Cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lợc, với đỉnhcao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi hơn năm mơi năm.Những đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa t
Trang 1
trờng đại học vinh khoa lịch sử
-
-khoá luận tốt nghiệp đại học
Đảng bộ thanh hóa với vấn đề huy động
sức ngời, sức của phục vụ chiến dịch điện biên phủ (1954)
chuyên ngành: lịch sử đảng cộng sản Việt Nam
Ngời hớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Trọng Văn
Ngời thực hiện : SV Lờng Thị Nhung Lớp : 43B2 - Lịch sử
Vinh - 2006 Mục lục
Chơng 1 Đảng bộ lãnh đạo toàn dân xây dựng Thanh Hoá
thành căn cứ, hậu phơng kháng chiến của cả nớc
Trang 21.2.3 Xây dựng căn cứ địa miền núi 21
1.2.4 Đảng bộ lãnh đạo nhân dân phục vụ tiền tuyến và bảo vệ
Chơng 2 Đảng bộ lãnh đạo toàn dân chuẩn bị nhân tài,
vật lực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). 28
2.1 Những biện pháp để huy động sức ngời, sức của 31
2.2 Thanh Hóa luôn chi viện cho tiền tuyến vợt mức
2.2.1 Sự chi viện cho các chiến dịch trớc Điên Biên Phủ 38
2.2.2 Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 432.3 ý nghĩa, tác dụng của sự chi viện sức ngời, sức của
của Thanh Hóa đối với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 50
Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lợc, trận đọ sức quyết liệt nhấtgiữa ta và thực dân Pháp Với chiến thắng này, kế hoạch Nava cố gắng quân
sự cuối cùng nhằm chuyển bại thành thắng của Pháp và Mỹ đã hoàn toàn sụp
đổ Chiến lợc Đông Xuân 1953 - 1954 của ta hoàn toàn thắng lợi Thực dânPháp phải ký hiệp định Giơnevơ, rút hết quân đội về nớc, kết thúc gần một thế
kỷ đô hộ và xâm lợc nớc ta
Kỷ niệm mời năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã viết “Điện Biên Phủ nh là cái mốc bằng vàng của lịch sử” [16;261] Chiếnthắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi đi vào lịch sử lịch sử dân tộc ta nh mộtBạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX
Trang 3
Điện Biên Phủ không chỉ là cái mốc bằng vàng của lịch sử dân tộc mà còn
là cái mốc bằng vàng của lịch sử thế giới Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làmcho các dân tộc thuộc địa ngẩng cao đầu Tiếng sấm Điện Biên Phủ đã chấn
động địa cầu, thức tỉnh và tạo niềm tin cho các dân tộc bị áp bức vùng lên.Với Điện Biên Phủ, Việt Nam trở thành nớc tiên phong trong phong trào giảiphóng dân tộc, đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ
Điện Biên Phủ thắng lợi bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của
Đảng, Bác Hồ, Bộ t lệnh chiến dịch, từ tinh thần chiến đấu dũng cảm mu trí
và sáng tạo của quân và dân ta, từ sự phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nớcLào, Campuchia, sự giúp đỡ quan trọng của Trung quốc, Liên Xô, sự đồngtình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân Pháp Điện Biên Phủ thắnglợi còn do chúng ta đã xây dựng đợc một hậu phơng vững mạnh, đặc biệt nổibật nhất là sự đảm bảo cung cấp hậu cần của hàng triệu lợt ngời Đây chính làmột trong những nguyên nhân quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủchấn động địa cầu “Điện Biên Phủ là đỉnh cao nhất của sức mạnh nhân dân
đóng góp vào sự nghiệp chiến đấu của quân đội, đỉnh cao nhất của sức mạnhhậu phơng đối với chiến tranh Không có sự đóng góp sức ngời, sức của củanhân dân hậu phơng cả nớc thì không có chiến thắng lịch sử đó”[22;149] Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt trong chiến dịch
Điện Biên Phủ, Thanh Hóa trở thành một trong những hậu phơng quan trọngnhất Do qui mô và yêu cầu của chiến dịch, đợc Trung ơng giao nhiệm vụ,Thanh Hóa đã thành lập Hội đồng cung cấp cho mặt trận Với tinh thần, khíthế “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” Thanh Hóa đã cung cấp lớnnhất về sức ngời, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ Vì vậy, năm 1957,trong lần thứ hai về thăm Thanh Hóa, Bác Hồ đã biểu dơng, khen ngợi quândân Thanh Hóa “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến
đó Tiếng Điện Biên phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phầnvinh dự đến đó” [15;686]
Cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lợc, với đỉnhcao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi hơn năm mơi năm.Những đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa trong công tác hậucần:chi viện sức ngời, sức của phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là rất to lớn,cần đợc làm sáng tỏ hơn Đây cũng chính là một chủ đề lớn đã và đang đợcnhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu khoa học và nhiều học giả quan tâm nghiêncứu
Là một sinh viên chuyên ngành lịch sử, lại là ngời con của quê hơngThanh Hóa tôi cũng mong muốn đợc tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò của Đảng
Trang 4
bộ trong việc lãnh đạo nhân dân huy động tối đa sức ngời, sức của phục vụchiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên thắng lợi chung của dân tộc Thiết nghĩ rằng, vấn đề chi viện sức ngời, sức của phục vụ chiến dịch
Điện Biên Phủ của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa đợc nghiên cứu với thái
độ khách quan, khoa học chắc chắn sẽ rút ra đợc những vấn đề bổ ích choviệc học tập, giảng dạy môn lịch sử Việt Nam nói chung và đặc biệt góp phầngiáo dục truyền thống quê hơng cho các thế hệ trẻ, góp một phần nhỏ vàoviệc biên soạn bộ lịch sử Thanh Hóa trong giai đoạn này và góp phần giảngdạy tốt môn lịch sử địa phơng Thanh Hóa nói riêng cho học sinh, sinh viêncác cấp
Với những lý do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ Thanh Hóavới vấn đề huy động sức ngời, sức của phục vụ chiến dịch Điện BiênPhủ”(1954)
Đề tài này đã đợc nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả nghiên cứu dớinhiều góc độ khác nhau Có ngời nghiên cứu dới dạng một nội dung trongtổng thể vấn đề hậu phơng kháng chiến của Thanh Hoá thời kỳ 1945 -1954
Có ngời lại nghiên cứu trên một phạm vi rộng hơn, toàn diện hơn nh “Vùng tự
do Thanh - Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp (1946 -1954)” của tiến
sĩ Ngô Đăng Tri Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2001; Lu Quang Hà chủbiên “Trận tuyến hậu cần Điện Biên Phủ” Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Hà nội 1975; Viện lịch sử quân sự Việt Nam “hậu phơng chiến nhân dânViệt Nam 1945 - 1975” Nhà xuất bản quân đội nhân dân Hà Nội 1997; “Vaitrò của hậu phơng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và trong chiếndịch Điện Biên Phủ” Luận văn tốt nghiệp của Lê Thị Lý; “Hậu phơng Thanh
- Nghệ Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)” Luận văn 26 củaHoàng Thị Tố Yên Phòng đọc khoa Lịch sử Đại học Vinh, và trong hầu hết
Trang 5
các tác phẩm, các cuốn sách viết về chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử hầu
nh đều đề cập đến vấn đề chi viện sức ngời, sức của cho chiến dịch Điện BiênPhủ của nhân ta, dân tộc ta nói chung và của nhân dân xứ Thanh nói riêng.Tuy nhiên, cho đến hiện nay vẫn cha có một đề tài nào nghiên cứu một cáchsâu sắc về những đóng góp lớn lao của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá chochiến dịch Điện Biên Phủ bao gồm toàn bộ vấn đề huy động sức ngời, sứccủa, phục vụ chiến dịch
Chúng tôi chọn đề tài này không có tham vọng là phát hiện, khám phá
ra một vấn đề, một nội dung hay những số liệu mới mẻ về sự chi viện sức
ng-ời, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ của Đảng bộ và nhân dân Thanhhoá, mà chỉ nhằm nâng cao và củng cố sự hiểu biết của bản thân về những
đóng góp to lớn trong công tác hậu cần của Đảng bộ và nhân dân Tỉnh Thanhvào sự thắng lợi chung của cả dân tộc Mục đích lớn lao nhất luôn luôn thôithúc, giục giã chúng tôi trong khi nghiên cứu là mong làm nổi bật lên vai trò
và đóng góp lớn nhất của Đảng bộ Thanh Hóa trong việc lãnh đạo nhân dântỉnh nhà huy động tối đa sức ngời sức của cho chiến thắng Điện Biên Phủ -Một chiến thắng đã trở thành huyền thoại
3 Phơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở dựa vào các nguồn tài liệu thu thập đợc có liên quan đến vấn
đề hậu cần chi viện sức ngời, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ của nhândân Thanh hoá nói riêng và của cả dân tộc nói chung, chúng tôi đã vận dụngphơng pháp tích hợp để phân tích, khai thác, xử lí và tận dụng mọi giá trịthông tin về sử liệu, xác minh, bổ sung cho những nguồn sử liệu đó Từ đó,phân tích, hệ thống hoá kiến thức theo phơng pháp lịch sử và phơng pháplôgíc để giải quyết vấn đề Trên cơ sở đó, khẳng định đợc vai trò của Đảng bộ
và nhân dân Thanh Hóa, đặc biệt trong vấn đề huy động sức ngời, sức củaphục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ
Trang 6
B - Nội dung Chơng 1 Đảng bộ lãnh đạo toàn dân xây dựng Thanh
hoá thành căn cứ, hậu phơng
kháng chiến của cả nớc (1947-1953)
1.1 Khái quát vị trí địa lí tự nhiên Thanh hoá.
Thanh hoá - Tỉnh ở địa đầu miền Trung của Tổ quốc, nối đồng bằngBắc Bộ rộng lớn với dải đất miền Trung dài và hẹp Thanh Hoá nằm ở vĩ độ
19o23’ đến 20o30’ Bắc và 104o25’ đến 106o30’ kinh độ Đông, có diện tích tựnhiên 11.168 Km2 và 18.760 Km2 vùng thềm lục địa Phía Bắc Thanh hoágiáp Sơn La Hoà Bình, Ninh Bình; Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tâygiáp tỉnh Hủa Phăn (Nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào); phía Đông giápbiển Thái Bình Dơng
Với diện tích 11.168 Km2, Thanh hóa hình thành 4 vùng: Miền núi,trung du, đồng bằng và miền biển, gắn liền với các nguồn tài nguyên thiênnhiên phong phú, đa dạng và sức lao động dồi dào, tạo nên thế mạnh kinh
tế hoàn chỉnh cả về nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, nghề rừng,nghề biển
Vùng núi Thanh hoá chiếm 3/4 đất đai tự nhiên, trừ phía Đông là biểncòn ba mặt Bắc, Tây, Nam đều có rừng núi bao bọc Núi đồi đợc chia thànhhai hệ thống: Hệ thống bắc sông Mã là dãy núi đá vôi tiếp nối dãy HoàngLiên Sơn và kết thúc là dãy Tam Điệp có độ cao giảm dần từ 1500m đến100m, đỉnh cao nhất là Phu Pha Phong (1587m) thuộc địa giới hai xã Thanhsơn (Bá thớc), Phú xuân (Quan Hoá) hệ thống nam sông Mã gồm các dãyphiến thạch, sa thạch, granit, chạy từ Quan Sơn, Mờng Lát, Quan Hoá sang
Nh Xuân, Tĩnh Gia giáp Nghệ An có độ cao trên dới 1000m, đỉnh cao nhất là
Bù Chó (1563m) thuộc xã Xuân Mĩ (Thờng Xuân) đây là vùng núi cao, dốcdứng, vực thẳm, rừng rậm, khe suối chằng chịt, địa thế rất hiểm trở, càng vềphía Đông Nam núi càng thấp dần và rừng cũng bớt rậm rạp, phía Đông Nam
là vùng núi thấp chậy tận ra biển
Núi rừng Thanh Hoá nhiều lâm sản khoáng sản và chim thú quí hiếm,
“Hệ thực vật có khoảng 1569 loài, động vật có 64 loài thú, 33 loài bò sát, 137loài chim và hàng trăm loài côn trùng khác, hiện nay rừng tự nhiên còn lại
300 ngàn hecta và gần 100 ngàn hecta rừng trồng, Thanh Hóa đã phát hiện
đ-ợc 185 điểm có khoáng sản” [4; 10]
Vùng trung du chạy theo hình vòng cung giáp ranh giữa các huyện
đồng bằng và các huyện miền núi, đất đai màu mỡ địa hình tơng đối bằng
Trang 7Từ rất sớm đồng bào các dân tộc Thanh Hoá đã khai phá tạo nên nhữngcánh đồng phì nhiêu, xóm làng trù phú, phát triển một ngành nông nghiệp đadạng ngành nghề, phong phú sản vật, làm cho vùng châu thổ trở thành kho l-
ơng nuôi sống các thế hệ ngời xứ Thanh, đóng góp to lớn cho sự nghiệp xâydựng, bảo vệ đất nớc
Miền biển bao gồm vùng ven bờ và vùng thềm lục địa, có diện tích18.760 Km2 Đờng bờ biển dài 102 Km, có nhiều cửa lạch cho thuyền bè ravào thuận lợi nh lạch Sung (Nga sơn - Hậu lộc), lạch Trờng (Hậu lộc - HoằngHóa), lạch Trào (Hoằng Hóa - Quảng Xơng), lạch Ghép (Quảng Xơng - TĩnhGia), lạch Bạng (Tĩnh Gia) Biển Thanh Hóa có trữ lợng cá tơng đối lớn, cónhiều tiềm năng khai thác hải sản quí Biển cũng là nơi có vị trí chiến lợc cực
kỳ quan trọng C dân vùng biển xứ Thanh đã không ngừng lao động, sáng tạokhai thác tiềm năng của biển đóng góp xứng đáng cho công cuộc dựng nớc vàgiữ nớc của dân tộc
Những điều kiện tự nhiên nói trên tạo cho Thanh Hóa có cảnh sắc đặcbiệt nh Hồ Chí Minh đã nói “Tỉnh Thanh biển bạc, rừng vàng, ruộng đồngman mác, xóm làng liên miên”[1;4]
Thanh Hóa có mạng lới giao thông phát triển khá hoàn chỉnh Hơn haimơi con sông lớn nhỏ, bắt nguồn từ miền núi chảy theo hớng Đông- Nam đổ
ra biển, trong đó hai con sông lớn và dài nhất là sông Mã và sông Chu Hệthống sông ngòi này có vai trò lớn trong vận chuyển đờng thuỷ phục vụ kinh
tế và quốc phòng
Giao thông vận tải đờng bộ cũng khá đa dạng Quốc lộ 1A và dờngsắt Bắc - Nam chạy xuyên suốt chiều dài toàn tỉnh, qua trung tâm đồngbằng, tiếp giáp vùng ven biển Đờng 59, đờng 15 đi từ phía Bắc, tây Bắc
bộ xuyên qua vùng trung du và miền núi Thanh Hóa, về phía Nam vàoNghệ Tĩnh Đờng 217 là trục đờng quan trọng từ Thanh Hóa đi Na Mèo,
đến tỉnh Hủa Phăn (nớc cộng hoà dân chủ nhân dân Lào) Hệ thống đờng
Trang 8Thanh Hóa đất rộng, ngời đông, có rừng sâu, biển cả, có đồng bằng bátngát, phì nhiêu, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng Nhân dân ThanhHóa cần cù lao động, thông minh sáng tạo, sớm có ý thức dân tộc,tinh thầnyêu nớc nồng nàn, có ý chí chống ngoại xâm kiên cờng bất khuất và truyềnthống đoàn kết gắn bó, cố kết cộng đồng.
Đợc thiên nhiên u đãi, lại có nguồn lao động dồi dào, Thanh Hóa cónhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế toàn diện, bảo đảm nhu cầuhậu cần tại chỗ phục vụ cho công cuộc kháng chiến của đất nớc và làm nhiệm
vụ quốc tế Và trên thực tế, Thanh Hóa từ xa xa đã từng nhiều lần đảm nhiệmvai trò căn cứ địa hậu phơng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vàchiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta nh khởi nghĩa Hai Bà Trng (đầucông nguyên) vùng Nga Sơn là căn cứ hoạt động của nữ tớng Lê Hoa Thế kỷIII, Thiệu Yên là nơi phất cờ khởi nghĩa của Bà Triệu Thế kỷ X, Thanh Hóa
là bàn đạp tấn công giải phóng Tống Bình của Dơng Đình nghệ và NgôQuyền Thế kỷ XIII, cả Thanh - Nghệ - Tĩnh là hậu phơng do “tồn thập vạnbinh” của nhà Trần trong kháng chiến chống Nguyên Mông.Thế kỷ XV, nơi
đây là căn cứ địa hậu phơng của khởi nghĩa Lam Sơn chống Minh do Lê Lợi,Nguyễn Trãi lãnh đạo Thế kỷ XVIII, Quang Trung- Nguyễn Huệ hội quân ởThanh Hóa tiến ra Bắc tiêu diệt giặc Thanh Khi cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp bùng nổ Thanh Hóa là vùng tự do (không có quân Pháp đóng giữtheo hiệp định Sơ bộ mồng 6.3.1946) Bởi vậy, Thanh Hóa nối liền với NghệTĩnh thành một vùng tự do rộng lớn, trở thành căn cứ, hậu phơng trọng yếu:vừa là chỗ đứng chân an toàn cho bộ đội, vừa là nơi cung cấp sức ngời, sứccủa cho tiền tuyến
Nh vậy, trên cơ sở các yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều tốt,nhân dân Thanh Hóa đã ra sức khai thác tiềm năng thiên nhiên, phát huy tiềmlực và trí tuệ, năng lực con ngời để tạo dựng nên cho quê hơng mình một vịthế chiến lợc trọng yếu, đóng góp cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc ViệtNam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và hun đúcnên những giá trị truyền thống cao quí Đó là cơ sở vững chắc để nhân dân
Trang 9Tiếp thu t tởng chủ nghĩa Mác- Lênin, đối với nớc ta, Đảng ta đã khẳng
định: Hậu phơng là nơi ta đặt các cơ quan đầu não kháng chiến của cả nớc, làchỗ dựa vững chắc, nguồn cung cấp sức ngời, sức của và tài chính chủ yếucho cuộc kháng chiến
Thanh Hóa vốn là một tỉnh đất rộng, ngời đông, có vị trí chiến lợc cực
kỳ quan trọng về kinh tế, quốc phòng của cả nớc Theo các nhà quân sự chính trị trớc đây dới góc độ địa - quân sự, địa - chính trị, Thanh Hóa đợc coi
-là “Phên dậu thứ hai” nh đánh giá của Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV Đối vớinhân dân Thanh Hóa , từ xa vốn đợc nhận xét là cần cù, siêng năng, trọng
điều nghĩa Sự hun đúc về tâm và lực của vùng đất, con ngời nơi đây đã đợcnhà sử học Phan Huy Chú kết luận: “Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn l-
ợn quanh, biển ở phía Đông, Ai Lao ở phía Tây, Bắc giáp trấn Sơn Nam, Namgiáp đạo Nghệ An Núi sông rất đẹp, là một chỗ có cảnh đẹp ở nơi xung yếu,
đến Lê Lai là nơi căn bản Vẻ non sông tốt tơi chung đúc nên sinh ra nhiềubậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ họp lại xảy ra nhiều bậc văn nho Đến nhữngsản vật quí cũng khác với mọi nơi Bởi vì đất thiêng thì ngời giỏi nên xảy ranhững bậc phi thờng, vơng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nớc”[4;26]
Thực dân Pháp trở lại xâm lợc nớc ta lần thứ hai, những tên cáo giàthực dân cũng nhìn thấy vị thế của xứ Thanh Chúng đã cho quân đánh chiếmmiền Tây tỉnh Thanh Hóa với mục đích thành lập một hành lang Đông- Tâynối liền chiến trờng Bắc Lào với chiến trờng Bắc Việt Nam Chúng điều quân
từ Lào xuống chiếm một số xã biên giới của các huyện Quan Hóa, Bá ớc,Lang Chánh làm bàn đạp chiếm toàn bộ miền Tây (bao gồm 11 huyện
Trang 10
miền núi Thanh Hóa ngày nay) Đồng thời bọn phản động Ngô Đình Diệm đãlợi dụng các cha cố phản động (tiêu biểu nh Lê Hữu Từ) từ Phát Diệm - NinhBình vào Nga Sơn, thị xã Thanh Hóa để tuyên truyền, kích động giáo dân Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách nhìn bao quát, toàn diện, sâu sắc, trêncơ sở phân tích các nhân tố: địa lợi, nhân hoà, khả năng và tiềm năng củatỉnh, Ngời đã tin tởng và hy vọng Thanh Hóa sẽ có thể phải là hậu phơng củacả nớc trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lợc Với
ý tởng đó, ngày 20 tháng 2 năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh vào thăm ThanhHóa Trong buổi nói chuyện với các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào, chủtịch Hồ Chí Minh đã giao cho Đảng bộ Thanh Hóa phải xây dựng Thanh Hóathành tỉnh kiểu mẫu, thành hậu phơng vững mạnh, toàn diện Ngời chỉ thị:
“Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu Phải làm sao cho mọi mặt: chínhtrị, quân sự, kinh tế, văn hoá là kiểu mẫu Làm một ngời kiểu mẫu, một nhàkiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu Quyếttâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu”[1;15] Nội dung của tỉnh kiểu mẫu Ngời phântích cụ thể, đó là mô hình một hậu phơng của cuộc chiến tranh nhân dân Đợc chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ xây dựng Thanh Hóa thànhtỉnh kiểu mẫu là niềm vinh dự, tự hào, đồng thời là trách nhiệm to lớn, vẻvang của Đảng bộ nhân dân toàn tỉnh
Dới ánh sáng nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ơng Đảng tháng 4 năm
1947 về xây dựng căn cứ địa kháng chiến, căn cứ vào vị thế của Thanh Hóa
đối với chiến trờng chính là một vị trí cơ động tiến lui đều thuận lợi, đối vớiThợng Lào là bàn đạp vững mạnh, đối với toàn quốc và liên khu IV là hậu ph-
ơng dồi dào, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa không thể không xây dựngThanh Hóa thành căn cứ địa vững chắc, lâu dài của cuộc kháng chiến thầnthánh của dân tộc ta
Cụ thể hóa t tởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: kháng chiến khắp mọi mặt,kiến thiết khắp mọi nơi, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa xác định nhiệm vụcách mạng trung tâm của tỉnh giai đoạn này là: “xây dựng Thanh Hóa thànhhậu phơng vững mạnh để kịp thời cung cấp đầy đủ sức ngời, sức của chochiến trờng, đồng thời tổ chức chiến đấu tốt để bảo vệ hậu phơng trong mọitình huống”(18)
Dới sự lãnh đạo của Trung ơng và sự chỉ đạo sát sao của liên khu ủy
IV, Đảng bộ Thanh Hóa đã lãnh đạo nhân dân vợt qua khó khăn, thử thách,vận dụng sáng tạo chủ trơng của Đảng, chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong hoàn cảnh cụ thể tiến hành xây dựng Thanh Hóa thành hậu phơng củacả nớc trên các lĩnh vực: Phát triển sản xuất để cải thiện dân sinh và đẩy
Trang 11đất bị hoang hóa Nông dân thiếu lơng thực, nạn đói hoành hành Số lợng
đảng viên quá ít (chỉ có năm mơi ngời) trình độ lý luận non yếu, phơng pháphoạt động còn nhiều lúng túng Trong khi đó bọn phản động tay sai lại ra sức
vu cáo, khiêu khích, chia rẽ chính quyền cách mạng Một số tên ngấm ngầmchui vào chính quyền của ta hoạt động chống phá
Đứng trớc nhiều khó khăn, thử thách, dới sự lãnh đạo của Đảng bộ,mặt trận Việt Minh và chính quyền cách mạng phải tập trung giải quyếtnhiệm vụ cấp bách trớc mắt là nhanh chóng ổn định đời sống mọi mặt chonhân dân
Thực hiện sáu nhiệm vụ cấp bách trớc mắt của Chính phủ và chỉ thịkháng chiến kiến quốc của Trung ơng Đảng, Tỉnh uỷ và uỷ ban hành chínhTỉnh đã phát động phong trào thi đua tăng gia sản xuất, ban khuyến nông đợcthành lập để chỉ đạo phong trào và tờ báo “Tấc đất” cũng ra đời trong thời kỳnày, để tuyên truyền cổ vũ nông dân tăng gia sản xuất
Tháng 12 năm 1946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã gửi th cho uỷ ban tănggia sản xuất, Ngời tin chắc rằng Thanh hoá sẽ trở thành một tỉnh kiểu mẫu,Ngời nói “ Tôi mong rằng, trong công việc đó tất cả những ngời có đức, cósức, có tài, có của, có công đều cố gắng ra giúp, toàn thể đồng bào hăng háitham gia nh thế thì nhất định sẽ thành công” [1;4]
Đáp lại lòng mong mỏi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ ThanhHóa đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh hăng hái tham gia đẩy mạnh sản xuất,phát triển kinh tế văn hoá nâng cao dân trí phục vụ kháng chiến kiến quốc Tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp vận động nhân dân thực hiện khẩu hiệu “Tấc
đất, tấc vàng” khuyến khích khai hoang, phục hoá, mở rộng diện tích cày cấy,
Trang 12đợc chính quyền tạm chia cho dân nghèo cày cấy Trong năm 1947 đã có trên
400 hộ nông dân đợc nhận ruộng tạm chia
Bằng những biện pháp khuyến khích phát triển nông nghiệp, diện tíchcanh tác đợc mở rộng, năng suất sản lợng lơng thực tăng, nhân dân có lơngthực đóng góp cho kháng chiến “Năm 1947, cả Tỉnh đạt sản lợng thóc trên 26
000 tấn, ngô trên 7 800 tấn, khoai lang trên 48 000 tấn, bông sợi dệt đạt 547tấn” [5;157]
Cùng với sản xuất nông nghiệp, nghề khai thác biển, nghề rừng và cácnghề thủ công truyền thống khác đều đợc tỉnh chú trọng đầu t phát triển Các chủ trơng nhằm khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân saungày cách mạng Tháng Tám thành công đã tạo đà cho công cuộc xây dựng vàphát triển kinh tế ở những năm sau này
Một vinh dự lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá ngày 20tháng 2 năm 1947 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã vào thăm Thanh Hóa Ngời đãgiao cho Thanh Hóa phải xây dựng thành tỉnh kiểu mẫu, thành hậu phơngvững mạnh toàn diện Ngời cũng chỉ rõ nội dung của Tỉnh kiểu mẫu và yêucầu chính phủ đầu t vốn để phát triển nông nghiệp ở Thanh Hoá
Thực hiện lời dạy của Ngời, trên mặt trận kinh tế phong trào thi đuatoàn dân lao động sản xuất, phát triển kinh tế đợc đẩy mạnh Trong nôngnghiệp nhiều biện pháp kỹ thuật đã đợc áp dụng, đã chú ý sử dụng các loạiphân hữu cơ chăm bón cho hoa màu Năm 1948, toàn tỉnh có 15 vạn con trâu,giải quyết đợc về cơ bản nạn thiếu sức kéo trong nhiều năm Hàng trăm héctaruộng của Quảng Xơng, Tĩnh Gia đợc rửa mặn
Để đảm bảo ruộng đất cho ngời nông dân và giảm bớt khó khăn chongời nghèo, Đại hội lần thứ IV ( 04/1949 ) của Đảng bộ tỉnh, Tỉnh uỷ đã chỉ
đạo các cấp chính quyền “Triệt để thi hành chính sách ruộng đất, giảm tôxuống 25%, quân cấp công điền, công thổ cho công bằng, giải quyết khốngthu Tăng gia sản xuất tiến tới có kế hoạch, tăng năng suất ruộng đất” [2;29]
Trang 13
Năm 1948, có 2497 điền chủ thực hiện giảm tô trên diện tích 13.700 mẫuruộng Năm 1949 tăng lên 23.770 mẫu ruộng đợc giảm tô Năm 1950 hầu hếtchủ đất phải thực hiện triệt để giảm tô 25% Trong phong trào “ Hiến điền”chính quyền cách mạng đã nhận đợc 1.799 mẫu Để đảm bảo điều kiện sinhhoạt bộ đội địa phơng, tỉnh uỷ đã giành 400 mẫu ruộng lập quỹ cấp cho bộ
đội địa phơng
Trong phong trào thi đua xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu,
đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Những hình thức tổ chức mới trongsản xuất đợc xây dựng Năm 1948, toàn tỉnh đã xây dựng đợc 771 tổ đổicông Năm 1949 có 4.077 tổ đổi công Năm 1950 đã có 504 hợp tác xã bậcthấp, 90% nông dân lao động đã vào tổ đổi công và hợp tác xã Bớc đầu hìnhthành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn kể cả vùng thợng du đã có những bớctiến đáng kể
Năm 1949, diện tích trồng lúa tăng thêm 10.000 mẫu, bông 6.149mẫu, ngô 3.494 mẫu, khoai 9.428 mẫu, lạc 383 mẫu, vừng 150 mẫu, đậu 1785mẫu Sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả lớn, nông dân đủ thóc ăn và
đóng góp vào công cuộc kháng chiến của cả nớc Riêng 1949, Thanh Hóa đãbán 7.936 tấn lúa khao quân và đóng hàng ngàn tấn để cấp dỡng bộ đội địaphơng
Trong những năm 1950-1952, thực dân Pháp tăng cờng phá hoại sảnxuất, phá hoại kinh tế Thanh Hóa Chúng ném bom đập Bái Thợng, làm tê liệt
hệ thống thuỷ nông Sông Chu Chúng phong toả, bao vây kinh tế vùng tạm bịchiếm, đa các hàng xa xỉ vào thị trờng Thanh Hóa
Để khôi phục và phát triển sản xuất, đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III(1950) và lần thứ IV (1952) đều nhấn mạnh “Phải tập trung phát triển sảnxuất, đặc biệt phải chú trọng cải thiện dân sinh…,phải tổng động viên toàn,phải tổng động viên toànlực, toàn dân tham gia sản xuất”[2;127] Đồng thời , Đại hội cũng chỉ rõ “không phát triển sản xuất đợc thì đừng nói đến phát triển kinh tế tài chính Do
đó phải đặc biệt và thờng xuyên chú trọng phát triển sản xuất”[2;325]
Dới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ III và thứ IV, Tỉnh
ủy đã phát động phong trào sản xuất, tiết kiệm nhằm đẩy mạnh sản xuất, cảithiện đời sống nhân dân Đảng bộ đã cử 5 đoàn cán bộ về tận các huyện đểchỉ đạo thu hoạch, huy động dân công thu thuế nông nghiệp Để thi hành sắclệnh thuế nông nghiệp, toàn tỉnh đã kiểm kê ruộng đất, phân mảnh, định hạng
rõ ràng, chính xác Các cấp ủy đảng đã mạnh dạn đấu tranh với những ngời cóthủ đoạn gian dối Do công tác tuyên truyền, vận động và tổ chức tốt nên từ
Trang 14Các ngành kỹ nghệ quốc phòng cũng đợc xây dựng và đi vào sảnxuất phục vụ công cuộc kháng chiến Xởng quân giới Phạm Hồng Thái, x-ởng quân giới Cao Thắng, lò cao kháng chiến Hải Vân…,phải tổng động viên toànđã có nhiều sángkiến cải tiến kỹ thuật sản xuất nhiều loại vũ khí nh súng cối, ĐKZ, bom bacàng, mìn thuỷ lôi và sửa chữa nhiều loại sơn pháo thu đợc của địch trang
bị cho bộ đội và du kích Nguyên liệu để sản xuất các loại vũ khí đ ợc nhândân khai thác từ các mỏ quặng sắt, than, cung cấp cho các lò nấu gang vàcác xởng quân giới Nhiều đồ dùng trong gia đình bằng đồng, nhôm, sắt,thép cũng đợc nhân dân tự nguyện mang đến các xởng quân giới để gópvào sản xuất vũ khí
Trên mặt trận văn hoá giáo dục tiếp tục đẩy mạnh phong trào xoá nạn
mù chữ, trên cơ sở biết đọc, biết viết tiến tới phổ cập cấp I Năm 1950, phongtrào đã phát triển rất mạnh, toàn tỉnh có 11.000 lớp học, 12.000 giáo viên và267.000 học viên Hàng trăm trờng phổ thông cơ sở và 6 trờng phổ thôngtrung học đợc xây dựng, một số lớp dự bị đại học, lớp bồi dỡng nghiệp vụ chocác văn nghệ sỹ cũng đợc khai giảng
Về y tế, nhiều cơ sở khám chữa bệnh đợc xây dựng và mở rộng Ngoàibệnh viện ở tỉnh còn xây dựng thêm nhiều bệnh xá khu vực Phòng ban y tế ởcác huyện trực tiếp theo dõi, chăm lo sức khoẻ cho nhân dân
Trang 15
Cùng với cả nớc, Thanh Hóa từng bớc khôi phục và phát triển sản xuất
để cải thiện đời sống nhân dân, cũng cố nền kinh tế tài chính quốc dân, đảmbảo cung cấp cho bộ đội, cho tiền tuyến, đồng thời tăng thêm khả năng mậudịch với nớc bạn, lôi kéo thêm đồng minh để đấu tranh kinh tế với địch, tíchtrữ lực lợng vật chất sẵn sàng phục vụ cuộc chiến đấu lâu dài
Nhìn chung, có thể nói tuy cha phải mọi chơng trình kế hoạch sảnxuất, xây dựng, mọi yêu cầu về kinh tế tài chính, mọi nhu cầu của đời sống vàtích luỹ cũng nh nhu cầu của cuộc kháng chiến đặt ra dều đã đợc tỉnh ThanhHóa đáp ứng đầy đủ Song về căn bản Thanh Hóa là một vùng nằm trongvùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đã có nhiều thành tích trong xây dựng và bảo
vệ hậu phơng về mặt kinh tế
1.2.2 Xây dựng và củng cố hậu phơng về mặt chính trị.
Xây dựng và bảo vệ hậu phơng về mặt chính trị là một nhiệm vụ quantrọng, giữ vị trí hàng đầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu ph ơng trongchiến tranh cách mạng Trên thực tế, trong thời kỳ 1945 - 1954, Đảng bộ,chính quyền tỉnh Thanh Hoá cũng đã rất chú trọng về lĩnh vực này
Đảng bộ đã có những biện pháp phát triển số lợng, tăng cờng chất lợngcủa đội ngũ đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng Tháng 4 năm 1948, Tỉnh uỷThanh Hóa đã mở Hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh tại làng Thuận Lộc huyệnThọ Xuân, quyết định xây dựng chi bộ theo phơng châm đạt ba tiêu chuẩn, badanh hiệu do liên khu uỷ đề ra là: Tự động, tiến bộ và gơng mẫu Phong tràoxây dựng chi bộ tự động công tác có tác dụng củng cố chất lợng của tổ chứccơ sở Đảng, tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng trong quần chúng, nâng caochất lợng đảng viên Qua thực tế phong trào, hàng ngàn quần chúng tiên tiến
đã đợc kết nạp vào Đảng, Đảng bộ trởng thành về nhiều mặt Năm 1946,
Đảng bộ có 360 đảng viên, cuối năm 1947 đã tăng lên 2.800 đảng viên Cáchuyện đồng bằng, ven biển đã thành lập đợc Đảng bộ, hầu hết các xã đã cóchi bộ Năm 1948, Đảng bộ có 10.312 đảng viên, 82 chi bộ tự động và 12 chi
bộ tiến bộ Từ cuối năm 1948, theo chỉ thị của Trung ơng, phong trào xâydựng Đảng thành Đảng quần chúng mạnh mẽ trong Đảng bộ Thanh Hóa đã đ-
ợc mở rộng Đến tháng 3 năm 1949 toàn liên khu IV có 240 chi bộ đợc xếploại khá thì Thanh Hóa chiếm 48 chi bộ Qua phong trào này số lợng đảngviên của Đảng bộ có biến động nhng không đáng kể Tháng 3 năm 1949 số
đảng viên của Đảng bộ rút xuống còn 10.354 ngời, đó là do một bộ phận đảngviên trong Đảng bộ còn mang nặng t tởng phong kiến, trình độ tổ chức lãnh
đạo còn yếu bộc lộ trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đảngtrong mỗi hoàn cảnh cụ thể Những tồn tại này đã đợc khắc phục dần trong
Trang 16Trong công tác xây dựng Đảng, ngoài việc xây dựng t tởng và tổ chức,
Đảng bộ còn chú trọng đặc biệt đến việc đề ra các nhiệm vụ, các chủ trơng đểlãnh đạo địa phơng thực hiện có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ hậuphơng, chi viện cho tiền tuyến
Thực hiện chủ trơng của hội nghị cán bộ toàn khu giữa năm 1947, Đạihội đại biểu Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ nhất (2.1948) đã đề ra nhiệm vụ chotoàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh tập trung mọi nỗ lực “xây dựngThanh Hóa thành hậu phơng vững mạnh của cuộc kháng chiến, cung cấp sứcngời, sức của cho chiến trờng, tổ chức chiến đấu tại chỗ bảo vệ hậu phơngtrong mọi tình huống” (20)
Năm 1950, sau hội nghị Đảng bộ liên khu, công tác xây dựng đảngcàng đợc Đảng bộ chú trọng, nhất là việc củng cố tổ chức đảng, nâng cao lậptrờng giai cấp cho cán bộ đảng viên
Sự trởng thành của Đảng bộ trong xây dựng hệ thống tổ chức, pháttriển đảng viên, rèn luyện t tởng và nhất là việc đề ra đợc những nhiệm vụchính trị đúng đắn nói trên là điều kiện căn bản, có ý nghĩa quyết định để
Đảng bộ lãnh đạo quân dân trong tỉnh hoàn thành vai trò lịch sử của mình đốivới cuộc kháng chiến
Cùng với việc củng cố phát triển Đảng, tỉnh cũng đã chú trọng công táccủng cố, phát triển các tổ chức quần chúng Đầu năm1950, Đảng bộ đã tổchức việc hợp nhất Hội Liên hiệp quốc dân và Mặt trận Việt Minh thành Mặttrận Liên Việt Các tổ chức quần chúng nh Liên hiệp công đoàn, Hội liên hiệpphụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội mẹ chiến sĩ, Liên đoàn công giáo, Hội phậtgiáo ngày càng đợc củng cố và phát triển thêm nhiều hội viên Việc thu hút
đông đảo nhân dân vào các tổ chức kháng chiến, nhất là vào các Hội LiênViệt nh trên đã thể hiện sự nhất trí cao trong nhân dân Đây là một nhân tốbảo đảm, có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của Thanh Hóa trong công cuộcxây dựng và bảo vệ hậu phơng, là một thành tựu quan trọng về xây dựng hậuphơng trên lĩnh vực chính trị
Trang 17
Đồng thời với công tác củng cố, phát triển các tổ chức quần chúng,
Đảng bộ cũng đã coi trọng việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính quyền cáccấp
Thực hiện chủ trơng của Hội nghị quân - dân - chính khu IV (7.1947)
và sắc lệnh ngày 1 tháng 10 năm 1947 của chính phủ về việc hợp nhất các ủyban hành chính và ủy ban kháng chiến thành một tổ chức chính quyền duynhất từ cấp khu đến cấp xã, gọi là ủy ban kháng chiến kiêm hành chính, saugọi chung là ủy ban kháng chiến hành chính Đến đầu năm 1948, Thanh Hóa
đã căn bản hoàn thành xong việc hợp nhất ủy ban kháng chiến và ủy ban hànhchính từ tỉnh đến cơ sở Đó là một thuận lợi mới cho việc củng cố và nâng caohiệu lực chỉ đạo, tổ chức kháng chiến ở Thanh Hóa, có tác dụng tích cực chocông cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phơng chi viện cho tiền tuyến của ThanhHóa
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến và tiếp tụcxây dựng Thanh Hóa ngày càng vững mạnh hơn về mọi mặt, Đảng bộ ThanhHóa đã tiến hành chu đáo, sâu rộng hơn công tác xây dựng Đảng, nâng caochất lợng đảng viên, kiên quyết khắc phục tình trạng phát triển đảng viên mộtcách bừa bãi, và khắc phục tình trạng đảng viên “kém hiểu biết, giác ngộ cònthấp, năng lực và trình độ chính trị còn yếu” [24;371] Tỉnh ủy đã thành lậptrờng Đảng Hoàng Văn Thụ, trờng bổ túc văn hóa cấp II để bồi dỡng, đào tạocán bộ
Xây dựng và củng cố hậu phơng về chính trị là yếu tố hàng đầu quyết
định sự thành bại của cuộc kháng chiến Trong chín năm trờng kỳ đấu tranhchống mọi âm mu và hành động xâm lợc của thực dân Pháp, Đảng bộ đãkhông ngừng chăm lo và củng cố chính quyền, đoàn thể và xây dựng Đảng cả
về t tởng lẫn tổ chức Vì thế đã gây đợc lòng tin tởng tuyệt đối vào Đảng củacán bộ và nhân dân Điều đó có ý nghĩa quyết định tới kết quả của các lĩnhvực khác: lĩnh vực kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội và tới cả quá trình chi việncho tiền tuyến
1.2.3 Xây dựng căn cứ địa miền núi.
Trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa có hai mơi huyện, trong đó
có mời bốn huyện đồng bằng và trung du là Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa,Quảng Xơng, Tĩnh Gia, Nông Cống, Đông Sơn, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Yên
Định, Thiệu Hóa, Hà Trung,Thạch Thành, Cẩm Thủy và sáu huyện miền núi(thờng gọi là Thợng du) là Ngọc Lặc, Nh Xuân, Thờng Xuân, Lang Chánh,Bá Thớc, Quan Hóa
Trang 18
Sáu huyện miền núi Thanh Hóa có đặc điểm riêng, do điều kiện kháchquan và chủ quan cha chín muồi, nên Tổng bộ Việt Minh (trong Cách mạngTháng Tám Tổng ủy Việt Minh cũng là Tỉnh ủy) không tổ chức khởi nghĩagiành chính quyền nh miền xuôi, mà vận dụng chính sách mặt trận với tầnglớp thổ ty, Lang đạo để biến trở lực thành trợ lực rồi giành chính quyền theophơng pháp hòa bình không phải đổ máu Sau đó, Đảng bộ vận dụng phơngchâm “qua trên nắm dới và dựa dới nắm trên” để đạt mục tiêu cải tạo cá nhân,cởi trói cho đồng bào khỏi sự áp của những thổ ty, lang đạo tàn ác
Vị trí của Thanh Hóa là rất quan trọng đối với cả nớc, trong đó cáchuyện miền núi là quan trọng bậc nhất vì khả năng tài nguyên khoáng sản,lâm sản sẵn có, vì âm mu chia rẽ dân tộc, uy hiếp quân sự của địch Đối vớiBắc bộ và Thợng Lào đó là bàn đạp vững mạnh Vì thế trong sự nghiệp giảiphóng và bảo vệ độc lập của dân tộc, miền núi Thanh Hóa không chỉ là hậuphơng của Thanh Hóa mà còn là hậu phơng của cả nớc Thế nên, nhiệm vụxây dựng căn cứ địa miền núi không chỉ là nhiệm vụ đối với riêng Thanh Hóa
mà còn là nhiệm vụ đối với cả nớc Nhiệm vụ xây dựng miền núi không chỉ lànhiệm vụ của các cấp, bộ miền núi mà còn là nhiệm vụ chung của Đảng bộ ta
từ trung du đến miền núi, nhiệm vụ của các ngành quân, dân, chính đảng Thực hiện chủ trơng kháng chiến kiến quốc của Trung ơng Đảng, căn cứvào những đặc điểm riêng biệt của đồng bào các dân tộc miền núi Thanh Hóa,ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Tỉnh ủy đã chủ trơngthành lập ủy ban Thợng du, cử một lang đạo có thế lực làm chủ tịch và đồngchí Nguyễn Văn Huệ, phó chủ tịch ủy ban cách mạng lâm thời làm cố vấncho ủy ban nhân dân lâm thời cách mạng các huyện Đồng thời tăng cờng lựclợng vũ trang cho vùng thợng du trấn áp bọn phản động mu toan lợi dụnglòng tin của dân chúng để lật đổ chính quyền cách mạng
Ngày 4 tháng 4 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập
ủy ban hành chính, đặc biệt là miền thợng du Thanh Hóa nhằm giúp ủy banhành chính tỉnh giải quyết các công việc ở sáu châu nh động viên đồng bàophát triển tăng gia sản xuất và học bình dân học vụ, nâng cao nhận thức chomọi ngời dân Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ nhất (2.1948) quyết định
đẩy mạnh mọi hoạt động của các huyện miền núi với khẩu hiệu chiến lợc
“Thợng du thắng là Thanh Hóa thắng” Sau đó, Tỉnh ủy quyết định thành lập
Đảng ủy dân chính miền Tây để phát triển thêm đảng viên và tăng cờng vaitrò lãnh đạo của Đảng ở đều khắp sáu châu
Về mặt quân sự: Biết rõ âm mu của địch muốn chiếm miền Tây ThanhHóa để làm bàn đạp đánh sang Lào và đánh ra Bắc bộ, cắt tiếp viện của hậu
Trang 19
phơng với chiến trờng, nên ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến,Tỉnh ủy đã quyết định thành lập hai đại đội dân quân tập trung là Hà VănMao và Cầm Bá Thớc dới sự chỉ đạo của ban lãnh đạo dân quân thợng du.Mặt khác, Tỉnh ủy đã kịp thời tăng cờng lực lợng quân sự từ miền xuôi lên,với tinh thần khẩn trơng chi đội 71 và 72 thuộc trung đoàn 77 đã nhanh chóngphối hợp cùng với nhân dân và lực lợng bán vũ trang của các dân tộc tổ chứccác trận đánh làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và đẩy mạnh chiếntranh du kích ngăn cản từng hành động lấn chiếm của kẻ địch Đồng thời đểgiữ vững vùng đất có ý nghĩa chiến lợc đối với cuộc kháng chiến và giúp đỡcách mang Lào, Bộ quốc phòng đã thành lập đoàn vũ trang công tác miềnTây, phối hợp với quân dân Thanh Hóa giải phóng miền Tây và giúp bạn Làoxây dựng căn cứ kháng chiến
Tỉnh ủy đã tăng cờng lên miền Tây những đơn vị vũ trang mạnh vàthành lập ban miền Tây để chỉ đạo công cuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu
Đối với thổ ty, lang đạo, Đảng bộ đã vận dụng phơng châm “qua trênnắm dới, dựa dới nắm trên” Với phơng pháp này, Đảng bộ đã thuyết phục đ-
ợc số đông thổ ty, lang đạo đi theo cách mạng Những phần tử chống lại taphần lớn ta bắt giam để ổn định tình hình, huy động nhân tài, vật lực chokháng chiến thuận lợi
Để phát triển các tổ chức cách mạng, đầu năm 1948, ủy ban Thợng dutiến hành tổ chức các hội kháng chiến (viết tắt là HKC) Tổ chức này pháttriển đều khắp ở các huyện Mỗi huyện có từ 80 đến 100 hội viên Số hộiviên này hầu hết là các cốt cán làm nòng cốt cho phong trào ở các huyện.Thông qua các tổ chức này, Đảng ủy dân chính miền Tây đã mở đợc ba khóa
đào tạo cán bộ hội kháng chiến cho 154 học viên ở sáu huyện Sau gần hainăm xây dựng, phát triển nhiều hội viên hội kháng chiến đợc kết nạp vào
Đảng cộng sản Đông Dơng Trên cơ sở đó, đến cuối năm 1950, đầu năm 1951một số huyện nh Quan Hóa, Ngọc Lặc, Bá Thớc đã thành lập đợc Đảng bộhuyện
Sau khi Đảng bộ huyện thành lập, các tổ chức đoàn thể nh nông dân, phụnữ, Hội mẹ chiến sỹ…,phải tổng động viên toàncũng đợc thành lập Đặc biệt là Đảng ủy dân chínhmiền Tây đã chỉ đạo thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt làLiên Việt Từ đây, khối đại đoàn kết toàn dân của các huyện miền núi đợctăng cờng hơn về vị trí và nhiệm vụ
Vào những năm 1952, 1953 mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhng do đợcchuẩn bị sẵn sàng về t tởng và tổ chức, đồng bào các dân tộc miền núi ThanhHóa đã đóng góp hàng triệu cây luồng, nứa, hàng ngàn mét khối gỗ để làm
Trang 20Địch đã tuyển mộ đợc một số ngụy binh địa phơng, lôi kéo đợc một số lang
đạo bóc lột tàn nhẫn ngời lao động
Tháng 10 năm 1949, Pháp nhảy dù xuống Bùi Chu, Phát Diệm Sau đótiến chiếm ba xã Nga Phú, Nga Liên, Điền Hộ (huyện Nga Sơn) Từ đây miền
Đông Bắc Thanh Hóa bị uy hiếp Chúng cho tàu chiến lợn ngoài biển, chomáy bay bắn phá, khủng bố những nơi tập trung đông ngời, âm mu chia rẽ L-
ơng- giáo, tung gián điệp, phao tin đồn nhảm, dò la khắp nơi
Do đặc điểm trên, hai công tác này có liên hệ mật thiết với nhau Bảo
vệ địa phơng là để xây dựng hậu phơng cung cấp sức ngời, sức của cho tiềntuyến và ngợc lại Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ ThanhHóa đã song song thực hiện hai nhiệm vụ này
Về bảo vệ địa phơng: Để có lực lợng bảo vệ chính quyền cách mạng vàchuẩn bị cho kháng chiến, Tỉnh ủy đã tăng cờng chỉ đạo công tác quânsự.Thực hiện đờng lối kháng chiến của Trung ơng đảng, Tỉnh ủy đã cử một bộphận trọng yếu của đại đội 71, đại đội 72 và nhiều cán bộ chính trị, quân sựtăng cờng cho miền núi
Tháng 4 năm 1947 nhân dân các dân tộc miền núi Thanh Hóa nổ súngkháng chiến Cùng với lực lợng vũ trang, dân quân du kích các xã PhúNghiêm, Phú Lệ (Quan Hóa),Yên Khơng (Lang Chánh), Bát Mọt (ThờngXuân), Cổ Lũng (Bá Thớc) đã liên tiếp đứng lên tự giải phóng cho địa phơngmình
Đến tháng 3 năm 1950, miền Tây Thanh hóa đã hoàn toàn đợc giảiphóng Phòng tuyến sông Mã của địch bị tan vỡ hoàn toàn âm mu lập hànhlang Đông- Tây nối liền chiến trờng Bắc Lào với Bắc Việt Nam của thực dânPháp bị chặn đứng
Cùng với những thắng lợi ở miền Tây, từ tháng 12 năm 1949 quân dân
ta ở Nga Sơn liên tục tấn công địch ở nhiều vị trí, tiêu biểu là các trận đánh
Trang 21Đồng thời nhằm tích cực bảo vệ địa phơng, xây dựng chủ lực, Tỉnh ủy
đã đề ra chủ trơng phải nắm chắc mấu chốt chính là xây dựng lực lợng dân quân, vì đây là khâu chính để xây dựng lực lợng quân sự ở mỗi huyện tỉnh chỉ đạo xây dựng một đơn vị tự vệ mạnh, củng cố về tổ chức và nâng cao chấtlợng chiến đấu
Đảng bộ Thanh Hóa xác định: Bảo vệ Thanh Hóa là nhiệm vụ của toàn
Đảng bộ Vì vậy, Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ III (1950)
đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể là:
“- Động viên toàn dân tích cực tham gia tác chiến và chuẩn bị tácchiến, làm vờn không nhà trống, cất dấu của cải, làm hầm trú ẩn tác chiến vàtiêu diệt giặc, đập tan t tởng thái bình
- Động viên bộ đội địa phơng và dân quân xã tập luyện ráo riết chuẩn
bị tinh thần, vũ khí, kế hoạch để tiêu hao, tiêu diệt địch
- Phát động phong trào mạnh mẽ, đề phòng lùng bắt gián điệp để pháchiến tranh gián điệp của địch và tiêu diệt tề ở vùng bị chiếm
- Chú trọng đặc biệt ở vùng xung yếu nh ở vùng Nga Sơn, Hậu Lộc, HàTrung, Hoằng Hóa, Quảng Xơng, Đông Sơn, Tĩnh Gia , đờng số 1, các sônglớn và đờng rút lui của địch nh Quan Hóa, Bá Thớc, Thạch Thành, Cẩm Thủy
- Cổ võ đào hầm bí mật để ở lại tác chiến từng nhà, từng xóm, từng
đồng chí, từng đội viên” [2;207]
Vừa chiến đấu bảo vệ địa phơng, vừa ra sức củng cố, phát triển lực lợng
đảm bảo cho chiến đấu thắng lợi Thực hiện t tởng chỉ đạo của tỉnh ủy: kiệntoàn bộ đội chủ lực, xây dng, củng cố bộ đội địa phơng, phát triển dân quân
du kích, các cơ sở đã thực hiện nghiêm túc đợt rèn cán chỉnh quân, tiến hànhcác biện pháp, tổ chức, sắp xếp, biên chế đội ngũ, đào tạo, bồi dỡng đội ngũcán bộ chính trị, bổ sung quân số và vũ khí Nhờ đó mà lực lợng vũ trangThanh Hóa trởng thành nhanh chóng Tính đến năm 1950 toàn tỉnh có227.000 chiến sỹ dân quân du kích bổ sung vào lực lợng bộ đội chủ lực, vào
đoàn vũ trang công tác miền Tây, vào đại đoàn 304 gần 6000 thanh niên Bốn nhiệm vụ chung trên đây liên kết chặt chẽ với nhau nhằm hớng pháttriển khả năng mọi mặt, xây dựng vững chắc, phục vụ lâu dài Bên cạnh côngtác trung tâm là đại vận động sản xuất và tiết kiệm thì công tác bảo vệ địa ph-
Trang 22
ơng cũng không đợc làm mất nhân công, mất thì giờ sản xuất, phải nhằm mục
đích chống mọi phá hoại của địch, bảo vệ những phơng tiện sản xuất và tínhmạng nhân dân để nhân dân an tâm sản xuất và phục vụ tiền tuyến Trong khiphát triển sản xuất thì phải củng cố, liên hệ dân - chính đảng, củng cố và pháttriển đại đoàn kết toàn dân, xây dựng căn cứ địa miền núi, lấy việc phát triểnsản xuất làm yêu cầu trớc mắt Nếu hoàn thành đợc cuộc đại vận động sảnxuất và tiết kiệm thì sẽ bảo vệ địa phơng vững chắc hơn, phục vụ tiền tuyến
dễ dàng và đầy đủ hơn, đoàn kết toàn dân đợc chặt chẽ hơn, xây dựng căn cứ
địa miền núi có điều kiện thuận lợi hơn Cuộc đại vận động sản xuất tiết kiệmhoàn thành thì việc xây dựng vững chắc và phục vụ lâu dài sẽ phát triển thêmmột bớc.Bốn nhiệm vụ chung trên đây bao trùm nhiệm vụ của mọi ngànhquân, dân, chính đảng và mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Nh vậy, trong suốt cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Phápxâm lợc từ năm 1946 đến năm 1954, theo đờng lối kháng chiến kiến quốc,toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính của Đảng, dới sự lãnh
đạo, tổ chức của liên khu ủy, của ủy ban kháng chiến hành chính liên khu
IV, trực tiếp là Đảng bộ, chính quyền tỉnh Thanh Hóa quân và dân tỉnh Thanh
đã ra sức xây dựng và bảo vệ hậu phơng ngày càng vững mạnh của cuộckháng chiến
Với tầm nhìn chiến lợc chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho
Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa xây dựng và bảo vệ hậu phơng vững mạnhtoàn diện cho cuộc kháng chiến trờng kỳ Sự chọn lựa đó của Ngời thể hiệnnhãn quan quân sự và tầm nhìn chiến lợc đúng đắn Với quyết tâm cao, vớinhững nỗ lực phi thờng Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa đã hoàn thành suấtsắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phơng, góp phần làm nênthắng lợi hào hùng của dân tộc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử- kếtthúc cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lợc
Chơng 2 Đảng bộ lãnh đạo toàn dân chuẩn bị nhân tài, vật
lực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
Trang 23
khẩu pháo 105 và 150 mm, 1 tiểu đoàn công binh, một đại đội xe tăng 10chiếc, một phi đội không quân thờng trực, 14 chiếc máy bay, 1 đại đội xe vậntải Chúng huy động toàn bộ lính dù và 40% quân cơ động tinh nhuệ nhất ở
Đông Dơng lên Điện Biên Phủ với 49 cứ điểm, đợc bố trí thành 3 phân khu:phân khu Bắc, phân khu Nam, phân khu Trung tâm để yểm hộ lẫn nhau
Với nhận định đây là cơ hội lớn để tiêu diệt địch,ngày 6 tháng 12 năm
1953, Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ơng Đảng họp và quyết định mởchiến dịch Điện Biên Phủ trong cuộc tổng tiến công chiến lợc Đông Xuân
1953 - 1954 Đồng thời cũng quyết định thành lập bộ chỉ huy chiến dịch và
Đảng ủy mặt trận do đại tớng Võ Nguyên Giáp Bộ trởng Bộ quốc phòng tổng t lệnh quân đội trực tiếp làm t lệnh kiêm bí th Đảng ủy chiến dịch
Thực tế lịch sử cho thấy: Chọn chiến trờng Điện Biên phủ để quyếtchiến chiến lợc, cả hai phía ta và địch đều đứng trớc những khó khăn, tháchthức tởng chừng không thể vợt qua,trong hàng ngàn những khó khăn đó khókhăn lớn nhất là việc tiếp tế cho chiến trờng
Chiến trờng Điện Biên Phủ nằm ở vị trí chiến lợc trong một vùng núinon trùng điệp - Đó là một thung lũng rộng lớn thuộc tỉnh Lai Châu, nằm dọctheo bờ sông Nậm Rốn, ở giữa núi rừng Tây Bắc Điện Biên Phủ có chiều dài
18 Km, chiều rộng từ 6 đến 8 Km, ở giữa là Châu lỵ Mờng Thanh Nó sát vớibiên giới Việt - Lào, cách Hà Nội khoảng 300 Km, cách Luông Pha Băng 200
Km, cách hậu cứ của ta: Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh từ 300 đến 500 Km
ở vị trí hiểm yếu này, việc tiếp tế đầy đủ cho nhu cầu chiến trờng là vấn đề
đầu tiên mà các nhà quân sự cần phải tính đến Chính đồng chí chủ nhiệm hậucần của chiến dịch đã xác định trong hội nghị lịch sử ngày 26 tháng 1 năm
1954 “đánh cách nào cũng phải tính đến khả năng đảm bảo tiếp tế Nhiều khigạo là t lệnh, là yếu tố quyết định” Bản thân đại tớng, tổng chỉ huy VõNguyên Giáp cũng luôn luôn có một biểu đồ theo dõi tình hình tiếp tế gạohàng ngày treo bên cạnh biểu đồ chiến sự Đã có thời điểm Đại tớng phải giaoviệc chỉ huy tác chiến cho tham mu trởng Hoàng Văn Thái giành mấy ngàyliền để trực tiếp chỉ đạo công tác hậu cần bàn biện pháp đa nhanh gạo rachiến trờng
Làm thế nào để cung cấp đầy đủ lơng thực, vũ khí, đạn dợc cho một binhlực lớn ở cách xa hậu phơng từ 300 đến 500 Km trong một thời gian dài vàtrong những điều kiện rất khó khăn về giao thông:Vợt qua muôn vàn núi cao,vực thẳm, sông sâu, rừng dày Hầu nh vừa đi vừa mở đờng , phơng tiện vậnchuyển lại thiếu thốn, thô sơ, luôn luôn bị địch xoi mói, bắn phá ấy là cha kể
đến điều kiện khắc nghiệt của miền núi phía Bắc vào thời điểm cuối Xuân,
Trang 24
đầu hạ thờng có những đợt ma vào đầu mùa mà sức tàn phá có thể mạnh hơncả bom đạn Chỉ nói đến việc vận chuyển đầy đủ lơng thực, thực phẩm chohàng vạn ngời trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu với các loại hàng hóa
đặc biệt, dễ h hỏng, khó vận chuyển, bảo quản bằng các phơng tiện thủ công
là chủ yếu, mới thấy hết tầm vóc của kỳ tích này
Kẻ thù cũng nhận thức đợc khó khăn của ta trong vấn đề tiếp tế cho ĐiệnBiên Phủ.Thực dân Pháp cho rằng: Việt Minh không thể tiếp tế đủ cho mộtmặt trận dài ngày, đông quân nh Điện Biên Phủ chủ yếu là các cu ly ốmyếu(trai tráng khoẻ mạnh đã ra mặt trận) Để tiếp tế cho một chiến trờng xacăn cứ, đi lại khó khăn dài ngày này ngời tiếp tế đã phải ăn hết 4/5 số lơngthực, thực phẩm tiếp tế Từ sự tính toán này, tớng Nava xem Điện Biên Phủ
nh là cái bẫy để nghiền nát lực lợng của Việt Minh
Để ngăn chặn việc tiếp tế cho Điện Biên Phủ, phòng nhì Pháp tung gián
điệp, biệt kích dò la,phá hoại Các nẻo đờng tới mặt trận đều đợc máy bay bắnphá nhằm ngăn chặn, hủy dịêt việc tiếp tế, chi viện cho Điện Biên Phủ
Chính trong những ngày gian khó, khắc nghịêt ấy, lòng yêu nớc, ý chíquyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của nhân dân cũng đợc tôi luyện
Hởng ứng lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần “tấtcả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” nhân dân cả nớc đều hăng hái tựnguyện đóng góp sức ngời, sức của, sẵn sàng hy sinh để giành độc lập chodân tộc Có thể khẳng định trong chín năm kháng chiến chống Pháp cha baogiờ sức mạnh của hậu phơng lại đợc phát huy cao độ nh trong chiến dịch ĐiệnBiên Phủ Từ vùng tự do Việt Bắc, liên khu III, liên khu IV, đến vùng mới giảiphóng ở Tây Bắc, ở Thợng Lào, đến vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc bộtất cả đều tham gia đánh giặc bằng trí tuệ, sức lực và mọi phơng tiện sẵn có Thanh Hóa là một địa phơng có địa bàn rộng lớn, là vùng tự do nhngcũng là nơi nằm trong kế hoạch đối phó của Nava Chính vì vậy, trong chiếndịch Điện Biên Phủ, cùng với cả nớc Thanh Hóa không chỉ là hậu phơng quantrọng, mà còn phải trực tiếp đối phó với âm mu phá hoại của kẻ thù
Nhận thức rõ vai trò và vị trí của tỉnh nhà, ngày 18 tháng 10 năm 1953thờng vụ tỉnh ủy Thanh Hóa đã họp, ra nghị quyết số 84/ NQ- TH nhấn mạnh:
“Tập trung sức thực hiện chủ trơng kế hoạch chiến lợc Đông - Xuân
1953-1954 của Trung ơng đề ra” Thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao,bớc vào chiến dịch Điện Biên Phủ, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo thành lậpHội đồng cung cấp của tỉnh và đề ra kế hoạch nhằm nhanh chóng huy động l-
ơng thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu vận chuyển về kho Lợc (ThọXuân) và kho Cẩm Thủy, khẩn trơng xây dựng hệ thống kho trạm trên khắp