Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Trờng đại học vinhKhoa lịch sử - -
Trần thị ngọc ánh
Khóa luận tốt nghiệp
đảng bộ quỳ châu (nghệ an) lãnh đạo công tác Phát triển giáo dục từ năm 1996 đến năm 2006
Chuyên ngành lịch sử đảng cộng sản việt nam
vinh , năm 2010
Trang 2Trờng đại học vinhKhoa lịch sử - -
Khóa luận tốt nghiệp
đảng bộ quỳ châu (nghệ an) lãnh đạo công tác Phát triển giáo dục từ năm 1996 đến năm 2006
Giáo viên hớng dẫn: ThS Dơng Thị Thanh Hải
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Ngọc ánh
Lớp : 47 B3 - Lịch sử
vinh , năm 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài này,chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp
đỡ của Sở GD&ĐT tỉnh Nghệ An, phòng GD&ĐT huyện Quỳ Châu, UBND huyện Quỳ Châu, trung tâm thư viện và ban nghiên cứu lịch sử của huyện Quỳ Châu đã giúp đỡ tôi có điều kiện tiếp cận và sưu tầm xác minh tư liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khoa học.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Dương Thị Thanh
Hải người đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tôi trong quá trình
nghiên cứu để hoàn thành đề tài này
Đồng thời, tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ, giáo viên khoa Lịch Sử trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập ở khoa
và ở trường Đại học Vinh
Tuy nhiên, vì thời gian và năng lực có hạn nên chắc chắn đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp từ phía hội đồng khoa học và tập thể cán bộ giáo viên khoa Lịch Sử trường Đại học Vinh.
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A Mở đầu… 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu……… 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu……… …5
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Nguồn tư liệu 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu……… 6
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Bố cụ đề tài 6
B Nội dung … 7
Chương 1: Khái quát tình hình giáo dục huyện Quỳ Châu trước năm 1996 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, tình hình chính trị,kinh tế, văn hóa - xã hội … 7
1.1.1 Vị trí dịa lí và điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa -xã hội 11
1.2 Tình hình giáo dục ở Quỳ Châu trước năm 1996 18
1.2.1 Giáo dục ở huyện Quỳ Châu giai đoạn 1975-1986 18
1.2.2 Giáo dục ở huyện Quỳ Châu giai đoạn 1986-1996 24
Chương 2: Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo giai đoạn 1996 - 2000 ……… 28
2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo … 28
2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin …… 28
2.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 30
2.2 Chủ trương, đường lối của Đảng và các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo 35
2.3 Chủ trương của Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong sự nghiệp phát triển Giáo dục và đào tạo giai đoạn 1996 -2000 ……… 35
Trang 52.4 Tình hình phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện
Quỳ Châu giai đoạn 1996-2000 37
2.4.1 Công tác chống mù chữ 38
2.4.2 Chất lượng giáo dục của các bậc học … 40
2.5 Những tồn tại và bài học kinh nghiệm 47
2.5.1 Những tồn tại 47
2.5.2 Bài học kinh nghiệm … 50
Chương 3: Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo giai đoạn 1996 – 2006 51
3.1 Chủ trương, giải pháp của Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục (2000-2006) 51
3.1.1 Yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn 2000-2006 51
3.1.2 Chủ trương cuả Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn 2000 - 2006 55
3.1.3 Những giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục 57
3.2 Những thành tựu đạt được ở các bậc học 62
3.2.1 Bậc học mầm non 64
3.2.2 Bậc tiểu học 70
3.2.3 Bậc trung học cơ sở 74
3.2.4 Bậc trung học phổ thông 77
3.2.5 Hệ bổ túc văn hóa và trung tâm giáo dục thường xuyên 80
3.3 Những tồn tại và định hướng phát triển giáo dục của Đảng bộ Quỳ Châu trong giai đoạn mới 81
3.3.1 Những tồn tại 81
3.3.2 Một số định hướng phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Quỳ Châu 83
C Kết luận 85
D Tài liệu tham khảo 89
E Phụ lục 92
Trang 6CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
MN : Mầm non
THCS : Trung học cơ sở
THPTDTNT : Trung học phổ thông dân tộc nội trúTTGDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một ngành đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mộtquốc gia, dân tộc Quy mô và trình độ giáo dục của mỗi quốc gia là một trongnhững chỉ báo quan trọng để đánh giá sự phát triển của chính quốc gia đó Hồ
Chí Minh đã khẳng định: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm
sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” Từ mục tiêu đó,
Người muốn tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, xem con người là mụctiêu, là động lực của sự phát triển.Và để làm được điều này thì trước hết phải
ưu tiên cho sự nghiệp “trồng người”.
Thực hiện mong muốn và lời dạy của Bác, cũng là một trong những mụctiêu quan trọng để phát triển đất nước Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đưa
ra nhiều chủ trương, chính sách để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo,tuy nó vẫn thấp xa so với yêu cầu phát triển ngày càng cao của đất nước, song
sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng ổn định, phát triển và đạt được nhiềuthành tựu, đang từng bước đi lên để xứng đáng với vị trí quốc sách hàng đầutrong sự nghiệp CNH- HĐH Cùng với sự phát triển đi lên của sự nghiệp giáodục và đào tạo cả nước, Quỳ Châu là một huyện miền núi cao của Nghệ An,tuy có nhiều khó khăn trong đời sống vật chất, nhưng với sự quan tâm của cấp
Ủy, chính quyền địa phương cùng với các cấp, các ngành nên giáo dục củahuyện trong mấy thập kỷ gần đây đã có những đổi sắc đáng kể Tuy nhiên chođến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng, chuyên sâu và mộtcách có hệ thống về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quỳ Châu, về những thànhtựu và hạn chế trong sự nghiệp GD & ĐT của huyện, đặc biệt là trong giaiđoạn 1996 -2006
Trang 8Chính vì thế, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài Đảng bộ huỵện Quỳ
Châu (Nghệ An) lãnh đạo công tác phát triển giáo dục huyện nhà từ năm 1996 đến 2006 để làm khóa luận tốt nghiệp của mình Nghiên cứu đề tài này có ý
nghĩa về mặt khoa học và có ý nghĩa về thực tiễn
Về mặt khoa học: Đề tài góp phần khẳng định lại một lần nữa vai trò to lớn
của công tác giáo dục Đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quỳ Châutrong sự nghiệp GD&ĐT giai đoạn 1996-2006, giai đoạn giáo dục của huyệngiành được nhiều thành tựu và đang từng bước đưa sự nghiệp giáo dục củahuyện hoà nhập vào sự nghiệp giáo dục của đất nước Từ những thành tựu đạtđược của bức tranh giáo dục huyện Quỳ Châu trong 10 năm đổi mới, sẽ gópphần vào việc tìm hiểu sự phát triển giáo dục của các huyện miền núi Nghệ Annói riêng, của tỉnh Nghệ An nói chung trong cùng thời kỳ
Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử địa
phương,bổ sung nguồn tài liệu mới cho việc biên soạn, giảng dạy lịch sử Nghệ
An trong thời kỳ đổi mới
Bên cạnh đó thông qua đề tài của mình chúng tôi muốn góp một phần nhỏnào đó nhằm xóa bớt khoảng cách về trình độ, tri thức giữa miền núi và đồngbằng, phát huy truyền thống hiếu học của người dân xứ Nghệ
2 Lịch sử vấn đề
Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng thu hút sự chú ý và quan tâm của mọicấp, mọi ngành cũng như toàn thể quần chúng nhân dân Vì vậy, từ trước tớinay đã có rất nhiều bài viết cũng như các công trình nghiên cứu về lĩnh vựcnày, đặc biệt trong khoảng thời gian gần đây các nhà chính trị - xã hội đã dànhnhiều thời gian, tâm huyết để nghiên cứu sự nghiệp giáo dục nước nhà nhằmđưa sự nghiệp giáo dục của nước nhà ngày càng phát triển
Trước cách mạng Tháng Tám 1945 có các bài viết như: “Tìm hiểu nền
giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng tám 1945 ” của Vũ Ngọc Khánh,
Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1985; “Sự phát triển của chế độ giáo dục và thi
Trang 9cử ở Việt Nam thời phong kiến” của Nguyễn Tiến Cường, Nhà xuất bản giáo
dục, 1985; “Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi cử” của Nguyễn Thế Long,
Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1995…các bài viết này đã góp tìm hiểu về tìnhhình giaó dục ở Việt Nam dưới thời Phong kiến Về cơ bản các bài viết đã kháiquát tình hình giáo dục của nước ta dưới chế độ Phong kiến, đặc biệt dưới thờiPháp thuộc, tuy chưa có hệ thống nhưng giáo dục ở Việt Nam đã đi vào quy cũ
có những bước chuyển mới, góp phần nâng cao trình độ dân trí Các tác giảkhẳng định tuy giáo dục đã có bước tiến mới nhưng về cơ bản nền giáo dụcnày phục vụ cho giai cấp Phong kiến và công cuộc khai thác thuộc địa củathực dân pháp
Từ sau cách mạng Tháng Tám 1945, trải qua 30 năm kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ, dựa trên những thành tựu đạt được trước đó các nhànghiên cứu đưa ra nhiều công trình nghiên cứu về tình hình giáo dục nước nhà
như: “Giáo dục Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp” của Nguyễn Đình Liên, “Giáo dục Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước” của Trần
Văn Mai Đặc biệt trong những năm gần đây giáo dục và đào tạo là vấn đềđược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với nhiều công trình nghiên cứu có tên
tuổi như: “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI” Nhà xuất bản Chính trị, 1999; “60 năm nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam một số
thành tựu chủ yếu” của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Viện Sử học, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 2005; “Giáo dục Việt Nam 1945 -2005” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005; “60 năm ngành giáo dục và
đào tạo tỉnh Nghệ An (194 -2005)”, Nhà xuất bản Nghệ An, 2005 Có thể nói
các tác phẩm này đã nghiên cứu chế độ giáo dục ở Việt Nam một cách toàndiện, đã khái quát được tình hình giáo dục của nước nhà trước công cuộc đổimới
Nhất là trong tác phẩm “60 năm ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An
(1945-2005)”, mặc dù đã khái quát được thực trạng của nền giáo dục ở Nghệ
Trang 10An, phân tích được mặt mạnh và mặt yếu sự nghiệp GD&ĐT của Tỉnh so vớicác tỉnh khác và so với cả nước Song về cơ bản các tác phẩm này còn mangtính chất khái quát, chung chung, chưa đi sâu vào thực trạng cụ thể của từngvùng, từng miền đặc biệt ở những huyện miền núi vùng sâu vùng xa như ởhuyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An.
Đến thời điểm hiện tại đã có một số tác phẩm nghiên cứu cụ thể hơn về sự
nghiệp giáo dục, trong đó có các công trình lớn như; “Giáo dục gia đình, nhà
trường xã hội với việc phát triển, với việc tuyển chọn, tào tạo bồi dưỡng và đãi ngộ người tài” Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1996; “Kinh nghiệm châu Á trong giáo dục, của Bùi Thị Xuân…gần đây có các báo cáo nhiệm kỳ của tỉnh,
huyện, các đề án giáo dục, lịch sử Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong giai đoạn từsau đổi mới đến nay Tuy nhiên sự nghiệp giáo dục của các huyện miền núi,đặc biệt của huyện Quỳ Châu (Nghệ An) chưa được đề cập một cách toàn diện,chưa làm bật nổi vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong sựnghiệp đổi mới, chưa thấy được điểm mạnh và điểm yếu trong sự nghiệp pháttriển giáo dục của huyện nhà, những thành quả mà giáo dục Quỳ Châu đạtđược trong 10 năm đổi mới
Vì vậy, từ các nguồn tư liệu trên, cùng với sự tiếp cận các tạp chí nhưnghiên cứu giáo dục, giáo dục thời đại, các tạp chí nghiên cứu lịch sử, cáckhóa luận trước đây về đề tài giáo dục, chúng tôi muốn tìm hiểu một cách tổngquát nhất về giáo dục Quỳ Châu trong thời kỳ đạt được nhiều khởi sắc nhất,qua đó để phát huy được thế mạnh của huyện trong sự nghiệp GD&ĐT, tìmhiểu vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quỳ Châu đối với sự nghiệp GD&ĐT củahuyện từ 1996 đến 2006
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Vai trò lãnh đạo của Đảng bộhuyện Quỳ Châu trong công tác phát triển giáo dục và đào tạo
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là huyện miền núi Quỳ Châu ở miềnTây Nghệ An, trong 10 năm đổi mới sự nghiệp phát triển giáo dục từ 1996 đến2006
Với đề tài này, chúng tôi đi vào khái quát tình hình giáo dục Quỳ Châutrước năm 1996 và đi sâu vào tìm hiểu những chủ trương, chính sách của Đảng
bộ huyện Quỳ Châu lãnh đạo sự nghiệp GD&ĐT của huyện Qua đó nêu ranhững thành tựu, hạn chế mà Đảng bộ và nhân dân huyện Quỳ Châu đã đạt
được Từ đó để đúc rút những kinh nghiệm và biện pháp cho các giai đoạn
phát triển tiếp theo của huyện Quỳ Châu
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sưu tầm, tìm kiếm, tổng hợp cácnguồn tư liệu có liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quỳ Châu đốivới sự phát triển của sự nghiệp GD&ĐT, đặc biệt là các tài liệu về công tácgiáo dục trong giai đoạn từ (1996 -2006).Với nguồn tài liệu như:
Nguồ tài liệu tham khảo: “Lịch sử Việt Nam đại cương”;“Hồ Chí Minhtoàn tập”; “Về vấn đề giáo dục”; “Tri thức Nghệ An trong quá trình CNH-HĐH”;“60 năm ngành giáo dục Nghệ An”; “giáo dục Việt Nam trước ngưỡngcửa thế kỷ XXI”;“Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước cách mạng ThángTám”;“Giáo dục và đào tạo là con đường quan trọng để phát huy nguồn lựccon người”; “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ - Tĩnh”; “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ
An”; “Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳ Châu” …
Nguồn tài liệu gốc: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX, X; Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung Ương (khóaVIII); Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XIV, XV; Cácbáo cáo của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh - huyện, của sở-phòng giáo dục; Cácvăn kiện đại hội của Đảng bộ huyện từ (1986-2006) và các báo cáo, đề án cuả
Trang 12phòng giáo dục huyện Đây là những tư liệu được lưu giữ tại sở giáo dục tỉnh
Nghệ An, phòng giáo dục huyện Quỳ Châu, ban nghiên cứu lịch sử Đảng bộhuyện Tuy nhiên các nguồn tư liệu này không nhiều, lại khó khai thác nhưngtheo chúng tôi đó là những tài liệu gốc, có độ chính xác cao
Nguồn tài liệu điền giả: Để bài làm đạt kết quả cao, chúng tôi còn tham khảo
ý kiến của các đồn chí lãnh đạo, các ban ngành trong huyện cũng như phòng giáodục huyện để cố gắng chắt lọc, so sánh, đối chiếu với tư liệu thành văn để đượckiểm duyệt chính xác, sao cho hợp lý để đưa luận văn đạt kết quả tốt
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để làm đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứunhư: phương lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phỏng vấn, phươngpháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phươngpháp luận Mácxít và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài này dựng lại một cách hệ thống về sự phát triển của giáo dục huyệnQuỳ Châu dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện quỳ Châu từ 1996 đến 2006.Qua việc trình bày trên chúng tôi đã mạnh dạn rút ra một số kinh nghiệm và
đề ra một số giải pháp để phát triển giáo dục huyện Quỳ Châu trong thời gian tới Khóa luận góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương.Qua đó giáo dục, phát huy truyền thống hiếu học cho các thế hệ mai sau
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài thể hiện trong 3 chương sau:
Chương 1: Khái quát tình hình giáo dục Quỳ Châu trước năm 1996
Chương 2: Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong sự nghiệp giáo dục đào tạo
giai đoạn 1996-2000
Chương 3: Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong sự nghiệp giáo dục đào tạo
giai đoạn 2000-2006
Trang 13B NỘI DUNG Chương 1:
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC QUỲ CHÂU
TRƯỚC NĂM 1996
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa
- xã hội
1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Quỳ Châu là một huyện miền núi ở phía Tây Bắc Nghệ An dọc theo tuyến
đường số 8 Nơi đây có vị trí chiến lược khá đặc biệt, được xem là “tấm áo
giáp phía Tây Bắc” tỉnh Nghệ An: phía Bắc giáp Quế Phong và Thanh Hoá,
phía Đông giáp Thanh Hoá, phía Nam giáp Con Cuông và Quỳ Hợp, phía Tâygiáp Quế Phong
Cũng giống như các vùng quê, các miền đất khác Quỳ Châu cũng cónguồn gốc hình thành và phát triển Vùng đất thuộc huyện Quỳ Châu cùng vớihuyện Quế Phong, Quỳ Hợp ngày nay là một đơn vị hành chính được hìnhthành từ thời xa xưa Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1415) được gọi là Châu Quý.Năm 1469 vua Lê Thánh Tông sát nhập cả châu Hoan và châu Diện (thuộcvùng đất Nghệ An -Hà Tĩnh ngày nay) lập ra thừa tuyên Nghệ An Thừa tuyênNghệ An chia làm 9 phủ, 25 huyện và 2 châu vùng đất Châu Quý lập thànhphủ Quỳ Châu Phủ Quỳ Châu gồm có hai huyện là Trung Sơn và Thúy Vân.Đến triều Nguyễn, dưới thời vua Minh Mạng (1831) tổ chức hành chính nước
ta được sắp xếp lại: cả nước chia thành 20 tỉnh, dưới mỗi tỉnh chia ra phủ vàhuyện Phủ Quỳ Châu lúc này chia làm 3 huyện Quế Phong (tức huyện TrungSơn cũ), huyện Thúy Vân và huyện Nghĩa Đàn Đến thời cai trị của thực dânPháp, đơn vị hành chính của phủ Quỳ Châu có sự thay đổi Ngày 22-10-1907toàn quyền Đông Dương ra nghị định chia phủ Quỳ Châu ra làm hai đơn vịhành chính ngang nhau là phủ Quỳ Châu và huyện Nghĩa Đàn
Trang 14Địa dư của Phủ Quỳ Châu lúc này bao gồm phần đất của hai huyện QuếPhong, Thúy Vân và hai tổng của thượng huyện Nghĩa Đàn với diện tích5.000km2 Phía Bắc và Đông Bắc giáp hai huyện Thường Xuân và Nghi XuânThanh Hóa, phía Đông Nam giáp Nghĩa Đàn, phía Tây Nam giáp TươngDương, phía Tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Sầm Nưa của nước Lào với đườngbiên giới hơn 85km lúc này phủ Quỳ Châu được chia thành 11 tổng và 37 làng
xã, mỗi xã là một đơn vị hành chính riêng
Sau cách mạng Tháng Tám 1945, cấp tổng bị bãi bỏ, cấp trên xã dưới tỉnhđều nhất loạt gọi là huyện
Ngày 19-4-1963 Hội đồng Chính Phủ ra Quyết định số 52/CP phê chuẩnviệc chia lại địa giới 3 huyện của tỉnh Nghệ An là Quỳ Châu-Anh Sơn-NghĩaĐàn thành 7 huyện mới Trong đó huyện Quỳ Châu được chia thành 3 huyệnmới là Quế Phong (6 xã), Quỳ Hợp (13 xã) và Quỳ Châu Huyện Quỳ Châumới nằm giữa hai huyện Quế Phong (phía Tây Bắc) và Quỳ Hợp (phía ĐôngNam), với diện tích bằng 1198 km2, gồm có 11 xã với dân số 16979 người
Về địa giới cấp xã, qua nhiều lần tách ra, nhập vào thay đổi nhiều nhất làvào các năm 1947, 1961, 1963, 1969 Đến nay huyện Quỳ Châu có một thịtrấn Quỳ Châu và 11 xã bao gồm: Châu Hạnh, Châu Hội, Châu Bình, ChâuNga, châu Tiến, Châu Bính, Châu Thuận, Châu Thắng, Châu Phong, ChâuHoàn, Diễn Lãm,
Về Thị Trấn, tuy đã hình thành từ trước nhưng bắt đầu từ ngày 14-6-1990,ban tổ chức cán bộ của Chính phủ có Quyết định số 275/TCCP về việc thànhlập thị trấn Quỳ Châu của huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ Tỉnh, trên cơ sở táchcác xóm Rú Lim, Na Pựt, Hỏng Vai, Tà Pụ, Piêng Phụ, Nạ Púa, Bản Cáng,Đống Pòng, của xã Châu Hạnh Thị trấn Quỳ Châu có 86 hécta diện tích rừng
tự nhiên và 1850 nhân khẩu
Thị Trấn Quỳ Châu không chỉ là trung tâm chính trị của huyện mà còn là trung tâm trao đổi mua bán hàng hóa của các làng, bản ở huyện Quỳ Châu
Trang 15So với phủ Quỳ Châu cũ thì hiện nay diện tích của huyện Quỳ Châu nhỏhơn rất nhiều khoảng 1057,66 km2, tuy nhiên so với diện tích toàn tỉnh Nghệ
An thì diện tích của huyện Quỳ Châu khá lớn so với các huyện khác trongtỉnh Hơn nữa, do có vị trí nằm sát các huyện miền núi gần biên giới Việt –Lào, nơi có vị thế chiến lược hết sức quan trọng, vì vậy Quỳ Châu cũng đượccoi là khu vực trọng yếu về an ninh, quốc phòng và là địa bàn có điều kiện đểphát triển kinh tế - xã hội
Địa hình ở Quỳ Châu rất phức tạp Ở đây có các dãy núi lớn như: Phù Chó
ở phía Bắc, Phú Huống ở phía Nam và có nhiều dãi núi nhỏ đã cắt thung lũngQuỳ Châu ra nhiều vùng Mặc dù địa hình không mấy thuận lợi cho việc pháttriển kinh tế nông nghiệp, song nó lại chứa nhiều tài nguyên, khoáng sản, tạođiều kiện cho việc phát trển các ngành kinh tế khác
Quỳ Châu có nguồn đất trồng trọt tuy không nhiều nhưng khá phong phú
Ở đây chủ yếu là đất Bazan, đất phát triển trên đá mắc ma bazơ là những loạiđất tốt có thể trồng cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày và cây ăn quả nhưcao su, chè, dâu tằm, cà phê, lạc, mía, cam…Đặc biệt ở đây có diện tích đấtlâm nghiệp khá lớn, riêng đất rừng có hơn 248 200 hecta [2; 12] Đây là nhữngđiều kiện thuận lợi để phát triển các loại cây trồng, vật nuôi…đặc biệt là cácloại cây công nghiệp
Rừng ở Quỳ Châu thuộc hệ sinh thái nhiệt đới, có hệ động thực vật phong
phú đa dạng Cây rừng có 84 họ, hơn 500 loại trong đó có 400 loài có giá trịkinh tế cao [2; 12], ngoài ra còn có các loại cây đặc sản khác như: sa nhân,thiên niên kiện, nấm hương, cánh kiến…đặc biệt là Quế
Bên cạnh một hệ thống thực vật phong phú về chủng loại có giá trị kinh tếcao và quý hiếm thì hệ thống động vật ở Quỳ Châu cũng hết sức đa dạng.Rừng núi ở đây có đủ các loại chim thú trong rừng nhiệt đới như: voi, hổ, bòtót, gấu, hươu sao, gà rừng, cò, vạc, lợn rừng…
Trang 16Như vậy, với hệ động thực vật phong phú có giá trị cao, không chỉ đápứng nhu cầu phát triển của con người mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình phát triển kinh tế của huyện nói riêng và của của tỉnh nói chung Tuynhiên, ngày nay các loại gỗ quý hiếm đang bị khai thác bừa bãi, các loại độngvật đang bị săn bắn trộm, có nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Đó lànhững dấu hiệu cho thấy tài nguyên rừng đang ngày một cạn kiệt và suy giảmnghiêm trọng Tình hình đó đặt ra yêu cầu, không chỉ đối với các cấp chínhquyền, mà còn đối với toàn thể đồng bào trong huyện phải có những chínhsách bảo vệ tài nguyên rừng và có chính sách khôi phục, phát triển nó.
Qùy Châu là một vùng đất giàu tiềm năng ngoài nguồn tài nguyên đất, tàinguyên rừng, nơi đây còn tài nguyên khoáng sản có giá trị Có thể kể ra rấtnhiều loại khoáng sản quý, đặc biệt có giá trị như: thiếc, antimon, vàng, hồngngọc, đá đỏ…riêng núi đá vôi có diện tích hơn 5.000 hécta, cùng với các loạikhoáng sản khác có giá trị đã tạo được điều kiện cho huyện thế mạnh pháttriển kinh tế
Quỳ Châu có hệ thống mạng lưới sông, suối dày đặc Ở đây có con sôngHiếu chảy từ biên giới Việt - Lào xuyên qua giữa huyện theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Diện tích của sông Hiếu bao gồm phụ lưu của các sông là: NậmHạt, Nậm Quàng, Nậm Cườm, Nậm Chàng, Nậm Tôn cùng với 1.500 suối,khe hợp thành mạng lưới theo hình xương cá dẫn nước vào khắp các vùngtrong huyện Ngoài ra, ở Quỳ Châu còn có các thác lớn đặc biệt thác Đũa đây
là thác lớn nhất sông Hiếu, có cảnh đẹp, có nguồn cá lớn và khả năng làm thủyđiện, không chỉ vậy thác Đuống còn chứa một tiềm năng du lịch lớn Bên cạnhnhững thuận lợi mà hệ thống sông, suối mang lại cho huyện thì nó cũng mangtới những khó khăn Hàng năm vào mùa mưa nước sông dâng cao tạo nên lũlụt gây thiệt hại lớn về người và của lấp Tuy nhiên, trong mỗi lần lũ lụt đi quathì ruộng đồng và các bãi ven sông lại được phủ một lớp phù sa màu mỡ hếtsức thuận lợi cho những vụ mùa sắp tới
Trang 17Khí hậu Quỳ Châu ảnh hưởng trực tiếp của miền khí hậu sông Mê Công.Trên những vùng cao thường có khí hậu á nhiệt đới Quỳ Châu có hai mùa rõrệt: mùa mưa và mùa khô, các mùa so với Vinh và lưu vực Sông Lam thườngđến sớm và kết thúc muộn hơn từ 15-20 ngày, nhiệt độ và lượng mưa đều khácnhau Mùa mưa hàng năm ở đây thường từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô bắtđầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa quá ít chỉ 250ml, mùa nàychủ yếu là gió mùa Đông Bắc khô hanh và rét đậm
Là một huyện miền núi tuy hệ thống giao thông không phát triển so vớicác huyện đồng bằng, nhưng giao thông ở huyện khá hoàn chỉnh, vừa có giaothông đường bộ vừa có giao thông đường thuỷ Hệ thống đường bộ có tuyếnđường 48 do thực dân Pháp làm từ năm 1921, chạy từ Quỳ Châu qua cáchuyện Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Diễn Châu nối liền với đường quốc lộ số 1.Đây là tuyến đường chủ yếu phục vụ cho việc khai thác tài nguyên ở vùngNghĩa Đàn, Quỳ Châu Sau đó các đường phụ nối với các đường 48 lần lượtđược xây dựng ví dụ như: đường Kẻ Bọn đi Diêm Lãm, đường Đò Ham điChâu Nga, đường Tam Hợp đi Châu Cường…đến nay ở các xã có tuyếnđường bộ nối liền với nhau và nối huyện Quỳ Châu với các huyện khác Với
hệ thống giao thông khá hoàn thiện đã đáp ứng một phần cho nhu cầu pháttriển kinh tế, giao lưu văn hoá của huyện
Như vậy, với điều kiện kinh tế và điều kiện tự nhiên đã nói trên, tạo điềukiện thuận lợi cho Quỳ Châu phát tiển toàn diện trên tất cả các mặt, đặc biệt làviệc phát triển kinh tế lâm nghiệp Nhưng bên cạnh đó nó cũng đặt Quỳ Châutrước những khó khăn, tách thức, phải làm thế nào đưa Quỳ Châu phát triểnkịp tiến độ phát trển của đất nước
1.1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội
Về chính trị
Quỳ Châu là một địa bàn cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc ít ngườinhư: dân tộc Thái, dân tộc Thổ, dân tộc mường, dân tộc Hoa…đó là quá trình
Trang 18cộng cư lâu dài tạo nên cư dân bản địa Tuy vậy, trên địa bàn huyện mỗi mộtdân tộc được tổ chức khác nhau về mặt xã hội Đó là tổ chức làng xã, đơn vị
cơ sở của bộ máy nhà nước nhưng về cơ bản tổ chức làng xã của các dân tộctrong huyện bao gồm: Trưởng làng là người cao tuổi nhất, thuộc dòng họ đôngngười và có uy tín nhất trong làng, giải quyết các vụ cãi cọ, xích mích; cóquyền xử phạt những ai vi phạm Ngoài ra trưởng làng còn là người thay mặtlàng để lập mối quan hệ với các làng khác và là người điều hành các công việclao động sản xuất, nắm chắc các phong tục tập quán của dân tộc, đồng thờicùng với thầy cúng chủ trì nghi lễ cúng ma làng được tổ chức mỗi năm mộtlần
Cố vấn cho trưởng làng và già làng Đây là người nắm kinh nghiệm sảnxuất, cung cấp kinh nghiệm cho trưởng làng và là người đưa ra những quyếtđịnh tối cao khi cần thiết Ngoài ra còn một bộ phận nữa là những người hànhnghề tôn giáo, đồng bào các dân tộc ở đây gọi họ bằng “ thầy mo” Theo quanniệm của đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện thì họ là những người cókhả năng giao tiếp với thế giới thần linh
Lúc đầu tổ chức làng bản này còn rất đơn giản Mối quan hệ của cáctrưởng bản, già làng và đại bộ phận các cư dân còn rất gần gũi than thiết,không có sự tách biệt như xã hội người kinh Mỗi bản dần dần họp lại với nhautạo thành các Mường, đứng đầu gọi là chúa Mường Có thể thấy tổ chức làngbản của các dân tộc theo tính chất lề thói, phong tục tập quán dân tộc và tùyvào từng thời kỳ lịch sử mà theo phép nước Ở mức độ cao nhất mà xét thì đó
là bộ máy quản lý và điều tiết các mối quan hệ trong làng
Đến thời Phong kiến, nhà nước Phong kiến thiết lập sự thống trị từ trungương đến địa phương Bộ máy cai trị mà triều Nguyễn thiết lập ở Quỳ Châucũng giống như các huyện miền núi khác bao gồm: Phủ, Huyện, Châu Đứngđầu Phủ là một tên tri phủ, đứng đầu Huyện là một tên tri huyện, đứng đầuChâu là một tên tri châu Giúp việc là một số nha lại và một đội lính quản lý
Trang 19toàn diện các mặt hành chính, pháp lý, an ninh - xã hội…còn ở cấp làng xã cócác lý trưởng, chánh tổng, phó lý Ta có thể nhận thấy bộ máy quản lý làng xã
là tầng lớp lang đạo, lý trưởng, già bản Tầng lớp này nắm quyền thống trị xãhội và duy trì theo chế độ cha truyền con nối Tuy nhiên phần đa bộ máy địaphương (từ phủ đến châu) đều do các quan miền xuôi cai quản, hay còn gọi làchế độ “lưu quản” Dưới chế độ chân quyền, quyền uy của tầng lớp thống trịngày càng tăng, đi liền với nó thì vai trò của ông mo cũng được đề cao
Suốt thời kỳ dài dưới chế độ Phong kiến, giai cấp thống trị ở huyện đãdùng những thủ đoạn để mị dân, chia rẽ các dân tộc, làm cho tầng lớp nhândân bị mê muội, hoàn toàn bị lệ thuộc vào chúa đất thông qua chế độ tư hữuruộng đất của dòng họ chúa (là họ Sầm và họ Lang) Người dân cày được nhậnruộng của các chúa giao cho phải gánh vác đầy đủ nghĩa vụ cống nạp, biếuxén, nạp tô, làm lao dịch cho bọn chúa đất Vì thế người lao động các dân tộctuy bị chúa đất bòn rút thậm tệ đến tận xương tủy nhưng vẫn phải mang ơnchúng và thủ tiêu các cuộc đấu tranh đòi quyền sống
Đến thế kỷ XIX trước tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân takhắp mọi miền quê đều nhất tề đứng dậy chống ngoại xâm Song triều đìnhnhà Nguyễn đã không kiên quyết chống Pháp mà còn liên tiếp cắt hết vùng đấtnày đến vùng đất khác cho thực dân Pháp, thông qua việc ký kết các điều ướcthỏa hiệp và đầu hàng Mặc dù vậy nhân dân ta vẫn hưởng ứng lời kêu gọi củacác văn thân, sĩ phu yêu nước tập hợp dưới ngọn cờ của phong trào CầnVương chống Pháp Cho đến năm 1896, sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa PhanĐình Phùng (Hương Khê - Hà Tĩnh) về cơ bản thực dân Pháp đã bình địnhđược nước ta về mặt quân sự và bắt tay vào công cuô ̣c khai thác thuộc địa, đặtách cai trị của thực dân Pháp lên nước ta so với cả nước, thực dân Pháp đặtách cai trị ở huyện về cơ bản có muộn hơn Tuy nhiên, nó tỏ ra hết sức chặtchẽ và quy cũ Về cơ bản thực dân Pháp vẫn duy trì được bộ máy thống trị
Trang 20dưới thời Nguyễn, nhưng điểm khác so với trước là chúng dùng chế độ “thổquan” thay thế chế độ “lưu quan”- dùng người dân tộc trị người dân tộc
Nhìn qua tổ chức chính quyền trên có thể thấy rằng chính quyền đó mangtính chất lưỡng hệ: tồn tại bộ máy do thực dân Pháp quản lý và bộ phận doPhong kiến quản lý Nhưng thực chất, chính quyền đó hoàn toàn do thực dânPháp nắm Dưới chính sách cai trị hà khắc của người Pháp đã đẩy người nôngdân vào đời sống khổ cực, bị chèn ép nhiều bề Vì vậy đồng bào đã nhiều lầnnỗi dậy đấu tranh chống lại sự cấu kết của thực dân và Phong kiến Tuy nhiêncác cuộc đấu tranh của đồng bào đều bị thất bại, đồng bào ở Quỳ Châu cũnggiống như ở các miền quê khác vẫn nằm trong bóng tối nô lệ Khát vọng caonhất của người dân là làm sao đánh đổ ách thống trị của thực dân, Phong kiến.Đáp ứng yêu cầu lịch sử đặt ra, sau một thời gian dài của quá trình vậnđộng và phát triển, đầu năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Vừa mới rađời “Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàndân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Màu cờ đỏcủa Đảng chói lọi như mặt trời mọc xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lốicho nhân dân ta vững bước đi lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạngphản đế phản phong”[1;12-13] Dưới ánh sáng soi đường của Đảng nhân dânnhiều nơi đã đứng dậy đấu tranh lật đổ ách thống trị của thực dân, Phong kiến,giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập các Ủy ban Cách mạng lâm thời.Riêng ở Quỳ Châu cũng giống như nhiều huyện miền núi khác, vì chưa có cơ
sở cách mạng nên bọn thổ ty, lang đạo nắm chính quyền, tuy hoang mang layđộng, song chúng còn có thế lực khống chế nhân dân nên việc giành chínhquyền không thể tiến hành như các huyện miền xuôi Ở những nơi này mặttrận Việt minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh chủ trương dùng biện pháp hành chính cải
tổ bộ máy chính quyền, phát động quần chúng đấu tranh thực hiện các chínhsách, chủ trương Cách mạng của Đảng, từng bước tiến lên xây dựng chínhquyền thực sự của dân Ngày 26 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Cách mạng lâm
Trang 21thời huyện Quỳ Châu được thành lập Sau khi thành lập, Ủy ban Cách mạng đãvận động đồng bào các dân tộc mít tinh, biểu tình đã phá bỏ được chế độ độcquyền lâu đời của viên tri phủ, đại diện cho tập đoàn Phong kiến có thế lựctrong họ Sầm, bước đầu tạo ra sự bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các dòng họtrong việc tham gia chính quyền, hạn chế được sự phản ứng của lực lượng taysai cho bọn đế quốc, nhanh chóng ổn định được tình hình và tạo điều kiệnthuận lợi cho các cán bộ Đảng tổ chức, phát động quần chúng xây dựng cơ sởCách mạng để tiến lên từng bước cao hơn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tại vườn hoa Ba Đình lịch
sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố bản “Tuyên ngôn độc lập” khaisinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Với tư thế của người công dân nướcViệt Nam độc lập, đồng bào các dân tộc huyện Quỳ Châu cùng với đồng bào
cả nước hăng hái tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ xã hộimới, đoàn kết cùng nhau chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ giành lại độc lập hoàn toàn cho quê hương, đất nước
Đất nước sạch bóng quân thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý củaNhà nước đồng bào Quỳ Châu cùng đồng bào cả nước đã đoàn kết bên Đảng,bắt tay vào công cuộc xây dựng chế độ mới, một chế độ “của dân, do dân, vìdân”
Tình hình kinh tế
Nguồn sống chủ yếu của các dân tộc ở Quỳ Châu là sản xuất nông nghiệp.Dân tộc Thái sản xuất lúa nước là chính và sớm định canh, định cư Đồng bàocác dân tộc khác sản xuất nương rẩy và du canh, du cư Nông nghiệp lúa nướcngày càng phát triển, là cơ sở chi phối toàn bộ đời sống xã hội trong khu vực
Từ lâu đồng bào dân tộc Thái đã khẳng định giá trị kinh tế của lúa nước “rẩy
lút tầm mắt không bằng ruộng một thủa” Nhờ đó đồng bào đã tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm về sản xuất lúa nước Có nhiều giồng lúa địa phương, chonăng suất cao, thơm dẻo, có loại ngắn ngày (chỉ 85-90 ngày là thu hoạch),
Trang 22thích hợp với môi trường tự nhiên của địa phương Do lúa nước nên yếu tốthuỷ lợi giữ vai trò quan trọng đặc trưng của một nền nông nghiệp Đồng bàobiết làm các con mương nhỏ để dẫn nước tưới về đồng ruộng.
Ngoài kinh tế nông nghiệp, hàng năm tùy theo thời vụ đồng bào còn sốngbằng nghề hái lượm lâm sản để đổi lương thực, quần áo và các thứ đồ dùngcần thiết cho cuộc sống gia đình Kinh tế hái lượm có khi còn chiếm 60-70%thu nhập gia đình
Nghề chăn nuôi của đồng bào Thái ở Quỳ Châu phát triển khá sớm Hìnhnhư gia đình nào cũng chăn nuôi gia cầm “Trâu Quỳ”, “Lợn Quỳ” nổi tiếngtrong tỉnh Tuy nhiên việc chăn nuôi của đồng bào chủ yếu phục vụ cho cácnghi lễ, chưa hình thành ý thức rõ rệt về yêu cầu cải thiện đời sống
Với một nền kinh tế khép kín, mang tính tự cung tự cấp nên tạo điều kiệncho các nghề thủ công ở đây phát triển sớm, nhất là trồng bông, dệt vải, đan lát
và nghề rèn Nghề dệt thêu của đồng bào Thái, nghề rèn của người Mông…các loại sản phẩm thủ công đã đáp ứng một phần đời sống của các dân tộc.Đối với kinh tế thương nghiệp ở Quỳ Châu có nhiều điều kiện để pháttriển Các sản phẩm thủ công không chỉ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sảnxuất của đồng bào mà còn là hàng hóa trao đổi, buôn bán với bên ngoài, hệthống các chợ, các trung tâm dịch vụ lần lượt ra đời và ngày càng phát triển.Đặc biệt, sau ngày đất nước bước vào công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, bộ mặt kinh tế của huyện Quỳ Châu đang từng bước được thay đổi.
Các ngành nghề được cũng cố và phát triển Máy móc, các giống lúa mới đượcđược đưa vào sản xuất, tạo một bước chuyển biến mới trong khoa học kỷ thuậtnông nghiệp, phương thức canh tác cũng được thay đổi, làm cho năng suất vàsản lượng tăng lên đáng kể, đời sống nông dân bước đầu được ổn định Sựphát triển của các ngành nghề đã góp phần nâng cao đời sống vật chất cũngnhư tinh thần cho người dân trong huyện, tạo tiền đề thúc đẩy cho sự phát triểncủa xã hội, đặc biệt là sự phát triển của giáo dục
Trang 23Tình hình văn hóa – xã hội
Quỳ Châu là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau vì thế đờisống văn hóa tinh thần ở đây hết sức phong phú, độc đáo và mang tính nguyên
sơ Điều này có nguyên nhân lịch sử của nó, vì mỗi dân tộc khi tới định cư ởvùng đất này họ đều mang theo và bảo tồn những phong tục, tập quán và tínngưỡng của dân tộc mình Do đó không thể tránh khỏi sự khác biệt trong đờisống văn hóa, tinh thần giữa các dân tộc Sự khác biệt đó tạo nên sự phong phútrong đời sống văn hóa của đồng bào ở Quỳ Châu Trong đời sống của đồngbào thiểu số, tín ngưỡng được coi trọng, mỗi dân tộc có tín ngưỡng khác nhau.Tuy thế điểm chung nhất của các dân tộc là quan niệm về linh hồn người chết,nên đều có tục thờ tổ tiên Đối với dân tộc Thái, trong nhà thờ vật tổ của dòng
họ mình thờ thổ công, tiên phật, trời đất Còn người Thổ, xưa kia rất tôn trọngthành Hoàng làng, có nhiều đình thờ miếu cúng quanh năm, có làng thờ từ 14-15 vị thần, ngoài ra các nghề như săn bắt, đánh cá đều có nghi lễ riêng Quanniệm của người Thổ về thế giới bên kia rất phức tạp với đủ loại thần và ma.Thần trên trời, ma dưới đất, thuồng luồng dưới nước Đồng bào Thổ tin rằng
có ma mọi nơi, có loài ma tốt nhưng lại có loài ma chuyên làm điều ác Vì thếkhi đau ốm người ta thờ “cúng vía”, khi chết thì làm lễ cúng lu bù
Đời sống tinh thần phong phú của đồng bào các dân tộc còn biểu hiện rõtrong kho tàng văn hóa - nghệ thuật Đă ̣c biê ̣t, trong kho tàng văn học dân giangiàu về nội dung, phong phú về thể loại và có sắc thái riêng Truyện cổ tích,thần thoại thường tập trung vào nội dung lịch sử của dân tộc; ca dao, tục ngữ,ngụ ngôn thường đi sâu tổng kết kinh nghiệm sản xuất về đạo lý làm người
Đặc biệt có truyện thơ dài của đồng bào Thái như: “Lái long mương” (lập bản mường), “Lái khủng chưởng”, “Lái lộc yêng”…phản ánh về lịch sử đấu tranh
giai cấp gay go, kéo dài trong xã hội Bên cạnh kho tàng văn hóa dân gian,đồng bào còn rất yêu thích lễ hội và ca hát Họ có nhiều kiểu múa cổ truyềnđiêu luyện và nhiều màu sắc, nhạc cụ kèn bè
Trang 24Trong qúa trình phát triển của lịch sử, Quỳ Châu còn được biết đến vớitruyền thống yêu nước và cách mạng Đồng bào ở Quỳ Châu đã giúp Lê Lợitrong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cùng hội quân của Lang Văn Thiết
để chống thực dân Pháp, đoàn kết với nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo củaĐảng để làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, chống lại chiến tranh pháhoại của đế quốc Mỹ… truyền thống yêu nước đó, cùng với bản chất của conngười xứ Nghệ thông minh, cần cù, nhiệt tình hăng say với công việc, ham họchỏi là những tiền đề quan trọng để đưa Quỳ Châu phát triển, hòa nhập và xuthế phát triển chung của cả toàn dân tộc
Như vậy, có thể thấy rằng: Quỳ Châu là một huyện miền núi có nhiềutiềm năng Tuy nhiên cho tới nay, Quỳ Châu vẫn là một huyện miền núinghèo, đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn Hơn nữa, nơi đây là địa bàn
có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc lại có những đặc trưngriêng, có ngôn ngữ riêng Vì vậy, để đưa huyện phát triển xứng đáng vớinhững tiềm năng mà huyện có, phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân làmột việc rất khó khăn, đặc biệt trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục Do đócác cấp ủy, chính quyền cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa đến huyện, phảiđưa ra những giải pháp thích hợp để phát triển kinh tế-xã hội của huyện, nhất
là trong sự nghiệp phát triển GD&ĐT Phát triển giáo dục chính là nhân tốquan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước
1.2 Tình hình giáo dục ở huyện Quỳ Châu trước năm 1996
1.2.1 Giáo dục ở huyện Quỳ Châu giai đoạn 1945 -1986
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộnghòa ra đời Sự kiện này đánh dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, đưa nướcViệt Nam từ một nước thộc địa nửa Phong kiến trở thành một nước độc lập,người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ lên làm chủ đất nước Đất nước bướcvào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trang 25Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đối mặt vớimuôn vàn khói khăn, thử thách: Kinh tế kiệt quệ, tài chính trống rỗng, nạn đói
đe dọa, hơn 90% dân số mù chữ, nạn thù trong giặc ngoài… trước tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc” của dân tộc trung ương Đảng, Chính phủ lâm thời và
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở để tìm mọi giải pháp đưa đất nước thoátkhỏi khó khăn Ngày 3-9-1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm
thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra “6 biện pháp cấp bách” để giải quyết
những khó khăn của đất nước, trong đó có hai nhiệm vụ nói về giáo dục
Người chỉ rõ: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, sự dốt nát là một loại giặc nội xâm Vì vậy người khẳng định: “muốn giữ vững được độc lập, muốn làm
cho nước mạnh dân giàu, mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà Và để làm được điều đó trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ ” Một chiến
dịch diệt dốt và chống nạn mù chữ được phát động Hồ Chủ Tịch và Đảng tacòn quan tâm tới việc mở trường học Nhân ngày khai trường đầu tiên củanước Việt Nam dân chủ cộng hòa, người đã gủi thư cho các em học sinh trong
đó có đoạn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt
Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em” [4; 93 ].
Ngày 8-9-1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập “nha bình dân
học vụ” Chính những thành công đó đã tạo những tiền đề cơ bản cho sự
chuyển hướng và phát triển của ngành giáo dục từ sau cuộc kháng chiến toànquốc bùng nổ
Đối với Quỳ Châu, từ bao đời nay bọn thổ ty, lang đạo - tay sai của thựcdân Pháp đã dùng chính sách ngu dân, chia để trị, kìm hãm đồng bào trongtừng dân tộc, từng dòng họ, từng vùng Bọn chúng kìm hãm sự giao lưu vănhóa, gây hiềm khích giữa các dân tộc Tiếng Việt và chữ Quốc ngữ là ngônngữ phổ thông của nước nhà không được phổ cập ở Quỳ Châu Cho đến Tháng
Trang 26Tám 1945, huyện có 33.000 dân mà chỉ có 243 người biết chữ Quốc ngữ, trong
đó có 234 người học hết lớp 3, 8 người học hết lớp 4 và có 1 người thi đổ tú tài[2;45] Số người theo học chữ Quốc ngữ phần lớn là con em thổ ty, lang đạocòn đông đảo đồng bào các dân tộc trong huyện vẫn bị giam cầm trong bóngtối của nô lệ
Dưới ánh sáng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quỳ Châu như được tiếpthêm nguồn sinh lực mới, nhân dân cả huyện tham gia học tập với quyết tâmxóa được nạn mù chữ Các lớp học diệt dốt, xóa mù chữ được mở ra mọi nơi
để tạo điều kiện cho mọi người đều tham gia học tập dễ dàng Mỗi lớp họckhông quy định số lượng và thành viên đến lớp, có lớp học vài ba chục ngườinhưng cũng có lớp học chỉ dăm bảy người Thì giờ học cũng rất linh hoạt chủyếu là buổi tối và buổi trưa Đội ngũ giáo viên giảng dạy các lớp này bao gồmtất cả những người biết chữ, còn học viên bao gồm tất cả các đối tượng chưabiết chữ Ai có sẵn sách vỡ bút mực thì dùng, bằng không thì tận dụng giấyloại, bảng gỗ để viết Phong trào thi đua diệt giặc dốt cũng rất sôi nổi giữa: tậpthể này với tập thể kia, cá nhân này với cá nhân nọ về số lượng và thời gianhoàn thành xóa mù chữ Các giáo viên làm nhiệm vụ xóa mù chữ cũng thi đuanhau giành danh hiệu chiến sĩ thi đua diệt “giặc dốt ” Phương pháp dạy họcđược cải tiến dựa trên sự học hỏi ở các vùng miền khác để giúp học sinh nhớbài và có thể nhớ được lâu Các chữ cái được hình tượng hóa và ca dao hóa:
“O tròn như quả trứng gà
Ô thì đội nón, Ơ thì thêm râu ”Ngoài việc động viên mọi người tự giác thi đua xóa mù chữ, còn có nhữnghình thức cưỡng bức học tập như lập các trạm kiểm tra tại các chợ, các bến đò
để hỏi chữ
Nhờ những biện pháp tích cực đó, số người biết đọc, biết viết trong huyệncũng tăng lên đáng kể, phong trào bình dân học vụ trở thành phong trào củatoàn dân Kết thúc khóa học thứ nhất năm 1947 (từ tháng 1 đến tháng 5 năm
Trang 271947) Quỳ Châu có 32 lớp học sơ cấp và 6 lớp học dự bị bổ túc, 122 giáo viên
và 750 học sinh, đến khóa học thứ hai năm 1947 chỉ riêng số lớp học sơ cấp là
96 lớp với 131 giáo viên và 1.431 học sinh Đến đầu năm 1954 toàn huyện có 250lớp với 3.971 học sinh có 465 gia đình thanh toán được nạn mù chữ, riêng xãchâu Bính đã thanh toán mù chữ cho số người từ 15 - 40 tuổi đạt 96% và đến năm
1962 Quỳ Châu được chính phủ công nhận về cơ bản đã xóa xong nạn mù chữcho đối tượng từ 16 - 45 tuổi, có tới 90% dân số biết chữ [3; 3]
Cùng với việc mở các lớp bình dân học vụ, công tác bổ túc văn hóa đượccác cấp chính quyền chú trọng nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho người dân,cán bộ làm cơ sở để nâng cao trình độ kỷ thuật nghiệp vụ Trong 9 năm khánhchiến chống Pháp (1945-1954) các lớp bổ túc văn hóa của huyện đã đào tạo2.250 người học hết sơ cấp (đạt 111% kế hoặch), lớp 1 có 350 người (đạt134% kế hoặch), lớp 2 có 424 (đạt 124% kế hoặch) Chỉ tính riêng trong năm
1954, toàn huyện đã có 24 lớp bổ túc văn hóa với 425 học viên [2; 88]
Bên cạnh các lớp bổ túc văn hóa và phong trào bình dân học vụ, thìngành giáo dục phổ thông và ngành MN cũng thu được nhiều kết quả Cho đếnnăm 1954 toàn huyện có 14 trường tiểu học với 7.111 học sinh, trong đó có
165 học sinh là nữ So với năm 1946 thì gần 3 người dân có 1 người đi học(11.407 học sinh/33.110 người dân)[2;68] Đến cuối năm 1959 hệ thống phổthông có một trường cấp II đầu tiên của huyện, gồm có 2 lớp với 60 học sinh,
hệ vở lòng có 78 lớp với 2.885 em [2;60] Tuy nhiên đến thời điểm này ởhuyện vẫn chưa có trường cấp III, do đó con em trong huyện muốn được họccấp III phải cắp sách vở, lương thực xuống miền xuôi để học
Để khắc phục tình trạng đó, khuyến khích tinh thần học tập của con emđồng bào trong huyện, đến năm 1965 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ácliệt nhất của hai miền Nam Bắc, tại địa bàn huyện Quỳ Châu một trường cấpIII mang tên huyện- trường cấp III Quỳ Châu được thành lập Ban đầu trườngchỉ có hai lớp với gần 80 học sinh với cơ sở vật chất, điều kiện học tập còn
Trang 28thiếu thốn tuy nhiên sự có mặt của mái trường là niềm vui của con em đồngbào các dân tộc, các em không phải lội suối băng rừng, gùi gạo về xuôi để họccấp III nữa, các em được học tập ngay trên chính mảnh đất quê hương củamình Điều đó không chỉ kích thích tinh thần học tập của con em các đồng bàođang sống trên địa bàn huyện mà nó còn tạo tiền đề tốt cho các thế hệ mai sau
có điều kiện học tập tốt hơn
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta hoàn toàn được giải phóng,Bắc - Nam sum họp một nhà, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triểnmới Đó là điều kiện tốt để xây dựng và phát triển đất nuớc Cùng với khôngkhí hoà bình thống nhất, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm phát triểnkinh tế mà còn rất coi trọng đến các lĩnh vực khác, đặc biệt là GD&ĐT Nhờvậy hệ thống trường lớp được xây dựng và ổn định từ cấp I đến cấp III, cácngành bổ túc văn hoá, đơn vị dạy nghề, trung tâm giáo dục thương xuyên đượccũng cố và hoàn thện Đội ngũ cán bộ, giáo viên tăng lên về số lượng cũng nhưchất lượng, học sinh đến trường ngày càng đông và chất lượng đào tạo cũngđược cũng cố
Trong bối cảnh chung đó, mặc dù là một huyện miền núi nghèo, đời sốngcủa người dân đang còn khó khăn Tuy nhiên với quan điểm “ra sức đẩy mạnh
ba cuộc cách mạng để khai thác tốt mọi khả năng tiềm tàng của một huyệnmiền núi: trồng trọt, chăn nuôi và chăm lo cho sự nghiệp giáo dục phát triểnđúng hướng và hợp lý…” [11;5], Đảng bộ Quỳ Châu đã không ngừng cũng cố,xây dựng và phát triển sự nghiệp GD&ĐT Đặc biệt với những thành tựu vềgiáo dục mà các thời kỳ trước để lại như: đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, cùngvới đó là tinh thần học hỏi của người dân Đảng bộ huyện Quỳ Châu đã bám sátvào thực tế, đưa ra nhiều biện pháp chăm lo phát triển giáo dục, nhờ vậy ngànhgiáo dục Qùy Châu đã gặt hái được nhiều thành tựu mới
Từ niên học 1975-1986, sự nghiệp GD&ĐT của huyện đã đổi thay vềnhiều mặt, số lượng học sinh ngày càng tăng, chất lượng dạy và học ngày càng
Trang 29được nâng cao Năm học 1976-1977, cấp I có 56 lớp với 2153 em, cấp II có 26lớp với 1042 em, cấp III có 7 lớp với 486 học sinh Như vậy trong năm học1976-1977 tổng 3 cấp học có 3681 học sinh [12; 6]
Cùng với việc phát triển hệ thống trường lớp, các trường không ngừngcũng cố việc dạy và học để nâng cao hiệu quả giáo dục cho huyện, góp phầnthực hiện tốt nghị quyết của Đảng bộ huyện đưa ra nhằm đáp ứng yêu cầu pháttriển bộ mặt giáo dục của huyện và sự nghiệp trồng người cho thế hệ trẻ
Ngoài ra, Đảng bộ huyện Quỳ Châu còn rất quan tâm đến giáo dục vỡlòng, mẫu giáo không để cho các em phải thất học Số cháu vào mẫu giáo vànhà trẻ cũng tăng lên đáng kể, năm học 1976-1977 có 837 cháu đến nhà trẻ và
1024 cháu tham gia học mẫu giáo [12; 6] Đến năm học 1982-1983 số cháuđến nhà trẻ tăng thêm 121 cháu, số cháu tham gia học mẫu giáo tăng thêm 354cháu
Do nhu cầu học tập ngày càng cao đòi hỏi Đảng bộ huyện phải có nhữngchính sách và biện pháp thích hợp, đáp ứng nhu cầu học tập cho con em trênđịa bàn huyện Trước yêu cầu đó Đảng bộ Quỳ Châu, phòng giáo dục huyện đãkịp thời mở thêm trường lớp, đổi mới tư duy, cách dạy và học, cũng cố xâydựng cơ bản để đáp ứng được cơ sở vật chất cho các em đi học Vì vậy nềngiáo dục của huyện Quỳ Châu giai đoạn này đã có bước biến chuyển rõ rệt.Tuy nhiên, trong chặng đường từ 1945-1986 sự nghiệp GD&ĐT củahuyện Quỳ Châu không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục:hạn hán, lũ lụt, thiên tai thường xuyên xẩy ra, chế độ quan liêu bao cấp kéo dàigây ra nhiều tiêu cực nẩy sinh, kinh tế lại khó khăn chồng chất Điều này làmhạn chế đến việc phát triển giáo dục của huyện, đặc biệt ở Quỳ Châu là địa bàntập trung nhiều tộc người sinh sống, mỗi tộc người có đời sống văn hoá tínngưỡng khác nhau, trình độ văn hoá của đồng bào còn thấp Vì thế việc xâydựng và phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện là một việc rất khó khăn, đòi
Trang 30hỏi phải có thời gian và sự cố gắng của toàn Đảng, toàn dân ở Quỳ Châu, cũngnhư sự qan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành.
1.2.2 Tình hình giáo dục Quỳ Châu 1986-1996
Bước vào thập kỷ 90 cùng vối xu thế đổi mới của nước nhà, sự nghiệpGD&ĐT cũng có những thay đổi Kinh tế đất nước bắt đầu phát triển đời sốngcán bộ, giáo viên và quần chúng nhân dân được nâng lên một bước và đi vào
ổn định Đặc biệt từ Đại hội Đại biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứVII, sự nghiệp GD&ĐT được Đảng và Chính phủ quan tâm, Đại hội đã xác
định trọng trách của giáo dục ở giai đoạn mới là phải ra sức “nâng cao dân trí,
bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài” Vì vậy, sau Đại hội VII ngân sách chi
cho giáo dục tăng, chế độ chính sách của giáo viên đã có nhiều thay đổi Do đógiáo viên các cấp yên tâm giảng dạy, đời sống cộng đồng bắt đầu khấm khá,các em học sinh phấn khởi đi học, hệ thống phòng học bắt đầu tăng dần, sốlượng học sinh và chất lượng giáo dục ngày một nâng cao Trước vận mệnhmới của dân tộc, tiếp thu đường lối và quan điểm của Đảng về giáo dục, ngànhgiáo dục Quỳ Châu đã đưa ra những hành động cụ thể và thiết thực quan tâmtới sự phát triển của sự nghiệp giáo dục của huyện:
Ra sức chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để đưa trình độ toàn ngành lênngang tầm với nhiệm vụ cách mạng Đội ngũ cán bộ, giáo viên được bồidưỡng và cung cấp những kiến thức hiện đại, những phương pháp truyền thụkhoa học tiên tiến; ngành giáo dục đã khuyến khích những giáo viên trẻ họchàm thụ, Cao đẳng và tìm điều kiện thuận lợi để các giáo viên này có điều kiệnhọc tập thêm về ngoại ngữ…với mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học
Tại các trường trong huyện, có chủ trương xây dựng các lớp chọn để tậphợp những học sinh giỏi, có năng khiếu học tập, giỏi bộ môn để tập hợp những
em có năng khiếu hình thành đội ngũ học sinh giỏi từ cấp I đến cấp II Hàngnăm còn tổ chức thi chọn giáo viên dạy giỏi và học sinh giỏi từ trường lên
Trang 31huyện và từ huyện lên tỉnh Vì vậy mà Quỳ Châu có những năm thu hoặch cao
về phong trào thi đua “dạy tốt -học tốt”
Tích cực thực hiện phổ cập tiểu học đúng độ tuổi theo luật định, cáctrường vừa mở sổ theo dõi thường xuyên về độ tuổi vừa ra sức duy trì về sĩ số,không để học sinh bỏ học giữa chừng, thông qua xây dựng và phát triển dânchủ hóa trường học và xã hội hóa giáo dục Từ đó mà các lực lượng xã hộingày càng quan tâm hơn tới việc xây dựng cơ sở vật chất, cho con em đi họcđúng độ tuổi, tạo điều kiện cho con em ăn học
Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xóa mù cho các đối tượng bị mù chữ hoặcnhững đối tượng bỏ học giữa chừng trước đây mà nay quá độ tuổi học phổthông
Nhờ những cố gắng đó mà ngành giáo dục Quỳ Châu từ 1986-1996 đãđược nhiều thành tựu vững chắc Hệ thống mạng lưới trường lớp được cũng
cố, trong năm học 1992-1993 có 11 nhà trẻ với 1143 cháu, 3 chủ nhiệm và 37giáo viên thì đến năm học 1993-1994 tăng thêm 217 cháu với 48 giáo viên,đến năm học 1994-1995 tăng lên 14 nhà trẻ với 1346 cháu và 55 giáo viên;Bậc giáo dục MN cũng tăng đáng kể năm học 1992-1993 có 76 lớp với 1.370học sinh, 1 người quản lý và 42 giáo viên, đến năm 1994-1995 có 86 lớp với1.463 học sinh, 5 người quản lý và 50 giáo viên ; Ngành phổ thông cơ sở cũngđược nâng cấp về số lượng: cấp I có 11 trường với 287 lớp và có 6.491 họcsinh năm 1992-1993 tăng lên 20 trường với 315 lớp và 7843 học sinh (1993-1994), đến năm học 1994-1995 có 21 trường với 327 lớp và 7958 học sinh.Khối cấp II có 8 trường với 44 lớp và 1.734 học sinh (1992-1993) tăng lên 49lớp và có 2.346 học sinh (1994-1995); công tác xóa mù chữ giai đoạn nàycũng thu được nhiều thành tựu, năm học 1992-1993 đã xóa mù chữ cho 75người đến năm 1993-1994 xóa mù chữ được 855 người [3; 19]
Trang 32Song song với việc phát triển về trường lớp, số lượng học sinh, đội ngũgiáo viên của huyện không ngừng được nâng cao trình độ Chuyển biến chungcủa các trường là nâng cao, chấn chỉnh, coi trọng kỷ cương, nề nếp.
Chất lượng giáo dục chuyển biến ở tất cả các môn kể cả những môn họcphụ Qua đánh giá hàng năm phần đa các em đều đạt từ trung bình trở lên,ngoài ra các em còn đạt nhiều giải cấp huyện và cấp tỉnh Như năm học 1993-
1994 học sinh khối phổ thông có 137 em đạt giải thưởng trong các kỳ thi họcsinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh
Đội ngũ giáo viên không ngừng được nâng cao về chất lượng và số lượng.Nếu như giáo viên trước năm học 1989-1990 do nhiều hệ đào tạo chưa đảmbảo chất lượng, nhưng từ năm học 1990-1991 đã có quy cũ và hệ thống hơn.Học hệ 12+2 đối với cấp I, Cao đẳng đối với cấp II, Đại học đối với cấp III,các giáo viên còn lại được đi chuyên tu, bồi dưỡng cùng với việc học chuyên
đề hàng năm Do đó chất lượng đội ngũ giáo viên đã được nâng lên đáng kể sovới trước
Để hỗ trợ cho chất lượng GD&ĐT, cơ sở vật chất, trang thiết bị trườnghọc và đồ dùng dạy học cũng được cải tiến, nâng cấp Từ năm học 1989-1990,
về trước hệ thống trường lớp xuống cấp nghiêm trọng nhưng từ năm học
1990-1991 đến 1995 hệ thống trường, lớp được tu sửa Về cơ bản đã xoá được cáclớp đột nát và đủ chổ cho các em học đúng buổi, hạn chế được tình trạng họcnhiều ca Những kết quả đạt được ở trên thể hiện nổ lực của đội ngũ giáo viên,cán bộ quản lý ngành giáo dục đào tạo, sự cố gắng của học sinh Đặc biệt là có
sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể
và đóng góp to lớn của nhân dân
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì giáo dục Quỳ Châu giai đoạn nàycòn tồn tại một số hạn chế như: Quy mô phát triển trường, lớp chưa hợp lý,chưa phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; Chất lượng họcsinh yếu kém còn nhiều, hiện tượng học sinh đến tuổi đi học mà chưa đến lớp
Trang 33học, học sinh bỏ học giữa chừng ngày càng tăng Phổ cập giáo dục bậc tiểuhọc còn chậm, chưa huy động hết số cháu trong độ tuổi đi học, ví dụ năm học1988-1989 huy động vào học lớp 1 toàn huyện là 1.670 em đến đầu năm 1992-
1993 chỉ còn học ở lớp 5 là 602 em và thực tế thi hết lớp 5 chỉ còn 506 em [3;3] Trình độ chuyên môn nghiệp vụ bất cập so với yêu cầu chương trình sáchgiáo khoa hiện nay, nhiều thầy cô không có điều kiện lên lớp để giảng dạy.Đời sống giáo viên, cán bộ nhân viên trong ngành còn khó khăn nhiều, nênchưa có đủ thời gian đầu tư cho nghiên cứu chuyên môn nghiệp vụ của mình
Cơ sở vật chất còn quá nghèo nàn, trường học chủ yếu là làm tạm, nhất là một
số lớp học mẫu giáo còn phải học dưới sàn nhà của nhân dân, bàn ghế học sinhchưa đủ, điều kiện làm việc của thầy cô giáo còn thiếu thốn, nhiều trường học,nhà trẻ xuống cấp trầm trọng, trong lúc đó sự đóng góp của nhân dân địaphương còn yếu, chậm Sự quan tâm của một số cấp ủy Đảng, chính quyền vàtoàn thể quần chúng còn ít, chưa thật sự chăm lo đến sự phát triển của nền giáodục địa phương, thậm chí còn phó thác cho ngành giáo dục Công tác giáo dụcchuyển biến chậm, cán bộ quản lý ngành thiếu, yếu so với yêu cầu đổi mới.Nguyên nhân của sự hạn chế này là do: Bản thân ngành giáo dục chậm đổimới, chưa làm tốt chức năng tham mưu và trách nhiệm quản lý nhà nước;nguồn đầu tư cho giáo dục còn quá ít và thấp, bất cập với yêu cầu phát triển vàđổi mới hiện nay; các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, nhân dân chưanhận thức đầy đủ vai trò và tác dụng của giáo dục, chưa kịp thời đề ra các chủtrương, giải pháp có hiệu quả để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển
Tiểu kết chương: Qua bức tranh khái quát về tình hình giáo dục của
huyện Quỳ Châu trước năm 1996, có thể thấy rằng sự nghiệp GD&ĐT củahuyện đã đạt được những kết quả đáng nể Tuy nhiên, với đặc trưng của mộthuyện miền núi: giao thông đi lại khó khăn, sự giao du với các vùng, miền bênngoài rất hạn chế, sự quan tam của các cấp, các ngành còn hạn chế Vì vậy đờisống của đồng bào còn khó khăn, trình độ dân trí còn thấp Điều này ảnhhưởng rất lớn đến sự nghiệp giáo dục của huyện Do đó, sự nghiệp giáo dụccủa huyện trước năm 1996 vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục như:
Trang 34Chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp so với xu hướng phát triển giáo dục của
cả tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung Tư tưởng trong chờ, ỷ lại vào sựbao cấp của nhà nước, của cán bộ, giáo viên Hệ thống cơ sở vật chất còn thiếu
và nghèo nàn lạc hậu Nhân dân chưa ý thức được vai trò của sự nghiệpGD&ĐT đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Nhưng với nhữngthành quả mà huyện Quỳ Châu đạt được trong thời gian vừa qua sẽ làm tiền đềcho huyện phát triển sự nghiệp giáo dục trong thời gian tới dưới sự lãnh đạocủa Đảng bộ Quỳ Châu
Chương 2:
ĐẢNG BỘ HUYỆN QUỲ CHÂU TRONG SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 1996-2000
2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về sự nghiệp giáo dục và đào tạo
2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong điều 3 luật giáo dục nước ta khẳng định “nền giáo dục Việt Nam là
nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học hiện đại lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [5;18] Tư tưởng
“phát triển con người toàn diện” của Mác và Ăngghen trong “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo trong công cuộc giáo dục của
nước ta ngày nay
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là một tác phẩm bất hủ trong kho tàng
văn hóa nhân loại, được giai cấp công nhân và những người lao động, các thế
hệ giáo sư và giới nghiên cứu suốt 15 thập kỷ qua học tập, nghiên cứu, truyền
bá, vận dụng Đó là cương lĩnh của những người cộng sản phân tích lịch sử củaloài người theo quan điểm duy vật biện chứng, vạch rõ sứ mệnh của giai cấpcông nhân là giai cấp cách mạng nhất, đại diện cho toàn bộ phong trào cáchmạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong nhằm mục tiêu giải phóng nhân
Trang 35loại, dân tộc và con người khỏi ách áp bức, bóc lột, tiến tới xây dựng xã hội
thành “một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người, là điều kiện
cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [6; 628] Đó là tư tưởng coi con
người là trung tâm của sự phát triển, nó trở thành tư tưởng của thời đại ngàynay, trở thành sức mạnh vật chất tạo nên những tiến bộ to lớn trên thế giới nóichung và từng quốc gia nói riêng
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” còn đề cập tới vấn đề làm thế
nào để con người được phát triển tự do, làm cho mỗi cá nhân lao động có tínhđộc lập và cá tính, làm cho mỗi người thành một đơn vị chủ thể của đội ngũnhân lực, là nguồn vốn quyết định tạo ra sản phẩm, chất lượng hiệu quả, làmcho lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đạt trình độ phát triển mới Trí tuệ
và thể lực, đạo đức và tay nghề, tính độc lập cá nhân, cá tính và tính cộngđồng, trách nhiệm và quyền hạn, lợi ích và đóng góp, dân chủ và kỷ cương làđiều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người
Kế tục sự nghiệp về giáo dục của Mác và Ăngghen, Lênin đã có những
bổ sung và phát triển với những tư tưởng vĩ đại, đóng góp vào kho tàng vănhóa của nhân loại Tại diễn đàn đại học giáo dục toàn Nga lần thứ nhất, ngày28-8-1918 Lênin đã khẳn định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó làđiều kiện đảm bảo sự thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Lênin nói: Người mù chữ là “người đứng ngoài chính trị”[7;93] Ngày
26-4-1918, trong văn kiện “những nhiệm vụ trước mắt cuả chính quyền Xô Viết”
Lênin đưa ra quan điểm coi giáo dục như giao thông, bưu điện Người xemgiáo dục là một bộ phận trong kết cấu hạ tầng của xã hội Đến cuối năm 1920
khi nhận xét “Đề cương báo cáo về giáo dục” của Crúpxkia, Lênin viết: Bất cứ
trong hoàn cảnh nào chúng ta phải mau chóng từng bước chuyển sang giáo dục
kỷ thuật tổng hợp và các tri thức cơ bản ban đầu của giáo dục kỷ thuật tổnghợp…, cụ thể là có các bài giảng về điện, điện khí hóa, về nông học, hóa họckết hợp với tham quan nhà máy điện, nông trường, bảo tàng kỷ thuật…tư
Trang 36tưởng này thể hiện trong thực tế nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sảnxuất do Mác tổng hợp thời kỳ đầu của cách mạng công nghiệp, Lênin và cácnhà khoa học đã đưa lên thành nguyên tắc cơ bản của giáo dục, chỉ đạo về việc
tổ chức nhà trường và biến thành hoạt động giảng dạy, giáo dục
Lênin còn đưa ra một khẩu hiệu nổi tiếng, trở thành châm ngôn của
hàng triệu người, hàng triệu thế hệ “học nữa, học mãi”.
Từ những tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với yêucầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảng ta trong suốt quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, đã luôn quan tâmtới sự nghiệp GD&ĐT, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng cho sự phát triển đất nước
2.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Với nhận thức giáo dục là một ngành đặc biệt quan trọng, vì vậy ngay từthời xa xưa cha ông ta đã có ý thức về vai trò của giáo dục đối với việc xâydựng và bảo vệ đất nước Ông cha ta quan niệm: muốn kiến thiết quốc gia, mởmang kinh tế thì cần phải có người tài, muốn có người tài thì phải đào tạo quahọc hành thi cử Kế thừa truyền thống trọng giáo dục, trọng người tài, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta rất chú trọng đến vấn đề phát triển sự nghiệpGD&ĐT
Từ khi ra đời, Đảng đã gắn việc đấu tranh chống chính sách ngu dân vớicách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, coi dốt nát là một thứ giặc
Người viết: “Dốt nát cũng là kẻ địch” với tư tưởng đó, ngay khi thành lập nước
chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quyết định phương hướng cơ bản
của chính sách giáo dục là “Trong thời kỳ ngắn nhất phải cử hành lệnh bắt
buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ triệt để” Đặc biệt trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng đã nhận thức được vaitrò lãnh đạo và nhiệm vụ của sự nghiệp GD&ĐT Trong công cuộc cách mạng
Trang 37dân tộc, dân chủ đó Đảng ta coi GD&ĐT là một nhân tố quan trọng cùng vớiquân sự, kinh tế, chính trị để chống kẻ thù xâm lược.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang mộtgiai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phảiđặc biệt quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện nền giáo dục Việt Nam xãhội chủ nghĩa theo tư tưởng của Hồ Chí Minh: Xây dựng một nền giáo dụcViệt Nam kiểu mới, một nền giáo dục của dân, do dân, vì dân Và trên thựctiễn Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trương biện pháp trong cácvăn kiện đại hội để định hướng cho sự nghiệp giáo dục cuả nước nhà
Tại đại hội toàn quốc lần thứ VIII (6-1991) đã khẳng định GD&ĐT là nềntảng của xã hội, là mục tiêu, động lực của quá trình phát triển xã hội Đảng chỉrõ: Đối với quá trình CNH-HĐH đòi hỏi phải có trí tuệ cao, có trình độ khoahọc và công nghệ tiên tiến, hiện đại trên tất cả các khu vực khoa học quản lý,khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và công nghệ Vì vậy, cán bộ, đảng viên,công nhân viên chức nhà nước nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng, trước hết
là các đồng chí ủy viên trung ương, phải ra sức học tập nâng cao trình độ mọimặt Có trình độ, có kiến thức mới nắm bắt được thời cơ, thực hiện nhiệm vụkhó khăn, phức tạp trong hoàn cảnh mới Cán bộ lãnh đạo không có kiến thức,thiếu trình độ hiểu biết sẽ trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội
[30 ;109] Do đó cần phải “học, học nữa, học mãi” học trong nhà trường, học
trong thực tiễn và tự học, đó là khẩu hiệu hành động của chúng ta để lãnh đạothành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Trong sự nghiệp đổi mới Đảng ta xác định: Xây dựng kinh tế làm trungtâm nhưng GD&ĐT là nền tảng, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy sự phát triểncủa xã hội GD&ĐT là quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước, sự nghiệptrồng người chăm lo sự nghiệp GD&ĐT là một vấn đề chiến lược, vấn đề có ýnghĩa quyết định vận mệnh lịch sử dân tộc và định hướng cho sự phát triển của
Trang 38tương lai Nhất là trong thời đại ngày nay, để hướng tới kỷ nguyên mới, kỷnguyên thời đại CNH-HĐH, kỷ nguyên tri thức, trình độ dân trí là tiềm lực của
xã hội, trở thành sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới Sự nghiệpGD&ĐT trở thành quốc sách hàng đầu, là chìa khóa mở cánh cửa tương lai vìmột đất nước giàu mạnh, văn minh
Đặc biệt trong nghị quyết lần thứ 2 ban chấp hành trung ương Đảng (khóaVIII) năm 1996, đã đưa ra đường lối quán triệt quan điểm GD&ĐT qua việcđánh giá thực trạng nền giáo dục của nước nhà
Qua 10 năm đổi mới, ngành GD&ĐT và khoa học công nghệ nói chung đã
có nhiều cố gắng, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song còn phải thừanhận rằng kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu ngày càng cao của đấtnước và sự mong mỏi của nhân dân, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Quan điểm của Đảng về GD&ĐT, khoa học và công nghệ làquốc sách hàng đầu đến nay vẫn chưa được nhận thức một cách sâu sắc và đầy
đủ bằng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Do đó Nghị quyếtTrung ương Đảng lần thứ 2 đã vạch rõ định hướng chiến lược phát triển sựnghiệp GD&ĐT trong thời kỳ mới, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển GD&ĐT
từ nay đến năm 2000, những giải pháp chủ yếu và phải tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với sự nghiệp GD&ĐT Trước hết là những nhiệm vụ cụ thể từnay đến năm 2000, để chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển mạnh vào thế kỷXXI đó là:
- Phát huy những thành tựu và kết quả đạt được, khắc phục những mặt yếukém theo hướng chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự kỷcương, sắp xếp cũng cố hệ thống GD&ĐT theo hệ thống trường lớp, nâng caochất lượng GD&ĐT, phát huy quy mô giáo dục
-Tiến hành xây dựng chiến lược GD&ĐT cho thời kỳ CNH-HĐH, banhành luật giáo dục Nghị quyết 2 khóa VIII đã xác định mục tiêu tổng quát vàmục tiêu cụ thể của sự nghiệp GD&ĐT đến năm 2000, trong đó mục tiêu tổng
Trang 39quát là đào tạo một hệ thống chính trị “vừa hồng chuyên” có đủ phẩm chất cả
về trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới Với mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Phát triển bậc MN phù hợp với yêu cầu của từng nơi, đảm bảo hầu hết trẻ
em 5 tuổi được đi học chương trình mẫu giáo lớn chuẩn bị vào lớp 1
- Phổ cập giáo dục tiểu học cho cả nước vào năm 2000, phần lớn học sinhtiểu học được học đầy đủ 9 môn theo chương trình chính quy, tạo điều kiệnphổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010
- Thanh toán nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi từ 15-35 tuổi, thuhẹp dần diện mù chữ ở các cấp độ tuổi khác, đặc biệt chú ý các vùng cao, vùngsâu, vùng xa, vùng khó khăn để các tỉnh đạt quốc gia về xóa nạn mù chữ vàphổ cập tiểu học trước khi bước sang thế kỷ XXI
- Tăng quy mô học nghề bằng nhiều hình thức để đạt từ 20-25% đội ngũlao động được qua đào tạo vào năm 2000 Kế hoạch đào tạo nghề phải theo sát
sự phát triển kinh tế, xã hội của từng vùng
- Mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học
từ xa, quan tâm đào tạo cán bộ quản lý, kỷ thuật, nghiệp vụ và công nhândoanh nghiệp
- Có hình thức trường lớp thích hợp nhằm bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuấtthân từ công nông và cán bộ ưu tú, con em thuộc diện chính sách
- Đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, xóa “điểm trắng”
về giáo dục ở ấp, bản Mở thêm các trường dân tộc nội trú và các trường bántrú ở cụm, xã, các huyện tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại học
để đào tạo cán bộ cho các dân tộc, trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộlãnh đạo và quản lý
Nghị quyết đã đưa ra những giải pháp chủ yếu để phát triển GD&ĐT đếnnăm 2000, bao gồm 4 giải pháp chủ yếu:
Trang 40Thứ 1: Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo lấy từ
nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước,tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách như học phí, xây dựng vàcông bố công khai quy định học phí và các khoản đóng góp theo nguyên tắc,không thu bình quân, miễn giảm cho người nghèo và người thuộc diện chínhsách, có chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với việc xuất bản sách giáo khoa, tàiliệu dạy học… giành ngân sách nhà nước thỏa đáng để cử những người họcgiỏi và có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnhvực then chốt, đồng thời sử dụng nguồn vốn vay và viện trợ nước ngoài để xâydựng cơ sở vật chất cho GD&ĐT
Thứ 2: “Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học” Nghĩa là phải cũng cố và tập trung đầu tư nâng cấp cho các trường sư
phạm, không thu học phí và thực hiện chế độ học bỗng, ưu đãi với học sinh,sinh viên sư phạm Thực hiên chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bồidưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực đội ngũ giáo viên, để đếnnăm 2000 có ít nhất 50% giáo viên phổ thông và 30% giáo viên đại học đạtchuẩn quy định, lương giáo viên được sắp xếp cao nhất trong hệ thống bậclương hành chính sự nghiệp có thêm chế độ trợ cấp
Thứ 3: Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp GD&ĐT.
Thứ 4: Tăng cường cơ sở vật chất các trường học như: Rà soát lại và đổi
mới một bước sách giáo khoa, loại bỏ những nội dung không thiết thực, tăngcường giáo dục công nhân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước
Cùng với việc nêu ra các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nghị quyết cònđưa ra phương hướng để phát triển sự nghiệp GD&ĐT đến năm 2000 là: Phảinêu cao tinh thần tự lập tự chủ, ý chí tự lực tự cường đối với việc mở rộngquan hệ quốc tế và phát huy năng lực nội sinh của dân tộc Nghị quyết khẳng
định “gắn liền chiến lược giáo dục và chiến lược kinh tế - xã hội”.