại cộng đồng [24, tr40]
Cuối thế kỷ XX tại Anh, Austrailia chiến lược về chăm sóc sức khỏe tâm thần đã được thay đổi Tháng 4/ 1992 bộ trưởng bộ y tế cùng đại diện y tế các bang
đã ký một chính sách sức khỏe tâm thần quốc gia( National mental health polici) trong đó nhấn mạnh đến các dịch vụ dựa vào cộng đồng
Ở các nước châu Âu, đặc biệt là ở Nga phát triển mạnh hệ thống Pix pance tâm- thần kinh, đó là khâu đầu tiên của hệ thống chữa bệnh tâm thần nằm ở các cơ
sở
Ở Mỹ mô hình điều trị dựa vào cộng đồng do Stein và Test ( 1980) lần đầu tiên xây dựng ở Madison Những điểm đặc trưng cơ bản của mô hình này là: Kết hợp điều trị, phục hồi chức năng, dịch vụ hỗ trợ bệnh nhân được thực hiện bởi sự phối hợp giữa bác sĩ tâm thần, y tá tâm thần và cán sự xã hội [24, tr41]
Rebeca P.S ( 1999) mô tả mô hình quản lý ca bệnh theo mô hình bao gồm:
Mô hình chung, mô hình phục hồi chức năng, mô hình tăng cường
MC Nulty S.V ( 2003) nghiên cứu chăm sóc sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân TTPL lớn tuổi đã thấy rằng nhu cầu chăm sóc của họ là rất lớn, cần phải tăng cường hơn nữa cho các dịch vụ có chất lượng để phục vụ bệnh nhân tại cộng đồng
Trang 15Mô hình can thiệp gia đình trong điều trị cho bệnh nhân tâm thần được nghiên cứu bởi Schooler, Keith, Severe, Mathews, Bellck, Glick vào năm 1924 trong mô hình này bác sĩ gia đình với bệnh nhân, gia đình bệnh nhân tham gia hợp tác trong đó bác sĩ, y tá, cán sự xã hội tổ chức giới thiệu về bệnh TTPL, các bác sĩ cung cấp thông tin hỗ trợ, đề xuất, khuyến khích các thành viên tham gia, chia sẻ kinh nghiệm với các gia đình khác giúp họ gắn liền với nhau đồng thời thảo luận những vấn đề việc làm, lao động cho bệnh nhân [16, tr24]
Sudipto C ( 1998) đã nghiên cứu, so sánh mô hình PHCN dựa vào cộng đồng với mô hình chăm sóc bệnh nhân ngoại trú cho bệnh nhân TTPL ở Bawari Ấn Độ từ 1997- 1998 cho thấy bệnh nhận TTPL ở cộng đồng có kết quả tốt hơn và phù hợp với Ấn Độ và các nước đang phát triển.[ 22, tr19]
Nhìn chung các mô hình tổ chức, chăm sóc bệnh nhân tâm thần trên thế giới ngoài việc chữa trị chuyên sâu tại các bệnh viện chuyên khoa thì luôn có xu hướng chăm sóc bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng do mô hình ưu việt của nó
2.2 Tại Việt Nam
Vào năm 1991 một đề án hợp tác giữa ngành tâm thần học Việt Nam và tổ
chức y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương “ nghiên cứu thí điểm PHCN tâm
lý xã hội cho bệnh nhân TTPL và động kinh dựa vào cộng đồng” Kết quả sau 1
năm nghiên cứu cho thấy số bệnh nhân tái phát giảm, thái độ cộng đồng đối với bệnh nhân tâm thần đã được cải thiện hơn, sự hiểu biết của cộng đồng được nâng cao rõ rệt, đã huy động được cộng đồng tham gia vào việc PHCN cho bệnh nhân
Bùi Thế Khanh (1997) “nghiên cứu lồng ghép điều trị, phục hồi chức năng cho bệnh nhân TTPL vào mạng lưới y tế ở xã Duyên Thái”.Sau 12 tháng nghiên cứu
cho thấy khả năng lồng ghép trong điều trị PHCN cho bệnh nhân TTPL vào mạng lưới y tế cơ sở là thực hiện được và có hiệu quả
Luận án Tiến sĩ do Bùi Thế Khanh bảo vệ vào năm 2005 với đề tài “ Phục hồi chức năng cho bệnh nhân TTPL dựa vào cộng đồng tại Hà tây” lại một lần nữa đi
đến khẳng định tính ưu việt của mô hình và mang đến tính ứng dụng cao trong thực
Trang 16tiễn Tuy nhiên luận án này vẫn chưa nêu bật được vai trò, tầm quan trọng của lực lượng nhân viên xã hội tham gia vào mô hình
Nghiên cứu của bác sĩ Lâm Xuân Điền và cộng sự vào năn 2000 có công trình
nghiên cứu “ Đánh giá sơ bộ công tác phục hồi chức năng trên bệnh nhân TTPL dựa vào cộng đồng” và đi đến nhận định là việc triển khai các công tác PHCN tâm
lý, xã hội ở bệnh nhân TTPL cụ thể tùy theo điều kiện địa phương không hề đơn giản, đòi hỏi phải bỏ nhiều công sức và thời gian vừa làm, vừa học hỏi mục tiêu nhằm đánh giá sơ bộ công tác PHCN cho bệnh nhân TTPL, đề xuất những biện pháp thích hợp nhằm xây dựng mô hình PHCN cho bệnh nhân TTPL với hoàn cảnh
ở thành phố Hồ CHí Minh
“Nghiên cứu tiến triển và hậu quả của bệnh nhân TTPL ở cộng đồng” do bác
sĩ Lý Trần Tình và cộng sự thuộc bệnh viện tâm thần Hà Nội nghiên cứu và đi đến kết luận các kiểu tiến triển của bệnh TTPL khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu do quan điểm về tiến triển, tiên lượng, tái phát và mức độ thuyên giảm rất phức tạp Sau giai đoạn cấp của mỗi bệnh nhân rất khác nhau: Tiến triển của bệnh, mức độ thuyên giảm, sự tuân thủ điều trị, hậu quả của bệnh với gia đình và xã hội, Vì vậy,
đề tài được tiến hành với hai mục tiêu: Xác định kiểu tiến triển và một số yếu tố liên quan Đánh giá hậu quả của bệnh tâm thần phân liệt với gia đình và xã hội Nghiên cứu này được thực hiện trên 1.000 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh TTPL,
có thời gian mắc bệnh ≥ 5 năm và đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế xã, phường của 29 quận, huyện - TP Hà Nội từ tháng 1/2013 đến 3/2013[6]
Tuy nhiên có thể nói rằng các nghiên cứu trên là do các bác sĩ đang làm việc
trong các bệnh viện nên chỉ mang nặng vấn đề “y học”, nghiêng về nghiên cứu con
người về mặt sinh học mà vẫn còn thiếu vắng con người xã hội trong đó
Việc chăm sóc, chạy chữa, phục hồi chức năng cho bệnh nhân TTPL là trách nhiệm của nhiều ngành liên quan Nhưng trực tiếp và quan trọng nhất đó chính là
Bộ y tế và bộ LĐTB&XH, trong đó bên Bộ y tế thì đảm đương khâu chăm lo về mặt y tế cho bệnh nhân còn BLĐTB&XH đảm đương chăm lo về mặt xã hội cho bệnh nhân Nhưng đã một thời gian dài sự ăn nhập của 2 bộ này dường như rất lỏng
Trang 17lẻo, chỉ đến khi có sự nghiên cứu hàng loạt các công trình của “Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng- RTCCD”kèm sau đó là sự mở đường cho
hàng hoạt các chính sách mới ra đời thì sự gắn kết giữu 2 bộ này có phần chặt chẽ
hơn Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu như:“ Đánh giá chi phí, lợi ích mô hình chăm sóc sức khỏe tâm trí dựa vào cộng đồng tại Hà Tây và Hà Nam” được
nghiên cứu vào năm 2007[ 15] Đây là một nghiên cứu định hướng chính sách được thực hiện trong nỗ lực nhằm đo lường thiết kế, triển khai và lợi ích nhận được từ mô hình chăm sóc sức khỏe tâm trí dựa vào cộng đồng do Bộ Y tế xây dựng và thực hiện thông qua chương trình sức khỏe tâm trí quốc gia
Tiếp đến nghiên cứu khá tổng quan của RTCCD đó chính là “ Đánh giá thực trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần thuộc quản lý của BLĐTB&XH được
hoàn thành vào 2010”[ 15] Hướng tới mục tiêu "công bằng, hiệu quả và bền
vững" của hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm trí, Bộ LĐTB&XH hợp tác cùng
UNICEF và WHO, đã phát triển một kế hoạch hành động vì sức khỏe tâm trí giai đoạn 2011-2015 Bước đầu tiên là tiến hành phân tích để trả lời cho câu hỏi chiến lược và chính sách "nên tập trung vào việc nâng cấp hoặc mở rộng một cách bền vững mạng lưới các trung tâm bảo trợ xã hội hay tập trung vào sự phát triển hệ thống điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng" Nghiên cứu đã
đi đến 5 kết luận, nhưng kết luận nổi bật nhất đó chính là “Hệ thống BTXH đang được nâng cấp thông qua 2 đề án quốc gia “ Đề án 32/QĐ- TTg về phát triển nghề CTXH” được ban hành ngày 25/3/2010 và đề án 1215/ QĐ- TTg về trợ giúp xã hội
và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020” ban hành ngày 22/7/2011 Điều này phản ánh sự chủ động, tích cực của BLĐTB&XH và quyết tâm chính trị cao của nhà nước Việt Nam vì mục tiêu công bằng và an sinh xã hội nói chung và vì người bệnh tâm thần nói riêng Đây chính là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng cho việc phát triển nghể CTXH trong lĩnh vực y tế nói chung và trong chăm sóc sức khỏe tinh thần nói riêng
Như vậy các công trình nghiên cứu về phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt không phải là nhiều, thậm chí là thiếu sự gắn kết giữa các bộ
Trang 18ngành liên quan, tuy nhiên kể từ khi có sự ra đời của ngành học mang tên CTXH thì
nó dường như là chất kết dính giữa các cơ quan liên quan trong việc giải quyết vấn
đề chung của bệnh nhân TTPL
Do đó, luận văn“ CTXH nhóm với bệnh nhân tâm thần phân liệt nhằm phục hồi chức năng tự phục vụ (Can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang) không phải là một nghiên cứu mới mẻ Nhưng sự mới mẻ của
nghiên cứu là thông qua việc mô tả thực trạng của mô hình PHCN của bệnh viện, những mặt được và chưa được Bằng phương pháp CTXH nhóm với bệnh nhân TTPL tôi sẽ tiến hành các can thiệp giúp bệnh nhân PHCN tự phục vụ được tốt hơn
3 Ý nghĩa của can thiệp
3.1 Ý nghĩa lý luận:
Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết của xã hội học, CTXH , tâm lý học như: Thuyết vai trò, thuyết nhu cầu …để xác định nhu cầu của nhóm, vị trí, vai trò của các nhóm viên Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung và phát triển hệ thống lý luận, đặc biệt là phương pháp CTXH nhóm, giúp bệnh nhân TTPL củng cố và duy trì những hành vi mong muốn trên cơ sở luyện tập
Nghiên cứu cũng đã ứng dụng các kỹ năng trong từng giai đoạn CTXH nhóm
cụ thể, nhuần nhuyễn và linh hoạt
Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đi sau
3.2 Ý nghĩathực tiễn:
Nghiên cứu đưa ra được cái nhìn tổng thể về thực trạng bệnh nhân tâm thần tại bệnh viện nói chung và hoạt động trong mô hình phục hồi chức năng cho bệnh nhân TTPL nói riêng Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoạt động CTXH nhóm với các bệnh nhân TTPL để nhằm PHCN tự phục vụ Đây là tiền để cơ bản cho bệnh nhân tiến đến đoàn tụ cùng gia đình và hòa nhập cộng đồng xã hội- đây cũng là đích hướng tới trong công tác chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần
Đối với bản thân nhân viên CTXH, đây là cơ hội áp dụng những lý thuyết, phương pháp khoa học được trang bị trên giảng đường vào thực tiễn cuộc sống Từ
Trang 19đó giúp cho tôi nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm cho các nghiên cứu tiếp theo cũng như trong quá trình công tác
4 Mục đích can thiệp:
Tìm hiểu thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần của bệnh nhân tại bệnh viện nói chung và hoạt động của mô hình phục hồi chức năng cho bệnh nhân TTPL nói riêng Qua đó đề xuất thực nghiệm hoạt động CTXH nhóm để nhằm phục hồi chức năng tự phục vụ cho bệnh nhân TTPL Lượng giá kết quả trước và sau khi thực nghiệm để nhằm đánh giá tính hiệu quả của mô hình can thiệp
Hoạt động thực nghiệm mô hình CTXH nhóm nhằm phục hồi chức năng tự
phục vụ cho nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt đã được chọn làm nhóm viên
6 Phạm vi can thiệp
Thời gian được tiến hành từ tháng 3/2015-6/2015
Không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viên tâm thần tỉnh Bắc Giang Nội dung ca thiệp:
+ Can thiệp được thực hiện bằng phương pháp CTXH nhóm trên nhóm đối tượng là bệnh nhân TTPL nhưng đã có được sự điều trị ổn định về mặt y tế từ phía bệnh viện đang trong quá trình phục hồi chức năng tại viện
+ Can thiệp chỉ thực hiện trong việc PHCN “ tự phục vụ” cho nhóm đối
tượng được chọn làm nhóm viên
7 Phương pháp can thiệp
Đó là phương pháp CTXH nhóm với 4 giai đoạn cụ thể : Giai đoạn chuẩn bị thành lập nhóm; giai đoạn đi vào hoạt động; giai đoạn can thiệp thực hiện nhiệm vụ; giai đoạn lượng giá và kết thúc
Trang 208 Tiêu chuẩn theo dõi và đánh giá
Việc theo dõi và đánh giá được ghi nhận sau từng bước can thiệp cụ thể bằng phương pháp định tính và định lượng Ngoài ra khi lượng giá kết quả cuối cùng được đánh giá theo các tiêu chí sau:
Bảng tiêu chí đánh giá và cách cho điểm chức năng tự phục vụ
trong:0 Uống trôi vào trong :3 Súc miệng lại bằng nước đã rót ra 1 Thực hiện: 1
hướng dẫn
Không thực hiện: 0
Trang 22Ghi chú: Mỗi chức năng tự phục vụ được đánh giá theo tổng điểm là 10 dựa vào
các thành phần tiêu chí được nêu ra ở trên Căn cứ vào sự quan trọng của từng tiêu chí mà cho điểm ở mỗi tiêu chí là khác nhau Bên cạnh đó là cách thức cho điểm của từng tiêu chí cụ thể
Tự đánh
răng
Không thực hiện: 0 Lấy kem lên bề mặt bàn chải 1 Thực hiện: 1
phải của quần áo
Không thực hiện: 0
Không thực hiện được: 0
Không thực hiện được: 0
Trang 23CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THỰC NGHIỆM
1 Lý thuyết ứng dụng thực tiễn trong can thiệp
1.1 Thuyết học tập xã hội
1.1.1 Nội dung cơ bản của thuyết
Được bắt nguồn từ qua điểm học tập của Tarde (1843- 1904), Tolseland và Rivas(1998) trong quan điểm của mình, Tarde nhấn mạnh đến ý tưởng về học tập xã hội thông qua 3 quy luật bắt chước: Đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả 2 Cá nhân học cách hành động và ứng xử của người khác qua quan sát hoặc bắt chước [27, tr84]
Thuyết này được ứng dụng vào CTXH vào những năm 80 của thế kỷXX Thuyết này được sử dụng để điều chỉnh hành vi
Trong quá trình vận dụng thuyết học tập vào thực tế, có một số nguyên tắc cần được chú trọng Thứ nhất hiệu quả đạt được ở mức độ cao nhất của học tâp quan sát
là thông qua việc tổ chức và diễn lại hành vi làm mẫu một cách tượng trưng và sau
đó diễn lại một cách cụ thể Thứ 2 là mã hóa được hành vi bằng lời nói, đặt tên hình tượng hóa kết quả và cách này còn tốt hơn chỉ việc quan sát Các cá nhân rất có thể bắt chước được hành vi làm mẫu đó nếu như mô hình đóthích hợp với họ mà họ thấy ngưỡng mộ và nó mang lại kết quả mà họ thấy giá trị
Hiện nay người ta vẫn đang có những tranh cãi về thuyết học tập hay tính ứng dụng của nó trong hoạt động CTXH nhóm Nhưng không thể chối bỏ được sự vận dụng của thuyết trong hiệu quả đối với thân chủ là bệnh nhân TTPL
1.1.2 Ứng dụng
Mặc dù có nhiều tranh luận về thuyết này, nhưng không thể phủ nhận được những đóng góp của thuyết này trong CTXH nhóm Thuyết được nghiên cứu phân tích để giải thích các hành vi của các thành viên trong nhóm Theo cách tiếp cận cổ điển của thuyết học tập thì hành vi trong nhóm có thể xuất hiện khi nó được kích thích Trong nghiên cứu này khi NVXH nhắc nhở, hướng dẫn thành viên A về những hành vi không được khuyến khích thì anh ta đã thay đổi hành vi của mình Đây là kết quả của việc đưa ra sự kích thích thay đổi hành vi của thân chủ trong nhóm
Trang 24Một phương pháp học tập theo thuyết này khá phổ biến là tạo ra môi trường có điều kiện, đơn cử như hành vi của thân chủ A sẽ lập lại hành vi của chính mình, nếu như hành vi đó nhận được phản ứng tích cực của NVXH, như vậy cần tạo ra môi trường có điều kiện để thân chủ A tiếp tục củng cố hành vi Ngược lại nếu như các thành viên nhận được sư phản hồi khó chịu thì anh ta sẽ cố gắng tránh có các biểu hiện kiểu đó trong tương lai
Bên cạnh đó thuyết này còn giúp cho việc giải thích hành vi lây chuyền từ thành viên này sang thành viên khác nếu như được các thành viên trong nhóm hưởng ứng
Khi vận dụng NVXH cần phải biết khen, thưởng, động viên khích lệ để khuyến khích những hành vi được coi là chuẩn mực ví dụ như cần có những lời khen khuyến khích động viên những thành viên biết rửa tay trước khi ăn, sau khi đi
vệ sinh và ngược lại có những hình phạt để nhắc nhở nhóm viên tránh lặp lại những hành vi không phù hợp như sẽ phạt bằng cách đánh nhẹ và tay và kèm theo lời phê phán khi các thành viên không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Ngoài ra NVXH cần phải biết vận dụng các kỹ năng, môi trường và cơ hội để các khuôn mẫu hành vi tích cực của thành viên nhóm xuất hiện và lặp đi, lặp lại, giúp các thành viên nhóm nhận thức được các khuôn mẫu và có thời gian để thực hành
Do bệnh tật và tác dụng phụ không mong muốn của các loại thuốc an thần kinh tác động vào bệnh nhân mà họ không chỉ cùi mòn về cảm xúc mà còn mất dần các chức năng cơ bản của một con người, đó là chức năng tự phục vụ, tự ăn, tự uống, tự vệ sinh cá nhân…bởi vậy khi ứng dụng hoạt động CTXH nhóm với nhóm thân chủ nhân viên xã hội cần hết sức linh hoạt và chủ động trong suốt quá trình để nhằm khuyến khích nhóm thân chủ học tập những hành vi tích cực, lặp đi lặp lại nhiều lần để nhằm phục hồi dần những chức năng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của thân chủ
Trang 251.2 Thuyết nhu cầu:
1.2.1 Nội dung cơ bản của thuyết:
Mỗi con người đều có những nhu cầu về vật chất và tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú khác nhau Nhu cầu của con người nó phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống của mỗi người, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ
Abraham Maslow ( 1908-1970)- nhà tâm lý học gốc Do Thái đã chia nhu cầu con người thành năm bậc thang từ thấp lên cao
Nhu cầu sống còn: Được ăn uống, ngủ, nghỉ, hít thở không khí trong lành…đây là những nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì sự sống
Nhu cầu an toàn: Được sống trong thế giới hòa bình, không có chiến tranh, bạo lực, hiểm họa sau chiến tranh, xung đột vũ trang…
Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: Là con người xã hội, con người cần các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ Họ không muốn sự cô đơn, bị
bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc
Trang 26mình là một phần của nhóm, họ hứng khởi, cảm thấy bản thân mình quan trọng và
có giá trị nhờ sự tương tác qua lại giữa các thành viên nhóm với nhau
1.3 Thuyết vai trò
1.3.1 Nội dung cơ bản của thuyết:
Thuyết vai trò được hình thành dựa trên sự đóng góp quan trọng của khoa học xã hội học và tâm lý học, nó có quan hệ chặt chẽ với thuyết chức năng cấu trúc của tác giả Auguste Come, Herbert Spenser, Emile Durkheim.Thuyết vai trò nhấn mạnh đến tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể
đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững
Thông thường mỗi cá nhân có một hay nhiều vị trí, vai trò trong xã hội, vai trò bao gồm một hệ thống các chức năng, nhiệm vụ, chuẩn mực chỉ đạo hành vi con người Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết đòi hỏi phải có trong bối cảnh, tình huống cho sẵn, tình huống bất ngờ Hầu hết các hành vi xã hội hàng ngày của cá nhân quan sát được thực ra là những việc mà con người thực hiện trong vai trò của họ Do đó khi đề cập đến vai trò cho một vị trí nào đó, người ta có thể dự đoán được một phần lớn các hành vi của người đó trong vị trí mà họ sẽ có hoặc sẽ thể hiện
Hành vi con người chịu sự chỉ đạo của những mong muốn của chính cá nhân
họ hoặc của những người khác không chỉ là những hành vi có ý thức mà còn có những hành vi vô thức, mơ hồ Những mong muốn cho mỗi vai trò có thể khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cá nhân thực hiện hoặc thể hiện trong đời sống hàng ngày của họ Khi vai trò phù hợp với khả năng của cá nhân thì cá nhân đó sẽ đảm trách tốt vai trò được kỳ vọng, được phân công Bởi vậy mà muốn thay đổi hành vi
cá nhân, trước hết cần tạo cơ hội để cá nhân đó thay đổi vai trò CTXH vận dụng những luận điểm này cùng các phương pháp tiếp cận khác để thực hiện các can thiệp cho đối tượng của mình [27, tr168]
Trang 271.3.2 Ứng dụng
Thuyết vai trò được áp dụng vào CTXH nhóm để chỉ ra rằng trong nhóm nhất định tồn tại các vị trí khác nhau, các vai trò khác nhau và các vị trí, vai trò này được phân công, thể hiện bởi các thành viên nhóm Mỗi vị trí thể hiện chi tiết các vai trò bao gồm một chuỗi các chức năng cần thiết Vì vậy, khi là thành viên nhóm trong CTXH nhóm, các cá nhân là thành viên luôn đóng một vai trò cụ thể nào đó với những yêu cầu, nhiệm vụ được giao để thực hiện vai trò và họ luôn cố gắng để hoàn thành các chức năng đó Vận dụng thuyết này NVXH tác nghiệp cùng nhóm
để xác định và phân công vị trí, đảm nhận vai trò phù hợp cho mỗi thành viên nhóm
để họ tham gia tích cực, thể hiện phát huy vai trò, năng lực góp phần thực hiện mục tiêu chung của nhóm
Những bệnh nhân TTPL phục hồi chức năng tự phục vụ khi tham gia vào nhóm họ đều là những nhóm viên khá tích cực khi cùng nhau sinh hoạt nhóm dưới sựtận tình hướng dẫn của NVXH và điều dưỡng viên để cùng chung nhiệm vụ hoàn thành các mục tiêu của nhóm đề ra
Một số thành viên tích cực còn thể hiện rõ vai trò bao quát, quán xuyến các hoạt động của nhóm, hỗ trợ các thành viên khác nhằm giúp họ hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình sinh hoạt nhóm, PHCN cho các thành viên theo kịp với nhịp độ chung của nhóm Bên cạnh đó thì có những thành viên còn rụt rè bỡ ngỡ với vai trò mới của mình thì NVXH và nhóm trưởng cần tích cực động viên, khích lệ họ tham gia vào hoạt động chung của nhóm, khơi gợi những năng lực tiềm ẩn trong mỗi cá nhân
2 Kỹ năng CTXH nhóm đƣợc áp dụng để triển khai công việc can thiệp cho bệnh nhân TTPL phục hồi chức năng tự phục vụ
2.1 Nhóm kỹ năng giao tiếp, nhận diện vấn đề, xác định nhu cầu và thiết lập hoạt động của nhóm
Để mang lại hiệu quả thiết thực, tạo ra sự chuyển biến thay đổi tích cực của nhóm thân chủ thì NVXH cần phải vận dụng và phát huy rất nhiều các kỹ năng Cụ thể trong giai đoạn này đó là nhóm kỹ năng giao tiếp, nhận diện vấn đề, xác định nhu cầu và thiết lập hoạt động của nhóm
Trang 28 Kỹ năng tiếp cận làm quen: NVXH giới thiệu về bản thân, công việc và sứ
mệnh của mình ; đưa ra lý do cho sự hiện diện gặp gỡ, tiếp xúc với mọi người, thu hút sự quan tâm và tạo sự tin tưởng của những người sẽ là nhóm viên trong mô hình
nhóm tương lai
+ NVXH đã tìm hiểu trước thông tin về bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang thông qua bạn bè, anh em trực tiếp làm việc tại Viện, trang website của bệnh viện, tìm hiểu các nhóm viên thông qua đội ngũ y bác sỹ trực tiếp điều trị, thông qua hồ
sơ bệnh án, thông qua sự phản ánh của các bệnh nhân khác, thông qua gia đình, sự cảm nhận, quan sát độc lập của NVXH… qua đó đưa ra những nhận định ban đầu, những đánh giá khái quát, những lưu ý đặc điểm, đặc trưng của từng nhóm viên mà mình quan tâm
+ Với một tâm thế tự tin, chuẩn bị nội dung kỹ lưỡng cho cuộc tiếp xúc, làm quen thể hiện thái độ tôn trọng, cởi mở, chân thành, thân thiện, hòa nhập với đối tượng tác nghiệp Sẵn sàng giải đáp những yêu cầu thắc mắc từ phía đối tượng Không hề được tỏ ra trịnh thượng, thể hiện thái độ của người đứng ở bề trên gia ân
và ban phát Không đưa ra những lời nói sáo rỗng, hoa mĩ, tự phụ, những lời hứa suông cho đối tượng mà mình làm việc
Kỹ năng thuyết trình- trình bày, thông tin nội dung, tư tưởng vấn đề trước nhóm
+NVXH sử dụng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời để trình bày, diễn giải, truyền tải thông tin, nội dung tư tưởng đến người nghe, giúp người nghe hiểu được những thông tin đó Phải tạo được sự quan tâm chú ý lắng nghe, tham gia của đối tượng, đã có được sự phản hồi, trao đổi thông tin từ người nghe Kỹ năng này không chỉ được thể hiện trong giai đoạn chuẩn bị thành lập nhóm mà nó còn đòi hỏi
sử dụng thường xuyên trong suốt quá trình tác nghiệp với nhóm khi cần thiết
+ Đã có sự lựa chọn địa điểm và thời gian cụ thể cho buổi thuyết trình, chuẩn
bị nội dung thuyết trình dưới dạng đề cương khi nói, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng của NVXH để thuyết trình theo đề cương với nội dung dễ hiểu phù hợp với đối tượng Trong quá tình thuyết trình NVXH đã chú ý quan sát đến phản ứng, thái độ của đối
Trang 29tượng, luôn thể hiện sự tôn trọng, sự lắng nghe và sẵn sàng giải đáp chia sẻ thông tin với đối tượng
Kỹ năng đặt câu hỏi (chủ yếu được sử dụng với các y, bác sỹ, điều dưỡng
viên và người nhà bệnh nhân, đôi khi hỏi cả bệnh nhân trong những lúc tỉnh táo)
+ Đặt câu hỏi để lắng nghe và hiểu câu trả lời để nhằm chia sẻ, thu thập thông tin, thu hút sự chú ý, nhận diện vấn đề, cảm xúc, niềm tin, xác định nhu cầu của nhóm thân chủ được chính xác nhất, thiết lập được các mục tiêu, đánh giá được những thuận lợi, khó khăn và tiềm năng của đối tượng trong hoạt động tác nghiệp
+ Những câu hỏi được đưa ra kịp thời và phù hợp dựa trên kinh nghiệm, tình cảm, lý trí của NVXH, phải tạo được không khí cởi mở, chân thành, khích lệ được người trả lời suy nghĩ, tích cực tham gia chia sẻ thông tin
+ Với các bước tiến hành như sau: NVXH đã lựa chọn bối cảnh, lựa chọn không gian, đối tượng cho cuộc trao đổi, chia sẻ thu thập thông tin cụ thể, rõ ràng Đối với người bệnh và người nhà bệnh nhân ân cần hỏi thăm bên giường bệnh, trong phòng PHCN, đối với bác sĩ, điều dưỡng viên thì ngay tại phòng trực, phòng PHCN…gắn liền với những cuộc thăm hỏi chuyện trò là những hệ thống câu hỏi ( câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi giả thiết, câu hỏi thăm dò, câu hỏi về trí nhớ…)
đã được chuẩn bị trước để nhằm tìm hiểu nắm bắt thông tin và câu hỏi được phát triển theo diễn biến cuộc trao đổi Bắt đầu bằng những câu hỏi về tình trạng sức khỏe, cuộc sống, những mối quan tâm chung… tiếp đến là việc nêu lên lý do, mục đích, một số thỏa thuận có tính nguyên tắc cho cuộc trao đổi phỏng vấn
Trong bối cảnh khác, không hoàn toàn là cuộc phỏng vấn thì việc thực hiện các câu hỏi phụ thuộc vào diễn biến, sự quan tâm mục đích của người hỏi, như sự khẳng định lại thông tin, làm sáng tỏ vấn đề, đưa ra những giải đáp có thể là sự thấu cảm đối với đối tượng được hỏi
Tóm lại, kỹ năng đặt câu hỏi nó không chỉ thuần túy là kỹ năng và trên hết
mà nó còn là một công cụ tác nghiệp của NVXH được sử dụng linh hoạt ở các giai đoạn với đối tượng luôn là các cá nhân và nhóm
Trang 30 Kỹ năng lắng nghe: Đây là kỹ năng bao gồm một tập hợp những kỹ năng thể
hiện sự quan tâm của người nghe đối với đối tượng tác nghiệp để thấu hiểu những
thông tin, tâm tư, tình cảm suy nghĩ, mong muốn và những vấn đề gặp phải của họ
+ Phát và nhận tín hiệu cho cuộc giao tiếp được bắt đầu bằng những câu thể
hiện sự quan tâm, khích lệ sẵn sàng vào cuộc, NVXH luôn giữ tâm thế và luôn thể hiện thái độ lắng nghe tích cực, sử dụng những câu hỏi diễn tiến, phản hồi, tóm lược thông tin
+ Việc lắng nghe tích cực- thực sự và hiêu quả: Việc thực sự lắng nghe luôn
dựa trên tâm thế sẵn sàng, trạng thái tâm lý thoải mái, lắng nghe qua việc hiểu người khác nói Đây là một việc không hề đơn giản dễ làm mà là một việc rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự thực hiện khoa học Thật vậy, có vô vàn những lý
do khác nhau khiến cho việc lắng nghe không hiệu quả như không chú ý lắng nghe,
cố tỏ làm ra vẻ chú ý lắng nghe, chỉ nghe chọn lọc những vấn đề quan tâm mà không chú ý đến những cảm xúc của người nói… Vậy để thực sự lắng nghe thì người nghe cần phải tập trung tinh thần, thể hiện thái độ tự tin, thoải mái, tự nhiên, chân thành, cởi mở trong giao tiếp
+ Hiểu rõ thông điệp của người nói: Suy nghĩ ở bên trong và lời nói ở bên
ngoài, thực tế có thể đồng nhất mà cũng có thể khác biệt ở những mức độ nhất định Đôi khi những gì người khác nói và những gì chúng ta nghe được và những gì chúng ta thấy, biết được có sự khác nhau, ngược nhau Vì vậy, khi lắng nghe ta một mặt hiểu rõ thông điệp của người nói, một mặt kết hợp giữa nghe và quan sát, nghe trực tiếp và sâu chuỗi những gì đã biết, những điều đang đánh giá, khẳng định, kết hợp với các câu hỏi sau “tôi hiểu như vậy có đúng không?”, “Tôi có hiểu đúng điều anh/ chị/ bạn không nhỉ?”, “có thể tôi không hiểu đúng ý anh/chị/bạn, những gì anh/chị/bạn nói có nghĩa là?”…
+ Sử dụng, quan sát và nhận diện hành vi không lời- ngôn ngữ không lời nói
bởi ngôn ngữ không lời nói nó đóng vai trò vô cùng quan trọng cho việc lắng nghe hiệu quả đối với cả người nói và người nghe Với một số ngô ngữ không dùng lời nói điển hình trong giao tiếp biểu hiện qua tư thế ngồi, động tác tay chân, những
Trang 31phản ứng cơ thể của nhóm thân chủ, của người nhà bệnh nhân sự bộc lộ của nét mặt, biểu hiện qua ánh mắt, khoảng cách giao tiếp, giọng nói (ngập ngừng hay trôi chảy, lưu loát mạch lạc, trì triết, đay nghiến căm phẫn, lấp lửng, nhát gừng hay phó mặc bất cần, thoải mái hay lo sợ hoảng hốt…) cách ăn mặc của bệnh nhân xem có gọn gàng chỉn chu hay lôi thôi luộm thuộm, biểu hiện bên ngoài của bệnh nhân xem
có nhanh nhẹn hay đờ đẫn chậm chạp
+ Đối với người nghe, thể hiện sự lắng nghe nắm bắt thông tin Biểu hiện tâm trạng lo lắng hay xúc động thông qua ngôn ngữ cơ thể- hành vi không lời nói một cách tích cực với diễn biến nội dung của người nói (có thể bộc lộ sự ngạc nhiên vui mừng, hồ hởi nhưng không tỏ thái độ phê phán, giận giữ hay khinh miệt) Tất cả khiến cho người nói cảm nhận được sự quan tâm, tôn trọng, lắng nghe của người nghe Đồng thời, khi lắng nghe, sự quan sát ngôn ngữ cơ thể sẽ giúp cho NVXH nắm bắt và đánh giá chính xác hơn thông tin nghe được Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng, sự thể hiện kỹ năng lắng nghe của người làm CTXH trong quá trình tác nghiệp
Tóm lại: Có thể nói rằng kỹ năng lắng nghe là một kỹ năng vô cùng quan
trọng trong hoạt động CTXH nhóm nói riêng và nó được thể hiện và giữ vai trò xuyên suốt trong tất cả tiến trình hoạt động CTXH nhóm, có thể ví rằng kỹ năng lắng nghe nó là sự tổng hợp của rất nhiều các kỹ năng khác nhau Nó như chiếc mắt thần có thể chiếu rọi mọi vấn đề khúc mắc, sâu kín của vấn đề cần giải quyết của
nhóm can thiệp
Kỹ năng thấu cảm- thể hiện sự quan tâm, chia sẻ tình cảm và lý trí
+ NVXH- người can thiệp, trợ giúp, tác động, tổ chức hoạt động hướng đến việc giải quyết vấn đề của nhóm, đặt mình vào sự trải nghiệm hoàn cảnh của đối tượng tác nghiệp để hiểu về những suy nghĩ, tình cảm, tình trạng vấn đề và hành động của họ Thấu cảm để thể hiện sự quan tâm, chia sẻ ở mức độ cao hơn thông cảm và đồng cảm Trong khi tác nghiệp thì NVXH cần quán triệt sử dụng cả thông cảm, đồng cảm và thấu cảm nhưng phải luôn ý thức được rằng giữa chúng có sự khác nhau về cấp độ giá trị nhất là sự phân biệt giữa đồng cảm và thấu cảm.Đồng
Trang 32cảm nhấn mạnh đến cảm xúc đau buồn còn thấu cảm chia sẻ mọi cảm xúc mà đối tượng thân chủ đang bộc lộ Đồng cảm biểu hiện sự đồng thuận về niềm tin của đối tượng, tức là có được sự đánh giá tích cực về nó, còn sử dụng thấu cảm lại quan tâm đến việc hiểu sự đánh giá của chính đối tượng
Ví dụ: “Nhóm thân chủ nói với NVXH là chúng tôi ở đây chán lắm cán bộ ơi,
chúng tôi muốn được về nhà để được gần gũi với gia đình, chúng tôi không muốn ở bệnh viện đâu”
Đồng cảm: “Các anh chị ở đây rất chán nản, không muốn ở bệnh viện muốn
được về nhà để được gần gũi với gia đình”
Thấu cảm:“ Tôi rất hiểu về sự chán nản của các anh chị Quả là các anh chị đã
rất kiên trì theo đuổi chạy chữa ở bệnh viện đã diễn ra trong khoảng thời gian dài phải xa môi trường gia đình Nhưng hiện tại anh chị đã được đưa sang phòng PHCN, điều đó thể hiện bệnh tật của các anh chị đã thuyên giảm đi rất nhiều Tôi tin chắc là trong khoảng thời gian rất gần các anh chị sẽ được xuất viện về cùng với gia đình, nhưng giờ chúng ta hãy cùng nhau làm tốt phần công việc đã vạch ra nhé” NVXH cần phải chọn đúng thời điểm thấu cảm, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc giao tiếp Nó hoàn toàn phục thuộc vào khả năng lắng nghe, nắm bắt vấn đề, phán đoán, suy luận của NVXH điều đó phụ thuộc vào diễn biến thông tin quan sát, nhận biết tâm trạng bộc lộ của đối tượng qua ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời NVXH không nên quá vội vàng và sử dụng quá nhiều, liên tục việc thấu cảm trong một cuộc giao tiếp, tác nghiệp với đối tượng.Vì vậy, cần phải chọn thời điểm để thực hiện phản hồi thấu cảm nó sẽ góp phần mang lại sự thuận lợi trong quá trình tác nghiệp của NVXH
Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động của nhóm:
Đây là kỹ năng cuối cùng trong giai đoạn 1- giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
Lập kế hoạc hoạt động của nhóm nó thể hiện tính có mục đích và tính có tổ chức trong hoạt động của nhóm bao gồm kế hoạch- chiến lược tổng thể, xuyên suốt
và kế hoạch cho từng giai đoạn, từng nhiệm vụ với những mục tiêu cụ thể Thực
Trang 33chất là việc đề xuất, xác định thời gian, mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, vai trò đảm nhận, nguồn lực hoạt động của nhóm trong kế hoạch tổng thể và kế hoạch
cụ thể Cần phải phân biệt giữa kế hoạch hoạt động với đề án, dự án.Kế hoạch luôn
là cơ sở để nhóm dựa vào đó để triển khai các hoạt động, giữ tính định hướng và là tiêu chí cơ bản cho việc lượng giá kết quả đạt được, mức độ thành công của nhóm
Việc lập kế hoạch luôn phải là kế hoạch “động”, sẵn sàng điều chỉnh và ứng phó
với những điều kiện phát sinh mới của môi trường trong và ngoài nhóm Kế hoạch luôn phải đảm bảo tính công khai dân chủ, vừa sức, phù hợp, khả thi và tạo niềm tin tưởng, khích lệ để mọi thành viên sẵn sàng hưởng ứng nhiệt tình tham gia, thực hiện các hoạt động để thực thi nhiệm vụ theo kế hoạch, mục đích, mục tiêu đề ra trên cơ sở phối hợp và phát huy mọi nguồn lực, tập trung vào nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm cơ bản trong suốt quá trình tồn tại, phát triển và hoạt động của nhóm Các bước tiến hành- tiến trình kỹ thuật được thực hiện như sau:
+ Chuẩn bị, thực hiện cuộc họp, thảo luận nhóm về kế hoạch hoạt động của nhóm: Trong cuộc họp NVXH với tư cách là người điều hành trình bày trước rồi khích lệ các thành viên nêu ý kiến dựa trên trọng tâm kế hoạch bao gồm mục đích, mục tiêu, thời gian, nội dung- nhiệm vụ, công việc hoạt động, nguồn lực hoạt động, phương pháp tổ chức, triển khai hoạt động, phương pháp, cách thức, biện pháp tổ chức- triển khai hoạt động, phương pháp kiểm tra- đánh giá các yếu tố liên quan đến điều hành hoạt động như lãnh đạo nhóm, vai trò đảm nhận của các thành viên
Tuy nhiên, những yếu tố, điều kiện quyết định cho việc lập kế hoạch hoạt động được khả thi thì trước tiên phải đảm bảo sự minh bạch thông tin, công khai thông tin, kế hoạch hoạt động của nhóm phải là sản phẩm chung của toàn nhóm, đảm bảo được tính khả thi hữu dụng của kế hoạch: tức là kế hoạch xây dựng phải đảm bảo rằng nó sẽ được triển khai thực hiện và không quá xa vời với hiện thực, với mong muốn của nhóm
2.2 Nhóm kỹ năng triển khai và duy trì hoạt động của nhóm:
Kỹ năng tổ chức, điều hành, thực hiện một cuộc sinh hoạt, thảo luận,
họp nhóm
Sinh hoạt, thảo luận nhóm là một trong những hoạt động cơ bản có tính chất định kỳ, tất yếu của nhóm trong CTXH nhóm Mỗi cuộc họp, thảo luận nhóm có
Trang 34những mục đích, mục tiêu, với vai trò người tổ chức, điều hành, thành viên tham gia
cụ thể nhưng nhìn chung việc xác định thống nhất nội dung, chương trình hành động, kế hoạch, nhiệm vụ hoạt động, ra quyết định hoặc giải quyết những vấn đề mới phát sinh
Sinh hoạt thảo luận nhóm không phải là hình thức mang tính chất thông lệ
mà cần được nhận thức, xác định rằng đây là hoạt động quan trọng, là thời gian quý báu, là cơ hội để bày tỏ quan điểm, ý kiến, suy nghĩ của mỗi thành viên Thông qua họp nhóm thì những vướng mắc, bất đồng dần sẽ được giải quyết Quan trọng trên hết là người điều hành và các thành viên tham gia phải thể hiện thái độ tôn trọng lẫn nhau, vì mục đích chung của nhóm và trên tinh thần xây dựng
Được thực hiện qua các bước tiến hành như sau: Chuẩn bị cho cuộc sinh hoạt, thảo luận, họp nhóm: Công việc này chủ yếu là thuộc về người lãnh đạo đó là NVXH, bao gồm rất nhiều các vấn đền như: Chuẩn bị về nội dung, chủ đề, thời gian cho cuộc họp, trọng tâm, phương hướng, biện pháp thực hiện, tiếp đến là tiến hành cuộc họp, thảo luận của nhóm và cuối cùng là kết thúc cuộc họp, thảo luận
Kỹ năng phân công đảm nhiệm vị trí, vai trò của các thành viên nhóm
Kỹ năng này đó là sự phân công đảm nhiệm vai trò, vị trí vừa là sự thể hiện năng lực của NVXH, đồng thời thể hiện sự phản ánh mức độ tương tác nhóm trong việc bố trí, sắp xếp và sử dụng thành viên nhóm đúng người, đúng công việc nhằm phát huy tốt tinh thần thái độ tích cực tham gia, khả năng của mỗi người xuyên suốt quá trình và đối với từng họat động, nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của nhóm
Việc phân công đảm nhận vị trí, vai trò đối với từng thành viên trong nhóm dựa trên sự phát hiện nhận thức, đánh giá chung về những phẩm chất,năng lực, ưu điểm và hạn chế của mỗi người Tuy nhiên, mỗi thành viên trong nhóm phải cảm nhận được sự tự do trong công việc tự bộc lộ năng lực, sở trường, hạn chế của bản thân mà không ngại những phản ứng đánh giá từ người khác
Lựa chọn bầu người lãnh đạo: Phải nói ngay rằng việc chọn ra người lãnh đạo của nhóm là sự chỉ định của NVXH, bởi do tính đặc thù của nhóm Ở giai đoạn mới thành lập của nhóm, khi đó nhóm chưa thực sự là một nhóm hoàn chỉnh, và các
Trang 35thành viên chưa hiểu về nhau.NVXH của người lãnh đạo nhóm và sự tương tác của nhóm trong việc thúc đẩy tiến trình hoạt động
Kỹ năng ra quyết định:
Nó thể hiện năng lực của NVXH của người lãnh đạo nhóm.Ra quyết định là yếu tố quyết định trực tiếp đến hoạt động, đến giải quyết vấn đề Bởi vậy, cần phải đảm bảo rằng việc ra quyết định là sự thể hiện tập trung ý chí, sự tham gia của các thành viên nhóm tích cực đảm nhận vị trí, vai trò và nỗ lực thực hiện công việc, phát huy năng lực bản thân mang lại thành công cho quyết định
Các bước được tiến hành như sau:
Xác định vấn đề tiếp đến là phân tích các điều kiện, đưa ra các giải pháp và lựa chọn các giải pháp tối ưu cho từng nội dung, cuối cùng là ra quyết định Trong hoạt động của nhóm TC thì việc ra quyết định tùy thuộc vào từng thời điểm khác nhau mà có khi phải theo phương pháp độc đoán, có khi theo phương pháp cố vấn, theo phương pháp đa số
Nhìn chung, kỹ năng ra quyết định đối với nhóm TC có tính chất đặc thù là bệnh nhân TTPL thì đại đa số quyết định được đưa ra từ phía NVXH, tuy nhiên nó luôn trong vòng nội hàm của mục đích, mục tiêu đã được xây dựng từ trước để đảm bảo quyền lợi của nhóm TC được bảo toàn và phát huy tối ưu
Kỹ năng vượt qua rào cản cá nhân- ứng phó với những yếu tố, trường
hợp cá biệt:
Trong mỗi con người luôn tồn tại những trở ngại cần phải vượt qua và những trở ngại này sẽ càng được bộc lộ rõ nét hơn khi cá nhân được tham gia vào nhóm, đặc biệt là các cá nhân đều là những người gặp vấn đề về thần kinh thì những rào cản của mỗi các nhân là rất lớn, bởi vậy mà việc giúp mỗi cá nhân vượt qua những trở ngại của bản thân là một yếu tố, điều kiện quan trọng để nhóm duy trì, phát triển theo định hướng xác định và mục đích đặt ra
Để làm được điều ấy thì sự tác động của nhóm lên cá nhân là giúp cho cá nhân nhận thức được và tự bản thân nỗ lực vượt qua những rào cản để hòa nhập tốt hơn với nhóm Ngược lại thì nhóm nhìn nhận những rào cản của cá nhân một cách tích
Trang 36cực, không phê phán, thể hiện sự mong muốn thiện chí hỗ trợ cá nhân vượt qua những rào cản đó
Các bước tiến hành như sau:
+ Nhận diện rào cản, trở ngại của cá nhân: Đó là sự rụt rè, không dám giao tiếp với nhóm với các thành viên khác, trong thể hiện bản thân và với các thành viên khác, thành viên im lặng hoặc chia sẻ rất ít, rất hạn chế và khó khăn khi được hỏi về những phản ứng, những vấn đề liên quan đến bệnh tật, thậm chí là có những thành viên có phản ứng tiêu cực, nổi loạn, chống đối, quấy rối, tỏ ra bất cần, né tránh không tham gia trong các hoạt động hoặc một số hoạt động của nhóm
+ Tìm hiểu nguyên nhân của những rào cản- trở ngại cá nhân: NVXH sử dụng các kỹ năng tác nghiệp với cá nhân nhằm thể hiện sự chia sẻ, tìm ra nguyên nhân lập kế hoạch giải quyết và ngăn ngừa những hành vi tiêu cực có thể xảy ra hoặc tái diễn
Giải quyết vấn đề, giúp cá nhân vượt qua rào cản, trở ngại: Tác động cá nhân, giúp cá nhân vượt qua rào cản của bản thân và phương pháp can thiệp nhóm bằng cách sử dụng các trò chơi tương tác nhóm hoặc đặt cá nhân vào những tình huống có vấn đề để khích lệ sự thể hiện được đánh giá cao, không phê phán Để làm được điều này cần chấp nhận và giải quyết những rào cản của cá nhân, giúp cá nhân vươn lên hòa nhập bền vững trong nhóm như là một phần tất yếu của nhóm Xây dựng mối quan hệ bình đẳng và không đối xử biệt lập với những thành viên có rào cản cá nhân
Kỹ năng nhận diện, quản lý và giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong
nhóm:
Mâu thuẫn, xung đột trong nhóm được nảy sinh tồn tại và vận động với những hình thức, biểu hiện mức độ khác nhau và được nhìn nhận theo góc độ tích cực hoặc tiêu cực Cần phải thừa nhận nhóm phải có những mâu thuẫn là một nhóm lành mạnh và việc giải quyết mâu thuẫn là hướng đến sự phát triển của nhóm sẽ thúc đẩy NVXH, người lãnh đạo của nhóm nhận diện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
Trang 37Các bước tiến hành:
+ Nhận diện mâu thuẫn xung đột: Thông qua quan sát sự thể hiện thái độ, hành vi của các thành viên trong mối quan hệ và trong quá trình hoạt động của nhóm
+ Tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn: Không nhằm cáo buộc lẫn nhau mà nhằm hướng vào việc giải đáp cho câu hỏi: Vì sao lại mâu thuẫn?
+ Ứng dụng mô hình và biện pháp giải quyết mâu thuẫn: Có nhiều mô hình giải quyết mâu thuẫn khác nhau như cạnh tranh, nhượng bộ, không nhượng bộ, hợp tác, thỏa hiệp, hay lảng tránh Việc chọn và ứng dụng mô hình, biện pháp nó phụ thuộc vào bản chất, nguyên nhân của mỗi mâu thuẫn và nhận thức thái độ cũng như thiện chí của mỗi bên Tất cả điều này nó thể hiện vai trò, năng lực và kinh nghiệm
của NVXH, NVXH với vai trò là“trọng tài” trong đàm phán cần thể hiện sự mẫu
mực trong lắng nghe, tạo bầu không khí đàm phán cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đặt câu hỏi, trả lời giải đáp thắc mắc, truyền đạt thông tin, phá vỡ sự bế tắc, tạo tính
thuyết phục và đưa ra những kết luận để đi đến kết thúc đàm phán
2.3 Nhóm kỹ năng đánh giá hoạt động của nhóm:
+ Kỹ năng đánh giá sự phát triển của thành viên nhóm và sự thể hiện vai trò,
năng lực của NVXH: Đó là sự thay đổi, trưởng thành, tiến bộ, những hạn chế tồn tại
của thành viên trước, trong và cuối quá trình hoạt động của nhóm – là tiêu chí thước
đo quan trọng trong đánh giá hoạt động của nhóm, là số liệu để kiểm chứng hoạt động của nhóm trên cơ sở so sánh với tài nguyên, nguồn lực, thời gian, mục đích và mục tiêu hoạt động của nhóm
Đánh giá sự thể hiện vai trò, phát huy trình độ chuyên môn, năng lực, thái độ, tình cảm của NVXH trong toàn bộ quá trình tác nghiệp với nhóm, trên cơ sở đó giúp NVXH rút ra những bài học kinh nghiệm, trau dồi kiến thức, kỹ năng phát triển nghề nghiệp, thực hiện sứ mệnh của người CTXH chuyên nghiệp
+ Đánh giá ý thức, thái độ, năng lực tham gia, hòa nhập và phát huy vai trò của cá nhân- thành viên trong nhóm qua các giai đoạn phát triển, các hoạt động cụ thể của nhóm
Trang 38Luôn đảm bảo rằng các công cụ đánh giá, quy trình đánh giá, nội dung đánh giá và phương thức tiến hành đánh giá là khách quan, có cơ sở, tin tưởng, trung thực, khách quan toàn diện, được thể hiện trên cả phương diện định tính và định lượng
Việc đánh giá các thành viên và NVXH được thực hiện bằng nhiều các hình thức khác nhau, trong đó phổ biến là qua phỏng vấn, sử dụng bảng hỏi và qua quan sát sự thể hiện thái độ, hành vi, kỹ năng thực tế trong hoạt động của nhóm và trong tiến trình tác nghiệp
+ Kỹ năng lượng giá hoạt động:
Đó là việc đánh giá lại toàn bộ hoạt động của nhóm theo tiến trình, theo mục đích đặt ra và kết quả đạt được của nhóm, trong đó đặc biệt là sự trưởng thành, phát triển của các thành viên nhóm, việc thỏa mãn các nhu cầu và mức độ giải quyết những vấn đề gặp phải
+ Lượng giá các hoạt động của nhóm phải được đo lường bằng những số liệu
cụ thể, những mục tiêu mang ý nghĩa định tính, khó định lượng thì cần phải được cụ thể hóa bằng những con số thống kê cụ thể
+ Phải có sự tham gia tích cực của các thành viên nhóm vào quá trình lượng giá hoạt động của nhóm bởi thành viên nhóm là đối tượng tác động, là nhân vật trung tâm giải quyết vấn đề nâng cao năng lực cho các thành viên nhóm, là đích hướng tới, đồng thời là thước đo đánh giá sự thành công đối với hoạt động của nhóm Do đó, đánh giá hoạt động của nhóm cần có sự tham gia, thể hiện vai trò của các thành viên nhóm, từ việc xây dựng nội dung, tiêu chí đánh giá, phương thức thực hiện đánh giá đến phân tích số liệu thống kê đánh giá và đưa ra kết luận
- Các bước tiến hành: Trước tiên nêu lên mục tiêu, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện đánh giá hoạt động; chọn mẫu đánh giá và phương pháp thực hiện đánh giá; thu thập thông tin, tổng hợp số liệu và phân tích kết quả đánh giá từ các kênh đánh giá hoạt động của nhóm; thông qua kết luận và viết báo cáo tổng hợp đánh giá hoạt động
Trang 39Để đánh giá được chính xác thì nội dung, tiêu chí của đánh giá phải bám sát được nội dung hoạt động, thể hiện vai trò, cơ sở nguồn cho việc phân tích, đi đến kết luận để so sánh với mục đích của việc đánh giá và mục tiêu của hoạt động
3 Các khái niệm chính trong can thiệp
3.1 Tâm thần phân liệt:
Có rất nhiều những định nghĩa và cách hiểu khác nhau về tâm thần phân liệt Nhưng tựu chung lại thì có 2 cách hiểu thông thường về bệnh như sau:
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh loạn thần nặng và phổ biến, căn nguyên chưa rõ ràng Bệnh làm biến đổi người bệnh theo kiểu phân liệt: Người bệnh tách khỏi cộng đồng, thu dần vào thế giới bên trong làm cho tình cảm của họ khô lạnh Khả năng làm việc của bệnh nhân ngày càng sút kém và có những hành vi lập dị, khó hiểu [18 , tr.3]
Tâm thần phân liệt là tình trạng não bộ bị rối loạn nghiêm trọng, người bị bệnh sẽ đối diện với thực tại một cách bất thường Tâm thần phân liệt có thể dẫn đến sự kết hợp của ảo giác, hoang tưởng, tư duy và hành vi vô cùng mất trật tự.Trái lại với những gì mọi người nghĩ, tâm thần phân liệt không phải là một nhân cách hoặc đa nhân cách Từ “tâm thần phân liệt” có nghĩa là “chia tâm”, đề cập đến sự gián đoạn đến tình trạng cân bằng trong cảm xúc và suy nghĩ bình thường
Tâm thần phân liệt là bệnh mãn tính, đòi hỏi phải điều trị suốt đời.[19 ,tr.23]
3.2 CTXH nhóm
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về CTXH nhóm, nhưng có điểm chung và thống nhất là sử dụng phương pháp CTXH nhóm, tiến trình sinh hoạt nhóm để tạo dựng, duy trì và tăng cường sự tương tác giữa các thành viên của nhóm nhằm thay đổi thái độ, hành vi cá nhân một cách tích cực, nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên và của cả nhóm
CTXH nhóm là một phương pháp của CTXH nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của nhóm
Trang 40Thông qua sinh hoạt nhóm mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái
độ, hành vi và khả năng đương đầu với các nan đề của cuộc sống [27, tr35]
Với các hoạt động CTXH nhóm được đề xuất trong quá tình thực hành những bệnh nhân TTPL có cùng nhu cầu PHCN tự phục vụ có cơ hội được cùng nhau tham gia sinh hoạt trong nhóm với nhau, điều này sẽ có những ảnh hưởng tích cực trong việc học hỏi, bắt chước những hành vi trong quá trình hướng dẫn bệnh nhân PHCN tự phục vụ
3.3 Khái niệm chức năng và phục hồi chức năng
Chức năng:
- Theo từ điển tiếng Việt thì chức năng được hiểu theo 2 khía cạnh sau:
+ Chức năng: Là hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan hoặc là một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể( chức năng gan, chức năng phổi…) [32, tr7]
+ Chức năng: Là vai trò hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó ( chức năng người mẹ, chức năng cơ quan, chức năng máy tính…) [32, tr8]
Phục hồi chức năng:
+ Phục hồi được hiểu là khôi phục lại cái đã mất đi hoặc đã giảm sút đi
Theo từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì phục hồi đó là việc khôi phục lại cái đã mất đi hoặc giảm sút đi
Vậy PHCN ở đây đƣợc hiểu là phục hồi những chức năng đã mất hoặc giảm sút đi của một cơ thể sống
PHCN: Trong xã hội phát triển quan niệm về chăm sóc sức khỏe con người toàn diện phải bao gồm 4 yếu tố: Nâng cao sức khỏe (promotion), phòng bệnh( prevention), điều trị( treatment) và PHCN(rehabilitation)
Năm 1993 WHO đã định nghĩa: PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế
xã hội Giáo dục và kỹ thuật phục hồi làm giảm tối đa các tác dụng của giảm chức năng, tàn tật và các hoạt động xã hội PHCN còn bao gồm các biện pháp luyện tập thay đổi môi trường xã hội [5, tr29]