1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê tỉnh hà tĩnh

76 894 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Sản Xuất Và Hiệu Quả Kinh Tế Của Cây Đậu Xanh Vụ Hè Thu Ở Huyện Hương Khê Tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thu Hiền
Người hướng dẫn Ks. Nguyễn Thị Thanh Mai
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nông Học
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 805,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY ĐẬU XANH VỤ HÈ THU Ở HUYỆN HƯƠNG KHÊ-TỈNH HÀ TĨNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP... Tuy nhiên, theo bá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY ĐẬU XANH VỤ HÈ THU

Ở HUYỆN HƯƠNG KHÊ-TỈNH HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

VINH – 1/2009 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Vinh, tháng 1 năm 2009

Tác giả luận văn Nguyễn Thu Hiền

Trang 3

Lời cảm ơn!

Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn hết sức quan trọng để sinh viên tiếp cận với thực tiễn, là cơ hội để vận dụng kiến thức thu được từ ghế nhà trường vào thực tế Thực tập tốt nghiệp còn trang bị cho chúng ta hướng kiến thức, kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Để hoàn thành khóa luận này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thànhđến quý thầy cô giáo khoa Nông Lâm Nghư trường Đại học Vinh đã trang bị chotôi những kiến thức trong suốt khóa học Đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Thanh Mai đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận này

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của phòng Nông nghiệp huyện Hương Khê, cán bộ UBND xã Gia Phố, xã Hương Thủy, xã Hương Xuân,

xã Phú Gia, xã Lộc Yên, cùng toàn thể bà con nông dân đã góp phần vào sự thành công của đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt cả quá trình thực tập

và hoàn thành khóa luận này

Do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếusót về nội dung và hình thức Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Vinh, ngày 25 tháng 01 năm 2009

Sinh viên: Nguyễn Thu Hiền

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh trên thế giới 6Bảng1.2 Diên tích, năng suất, sản lượng đậu xanh qua một số năm 13Bảng1.3 Một số chỉ tiêu khí hậu từ tháng 5 – tháng 9 ở huyện Hương Khê 15Bảng3.1 Cơ cấu diện tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Hương Khê 24Bảng3.2 Cơ cấu diện tích gieo trồng huyện Hương Khê năm 2008 25Bảng3.3 Một số công thức luân canh trên địa bàn huyện Hương Khê 27Bảng3.4 Đặc điểm của đất đai ở vùng nghiên cứu 29Bảng3.5 Thực trạng bố trí thời vụ sản xuất đậu xanh ở huyện Hương Khê 32Bảng3.6 Đặc điểm các giống đậu xanh được sử dụng ở huyện Hương Khê 35Bảng3.7 Thực trạng sử dụng phân bón cho cây đậu xanh ở huyện Hương

Khê

38

Bảng3.8 Mật độ gieo đậu xanh ở huyện Hương Khê 40Bảng3.9 Tình hình sâu bệnh hại trên cây đậu xanh 46Bảng3.10 Diện tích, năng suất,sản lượng đậu xanh năm 2005 – 2008 51Bảng3.11 Hiệu quả kinh tế tính trung bình cho 1 ha sản xuất đậu xanh 53

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài

Hương Khê là một huyện miền núi được thành lập từ năm 1867, có diệntích đất nông nghiệp là 11.528,83 ha Nông nghiệp là ngành sản xuất đã gắn bóvới người dân ở đây từ trước đến nay Hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày đisau” vẫn là hình ảnh tiêu biểu của sản xuất nông nghiệp Hương Khê thời kỳnày Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như

sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của cán bộ và nhân dân địa phương nên đời sốngcủa người dân nơi đây ngày một đi lên, dần thoát khỏi nghèo đói và lạc hậu

Hiện nay có thể nói rằng tuy lương thực đã đủ cung cấp cho người dân ởđây nhưng sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ với cơ cấu cây trồng đadạng và phong phú Một trong số đó phải kể đến cây đậu xanh, nó được xem làcây trồng chính trong vụ hè thu của bà con huyện Hương Khê

Đậu xanh là cây trồng ngắn ngày và là cây thực phẩm quan trọng chongười và gia súc Đậu xanh còn có vị trí quan trọng trong hệ thống cây trồng:Xen canh, gối vụ, tăng vụ góp phần tăng sản phẩm cho xã hội cũng như tăngthu nhập cho người nông dân

Ngoài ra chúng còn là cây trồng có giá trị cải tạo đất, chống xói mòn,phủ xanh đất trống đồi trọc và là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành côngnghiệp chế biến

Tuy nhiên, theo báo cáo chính thức về năng suất sản lượng các loại câytrồng vụ hè thu trong một thời gian dài của phòng thống kê huyện Hương Khêthì sản lượng đậu xanh tăng lên chủ yếu nhờ tăng diện tích gieo trồng còn năngsuất hầu như ít tăng

Nhìn chung sản xuất nông nghiệp của địa phương còn mang tính tự cung

tự cấp, sản phẩm của sản xuất nông nghiệp chủ yếu được sử dụng vào mục đíchtiêu dùng trực tiếp cho người sản xuất, sản xuất nông nghiệp theo hướng pháttriển kinh tế hàng hoá chưa cao, thiếu sự tập trung và chuyên môn hoá trongsản xuất Bên cạnh đó kỹ thuật gieo trồng của người nông dân huyện chủ yếu là

Trang 6

kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác nên từ khâu chọn giống tốt, thời

vụ gieo trồng cho thích hợp, chăm sóc xới xáo, tưới nước và nhất là công tácbảo vệ thực vật đều rất tuỳ tiện, qua loa, khi có khi không

Một vấn đề cũng cần nêu lên là nông dân rất thiếu thông tin, có nhiềugiống mới, biện pháp kỹ thuật mới đã được công nhận từ nhiều năm nay màngười dân trong huyện chưa hề biết đến, do việc tuyên truyền của chúng ta vềnhững loại giống này còn quá ít, người dân ở đây sử dụng chủ yếu là giống cũcủa địa phương, không được chọn lọc nên năng suất thấp

Như vậy vấn đề cần đặt ra ở đây là làm thế nào để phát huy hết mọi giátrị của cây đậu xanh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất cũngnhư hiệu quả môi sinh môi trường là điều rất cần thiết

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài “Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ

Hè Thu ở Huyện Hương Khê - Tỉnh Hà Tĩnh”

2 Mục đích nghiên cứu

- Thông qua điều tra, khảo sát tại khu vực nghiên cứư về hiện trạngsản xuất cây đậu xanh xác định được quy trình sản xuất đậu xanh và hiệu quảkinh tế của nó mang lại cho khu vực

- Từ kết quả điều tra đề xuất ý kiến của mình trên cơ sở khoa họcgóp phần xây dựng nên một quy trình sản xuất hợp lí, đảm bảo tính bền vữnglâu dài về hiệu quả kinh tế cũng như các hiệu quả môi sinh, môi trường

3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Để thực hiện được đề tài thì đối tượng nghiên cứu của đề tài làchọn 5 xã thuộc huyện Hương Khê

- Mỗi xã tiến hành phỏng vấn 30 hộ gia đình

- Ngoài ra trong quá trình điều tra số liệu nghiên cứu tôi còn phỏngvấn thêm một số cán bộ các cấp từ huyện, xã và những người có kinh nghiệmsống trên địa bàn nghiên cứu để thu thập thêm các thông tin cần thiết Từ các

Trang 7

cuộc phỏng vấn như thế có thể thu thập thêm các thông tin cần thiết sử dụngcho quá trình đánh giá và đề xuất trong nội dung nghiên cứu.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi địa điểm nghiên cứu:Nghiên cứu được tiến hành trên địabàn 5 xã: Xã Lộc Yên, xã Gia Phố, xã Hương Thuỷ, xã Hương Xuân, xã PhúGia thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đánh giá thực trạng sản xuất cây đậuxanh và hiệu quả kinh tế của nó ở huyên Hương Khê

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung của đề tài gồm có:

+ Điều tra, nghiên cứu tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu về cácmặt:

+ So sánh hiệu quả kinh tế của mỗi xã

+ Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất hợp

lý, bền vững phù hợp với điều kiện của khu vực nghiên cứu

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 8

- Phản ánh thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh.

- Từ những kết quả và phân tích của nghiên cứu có thể tìm ra một sốgiải pháp phù hợp với khu vực nghiên cứu nhằm làm tăng hiệu quả sản xuấtcũng như các hiệu quả khác

CHƯƠNG I:TỔNG QUAN

Trang 9

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nguồn gốc và tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới

Đậu xanh (Vigna radiata) là một trong những cây trồng cổ

truyền của nhân loại Vavilop (1951) cho rằng nguyên sản của đậu xanh ở vùngNam - Đông nam Á mà trung tâm khởi phát có thể là ở vùng đồng bằng Ấn Độ

- Burma

Tuy nhiên, người ta cũng tìm thấy dạng Vigna radiata dại mọc ở vùng

ven Ấn Độ Dương thuộc Đông Phi

Cây đậu xanh đa dạng về hình thái Mặc dù đậu xanh có lịch sử sảnxuất lâu đời song cái tên Vigna mới được giáo sư Savi đặt cho vào năm 1824.Tuy nhiên tên gọi Vigna radiata mới được sử dụng chính thức từ năm 1970

Đậu xanh thuộc họ đậu, gồm 490 chi và khoảng 12.000 loài ( VõVăn Chi và CTV, 1973) thuộc chi Vigna, chi phụ Ceratotropis Trước năm

1925 theo De Candolle, đậu xanh được xếp vào chi Phaseolus Năm 1953,Ohwi đề nghị tên mới cho chi này là Azukia và Rudua Ở nhóm đậu Rudua có

lá mầm nằm trên mặt đất và 2 lá đơn mọc đối nhau có cuống lá ngắn, ngược lạiđậu Azukia lá mầm nằm dưới mặt đất và có cuống lá dài

Từ vùng nguyên sản, đậu xanh được di thực tới Trung Đông (Iran, Irăc

và châu Phi) Con đường di thực khác - sang châu Mỹ, các đảo ở Thái BìnhDương (Marton, Smith;1982)

Hiện nay đậu xanh được trồng ở 23 nước trên thế giới Vùng phân bốđậu xanh từ 300 vĩ bắc tới 300 vĩ nam, tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu

Á (nam - đông và đông nam Á) [10]

Đậu xanh đứng hàng thứ 3 trong các cây họ đậu (sau đậu tương, lạc) vàđứng đầu trong số các cây trồng thuộc chi Vigna cả về diện tích và sản lượng.Diện tích đậu xanh trên thế giới khoảng 3,4 -3,6 triệu ha với sản lượng 1,4 -1,8triệu tấn

Về sản xuất đậu xanh, trên thế giới có Bangladesh, Trung Quốc, Philippin,Acgentina, và Thái Lan là các trọng điểm về diện tích, năng suất và sản lượng

Trang 10

1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh trên thế giới (2003-2007)

Sản lượng 17,58 18,045 17,78 19,57

Nguồn: FAOSTAT 2008Diện tích: 1000 ha

Năng suất: tạ/ha

Sản lượng: triệu tấn

Trung Quốc là Quốc gia có diện tích gieo trồng đậu xanh lớn và năng suất khá cao Thái Lan năng suất chỉ với 7 – 7,5 tạ/ha nhưng 30-40% sản lượngđậu xanh dùng để xuất khẩu và là quốc gia xuất khẩu đậu xanh lớn nhất

Các nước nhập khẩu đậu xanh chủ yếu là Nhật (80.000 tấn/năm), Mỹ(50.000 tấn/năm) Các nước nhập đậu xanh chủ yếu để làm giá đỗ

Trong các nước nhiệt đới và á nhiệt đới, đậu xanh chiếm gần 10% diệntích và 5% sản lượng của các loại đậu đỗ ăn hạt

Trang 11

Tuy vậy, nhìn chung năng suất cây đậu xanh còn rất thấp, chỉ được 56 –

7 tạ/ha, do chưa quan tâm đúng mức.Gần đây, nhiều nước ở xung quanh ta như

Ấn Độ, Thái Lan, Philippin đã chú ý chọn tạo ra được những giống đậu xanhcho năng suất từ 10-12 tạ/ha trở lên, hạt to, màu hạt đẹp, có thời gian sinhtrưởng ngắn, chín tương đối tập trung, có sức đề kháng khá với những loại sâubệnh hại chính Ấn Độ là nước mà những năm gần đây diện tích, năng suất vàsản lượng của đậu xanh tăng khá nhanh [10]

Cây đậu xanh hiện nay ước tính có trên 20.000 mẫu giống Viện nghiêncứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC) có bộ giống khá phong phú và đầy

đủ gồm 5108 mẫu Bộ Nông nghiệp Mỹ có 3494 mẫu, Trường Đại học Punzab

có 3000 mẫu Ở Australia, Đài Loan, Ấn Độ, Mỹ người ta không ngừng thuthập nguồn gen cây đậu xanh ngày càng phong phú Mục tiêu hàng đầu của cácchương trình thu thập và đánh giá nguồn gen là nhằm phục vụ việc tuyển chọngiống cải tiến theo hướng năng suất và chất lượng cao có khả năng chống chịutốt với điều kiện bất thuận của môi trường, giảm tính nhạy cảm với quang chu

kỳ và nhiệt độ (Lawn R.J và CTV, 1970) [6]

Đậu xanh là một trong những cây trồng chính được nghiên cứu củaAVRDC Hàng năm ở đây đã đưa ra hàng ngàn dòng lai vào mạng lưới khảonghiệm quốc tế và từ đây, các tổ chức nghiên cứu các nước đã chọn hàng trămgiống đưa vào mạng lưới giống quốc gia phổ biến trong sản xuất và dùng làmvật liệu trong công tác chọn giống Thái Lan là nước đã tiếp cận tốt nhất nguồngen của AVRDC Các giống KPS1, KPS2 là những giống được tuyển chọn từtập đoàn của AVRDC

Nhiều chương trình nghiên cứu đã được tiến hành tại Nhật Bản, TháiLan và AVRDC, trong đó có 497 mẫu đã được sử dụng cho việc xác định kiểusinh trưởng, 651 mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho việc đánhgiá sự đa dạng protein [1]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Trang 12

1.2.1 Kết quả thu thập, đánh giá và bảo tồn nguồn gen cây đậu xanh ở Việt Nam

Cây đậu xanh ở nước ta được bắt đầu nghiên cứu từ trước những năm

80 gắn liền với các chương trình nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu đậu đỗĐịnh Tường, sau đó từ Trung tâm giống cây trồng Việt Xô và Trung tâmnghiên cứu thực nghiệm đậu đỗ (Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam) nơi đãkhảo sát tập đoàn 510 mẫu giống ở vụ xuân và vụ hè Kết quả cho thấy để đạtđược năng suất cao, chiều cao cây cần đạt 50-60 cm Đặc biệt, Trung tâm giốngcây trồng Việt Xô đã tuyển chọn được một số mẫu giống triển vọng nhưVC4152B, Chunnam2 [14]

Từ năm 1991, Viện khoa học Nông nghiệp miền Nam đã tiến hành thuthập và khảo sát tập đoàn 88 mẫu giống qua các vụ Hè Thu, Thu Đông, ĐôngXuân (1992-1994) tại Trung tâm nghiên cứu Hưng Lộc và Trung tâm Trâu Sữa

và đồng cỏ Sông Bé với phương châm là tuyển chọn và giới thiệu những mẫugiống triển vọng nhất về khả năng chống chịu bệnh khảm vàng virut (MYMV),bệnh đốm lá vi khuẩn (CLS) và thích ứng với điều kiện ở Đông Nam Bộ (BùiViệt Nữ,1995) Kết quả cho thấy (1) Giống đậu mỡ Long Khánh và đậu mốc lànhững giống hiện trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ đã bị thoái hoá nên năng suấtthấp, bị nhiễm nặng MYMV và CLS, (2) Đa số các mẫu giống chống chịu bệnhMYMV và CLS đều có nguồn gốc Tây Á và Ấn Độ, trong khi nguồn gen chonăng suất cao, cỡ hạt lớn, lại phân bố rộng ở Đông và Đông Nam Á, (3) Sốquả/cây là đại lượng cần được quan tâm nhiều trong công tác chọn lọc, lai tạogiống đậu xanh [1]

Đào Quang Vinh và CTV (1989) khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụđến sinh trưởng phát triển của đậu xanh trồng ở Bắc Việt Nam cho rằng hầu hếtcác mẫu giống đậu xanh đều nhạy cảm với nhiệt độ, số ngày từ gieo tới ra hoatrong vụ xuân dài hơn vụ hè nhưng vụ hè đậu xanh ra nhiều lứa hoa hơn nênthời gian từ ra hoa tới tận thu dài hơn, do đó thời gian sinh trưởng của 2 thời vụnày chênh lệch nhau không lớn và thường dao động từ 2-5 ngày

Trang 13

Nghiên cứu sự tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất với năngsuất ở 90 mẫu trong vụ xuân ở Bắc Việt Nam, Đào Quang Vinh và CTV (1989)cho thấy số quả/cây có tương quan chặt tới năng suất (r = 0,67) nhưng hệ sốbiến động lại rất lớn (CV = 37,2%), điều đó chứng tỏ tính trạng số quả/cây củacác giống có nguồn gốc khác nhau biến động lớn so với giá trị trung bình doảnh hưởng khá lớn của môi trường Vì vậy muốn nâng cao năng suất trước hếtcần nâng cao số quả sau đó mới đến các yếu tố khác như số hạt, khối lượng

1000 hạt [4]

1.2.2 Một số thành tựu trong nghiên cứu và phát triển đậu xanh

Trong những năm gần đây, sản xuất đậu đỗ ở Việt Nam phát triểnvới quy mô khá lớn, nhưng sản lượng tăng lên chủ yếu nhờ vào tăng diện tíchgieo trồng, còn năng suất hầu như ít tăng Điều đó chứng tỏ sản xuất đậu đỗđang phát triển theo hướng quảng canh Như vậy vấn đề thâm canh tăng năngsuất mở rộng quy mô sản xuất đậu đỗ được coi là một giải pháp khá cấp bách

So với một số cây khác trong cùng điều kiện thì đậu đỗ đạt hiệu quả kinh tế caohơn, dễ bảo quản và dễ tiêu thụ hơn [15]

Từ nhiều năm nay việc nghiên cứu và đánh giá các mẫu giống nhậpnội và thu thập trong nước đã được tiến hành ở các cơ sở nghiên cứu với sốlượng 2596 lượt mẫu giống Một số giống đậu xanh mới có triển vọng đượctuyển chọn và được công nhận là giống Quốc gia [2]

* Các giống địa phương

- Giống đậu mỡ Hải Dương:

Là giống tốt, có thời gian sinh trưởng khoảng 75-80 ngày trong vụxuân, 60-65 ngày trong vụ hè, cây cao khoảng 50 cm, hạt to 58-60 g/100 Năngsuất trung bình 9-10 tạ/ha Giống này có nhược điểm là dễ nhiễm các bệnhphấn trắng và đốm nâu [1]

-Giống đậu tiêu Hà Nội:

Có thời gian sinh trưởng từ 70-75 ngày trong vụ xuân, 60-65 ngày trong

vụ hè Cây cao khoảng 50 cm, hạt có vỏ mốc, ruột vàng, thơm, bổ Năng suất

Trang 14

trung bình khoảng 10-12 tạ/ha, cao là 13-15 tạ/ha Nhược điểm là dễ đổ, nhất làtrong vụ hè [1].

- Giống vàng tách ở Hà Bắc:

Là một giống rất ngắn ngày, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân từ

65-70 ngày và vụ hè 55-60 ngày., trung bình là 13-14 quả, hạt vừa 55-60 g/1000hạt Năng suất trung bình 10-12 tạ/ha, chất lượng hạt tốt [1]

- Giống mốc Trung Châu:

Là giống được ưa chuộng nhiều, có thời gian sinh trưởng khoảng 72-75ngày trong vụ xuân, 65-70 ngày trong vụ hè, vỏ quả màu mốc, ruột vàng Năngsuất trung bình từ 10-12 tạ/ha [1]

Các giống nhập nội

Đây là những giống đậu xanh mà các cơ quan nghiên cứu khoa học nôngnghiệp đã chọn lọc thuần hoá từ một số giống trong các tập đoàn nhập nội từAVRDC, từ VIR hoặc Philippine đã được so sánh, khảo nghiệm, khu vực hoá

ở các vùng sinh thái khác nhau, đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn công nhận và cho phép đưa vào sản xuất Đặc điểm chung của chúng là cóthời gian sinh trưởng ngắn có, năng suất cao hơn hẳn các giống địa phương.Một số giống vừa có năng suất cao gấp rưỡi đến gấp đôi so với giống nội địa,chất lượng tốt, có khả năng thâm canh Ưu thế nữa là các giống này ra hoa, quả

và chín tương đối tập trung, có khả năng chống chịu được các loại sâu bệnhchính hại đậu xanh, đặc biệt là các bệnh phấn trắng, đốm nâu, gỉ sắt v.v [3]

- Giống đậu xanh 044:

Có nguồn gốc từ giống VC 2768A của trung tâm nghiên cứu và pháttriển rau quả châu Á (AVRDC), cây cao 45-50 cm, thời gian sinh trưởng ở vụxuân là 80 ngày, vụ hè là 75-80 ngày, vụ thu đông là 90 ngày Hạt to trọnglượng 1000 hạt 65-70g, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Năng suất trung bình là 12-13tạ/ha, nếu được thâm canh tốt có thể đạt 20 - 23 tạ/ha [3]

- Giống đậu xanh số 7:

Trang 15

Có nguồn gốc từ giống VC3664A của AVRDC, cây cao khoảng 50-52

cm, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân khoảng 75 - 80 ngày, vụ hè từ 60-65ngày Năng suất trung bình từ 13-15 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt được16-18 tạ/ha [3]

- Giống đậu xanh số 9:

Giống này cũng có nguồn gốc từ AVRDC có tên gốc là VC 3738A, câycao từ 50 - 55 cm, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân khoảng 75 - 80 ngày,còn trong vụ hè 60 -65 ngày, ít sâu bệnh Năng suất bình quân từ 14 -15 tạ/ha.Nếu có điều kiện thâm canh có thể cho năng suất từ 17 -18 tạ/ha [3]

- Giống đậu xanh HL 89-E 3 :

Được chọn ra từ giống I.P.B.M 79982 của IRRI Cây cao khoảng 60

-70 cm Hạt màu xanh bóng, 50 -53g/1000 hạt Năng suất bình quân từ 10 -13tạ/ha Khi được thâm canh tốt có thể đạt năng suất 18 -20 tạ/ha [6]

- Giống đậu xanh V87-E 2 :

Được chọn ra từ tập đoàn nhập nội của VIR, có nguồn gốc từ Ấn Độ.Hạt xanh mỡ, bóng, to vừa 52 -55 g/1000 hạt Năng suất bình quân từ 11 -13 tạ/

ha, nếu được thâm canh có thể đạt từ 22 -24 tạ/ha [5]

- Giống đậu xanh 92-1:

Giống này được chọn ra từ giống VC 4152A của Trung tâm nghiên cứu

và phát triển rau quả châu Á (AVRDC) Có đặc điểm chủ yếu là cây cao từ 50

-55 cm Có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân là 80 ngày, còn trong vụ hè là

65 ngày Có từ 11 - 14 quả/cây Khối lượng 1000 hạt từ 50 -65g Năng suấttrung bình từ 12 -15 tạ/ha [5], [20]

- Giống đậu xanh T135:

Giống này được chọn ra từ một dòng lai thuộc tổ hợp lai gữa giống vàngtách của Hà Bắc với giống VC 2768A của Trung tâm nghiên cứu và phát triểnrau quả châu Á (AVRDC) Cây cao từ 40 -50 cm Thời gian sinh trưởngkhoảng 70 -75 ngày Số quả/cây từ 11 -14 quả Khối lượng của 1000 hạt từ 45 -65g Năng suất trung bình từ 13 -16 tạ/ha [5]

Trang 16

- Giống đậu xanh V 87-13:

Giống này được tuyển chọn từ giống nhập nội VC 3178A của AVRDC.Giống có chiều cao cây khoảng 84 -85 cm Năng suất trung bình là 12tạ/ha, nếuđược thâm canh tốtcó thể đạt 20 tạ/ha [5]

- Giống đậu xanh G 87-1:

Giống này được tuyển chọn từ một giống đậu xanh nhập nội củaAVRDC ra

Đặc điểm chủ yếu của nó là chiều cao trung bình khoảng 67cm Thờigian sinh trưởng ở miền Đông Nam Bộ là 89 - 91 ngày Số quả trung bình củamỗi cây là 27 Hạt có màu vàng, khối lượng của 1000 hạt từ 41 - 42g Năngsuất trung bình khoảng 13 - 14 tạ/ha Khi được thâm canh tốt có thể đạt 20tạ/ha [5], [20]

- Giống đậu xanh HL 115:

Đặc điểm chính là cây cao từ 58 -75cm, cứng cây, ít đổ Thời gian sinhtrưởng khoảng 65 -68 ngày Ra hoa tương đối tập trung nên tỷ lệ quả thu háilần đầu chiếm đến 75 - 80% tổng số quả Vụ hè thu và vụ thu đông năng suấttương đối ổn định từ 10 -13 tạ/ha, còn vụ đông xuân là 14 -21 tạ/ha [5], [20]

- Giống KP11:

KP11 được chọn lọc từ dòng hạt xanh tối của giống nhập nội KPS1 từThái Lan Thời gian sinh trưởng ngắn < 70 ngày Năng suất cao 1,7 - 2,0tấn/ha [5], [20]

- Giống KPS1:

Giống KPS1 có nguồn gốc từ giống nhập nội Kâmpnseng 1 của TháiLan KPS1 thuộc loại hình thâm canh, thích ứng trên đất lúa ở các tỉnh đồngbằng Giống KPS1 đã được Bộ NN & PTNT công nhận tạm thời năm 2004[20]

- Giống VN93-1:

Là giống có nguồn gốc từ tổ hợp lai 047 × Trung Châu do viện nghiêncứu Ngô lai tạo và chọn lọc Năng suất vụ xuân 15 tạ/ha, vụ hè 11,7 tạ/ha

Trang 17

1.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở nước ta

1.2 Diên tích, năng suất, sản lượng đậu xanh qua một số năm

Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

1.3 Một vài đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hương Khê 1.3.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Hương khê là một huyện miền núi ở về phía Tây Nam tỉnh HàTĩnh Vị trí địa lý của huyện Hương Khê là nằm trong khoảng 18 độ 10 phút VĩBắc và 105 độ 42 phút Kinh Đông

- Phía Bắc giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ

- Phía Nam giáp huyện Tuyên hoá tỉnh Quảng Bình

- Phía Đông giáp huyện Can Lộc, huyện Thạch Hà và huyện CẩmXuyên

- Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Theo số liệu chính thức hiện nay thì tổng diện tích tự nhiên toàn huyệnHương Khê là 129.912,83 ha (sau khi tách 5 xã: Quang, Minh, Điền, Đại, Thọ

về huyện Vụ Quang năm 2000) Hương Khê hiện nay vẫn là một huyện có diệntích rộng nhất tỉnh Hà Tĩnh

* Khí hậu

Khí hậu Hương Khê là vùng khí hậu gió mùa rất rõ nét GióĐông-Bắc thổi từ tháng 9 đến tháng 2 mang theo mưa rét Gió Tây Nam, miềnTrung thường gọi là gió Lào, gió này thường thổi vào tháng 4 đến tháng 8, có

Trang 18

khi sớm hoặc muộn hơn Gió Lào là một trong những nhân tố tạo nên sự khắcnghiệt của khí hậu, thời tiết ở Hương Khê.

Tháng 2, tháng 3, mùa xuân, khí trời còn rét Tháng 4, tháng 5, mùa hè,nắng to làm người ta thấy khó chịu Tháng 7, tháng 8, mùa thu thì thường cógió lạnh, mưa nhiều, nước lũ dâng cao ngập ruộng đồng, hoa màu bị thiệt hại.Huyện có lượng mưa cao, cường độ mưa lớn Lượng mưa hàng năm nằm trongkhoảng từ 1.400 đến 3.200 mm, số giờ nắng thường đạt trên 160 giờ/năm, nhiệt

Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Hương Khê 2008

- Nhiệt độ: Vụ hè thu (tháng 5 – tháng 9) nhiệt độ trung bình khácao, đây là các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm, nhiệt độ caonhất lên tới 39,30C (tháng 6)

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình các tháng tương đối cao

- Số giờ nắng nhiều, cao nhất là tháng 6: 181 ngày

- Lượng mưa phân bố không đều thấp hơn so với các tháng kháctrong năm

* Giao thông và thuỷ lợi

+ Giao thông:

Trang 19

Huyện Hương Khê có hệ thống giao thông khá đa dạng và ngày cànghoàn thiện hơn.

thị trấn và đường quốc lộ 15B nối Hương Khê với thị xã Hà Tĩnh

nhiều

+ Thuỷ lợi:

Hương Khê về căn bản đã thoát khỏi tình trạng thiếu nước, đã chủ độngđược nguồn nước tưới trên phần lớn diện tích canh tác của huyện

Toàn huyện có 132 hồ đập lớn nhỏ Loại đập cung cấp nước cho trên 10

ha có tới 77 công trình Hàng năm có 7.400 ha đất nông nghiệp được hưởng lợicủa các công trình thuỷ nông Các công trình như hồ Bình Sơn, đập Sông Tiêm,đập Đá Hàn, đập Đá Bạc đã trở thành những công trình vĩnh cửu, không chỉlàm lợi về kinh tế mà còn làm thay đổi cảnh quan môi trường, xoá bỏ tình trạngnhững guồng nước tự động nhỏ nhoi của các gia đình mà sau mỗi trận lụt lạitrôi đi theo dòng nước lũ

1.3.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội

* Dân cư và sự phân bố dân cư

Huyện Hương Khê gồm 22 xã và thị trấn có tổng số dân là 107.289khẩu, với 26.706 hộ gia đình Số dân trong độ tuổi lao động là 51.684 ngườitrong đó số lao động nông nghiệp đạt 37.206 người chiếm 72% tổng số laođộng hiện có

- Mật độ dân số bình quân: 84 người/Km2

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 2,1%

- Lương thực bình quân đạt: 136,36 kg thóc/người/năm

- Thu nhập bình quân đạt: 4914000 VNĐ/người/năm

Trang 20

* Tình hình chung về phát triển kinh tế

Huyện miền núi Hương Khê hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nôngnghiệp song quá trình sản xuất này còn manh mún, nhỏ lẻ với cơ cấu cây trồng

đa dạng và phong phú về thành phần cũng như về chủng loại

Những tăng trưởng về kinh tế ở Hương Khê do nhiều nguyên nhân nộisinh Trước hết là do đổi mới cơ chế làm ăn, tạo điều kiện cho các thành phầnkinh tế cùng phát triển Nhưng có một nguyên nhân “ ngoại sinh” không kémphần quyết định, đó là việc thực hiện các chương trình, các dự án từ tỉnh, từTrung ương và cả nước ngoài trên địa bàn huyện Năm 2002, nguồn vốn đầu tưtrên địa bàn huyện thông qua các chương trình 135, IFAD, OHK, CBRIP,nguồn vốn ngân sách tập trung và nguồn vốn hỗ trợ khắc phục lũ lụt với tổngđầu tư lên tới 34.294 triệu đồng Chính nhờ các nguồn vốn đó mà các côngtrình cơ sở hạ tầng ở Hương Khê đã được cải tạo, nâng cấp, mang lại hiệu quảthiết thực như cầu Địa Lợi (Hà Linh), cầu Lộc Yên (Lộc Yên), Ngoài ra còn

có rất nhiều trụ sở nhà cao tầng, các trường trung học, tiểu học, các trạm điện,các trạm y tế xã cũng đã được xây dựng mới

1.4 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài tập trung nghiên cứu

1.4.1 Những vấn đề còn tồn tại

- Sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, tự cung tự cấp

- Sản xuất chưa đúng theo quy trình kỹ thuật

- Hiệu quả sản xuất còn thấp

- Thị trường tiêu thụ ít, không ổn định

1.4.2 Những vấn đề mà đề tài tập trung nghiên cứu

- Nghiên cứu quy trình sản xuất cây đậu xanh

- Đánh giá hiệu quả kinh tế mà cây đậu xanh mang lại cho khu vực

Trang 21

CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Các khái niệm

+ Thời vụ: Là bố trí thời gian gieo trồng phù hợp với đặc điểm sinh thái

của cây Bố trí thời vụ hợp lý là nhằm tạo cho cây phát triển trong điều kiệnthuận lợi nhất để đạt năng suất cao

+ Giống: Là vật liệu quan trọng nhất của sản xuất Nông nghiệp, yêu cầu

đối với một giống đậu xanh tốt là phải có năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợpvới từng mục đích nhất định, có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể tăng vụ, rahoa quả và chín tương đối, chỉ cần thu hoạch 2 – 3 đợt là cơ bản hết quả, có khảnăng chống chịu được sâu bệnh hại chính, có khả năng thích ứng rộng,…

+ Mật độ: Mật độ cây trồng là số cây trên một đơn vị diện tích, mật độ

hợp lý đối với cây là mật độ cho phép để có thể đạt năng suất thu hoạch tối đatrên một đơn vị diện tích

+ Yếu tố môi trường: Là yếu tố ngoại cảnh bao gồm nhiệt độ, ánh sáng,

độ ẩm và mưa, đất đai dinh dưỡng Nó được xem là yếu tố quyết định sự sốngcòn, khai thác triệt để những thuận lợi của chúng sẽ giúp cho đậu sinh trưởng

và phát triển tốt, cho năng suất cao và đem lại nhiều nguồn lợi kinh tế khác

- Về nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân 250 – 300C là thuận lợi cho sự sinhtrưởng, phát triển của cây

- Ánh sáng: Đậu xanh là câu ưa sáng, số giờ nắng phải đạt 180 – 200

giờ/tháng

- Độ ẩm: 70 – 80% là thích hợp.

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình cho cả vụ là 400 – 600 mm.

- Đất đai: Thích hợp đất cát pha, đất thịt nhẹ, giữ nước và thoát nước tốt,

PH từ 5,5 – 7

+ Hiệu quả kinh tế: Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, để sảnxuất ra một loại hay một lượng sản phẩm hay dịch vụ thì người sản xuất đềuphải sử dụng một lượng chi phí nhất định về nguồn lực, ở đây hiệu quả kinh tế

Trang 22

được biểu hiện ở việc sử dụng các nguồn lực này không bị lãng phí Bên cạnh

đó hiệu quả kinh tế còn thể hiện bằng việc khi sản xuất ra các sản phẩm này cóđáp ứng được mục tiêu sản xuất không?, Có phù hợp với các điều kiện sẵn cókhông?, Sự chênh lệch so sánh giữa các đầu vào và đầu ra như thế nào của sảnxuất?,… Trong hệ thống sản xuất xã hội(16)

2.1.2 Giả thuyết khoa học

Trong quá trình sản xuất đậu xanh, các biện pháp kỹ thuật như chế độnước, thời vụ, mật độ gieo trồng, phân bón, tác động giống và biện pháp bảo vệthực vật tốt,… chính là những cơ sở quan trọng tạo điều kiện cho môi trườngsản xuất thuận lợi Qua đây, đề xuất một số giải pháp để có thể xây dựng nênmột quy trình sản xuất hợp lý phù hợp với điều kiện của vùng nghiên cứu nhằmnâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng từ đó mang lại hiệuquả sản xuất cao hơn cũng như các hiệu quả môi sinh, môi trường

2.1.3 Cơ sở khoa học của phương pháp điều tra phỏng vấn

- Phỏng vấn (interview) là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi cả trong đờithường lẫn trong nghiên cứu khoa học Thông thường chúng ta quan niệm,phỏng vấn là sự tiếp xúc trao đổi (trực tiếp hoặc gián tiếp) ít nhất giữa haingười, trong đó có người hỏi và người trả lời [14]

Phỏng vấn là phương pháp cụ thể để thu thập thông tin của nghiên cứu

xã hội học thông qua việc tác động tâm lý - xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi

và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụcủa đề tài nghiên cứu [14]

Phỏng vấn là phương pháp thông tin đưa vào câu hỏi để người dân trảlời Đây là công cụ rất phổ biến sử dụng trong nghiên cứu khuyến nông vànông thôn nhằm hiểu biết được tình hình vấn đề nghiên cứu cũng như ý kiếncủa từng người dân về vấn đề này [7]

Nguồn thông tin phỏng vấn bao gồm:

+ Toàn bộ những câu hỏi, trả lời phản ánh ý thức, quan điểm củangười được hỏi

Trang 23

+ Các yếu tố hành vi như cử chỉ, ngôn từ của người trả lời mà ngườiphỏng vấn quan sát được trong suốt thời gian tếp xúc.

Vì vậy,có thể coi phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin dựa trên

cơ sở phối hợp cả 2 nguồn thông tin thu nhận được

2.1.4 Vai trò của phân tích hiệu quả kinh tế

Phân tích hiệu quả kinh tế chỉ có thể thực hiện trong những điều kiệnsản xuất và từng loại đối tượng cụ thể Để phân tích được hiệu quả kinh tếchúng ta cần phải phân tích được hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội của quátrình sản xuất đó

Phân tích hiệu quả kinh tế nói chung đóng một vai trò quan trọngtrong việc đưa ra các quyết định về lựa chọn và thực hiện các hoạt động sảnxuất đối với người sản xuất kinh doanh [16]

- Phân tích hiệu quả kinh tế giúp cho việc xác định xem việc thực hiệnhoạt động sản xuất có phù hợp hay không phù hợp trong điều kiện các nguồnlực có hạn? Điều này lại càng có ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp Chúng

ta biết rằng trong sản xuất nông nghiệp có những nguồn lực không thể thay thế

và bị hạn chế bởi điều kiện tự nhiên Trong xu thế phát triển kinh tế nôngnghiệp theo hướng thị trường đòi hỏi cần sản xuất nhiều sản phẩm hơn chính vìvậy mà việc phân tích hiệu quả kinh tế giúp chúng ta xác định lựa chọn hướngsản xuất phù hợp nhất, đảm bảo phát triển kinh tế và bền vững môi trường

- Trong sản xuất nông nghiệp, lực lượng chính là người dân lao động

có nhận thức chưa cao trong việc xác định về tính hơn kém của các loại sảnphẩm do mình sản xuất ra, vì thế thông qua phân tích hiệu quả kinh tế giúp họthấy rõ hơn vấn đề nên trồng loại cây nào phù hợp với những điều kiện sẵn cócủa địa phương và cây nào sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn

- Ngoài ra phân tích hiệu quả kinh tế còn góp phần giúp cho các nhàhoạch định, nhà phát triển có thể đưa ra các chính sách mới phù hợp cho

sự phát triển kinh tế, góp phần làm giàu cho đất nước

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Trang 24

Nông nghiệp là một ngành sản xuất hàng hoá hết sức đặc biệt, nó cung cấp cho con người những sản phẩm tối cần thiết như lương thực, thực phẩm Những sản phẩm mà với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật như ngày nay chưa có một nghành nào có thể thay thế được.

Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp hiện nay còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết Ví dụ nhiều vùng, nhiều địa phương chưa tận dụng hết tiềm năng tài nguyên đất, tài nguyên khí hậu của mình để đạt hiệu quả cao trong nông nghiệp, còn sử dụng nhiều giống địa phương đã bị thoái hoá, sản xuất theo phương thức truyền thống Vì vậy năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp, nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu cải thiện đời sống cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp và xuất khẩu mà còn làm cho tài nguyên đất

bị thoái hoá, biến đổi về khí hậu gây lũ lụt ở đồng bằng và sạt lở đất đá, xói mòn

ở miền núi gây nên những thảm hoạ cho đời sống và kinh tế của nhân dân

Cho nên việc xác định trồng cây gì và để xây dựng nên một quy trình sảnxuất hợp lí cho mỗi loài cây trồng phù hợp với điều kiện của từng vùng nhằm đảm bảo tính bền vững lâu dài về hiệu quả kinh tế cũng như các hiệu quả môi sinh, môi trường là hết sức cần thiết

Trong tình hình sản xuất đậu xanh ở nước ta hiện nay, nhìn chung diệntích gieo trồng có chiều hướng gia tăng nhưng năng suất bình quân còn rất thấp

và tăng chậm hơn so với một số loại cây lương thực khác như lúa, ngô,…Nguyên nhân gây nên tình trạng trên phần lớn là do quá trình sản xuất đậu ởnhiều nơi chưa được tập trung, trình độ thâm canh chưa đồng đều, việc áp dụngnhững tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào một số vùng sinh thái còn chưa hợp lý vàđặc biệt là sử dụng phân bón cho đậu chưa có quy trình cụ thể và phù hợp

2.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.3.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu và thu thập các thông tin vàđánh giá tổng hợp số liệu trong thời gian thực tập tốt nghiệp từ ngày20/5/2008 - 30/9/2008 tại địa bàn Huyện Hương Khê

Trang 25

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn 5 xã:

Xã Lộc Yên, xã Gia Phố, xã Hương Thuỷ, xã Hương Xuân, xã Phú Giathuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

- Dùng phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp về tình hình cơbản của khu vực nghiên cứu: Số liệu thông qua các văn bản của xã, huyện, cácbáo cáo về tình hình sản xuất nông nghiệp, phòng thống kê, phòng nông nghiệp

xã, huyện,

Trong phương pháp này tôi tập trung vào tìm hiểu một số đặc điểm cơbản của địa phương đang nghiên cứu gồm có:

* Điều kiện tự nhiên

* Điều kiện kinh tế - xã hội

* Diện tích, năng suất, sản lượng của cây đậu xanh năm 2003 –2008

- Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn hộ gia đình, các cán bộ lãnh đạođịa phương, qua phỏng vấn thu thập những thông tin như: Cơ cấu cây trồng, chiphí đầu tư, năng suất, sản lượng, thu nhập và các vấn đề khác có liên quan đếnnội dung nghiên cứu của đề tài đồng thời thâm nhập, quan sát thực tế hiện trạngsản xuất nông nghiệp trên đồng ruộng

Trước tiên tôi tiến hành xây dựng phiếu điều tra ở đó phản ánh đầy đủcác nội dung thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu Nội dung củaphiếu điều tra bao gồm những vấn đề sau:

tên, giới tính, độ tuổi,

tích, giống, quy trình sản xuất,

Trang 26

Các thông tin về chi phí đầu tư, năng suất, sản lượng, thu nhập.

2.4.2 Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp

Sau khi đã có số liệu điều tra thu thập được thì tiến hành phân tích đánhgiá.Các số lệu được tổng hợp thành các bảng biểu, dựa vào các tài liệu thamkhảo, dựa vào sự hiểu biết của bản thân trong quá trình học tập để phân tíchđánh giá quy trình sản xuất cây đậu xanh và hiệu quả kinh tế của nó.Từ đó đềxuất quy trình sản xuất bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng máy tính tay và bảng tính excell thực hiện trên máy tính

Số liệu trong đề tài được xử lý bằng phương pháp tính toán tổng hợp.Các chỉ tiêu tính toán đều quy về 1 ha/ năm

- Chi phí đầu tư = Giống + vật tư phân bón + thuốc bảo vệ thực vật +công lao động

- Doanh thu bình quân = Năng suất bình quân x đơn giá

- Lợi nhuận bình quân = Doanh thu bình quân – chi phí bình quân

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp ở huyện Hương Khê

3.1.1 Cơ cấu diện tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Hương Khê

Trang 27

Hương Khê là huyện miền núi, vừa có đất trống đồi trọc, vừa có nhữngkhu rừng đại ngàn với nhiều loại thực vật phong phú Trong tổng diện tích củatoàn huyện, đất rừng chiếm 77%, đất nông nghiệp và có khả năng nông nghiệpchỉ chiếm khoảng 23% diện tích Thực tế đất canh tác thường xuyên chỉ chiếmmột phần nhỏ của tổng diện tích Điều đó nói lên khả năng khai khẩn mở rộngdiện tích canh tác ở Hương Khê còn rất lớn.

3.1 Cơ cấu diện tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Hương Khê

Đơn vị Tổng diện tích đất tự nhiên (ha) Diện tích đất sản xuất nông nghiệp (ha)

Sở dĩ, Hương Khê có tổng diện tích đất tự nhiên lớn nhưng diện tích đấtsản xuất nông nghiệp lại chiếm một phần rất nhỏ vì phần lớn là diện tích đồinúi, sông ngòi, địa hình lại không bằng phẳng Do có nhiều khe suối và cácsông chảy xiết nên Hương Khê bị chia thành các lưu vực khác nhau Ngoàisông chính là Ngàn Sâu, các con sông nhánh cũng tạo thành các lưu vực riêngbiệt như lưu vực Ngàn Trươi, lưu vực Sông Tiêm, lưu vực Rào Nổ,

Qua điều tra ở 5 xã cho thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp cũng chỉchiếm một phần rất nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã, điển hình là xãPhú Gia với diện tích đất tự nhiên là 13.919,30 ha nhưng diện tích đất sản xuấtnông nghiệp chỉ chiếm 452,73 ha, xã Lộc Yên diện tích đất tự nhên là10.641,70 ha nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp cũng chỉ chiếm 511,86ha

Trang 28

Theo con số thống kê của phòng thống kê huyện Hương Khê năm 2007,

số dân trong độ tuổi lao động là 51684 người trong đó số người lao động nôngnghiệp là 37206 người Điều đó cho thấy một thực tế là phần lớn người dânsống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên Hương Khê là huyện cónền sản xuất chủ yếu thuần nông, lại nằm vào địa hình phức tạp, khí hậu khắcnghiệt nên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế

3.1.2 Cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Hương Khê

Năm 2008 toàn huyện Hương Khê gieo trồng được 11.356 ha chiếm98,5% trong tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện (11.528 ha).Nhìn chung cơ cấu cây trồng của huyện Hương Khê khá phong phú và đa dạng.Chúng ta sẽ thấy rõ hơn về cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện ở bảng sau

3.2 Cơ cấu diện tích gieo trồng huyện Hương Khê năm 2008

TT Diễn giải Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Trang 29

- Nhìn chung trong cơ cấu cây trồng của sản xuất nông nghiệp hiện naytrên địa bàn huyện Hương Khê thì lúa và đậu vẫn là loại cây chiếm ưu thế Lúa

là cây lương thực chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chung của cây trồng trênđịa bàn huyện Hương Khê với tổng diện tích gieo cấy là 4850 ha, còn đậu đứngthứ 2 về diện tích gieo trồng đạt 3100 ha Lúa và đậu là hai loại cây cung cấpmột lượng lớn cho nhu cầu thức ăn, dinh dưỡng của con người

- Cây đậu trong thời gian gần đây đang được bà con chú trọng sản xuất,bởi cây đậu không chỉ mang lại thu nhập đáng kể cho người nông dân mà nócòn là nguồn phân xanh, là loại cây có tác dụng cải tạo đất tốt

- Xếp thứ 2 về diện tích trong tổng diện tích đất gieo trồng, cây đậu ngàycàng khẳng định được vị trí trong cơ cấu cây trồng chung của toàn huyện và nóđược xem là cây trồng chính trong vụ hè thu của bà con nông dân huyện HươngKhê

3.1.3 Thực trạng sử dụng các công thức luân canh trên địa bàn huyện Hương Khê

Luân canh là sự luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian và thờigian trong một chu kỳ nhất định Luân canh là một biện pháp kỹ thuật nhằmmục đích lợi dụng tốt nhất các điều kiện tự nhiên và xã hội cụ thể của từngvùng sản xuất Phải nói rằng luân canh là trung tâm của các biện pháp kỹ thuậtkhác, khi có chế độ luân canh ổn định thì các biện pháp mới phát huy kỹ thuật.Với mức đầu tư kinh tế nhất định luân canh làm tăng hiệu quả tài nguyên thiênnhiên từ đó tăng tổng sản lượng và mang lại lợi nhận cao nhất

3.3 Một số công thức luân canh trên địa bàn huyện Hương Khê

TT Công thức luân canh Điều kiện áp dụng

1 Lúa Đông Xuân - Lúa Hè Thu - Cây vụ Đông Đất 2 lúa trũng, chủ

Trang 30

động nước

2 Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Lúa Mùa muộn Đất thịt nhẹ, đất bồi ven song

3 Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Ngô Đất thịt nhẹ, đất cát

pha, đất bồi ven sông

4 Lạc Đông Xuân – Đậu Hè Thu - Rau vụ Đông Đất thịt nhẹ, đất cát

pha, đất bồi ven sông

5 Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Mía, sắn Đất thịt nhẹ, đất thịt nặng, đất cát pha, đất

bồi ven sông(Nguồn: Phòng NN - PTNT Hương Khê 2008)Qua khảo sát thực tế tại địa phương việc sử dụng biện pháp luân canh có

từ rất lâu, người dân chỉ biết luân canh các loại cây trồng theo kinh nghiệm vàcác công thức luân canh đó cứ lặp đi lặp lại theo thời vụ, họ chưa thực sự dámmạnh dạn thay đổi các loại cây trồng khác nhằm mang lại hiệu quả cao hơn.Qua bảng chúng ta sẽ thấy rõ hơn về vấn đề này:

- Công thức 1: Lúa Đông Xuân - Lúa Hè Thu - Cây vụ Đông

Công thức này chủ yếu sản xuất trên đất 2 lúa Lúa là cây lương thựcđược bà con chú trọng hơn cả tuy nhiên người dân tập trung chủ yếu đầu tư cho

vụ lúa Đông Xuân còn lúa Hè Thu chiếm diện tích ít hơn, mặt khác lúa Hè Thuđược gieo cấy trên ruộng lúa Đông Xuân nên bị nhiễm sâu bệnh nhiều hơn, cókhă năng bị hạn hán nên năng suất cũng thấp hơn Cây vụ Đông được trồngtrên đất 2 lúa chủ yếu là khoai lang, nó cũng mang lại một phần thu nhập cho

bà con nông dân đặc biệt là cung cấp một lượng lớn thức ăn cho chăn nuôi

- Công thức 2: Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Lúa Mùa muộn

Đây là công thức mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân tuy nhiêncần phải gieo đậu sớm để tránh lụt vì phần lớn đậu xanh được gieo trên chânđất cát pha, đất bồi ven sông nên khi mùa mưa lũ tới nếu không thu hoạch kịp

bà con sẽ bị thiệt hại rất nhiều

Công thức này không chỉ có tác dụng cải tạo đất tốt mà còn có tác dụnghạn chế sâu bệnh

- Công thức 3: Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Ngô

- Công thức 4: Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Mía, sắn

Trang 31

Công thức này có phần hợp lý, cây đậu, cây lạc là những cây cải tạo đấttrong khi đó mía, ngô, sắn là các loại cây phàm ăn nên việc trồng chúng trênnền đất trồng đậu, lạc là một biện pháp đúng đắn Tuy nhiên trong những nămtrở lại đây thì cây mía ở huyện Hương Khê đã giảm hẳn do năng suất thấp,không có thị trường tiêu thụ, thay vào đó là cây ngô đang được bà con chútrọng sản xuất.

- Công thức 5: Lạc Đông Xuân - Đậu Hè Thu - Rau vụ Đông

Nếu không trồng ngô thì thay vào đó bà con sẽ trồng các loại rau vụđông như rau cải, dưa chuột, hành tỏi, Các loại cây này phát triển trên nền đấtđậu rất tốt nên bà con không cần phải đầu tư nhiều mà cũng có thu nhập đángkể

Từ các công thức trên ta thấy rằng cây đậu xanh là cây chủ lực trong vụ

Hè Thu của bà con huyện Hương Khê, nếu như được quan tâm đúng mức thìchắc chắn nó sẽ góp phần xây dựng một nền nông nghiệp bền vững cho huyệnnhà

Luân canh cũng là biện pháp kỹ thuật làm tăng hiệu quả trong sản xuấtnông nghiệp Tuy nhiên do tập quán và trình độ của người dân còn có nhiềuhạn chế nên việc sử dụng cơ cấu cây trồng trong các công thức luân canh chưathực sự đạt hiệu quả cao về kinh tế cũng như các hiệu quả khác

3.2 Thực trạng sản xuất cây đậu xanh ở huyện Hương Khê

3.2.1 Kỹ thuật làm đất gieo đậu xanh

* Đặc điểm của đất đai ở vùng nghiên cứu

Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặcbiệt nó có vai trò quyết định đối với sự sinh tồn của con người và mọi sự sốngtrên trái đất Đất là nền tảng cơ bản cho hầu hết các quá trình sản xuất vật chấtcủa xã hội Chất lượng của đất quyết định đến năng suất cây trồng nông - lâmnghiệp Mỗi loại đất được hình thành trong những điều kiện tự nhiên nhất định,

có tính chất khác nhau rõ rệt, tính chất đất có mối quan hệ mật thiết tới đờisống của cây trồng và thảm thực vật Đất đai ở mỗi vùng khác nhau có độ phì

Trang 32

và tiềm năng năng suất khác nhau Độ phì, tính chất lý hoá của đất quyết địnhbởi nguồn gốc phát sinh, các điều kiện sinh thái khí hậu, chế độ canh tác, cơcấu cây trồng, v.v Những yếu tố này còn ảnh hưởng đến quá trình phong hoá,bào mòn, rửa trôi hoặc sự bồi tụ lắng đọng Các yếu tố đặc trưng của vùng đãtạo ra các loại đất khác nhau: Đất mặn, đất phù sa, phèn, đất xám bạcmàu, v.v Loại đất nào cũng chứa một tiềm năng năng suất nhưng khác nhaugiữa các loại.

Nhìn chung đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Hương Khê có 3loại đất: Đất bồi ven sông, đất pha cát, đất thịt Chúng ta sẽ thấy rõ quabảng sau:

3.4 Đặc điểm của đất đai ở vùng nghiên cứu

Đơn vị Loại đất Kỹ thuật làm đất

Xã Gia Phố Đất bồi ven sông, đất phacát, đất thịt nhẹ Sử dụng trâu, bò

Xã Hương Thuỷ Đất bồi ven sông, đất pha

cát, đất thịt nhẹ

Sử dụng trâu, bò, máy cày

Xã Hương Xuân Đất pha cát, đất thịt nhẹ Sử dụng trâu, bò

Xã Phú Gia Đất pha cát, đất thịt nhẹ,đất thịt nặng Sử dụng trâu, bò, máy cày

Xã Lộc Yên Đất bồi ven sông, đất phacát, đất thịt nhẹ Sử dụng trâu, bò

(Nguồn: Phòng NN - PTNT Hương Khê 2008)

- Đất phù sa hình thành ven các con sông, con suối, quanh các hồ đậptạo thành các bãi đất phù sa sản xuất cây ngắn ngày như ngô, lạc, đậu đỗ, câyphát triển rất tốt, năng suất cao Còn khi gieo trồng các loại cây này trên chânđất cát pha và đất thịt thì năng suất thấp hơn do mức độ đầu tư thâm canh thấp,cây không đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là chế độ tưới hầu như không có

- Ở xã Gia Phố, xã Hương Thuỷ, xã Lộc yên do có con sông Ngàn Sâuchảy qua nên mỗi khi mùa mưa lũ tới thì đây là những địa điểm bị ngập lụt đầutiên nhưng cũng nhờ đó mà đất đai ở đây rất màu mỡ

Trang 33

Thế mạnh của huyện Hương Khê là các sản phẩm từ cây công nghiệpngắn ngày chủ yếu là ngô, đậu, lạc, được canh tác trên đất phù sa, đất gò bãi,đất được bồi hay không được bồi hàng năm.

Mặc dù cây đậu xanh được xem là cây trồng chính trong vụ Hè Thu và

có thể nói sản lượng đậu xanh của huyện Hương Khê đứng nhất nhì của tỉnh HàTĩnh nhưng trên thực tế sản xuất nó vẫn chưa được bà con chú trọng đầu tưthâm canh vì nghĩ rằng cây đậu xanh có khả năng cải tạo đất do đó cây trồngkhông những thiếu chất dinh dưỡng mà còn làm cho tài nguyên đất ngày mộtcạn kiệt

Như vậy đất được hình thành trong các điều kiện khác nhau sẽ có tínhchất khác nhau, tất yếu tạo nên những loại đất khác nhau Mỗi loại đất lại thíchhợp với những loại cây trồng nhất định và cần có các biện pháp tác động tươngứng

Đất đai là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt nhất trong quá trình sản xuấtnông nghiệp Ở đó đất là yếu tố không thể thay thế được và là tiền đề quy địnhcho năng suất và sản lượng của cây trồng Thực tế sản xuất cho thấy đất đai lànguồn tài nguyên có hạn nếu chúng ta biết sử dụng một cách hợp lý thì năngsuất của cây trồng không ngừng tăng lên đồng thời bảo vệ được giá trị to lớncủa đất Vì vậy trong tất cả các hoạt động sản xuất liên quan đến đất nói chung

và sản xuất nông nghiệp nói riêng chúng ta cần có những biện pháp thích hợp

để duy trì sức sản xuất từ đất đai

* Kỹ thuật làm đất gieo đậu xanh

Làm đất là tác động các biện pháp cơ giới, vật lý vào đất làm thay đổitrạng thái, tính chất lớp mặt tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng Cácbiện pháp làm đất tác động mạnh đến tính chất vật lý, hóa học và sinh học củalớp đất canh tác vì vậy ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát ttriển của cây trồng

Vì vậy làm đất giữ vai trò quan trọng trong sản xuất trồng trọt [19]

Đậu xanh không có yêu cầu chặt chẽ về đất đai trừ đất sét nặng và đấtchua mặn, các loại đất khác đều có thể trồng được đậu xanh Tuy nhiên do đặc

Trang 34

điểm khả năng chống hạn và úng kém của bộ rễ cây đậu xanh nên khi trồng đậuxanh cần chọn loại đất có thành phần cơ giới tương đối nhẹ như đất cát pha, đấtthịt nhẹ, có tầng đất mặt sâu trên 50cm, đất có cấu tượng, giữ nước và thoátnước tốt, pH thích hợp với đậu xanh khoảng 5,5 - 7.

Đất cần được cày bừa kỹ ở độ sâu 20 – 25 cm, tơi nhỏ, san phẳng, làmsạch cỏ và hết các tàn dư thực vật của vụ trước đó [9]

Hầu hết sản xuất nông nghiệp ở đây người dân vẫn sử dụng trâu bò đểcày kéo vì sản xuất manh mún, nhỏ lẻ nên người dân không có điều kiện để đầu

tư các thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất Mặt khác kỹ thuật làm đất trồngđậu xanh cũng khá đơn giản vì phần lớn diện tích gieo đậu xanh là trên chânđất trồng lạc và ngô vụ đông xuân

Sau khi thu hoạch lạc và ngô vụ đông xuân, người dân dùng trâu, bò càycho đất tơi nhỏ rồi dùng bừa san phẳng mặt đất, nhặt sạch cỏ là tiến hành gieođậu ngay Do năm nay thời tiết biến đổi bất thường, vụ lạc Đông Xuân thuhoạch muộn hơn so với các năm vì thế để kịp thời vụ nên bà con chủ động rútngắn thời gian làm đất, có nhiều hộ gia đình buổi sáng thu hoạch lạc xong buổichiều tiến hành làm đất và gieo đậu ngay

Qua khảo sát thực tế tại địa phương thì hầu hết người dân vẫn sử dụngtrâu bò để làm đất, chỉ có xã Hương Thuỷ và xã Phú Gia ngoài sử dụng trâu bòthì một số hộ gia đình có sử dụng máy cày để làm đất trên diện rộng và máycày ở đây cũng là do nhiều hộ gia đình góp lại để mua

3.2.2 Thực trạng bố trí lịch thời vụ gieo trồng đậu xanh ở huyện Hương Khê

3.5 Thực trạng bố trí lịch thời vụ sản xuất đậu xanh ở huyện Hương Khê

Trang 35

Xã Ngày gieo 3 lá Ra hoa đầu tiên Thu quả

Xã Gia Phố - Trà sớm :10 - 15/6- Trà chính vụ: 18 - 23/6

- Trà muộn : 25 - 30/6

17 - 22/628/6 - 2/7

Ưu thế của cây đậu xanh là có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, dễ

bố trí nên gần đây nhiều nơi đã làm 3 vụ đậu xanh trong một năm, nhưng diệntích vụ hè vẫn lớn hơn cả Trong thực tế việc bố trí thời vụ gieo không thể chỉđơn thuần căn cứ vào đặc điếm sinh lý của cây đậu xanh cũng như tình hình sâubệnh hại, các điều kiện thời tiết khí hậu có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng vàphát triển của cây đậu xanh mà lại phải dựa vào thời gian thu hoạch của câytrồng trước vì hầu hết đậu xanh được gieo trồng sau khi đã thu hoạch lạc vàngô Đông Xuân Chính vì thế nhiều khi không cho phép cây đậu xanh đạt đượcnăng suất mong muốn [14]

Ở huyện Hương Khê đậu xanh được gieo làm 2 vụ:

- Vụ xuân: Gieo tháng 3 Thu hoạch tháng 5

- Vụ hè: Gieo tháng 5,6 Thu hoạch tháng 7,8

Tuy nhiên trong vụ xuân diện tích gieo đậu xanh rất ít, toàn huyện chỉ có

200 ha, đầu vụ xuân dễ gặp rét nếu gieo sớm, có nhiều khả năng bị hạn, sâubệnh nhiều Chủ yếu đậu xanh được tập trung gieo vào vụ Hè Thu Vụ hè nhệt

Trang 36

độ cao, nắng nhiều, thích hợp cho đậu xanh sinh trưởng nhưng trong vụ nàymưa nhiều, dễ đổ, cần có giống chịu mưa, chống đổ tốt.

Mặc dù đã có sự chỉ đạo của phòng nông nghiệp huyện và uỷ ban nhândân các xã về lịch thời vụ sản xuất nhưng người dân vẫn phải tự quyết định lịchthời vụ gieo trồng của mình

Căn cứ vào tình hình sản xuất thực tế của địa phương, lịch thời vụ gieođậu xanh được chia làm 3 trà: Trà sớm, trà chính vụ và trà muộn

+ Trà sớm được gieo trên một phần đất ngô Đông Xuân

+ Trà chính vụ và trà muộn được gieo trên đất sau khi thu hoạch lạcĐông Xuân

Do năm nay thời tiết rét đậm rét hại kéo dài nên lịch thời vụ sản xuấtmuộn hơn so với các năm trước Sau khi thu hoạch lạc xong bà con tranh thủ

độ ẩm đất lạc tiến hành gieo đậu ngay tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch giữa các

xã, các hộ gia đình vì còn phải tuỳ thuộc vào khả năng thu hoạch lạc của mỗi

hộ gia đình

Ở xã Hương Thuỷ và xã Phú Gia gieo sớm hơn cả do hầu hết người dân

sử dụng máy cày để làm đất vì thế tiết kiệm được rất nhiều thời gian, khi câyđậu ở những vùng này lên được 3 lá thì ở một số xã mới tiến hành gieo như xãHương Xuân, xã Lộc Yên, xã Gia Phố

3.2.3 Thực trạng sử dụng giống đậu xanh ở huyện Hương Khê

Yêu cầu đối với một giống đậu xanh tốt là phải có năng suấtcao 15 - 20 tạ/ha, phẩm chất tốt phù hợp với từng mục đích nhất định, có thờigian sinh trưởng ngắn để có thể tăng vụ, ra hoa, quả và chín tương đối tậptrung, chỉ cần thu hoạch 2 - 3 đợt là cơ bản hết quả, có khả năng chống chịuđược sâu bệnh hại chính, đặc biệt là các bệnh phấn trắng, đốm nâu, gỉ sắt v.v

có khả năng thích ứng rộng và không hoặc ít mẫn cảm với quang chu kỳ [16]

Tuy đậu xanh là loại cây trồng quen thuộc lâu đời của nông dân ta, cónhiều giá trị kinh tế và giá trị sử dụng, dễ tiêu thụ, giá cao, thời gian sinhtrưởng lại ngắn, thích hợp với nhiều công thức luân canh, tăng vụ nhưng nó chỉ

Trang 37

được xem là cây trồng phụ Công tác nghiên cứu để chọn tạo giống mới chưađược quan tâm đầy đủ, trong sản xuất chủ yếu các giống cũ chưa được chọnlọc Những năm gần đây, các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam đãtiến hành nhập nội, chọn lọc và lai tạo giống phù hợp để giới thiệu cho sảnxuất Do đó một số giống tốt đã được phòng nông nghiệp huyện phổ biến cho

bà con, góp phần nâng cao năng suất đậu xanh như 92-1, VN93-1, đậu ĐăcLăc

Các giống cải tiến được phổ biến trong sản xuất đã góp phần quan trọngnâng cao năng suất đậu xanh, đưa đậu xanh trở thành cây trồng có ý nghĩa kinh

tế Do khả năng thích ứng của giống mới đã nâng cao diện tích và sản lượngđậu xanh huyện Hương Khê một cách đáng kể

Bộ giống đậu xanh Hè Thu năm nay gồm có: 92-1, VN93-1, đậu ĐăcLăc,đậu địa phương

Được sự chỉ đạo của phòng nông nghiệp huyện, trạm khuyến nông và uỷban nhân dân các xã nên một số giống nhập nội năng suất cao đã được ngườidân huyện Hương Khê gieo trồng thử vài năm trở lại đây, tuy nhiên diện tíchgieo trồng giống nhập nội vẫn còn rất ít, một phần vì bà con đã quen thuộc vớigiống địa phương có từ lâu đời nên không dám mạnh dạn thay đổi giống mới sợgặp rủi ro, một phần vì các giống mới này chưa được trồng thử nghiệm và phổbiến rộng rãi cho bà con Một ví dụ điển hình là ở xã Hương Xuân, năm 2007

đã tiến hành thí nghiệm so sánh giống địa phương, 92-1 và KPS1 nhưng dođiều kiện thời tiết khó khăn nên đành phải huỷ bỏ vì thế mà bà con vẫn tintưởng vào giống địa phương Và một yếu tố hạn chế sử dụng các giống mới đó

là giá tiền hạt giống địa phương rẻ hơn các giống mới rất nhiều Trong vụ HèThu năm 2008, giá tiền hạt giống địa phương là 11.000 - 13.000 đồng/kg, trongkhi đó giá giống mới là 22.000 đồng/kg

Không chỉ có giá tiền hạt giống tăng cao mà giá tiền vật tư nông nghiệpkhác cho sản xuất cũng tăng mạnh vì thế người dân không dám mạnh dạn hoặckhông có đủ điều kiện để đầu tư cho sản xuất, họ chỉ còn biết trông chờ vàothiên nhiên, được mùa thì tốt còn không cũng đành phải chấp nhận

Trang 38

Riêng có một mặt tích cực là giống đậu ĐăcLăc đang được bà con sử dụngnhiều ở trà muộn do giống này có thời gian sinh trưởng ngắn nên đến mùa mưabão xảy ra thì bà con cũng đã thu hái được lứa đầu, điển hình là ở xã Phú Gia,

xã Gia Phố

Qua điều tra thực tế tại địa phương thì hầu hết người dân đều sử dụnggiống địa phương trên diện tích rộng lớn, mặc dù năm 2007 bà con chỉ thu háiđược lứa đầu tiên nên vẫn còn giống để gieo trồng, một số gia đình bị lũ cuốntrôi thì phải mua ở các hộ gia đình khác hoặc mua ở trạm khuyến nông Giốngđịa phương chủ yếu là giống đậu Hà Nội và đậu Thái Bình được bà con gieotrồng đã khá lâu nhưng theo ý kiến của nhiều người dân thì đậu Thái Bình vẫnđược bà con gieo trồng nhiều hơn vì họ cho rằng đậu Thái Bình có thời giansinh trưởng ngắn hơn đậu Hà Nội

3.6 Đặc điểm các giống đậu xanh được sử dụng ở huyện Hương Khê

Giống Đặc điểm thân, lá Đặc điểm hạt Thời gian sinh trưởng (ngày) thích nghi Khả năng

Địa phương Thấp cây, lánhỏ Vỏ hạt xanh bóng,đẹp mã 75 Chống đổkém

92-1 Cây cao trungbình, lá vừa Vỏ mốc, ruộtvàng 65 - 70 Chống đổtốt

VN93-1 Cây cao trung

bình, lá vừa vỏ mốc, ruột vàng 75 - 80

Chống đổtốt

Đậu Đăclăc Cây cao, lá to Vỏ mốc, ruộtvàng, thơm 60 - 70 chịu nóngtốt

(Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra)Các giống đậu xanh địa phương của ta tuy chưa có điều kiện tập hợp vàđánh giá đầy đủ, nhưng qua các giống đã biết lâu nay thì thấy có những ưuđiểm chính là thời gian sinh trưởng ngắn, dễ tính, có thể trồng ở điều kiện khókhăn, chất lượng tốt, bở, bùi, thơm, nhiều quả v.v Nhưng cũng có không ít

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2. Tình hình sản xuất đậu xan hở nước ta - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê   tỉnh hà tĩnh
1.2. Tình hình sản xuất đậu xan hở nước ta (Trang 16)
Qua bảng trên ta thấy: Hương Khê có diện tích tương đối lớn với 129.912,46 ha đất tự nhiên, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 11.528,83 ha, phần lớn đất đai được sử dụng vào phát triển lâm nghiệp, đây chính là một trong những đặc trưng - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê   tỉnh hà tĩnh
ua bảng trên ta thấy: Hương Khê có diện tích tương đối lớn với 129.912,46 ha đất tự nhiên, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 11.528,83 ha, phần lớn đất đai được sử dụng vào phát triển lâm nghiệp, đây chính là một trong những đặc trưng (Trang 27)
3.2.7. Tình hình sâubệnh hại trên cây đậu xan hở huyện Hương Khê - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê   tỉnh hà tĩnh
3.2.7. Tình hình sâubệnh hại trên cây đậu xan hở huyện Hương Khê (Trang 48)
-Phân cành→ hình thành quả - Ra quả → thu hoạch - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê   tỉnh hà tĩnh
h ân cành→ hình thành quả - Ra quả → thu hoạch (Trang 49)
Tình hình sản xuất đậu xanh của nông hộ từ 2005 đến nay: - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê   tỉnh hà tĩnh
nh hình sản xuất đậu xanh của nông hộ từ 2005 đến nay: (Trang 72)
PHIẾU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU XAN HỞ HUYỆN HƯƠNG KHÊ – HÀ TĨNH - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây đậu xanh vụ hè thu ở huyện hương khê   tỉnh hà tĩnh
PHIẾU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU XAN HỞ HUYỆN HƯƠNG KHÊ – HÀ TĨNH (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w