1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an

74 717 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Phát Triển Làng Nghề Chế Biến Hải Sản Ở Xóm Phú Lợi, Xã Quỳnh Dị, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Luận Văn
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 721 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển làng nghề được đánh giá là một trong những hướng đi có hiệuquả trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Quỳnh Lưu nói ri

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng, biểu hiện cụ thể đó là tốc độ tăng GDP liên tục trong giai đoạn2005- 2008 với tốc độ cao, trung bình là 7.86% Và cơ cấu kinh tế Việt Namcũng chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tỷ trọng NN- LN- TS giảm từ 38.7% năm

1990 xuống còn 20.1% năm 2008; tỷ trọng ngành CN- XD tăng mạnh từ 22.7%năm 1990 lên 41.0% năm 2008; tỷ trọng ngành DV năm 2008 đạt 38.1% Tuyvậy, nhìn một cách tổng quát thì cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam năm 2008 cũngchỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của những nước trong khu vực Đông Nam Ávào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, và hiện vẫn lạc hậu hơn cơ cấu ngànhkinh tế năm 2005 của những nước này Bởi Vậy yêu cầu đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, giảm nhanh tỷ trọng NN, tăng tỷ trọng

CN, DV đang đặt ra đối với tất cả các địa phương, các ngành, các cấp Và một

bộ phận quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó là chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn Bởi dân số nông thôn Việt Nam năm 2008 vẫn chiếm73.25% tổng dân số “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn,nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính để tạo

ra nhiều việc làm mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho nông dân” được đặt

ra trong văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X Một giải pháp để thực hiệnđiều đó một cách hiệu quả chính là đẩy mạnh khôi phục và phát triển các làngnghề truyền thống ở các vùng nông thôn Việt Nam Và xóm Phú Lợi, xã Quỳnh

Dị, huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An cũng không nằm ngoài xu hướng chungđó

Phát triển làng nghề được đánh giá là một trong những hướng đi có hiệuquả trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh Nghệ

An nói chung và huyện Quỳnh Lưu nói riêng Nghị quyết số 06-NQ/TU của

1

Trang 2

Tỉnh uỷ Nghệ An và Nghị quyết số 07- NQ/HU của Huyện uỷ Quỳnh Lưu về

"Phát triển CN- TTCN và xây dựng làng nghề thời kỳ 2001-2010" đã mở ra mộthướng đi mới cho nền kinh tế nói chung và nhân dân nói riêng, đồng thời đãkhơi dậy mạnh mẽ tiềm năng phát triển TTCN và đặc biệt là xây dựng làng nghềtrong toàn huyện

Tuy nhiên, việc phát triển các làng nghề đã bắt đầu bộc lộ những bất cậpliên quan đến vấn đề môi trường Do đó cần phải có những biện pháp và địnhhướng cụ thể phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của làng nghề để vừa nâng cao thunhập vừa bảo vệ môi trường Từ đó rút ra những kinh nghiệm để phát triển làngnghề ở Phú Lợi cũng như các làng nghề khác trong cả nước Xuất phát từ ýtưởng này, trong thời gian thực tập ở Phòng Nông nghiệp $ PTNT cùng vớinhững kiến thức đã được học và khả năng của mình, tôi đã quyết định hoàn

thành luận văn của mình với đề tài: “Đánh giá thực trạng về làng nghề chế biến hải sản ở xóm Phú Lợi, xã Quỳnh Dị, huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An”.

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nhằm đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của làng nghề dựavào việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động của làng nghề Thấy được những kếtquả đạt được và những tồn tại hạn chế trong quá trình hoạt động của làng nghềCBHS Từ đó đề xuất một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng của làng nghề cả về mặt kinh tế - xã hội cũng như môi trường

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề Làng nghề truyềnthống TTCN

- Phân tích và đánh giá hoạt động của làng nghề

- Tìm ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến môi trường của làng nghề

Trang 3

- Đưa ra một số định hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt độnglàng nghề, nâng cao trách nhiệm của người dân phát triển làng nghề đi với tráchnhiệm bảo vệ môi trường.

3 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm có 4 chương:

Chương I: Tổng quan tài liệu

Chương II: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương III: Thực trạng phát triển làng nghề CBHS ở địa bàn huyện Quỳnh Lưu Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Do kiến thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn của tôikhông thể tránh khỏi những thiếu sót Mong nhận được sự đóng góp ý kiến từthầy cô và các bạn để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Th.s Nguyễn Công Thành, các anh chị trongPhòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quỳnh Lưu đã tận tình giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn này

3

Trang 4

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Các khái niệm về làng nghề, Làng nghề TTCN

Làng nghề là một cụm những hộ dân cư đang sinh sống trong một thôn(làng) cùng làm một nghề sản xuất ra một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó nhằmmục đích bán ra thị trường để thu lời Trong làng nghề, công nông nghiệp kếthợp với nhau, vừa làm nông nghiệp, vừa làm nghề hoặc làm nghề nhưng “lynông bất ly hương”

Nói đến làng nghề ta thường nghĩ ngay đến những làng làm nghề thủ côngtruyền thống như làng nghề lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng tranh Đông

Hồ Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ giản đơn vớicon mắt và bộ óc của nghệ nhân và thợ kỹ thuật Đối với mỗi nghề được xếp vàocác nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu tố sau:

+ Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là một nghềmới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi cũ truyền đạtlại kinh nghiệm và kỹ xảo kinh nghiệm

+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề

+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

+ Kỹ thuật chế biến (sản xuất) chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm đượctruyền từ đời này sang đời khác

+ Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất.Nhìn chung nghề truyền thống được hình thành gắn liền với điều kiện tự nhiêncủa vùng (đất đai, khí hậu, môi trường…) và như vậy nó gắn bó với vùngnguyên liệu có tình đặc thù cho sản xuất

Trang 5

+ Sản phẩm sản xuất ra mang tính chất độc đáo vừa là hàng hoá, vừa làsản phẩm văn hoá mang bản sắc văn hoá dân tộc, có giá trị chất lượng cao và có

vị trí cạnh tranh trên thị trường

+ Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, cóđóng góp đáng kể về kinh tế và ngân sách nhà nước, đồng thời nó còn sử dụnglao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn và lao động thành thị

Làng nghề thủ công được công nghiệp hoá, có những nét khác biệt so vớidoanh nghiệp nghề nghiệp Trước hết, doanh nghiệp nghề nghiệp là một tổ chứckinh tế có tư cách pháp nhân, sản xuất tập trung theo một kế hoạch chung, có cơcấu tổ chức chặt chẽ, còn làng nghề không có tư cách pháp nhân, các hộ gia đìnhtrong làng không được tổ chức phối hợp chặt chẽ, sản xuất phân tán, mạnh ai lấylàm, tuy nhiên lại tận dụng được nhân lực rỗi rãi, thời gian rỗi rãi và địa điểmsản xuất

1.1.2 Các đặc điểm và phân loại làng nghề

Thứ tư, làng nghề thường ở các làng quê gắn liền với sản xuất nôngnghiệp nông thôn nên nguồn vốn trong dân không nhiều Hơn nữa, hệ thống tín

5

Trang 6

dụng ở các vùng này hầu như chưa phát triển nên vốn đầu tư mở rộng quy môsản xuất, hiện đại hoá trang thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị trường, tiêuthụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế.

Thứ năm, các sản phẩm của làng nghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảolưu và phát triển của các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc

1.1.2.2 Phân loại

Có rất nhiều tiêu chí có thể được sử dụng để phân loại làng nghề Căn cứvào thời gian tồn tại và phát triển có thể chia làng nghề thành hai loại: Làngnghề truyền thống (cổ truyền) và Làng nghề mới

Trong làng nghề truyền thống (LNTT) ở nông thôn người ta có thể phânthành ba nhóm chính:

 Nhóm một: Chế biến nông lâm, thủy sản

 Nhóm hai: CN- TTCN & XD

 Nhóm ba: Dịch vụ

a Làng nghề truyền thống (cổ truyền): hình thành do các nghệ nhân truyền

nghề Những nghệ nhân này thường được suy tôn là tổ nghề Các làng nghềnổi tiếng thường được hình thành lâu đời và có tuổi nghề cao

Thế nào là nghề truyền thống, LNTT, một số cách hiểu phổ biến hiện naylà:

 Nghề truyền thống: bao gồm những nghề tiểu thủ công có từ trước thờiPháp thuộc, còn đến nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng máymóc hiện đại trong sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống

 LNTT: là những làng có từ 1/3 số hộ hoặc lao động cùng làm một nghềtruyền thống

 Xã nghề truyền thống: là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà cónhiều làng cùng làm một nghề truyền thống

Trang 7

 Phố nghề truyền thống: là những LNTT được đô thị hoá hoặc do nhiềulao động từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề Xã nghềtruyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT

Ngày nay, sự biến động của thị trường có tác động mạnh mẽ tới các làngnghề, các LNTT phát triển theo các xu thế:

 Nhóm các làng nghề dần bị mai một do sản phẩm không đáp ứng đượcnhu cầu của thị trường hoặc nhu cầu thị trường về sản phẩm làng nghề bị hạnchế

 Nhóm các LNTT cần được bảo tồn như làng nghề đúc đồng, nghề nặn

Tò He, làng vẽ tranh dân gian…Sản phẩm không có tính hàng hoá, thị trườngnhưng mang yếu tố truyền thống văn hóa dân tộc cần phải có chính sách bảo tồn

để không bị thất truyền

 Nhóm các LNTT phát triển tốt do sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thịtrường như các, làng nghề chế biến nông sản, làm đồ gỗ nội thất gia đình, hàngmây tre đan, làng dệt

Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sảnxuất cho ai, đều do thị trường quyết định Hay nói cách khác, là sản xuất và báncái mà người ta cần chứ không phải sản xuất và bán cái mà mình có Vậy cáichính ở đây là sản phẩm của làng nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thịtrường về kiểu dáng, chất lượng, giá cả thì mới có cơ hội phát triển được Chính

vì vậy, đòi hỏi các làng nghề cần phải luôn luôn cố gắng đổi mới công nghệ sảnxuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã để đáp ứngnhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm

b Làng nghề mới: Làng nghề mới được hình thành bằng nhiều con đường,

nhưng chủ yếu do sức ép về kinh tế, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy sựhình thành làng nghề mới ra đời

Các con đường hình thành nghề mới:

7

Trang 8

 Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số LNTT,tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận LNTT.

 Một số làng nghề gần đây mới hình thành một cách có chủ ý do chủtrương phát triển nghề phụ hay còn nói là cấy nghề mới Các nghệ nhân, thợ thủcông lành nghề ở địa phương khác về dạy nghề và phổ biến kinh nghiệm sảnxuất cho dân địa phương

 Một số làng nghề cổ truyền cũ bị mai một chuyển sang làm nghề mớinhằm tận dụng các điều kiện sẵn có và kỹ thuật tay nghề khéo léo của đội ngũthợ thủ công trong làng để bù đắp khoản thu nhập đã bị mất do nghề cũ

 Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có những

kỹ năng và có sự sáng tạo nhất định Từ sự sáng tạo đó, quy trình sản xuất vàsản phẩm của họ không ngừng được hoàn thiện

- Ưu điểm: Những làng nghề mới được hình thành chủ yếu là những nghề cótiềm năng phát triển nên sản phẩm ít nhiều đã có chỗ đứng trên thị trường

- Khuyết điểm: Làng nghề mới thì đội ngũ nghệ nhân lành nghề được đào tạobài bản không nhiều Do đó, sản phẩm của các làng nghề mới sản xuất rathường không tinh tế bằng sản phẩm của làng nghề gốc làm ra, dẫn đến giátrị sản phẩm trên thị trường cũng thấp hơn hẳn

1.1.3 Vai trò của LNTT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn

Vai trò của LNTT là một trong những vấn đề có tính thời sự cấp báchđang đặt ra hiện nay ở nông thôn nước ta Nông thôn Việt Nam với dân sốchiếm 73.2% dân số cả nước, nơi đây chiếm 56.8% lao động của cả nước Vànông thôn cũng chính là nơi có tỷ lệ nghèo đói chiếm phần lớn số người nghèocủa cả nước Một số vai trò của LNTT như sau:

1.1.3.1 Khôi phục và phát triển LNTT đã thu hút nhân lực, tạo thêm nhiều việc

làm cho người lao động, thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông thôn

Giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề bức xúc số một hiện nay, bởidân số và lao động gia tăng nhanh, diện tích đất canh tác trên đầu người thấp và

Trang 9

ngày càng thu hẹp, khả năng thu hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất nghiệp vàbán thất nghiệp cao.

Bảng 1.1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian

lao động ở nông thôn.

Kết quả này càng có ý nghĩa khi đạt được trong điều kiện dân số và sốngười đến tuổi lao động thời gian qua vẫn còn rất lớn Mặc dù tốc độ tăng dân sốgiảm từ 1.86% năm 1991 xuống còn 1.65% năm 1995, còn 1.36% (2000),1.33% (2005), nhưng quy mô dân số năm 2005 đã lên tới 83.127 nghìn người,tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991 Bình quân một năm tăng 1.058,6nghìn người Số người đến tuổi lao động hàng năm vẫn còn rất lớn, lên đến trên

1 triệu người, tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm, lao động

Như vậy, giải quyết việc làm cho số lao động đang thất nghiệp, thiếu việclàm, lao động đến tuổi lao động… là vấn đề bức xúc đang được đặt ra Đặc biệt,khu vực nông thôn với gần 75% dân số và với tỷ lệ thất nghiệp xấp xỉ 20%, thìvai trò của các làng nghề đóng góp vào việc giải quyết việc làm cho người laođộng là rất quan trọng Bởi trong các ngành nghề TCTT, lao động sống thường

9

Trang 10

chiếm tỷ lệ tới 60%- 65% giá thành sản phẩm, nên việc phát triển các làng nghề

sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động đang ngày càng

dư thừa một cách nhanh chóng ở nông thôn Sự phát triển làng nghề khôngnhững chỉ thu hút lao động dư thừa ở gia đình mình, làng xã mình, mà còn cóthể thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến làm thuê Khôngnhững thế, sự phát triển các làng nghề còn kéo theo sự phát triển của nhiềungành nghề dịch vụ khác, tạo được nhiều việc làm cho người lao động

Phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn trong những năm quakhông những đã góp phần tăng trưởng, tạo ra khối lượng hàng hoá đa dạng,phong phú phục vụ người tiêu dùng và xuất khẩu, mà còn thu hút nhân lực, giảiquyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy phân công lao động Giảm tỷ trọngdân cư và lao động nông nghiệp đến năm 2010 còn 50% như Nghị quyết đại hội

IX của đảng đề ra

Sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các hộ gia đình, các làng nghề, hộinghề, các hộ ngành nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn đã có tác dụngtích cực về nhiều mặt đến quá trình phát triển KT- XH và ngày càng trở thànhđộng lực mang tính nội sinh thúc đẩy quá trình phân công lao động và chuyểndịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Như vậy, với sự phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn, thu nhậpcủa người dân ngày càng được nâng cao từ sản xuất hàng hoá phi nông nghiệp,thu hút một bộ phận lớn nông dân chuyển hẳn sang hoạt động ngành nghề phinông nghiệp theo phương châm “ly nông bất ly hương” Và cũng có tác độnglớn trong việc tạo việc làm cho nông dân vào các tháng nông nhàn Điều này cótác động lớn hạn chế dòng người ồ ạt tự phát kéo ra các thành phố, thị xã gây rahậu quả khó lường

1.1.3.2 Sự phát triển của các LNTT đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông thôn, góp phần tăng trưởng (GDP), tạo ra khối lượng hàng hoá đadạng phong phú, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Trang 11

Phát triển LNTT nông thôn góp phần tăng trưởng, tạo ra khối lượng hànghoá đa dạng và phong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, là một trong nhữngnội dung quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theohướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụtrong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước.

Bảng 1.2 Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm.

Đơn vị: % Năm

Bảng 1.3: Số lao động và cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế.

1 Tổng số lao động

(nghìn người) 37609.6 38562.7 39507.7 40573.8 41590 42710NN- LN- TS 24481 24468.4 24455.8 24443.4 24730.7 24259.3

Trang 12

Cơ cấu lao động nông thôn thay đổi, tỷ trọng lao động trong nông nghiệpgiảm từ 65.09% năm 2000 xuống còn 56.80% năm 2008, tỷ trọng các ngành phinông nghiệp tăng, CN- XD tăng từ 13.11% năm 2000 lên 17.90% năm 2008,

DV tăng từ 21.80% năm 2000 lên 25.30% năm 2008 Góp phần phân bố laođộng hợp lý theo hướng “ly nông bất ly hương” Sự phát triển LNTT đã phá vỡthế thuần nông và tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy CNH- HĐH nôngnghiệp, kinh tế nông thôn

Việc khôi phục các nghề và các LNTT, phát triển các làng nghề mới, sảnphẩm mới, các doanh nghiệp nhỏ, các ngành nghề ở nông thôn một mặt tạo raviệc làm, tăng thu nhập và sức mua cho người dân nông thôn, mặt khác đóng vaitrò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ, phân tán, độccanh tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đa canh, kết hợp sảnxuất nông nghiệp với công nghiệp dịch vụ, thúc đẩy hình thành và phát triển thịtrường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường lao động trong nông thôn

Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nôngnghiệp phi tập trung, làm tiền đề để xây dựng công nghiệp lớn, hiện đại, là bướctrung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệplớn, hiện đại, đô thị hoá Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao độngtại chỗ, là nơi tạo ra sự kết hợp nông- công nghiệp có hiệu quả Sự phát triển củacác làng nghề là một trong những hướng rất quan trọng để thực hiện việc chuyển

cơ cấu kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH- HĐH

Tỷ trọng GDP của CN- TTCN, DV tăng lên trong tổng GDP được tạo ra

ở nông thôn Tỷ trọng nông nghiệp giảm trong khi sản lượng lương thực vẫntăng lên Thu nhập của các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọnglớn trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh tế của người dân nông thôn

Trên cơ sở tạo thêm được việc làm, tăng thu nhập các hoạt động ngànhnghề được coi như là một động lực trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu KT- XH

Trang 13

nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, xoá hộ đói, nâng cao phúclợi và ổn định xã hội.

Hiện nay, sản phẩm của ngành nghề nông thôn đang có triển vọng pháttriển rất rộng lớn:

- Thị trường trong nước với 83.1217 triệu dân (2005) tiếp tục là thị trườngquan trọng nhất của công nghiệp nông thôn Nhiều sản phẩm tiêu thụ tại chỗ (vậtliệu xây dựng, công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số sản phẩmchế biến lương thực, thực phẩm, hàng gia dụng) Nhiều sản phẩm có nhu cầungày càng tăng trong sự tăng trưởng kinh tế và đời sống nhân dân được nângcao

- Thị trường du lịch có tiềm năng lớn đối với ngành nghề thủ công nghiệp Sốkhách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, số người Việt Nam đi du lịch trongnước và nước ngoài cũng tăng nhanh, do đó sản phẩm quà lưu niệm của công nghiệpnông thôn hàng năm có thể bán cho khách du lịch ngày một tăng nhanh

Thị trường xuất khẩu của công nghiệp nông thôn cũng có tiềm năng lớn

Về lâu dài, thị trường xuất khẩu là thị trường quan trọng vì các nước phát triểngiá nhân công đắt, sản phẩm công nghiệp chủ yếu là bằng máy móc, vì vậy cácsản phẩm mang tính chất thủ công với kỹ xảo điêu luyện là rất có giá

1.1.3.3 Phát triển nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn truyền thống văn hoádân tộc

Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hoá ViệtNam luôn gắn liền với lịch sử phát triển các làng nghề Văn hoá làng với các thểchế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng, hôn nhân,nghề nghiệp, với các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậm nhữngsắc thái riêng đã tạo nên bản sắc truyền thống văn hoá phong phú, sâu đậm củadân tộc Việt Nam Lịch sử nông thôn Việt Nam đã ghi nhận, sự hình thành vàphát triển của các LNTT là một trong những thành tố quan trọng tạo nên nhữngnét đặc sắc của văn hoá làng Mỗi làng nghề đều thờ cúng một thành hoàng làng,

13

Trang 14

hoặc một ông tổ nghề riêng, với những lễ hội, phong tục, tập quán và những luật

lệ riêng Có nhiều nghề, LNTT ở nước ta đã nổi bật lên trong lịch sử văn hoá,văn minh Việt Nam

Nhiều sản phẩm của các làng nghề sản xuất ra mang tính nghệ thuật cao,mang tính riêng có của làng nghề, và những sản phẩm đó đã vượt qua giá trịhàng hoá đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hoá, là những bảo vật được coi làbiểu tượng đẹp đẽ của truyền thống dân tộc Việt Nam Ngành nghề truyềnthống, đặc biệt là các nghề thủ công mỹ nghệ, chính là di sản quý giá mà ôngcha ta đã tạo lập và để lại cho các thế hệ sau Làng nghề là cả một môi trườngkinh tế, xã hội, văn hoá Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuậttruyền từ đời này sang đời khác, hun đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài ba và nhữngsản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng Nhiều người nước ngoài biết đến ViệtNam thông qua những mặt hàng TCTT đặc sắc Bởi vậy, bảo tồn và phát triểncác làng nghề góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các giá trị văn hoá của dân tộcViệt Nam trong quá trình CNH- HĐH

LNTT là một cụm dân cư sinh sống tạo thành làng quê hay phường hội

Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá Những phong tục, tập quán, đền thờ,miếu mạo của mỗi làng, xã vừa có nét chung của văn hoá dân tộc Việt Nam,vừa có nét riêng của mỗi làng quê, làng nghề Các sản phẩm của LNTT làm ra là

sự kết tinh, sự giao lưu giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc Sản phẩmthủ công mỹ nghệ mang đậm nét văn hoá dân tộc thể hiện khá đậm nét qua cácbức họa điêu khắc trạm trổ Những sản phẩm đó làm cho sản phẩm làng nghềvừa mang nét đặc sắc riêng biệt, vừa mang những nét tương đồng với các dântộc khác trên thế giới Rõ ràng những sản phẩm của LNTT là dấu ấn di sản vănhoá quý báu mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ sau Vì vậy, trong quá trình CNHnếu không có ý thức bảo tồn nghề TCTT thì những nét văn hoá độc đáo đó sẽ bịmai một Cho nên, việc duy trì ngành nghề truyền thống là rất cần thiết vì cácsản phẩm TCTT có giá trị đặc biệt, nó mang trong mình bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 15

mà các dân tộc khác không có được Mặt khác, các sản phẩm TCTT là bứcthông điệp bền vững của một dân tộc được lưu truyền lại cho các thế hệ sau.

 Số hộ và số lao động làm nghề TTCN ở làng đạt từ 50% trở lên sovới số hộ và lao động của làng

 Có tỷ trọng giá trị thu nhập TTCN ở làng đạt trên 50% trong mộtnăm lao dộng

 Có tổ chức điều phối các hoạt động KT- XH ở làng nghề, phườnghội, HTX, câu lạc bộ, ban quản lý mang tính tự quản do ngườitrong làng bầu ra

 Có địa điểm là trung tâm sinh hoạt KT- XH của làng nghề liên quanđến hoạt động của làng nghề

 Sản phẩm làm ra mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản sắc dân tộcViệt Nam

 Sản phẩm có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác

Các tiêu chí trên được xây dựng xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn

để các cấp chính quyền căn cứ vào đó lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền côngnhận danh hiệu làng nghề

15

Trang 16

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Tình hình phát triển LNTT ở một số nước

Thái Lan

Là một nước có nghề TCTT, hàng hoá xuất khẩu vào loại khá của khuvực Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như chế tác vàng bạc, đá quý, đồtrang sức được duy trì và phát triển

Nghề gốm cổ truyền những năm gần đây phát triển, sản phẩm có chấtlượng cao, cạnh tranh trên thị trường thế giới và trở thành mặt hàng xuất khẩuthu ngoại tệ lớn Vùng gốm Chiềng Mai được xây dựng thành trung tâm quốcgia với ba mặt hàng truyền thống: gốm công nghiệp, gốm mới được sản xuấttrong 2 xí nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận Để nâng cao chất lượng sảnphẩm, chính phủ Thái Lan đã tích cực xúc tiến các chương trình nâng cao taynghề cho công nhân của 93 xí nghiệp, Gốm Chiềng Mai và Lam Dang Bên cạnh

đó, nghề kim hoàn, chế tác ngọc, chế tác đồ gỗ tiếp tục được phát triển, tạo việclàm và nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn Từ kế hoạch 5 năm lần thứ IV(1977- 1981), chính phủ Thái Lan đã chuyển chính sách CNH tập trung sangthực hiện chính sách phân tán hoá không gian công nghiệp, chú trọng phát triểncông nghiệp nông thôn Vì vậy, ở Thái Lan có rất nhiều xí nghiệp gia công sảnxuất đã được xây dựng ở nông thôn Ngoài ra, chính phủ còn khuyến khích cácdoanh nghiệp ở thành phố và nông thôn xây dựng xí nghiệp, nhất là xí nghiệpgia công nông sản phẩm và thủ công nghiệp Nhờ vậy, sản phẩm xuất khẩu củaThái Lan được mở rộng (ngoài các mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo,ngô, cao su, đường, ở nông thôn còn có thêm mặt hàng xuất khẩu mới như hảisản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau xanh…)

Bên cạnh đó, Thái Lan còn có phong trào “one Tambon, one product” haycòn gọi là “Thai Tambon project” (tiếng Thái “Tambon” nghĩa là làng) Đâyđược gọi là mỗi làng một sản phẩm, được phát động sau khi thủ tướng Thái Lan

đi thăm cửa hàng “one village, one product” tại Nhật Bản Chương trình này

Trang 17

được giới thiệu tại Thái Lan vào năm 1999, chính thức đi vào hoạt động vào10/2001 Trong chương trình này, chính Phủ Thái Lan đã hỗ trợ mỗi làng làm ramột sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao, chủ yếu hỗ trợ ở khâutiếp thị, xúc tiến bàn hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân.Chính phủ Thái Lan cho biết chỉ trong 4 tháng đầu năm 2002 chương trình này

đã đem lại 3.66 tỷ baht (84.2 triệu USD) lợi nhuận cho nông dân Năm 2003danh số bán hàng của các làng tham gia chương trình “mỗi làng một sản phẩm”

đã đạt mức 30.8 tỷ baht, tăng 13% so với 2002 Dự kiến đạt 40 tỷ baht năm 2004

và nhờ vào phong trào này mà người nước ngoài đã biết nhiều về sản phẩm thủcông của Thái Lan

Nhật Bản

Nhằm mục đích thúc đẩy phát triển các sản phẩm thủ công đặc trưng củamỗi vùng Trong quá trình tiến hành CNH nền kinh tế đất nước, ngành nghề thủcông Nhật Bản bị phân hoá và phát triển theo hai hướng: một số ngành nghềTTCN đi lên CNH (chiếm ưu thế); một số khác tiếp tục theo hướng thủ côngtruyền thống Bước vào những năm 1970, nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng từ chỗcoi trọng tính hợp lý cơ năng, chuyển sang xu hướng đa dạng hoá và đề cao cátính, coi trọng chất lượng, tính độc đáo hơn là số lượng theo kiểu tiêu chuẩn hoáđồng loạt Các cuộc khủng hoảng về nhiên liệu và một số tài nguyên thiên nhiênkhác trên thế giới vào những năm đó khiến Chính phủ Nhật Bản phải suy nghĩlại về giá trị của các làng nghề thủ công truyền thống đã tồn tại lâu đời, sử dụngtài nguyên tiết kiệm, hiệu quả Trong khi đó hàng TCTT Nhật Bản mất dần khảnăng cạnh tranh so với hàng tiêu dùng sản xuất bằng công nghiệp, lại vấp phảihàng loạt khó khăn về thông tin thị trường, tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu tựnhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường, nguồn nhân lực bị hút ra thành thị, vào cácngành sản xuất hiện đại hoá…Vì thế, các ngành nghề thủ công Nhật Bản đã bịsuy thoái

17

Trang 18

Trong bối cảnh đó, Nghị viện Nhật Bản năm 1974 đã ban hành Luật pháttriển nghề TCTT Được sự hỗ trợ của chính phủ, phong trào “mỗi làng một sảnphẩm” được khai sinh tại quận Oita vào năm 1979 với ý tưởng làm sống lại cácngành nghề TCTT Có hai khẩu hiệu nổi tiếng là “Nghĩ về tổng thể, hành động ởđịa phương”, và “Độc lập sáng tạo” Nhờ phong trào, một số sản phẩm truyềnthống của Oita trở thành nổi tiếng không chỉ ở Nhật Bản, mà còn trên thị trườngnhiều nước.

Từ thành công của quận Oita, sau 5 năm phát động cả nước Nhật đã có 20quận hưởng ứng các dự án tương tự như “sản phẩm của làng”, “chương trìnhphát triển thành phố quê hương”, “chương trình làm sống lại địa phương”…Tinhthần của phong trào này đã hấp dẫn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

Xí nghiệp Hương Tấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, nôngnghiệp, xây dựng, giao thông vận tải hoạt động ở khu vực nông thôn, bắt đầuxuất hiện vào đầu năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Tiềnthân của xí nghiệp Hương Tấn được bắt nguồn từ những cơ sở TTCN có truyềnthống lâu đời trong lịch sử Trung Quốc Đó là những phường hội, cơ sở thủcông nghiệp và làm nghề phụ như thêu ren, cán bóng, xay xát đã có từ lâu đời

và bước đầu thoát ly khỏi nông nghiệp Xí nghiệp Hương Tấn phát triển mạnh

mẽ, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo của Trung Quốc trong quá trình thực hiện chiếnlược CNH, lựa chọn con đường đi lên CNXH

1.2.2 Bài học kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số nước

Trang 19

Từ thực tiễn phát triển ngành nghề, LNTT ở một số nước trên, chúng ta cóthể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống gắn với quá trìnhCNH nông thôn

Trong quá trình CNH, đô thị hoá, thương mại hoá ở các nước đã có lúclàm cho nét độc đáo, tinh xảo của các làng nghề bị phai nhạt, lu mờ Nhưng vớicách nhìn nhận mới, các nước đã chú trọng và coi làng làng nghề là một bộphận của quá trình CNH nông thôn Do vậy, khi tiến hành CNH họ thường kếthợp thủ công với kỹ thuật cơ khí hiện đại tuỳ điều kiện cơ sở vật chất của mỗinước mà áp dụng công nghệ cổ truyền hay công nghệ hiện đại Đồng thời tổchức các cơ sở sản xuất gần vùng nguyên liệu và đặt tại làng xã có truyền thống

để tiện cho việc phát triển sản xuất, giao lưu hàng hoá

Hai là, chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn

Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọngđối với sự nghiệp phát triển của LNTT Vì thế các nước đều chú ý đầu tư chogiáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹ thuậttiên tiến Bởi vì, việc hình thành một đội ngũ lao động có tay nghề cao là rấtquan trọng Nếu thiếu yếu tố này thì việc tiếp thu khoa học công nghệ sẽ khôngthành công như mong đợi Nhìn chung các nước đều triệt để sử dụng nhữngphương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động như: bồi dưỡng tại chỗ,bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn theo phương châm thiếu gì huấn luyệnnấy Xúc tiến thành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạo một cách

có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc các địa phương có nhu cầu Để đào tạo

và bồi dưỡng tay nghề cho người lao động, các nước cũng rất chú ý đến kinhnghiệm thực tiễn, tức là mời những nhà kinh doanh, những nhà quản lý có kinhnghiệm trong việc CNH nông thôn để báo cáo một số chuyên đề tập huấn hoặcmang sản phẩm đi triển lãm, trao đổi

19

Trang 20

Ba là, để nâng cao vai trò của nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về tàichính cho LNTT phát triển sản xuất kinh doanh.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh của LNTT, từ vài thập kỷ gần đâycác Nhà nước rất quan tâm, có nhiều chủ trương, chính sách đề cập đến vấn đềphát triển ngành nghề TCTT Trong đó, chủ trương hỗ trợ về tài chính, tín dụngđóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của LNTT Sự hỗ trợ tàichính, vốn của Nhà nước được thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất ngânhàng, hoặc bù giá đầu ra cho người sản xuất Thông qua sự hỗ trợ giúp đỡ này

mà các làng nghề lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọn hướng sản xuất Nhà nướctạo điều kiện cho ngành nghề TCTT đổi mới công nghệ mẫu mã, nâng cao chấtlượng sản phẩm hàng hoá và sức cạnh tranh trên thị trường

Bốn là, Nhà nước có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩyLNTT phát triển

Đi đôi với việc hỗ trợ tài chính, tín dụng là chính sách thuế và thị trườngcủa Nhà nước để khuyến khích LNTT, ngành nghề truyền thống phát triển Bởi

vì, chính sách thuế được coi như phương tiện để kích thích sự phát triển củaLNTT và đóng vai trò thúc đẩy tiến bộ xã hội; còn thị trường là điều kiện tốtnhất cho sự tồn tại của mỗi đơn vị sản xuất trong làng nghề Thị trường khôngchỉ là nơi mua bán vật tư, nguyên liệu và sản phẩm của LNTT mà còn có những

ý kiến cố vấn kỹ thuật, các dịch vụ và nhiều thông tin quý giá

Năm là, khuyến khích sự kết hợp giữa công nghiệp và TTCN và trung tâmcông nghiệp với LNTT

Sự kết hợp giữa công nghệp với TTCN và trung tâm công nghiệp vớiLNTT là thể hiện sự phân công hợp tác lao động thông qua sự hỗ trợ giúp đỡ lẫnnhau, nhất là các vấn đề lựa chọn kỹ thuật và lựa chọn hướng sản xuất Để tạodựng cho mối quan hệ này, ở hầu hết các nước đều thiết lập chương trình kếthợp giữa các trung tâm công nghiệp với LNTT

Trang 22

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động của LNTT ở Phú Lợi:

Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xóm Phú Lợi- xã Quỳnh

Dị- huyện Quỳnh Lưu- tỉnh Nghệ An

Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ 16/02/2009 đến 20/04/2009.

Số liệu trong nghiên cứu được thu thập từ 1997- 05/2009

Về nội dung: Nghiên cứu chủ yếu về mặt định tính

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu các nguồn lực tác động đến Làng Nghề.

- Nhận xét, đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, của hoạt động LN

- Xác định các nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường ở LN

- Tìm hiểu nhu cầu mà người dân địa phương đề xuất để phát triển LN

- Đánh giá kết quả thực tiễn, đưa ra một số giải pháp và định hướngphát triển

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Trang 23

Nghiên cứu này sử dụng các số liệu báo cáo của UBND xã Quỳnh Dị đểđánh giá thực trạng phát triển LN trên địa bàn Quỳnh Dị, các bảng hỏi được tiếnhành điều tra ở Phú Lợi 1, Phú Lợi 2 và UBND xã quỳnh Dị.

Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu

Với đối tượng là các hộ gia đình trong làng nghề

Ở mỗi xóm đã được chọn, việc phỏng vấn được thực hiện bằng phiếu điềutra hộ gia đình có sản xuất CBHS tạo sản phẩm là nước mắm và các hộ tham giaCBHS tạo sản phẩm là cá trỏng hấp sấy khô

Các hộ được lựa chọn theo phương pháp chọn ngẫu nhiên theo nhómmẫu Các hộ được chia thành hai nhóm: (i) hộ tham gia chế biến nước mắm , và(ii) hộ tham gia CB cá trỏng Trên cơ sở danh sách hai nhóm hộ do cán bộ xãcung cấp sẽ tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên Việc chia hai nhóm mẫu để có thểđánh giá, so sánh được giữa những hộ làm và những hộ chưa làm có sự khácnhau như thế nào

Bảng 2.1: Dự kiến số phiếu điều tra hộ và con số thực tế đã thực hiện

Xóm Phú Lợi 1 Xóm Phú Lợi 2

Với đối tượng là các lao động trong làng nghề

Đối với lao động trong làng nghề, việc phỏng vấn được thực hiện bằngbảng hỏi, gồm:

 Lao động nam

 Lao động nữ

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

Thu thập thông tin số liệu thứ cấp

23

Trang 24

Các thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên; đặc điểm kinh tế- xã hội củahuyện, xã được thu thập qua các báo cáo tổng kết định kì, các tài liệu trong cácphòng ban, niên giám thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện, UBND huyện,UBND xã, báo cáo kết quả tổng hợp của UBND huyện Ngoài ra những thôngtin này cũng được thu thập qua sách báo, Internet…

Thu thập thông tin số liệu sơ cấp

Các thông tin thứ cấp được thu thập bằng phiếu điều tra Dựa trên các tiêuchí đánh giá (các hoạt động, thu nhập, nguyên liệu, môi trường ) để xây dựngcác chỉ tiêu và từ đó xây dựng bộ câu hỏi điều tra các hộ và các lao động làmviệc CBHS (xem phụ lục 2 và 3)

Trang 25

Chương 3

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI ĐỊA BÀN

HUYỆN QUỲNH LƯU

3.1 ĐÁNH GIÁ VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Quỳnh Lưu là một huện đồng bằng ven biển nằm ở Đông Bắc Nghệ An,cách thành phố Vinh 75 km về phía nam Quỳnh lưu có 88 km đường ranh giớiđất liền và 34 km đường bờ biển

Quỳnh Lưu tiếp giáp với:

 Huyện Tĩnh Gia Thanh Hoá về phía nam

 Biển Đông về phía Đông

 Nghĩa Đàn về phía Tây

 Yên Thành và Diễn Châu về phía NamQuỳnh Lưu nằm trên các trục giao thông chính: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 48,Đường sắt Bắc- Nam Quỳnh Lưu là trung tâm giao lưu kinh tế giữa các huyệnđồng bằng và miền núi, trung du Nó còn là một trong ba trọng điểm lớn về pháttriển kinh tế(Vinh- Quỳnh Lưu- Phủ Quỳ)

Quỳnh Lưu thuộc khu kinh tế Nam Thanh- Bắc Nghệ có khu công nghiệpHoàng Mai với nhiều lợi thế trong khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuấtchế biến nông hải sản

Địa hình

Quỳnh Lưu vừa là một huyện ven biển, vừa là huyện bán sơn địa miềnnúi Trên cơ sở những đặc điểm về sinh thái, địa hình, tiềm năng đất đai, tậpquán sản xuất, huyện Quỳnh Lưu được chia làm bốn vùng:

25

Trang 26

- Vùng miền núi bán sơn địa gồm các xã phía Tây và Tây Nam: QuỳnhThắng, Quỳnh Châu, Quỳnh Tam, Tân Sơn, Ngọc Sơn và Quỳnh Tân, đặc điểmcủa vùng này là xen kẽ cả ba dạng địa hình núi, đồi, thung lũng.

- Vùng Hoàng Mai ở phía Bắc huyện gồm các xã quỳnh Vinh, Quỳnh Lập vàQuỳnh Thiện (thị trấn Hoàng Mai) Đây là những dãy núi kéo dài và thông rabiển

- Vùng ven biển gồm các xã từ Quỳnh Lập đến Quỳnh Thọ có chiều dài 34

km, có ba cửa sông thông ra biển, là vùng giao lưu kinh tế- xã hội quan trọngcủa huyện

- Vùng Nông Giang: đây là vùng đồng bằng địa hình tương đối bằng phẳng,

là địa bàn quan trọng trong phát triển nông nghiệp của huyện

Khí hậu

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 200c- 240c, chênh lệch nhiệt

độ giữa các tháng trong năm khá cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóngnhất( tháng 6 đến tháng 7) là 38.90c và các tháng lạnh nhất là 5.70c (tháng 12 nămtrước đến tháng 12 năm sau) Số giờ nắng trung bình trong năm là 1600- 1700giờ

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Quỳnh Lưu).

- Chế độ mưa: Quỳnh Lưu là huyện có lượng mưa bình quân hàng năm 1.459mm, xếp vào loại trung bình trong cả nước nhưng do địa hình đồi núi dốc,

độ che phủ thấp nên hàng năm gây ra xói mòn mạnh Lượng mưa hàng năm dao động từ 920 mm đến 2047 mm

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Quỳnh Lưu).

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm của huyện là 86%,tương đương với mức bình quân của tỉnh Độ ẩm không khí cũng có sự chênhlệch giữa các tiểu vùng và theo mùa Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng

ẩm nhất và tháng khô nhất lên tới 18- 19% Cường độ bốc hơi từ 1200 mm đến

1300 mm/ năm, cao hơn nhiều so với mức bình quân trong tỉnh (700- 940)

Trang 27

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Quỳnh Lưu).

- Chế độ gió: Quỳnh Lưu chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùaĐông Bắc và gió phơn Tây Nam

+ Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng

4 năm sau Bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theokhông khí lạnh và khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5- 10 độ so với nhiệt độtrung bình năm

+ Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ củavùng Bắc Trung Bộ Gió phơn Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán,ảnh hưởng không tốt sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân toàn huyện )

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Quỳnh Lưu) Tài nguyên biển và ven biển

Quỳnh Lưu co bờ biển dài 34 km với ba cửa sông đổ ra biển là Cửa Cờn,Cửa Quèn, Cửa Thơi, có nhiều thực vật và động vật phù du là nguồn thức ăn tốtcho cá, tôm

Cá biển: tính từ kinh độ 1080 E trở vào, khối lượng cá thể có khả năngkhai thác là 24000 tấn, trong đó cá nổi là 9000 tấn, cá đáy là 15000 tấn Tính từ

độ sâu 40 m nước trở vào, khả năng khai thác là 5500 tấn, trong đó cá nổi là

3000 tấn và cá đáy là 2500 tấn.

(Nguồn: phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện quỳnh Lưu)

Tôm: Có khoảng 20 loài, 8 giống và 6 họ trong đó có những loài có giá trị

kinh tế cao và sản lượng nhiều là tôm he, tôm rảo, bộp, vàng, sắt, đá, hùm chủ yếu phân bổ ở độ sâu 30 m nước trở vào, khả năng khai thác hàng năm là

150 - 175 tấn, trong đó tôm he 50- 55 tấn.

(Nguồn: phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện quỳnh Lưu)

Mực: Phân bổ ở khắp vùng biển Quỳnh Lưu, có nhiều loại cho sản lượng

cao như mực ống, mực nang, mực cơm, khả năng khai thác hàng năm là

1700-2000 tấn

27

Trang 28

(Nguồn: phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện quỳnh Lưu)

Các nguồn lợi khác: Ở độ sâu 6- 11 m nước còn nhiều loại hải sản như

moi, sò, ốc, cua bể là nguồn lợi đáng kể cả về sản lượng cũng như giá trị

Nhìn chung nguồn hải sản ở Quỳnh Lưu phong phú đa dạng, trữ lượnglớn song đến nay chưa được đầu tư khai thác hợp lý, hiệu quả

3.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội

3.1.2.1 Đặc điểm dân số và lao động

Dân số trung bình của huyện năm 2008 là 375,05 nghìn người, tăng 0,9%

so với năm 2007, tăng bình quân 1,22% trong giai đoạn 2001- 2005 và đang có

xu hướng giảm dần trong vài năm gần đây (bình quân 0,88 % năm giai đoạn2006- 2008) Mức tăng này thấp hơn so với mức tăng bình quân của tỉnh(1,15%), vùng (1,09%) và cả nước (1,29%) trong ba năm gần đây do thực hiệntốt công tác dân số và do một bộ phận thanh niên đi làm việc ở các địa bàn khác

và đi xuất khẩu lao động

Tỷ lệ dân số nam và nữ của huyện không biến động nhiều trong nhữngnăm qua và dân số nữ thường cao hơn dân số nam, tuy nhiên mức độ chênh lệchkhông cao, năm 2008 tỷ lệ dân số nữ là 50,8%

Tính đến tháng 7/2007, dân số trong độ tuổi lao động của huyện là 205,65nghìn người, chiếm 55,77% dân số toàn huyện Lực lưỡng lao động có 199,57nghìn người , chiếm 47,73 % dân số

Tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của huyện năm 2008 là182,42 nghìn người (chiếm 88% lực lưỡng lao động của toàn huyện)

Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động huyện diễn ra chậm hơn nhiều so vớitốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ lệ nông- lâm- thủy sản tuy giảm đi nhưngvẫn còn ở mức cao, năm 2008 chiếm gần 80% tổng số lao động làm việc, đây là

tỷ lệ rất lớn so với mức bình quân trong toàn tỉnh (65,98%), vùng Bắc Trung Bộ(67%) và cả nước (50,04%) Lao động công nghiệp - xây dựng giảm đi tronggiai đoạn 1996- 2000 và chỉ từ năm 2001 trở đi mới tăng liên tục qua các năm

Trang 29

(bình quân 4,98% /năm giai đoạn 2001- 2005 và 5,23%/ năm giai đoạn 2008) nhưng đến nay mới chiếm 11,64% tổng số lao động làm việc Lao độngdịch vụ tăng nhanh nhất (bình quân 7,24%/ năm thời kỳ 1996- 2005, trong đógiai đoạn 2001- 2005 tăng nhanh hơn: 7,445/ năm).

2006-Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn của Quỳnh Lưu chưa cao vàkhông tăng lên trong thời gian gần đây, năm 2007 đạt 78% Tỷ lệ này tươngđương mức trung bình của toàn vùng Bắc Trung Bộ (77,91%) nhưng lại thấphơn mức trung bình của cả nước (81,79%)

3.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế

Quy mô nền kinh tế được mở rộng, tạo điều kiện nâng cao đời sống nhândân Năm 2008 giá trị tăng thêm bình quân đầu người của huyện là 5,48 triệuđồng, đạt mục tiêu Nghị Quyết đại hội Đảng Bộ Huyện lần thứ XXIV (trongkhoảng 5,4- 6 triệu đồng) Sau ba năm tăng tưởng vượt bậc, giá trị tăng thêm củangành kinh tế Huyện đạt 3400,43 tỷ đồng ( theo giá hiện hành) vào năm 2008,nâng giá trị tăng thêm bình quân đầu người lên 9,07 triệu, cao hơn so với mứcbình quân của tỉnh (GDP/người là 9,01 triệu đồng)

Nền kinh tế của huyện tăng trưởng nhanh hơn từ năm 2000 trở lại đây,vượt mức bình quân của tỉnh và Vùng Xét trong 10 năm (1996- 2005), tốc độtăng trương GDP bình quân của huyện là 11,5%/năm, tốc độ này cũng luôn caohơn mức bình quân trong toàn Tinh Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ Đặc biệt,trong giai đoạn 2001- 2005, tốc độ tăng trưởng của huyện đạt cao hơn nhiều sovới mức tăng trưởng chung của tỉnh Nghệ An (9,51%/năm) và vùng Bắc Trung

Bộ (10,25%/năm) Năm 2006, 2007 và 2008 nền kinh tế huyện tiếp tục được tốc

độ tăng trưởng cao, tương ứng là 10,755/năm, 9,18%/năm và 7,84%/năm

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Quỳnh Lưu xét theo ngành và khu vực kinh tế thời kỳ 1996- 2005

29

Trang 30

Đơn vị %

Giai đoạn 1996- 2000

Giai đoạn 2001- 2005

Giai đoạn 1996- 2005

Giai đoạn 2006- 2008

1 Theo ngành kinh tế

2 Theo khu vực kinh tế

Xét về mức đóng góp cho tăng trưởng GDP, bảng dưới đây cho thấy tronggiai đoạn 1996- 2000, khu vực sản xuất vật chất đóng góp 73,36% và khu vựcphi nông nghiệp đóng góp 60,39%, trong đó ngành công nghiệp- xây dựng đónggóp 33,75%, ngành nông- lâm nghiệp- thuỷ sản là 39,61% và dịch vụ là 26,64%.Trong giai đoạn 2001- 2005, tỷ lệ đóng góp của hai khu vực này đạt tương ứng

là 85,4% và 88,74%, cụ thể ngành công nghiệp- xây dựng đóng góp 33,75%,ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản là 11,26% và dịch vụ là 11,6% Như vậy,khu vự sản xuất vật chất vẫn là khu vực có đóng góp quan trọng nhất vào nềnkinh tế huyện và mức đóng góp của ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng lênkhá nhanh, ngược lại mức đóng góp của ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản đã

Trang 31

giảm nhanh Năm 2008, tỷ lệ đóng góp của ba nhóm ngành trên vào nền kinh tếtương ứng là 37,88%, 33,31%, và 28,01% Điều này cho thấy, ngành côngnghiệp- xây dựng tiếp tục có đóng góp quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế;ngành dịch vụ đang dần dần khai thác các lợi thế để tăng trưởng nhanh.

• Hiệu quả của nền kính tế đã được cải thiện theo thời gian nhưng chưa

tương xứng với tiềm năng

Tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ) của toàn nền kinh tế Huyện (tínhtheo giá SS 1994) trong cả thời kỳ 1996- 2005 là 10,4%/năm, trong đó giai đoạn1996- 2000 là 9,0%/năm và giai đoạn 2001- 2005 là 11.9%/năm Ngành côngnghiệp- xây dựng đạt tốc độ tăng NSLĐ cao nhất, bình quân 28,9 %/năm thời

kỳ 1996- 2005, trong đó giai đoạn 2001- 2005 tăng bình quân 28,4%/năm Nguyên nhân là do số lượng lao động trong ngành tăng rất chậm, nhưng giá trịtăng thêm (GTTT) của ngành lại rất nhanh nhờ sự phát triển nhanh của một sốphân ngành như sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thuỷ sản NSLĐ ngành

31

Trang 32

nông- lâm nghiệp- thuỷ sản tăng ở mức khá cao, bình quân 4%/năm thời kỳ1996- 2005, tuy nhiên trong ba năm 2006- 2008 lại tăng chậm hơn nhiều, chỉđạt 2,8%/năm Ngành du lịch có tốc độ tăng NSLĐ thấp nhất, bình quân2,4%/năm trong cả thời kỳ 1996- 2005 nhưng kể từ năm 2005 đến nay đã đạttốc độ tăng nhanh, bình quân 7,1%/năm

Mức NSLĐ chung của toàn ngành kinh tế năm 2005 là 7,4 triệu đồng( theo giá SS 1994) và 12,3 triệu đồng theo giá HH, cao hơn mức bình quân củaTỉnh (tương ứng là 6,65 triệu đồng và 10,93 triệu đồng ), nhưng thấp hơn mứcbình quân của cả nước ( tương ứng là 9,2 triệu đồng và 19,62 triệu đồng ) Năm 2008, NSLĐ đạt tương ứng là 8,6 triệu đồng và 18,6 triệu đồng, trong đóngành công nghiệp- xây dựng có mức NSLĐ cao nhất (34,4 triệu đồng tính theogiá SS 1994 và 55,3 triệu đồng tính theo giá HH)

Ngành nông- lâm nghiệp- thuỷ sản là ngành thu hút nhiều lao động nhất trongnền kinh tế Huyện nhưng cũng là ngành có NSLĐ thấp nhất, năm 2008 đạt 3,5triệu đồng theo giá SS 1994 và 8,1triệu đồng theo giá HH NSLĐ ngành dịch vụtương ứng là 20,4 triệu đồng và 46,4 triệu đồng

 Tốc độ trăng trưởng cao nhưng chất lượng tăng trưởng còn thấp

Xét trên toàn nền kinh tế, tốc độ tăng của giá trị sản xuất (GTSX) của nềnkinh tế Huyện luôn cao hơn tốc độ tăng GTGT Trong giai đoạn 2001-2005, cáccon số tương ứng là 17,08%/năm và 13,53%/năm và trong năm 2008 là8,42%/năm và 7,84%/năm Điều này cho thấy chi phí trung gian đã tăng liên tụctrong thời gian gần nguyên nhân chủ yếu là do mặt bằng chi phí đầu vào của cácyếu tố sản xuất đều tăng và việc bố trí và sử dụng các nguồn lựcchưa hợp lý.một nguyên nhân quan trọng nữa khiến chất lượng tăng trưởng của Huyện cònthấp là các ngành đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng vẫn chủ yếu các ngànhtruyền thống, khai thác lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, chưa ứng dụng nhiềuthành tựu của khoa học kỷ thuật vào sản xuất Năng lực cạnh tranh của nhiềusản phẩm còn thấp, phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hiểu quả sản

Trang 33

xuất, kinh doanh chưa cao Trình độ nguồn nhân lực còn thấp, chủ yếu tập trungtrong ngành nông- lâm nghiệp - thuỷ sản, khả năng tạo ra giá trị gia tăng cònhạn chế.

Đời sống của người dân đã được cải thiện nhưng chất lượng sống chưa cao

do GDP bình quân đầu người và thu nhập của người dân còn thấp Trong thời

kỳ 1996- 2005, tốc độ tăng GDP bình quân đầu người của Huyện là10,29%/năm, trong đó giai đoạn 1996- 2000 tăng 8,45%/năm, giai đoạn 2001-

2005 tăng 12,16%/năm Nhưng giá trị tuyệt đối đạt được khá thấp, năm 2005GDP bình quân đầu người là 3,3 triệu đồng (tính theo giá Ss 1994), chỉ bằng69,9% của cả nước (4,72 triệu đồng) Năm 2008,GDP bình quân đầu người tínhtheo giá SS 1994 của Huyện tiếp tục tăng , đạt 4,19 triệu đồng,thấp hơn bìnhquân của cả nước (5,7 triệu đồng ) tỷ lệ hộ nghèo ở Quỳnh Lưu còn cao Chấtlượng tăng trưởng của Quỳnh Lưu rõ ràng còn thấp so với tiềm năng củaHuyện

3.1.2.3.Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế

Xu hướng chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế của Huyện tương đối rõ nét vàđúng hướng Các ngành công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản, chế biến lương thựcthực phẩm, vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng GTSX

và GTTT của công nghiệp Huyện Ngành tiểu thủ công nghiệp (TTCN) pháttriển khá đa dạng với nhiều nhóm ngành GTTT (tính theo giá HH) của côngnghiệp Huyện chiếm tương ứng 17,01% ; 32,31% và 30,75% tổng GTTT côngnghiệp toàn vùng kinh tế biển của Tỉnh vào năm 2000, 2005 và 2008, chỉ đứngsau TP Vinh (51,53%; 45,37% và 50,243%)

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 34

(Nguồn: Phòng kế hoạch- Tài chính huyện Quỳnh Lưu).

Bảng 3.3 dưới đây cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu của hai khối ngànhNông nghiệp và phi nông nghiệp đã diễn ra theo chiều hướng tích cực Tỷ trọngcủa ngành phi nông nghiệp trong tổng GTGT của Huyện tăng gần gấp đôi từ33,5% (năm 1995) lên 65.52% (năm 2008), bình quân tăng 2,46 điểm %/năm.Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xét theo hai khối ngành SXVC vàsản xuất DV chưa hợp lý Tỷ trọng của khối ngành DV khá thấp và không ổnđịnh, năm 1995 là 22,9%, năm 2000 tăng lên 25,68% nhưng đến năm 2008 giảmcòn 22,01% Trong khi đó, khối ngành SXVC chuyển dịch chậm với tỷ trọngtăng không đáng kể từ 77,1% năm 1995 lên 77,99% năm 2008 (tăng bình quân0,07 điểm %/năm) nên chưa đủ khả năng tạo ra một cơ cấu kinh tế hài hoà

Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế Huyện Quỳnh Lưu thời kỳ 1995- 2008

Đơn v ị: %

Loại cơ cấu Ngành / Khối ngành 1995 2000 2005 2008

Cơ cấu kinh tế theo

Trang 35

Cơ cấu kinh tế theo

(Nguồn: Tính toán từ số liệu tổng hợp của Phòng Kế hoạch- Tài chính, Sở

Kế Hoạch và Đầu tư Tỉnh Nghệ An).

Cơ cấu thành phần kinh tế.

Cơ cấu thành phần kinh tế của Quỳnh Lưu đanh chuyển dịch theo hướngđúng quy luật của kinh tế thị trường Các thành phần kinh tế phát theo hướngngày càng đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhànước, phát huy tiềm năng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Các doanh nghiệp thuốc khu vực kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủđạo, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đóng góp khoảng 90% tổng GTSXtoàn huyện Tuy nhiên, những doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có đóng gópquan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Huyện tập trung trong nhóm ngànhkhai thác tài nguyên sẵn có trên địa bàn( Khai thác đá vôi, đá vật liệu xây dựng)phục vụ cho sản xuất, có trình độ kỹ thuật trung bình và gây ô nhiễm môitrường Bên cạnh đó lại có những doanh nghiệp làm ăn chưa thật sự hiệu quả,gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của các DNNN

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) phát triển nhanh cả về sốlượng, quy mô và lĩnh vực kinh doanh ngày càng đa dạng và có đóng góp quantrọng vào nền kinh tế Đến cuối năm 2006 toàn Huyện có khoảng hơn 190 doanhnghiệp, đóng góp 7,4% GTSX của Huyện, giải quyết việc làm cho khoảng10.000 lao động với thu nhập bình quân 630,000đ/lao động/tháng Hiện nay, khó

35

Trang 36

khăn lớn trong phát triển các doanh nghiệp này là trình độ đội ngũ quản lý chưacao, số cán bộ quản lý qua đào tạo còn hạn chế, công tác quảng bá xây dựngthương hiệu doanh nghiệp triển khai còn chậm.

Các HTX ở Quỳnh Lưu cùng với kinh tế hộ, kinh tế trang trại đã tạo racác bước phát triển khá toàn diện và vững chắc, đặc biệt là trong lĩnh vực nôngnghiệp, điện năng, sản xuất hàng hoá tiêu dùng quy mô nhỏ

Cơ cấu lao động

Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động Huyện diễn ra rất chậm Trongthời kỳ 2000- 2008, lao động vẫn tập trung đông nhất trong ngành nông- lâmnghiệp- thuỷ sản, tỷ trọng lao động của ngành trong tổng số lao động tham gialàm việc trong nền kinh tế giảm từ 84,00% xuống còn 79,3% (Bình quân giảm0,56%/năm) Ngành công nghiệp- xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều

so với ngành nông- lâm nghiệp- thuỷ sản nhưng lại chưa có sức hút lao độngmạnh tương ứng Tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp- xây dựng chỉ tăngkhoảng 0,28%/năm trong cùng thời kỳ

3.1.3 Đánh giá chung về phát triển kinh tế nông thôn

Hoạt động kinh tế nông thôn ở Quỳnh Lưu đã đổi mới toàn diện về nhiềumặt Cở sở hạ tầng nông thôn được đầu tư tốt hơn phục vụ sản xuất sinh hoạt:giao thông nội đồng được quy hoạch; nhiều tuyến đường ở nông thôn được tảinhựa, bê tông hóa; các kênh mương được xây dựng kiên cố hơn; các công trìnhdẫn nước ngọt vào phục vụ sản xuất được xây mới; các hệ thống cống và kênhtiêu được tu bổ và nạo vét; hệ thống điện được đầu tư mới và nâng công suất,nhiều xã đã được lưới điện ra đồng phục vụ sản xuất

Hoạt động của kinh tế hộ, kinh tế trang trại và HTX tương đối phát triển,tạo điều kiện cho phát triển kinh tế nông nghiệp- nông thôn Trong đó, kinh tế

hộ là hình thức phổ biến và là lực lượng sản xuất lương thực chính của huyện.Kinh tế trang trại đang được chú trọng phát triển với nhiều mô hình hiệu quả.Tính đến cuối năm 2006, toàn huyện đã có 103 mô hình trang trại được được

Trang 37

xây dựng và phát triển theo quy định của Bộ NN&PTNN cụ thể là 4 trang trạitrồng cây hàng năm, 21 trang trại trồng cây lâu năm, 56 trang trại thủy sản, 22trang trại lâm nghiệp và trồng cây ăn quả Quy mô hoạt động kinh doanh củaHTX được mở rộng hơn, năm 2006 tổng vốn sản xuất của các hợp tác xã là1,169 tỉ đồng, tăng 4,2 % so với năm 2005.

Hoạt động của làng nghề phát triển khá nhanh với nhiều ngành nghề đadạng như nghề làm muối, đục đá, nuôi tằm tơ, dệt lụa, làm nón, chạm trổ tủ, sập,bàn, nghế, chế biến ruốc Nhưng hai nghề chính có quy mô sản xuất phát triểnlớn nhất cho đến nay là nghề sản xuất đồ mộc và chế biến nước mắm Hoạtđộng này đã góp phần nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho một lượng lớnnông nghiệp nhàn rỗi của huyện

Tuy nhiên, hoạt động kinh tế nông thôn huyện còn một số hạn chế như năng suấtlao động thấp; đất nông nghiệp còn manh mún, gây khó khăn cho việc thực hiệncông nghiệp hóa trong nông nghiệp; các cơ sở bảo quản và chế biến chưa đápứng được yêu cầu, gây thất thoát trong sản xuất; tỉ lệ sử sụng thời gian lao động

ở nông thôn còn thấp (năm 2007 tỉ lệ này là 76%)

3.1.3.1 Thực trạng phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp

Quy mô và tốc độ tăng trưởng

GTSX của toàn ngành công nghiệp - xây dựng tăng 30,89%/năm trong thời

kỳ 1996- 2005, và tăng cao hơn trong giai đoạn 2001- 2005, bình quân là38,49%/năm Nhưng trong ba năm gần đây, tốc độ tăng tưởng GTSX đã giảmnhanh, còn khoảng 12,15%/năm

Tính riêng ngành công nghiệp, GTSX tăng 53,56%/năm trong giai đoạn2001- 2005 Trong đó, những phân ngành công nghiệp có tốc độ tăng tưởngGTSX nhanh nhất trong giai đoạn này là chế biến nông sản (104,7%), vật liệuxây dựng (80,6%) và chế biến thủy sản (47,7%) Nhưng trong ba năm gần đây,GTSX của toàn ngành công nghiệp và các phân ngành không đạt tốc độ tăngtrưởng cao như giai đoạn trước

37

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UNDP (2003), Nghiên cứu nhu cầu nông dân. NXB Thống kê, Hà Nội, 171tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu nông dân
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UNDP
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UNDP (2003), Đóp góp của cộng đồng trong các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 45 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóp góp của cộng đồng trong các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UNDP
Năm: 2003
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UNDP (2003), Nghiên cứu nhu cầu nông dân. NXB Thống kê, Hà Nội, 171tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu nông dân
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UNDP
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
5. PGS. PTS. Vũ Đình Bách (1998), Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt nam. NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 224 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt nam
Tác giả: PGS. PTS. Vũ Đình Bách
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1998
6. GS. TS. Ngô Đình Giao (1998), Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam. NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 224 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam
Tác giả: GS. TS. Ngô Đình Giao
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1998
7. Hồng Vinh (1998), Công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 420 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hồng Vinh
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian  lao động ở nông thôn. - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 1.1 Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn (Trang 9)
Bảng 1.3: Số lao động và cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế. - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 1.3 Số lao động và cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế (Trang 11)
Bảng 1.2. Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm. - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 1.2. Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm (Trang 11)
Bảng 3.2: Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng kinh tế - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 3.2 Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng kinh tế (Trang 31)
Bảng 3.3 dưới đây cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu của hai khối ngành  Nông nghiệp và phi nông nghiệp đã diễn ra theo chiều hướng tích cực - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 3.3 dưới đây cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu của hai khối ngành Nông nghiệp và phi nông nghiệp đã diễn ra theo chiều hướng tích cực (Trang 34)
Bảng 3.5: So s ánh thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội với mục  tiêu Đại hội Đảng bộ Huyện XXIV (tính đến năm 2005) - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 3.5 So s ánh thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu Đại hội Đảng bộ Huyện XXIV (tính đến năm 2005) (Trang 41)
Bảng 3.6 : Một số kết quả đã đạt được - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 3.6 Một số kết quả đã đạt được (Trang 43)
Bảng 4.1 Các phương pháp chế biến - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 4.1 Các phương pháp chế biến (Trang 48)
Hình 4.2 Quy trình chế biến nước mắm cải tiến - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Hình 4.2 Quy trình chế biến nước mắm cải tiến (Trang 50)
Bảng 4.2 Chủng  loại sản phẩm và giá trị kinh tế Thứ tự Loại sản phẩm Sản lượng - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 4.2 Chủng loại sản phẩm và giá trị kinh tế Thứ tự Loại sản phẩm Sản lượng (Trang 51)
Bảng 4.3 Ý kiến của người dân khi sản xuất sản phẩm - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 4.3 Ý kiến của người dân khi sản xuất sản phẩm (Trang 53)
Bảng 4.4 Các lớp tập huấn Các lớp tập huấn Tập huấn cấp - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 4.4 Các lớp tập huấn Các lớp tập huấn Tập huấn cấp (Trang 54)
Bảng 4.5 bảng hoạch toán thu chi 1 lít nước mắm Sản - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 4.5 bảng hoạch toán thu chi 1 lít nước mắm Sản (Trang 61)
Bảng 4.7 Những thuận lợi và khó khăn khi sản xuất sản phẩm - Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề chế biến hải sản ở xóm phú lợi, xã quỳnh dị, quỳnh lưu ngệ an
Bảng 4.7 Những thuận lợi và khó khăn khi sản xuất sản phẩm (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w