Do sự yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đã làm cho diện tíchrừng ngày càng thu hẹp, và xuống cấp trầm trọng, đát đai bị xói mòn, rửa trôi,môi trường sống của nhiều loại thực, đ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ hệ sinh thái môi trường là một trong những mối quan tâm hàngđầu của nhiều quốc gia trên thế giới, ở nước ta Đảng và Chính phủ đã có nhiềuchủ trương, chính sách tạo mọi điều kiện cho các ngành, các cơ sở thực hiện tốtnhiệm vụ và chức năng của mình để phát triển niền kinh tế đa ngành, đa thànhphần Nhưng do những lợi ích trước mắt mà những cơ sở này khai thác tàinguyên một cách cạn kiệt, làm suy thoái đa dạng sinh học và gây ô nhiễm môitrường
Trong 40 năm qua, dân số Việt Nam tăng gấp 2 lần (hiện nay khoảng 80triệu người) trong khi đó tài nguyên thiên nhiên thì có hạn, tài nguyên đất thìkhông tăng thêm được, dân số tăng nhanh đòi hỏi phải có thêm nhiều đất đai đểtrồng trọt, cần nhiều rừng để cung cấp gỗ để làm chất đốt, làm nguyên liệu xâydựng Do sự yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đã làm cho diện tíchrừng ngày càng thu hẹp, và xuống cấp trầm trọng, đát đai bị xói mòn, rửa trôi,môi trường sống của nhiều loại thực, động vật bị thu hẹp và ngày càng bị suythoái nghiêm trọng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống, kinh tế,
xã hội và môi trường đối với người dân
Vì vậy bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề được Nhà nước quan tâmhàng đầu Trong vòng 88 năm qua ở Việt Nam có 107 địa điểm bảo tồn rộng lớn,trên 2,2 triệu ha đã được đề nghị và được Chính phủ phê duyệt, trong đó có 15VQG Pù Mát, 50 khu bảo tồn thiên nhiên
Các VQG đã đem lại những thành tựu to lớn trong công tác bảo tồn và pháttriển TNR, đảm bảo ĐDSH và cân bằng sinh thái
VQG Pù mát là một trong những khu bảo tồn đã được Chính phủ đưa vào
hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, với độ đa dạng sinh học cao tạo tiềm năng lớn
về kinh tế và du lịch cho các huyện nằm trong khu vực vùng đệm VQG Pù Mát
Trang 2Tuy nhiên từ khi nâng cấp thành VQG, cuộc sống của các cộng đồng dân cưsống trong vùng đệm đã có nhiều thay đổi trong sinh kế và đã bắt đầu xuất hiệnhiện tượng phân hoá giàu nghèo ngay trong vùng đệm, đây là mầm mống của sựphát triển thiếu bền vững và tiềm ẩn nguy cơ quay trở lại phá huỷ nguồn TNRquốc gia Một trong những nguyên nhân đó là sự thiếu bình đẳng trong việc tiếpcận nguồn tài nguyên , đặc biệt là TNR Do vậy cần có những nghiên cứu làm cơ
sở để đề xuất giải pháp qua đó nâng cao đời sống và đảm bảo sự bình đẳng trongviệc tiếp cận nguồn TNR cho các cộng đồng dân cư sống trong rừng
Chính vì vậy, tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng công tác quản lí bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia Pù Mát đến sinh kế của người dân”.
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của khóa luận là đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệrừng và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn TNR đến sinh kế của người dânvùng đệm VQG Pù Mát Từ đó làm cơ sở để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quảcông tác QLBVR của VQG Pù Mát
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng công tác QLBVR của VQG Pù Mát
- Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn TNR đến sinh kế củangười dân vùng điệm
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý BVRcủa VQG Pù Mát
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm VQG và vai trò của nó
1.1.1 Khái niệm VQG
VQG là những khu vực rộng lớn, có vẻ đẹp thiên nhiên, được giữ gìn đểbảo vệ cho một hoặc vài HST trong đó, đồng thời được dùng cho các mục đíchgiáo dục, nghiên cứu khoa học, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia du lịch Tài nguyên
ở đây không được khai thác cho mục đích thương mại
1.1.2 Vai trò của VQG
Một hệ thống các khu bảo tồn trong đó có rừng quốc gia là cốt lõi của bất
cứ chương trình nào nhằm duy trì tính ĐDSH của các loài, các HST, các nguồngen thiên nhiên và duy trì những vùng thiên nhiên rộng lớn, vì bản thân giá trịcủa chúng và những giá trị tinh thần của con người
Rừng quốc gia bảo đảm an toàn cho:
+ Các hệ sinh thái tự nhiên và các HST cải biến đang nuôi dưỡng sự sống,bảo vệ các loài hoang dã và các vùng có tính sinh học cao, bảo vệ giá trị đíchthực của chúng, nguồn vui tinh thần và nguồn cảm hứng sáng tạo của các côngtrình nghiên cứu khoa học
+ Sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoang dã ở nhữngHST đã cải tiến
+ Sử dung các HST tự nhiên, đã cải biến hoặc trồng trọt vào các mục đíchgiáo dục, nghỉ ngơi giải trí
+ Bảo vệ đất, nước ở những vùng dễ xói mòn, đặc biệt là những nơi đấtdốc, rừng đầu nguồn
+ Làm lá chắn che chở cho con người thoát khỏi những thiên tai do thiênnhiên gây ra như lũ lụt
+ Duy trì các nguồn gen tự nhiên hoặc các loài quan trọng làm dược liệu.+ Bảo vệ các loài và các quần thể dễ nhạy cảm với sự tác động của conngười
Trang 4+ Cung cấp nơi sinh sống, nơi làm tổ, nuôi con và nghỉ ngơi cho nhữngloài sắp bị tuyệt chủng và những loài di cư.
1.2 Khái niệm và chức năng của vùng đệm
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm về vùng đệm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới
Theo Jeffey sayes (1991) thì “vùng đệm là vùng đất xung quanh VQG haykhu bảo tồn mà nơi đó việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hạn chế, hay ở đó
có các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của côngtác bảo vệ”
Theo Quyết định số 1585 LN / KL ngày 13/07/1993 thì: vùng đệm là vùngtiếp giáp với khu bảo tồn bao quanh toàn bộ hay một phần của khu bảo tồn, vùngđệm nằm ngoài diện tích của khu bảo tồn, không thuộc thẩm quyền quản lí sửdụng của ban quản lí bảo tồn”
Tuy nhiên cho đến nay trong quản lí cũng như trong nghiên cứu chưa cóđược sự thống nhất về vùng đệm của các khu bảo tồn và rừng quốc gia
Tóm lại vùng đệm là vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc khong
có rừng, nằm ngoài ranh giới khu bảo tồn và được quản lí để nâng cao việc bảo
vệ các khu bảo tồn và cho chính vùng đệm, mang lại lợi ích cho nhân dân sốngquanh khu bảo tồn, để bảo vệ và phát triển bền vững (D.A Gilmour và NguyễnVăn Sản, 1999)
Trang 51.3 Thực trạng xây dựng và phát triển các khu bảo tồn trên thế giới
VQG đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó là VQG Yellwstone(năm 1872), trên vùng đất do người Shoshone sinh sống
Cho đến năm 1993, trên toàn thế giới có 8.619 khu bảo tồn, chiếm một
song chúng chỉ đại diện cho khoảng 6% tổng diện tích bề mặt trái đất, và chỉ có3.5% tổng diện tích đất đai của thế giới thuộc loại được bảo tồn nghiêm ngặt chomục đích khoa học, gồm VQG và khu bảo tồn thiên nhiên Việc bảo tồn cho cáckhu bảo tồn đã đạt đến đỉnh cao vào những năm 1970- 1975, Sau đó chững lại,
và có lẽ khu bảo tồn sẽ không bao giờ vượt qua 7%- 11% diện tích trái đất, vì cácvùng đất còn lại có tầm quan trọng sinh học khác đã được quản lý cho mục đíchsản xuất
Mọi người khắp nơi trên thế giới đang giải quyết những vấn đề này, cốgắng xây dựng một phong trào bảo tồn lâu dài và bền vững ở những nơi xa xôinhất trên thế giới, với diện tích chiếm tới 10% bề mặt trái đất Những khu bảo tồnnày chứa đựng những HST quan trọng về mặt kinh tế vá moi sinh, từ những dãy
đôi diện tích Châu Âu, số lượng các khu bảo tồn này đang tăng lên mỗi ngày
1.3.1 Các xu hướng bảo tồn trên thế giới
Khu bảo tồn rộng đến mức nào có thể bảo tồn được loài? Tạo một khu bảotồn lớn tốt hơn hay tạo nhiều khu bảo tồn nhỏ? Hình dạng hợp lý nhất của khubảo tồn? Để trả lời những câu hỏi trên đây hiện nay có hai trường phái trongviệc thiết lập các khu bảo tồn:
+ Quan điểm khu bảo tồn lớn:
Một số người theo quan điểm khu bảo tồn lớn cho rằng chỉ có những khubảo tồn lớn mới có thể chứa đủ số lượng các loài lớn, phạm vi rộng, mật độ thấp
để có thể duy trì được quần thể của chúng lâu dài Đồng thời các khu bảo tồn lớncũng sẽ giảm bớt hiệu ứng vùng bảên, chứa đựng nhiều loài hơn và có tính đadạng nơi cư trú hơn so với khu bảo tồn nhỏ
Trang 6+ Quan điểm khu bảo tồn nhỏ:
Ngược lại với quan điểm trên, các nhà bảo tồn khác cho rằng khu bảo tồnnhỏ được lựa chọn tốt hơn, có khả năng chứa đựng nhiều kiểu hệ sinh thái cũngnhư quần thể của các loài quý hiếm, hơn là một khu rộng lớn có diện tích tươngđương Đồng thời việc tạo ra nhiều khu bảo tồn, dù cho chúng có diện tích nhỏ đinữa, cũng sẽ tránh cho quần thể khỏi bị hủy diệt hoàn toàn khi xảy ra tai họa nhưdịch bệnh, cháy rừng, hay sự xâm nhập của các loài ngoại lai Ngoài ra các khubảo tồn nhỏ nằm cạnh các khu dân cư là những khu nghiên cứu và giáo dục lítưởng, nâng cao nhận thức đại chúng về bảo tồn thiên nhiên
1.3.2 Một vài kinh nghiệm nước ngoài trong bảo tồn
- Nêpan: Khu bảo tồn Annpurna
+ Dự án tiến hành các hoạt động dựa trên sự tham gia của nhân dân địaphương
+ Tập trung chủ yếu vào nhân dân địa phương như là những người hưởngthụ dự án
+ Thu hút nhân dân vào các khâu trong quá trình dự án, từ việc lập kếhoạch đến các quyết định và quá trình triển khai hoạt động
+ Nguyên tắc bền vững: Bền vững về tài chính của dự án và bền vững vềkhai thác tài nguyên
+ Có tác dụng xúc tác để thu hút những nguồn lực từ bên ngoài khu vựcbảo vệ
+ Lập ủy ban bảo tồn và phát triển do nhân dân chủ trì, dưới đó có các tiểuban như quản lý rừng, trung tâm sức khỏe, quy định các điều lệ và các chỉ tiêu…
- Niger: Khu dự trữ thiên nhiên Ari- Tene
+ Tăng cường các dịch vụ xã hội
+ Tạo các việc làm mới
+ Cho phép sử dụng hạn chế, có kiểm soát: Một khoảng đồng cỏ nhấtđịnh, nguồn nước mùa khô
Trang 7+ Trích một phần thu nhập từ khu bảo tồn chuyển cho cộng đồng nhân dânđịa phương (xây dựng trường học, bệnh viện…).
+ Giúp đỡ chuyên môn và trang thiết bị cho nhân dân thực hiện các đề ánđịa phương
- Vênêzuêla: Vườn quồc gia bán đảo Paria
+ Giáo dục môi trường cho người lớn và trẻ em
+ Đưa vào ứng dụng các phương pháp canh tác lâu bền cho cộng đồng địaphương
+ Triển khai các hoạt động làm ăn, sinh sống mới để tạo thu nhập cho dânnhư: vườn nhà, nuôi ong, du lịch sinh thái…
Australia: Vườn quốc gia Kakadu (một di sản thiên nhiên và văn hóa thếgiới) Những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cáchhợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ đất hợp pháp của VQG và được thamgia quản lý VQG thông qua các đại diện trong ban quản lý (10/14 thành viên banquản lý là những đại diện cho các cộng đồng lựa chọn) (Hoàng Hòe, 1995, VõQuý, 1997…)
1.4 Những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý vùng đệm ở Việt Nam
1.4.1 Khó khăn
- Đông dân, dân trí thấp, nghèo đói, hạ tầng cơ sở kém
+ Hầu hết vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn và VQG đều là nhữngvùng đông dân cư sinh sống, việc khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý cáckhu bảo tồn ở Việt Nam là số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn, thậmchí trong khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn Họ phát nương, làmrẫy, săn bắn động vật hoang dã, chặt gỗ, lấy củi đun, lượm thu các sản phẩm từrừng và do đó ảnh hưởng đến công tác bảo tồn
+ Dân chúng đa số có thu nhập thấp, nghèo, tốc độ tăng dân số cao hơncác vùng khác Nguyên nhân chính của khai thác rừng là đói nghèo và tăng dân
số nhanh Rừng và TNR như người ta thường nói là “bát cơm manh áo” của
Trang 8người nghèo Cấm người nghèo không được lấy “bát cơm” trước mắt họ là khôngthể được.
+ Trình độ văn hóa và dân trí của người dân còn thấp Người dân chưathấy được việc thành lập các khu bảo tồn mang lại lợi ích gì cho họ, trái lại họ bịthiệt hại và không được tiếp tục khai thác như trước đây
+ Thiếu sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan, vàngười dân địa phương Chính quyền, nhất là người dân địa phương còn ít đượctham gia vào kế hoạch phát triển vùng đệm và bảo vệ VQG, kể cả việc hoạchđịnh ranh giới các khu bảo tồn và vùng đệm
- Năng lực của các ban quản lý còn yếu kém
+ Trình độ quản lý của các cán bộ làm công tác bảo tồn còn hạn chế chưađáp ứng được yêu cầu thực tế
+ Chưa có các biện pháp và hình thức giáo dục thiết thực làm cho ngườidân hiểu rõ được ý nghĩa và vai trò của VQG, vùng đệm của nó và cũng chưa làmcho người dân hiểu được trách nhiệm của họ đối với vùng đệm và khu bảo tồn
- Ban quản lý khu bảo tồn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm
vụ và không đủ cán bộ để làm nhiệm vụ ngăn chặn sự xâm nhập của dân vào khubảo tồn Đa số cán bộ chưa được đào tạo, luật pháp cũng không rõ ràng, không
có hướng dẫn cụ thể về vùng đệm, thiếu kinh nghiệm làm việc với dân, thiếukinh phí, phương tiện, hạ tầng cơ sở yếu kém…
1.4.2 Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý vùng đệm các khu bảo tồn
- Nhiều khu bảo tồn chưa có quy hoạch được xây dựng một các nghiêmtúc, cũng như chưa xác định ranh giới vùng đệm Điều này đã gây ra khó khăncho việc xác định khu vực cần quản lý đối với người có trách nhiệm quản lý vànhân dân địa phương
- Thiếu quy chế quản lý vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Đây làmột công cụ pháp lý quan trọng để quản lý vùng đệm và bảo vệ các khu bảo tồnthiên nhiên
Trang 9- Hệ thống văn bản chưa đồng bộ, chưa cụ thể thành cơ chế Ngay cả vớicác chính sách đã được ban hành thì việc thực thi trong thực tiễn ở các cấp vẫnchưa được nghiêm chỉnh Chính vì vậy hiệu quả xây dựng vùng đệm và bảo vệcác khu bảo tồn chưa cao.
- Trong quản lý vùng đệm chưa gắn được quyền lợi của nhân dân địaphương và lợi ích khu bảo tồn, quyền của chính quyền địa phương và quyền lợicủa ban quản lý khu bảo tồn Người dân địa phương cảm thấy quyền lợi của mình
bị mất đi khi nhà nước xây dựng khu bảo tồn Điều này dẫn đến thái độ thiếu hợptác với ban quản lý trong việc bảo vệ khu bảo tồn
- Mặc dù cho đến nay nước ta đã có một hệ thống các khu bảo vệ quốc giabao gồm 120 khu với tổng diện tích hơn 2,5 triệu ha (chiếm khoảng 7,6% lãnhthổ tự nhiên), trong đó có 27 VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, 49 khu dự trữ thiênnhiên, 11 khu bảo tồn loài, sinh cảnh và 39 khu rừng bảo vệ cảnh quan nhưnghiện nay vẫn chưa có một chính sách cụ thể về đầu tư cho các vùng đệm và cáckhu bảo tồn
1.5 Khái niệm về sinh kế và sinh kế bền vững
1.5.1 Khái niệm
Một sinh kế có thể được miêu tả như là tập hợp các nguồn lực và khả năng
mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thinhằm kiếm sống cũng như để đạt được các chỉ tiêu và ước nguyện của họ
Bền vững là khả năng tiếp tục trong tương lai, chống đỡ và phục hồi từnhững áp lực và cú sốc, trong khi vẫn không gây tổn hại tới những nguồn lực mà
nó dựa vào đó để tồn tại
Nguồn lực ở đây có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã hội, kinh
tế hoặc thể chế, đây cũng chính là lí do tại sao khả năng bền vững thường đượcphân tích theo 4 thành tố: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững thểchế, bền vững xã hội Bền vững không có nghĩa là không có sự thay đổi mà làkhả năng thích nghi theo thời gian Sự bền vững là một trong những nguyên tắcchủ đạo của phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững
Trang 10Một sinh kế được coi là bền vững nếu như nó có khả năng liên tục duy trìhoặc nâng cao mức sống hiện tại mà không gây tổn hại tới những cơ sở tàinguyên thiên nhiên Để làm được điều này nó cần phải vượt qua và phục hồinhững áp lực cũng như những cú sốc.
1.5.3 Những nguyên tắc trong sinh kế bền vững
- Lấy người dân làm trung tâm
Việc giảm nghèo bền vững chỉ có thể đạt được khi những hỗ trợ bên ngoàitập trung vào những vấn đề quan trọng đối với cuộc sống của người dân, hiểuđược sự khác biệt giữa họ và cộng tác với họ theo những phương cách phù hợpvới các chiến lược sinh kế hiện hữu, với môi trường xã hội của họ cũng như khảnăng thích nghi
- Tăng cường sự tham gia: Người nghèo phải là những chủ thể chính trongviệc xác định và đặt ra những ưu tiên trong sinh kế, trong khi đó những người từbên ngoài phải áp dụng những tiến trình lắng nghe và đáp ứng Người nghèo phải
là những người đưa ra những giải pháp phát triển và đề ra các kế hoạch hànhđộng vì họ là người hiểu biết về mình nhất Những người bên ngoài chỉ là nhữngngười thúc đẩy, trợ giúp cộng đồng đưa ra các chiến lược phát triển và trợ giúp
họ về kỹ thuật, KHCN
- Nhiều cấp: Những thách thức trong công cuộc giảm nghèo là cực kỳ tolớn và có thể vượt qua khi thực hiện ở nhiều cấp bao gồm các cấp vi mô và vĩmô
Trang 11- Bền vững: Bốn mặt chủ yếu của bền vững: bền vững kinh tế, bền vữngthể chế, bền vững môi trường Tất cả đều quan trọng và cần phải giữ được sự cânbằng giữa chúng.
- Năng động: Những hỗ trợ từ bên ngoài cần ý thức được tính chất sốngđộng của các loại hình sinh kế, đáp ứng một cách linh hoạt trước những thay đổitrong thực trạng của người dân, đồng thời đưa ra những cam kết lâu dài
- Đa dạng kết hợp với mục tiêu ngắn hạn và dài hạn:
+ Tính đa dạng:
Đa dạng về xã hội
Đa dạng hoạt động sinh kế
Đa dạng phương pháp tiếp cận sinh kế+ Kết hợp mục tiêu ngắn hạn và dài hạn
Mục tiêu ngắn hạn: Nhu cầu thực tế trước mắt
Mục tiêu dài hạn: Nhu cầu phát triển bền vững
1.6 Hiện trạng TNR ở Việt Nam
Theo tài liệu của Maurand thì trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu harừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1990 diện tích rừngchỉ còn 28,4%, năm 2000 diện tích rừng tăng lên 33,2% (11 triệu ha) trong đó có
8 triệu ha rừng được giao cho hộ gia đình
Trên thực tế rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyênthuỷ; và từ năm 1996 - 2000, mỗi năm vùng Tây Nguyên mất đi 10.000 ha rừng,trong cả nước hiện nay trồng được 200.000 ha rừng nhưng diện tích rừng bị mấtkhoảng 120.000 - 150.000 ha Do nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và địa hình
có nhiều độ cao khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp cácdạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới, có nhiều rừng xanh quanhnăm, rừng già nguyên thuỷ, rừng cây lá rộng, rừng cây hỗn giao lá kim và lárụng, rừng cây bụi và rừng ngập mặn…
Trang 12Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng, có thể nói nước ta
là trung tâm gia nhập của các luồng thực động vật từ phía Bắc xuống, phía Tâyqua, phía Nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng
Đồng thời nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000m nên
có nhiều loại rừng với nhiều loại thực động vật quý hiếm độc đáo mà các nước
ôn đới khó có thể tìm được
- Về thực vật: Theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loàithực vật, nhưng chỉ có 10.500 loài đã được mô tả, trong đó khoảng 10% là loàiđăc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm,… khoảng 2.300 loài cây có hạt đã đượcdùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn gia súc Về cây lấy gỗ có 41 loàicho gỗ quý (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc
và xây dựng (nhóm 3)…, loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha, ngoài rarừng Việt Nam còn có rừng tre nứa, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng
25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao Ngoài những cây làm nguyênliệu lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có nhữngcây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75%
là cây hoang dại, những cây có chứa hoá chất quý hiếm như cây Tô hạp
(Altimgia SP) có nhựa thơm, được tìm thấy ở vùng núi Tây Bắc và trung Bộ Cây Giỏ Bầu (Aquilaria crassna) sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ Tĩnh đến Thuận Hải, cây dầu trái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa.
- Về động vật: Cũng rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu, ViệtNam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền NamTrung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai, Miễn Điện, hiện tại đã thống kê được khoảng 774loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt
và 1650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển chúng phân bố trên những sinh cảnhkhác nhau trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, ý nghĩa khoa học, nhiềuloại quý hiếm có tên trong sách đỏ của thế giới
Trang 131.7 Hiện trạng tài nguyên rừng ở vườn quốc gia Pù Mát
VQG Pù Mát là rừng nguyên sinh có diện tích trên 91.113 ha, trong đódiện tích rừng giàu là 23.110 ha (chiếm 24,5 %), rừng trung bình là 29.512 ha(chiếm 52,5 %) rừng nghèo là 28.477 ha (chiếm 31,3%), rừng đang phục hồi là3.752 ha (chiếm 0,2 %), rừng hỗn giao gỗ - tre - nứa là 1.985 ha (chiếm 2,7%);rừng cây lùn, rêu và địa y là 1.652 ha (chiếm 1,7%), tổng trữ lượng cây đứng
68.540 ha là diện tích rừng che phủ, VQG Pù Mát còn là rừng tự nhiên lớn nhất
và tiêu biểu cho Bắc Trường sơn nói riêng và cho Việt Nam nói chung, là nơi cóphần thực vật phong phú, đa dạng vào loại bậc nhất của Việt Nam, nơi đây đanglưu giữ nhiều nguồn gen quý về động thực vật, là nơi hội tụ các yếu tố địa lý,thực - động vật, Pù Mát có đầy đủ các lớp quần hệ (rừng thưa, rừng kín, cây bụi,cây thảo) trong số gần 2500 loài thực vật bậc cao có mặt đã biết, có gần 2000 loàithuộc nhóm chồi trên mặt đất chiếm tỷ lệ 74%, yếu tố chủ đạo cấu thành hệ sinhthái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam trong đó có nhiều loài quýnhư: pơmu, samu, kim giao, táu, sến, dổi , VQG Pù Mát có môi trường sống củarừng nhiệt đới, hiện rừng quốc gia Pù Mát còn 62% diện tích rừng nguyên sinh
và hầu như chưa bị tác động bởi con người, với những cảnh quan địa lý độc đáo,
đa dạng, phong phú về các loài động vật, thực vật với độ che phủ rất cao đạt 98%(so với năm 1.993 là 94%) thì VQG Pù Mát đã trở thành khu dự trữ sinh quyểncủa thế giới
Như vậy nhìn chung thảm thực vật ở VQG Pù Mát khá phong phú đa dạnggồm những cây ở đồng ruộng, đồi núi trọc, đồi núi đá vôi, savan, thảm thực vậttái sinh, rừng nguyên sinh rộng lớn và một số biến thành rừng hỗn giao có thể dođịa hình phức tạp, khí hậu đa dạng đã tạo nên nét độc đáo về tài nguyên rừng củaVQG Pù Mát
Hiện tại ngoài một số ít khu rừng được xem là hoàn toàn chưa bị tác độngcòn rất nhiều rừng thành thục hay còn gọi là rừng già, tán khép kín và cây bụithưa thớt, rừng thành thục có thể phân bố ở các vùng đất thấp, trên đất dốc có độ
Trang 14cao trung bình 700- 800 m so với mực nước biển Rừng núi cao là rừng lá kimtuy không rộng nhưng là đại diện của một số loại môi trường sống quan trọng.Phần lớn những khu rừng trong VQG Pù Mát nằm kề bên các dòng suối, các lưuvực sông đều bị tác động bởi các hoạt động khai thác của con người Rừng táisinh là khu rừng bị tác động mạnh nhất, một số thung lũng của VQG đã bị tre,nứa mọc xâm lấn là do hậu quả của hoạt động phát nương làm rẫy trước đó, tuynhiên phần lớn là những vùng xa lưu vực sông, suối hay những nơi có địa hìnhcao vẫn tồn tại những cánh rừng nguyên sinh.
Vì vậy để đảm bảo nguồn tài nguyên rừng của VQG Pù Mát được phongphú, đa dạng và giữ được tính nguyên vẹn của cánh rừng nguyên sinh, thì chúng
ta cần đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu
và nâng cao mức sống của những cộng đồng dân cư sống trong rừng, gần rừng vàphụ thuộc vào rừng
1.8 Các nghiên cứu có liên quan
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các chươngtrình, dự án phát triển sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững với cáckết quả thu được khác nhau
“Ứng dụng khung sinh kế bền vững, xác định các phương thức ứng phóvới tình hình khan hiếm lương thực”, nghiên cứu của Tiến sĩ Vương Xuân Tình,Viện Dân tộc học và Thạc sĩ Mai Văn Thành - giảng viên Trường Đại học Nôngnghiệp I
Đây là nghiên cứu trong khuôn khổ dự án “Các phương thức ứng phó vớitình hình khan hiếm lương thực” được tài trợ bởi qũy Rokerfeller do Viện Dântộc học chủ trì với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Nghiên cứu đã áp dụngkhung phân tích sinh kế bền vững với sự tập trung và năm loại vốn mà chúng cóảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới tình trạng khan hiếm lương thực của ngườidân Nghiên cứu này đã xác định được một số chỉ tiêu đại diện cho từng loại vốnsau đó chuyển chúng dưới dạng chỉ số tổng hợp và biểu diễn trực quan qua ngũ
Trang 15giác sinh kế, hình dạng ngũ giác sinh kế phản ánh phương thức ứng phó khácnhau giữa các hộ trong cộng đồng và giữa các cộng đồng khác nhau
Kết quả nghiên cứu này cho thấy bức tranh định tính về phương thức ứngphó với tình hình khan hiếm lương thực ở mức độ nông hộ và cộng đồng nhưngchưa lượng hóa được mức độ ứng phó
Vũ Văn Thịnh, “Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững chocác hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì” nghiên cứu góp phần
hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập bền vững cho các hộdân tộc thiểu số ở vùng đệm VQG Ba Vì
Nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thunhập bền vững, đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập có tính bềnvững cho người dân tộc thiểu số nơi đây
“Nghiên cứu phân tích sinh kế có sự tham gia tại xã Vinh Hà - huyện PhúVang - tỉnh Thừa Thiên Huế”, tác giả Lâm Thị Thu Sửu, Trung tâm Khoa học xãhội và nhân văn Huế Nghiên cứu này đã phân tích thực trạng đời sống của nhândân xã Vinh Hà bằng phương thức tiếp cận sinh kế bền vững làm cơ sở đề xuất
dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Nghiên cứu đánh giá bối cảnh tổnthương, các nguồn vốn, thể chế, chính sách và đưa ra giải pháp cho sinh kế bềnvững
Trang 16Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là VQG Pù Mát và một số hộ giađình thuộc khu vực nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại hai bản thuộc hai xã khác nhau củahuyện Con Cuông đó là bản Yên Thành - Xã Lục Dạ - Con Cuông - Nghệ An vàbản Liên Đình - xã Chi Khê - Con Cuông - Nghệ An
- Tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lí, bảo vệ rưng của VQG Pù Mát
- Tìm hiệu thực trạng sinh kế của địa điểm nghiên cứu
- Xác định sư giống và khác nhau về sinh kế của hai cộng đồng lựa chọn
- Giải thích sư giống nhau và khác nhau của việc lựa chọn sinh kế giữa haicộng đồng nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Pù Mát
2.4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
2 4.1 Phương pháp khảo sát trực tiếp
Khảo sát, tìm hiểu thực tế công tác quản lý, bảo vệ rừng và hoạt động sinh
kế của người dân ở vùng đệm VQG Pù Mát
2.4.2 Phương pháp thống kê
Thu nhập các thông tin, số liệu của nguồn cung cấp thông tin là các vănbản, chỉ thị, dự án, các tài liệu thống kê có liên quan đến công tác QLBVR và đờisống sinh kế của người dân vùng đệm VQG Pù Mát
Trang 172.4.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Điều tra theo bảng câu hỏi sẵn theo mẫu
- Phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình và các cán bộ ở các cơ sở có liênquan theo bảng câu hỏi đã được soạn sẵn
2.4.4 Chọn mẫu điều tra
- Đề tài được điều tra trên phạm vi VQG Pù Mát, mẫu điều tra là các hộgia đình trên địa bàn các bản
- Lí do chọn địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại 2 bản Liên Đình và bản Yên Thành,bởi hai bản này có các điều kiện tự nhiên khác nhau và khoảng cách từ hai bảnđến đường quốc lộ cũng khác nhau
Mẫu điều tra ở đây được chọn ngẫu nhiên bao gồm 3 nhóm hộ: hộ khá, hộtrung bình, hộ nghèo Quá trình điều tra được tiến hành ở 20 hộ thuộc bản YênThành và 15 hộ thuộc bản Liên Đình
2.4.5 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
- Xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm Microsoft Excel
- Thống kê, tổng hợp và phân tích thông tin theo các chủ đề nghiên cứukhác nhau
- Sử dụng các bảng biểu, hình ảnh, sơ đồ biểu thị kết quả nghiên cứu
Trang 18Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tình hình cơ bản của VQG Pù Mát
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát được Chính phủ đưa vào hệ thống rừngđặc dụng quốc gia theo Quyết định số 194/CP ngày 08/09/1986 và đã được BộLâm nghiệp thẩm định dự án khả thi số 343 ngày 20/11/1994
Pù Mát theo tiếng thái nghĩa là những con dốc cao, đây là tên gọi củangọn núi cao nhất (cao 1.841m) nằm trong VQG Pù Mát Khu vườn được thànhlập theo Quyết định số 174/2001 QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày08/11/2001 về việc chuyển hạng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát thành VQG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
VQG Pù Mát nằm trên sườn đông của dải Trường Sơn, nằm về phía TâyBắc tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 160km đường bộ, toạ độ địa lýcủa vườn:
Phía Đông giáp với các xã : Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)
Vị trí của VQG nằm cuối dãy Pu Đen Đinh có đỉnh Pu Lai Leng cao2710m
3.1.1.2 Địa giới hành chính
Toàn bộ diện tích của VQG nằm trong địa giới hành chính của 3 huyện:Anh Sơn, Tương Dương, Con Cuông của tỉnh Nghệ An
Trang 19Diện tích vùng lõi là : 91.113 ha (trong đó phân khu bảo tồn nghiêm ngặt: 89.517ha, phân khu phục hồi sinh thái: 1596ha).
Bản đồ 3.1: Vị trí của VQG Pù Mát Trong tỉnh Nghệ An
Trang 203.1.1.3 Địa hình, địa mạo
VQG Pù Mát nằm gọn trong dãy trường sơn bắc, địa hình của vườn phứctạp và hiểm trở, bị chia cắt bởi ba hệ suối chính: Khe Thơi, Khe Choăng (đoạncuối nguồn Khe Bu) và Khe Khặng Các hệ suối này bắt nguồn từ biên giới Việt -Lào và đổ về sông Cả
Địa hình của vườn ở độ cao từ 800 - 1500m Khu vực cao nhất nằm vềphái nam, càng về phía Tây Nam của VQG các giông núi cao dần, gồm nhữngđịnh núi cao trên 1000m kế tiếp nhau kéo dài như: Cao Vều (1.343m), Pù HuổiNgoãi (1.762m), đỉnh cao nhất của vườn là núi Pù Mát (cao 1.841m) nằm trong
hệ thống các đỉnh giông này Trong vùng có rất ít khu vực bằng phẳng, đáy cácthung lũng có bốn lưu vực sông chính, nhưng mưa lũ diễn ra không thườngxuyên, chỉ có một số vùng đất thấp dọc theo bờ của Khe Thơi và Khe Khặngtrong vùng nghiêm ngặt là nơi sinh sống trước đây, cũng như hiện nay của một
số cộng đồng dân tộc, ở đó có nhiều hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp đã vàđang diễn ra
Nằm trong khu vực có khoảng 7.057ha núi đá vôi và phần lớn diện tíchnày nằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có khoảng 150ha nằm trong vùng lõi
3.1.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng
- Địa chất:
Quá trình kiến tạo địa chất của vườn được hình thành qua các kỷ: Palêzôi,
Đề vôn, cacbon - pecmi, triat, hexini đến mirôxen cho đến ngày nay Do nằmgọn trên dãy Trường Sơn Bắc của dãy Trường Sơn nên địa hình luôn bị ngoại lựctác động mạnh mẽ tạo nên 4 địa mạo chủ yếu
+ Núi cao trung bình: Uốn nếp, khối nâng lên mạnh tạo nên một dải cao
và hẹp nằm trong biên giới Việt - Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (pulaileng2711m) , địa hình vùng này rất hiểm trở, đi lại cực kì khó khăn
+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tíchcủa vườn và có độ cao từ 1000m trở xuống, tuy cấu trúc tương đối phức tạp,được cấu tạo bởi các trầm tích, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
Trang 21+ Thung lũng kiến tạo và xâm thực: kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ,nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ thua 300m và bao gồmthung lũng các sông suối Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (sông Giăng) và bờphải sông cả Vùng này được cấu tạo từ các trầm tích bở rời, dễ bị xâm thực,trong đó phổ biến là các dạng địa hình khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông kháphát triển.
+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trìnhkarst trẻ và phân bố hữu ngạn sông cả ở độ cao 200 - 300m, cấu tạo phân phiếndầy, màu xám đồng nhất và tinh khiết
Đất có màu vàng đỏ và vàng xám, tầng mùn dầy, thành phần cơ giới (TPCG) nhẹ đến trung bình Có 2 loại tụ
Phân bố từ độ cao 800m đến 1800m dọc biên giới Việt - Lào
(2,5%)
Feralit đỏ vàng phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, TPCG trung bình
Phân bố nhiều ở phía Nam và Đông Nam VQG
1.2.FHQ
29693ha (15,2%)
Feralit vàng nhạt hay vàng xám phát triển trên đá trầm tích và biến chất,
có kết cấu hạt thô, TPCG nhẹ đến trung bình
Phân bố nhiều ở phía Tây Nam VQG
Đất có màu đỏ vàng hay vàng đỏ, phần tích tụ dày, nền vật chất tạo đất chia ra các loại phụ:
Phân bố ở phía Bắc
và Đông Bắc VQG
2.1.Fs
56584ha (29,1%)
Đất feralit đỏ vàng, TPCG nặng đến trung bình
Phân bố chủ yếu ở phần trung tâm và phía Đông VQG
(44,9%)
Đất Feralit vàng nhạt, TPCG nhẹ đến trung bình có nhiều đá lẫn trong tầng đất
Phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Bắc VQG
Trang 223 Đất dốc tụ và
phù sa (D,P)
9140 ha (4,7%)
Đất có màu nâu xám, TPCG trung bình, tơi xốp, giàu dinh dưỡng
Phân bố ven sông suối VQG
(K2)
7057 ha (3,6%)
Núi đá vôi dốc đứng có cây gỗ nhỏ che phủ thấp dưới 700 m
Phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả
Số liệu khí hậu của bốn trạm trong vùng Tương Dương, Anh Sơn, ConCuông và TP Vinh được ghi trong bảng 3.2
Bảng 3.2: Số liệu khí hậu của 4 trạm trong vùng:
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Nghệ An (2006) niên giám thống kê
Qua bảng 3.2 cho thấy :
- Chế độ nhiệt:
Trang 23+ Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2, do chịu ảnh hưởng của gió mùa
+ Ngược lại trong mùa hè do có sự hoạt động của gió mùa Tây Nam nênthời tiết rất khô nóng kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 tới tháng 7) Nhiệt độ trung
tháng 4 và tháng 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%
- Chế độ mưa ẩm
+ Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước tậptrung trong mùa mưa, lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 và kèm theo lũlụt Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; các tháng 2, 3, 4 có mưa phùn dochịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng 5, 6, 7 là những tháng nóng nhất
và lượng mưa cũng cao nhất
+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt từ 85 - 86%, mùa mưa lên tới 90%, tuyvậy vào mùa khô nóng, độ ẩm xuống rất thấp
* Thuỷ văn:
Trong khu vực có hệ thống sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam,các con khe như: khe Thơi, khe Khặng, khe Choăng lại chảy theo hướng TâyNam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả
+ Dưới góc độ giao thông: đường thuỷ ở cả ba con khe trên đều có thểdùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng khe Choăng và khe Khặng cóthể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu
+ Nhìn chung mạng lưới sông suối trong vùng khá dày đặc, với lượngmưa trung bình năm từ 1300 - 1400mm, nguồn nước mặt trên diện tích của VQG
khu vực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 24VQG Pù Mát là một khu rừng đặc trưng có tính chất ĐDSH đại diện cho
hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình nhất khu vực Bắc TrườngSơn, trong đó phần lớn là rừng nguyên sinh với hệ động, thực vật vô cùng phongphú và đa dạng
3.1.2.1 Tài nguyên thực vật
Do đặc điểm về khí hậu, địa hình trong khu vực rất thuận lợi cho sự pháttriển của các loài thực vật nên hệ thực vật ở VQG Pù Mát rất phong phú về loài ởđây chủ yếu là rừng nguyên sinh với các môi trường sống khác nhau như: rừng lárộng thường xanh á nhiệt đới nguyên sinh, rừng hỗn giao tre nứa tổng diện tíchtoàn bộ khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG là 91.113 ha, diện tích đất có rừng là84.065 ha
Sau đây là hiện trạng phát triển của tài nguyên rừng quốc gia Pù Mát đượcthể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3: Hiện trạng tài nguyên rừng của VQG Pù Mát
Nguồn: Hạt kiểm lâm Pù Mát, 2006
Bản đồ 3.2: Sơ đồ hiện trạng rừng quốc gia Pù Mát
Trang 26Một cảnh của VQG Pù Mát
3.1.2.2 Tài nguyên động vật
Bên cạnh tài nguyên thực vật, hệ động vật của VQG Pù Mát cũng rất đadạng và phong phú, theo nghiên cứu của các nhà khoa học, ở đây có 132 loài thúlớn nhỏ, trong đó có tổng cộng 98 loài được ghi tên trong sách đỏ Việt Nam và
thế giới, với các loài thú đặc hữu Đông Dương: Sao La (Pseudoryx
nghetinhensis) Thỏ sọc Bắc Bộ (Nesolagus SPP NOV) Vượn đen má trắng
(Hylobates leucogenys), Đặc biệt ở đây đã phát hiện những loài thú lớn, mới làm
sửng sốt những nhà khoa học trên thế giới như: Mang Trường Sơn, Vooc chà váchân nâu, Hổ, Voi
Đã có 313 Loài chim được phát hiện, trong đó có 22 loài có nguy cơ tuyệtchủng, 39 loài Dơi, 52 Loài bò sát, 84 Loài Cá, 11 Loại rùa, 305 Loài bướmngáy, 83 Loài Bướm sừng, 11 Loài Bướm Hoàng Đế
Trang 273.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản
- Vật liệu xây dựng: Đá, cát ven khe suối tương đối dồi dào có khả năng
sử dụng làm vật liệu xây dựng, đảm bảo cho nhu cầu sử dụng của người dân
- Vàng: Vàng đã được phát hiện với trữ lượng thấp ở Khe Khặng và một
số chí lưu của nó (Khe Thẳng) Song hiện nay người dân chưa tiến hành khai thác
do còn mang lại hiệu quả thu nhập quá thấp
3.1.2.4 Tài nguyên du lịch
Ngoài sự đa dạng về động thực vật, Pù Mát còn tự hào về cảnh đẹp núirừng, Sông suối nơi đây, nơi đây còn có nhiều di tích lịch sử ghi dấu một thời
Trang 28hào hùng của dân tộc trong các cuộc chống giặc ngoại xâm, những cái tên, nhữngđịa danh đã đi vào lòng người như: Hang ông trạng, Bia Mã Nhai, Cây Đa CồnChùa
Đến Pù Mát du khách sẽ được tìm hiểu thêm về những nét văn hoá đậm đàbản sắc của cộng đồng dân tộc anh em như: Đan Lai, Thái, Mông, Khơ mú,Tày , và những loại hình du lịch sinh thái khác nhau, với nhiều danh lam thắngcảnh đẹp nổi tiếng như: Thác Khe Kèm, Bãi Đá Mỏ Vịt, rừng Săng Lẻ, Rốn CôTiên… Bạn cũng có thể ngâm trong những con khe, dòng suối mát lạnh: Khekèm, Khe mọc…
3.1.3 Điều kiện xã hội VQG Pù Mát
3.1.3.1 Dân số
Sinh sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG có ba dân tộc chính là Thái,Khơ Mú và Kinh, ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ các dân tộc khác như: Tày,H’Mông, Ơ Đu, Đan Lai
Thành phần đân tộc trên địa bàn khu vực VQG được trình bày trong bảng 3.4
Bảng 3.4: Thành phần dân tộc các huyện trong vùng
Tính đến năm 1999, dân số sống trong vùng đệm và một bộ phận nhỏtrong vùng nghiêm ngặt của VQG là 16.954 hộ và với 93.335 nhân khẩu, trung
Trang 29bình mỗi hộ gia đình có từ 5 - 6 nhân khẩu, như thế số người sinh con thứ 3, thứ
4 vẫn còn phổ biến, đâylà nguyên nhân gây ra tăng dân số trong những năm tới
Dân số trong khu vực phân bố không đồng đều Theo hướng Tây Bắc mật
Theo nguồn niên giám thống kê các huyện, năm 1999, thì lực lượng laođộng ở các huyện khá dồi dào cụ thể:
Ở huyện Anh Sơn có 8.511 lao động nam và 8.507 lao động nữ
Ở Huyện Con Cuông có 8.750 lao động nam và 8.754 lao động nữ
Ở Huyện Tương Dương có 2.741 lao động nam và 2.767 lao động nữ
Lực lượng lao động này đã góp phần không nhỏ vào tính bền vững củaVQG Pù Mát
Vào những ngày đầu mới thành lập tổ chức vườn chỉ có vẻn vẹn 6 đồngchí, nhưng hiện nay vườn đã có 5 phòng ban, trong đó có 93 cán bộ có trình độđại học và trên đại học
- Ban giám đốc: 3 đồng chí (1 giám đốc; 2 phó giám đốc)
Trạm Khe Thơi
Trạm khe Bu
Trạm Phà Lài
Phòng kế hoạch - Tài chính
Phòng tổ chức - Quản trịPhòng khoa học
P Giám đốcphụ trách khoa học
và hợp tác quốc tế
Trạm Cao Vều
Giám đốcChi cục Kiểm Lâm
Trạm Khe Kèm
Trạm Làng Yên
Trang 30Hệ thống tổ chức, quản lý của VQG Pù MátTrong bộ máy tổ chức quản lý của VQG Pù Mát thì lực lượng kiểm lâm là
bộ phận chủ yếu thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng Hạt kiểm lâm Pù Mátđược thành lập trên cơ sở từ quản lý bảo vệ rừng của khu bảo tồn thiên nhiên PùMát trước đây, từ những ngày mới đầu thành lập, cuối năm 1996 lực lượng kiểmlâm Pù Mát mới chỉ có 15 đồng chí, từ đó đến nay, hạt đã dần dần phát triển về
cả số lượng lẫn chất lượng, đi vào chiều sâu hoạt động chuyên môn thể hiện quacác năm ở bảng 3.5
Bảng 3.5: Phân bố lực lượng của hạt kiểm lâm Pù Mát
Lãnh đạo trạm
Kiểmlâm viên
Đội cơđộng
TrạmQLBVR
Trạmtrưởng
P trạmtrưởng
Trang 31Nguồn: Hạt kiểm lâm Pù Mát, 2008
Như vậy qua nhiều giai đoạn phát triển đến nay hạt kiểm lâm Pù Mát có
64 đồng chí, trong đó có: Trình độ đại học là 24 đồng chí (38%), Trung cấp 40đồng chí (62 %), đảng viên 21 đồng chí (33%)
Ban lãnh đạo hạt gồm 3 đồng chí: 1 hạt trưởng, 2 phó hạt trưởng, số cònlại là 61 đồng chí, trong đó được bố trí ở đội cơ động là 7 đồng chí và 8 trạmQLBVR là 54 đồng chí
3.2 Tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu
3.2.1 Tình hình cơ bản của bản Yên Thành - xã Lục Dạ - huyện Con Cuông - Nghệ An
3.2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Bản Yên Thành nằm cách đường quốc lộ 12km, cách trung tâm huyện13km
- Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên của bản là: 737,51ha trong đó:
Trang 32+ Đất khác: 327,5 ha (bao gồm: đất bùn ao hồ, đất rừng đã trồng tre nứa,đất đặc dụng).
3.2.1.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội
+ Dân số và lao động:
Bản Yên Thành là địa bàn sinh sống của 163 hộ dân với 701 khẩu, trong
đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái là 156 hộ (chiếm 95,7%) với 670 khẩu, dântộc Kinh là 7 hộ (chiếm 4,3%) với 31 khẩu
Toàn bản có 331 khẩu nữ, và 339 khẩu nam, trong đó số người ở độ tuổi
có lực lượng lao động khá dồi dào chiếm hơn một nửa dân số trong bản, nhưngdiện tích đất sản xuất nông nghiệp lại chiếm tỉ lệ ít trong tổng diện tích đất tựnhiên của toàn bản, nên đời sống của người dân nơi đây gặp nhiều khó khăn, họkhông chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp mà còn phải phụ thuộc vào TNR để cóthể tồn tại, khả năng tiếp cận nguồn TNR đã phần nào ảnh hưởng đến sinh kế củangười dân trong bản
+ Y tế và giáo dục
Về y tế: Cơ sở y tế của bản còn tạm bợ, cả bản chỉ có một y tá, trang thiết
bị, thuốc chữa bệnh của trạm còn chưa đầy đủ, người dân trong bản khi bị ốmđau, bệnh tật, đặc biệt là bệnh ngoài da, thì họ thường vào rừng lấy thuốc để chữabệnh Điều này cũng là một vấn đề gây ảnh hưởng đến TNR
Về giáo dục: Bản đã có nhiều tiến bộ, số lượng người mù chữ đã giảm đi đáng kể và đã có nhiều con em trong bản được đi học ở các trường dạy nghề, caođẳng, đại học
3.2.1.3 Giao thông và thuỷ lợi
+ Giao thông từ huyện đến xã Lục Dạ đã được bê tông hoá thuận lợi choviệc đi lại, tuy nhiên đường đi lại trong bản vẫn đang còn đường đất, bản có2,8km đường liên thông; 3,3km đường dân sinh
+ Hệ thống thuỷ lợi phát triển đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt củangười dân
Trang 333.2.1.4 Thực trạng kinh tế của bản Yên Thành
Toàn bản có 163 hộ thì có đến 161 hộ làm nông - lâm nghiệp, (chiếm98,77%), hai hộ còn lại là công chức nhà nước (chiếm 1,23%) tuy số hộ tham giavào sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhưng do diện tích đất nông nghiệp ít
đất hoa màu là 22ha, ở đây do chủ động được nguồn tưới tiêu, công tác thuỷ lợi ởbản tốt, nên việc trồng lúa nước khá thuận lợi, tuy nhiên tình hình chăn nuôi ởbản không được khả quan, do tập quán của người dân là thường chăn thả trâu bò
ở trong rừng, nên chúng thường bị dịch bệnh hay bị giết chết, đời sống của ngườidân trong bản còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng thiếu đói vẫn luôn tiếp diễn,nên vào những tháng nông nhàn, người dân lại vào rừng kiếm củi, lấy măng, mộcnhị, thuốc, chặt tre mét, khai thác gỗ để bán hoặc đổi lấy lương thực, thực phẩm
Toàn bản có 163 hộ nhưng chỉ có 11 hộ có thu nhập khá với mức thu nhập(4 - 7 triệu đồng/năm) 116 hộ kinh tế trung bình với mức thu nhập từ 1,5 - 4 triệuđồng/hộ/năm và 36 hộ nghèo với mức thu nhập dưới 1,5 triệu đồng /hộ/năm
3.2.2 Tình hình cơ bản của bản Liên Đình xã Chi Khê Con Cuông Nghệ An
-3.2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Bản Liên Đình nằm cách đường quốc lộ 1km, cách trung tâm huyện ConCuông 9km
- Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên của bản là: 897,45ha trong đó có:
+ Đất lâm nghiệp là 696,57ha
+ Đất nông nghiệp: 69,46ha (diện tích lúa nước là 13,08ha; diện tích đấtmàu 56,38ha)
+ Đất khoanh nuôi bảo vệ : 2,5ha
+ Đất thổ cư: 10,3ha
+ Đất chuyên dùng: 75,32ha
Trang 34Toàn bản có 335 khẩu nam và 239 khẩu nữ trong đó số người trong độtuổi lao động có 305 người (chiếm 53,2%), số còn lại chủ yếu là người già và trẻ
em, lực lượng lao động trong bản khá dồi dào, chiếm hơn một nữa dân số, diện
nông nghiệp và chăn nuôi, tuy nhiên người dân trong bản vẫn thường xuyên vàorừng khai thác các sản phẩm từ đó để tăng thêm thu nhập cho gia đình và cảithiện đời sống, những hoạt động khai thác của bản Liên Đình thấp hơn bản YênThành do công tác quản lý bảo vệ rừng ở bản Liên Đình có chặt chẽ hơn bản YênThành nên khả năng tiếp cận nguồn TNR ở bản này thấp hơn bản Yên Thành
+ Y tế và giáo dục:
Về Y tế: Toàn bản chỉ có 1 y tá, với điều kiện vật chất, thuốc chữa bệnhkhá đầy đủ ở đây người dân thường vào rừng để lấy thuốc chữa những bệnhthông thường và hiệu quả của những loại thuốc do người dân tự làm ra này rấtcao, điều này cho thấy kiến thức bản địa của người dân là rất phong phú, nhữngkiến thức này thường ít gặp ở người dân tộc kinh
Về giáo dục: trẻ em trong bản được đi học đầy đủ, không có tình trạng trẻ
em bỏ học giữa chừng hay bị mù chữ Phong trào học tập của bản diễn ra mạnh
mẽ cụ thể như: Hoạt động loa đài, báo cáo thường xuyên những em nào thường
bị vi phạm học tập và đồng thời khen thưởng, ca ngợi những em có thành tíchhọc tập tốt trong bản