Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu + Đối tượng nghiên cứu - Để tiến hành tìm hiểu về chuỗi thị trường tiêu thụ lạc trên điạ bàn xã DiễnThịnh - Diễn Châu - Nghệ An chúng tôi chọn đ
Trang 1và có giá trị xuất khẩu trong đó có cây lạc.
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thương phẩm có dầu quan trọng Hạt lạc
có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng prôtêin 20 - 25%, gluxit 14%, lipít 40 – 60%.Ngoài ra lạc còn chứa nhiều vitamin B1, B2, E, F, PP,…và các axit béo chưa no có lợicho sức khỏe nên nó là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, là câythương phẩm có giá trị xuất khẩu của nước ta
Lạc được trồng ở nhiều vùng trong cả nước, trải dài từ Bắc vào Nam và đượctrồng nhiều ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Nam Định,…
Từ lâu, Nghệ An được mệnh danh là “đất lạc” Lạc Nghệ An có năng suất, chấtlượng và có giá trị hàng hóa cao hơn so với các vùng khác Ở Nghệ An lạc được trồngchủ yếu ở Thanh Chương, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu và nhiều nhất ở Diễn Châu.Theothống kê của phòng Nông Nghiệp huyện, hàng năm diện tích, sản lượng, năng suất lạcDiễn Châu luôn đứng đầu tỉnh: năm 2008 sản lượng lạc của cả tỉnh là 48000 tấn thìDiễn Châu có 10.610 tấn (22%), năng suất đạt 25tạ/ha
Diễn Thịnh là một xã đồng bằng ven biển chuyên trồng màu của huyện DiễnChâu với cây lạc là cây trồng chủ lực Ở đây, người dân có truyền thống và kinhnghiệm trồng lạc lâu năm, là địa phương luôn đi đầu trong việc áp dụng tiến bộ KHKTvào sản xuất, nhờ vậy trong những năm qua xã luôn là địa phương có năng suất, sảnlượng lớn của huyện: Năm 2007 sản lượng 1.415,2 tấn(14,98%) năng suất 32,8 tạ/ha
Năm 2008 sản lượng 1.441 tấn (15,2%), năng suất 33 tạ/ha.
( phòng thống kê xã Diễn Thịnh).
Trang 2Hơn nữa, xã còn là trung tâm thu mua, chế biến và buôn bán lạc lớn của huyện.
Xã có 2000 hộ thì có 1500 hộ làm nghề hàng xáo, buôn bán, xuất khẩu lạc.Nhưng hoạtđộng kinh doanh tiêu thụ lạc diễn ra manh mún, hiệu quả không cao Đây vừa là lợithế, vừa là khó khăn của địa phương trong việc tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm.Trong 3 năm trở lại đây (2007 – 2009) giá cả luôn biến động, thị trường lạc liên tụcrớt giá Đặc biệt năm 2008 giá lạc biến động không theo quy luật như những nămtrước Người sản xuất là người tạo ra sản phẩm nhưng giá trị mà họ thu được chỉ làmột phần rất nhỏ của sản phẩm Vậy phần giá trị còn lại ở đâu? Sản xuất mà khôngquan tâm đến thị trường liệu có thể tồn tại và phát triển bền vững được không?.Thựctrạng sản xuất lạc trên địa bàn trong những năm qua thế nào?
Với ý nghĩa đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: Đánh giá thực trạng sản xuất và thị trường lạc trên địa bàn xã Diễn Thịnh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An.
1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là: (i) Đánh giá thực trạng sản xuất lạc tạiđịa bàn nghiên cứu; (ii) Phân tích thực trạng của chuỗi thị trường lạc tại xã Diễn Thịnh
- Diễn Châu - Nghệ An (iii) Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sảnxuất, cải thiện chuỗi thị trường sản phẩm lạc ở xã Diễn Thịnh nói riêng và Diễn Châunói chung
2 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
+) Đối tượng nghiên cứu
- Để tiến hành tìm hiểu về chuỗi thị trường tiêu thụ lạc trên điạ bàn xã DiễnThịnh - Diễn Châu - Nghệ An chúng tôi chọn đối tượng là các hộ sản xuất lạc, hộ sảnxuất và làm nghề hàng xáo lạc (người thu gom), các tư thương, doanh nghiệp tư nhân
và công ty xuất nhập khẩu tham gia vào hoạt động tiêu thụ lạc trên địa bàn xã DiễnThịnh
+) Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng tình hình sản xuất lạc và hoạt độngcủa chuỗi thị trường lạc trên địa bàn xã Diễn Thịnh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An
từ 2007 – 4/2009
Trang 3+) Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng sản xuất lạc ở Diễn Thịnh: Tìm hiểu về diện tích canh tác, năngsuất, sản lượng, hiệu quả kinh tế và những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất lạc củađịa phương
- Phân tích chuỗi thị trường tiêu thụ lạc tại địa bàn nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thục tiễn của đề tài
+) Ý nghĩa khoa học: Đánh giá hoạt động sản xuất, tiêu thụ lạc trên địa bàn
nghiên cứu từ 2007 – 4/2009 Góp phần vào những nghiên cứu về sản xuất, thị trườnglạc ở địa phương
+)Ý nghĩa thực tiễn: Từ việc nghiên cứu chuỗi thị trường sản phẩm lạc trên địa
bàn nghiên cứu để đánh giá hoạt động sản xuất, tiêu thụ lạc của địa phương trong thờigian qua Biết được thực trạng của hoạt động sản xuất, tiêu thụ lạc trên địa bàn nghiêncứu, những thuận lợi, khó khăn, những nguyên nhân, tồn tại,và đưa ra một số giải phápthúc đẩy nghề trồng và tiêu thụ lạc ở địa phương hơn nữa
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cung và cầu
1.1.1.1 Khái niệm cung
Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán
ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định [4]
Hay cung là số lượng mà người sản xuất và các trung gian thị trường sẵn sàng và cóthể cung cấp
Cũng như cầu cung bao gồm hai yếu tố cơ bản là khả năng và ý muốn sẵn sàng bánhoặc dịch vụ của người bán Người sản xuất có hàng bán nhưng không muốn bán vìgiá rẻ thì không có cung và cầu không được thõa mãn Ngoài ra, khi nói đến cung vềhàng hóa hoặc bất kỳ dịch vụ nào chúng ta cũng phải lưu ý đến bối cảnh không gian vàthời gian cụ thể vì các yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp đến cung [4]
Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năngbán ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định Do đó ta thấy cung là toàn bộ mốiquan hệ giữa lượng cung và giá
1.1.1.2 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến cung nông sản hàng hóa
Trang 5Cung nông sản hàng hóa chậm thay đổi về số lượng, chất lượng, mẫu mã Nông sảnhàng hóa trước hết là sản phẩm của tự nhiên chịu chi phối rất nhiều của các quy luật tựnhiên khách quan Chẳng hạn con người phải cần rất nhiều thời gian để tạo ra đượcmột giống cây trồng, gia súc mới có năng suất và chất lượng mới Ngược lại, cácngành nông nghiệp và dịch vụ, việc tạo ra sản phẩm mới với số lượng và chất lượngmới được diễn ra thường xuyên với quy mô và tốc độ ngày càng lớn.
Sự thay đổi về cung đối với một nông sản hàng hóa cụ thể là rất khó xác định chínhxác Điều này là do sản xuất nông nghiệp thường diễn ra trên quy mô rộng lớn lại rấtphân tán nhỏ lẻ ở nhiều vùng, nhiều khu vực, thậm chí nhiều quốc gia Hơn nữa, kếtquả sản xuất phụ thuộc vào nhiều điều kiện thời tiết, khí hậu; phụ thuộc vào tâm lí vàcác quyết định của từng nhà sản xuất, … Vì vậy, khi quyết sản xuất sản phẩm nào đó,các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp rất khó dự đoán được lượng cung của sảnphẩm đó đưa ra thị trường của mọi cơ sở sản xuất
Cung nông sản hàng hóa có tính thời vụ, ít đàn hồi so với giá; cung loại sản phẩmnày có thể thay thế bằng loại sản phẩm khác Đặc điểm này là do đặc điểm của sảnxuất nông nghiệp và đặc điểm của tiêu dùng quyết định Điều đó cũng gây không ítkhó khăn cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp [5]
* Các yếu tố ảnh hưởng đến cung nông sản hàng hóa
Khối lượng hàng hóa nông sản cung cấp trên thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu
tố Trong đó có các yếu tố:
Điều kiện tự nhiên: sản phẩm nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi khí hậuthời tiết Sự khan hiếm các loại nông sản thường xuất hiện vào lúc giáp vụ, cuối vụ.Trái lại vào lúc chính vụ sản phẩm lại cung cấp dư thừa Những năm thời tiết thuận lợithì sản phẩm cung cấp nhiều Ngược lại những năm thiên tai, dịch bệnh thì lượng cung
bị thu hẹp đáng kể Chính điều này gây nên những bất cập cho cả sản xuất và tiêu thụ.Trình độ khoa học công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất: Quy môcác nguồn lực sản xuất, trình độ chuyên môn hóa, trình độ thâm canh mức độ ứngdụng các tiến bộ KHKT của các vùng, các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, cóảnh hưởng trực tiếp đến cung nông sản hàng hóa
Trang 6Các chính sách, sự hỗ trợ và khuyến khích của Chính phủ; các cơ sở hạ tầng; cácquan hệ hợp tác giữa cá tác nhân tham gia vào dây chuyền Marketing nông nghiệp Sức mua của người tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh đối với người sản xuất và cáctrung gian Mức độ cạnh tranh trên thị trường và năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp tham gia vào quá trình cung ứng sản phẩm nông nghiệp [5].
1.1.1.3 Khái niệm cầu
Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua
ở các mứ giá khác nhau trong một thời gian nhất định [4]
Như vậy, khi nói đến cầu chúng ta phải lưu ý đến hai yếu tố cơ bản là khả năngmua và ý muốn sẵn sàng mua hàng hóa hoạc dịch vụ có thể đó
Cầu thị trường là tổng số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà mọi người sẵn sàng và
có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian đã cho Cầu thịtrường là tổng hợp của các cầu cá nhân [4]
Cầu về nông sản là số lượng nông sản hàng hóa mà người mua muốn mua ở mỗimức giá chấp nhận được Nhu cầu về một nông sản hàng hóa trên thị trường là tổngnhu cầu của tất cả người mua về nông sản hàng hóa đó trên thị trường ở mức giá đó.Khi nói đến lượng nông phẩm cầu cần phải lưu ý hai đặc điểm sau:
Một là: Lượng nông sản mà người mua muốn mua với giá xác định Hai là: Nhucầu không phải là số lượng cụ thể mà phải là sự mô tả toàn diện về số lượng nôngphẩm hàng hóa mà người mua có thể mua ở mỗi mức giá khác nhau ở tất cả các mứcgiá có thể đặt ra [6]
1.1.1.4 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nông sản hàng hóa
Trang 7dưỡng lại luôn khác nhau, chính điều đó làm cho tính đa dạng trong nhu cầu và cơ cấunhu cầu
- Cầu nông sản hàng hóa có thể thay thế cho nhau Tính thay thế thường rõ rệthơn các sản phẩm khác, người ta không thể thay thế ti vi cho tủ lạnh nhưng có thể thaythế thịt bò bằng thịt lợn hoặc thực phẩm khác cho nhu cầu ăn uống
- Cầu nông sản hàng hóa thay đổi theo thời vụ [5]
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nông sản hàng hóa
- Cầu nông sản hàng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Trước hết cầuphụ thuộc nhiều vào đặc điểm về giới tính,tâm lí tuổi tác và các đặc tính khác thuộcvăn hóa xã hội của con người
- Cầu phụ thuộc vào thu nhập, vào khả năng thanh toán của người tiêu dùng.Thu nhập càng cao cầu càng đa dạng và chất lượng cầu càng cao
- Cầu phụ thuộc vào tập quán, phong tục, thói quen tiêu dùng của các nhómkhách hàng Các phong tục, tập quán, tôn giáo có tác dụng quy định hành vi tiêu dùngcủa khách hàng
- Cầu phụ thuộc vào giá, giá thấp thì nhu cầu tăng và ngược lại [5]
- Chính vì các đặc điểm và yếu tố ảnh hưởng đến cung - cầu nông sản hànghóa mà các nhà hoạt động Marketing cần nghiên cứu kỹ đặc điểm của từng loại thịtrường mục tiêu để có các biện pháp tiếp cận và cung ứng sản phẩm phù hợp nhất
Mối quan hệ của cung - cầu và các yếu tố ảnh hưởng được biểu diễn ở hình sau:
Trang 8Hình 1.1.Mối quan hệ giữa cung và cầu 1.1.2 Thị trường và chuỗi thị truờng
1.1.2.1 Khái niệm thị trường
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thị trường, ta có thể gặp một số khái niệmphổ biến sau:
Theo quan điểm của kinh tế vĩ mô thị trường là nơi chứa đựng tổng cung vàtổng cầu Theo quan điểm kinh tế, thị trường gồm tất cả các người mua người bán cóhoạt động trao đổi với nhau các hàng hóa hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu chonhau Theo quan điểm Marketing, thị trường là tập hợp những người hiện đang mua và
sẽ mua một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó [5]
Thị trường là sự biểu thị ngắn gọn quá trình mà nhờ đó các quyết định của các
hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hóa khác nhau, các quyết định của các doanhnghiệp về việc sản xuất cái gì và như thế nào, các quyết định công nhân về làm việctheo bao lâu và cho ai được điều hòa bởi sự điều chỉnh giá cả
Cầu
?Chât lượng
Sở thíchThu nhập
Số lượng mà người mua sẵn sàng và có thể mua với các mức giá khác nhau
Trang 9Thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và người muatiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa dịch vụ.
Thị trường là một một khuôn khổ vô hình, trong đó người này tiếp xúc với ngườikia để trao đổi một thứ gì đó khan hiếm và đó họ cùng xác định giá và số lượng traođổi
Qua những khái niệm trên ta thấy trong một số trường hợp người mua và người bán
có thể tiếp xúc trực tiếp tại các địa điểm cố định như các thị trường hàng tiêu dùng:quần áo, rau quả,… Trong nhiều trường hợp khác các công việc giao dịch diễn ra quađiện thoại, vô tuyến hoặc các phương tiện từ xa khác như trong thị trường chứngkhoán Những điểm chung nhất đối với các thành viên tham gia thị trường là họ đềutìm cách tối đa hóa lợi ích của mình Người bán muốn tối đa hóa sự thõa mãn lợi íchthu được từ sản phẩm họ mua.Về mặt nguyên lý, sự tác động qua lại giữa người bán vàngười mua xác định giá của từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể đồng thời xác định cả
số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm cần sản xuất và qua đó sẽ xác định việcphân bổ và sử dụng tài nguyên khan hiếm của xã hội Đây chính là nguyên tắc hoạtđộng của cơ chế thị trường Tuy nhiên, hoạt động thực tế của thị trường rất phức tạp,phụ thuộc vào số lượng, quy mô, sức mạnh thị trường của những người bán và ngườimua [4]
1.1.2.2 Chức năng của thị trường
+) Chức năng thừa nhận: Trách nhiệm của các doanh nghiệp là phải nghiên cứuthị trường để cho ra đời các nhận hay không Nói cách khác sản phẩm, dịch vụ đượcthị trường thừa nhận là điều kiện để chúng thực hiện được giá trị của mình Thị trườngThừa nhận các nội dung sau:
- Thị trường thừa nhận chủng loại và cơ cấu chủng loại hàng hóa
Thị trường thừa nhận khối lượng sản phẩm hàng hóa
- Thị trường thừa nhận giá cả
- Thị trường thừa nhận phương thức trao đổi đối với một loại hàng hóa haydịch vụ cụ thể nào đó
Trang 10+) Chức năng thực hiện: Thông qua chức năng này hàng hóa và dịch vụ sẽ hoànthành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ.
- Quá trình trao đổi hay mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường.Thông qua quá trình này sản phẩm hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thànhgiá cả, cơ sở để thanh toán và điều kiện để thõa mãn nhu cầu
- Kết thúc một quá trình mua bán, chức năng thực hiện của thị trường đã đượchoàn hành
+) Chức năng kích thích: Lợi nhuận là mục đích cao nhất của quá trình sảnxuất Lợi nhuận kinh doanh chỉ hình thành thông qua hoạt động của thị trường, vì vậythị trường vừa là môi trường vừa là động lực để điều tiết kích thích các hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp - sự điều tiết và kích thích sản xuất thể hiện ở cáckhía cạnh:
- Dựa vào nhu cầu các loại sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường, các doanhnghiệp có thể điều chỉnh các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ sảnphẩm này sang sản phẩm khác để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn
- Sự thay đổi nhu cầu và cơ cấu nhu cầu bắt buộc các doanh nghiệp
phải thay đổi phương hướng kinh doanh cho phù hợp hơn
- Thị trường sẽ tạo ra động lực cạnh tranh, những doanh nghiệp mạnh sẽ phảiphát huy lợi thế của mình để phát triển, các doanh nghiệp yếu sẽ phải tìm cách đổimới, vươn lên để tồn tại nếu không muốn phá sản
- Thị trường có vai trò quan trọng trong điều tiết cung - cầu thông qua hệ thốnggiá cả Doanh nghiệp muốn tồn tại phải tính toán các nguồn lực, tiết kiệm chi phí để cómức giá phù hợp
+) Chức năng thông tin: Thị trường sẽ hình thành nên hệ thống thông tin đachiều Hệ thống thông tin Marketing là hệ thống hoạt động thường xuyên của sự tươngtác giữa con người, thiết bị và phương tiện kỹ thuật dùng để thu thập, phân tích, đánhgiá và truyền đi những thông tin chính xác kịp thời và cần thiết để người phụ trách lĩnhvực Marketing sử dụng chúng với mục tiêu lập, tổ chức thực hiện, điều chỉnh kế hoạchMarketing và kiểm tra hiệu quả của hoạt động Marketing Chức năng này bao gồm:
Trang 11- Tổ chức hệ thống phương tiện thông tin phù hợp với điều kiện thị trường vànăng lực của doanh nghiệp.
- Tổ chức thu thập thông tin
- Tổ chức phân tích thông tin đã thu thập được
- Đánh giá kết quả thông tin và truyền thông [5]
Chợ đầu mối tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Trong một số trường hợp, nó
có thể là một khu vực nhỏ nơi thương nhân và nông dân tụ họp trong một vài giờ vàtheo định kỳ hoặc không theo định kỳ Trong một số trường hợp khác, chợ đầu mối cóthể là chợ phiên họp hàng tuần hoặc hai tuần một lần Chợ đầu mối thường phân bố tạikhu vực nông thôn Tuy nhiên, chợ đầu mối thường xuyên lại thường nằm ở các thịtrấn gần khu vực canh tác của người dân Trong trường hợp này, chợ đầu mối cũng cóchức năng của chợ bán buôn địa phương và thậm chí có chức năng của chợ bán lẻ
* Chợ bán buôn
Chợ bán buôn là nơi cung cấp hàng cho người bán lẻ và các nhà kinh doanh.Người nông dân cũng có thể tự đưa sản phẩm của mình tới chợ bán buôn Tuy nhiên,người cung cấp hàng chủ yếu thường là thương nhân Những thương nhân này muahàng từ nông dân hoặc từ những người buôn bán nhỏ Trong hầu hết các trường hợp,người bán buôn tại chợ này sẽ mua các sản phẩm nông nghiệp để bán cho người bán lẻ
Trang 12hoặc người bán buôn ở chợ khác Chợ bán buôn thường phân bố ở thị trấn và thànhphố.
Chợ bán buôn có ít nhất ba chức năng quan trọng Trước hết, nông dân vàthương nhân có thể đưa sản phẩm của mình tới một địa điểm Thứ hai, người bán lẻ cóthể mua một lượng lớn sản phẩm từ một địa điểm Cuối cùng, việc buôn bán mộtlượng hàng lớn tại một địa điểm sẽ khiến việc định giá của sản phẩm phù hợp với cácđiều kiện cung và cầu Nếu từng thương nhân bán hàng cho từng người bán lẻ thì giá
cả của cùng một hàng hóa sẽ rất khác nhau trong cùng một thị trấn hay một thành phố
* Chợ bán lẻ
Đây là nơi cung cấp hàng cho người tiêu dùng và các cơ sở kinh doanh nhỏ(nhà hàng, người bán dong) Các cơ sở kinh doanh lớn thường mua hàng từ các chợbán buôn hoặc trực tiếp từ nông dân Chợ bán lẻ có thể thấy ở vùng nông thôn cũngnhư thành thị Tại rất nhiều thôn có chợ bán lẻ Những chợ bán lẻ này có thể họp hàngngày hoặc vào một/vài ngày cố định trong tuần
Các chợ bán lẻ thông thường chỉ bán một lượng hàng nhỏ tới người tiêu dùngbởi người tiêu dùng có rất nhiều lựa chọn khác nhau để mua hàng Họ có thể mua từcác cửa hàng bán lẻ hoặc các siêu thị, cũng như từ các thương nhân hoặc chủ hãngkinh doanh hàng bằng xe tải, xe đạp hoặc quầy bán hàng rong
1.1.2.4 Các thành viên tham gia thị trường và Người trung gian
Những ai tham gia vào quá trình marketing của một sản phẩm, bao gồm cảngười sản xuất và người tiêu dùng, đều được gọi là các thành viên tham gia thị trường.Người trung gian là những người chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất (nông trại) đếnngười tiêu dùng cuối cùng Họ nối kết người sản xuất với người tiêu dùng Dưới đây
là đặc điểm của một số người trung gian thị trường quan trọng nhất ở Việt Nam:
* Người thu mua lưu động
Đây là những thương nhân nhỏ, rất lưu động và thường tới các làng quê haychợ nông thôn Họ mua hàng từ những hộ nông dân nhỏ, lẻ và bán cho người bánbuôn hoặc người bán lẻ tại địa bàn hoạt động của mình và đôi khi tại khu vực lân cận.Những người thu mua này hiếm khi bảo quản hàng hóa dài hơn vài ngày Họ là những
Trang 13thương nhân rất cơ hội và đa dạng Trong nhiều trường hợp họ kinh doanh cùng lúcnhiều mặt hàng nông sản khác nhau Sự tham gia của họ vào marketing trong nôngnghiệp thường mang tính mùa vụ Họ có thể tham gia vào các hoạt động canh tác hoặccác hoạt động khác Nguồn vốn của những người thu mua lưu động hạn chế, số lượnghàng buôn bán trong một thời điểm không lớn Họ sử dụng nhiều phương tiện vậnchuyển đơn giản như xe máy hoặc xe đạp
* Thương nhân đầu mối
Đôi khi những người này được gọi là người bán buôn sơ cấp Họ thường muahàng từ nông dân và của người thu mua lưu động rồi bán cho những người bán buônthứ cấp Chức năng chính của họ là thu thập hàng và bán cho những thương nhân lớnkhông có thời gian mua hàng từ người sản xuất và thu mua đơn lẻ Tuy nhiên, trongmột số trường hợp, họ cũng có thể cung cấp hàng cho những người bán buôn địaphương Những thương nhân đầu mối thường phân bố ở chợ nông thôn hoặc thị trấn
Họ có thể sở hữu hoặc thuê các phương tiện vận chuyển bằng ô tô và các cơ sở vậtchất có quy mô nhỏ để lưu hàng hóa
* Người bán buôn
Những người bán buôn có quy mô hoạt động khác nhau, tuy nhiên buôn bánmột số lượng hàng lớn hơn người thu mua và thương nhân đầu mối và thường thựchiện chức năng lưu kho Họ thường có hoặc thuê xe ô tô có trọng lượng trung bìnhhoặc lớn để vận chuyển nông sản và có hoặc thuê cơ sở lớn hoặc trung bình để lưuhàng đề phòng trường hợp tăng giá Những thương nhân này cung cấp hàng chủ yếucho các đầu mối bán lẻ hoặc người tiêu dùng Đôi khi họ mua hàng từ nông dân vàngười thu mua nhưng nguồn cung cấp hàng chủ yếu vẫn là thương nhân đầu mối vànhững người bán buôn khác Những người bán buôn thường bán hàng cho nhữngngười bán buôn khác và người bán lẻ
* Người bán lẻ
Vai trò chính của người bán lẻ là phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng Họmua sản phẩm và cung cấp cho người tiêu dùng bằng các hình thức và tại những thờiđiểm thuận lợi Những người bán lẻ rất khác nhau về quy mô và hình thức hoạt động
Trang 14Hệ thống các siêu thị là các công ty bán lẻ lớn và bán nhiều loại nông sản khác nhau.Ngược lại, những cửa hàng ở các thôn bản, thị trấn hoặc thành phố thường bán ít hànghơn và không có kho chứa hàng lớn Những người bán hàng rong và bán hàng trên hèphố thậm chí còn bán một lượng hàng nhỏ hơn rất nhiều Một số người bán lẻ chuyênbán một vài loại sản phẩm cụ thể trong khi một số người khác có các mặt hàng rất đadạng.
* Cơ sở chế biến
Cơ sở chế biến là những cá nhân hoặc công ty tham gia vào sự biến đổi cácngành hàng nông nghiệp, ví dụ như nhà máy xay xát gạo và nhà máy tinh bột sắn Cơ
sở chế biến có thể là một doanh nghiệp hộ gia đình nhỏ hoặc một công ty lớn Các cơ
sở này có thể áp dụng các phương pháp truyền thống, tốn nhiều công lao động và phân
bố ở nông thôn hoặc thành thị Những cơ sở sản xuất lớn thường có kho lớn chứanguyên liệu thô nhằm đảm bảo hoạt động chế biến liên tục và tận dụng tối đa các trangthiết bị trong thời kỳ trái vụ
1.1.2.5 Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là việc thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin, dữ liệu
về hệ thống marketing Thị trường luôn luôn thay đổi và phát triển, vì vậy, các hoạtđộng nghiên cứu thị trường cần được thực hiện một cách thường xuyên Cuốn sáchhướng dẫn này tập trung vào đánh giá nhanh về thị trường các nông sản Đánh giánhanh thị trường là một trong những công cụ nghiên cứu thị trường hiệu quả và được
sử dụng rộng rãi nhất [17]
Nghiên cứu thị trường có hai mục đích chính Mục đích thứ nhất là giúp các thànhviên thị trường (nông dân, doanh nghiệp, cơ sở chế biến) hiểu hiện trạng thị trường vàthích ứng chiến lược sản xuất và marketing nhằm cải thiện vị trí của họ trên thị trường Đểđạt được điều này, những hiểu biết về nhu cầu của khách hàng và đối thủ cạnh tranh là rấtcần thiết Các thành viên tham gia thị trường thường tự thực hiện hoặc thuê các công ty tưvấn đặc biệt thực hiện loại nghiên cứu có mục đích này Cán bộ khuyến nông lâm hoặccác tổ chức phát triển làm việc với nông dân nghèo cũng có thể thực hiện loại nghiên cứunày nhằm giúp nhà sản xuất tăng cường tiếp cận thị trường
Trang 15Ngoài ra, nghiên cứu thị trường có thể được tiến hành để hướng các can thiệpvào mục tiêu cải tiến sự hiệu quả của các hệ thống marketing và tạo lợi ích cho cácthành viên tham gia khác nhau Loại nghiên cứu này có thể được thực hiện bởi nhiều
cơ quan/tổ chức bao gồm cả nhà tài trợ, các bộ ngành của chính phủ, các cục vụ thuộccác bộ, các tổ chức phi chính phủ và các dự án phát triển Trọng tâm của các hoạt độngnghiên cứu thị trường có mục đích này phụ thuộc vào mục tiêu và chức năng nhiệm vụcủa các đơn vị/tổ chức Tuy nhiên, các hoạt động nghiên cứu thị trường đó đều phảinhấn mạnh việc tìm hiểu các cản trở, khó khăn cũng như các cơ hội cho can thiệp.1.1.2.6 Khái niệm chuỗi thị trường
Chuỗi thị trường là thuật ngữ dùng để mô tả nhiều kênh thị trường thông qua đó mộtsản phẩm hoặc dịch vụ được chuyển tới người tiêu dùng.Nông sản có xu hướng đượctrao tay vài lần qua nhiều giai đoạn khác nhau trước khi tiêu thụ [17]
1.1.3 Kênh phân phối và các loại kênh phân phối
a) Cấu trúc kênh phân phối
Các tổ chức và cá nhân tham gia vào kênh phân phối với những cách thức liên kếtkhác nhau hình thành nên những cấu trúc kênh khác nhau Cấu trúc kênh phân phốiđược xác định qua chiều dài và bề rộng của hệ thống kênh
Chiều dài của kênh phân phối được xác định bởi số cấp độ trung gian trong kênh.Trong hệ thống phân phối hàng tiêu dùng thường có 4 kênh với các cấp độ trung giankhác nhau
Bề rộng của kênh đó là sự bao phủ thị trường của các kênh phân phối, nó được biểuhiện số lượng trung gian ở mỗi cấp độ trong kênh phân phối Số lượng trung giannhiều hay ít phụ thuộc vào việc lựa chọn phương thức phân phối Thường có 3 phươngthức phân phối cơ bản:
- Phương thức phân phối rộng rãi: Thường có số lượng trung gian nhiều, trongtrường hợp này doanh nghiệp muốn đưa sản phẩm tới càng nhiều người bán lẻ càngtốt, thực hiện chiến lược bao phủ thị trường
- Phương thức phân phối độc quyền là phương thức phân phối ngược với phân phốirộng rãi, trên mỗi khu vực thị trường chỉ chọn một trung gian duy nhất Phương thức
Trang 16phân phối này thường áp dụng cho loại hàng độc quyền, phương thức này người sảnxuất mong muốn người bán tích cực hơn, đồng thời kiểm soát dễ dàng thay đổi vớingười trung gian.
- Phương thức phân phối chọn lọc nằm giữa phân phối trung gian và phân phối độcquyền có nghĩa là nhà sản xuất chỉ chọn một số trung gian tiêu biểu trong mỗi cấp độkênh phân phối ở từng khu vực thị trường, tạo ra các kênh phân phối có chất lượng vàhiệu quả
b) Các loại kênh phân phối
Kênh phân phối bao gồm nhiều thành viên tham gia, các thành viên thực hiệncác kiểu liên kết khác nhau tạo ra các cấp độ kênh khác nhau Các thành viên này hoạtđộng độc lập với nhau với mục đích tối đa hoá lợi nhuận của mình, cho dù hoạt độngnày có thể là giảm lợi nhuận của các bộ phận khác trong hệ thống kênh Không mộtthành viên nào có thể kiểm soát hành vi của các bộ phận khác cũng như không có ràngbuộc nào về vai trò, trách nhiệm trong việc xử lý các tranh chấp trong quá trình phânphối Mô hình kênh phân phối này cho ở hình sau:
Hình 1.2 Kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng
Trung gian phân phối
Trang 17Trong hệ thống kênh phân phối ở sơ đồ trên có mấy điểm đáng chú ý:
+ Một là: Tuỳ theo trình độ chuyên môn hoá, quy mô sản xuất và mức độ gắnkết với thị trường mà các kênh phân phối được tổ chức dài hay ngắn Các kênh kênhngắn, chủ yếu hoạt động ở thị trường nông thôn Các kênh khác dài hơn thường đápứng cho người tiêu dùng thành phố Đối với các kênh phục vụ xuất khẩu thường được
tổ chức dài hơn mới đến được tay người tiêu dùng nước ngoài
+ Hai là: Ngoài kênh trực tiếp thì các kênh còn lại đều phải trải qua nhiều trunggian, trung gian đầu tiên là người thu gom hoặc người chế biến nhưng có chức năngthu mua Đặc trưng này là do sản phẩm nông nghiệp thường sản xuất nhỏ lẻ phân tán,đặc biệt đối với những nước sản xuất nông nghiệp chưa phát triển mạnh như nước ta
+ Ba là: Người nông dân với tư cách là người sản xuất ở đầu kênh nhưng khôngphải là chủ kênh phân phối nên họ thường chỉ quan tâm tới tác nhân trung gian đầutiên trực tiếp quan hệ với họ Họ đòi hỏi những người trung gian quan hệ phải lànhững người kinh doanh mua bán rõ ràng, mua hàng nhiều, lấy hàng nhanh, đúng hẹn,giá cả công khai, thanh toán sòng phẳng, có sự hỗ trợ về công nghệ và tài chính
Ngày nay, với phương thức liên kết, thông qua ký kết các hợp đồng trách nhiệmgiữa nhà khoa học - nhà nông - doanh nghiệp - các nhà phân phối và có vai trò củaNhà nước đang thực sự có vai trò to lớn trong giải quyết vấn đề phân phối sản phẩmnông nghiệp đến tay người tiêu dùng hiệu quả đảm bảo giải quyết lợi ích hài hoà củamọi thành viên trong kênh
1.1.4.Những đặc điểm chính của thị trường nông nghiệp Việt Nam
Cũng như ở nhiều nước đang phát triển khác, thị trường nông nghiệp ở ViệtNam rất khác biệt so với thị trường của dịch vụ và sản phẩm công nghiệp do đặc trưngcủa sản xuất nông nghiệp và những đặc điểm riêng của các sản phẩm nông nghiệp.Những ai tham gia vào đánh giá thị trường trong nông nghiệp cần hiểu rõ về các đặctrưng này [17]
1.1.4.1 Giá cả dễ biến động trong thời gian ngắn
Giá của các nông sản có thể thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòng một tuần
và thậm chí một ngày Sự biến đổi giá nhanh chóng thường do sự phối hơp kém giữa
Trang 18cung và cầu Những thất bại trong điều phối có thể có tác động mạnh tới giá của cácmặt hàng dễ hỏng như hoa quả và rau, sắn và cá tươi Những nông sản này không thểbảo quản lâu và phải bán đi nhanh chóng Do đó, giá của những nông sản đó có xuhướng giảm nhiều vào cuối thời điểm buôn bán hoặc khi có một lượng hàng lớn độtngột xâm nhập làm cung vượt quá cầu thị trường.
1.1.4.2 Tính mùa vụ
Nguồn cung của thị trường nông nghiệp thường chỉ tập trung vào vụ thu hoạch
và tiếp sau vụ thu hoạch từ một đến hai tháng khiến cho giá của sản phẩm trong giaiđoạn này thấp và sau đó tăng lên đáng kể cho tới vụ thu hoạch tiếp theo Tuy nhiên,cần lưu ý rằng tính mùa vụ của nguồn cung là khác nhau đối với các nông sản khácnhau Nhiếu yếu tố/biện pháp có thể đóng góp vào việc ổn định nguồn cung, từ đó cóthể làm giảm tính mùa vụ Kéo dài và tạo ra nhiều vụ thu hoạch, đa dạng lịch thuhoạch trong phạm vi cả nước, nhập khẩu từ nước ngoài trong thời điểm trái vụ và lưukho là những yếu tố/biện pháp quan trọng nhất
Phía cầu cũng có tính mùa vụ, mặc dù trường hợp này ít xảy ra hơn so với nguồn cung.Tiêu thụ và giá của một số nông sản cụ thể có xu hướng tăng lên trong dịp lễ tết donhu cầu tiêu dùng của các mặt hàng này tăng
1.1.4.3 Sự biến đổi về giá giữa các năm cao
Giá các mặt hàng nông nghiệp cũng có thể thay đổi đáng kể giữa các năm.Điều kiện tự nhiên (như thời tiết, sâu hại và dịch bệnh) là những nguyên nhân chínhcủa sự biến đổi giá này do sự tác động của chúng tới nguồn cung Ví dụ, thiên tai, sâuhại hay dịch bệnh có thể ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và dẫn đến sự giatăng về giá Ngược lại, điều kiện thời tiết thuận lợi có thể có tác động tích cực tới mức
độ sản xuất và khiến cho hàng hóa nông nghiệp tràn ngập thị trường
Sự phản ứng của nông dân đối với những hiện tượng trên làm giá cả biến độngtrầm trọng hơn Người nông dân có thể phản ứng với sự tăng giá của một số ngànhhàng cụ thể bằng cách mở rộng diện tích canh tác và thâm canh sản xuất trong vụ tiếptheo dẫn tới có quá nhiều cung và giá thấp trong thời điểm thu hoạch Tình trạng
Trang 19ngược lại có thể xảy ra, người nông dân hạn chế sản xuất trong vụ tiếp theo khi giá sảnphẩm bị hạ thấp.
1.1.4.4 Rủi ro cao
Tính rủi ro cao là một đặc trưng của thị trường nông nghiệp Biến động giá làmột nguyên nhân chính của sự rủi ro Người sản xuất có thể thấy rằng giá thị trườngvào thời điểm thu hoạch không đủ chi trả cho các chi phí sản xuất trong khi các thươngnhân không thể kiếm lời từ công việc buôn bán của mình
Sản phẩm bị thối, hỏng cũng là một rủi ro Sản phẩm nông nghiệp có thể chịuảnh hưởng của sâu bệnh, bị dập nát hoặc giảm giá trị trong quá trình vận chuyển, lưukho, mua bán, khiến người nông dân và thương nhân bị thua lỗ.Một rủi ro khác mà cácthương nhân thường phải gánh chịu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, là sảnphẩm mua vào có thể lẫn tạp chất như cát hoặc sỏi Việc bán các nông sản có lẫn cát,sỏi, các tạp chất khác là một điều không phải hiếm
1.1.4.5 Chi phí giao dịch và marketing cao
Giá do người sử dụng cuối cùng và người tiêu dùng phải trả thường cao hơn rấtnhiều so với giá ban đầu của sản phẩm mà người sản xuất bán ra, dẫn đến kết luậnrằng các thương nhân đã khai thác từ người sản xuất Tuy nhiên, chi phí marketing vàcác rủi ro thường là cách giải thích xác đáng hơn cho sự khác biệt đáng kể giữa giá bán
ra của người sản xuất và giá mà người tiêu dùng phải trả
Tập hợp, thu mua các sản phẩm nông nghiệp từ những nông dân ở vùng sâu, xa,sản xuất nhỏ lẻ thường tốn nhiều chi phí Hơn nữa, các sản phẩm nông nghiệp thườngphải vận chuyển qua quãng đường dài, trên những con đường chất lượng kém trướckhi đến tay người tiêu dùng Cùng với quá trình vận chuyển, các sản phẩm cần đượclàm sạch, phơi/sấy khô, phân loại, đóng gói và quảng cáo để người tiêu dùng có thểchấp nhận Đôi khi, một số hình thức chế biến phức tạp cần áp dụng và đòi hỏi thêmchi phí đáng kể Sản phẩm bị thối, hỏng là trường hợp phổ biến Bảo quản và lưu khocũng là một hoạt động làm tăng chi phí cho thương nhân và nhà chế biến Cuối cùng,tất cả các trung gian thị trường này cần tiền công lao động và tạo ra lợi nhuận từ hoạtđộng của họ
Trang 201.1.4.6 Thông tin không đầy đủ
Tiếp cận thông tin thị trường yếu kém là một nguyên nhân quan trọng của thịtrường nông nghiệp không hiệu quả Kiến thức và hiểu biết không đầy đủ về thị trườngcủa người nông dân hạn chế khả năng hướng tới các cơ hội có lợi, đáp ứng các yêu cầucủa khách hàng và đàm phán được mức giá hợp lý Thương nhân và các nhà chế biếncũng có thể thiếu tiếp cận các thông tin quan trọng, vì vậy, không có khả năng điềuchỉnh để thích ứng với môi trường kinh doanh thay đổi Nói một cách tổng quát hơn,thiếu thông tin dẫn tới chi phí tiếp thị và rủi ro cao và dẫn đến phối hợp không tốt giữacung và cầu
1.1.4.7 Độ co giãn theo giá cả của cung thấp
Nói chung, nguồn cung của các nông sản không phản ứng nhanh với giá cả, ítnhất trong ngắn hạn Nói cách khác, người nông dân cần nhiều thời gian để điều chỉnhsản xuất để đáp ứng với sự thay đổi về giá
Ví dụ, nếu giá của một nông sản cụ thể giảm xuống sau khi loại cây trồng đó đãđược gieo trồng, nông dân sẽ không thể giảm diện tích gieo trồng được Sự lựa chọnduy nhất của họ là cắt giảm việc sử dụng các đầu vào (phân, thuốc trừ sâu, v.v…).Hoặc khi giá sản phẩm đang tăng nhưng người dân lại phải đợi đến thời điểm phù hợp
để gieo trồng loại cây trồng đó Ngoài ra, còn cần thời gian để cây trồng đó trưởngthành, sẵn sàng cho thu hoạch Người sản xuất có thể có ít lao động và đất canh tác,thiếu tiếp cận kỹ thuật (giống mới, tưới tiêu, phân bón) để có thể mở rộng canh tác
1.1.4.8 Độ co giãn theo giá cả của cầu cao
Không giống với phía cung, phía cầu của hầu hết các nông sản đều rất nhạycảm với sự thay đổi về giá cả Người sử dụng cuối cùng và người tiêu dùng có nhiềulựa chọn sản phẩm khác, vì thế họ có thể chuyển hướng tiêu dùng sang các sản phẩmthay thế khi giá của một sản phẩm tăng Ví dụ, khi giá bông tăng, công ty may mặc cóthể tăng sản xuất quần áo được làm từ vật liệu tổng hợp và giảm bớt sản phẩm đượclàm từ bông Khi giá cà phê tăng, người tiêu dùng có thể chuyển sang dùng chè hoặccác đồ uống khác
Trang 211.1.4.9 Giảm giá thực tế trong dài hạn
Theo kết quả phân tích về xu hướng thị trường dài hạn của các mặt hàng nôngsản cho thấy có sự sụt giảm đều đặn về giá cả thực tế của các mặt hàng này và sự sụtgiảm về giá trị những mặt hàng đó có liên quan tới sự sụt giảm các mặt hàng và dịch
vụ công nghiệp Một trong những nguyên nhân chính ẩn sau sự sụt giảm về giá cả thực
tế và giá tương đối là do tính co giãn theo thu nhập của cầu đối với các sản phẩm nôngnghiệp thấp Khi thu nhập thực tế tăng lên, sự tiêu thụ hàng hóa công nghiệp và cácdịch vụ sẽ tăng lên nhanh hơn rất nhiều so với nhu cầu về nông sản Tuy nhiên, cầnlưu ý rằng giá cả và nhu cầu trong dài hạn có xu hướng biến đổi lớn đối với tất cả cácloại nông sản Ví dụ, thịt, cá, trứng, sữa, hoa quả, rau, thực phẩm sạch và cây thuốc sẽ
có triển vọng tốt về thị trường nội địa và quốc tế Ngược lại, nhu cầu trong tương laicủa các lương thực chính và các ngành hàng xuất khẩu truyền thống gần như sẽ khôngthể mở rộng nhiều mà thậm chí còn có thể suy giảm
1.2.Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Sản xuất lạc được phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp ở ViệtNam Diện tích lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm (đay, cói,thuốc lá, mía, đậu tương, lạc) Tuy nhiên, đã hình thành 6 vùng sản xuất chính nhưsau:- Vùng Đồng bằng sông Hồng, lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh: Hà Nội, VĩnhPhúc, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình với diện tích 31.400 ha, chiếm 29,3%
- Vùng Đông Bắc, lạc đựoc trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyênvới diện tích 31.000 ha chiếm 28,9%
- Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ là vùng trọng điểm lạc của các tỉnh phía Bắcvới 74.000 ha (chiếm 30,5%) chủ yếu tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá (16.800 ha),Nghệ An (22.600 ha), Hà Tĩnh (19.900)
- Vùng duyên hải Nam Trung Bộ với diện tích trồng 23.100 ha (chiếm 9,5%) vàđược trồng tập trung ở hai tỉnh Quảng Nam, Bình Định
- Vùng Tây Nguyên, diện tích trồng lạc 22.900 (chiếm 9,4%) chủ yếu ở tỉnhĐắc Lắc (18.200ha)
Trang 22- Vùng Đông Nam Bộ lạc được trồng tập trung ở các tỉnh Tây Ninh, NinhThuận, Bình Dương với diện tích 42.000 ha.
Trong vòng 10 năm qua, sản xuất lạc ở Việt Nam đã có những bước chuyểnbiến tích cực về năng suất và sản lượng nhưng diện tích trồng tăng chậm và có những
năm giảm (Niên giám thống kê 2003 và USDA, 5/2008).
Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở phía Nam Tuy nhiên,bước đầu đã có một số tỉnh đạt năng suất lạc bình quân cao như: Nam Định 37,7 tạ /hanhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật che phủ nilon; Hưng Yên 27,7 tạ/ha, Thành phố
Hồ Chí Minh 28,7 tạ/ha; Trà Vinh 28,8 tạ/ha; Khánh Hoà 26,0 tạ/ha
Mặc dù trong vòng 10 năm trở lại đây, năng suất lạc bình quân của Việt Nam
có cải thiện, song nếu đem so sánh với một số nước trong khu vực và đặc biệt là nướcTrung Quốc láng giềng có điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác gần giống Việt Namthì năng suất lạc Việt Nam mới bằng 58,2% năng suất của Trung Quốc
1.2.2 Thị trường tiêu thụ lạc ở Việt Nam
Trong những năm qua thị trường sản phẩm lạc diễn biến phức tạp Giá lạc giaiđoạn 2005 - 2006 tăng dần và ổn định Năm 2007 giá lạc không cao nhưng ổn định vàmức chênh lệch giữa các thời điểm trong năm không đáng kể Đầu vụ 12.000 –
13.000đ/kg lạc nhân đến cuối vụ vẫn giữ được mức giá 12.000đ/kg lạc nhân ( Nguồn: tạp chí sản xuất và thị trường) Bước sang năm 2008, giá lạc tăng lên gần gấp đôi so
với cùng thời điểm 2007 Đầu tháng 5/2008 giá lạc nhân lên tới 23.000 - 24.000đ/kg,rồi giảm dần Thị trường xuất khẩu lạc của Việt Nam là một số nước trong khu vựcnhư Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Inđônêxia, trong đó khách hàng lớn nhất là TrungQuốc Và đây cũng là thị trường mà sản phẩm lạc Việt Nam phụ thuộc lớn nhất Hàngnăm lượng sản phẩm lạc xuất khẩu sang các nước khác là tương đối lớn Tuy nhiên, dochưa có một cơ quan nhà nước quản lý trực tiếp nên lượng sản phẩm này chủ yếu xuấtkhẩu ra nước ngoài theo đường tiểu ngạch Với kiểu kinh doanh làm ăn buôn bán nhỏcủa các tư nhân mà chủ yếu là các tư thương theo kiểu “mạnh ai nấy làm” đang bộc lộnhững tồn tại nhất định
Trang 23Trong những năm qua thị trường nông sản thế giới biến động nên thị trường lạccũng không nằm ngoài quy luật đó Giá cả bấp bênh làm cho cả người sản xuất vàngười kinh doanh lạc lao đao Cũng như những năm trước đây 3 năm 2007 - 2009 hoạtđộng kinh doanh tiêu thụ lạc trên địa bàn xã vẫn diễn ra nhưng ảm đạm hơn so vớinhững năm trước
Vậy nguyên nhân là do đâu? Thực trạng của thị trường lạc ở Diễn Châu trongnhững năm qua như thế nào? Đó là những câu hỏi mà chúng tôi băn khoăn Và muốnphần nào làm rõ để từ đó có một cái nhìn khái quát về thị trường lạc trên đại bànnghiên cứu và đưa ra một số giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất, tiêu thụ lạc của địaphương
1.3 Những vấn đề còn tồn tại , những vấn đề mà đề tài tập trung nghên cứu
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình khoa học nhiên cứu về Cây lạc nóichung và cây lạc trên địa bàn xã Diễn Thịnh nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứuđặc điểm sinh học, tình hình sâu bệnh hại và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất củacây lạc Đó là các khoá luận tốt nghiệp Đại học và một số luận văn tốt nghiệp Thạc Sỹ.Những nghiên cứu về thị trường tiêu thụ sản phẩm lạc trên địa bàn thì còn rất hạn chế
Để góp phần bổ sung phần còn thiếu đó đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề vềtình hình hoạt động tiêu thụ lạc, sự biến động giá cả và chuỗi thị trường tiêu thụ sảnphẩm lạc trên địa bàn xã Diễn Thịnh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An từ 2007 –4/2009
Trang 24Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ 16/2/2009 – 20/4/2009
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Diễn Thịnh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An.Tậptrung nghiên cứu ở một số xóm: X13, X12, X3, X1, X11, X14, X9
2.2.Vật liệu nghiên cứu
- Phiếu điều tra nông hộ (phụ lục)
- Máy ảnh, máy tính xử lý số liệu
- Các báo cáo hàng tháng, hàng quý, hàng năm về tình hình sản xuất và tiêu thụ lạccủa huyện Diễn Châu, xã Diễn Thịnh
- Một số tạp chí về thị trường nông sản
2.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Tiêu chí chọn điểm và mẫu nghiên cứu.
Điểm nghiên cứu là xã Diễn Thịnh - là địa phương có diện tích trồng lạc lớnnhất của cả huyện và đây cũng là nơi có nghề kinh doanh, chế biến tiêu thụ lạc lớn củahuyện
Mẫu nghiên cứu là gồm 3 nhóm hộ thuộc điểm nghiên cứu: hộ sản xuất lạc, hộvừa sản xuất vừa kinh doanh lạc (hộ kiêm) và hộ chỉ hoạt động kinh doanh lạc gồmcác tư thương và doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn xã
Với các yêu cầu và tiêu chí trên chúng tôi nghiên cứu 30 hộ trong đó: 10 hộ sảnxuất, 5 kinh doanh, 15 kiêm bằng cách rút thăm ngẫu nhiên các hộ thuộc các nhóm hộtheo danh sách của xã để đảm bảo tính đại diện và khách quan
2.3.2 Nguồn số liệu
2.3.2.1 Nguồn số liệu thứ cấp
Chúng tôi thu thập số liệu qua đài, báo, tạp chí, trang wed, các báo cáo hàngtháng, hàng quý, hàng năm của xã, huyện, tỉnh về diện tích sản lượng năng suất lạc và
Trang 25các ghi chép hạch toán kinh doanh bằng tay của các hộ và cơ sở kinh doanh trên địabàn xã.
2.3.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp
- Điều tra hộ bằng bảng hỏi
2.3.3.Phương pháp thu thập số liệu
Để có được nguồn số liệu sơ cấp đảm bảo tính trung thực và khoa học về đầu tưchi phí sản xuất, năng suất, sản lượng,tình hình tiêu thụ lạc,hoạt động của cá thànhviên tham gia vào thị trường lạc chúng tôi tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp hộsản xuất, hộ kinh doanh, hộ kiêm bằng bảng hỏi theo mẫu và phỏng vấn sâu bằng cáccâu hỏi mở cụ thể như sau:
- Điều tra kinh tế hộ bằng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi để tìm hiểu vềtình hình nhân khẩu, lao động, thu nhập,đầu tư cho sản xuất lạc để nắm rõ tình hình sửdụnh lao động,thu nhập của hộ, thu nhập từ sản xuất lạc và mức độ đầu tư cho sản xuấtlạc, lãi từ sản xuất lạc/vụ
- Để điều tra về hoạt đông kinh doanh lạc trên địa bàn chúng tôi tiến hành điềutra phỏng vấn các nhóm hộ gồm: hộ sản xuất, hộ vừa sản xuất vừa tham gia tiêu thụlạc (hộ kiêm), hộ kinh doanh với quy mô lớn, nhỏ khác nhau Bằng phương phápphỏng vấn cáu trúc và bán cấu trúc, để thu thập thông tin về định lượng và định tính,xác định sự biến động giá cả của thị trưòng lạc.Các kênh tiêu thụ lạc và hoạt động củachuỗi thị trường sản phẩm lạc trên địa bàn nghiên cứu từ 2007 – 4/2009
Các số liệu sơ cấp và thứ cấp thu được xử lý bằng nhiều phương pháp:
Sửdụng phần mềm Exel 2003, Spss, máy tính bỏ túi,…
- Tính lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên các công thức
+ GT = Q x P Trong đó : Q là tổng sản lượng thu được
Trang 26: P là giá bán sản phẩm
+ TN sx lạc = GT sx lạc –CP sx lạc
+ CP sx lạc = CP vật tư + CP nhân công
+ % TN từ sx lạc = TN từ sx lạc/tổng TN hỗn hợp của hộ
- Hạch toán kinh tế của hộ tiêu thụ lạc
+ Lãi = GT bán ra – CP trung gian – GT mua vào
+ GT mua vào = Q mua vào x P mua vào (ở thời điểm đó)
+ GT bán ra = Q bán ra x P bán ra (ở thời điểm đó)
+ CP trung gian = CP vận chuyển + CP sơ chế + thuế
2.3.4.2 Phân tích định tính
- Phương pháp thống kê mô tả:
Phân tích mô tả hiện tượng trên cơ sở tư liệu đã được xử lý để rút ra các kết luận cầnthiết
Trang 273.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Diễn Thịnh là một xã đồng bằng ven biển phía Đông Bắc huyện Diễn Châu, phíađông giáp biển Đông, Phía nam giáp Diễn An, phía tây giáp Diễn Lộc, phía bắc giápDiễn Thành, lại nằm trên quốc lộ 1A nên rất thuận lợi cho việc tiêu thụ và chế biến cácsản phẩm từ lạc Tạo điều kiện phát triển lạc hàng hoá
a) Khí hậu - thuỷ văn
Diễn Châu nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với mộtmùa nóng ấm, lượng mưa lớn (từ tháng 4 đến tháng 10) và một mùa đông lạnh ít mưa(từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
Diễn Châu có lượng mưa bình quân 1690 mm/năm nhưng phân bố không đều: Thời
kỳ mưa ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chi chiếm khoảng 11% lượngmưa cả năm Ngược lại, từ tháng 4 đến tháng 10 lượng mưa chiếm tới 88% lượngmưa cả năm, tâpj trung vào các tháng 8, 9, 10 dễ gây ngập úng ở các vùng trũng thấpven biển của huyện
Do lượng mưa bình quân hàng năm lớn nên độ ẩm bình quân tương đối cao, trungbình từ 75 - 80% Nhiệt dodọ trung bình hằng năm trên toàn huyện là 25,30C, cao nhất
là 410C, thấp nhất là 60C
b) Sông ngòi - kênh rạch
Trên đại bàn huyện Diễn Châu có con kênh Nhà Lê và các khe lạch nhỏ, hệ thốngsông suối có nước quanh năm, các sông suối chảy qua các vùng nhưng thường uốnkhúc và ngắn Ngoài ra, còn có con sông bùng chảy từ Tây sang Đông với độ dài 13
km đổ ra biển Do vậy, trong mùa mưa nước thường tập trung nhanh và thoát chậm dễgây úng cho các khu thấp trũng ven sông, ảnh hưởng đến sản xuất Vào mùa khô, mựcnước thấp dễ nhiễm mặn
c) Đất đai và tình hình sử dụng đất của xã Diễn Thịnh
Trang 29Qua bảng nhận thấy: Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 795,61 ha trong đó diệntích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất và có xu hướng giảm dần Năm 2006, diệntích đất nông nghiệp chiếm 76,29% tổng diện tích đất tự nhiên, đến năm 2007 chỉ còn76,07% (giảm 0,95 ha) Năm 2008, chỉ còn 604,5 ha chiếm 75,98% diên tích đất tựnhiên Trong 3 năm (2006 - 2008) diện tích đất nông nghiệp giảm 2,5 ha Bình quân 3năm diện tích đất nông nghiệp giảm 0,25%.
Trong khi diện tích đất nông nghiệp giảm thì diện tích đất chuyên dùng lại tăng Từ149,95 ha (2006) lên 151,25 ha (2007) và 153,00 ha(2008) Đặc biệt trong diện tíchđất chuyên dùng thì diện tích đất dành cho giao thông chiếm diện tích và tỷ lệ lớn nhất
và có xu hướng tăng Năm 2006 là 59,35 ha chiếm 39,5% thì đến 2008 là 60,15 hachiếm …% BQ 3 năm tăng 0,64% Để thấy được địa phương đã chú trọng đầu tư chogiao thông để phát triển sản xuất và giao lưu buôn bán Bên cạnh đó, DT đất thổ cưcũng tăng do sức ép dân số và nhu cầu nhà ở Năm 2006, DT đất thổ cư là 50,93 hachiếm 33,97% tổng DT đất chuyên dùng đến năm 2008 là 52,8 ha chiếm 34,51% tổng
DT đất chuyên dùng BQ 3 năm đất thổ cư tăng 1,93%
Chính vì vậy, mà diện tích bình quân đất NN/khẩu giảm Năm 2006, DT bình quânđất nông nghiệp/khẩu là 0,0491 ha/khẩu sang năm 2007 là 0,0487 ha/khẩu (giảm0,0004 ha/khẩu), đến 2008 chỉ còn 0,0477 ha/khẩu Bình quân 3 năm DT đất NN/ khẩugiảm 1,435% là một con số đáng kể Cùng với bình quân đất NN/khẩu thì DT đất NNbình quân/LĐ; BQ đất NN/hộ…cũng giảm Bình quân 3 năm tương ứng là 3,825%;3,175%; 1,665% Diện tích đất chưa sử dụng của xã còn nhiều Năm 2006: 38,68 hachiếm 4,86%; 2007 là 360 ha chiếm 4,6%; năm 2008 là 38,11 ha chiếm 4,79% Bìnhquân 3 năm DT đất chưa sử dụng giảm 0,425% Đây là diện tích đất mà địa phươngcần huy động sức người, sức của để khai thác, cải tạo thành đất sử dụng được để tăngdiện tích đất nông nghiệp Còn DT đất lâm nghiệp giảm 61,36 ha (2006) xuống còn59,28 ha (2008) do cùng đất cát ven biển được chuyển sang trồng cây khác như: dâutằm, khoai, lạc…
Trang 30Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của xã Diễn Thịnh
tính
Sốlượng
Cơ cấu(%)
Sốlượng
Cơ cấu(%)
Sốlượng
Trang 31Dựa vào bảng nhận thấy: Tổng số nhân khẩu tăng Từ 2006 - 2008 tăng từ 12.360lên 12.664 (tăng 304 khẩu) Tốc độ tăng bình quân là 1,23%.Số lao động cũng tăng từ5.200 (2006) lên 5.600 (2008), tốc độ tăng BQ là 3,79% Trong cơ cấu lao động thì laođộng nông nghiệp giảm dần và tăng lao động phi nông nghiệp Năm 2006 số lao độngphi nông nghiệp chỉ có 1.677 lao động, thì năm 2008 tăng lên 2.035 người Sự chuyểndịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp phù hợp với xu thế phát triển Hơnnữa, trên đại bàn xã số hộ chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang hoạt động thương mạidịch vụ ngày càng nhiều, biểu hiện số hộ nông nghiệp giảm dần, số hộ phi nôngnghiệp tăng, hộ kiêm tăng Năm 2006 số hộ phi nông nghiệp là 133 đến năm 2008 tănggần gấp đôi 265 hộ Tốc độ tăng BQ là 44,94%.BQ khẩu/hộ giảm, BQ lao động/hộgiảm, BQ lao động nông nghiệp/hộ nông nghiệp giảm.
* Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thônphát triển đặc biệt là trong quá trình hội nhập Xác định được tầm quan trọng của vấn
đề này trong những năm gần đây Diễn Châu đã có sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng:
- Về hệ thống giao thông: Với vị trí địa lý thuận lợi, Diễn Châu được xem là địa bàn có
hệ thống giao thông thuận lợi nhất mà không phải địa phương nào cũng có được Trênđịa bàn huyện chạy dọc từ Bắc vào Nam là 35 km đường quốc lộ 1A, 35 km đườngsắt với hai trạm là Yên Lý và Mỹ Lý Theo chiều từ Đông sang Tây là 2 quốc lộ 7 và
48, nối các huyện miền núi Phía Tây Nghệ An với các huyện đồng bằng và thông sangnước bạn Lào Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho Diễn Châu trong việc giao lưukinh tế, văn hoá Và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi buôn bán nông sản,trong đó có lạc với các tỉnh như: Hà Nội, Sài Gòn, Lạng Sơn, Hải Phòng và xuất khẩusang Trung Quốc Ngoài ra, hệ thống giao thông nội vùng từ năm 2000 đến nay càngđược sự quan tâm và hoàn thiện, với phong trào bê tông, nhựa hoá các tuyến đườngliên thôn, liên xã Đến nay toàn huyện đã có mạng lưới giao thông phát triển và phân
bố khá đồng đều giữa các xã, 100% xã có đường nhựa, bê tông kiến cố Như xã DiễnThịnh tất cả các tuyến đường lớn giữa các xóm đều được nhựa hoá, bê tông hoá nênviệc đi lại, vận chuyển hàng hoá rất dễ dàng, ôtô có thể đến tận ngõ
Trang 32- Thông tin liên lạc: Từ lâu 100% các xã trong huyện đã có điện thoại và ngày càngphổ biến rộng rãi trong dân cư Những năm gần đây sự bùng nổ Internet và điện thoại
di động có tác dụng rất lớn trong việc tiếp cận thông tin và mở rộng dân trí cho ngườidân Hầu hết các hộ dân đều sử dụng điện thoại, các thành viên tham gia vào việc tiêuthụ lạc còn sử dụng điện thoại di động làm phương tiện cung cấp thông tin cho nhau đểnắm tình hình giá cả thị trường và mua bán với đối tác làm ăn qua điện thoại Ngoài ra
hệ thông thông tin công cộng cũng được quan tâm
- Hệ thống thủy lợi cũng được chú trọng với phong trào bê tông hóa kênh mương.Cùng với công trình tưới tiêu củac ác dự án cánh đồng 50 triệu/ ha, 80 triệu/ha đã phầnnào giải quyết vấn đề tươí vào mùa hè, tiêu vào mùa mưa góp phần nâng cao năng suấtcây trồng
- Kỹ thuật: Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọt, đưa các giốngmới vào sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, đặc biệt là cuộc cách mạngtrắng - phủ nilon đã làm cho sản lượng cây lạc tăng lên gấp đôi, gấp 3 so với trước đây
là thành quả phải được ghi nhận Bên cạnh đó việc đưa các loại máy móc vào việc sơchế sản phẩm lạc: máy sấy, máy xay phân loại, quạt gió, máy điều chỉnh độ ẩm đểnâng cao chất lượng hàng hoá, sản phẩm lạc góp phần tăng giá thành cho lạc, đã được
áp dụng rộng rãi trên điạ bàn xã ở các hộ kinh doanh chế biến, thu mua
Qua đó nhận thấy, huyện Diễn Châu nói chung và xã Diễn Thịnh nói riêng có nhiềuđiêù kiện thuận lợi để phát triển kinh tế hàng hóa, dịch vụ và đó là những lợi thế địaphương nên tận dụng và phát huy
3.1.3 Một số kết quả sản xuất kinh doanh trên địa bàn nghiên cứu
Trang 33Tổng giá trị sản xuất 64.300 10,00 102.980 100,00 159.842 100,00 160,2 155,22 157,711.1 Giá trị sx NN 36.600 56,92 47.980 46,59 117.842 73,72 131,03 245,6 188,32
Trang 34Qua bảng thấy: Trong 3 năm giá trị sản xuất liên tục tăng cao Năm 2006 giá trị
SX chỉ đạt 64.300 triệu đồng, đến năm 2008 giá trị sản xuất đạt 159.842 triệu đồngtăng gần 2,5 lần Là do gia trị được tính ở mức giá khác nhau Năm 2008 đến nay giá
cả các mặt hàng tăng.Về tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao ở tất cả các lĩnh vực.Năm 2007 so với 2006 tăng 60,2%, sang năm 2008 tốc độ tăng trưởng giảm Năm
2008 so với năm 2007 tăng 55,22% nhưng bình quân cả 2 năm vẫn tăng cao, đạt57,71%
Trong cơ cấu tổng giá trị thì giá trị sản xuất vẫn chiếm giá trị cao nhất và chiếm
tỷ trọng cao Giá trị của ngành lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm tỷ trọng thấp Ngànhthương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp hơn SXNN nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng.Năm 2007 nó chiếm 50,50% trong cơ cấu của tổng giá trị, tốc độ tăng trưởng đạt96,23% nhưng sang năm 2008 nó giảm mạnh chỉ còn 21,27% nhưng bình quân 2 nămtốc độ tăng trưởng vẫn đạt mức 38,81%
Trong cơ cấu giá trị SXNN thì trồng trọt vẫn là ngành chiếm vai trò chủ đạo,chiếm trên 50% tổng cơ cấu Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 26,77% Đặc biệt năm
2008 giá trị của ngành NN tăng cao gần xấp xỉ 2,5 lần năm 2007 và dành vị trí caonhất trong cư cấu Nó phù hợp với việc chuyển dịch cơ cấu từ sản xuất trồng trọt sanghoạt động dịch vụ trong nông nghiệp
- Các giá trị BQ đều tăng trong đó gtrị SXNN/ha canh tác tăng cao và ổn địnhnhất trong 3 năm BQ tốc độ tăng trưởng đạt 60,47%, còn các giá trị khác đều tăng caohơn 50%
Nhìn chung cơ cấu kinh tế của xã trong 3 năm là khá hợp lý Tốc độ tăngtrưởng kinh tế khá cao, ổn định ở tất cả các lĩnh vực Song cần quan tâm hơn nữ chohoạt động thương mại - dịch vụ để tăng giá trị và cơ cấu trong giá tri sản xuất và pháthuy hết lợi thế của địa phương
3.1.4 Tình hình chung của các hộ điều tra
Trước khi bước vào tìm hiểu tình hình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ lạc ta cầntìm hiểu về đặc điểm chung của các hộ điều tra bao gồm các tiêu chí về trình độ,lao
Trang 35động,nhân khẩu,….Làm cơ sở cho những phân tích, nhận xét để có cái nhìn kháchquan hơn cho mọi vấn đề nghiên cứu tiếp theo.
Tình chung của các nhóm hộ được thống kê ở bảng 3.4
B ng 3.4: Tình hình chung c a các nhóm h i u tra ảng 3.4: Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra ủa các nhóm hộ điều tra ộ điều tra điều tra ều tra
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra 2009)
Qua bảng 3.4 nhận thấy: Về nhân khẩu hộ sản xuất có số nhân khẩu lớn nhấttrung bình là 6,32 người/hộ do một thực tế là số hộ sản xuất - hộ nông nghiệp thườngsống trong gia đình truyền thống với 2–3 thế hệ hơn nữa con cái của mỗi gia đình cũngnhiều hơn so với nhóm hộ kiêm và hộ kinh doanh và thường thì số lượng người phụthuộc gồm người già và trẻ em cũng cao hơn hai nhóm hộ còn lại Đây cũng là tồn tạicho phát triển kinh tế hộ
Về lao động: Số lao động trung bình ở cả ba nhóm hộ đều thấp Cho thấy tỉ lệngười ăn theo cao Hộ sản xuất có trung bình 6,32 người/hộ thì chỉ có trung bình 2,31lao động Số lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao hơn lao động phi nông nghiệp ở
cả 3 nhóm hộ chứng tỏ sản xuất nông nghiệp vẫn là hoạt động sản xuất chủ yếu ở địa
phương, mặc dù địa phương được xem là xã có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triểnkinh tế theo hướng dịch vụ
Về trình độ văn hóa: Nhóm hộ kinh doanh có trình độ văn hóa cao hơn hainhóm hộ còn lại đây là điều xem như hiển nhiên vì thường những hộ kinh thường lànhững người có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở lên và trình độ văn hóa đồng điều hơn ởnhóm hộ kiêm
Trang 36Nhóm trình độ khác bao gồm những người có trình độ cao hơn trình độ C3 như:cao đẳng, đại học… Ở trình độ này, nhóm hộ kiêm chiếm 13,33%, cao hơn nhóm hộkinh doanh Điều đó là do ở một số hộ kiêm chủ hộ tham gia vào hoạt động phi nông
nghiệp (công chức nhà nước) nhưng thành phần còn lại của gia đình lại sản xuất nông nghiệp và tham gia hoạt động kinh doanh lạc khi đến mùa vụ.
Nhìn chung, về trình độ văn hóa, nhân khẩu và lao động của địa phương đãphần nào phản ánh khả năng tiếp cận và việc tham gia các hoạt động kinh tế của địaphương cũng như hoạt động kinh doanh lạc của các nhóm hộ.bình quân là 143 sào (30
hộ khảo sát),diện tích đất bình quân/ hộ là 5,72 sào/ hộ
3.1.5 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra
Diễn Thịnh là một xã vùng màu ven biển của Diễn Châu Về vị trí địa lí và điềukiện tự nhiên xã có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nghề phụ khác ngoàisản xuất nông nghiệp Vì vậy trong cơ cấu thu nhập của hộ khá phong phú gồm nhiềungành nghề với các nguồn thu nhập được thể hiện ở bảng 3.5
Bảng 3.5: C c u thu nh p c a h i u tra ơ cấu thu nhập của hộ điều tra ấu thu nhập của hộ điều tra ập của hộ điều tra ủa các nhóm hộ điều tra ộ điều tra điều tra ều traChỉ tiêu Đơn vị tính số lượng Cơ cấu (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra2009)
Tổng thu nhập bình quân của hộ/năm 63.943.830đ đây là thu nhập tính cho cả
hộ sản xuất, hộ kinh doanh và hộ kiêm Nó ở mức cao so với thu nhập của nhóm hộsản xuất do thu nhập của hộ kinh doanh cao (một số hộ đạt > 1tỉ đ/năm) Thu nhập từkinh doanh lạc bình quân của hộ/năm đạt 27.533.330 đ/năm, trong khi đó thu nhập từsản xuất lạc chỉ đạt 8.585.500 đ/vụ gần bằng 1/3 thu nhập từ kinh doanh lạc Điều nàyvừa là dấu hiệu khả quan cho phát triển kinh tế theo hướng dịch vụ của địa phươngsong cũng là khó khăn vì hoạt động kinh doanh lạc phụ thuộc vào thị trường rất lớn
Trong cơ cấu thu nhập, nguồn thu nhập khác là 41,36% chiếm tỉ trọng cao nhất
Nó bao gồm thu nhập từ lương, lao động làm thuê, kinh doanh dịch vụ khác của các