1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ huuyện nga sơn lãnh đạo công tác phát triển văn hoá giáo dục từ 1986 đến 2005

44 466 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Huyện Nga Sơn Lãnh Đạo Công Tác Phát Triển Văn Hóa Giáo Dục Từ 1986 Đến 2005
Tác giả Trình Thị Vui
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 325 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Ai về mua vải Hơng Canh Ai lên mình gửi cho anh với nàng Chiếu Nga Sơn, Gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông ” [Việt bắc – Tố Hữu] Trong suốt chiều dài lịch sử của huyện,

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

………

Trình thị vui

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Đảng bộ huyện nga sơn LãNH ĐạO công tác phát triển văn hóa giáo dục Từ 1986 ĐếN 2005

Chyên ngành : Lịch sử đảng CộNG SảN VIệT NAM

Vinh Năm 2007

Trang 2

đã viết đề tựa “ Khuyến học cầu hiền bao giờ cũng là quốc sách đối với sựnghiệp dựng nớc, giữ nớc và hng thịnh của quốc gia” Từ xa nhân dân ta đã

có câu “Cho ruộng cho tiền không bằng cho nghiên cho bút” "Tỉnh Thanh tavừa rạng rỡ đất văn vừa oai phong đất võ Sử sách còn ghi vùng nào trongtỉnh cũng xuất hiện những danh sĩ hào kiệt nổi tiếng "

Nằm trong dòng chảy của truyền thống văn hoá Xứ Thanh, Nga Sơncũng là nơi lu giữ nhiều truyền thống văn hoá, là nơi có cảnh sơn nớc hữutình với bao câu chuyện huyền thoại nh Từ Thức gặp tiên đợc ca ngợi là

“Nam thiên đệ nhị động”, chuyện về Mai An Tiêm luôn nhắc nhở ngời NgaSơn tính cần cù, sáng tạo trong lao động của cha ông thời mở nớc Bên cạnh

đó Nga Sơn còn là nơi quê hơng của chiếu cói nổi tiếng cũng đợc sánh hàngvới những sản phẩm tiêu biểu của địa phơng khác

Ai về mua vải Hơng Canh

Ai lên mình gửi cho anh với nàng Chiếu Nga Sơn, Gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông ”

[Việt bắc – Tố Hữu]

Trong suốt chiều dài lịch sử của huyện, những giá trị truyền thống đókhông ngừng đợc giữ gìn và phát triển quê hơng về mọi mặt, trong đó vănhoá giáo dục là một trong những lĩnh vực nổi bật, đạt đợc nhiều thành tựu rực

Trang 3

Trong báo cáo dự thảo trình đại hội lần thứ VIII của Đảng, Đảng ta đãkhẳng định “ Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sáchhàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài” Đó là

định hớng hết sức đúng đắn Định hớng đó một lần nữa khẳng định vai trò vàtầm quan trọng to lớn của công tác giáo dục-đào tạo đối với toàn xã hội Đạihội IX lại quán triệt sâu sắc t tởng Hồ Chí Minh về văn hoá Văn hoá đối vớichúng ta là một mặt trận, một lĩnh vực cực kỳ quan trọng trong đời sống xãhội Đại hội tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 5 khoá VIII về xây dựng vàphát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà, bản sắc văn hoá dân tộc.Trong công cuộc đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN hiện nay, đặc biệtkhi bớc vào thế kỷ XXI, thế kỷ của “ Văn minh và trí tuệ ” với xu thế hộinhập toàn cầu thì việc đầu t cho phát triển văn hoá- giáo dục vẫn còn nguyêngiá trị và mang tính thời đại sâu sắc

1.2 Về mặt thực tiễn

Từ lâu văn hoá-giáo dục có một vị trí hết sức quan trọng trong đờisống xã hội Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, song nhân dân tavẫn còn giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc

Bên cạnh đó văn hoá giáo dục và kinh tế xã hội có mối quan hệ chặtchẽ với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau Nếu kinh tế-xã hội phát triển sẽtạo đà thúc đẩy và làm cơ sở vững chắc cho văn hoá - giáo dục phát triển.Ngợc lại nếu văn hoá-giáo dục phát triển sẽ góp phần ổn định trật tự xã hội,ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào đời sống, tạo động lực chokinh tế xã hội phát triển

Là một ngời con của quê hơng Nga Sơn, tôi mong muốn góp phần nhỏ

bé của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá giáo dục huyệnnhà Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Đảng bộ huyện Nga Sơn lãnh đạo công tácphát triển văn hoá giáo dục từ (1986-2005)” Nhằm nghiên cứu một cách có

hệ thống thành tựu về văn hoá-giáo dục Nga Sơn đã đạt đợc trong 20 năm Từ

Trang 4

đó góp phần thiết thực vào nghiên cứu văn hoá giáo dục Thanh Hoá trong haithập kỷ qua Qua đó khẳng định đờng lối phát triển văn hoá-giáo dục của

Đảng và Nhà nớc ta từ 1986 là đúng đắn, sáng tạo, mang lại lợi ích thiết thựccho nhân dân Đồng thời là động lực thúc đẩy kinh tế, chính trị, xã hội, đàotạo nguồn lực lao động cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nghiên cứu văn hoá - giáo dục nớc ta đã đợc nhiều tác giả tiếnhành và đạt đợc những kết quả nhất định nh tác phẩm: “Đại cơng lịch sử ViêtNam toàn tập; Tiến trình lịch sử Việt Nam; Khoa cử và giáo dục Việt Nam”

Tuy nhiên, nghiên cứu về văn hoá - giáo dục huyện Nga Sơn cha cómột công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện mà nó cònnằm tản mạn ở một số tài liệu sau:

Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xa” Trần Thanh Thịnh (chủ biên) –

NXB Thanh Hoá 1985, khái quát việc học, thi cử thời xa, những danh sĩ xứThanh, những cống hiến của các bậc hiền tài cho đất nớc, cho nhân dân, làmrạng rỡ non sông đất nớc, quê hơng Thanh Hoá;50 năm giáo dục và đào tạoThanh Hoá 1945-1995, sự kiện và thành tựu NXB Thanh Hoá 1995

Các báo cáo, nghị quyết của Đảng bộ huyện về phát triển văn giáo dục

hoá-Các báo cáo tổng kết hàng năm của ngành giáo dục-đào tạo phòng vănhoá thông tin

Gần đây tác giả Phạm Thị Chuyên cũng đã đề cập một cách chungnhững thành tựu văn hoá giáo dục Nga Sơn trong khoá luận tốt nghiệp “ NgaSơn trong 15 năm đổi mới (1986-2000)”

Các tài liệu đề cập ít nhiều đến văn hoá- giáo dục, nhng cha nghiêncứu một cách toàn diện về sự phát triển của văn hoá-giáo dục huyện Nga Sơntrong khoảng thời gian 20 năm đổi mới (1986-2005) Do đó với t cách là mộtchuyên khảo độc lập, trên cơ sở kế thừa nguồn t kiệu ở địa phơng nh sách báo

Trang 5

tạp chí…Chúng tôi, muốn tìm hiểu và giới thiệu một cách hệ thống nhữngthành tựu văn hoá giáo dục huyện Nga Sơn đạt dợc trong 20 năm đổi mới.

3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu

Trong khoá luận này chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ tình hìnhvăn hoá-giáo dục huyện Nga Sơn từ trớc đến nay mà chỉ tập trung nghiên cứunhững thành tựu văn hoá giáo dục Nga Sơn đạt đợc trong 20 năm (1986-2005) đồng thời rút ra những kinh nghiệm và giải pháp trong phát triển vănhoá giáo dục ở Nga Sơn hiện nay

Phạm nghiên cứu về văn hoá giáo dục của đề tài này là ở một huyệnNga Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá trong khoảng thời gian 20 năm (1986-2005)

4 Nguồn tài liệu và phơng nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu chủ yếu là các sách viết về tỉnh Thanh Hoá, các báo cáotổng kết hàng năm, nhiệm kỳ, số liệu thống kê hàng năm về văn hoá giáo dụchuyện nhà lu trữ tại phòng văn hoá, phòng giáo dục đào tạo, th viện huyện

Đồng thời tôi còn trực tiếp gặp gỡ, tiếp thu nhiều ý kiến của các cán bộhuyện Nga Sơn

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Cơ sở phơng pháp luận là lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin t tởng HôChí Minh và quan điểm của Đảng ta về văn hoá giáo dục, chúng tôi còn sửdụng phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgic, phơng pháp thông kê, lập bảng

so sánh, tổng hợp

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài này tái hiện một cách có hệ thống về tình hình văn hoá giáo dụccủa huyện Nga Sơn từ năm 1986-2005

Trang 6

Qua việc trình bày trên chúng tôi đã mạnh dạn rút ra một số kinhnghiệm và đề ra một số giải pháp để phát triển văn hoá giáo dục Nga Sơntrong thời gian tới

Đề tài góp phần vào nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa

ph-ơng.Thông qua đó giáo dục truyền thống hiếu học và giữ gìn phát huy truyềnthống văn hoá cho thế hệ trẻ mai sau

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo nội dungkhoá luận đợc kết cấu thành 2 chơng:

Chơng 1: Khái quát văn hoá giáo dục Nga Sơn trớc 1986

Chơng 2: Đảng bộ huyện Nga Sơn lãnh đạo công tác phát triển văn hoágiáo dục trong 20 năm đổi mới 1986-2005

Trang 7

Nội dung Chơng 1

Khái quát Tình hình văn hoá - Giáo dục Nga Sơn trớc 1986

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Nga Sơn là một huyện ven biển Thanh Hoá, gồm 26 xã và một thị trấnvới diện tích tự nhiên là 15.810.29 hecta, dân số 150.078 ngời Nằm ở phần

Đông Bắc của tỉnh, Nga Sơn có toạ độ địa lý là 190 34 ‘10” đến 200 3‘45” vĩBắc và 1050 34‘ 10” kinh Đông, bắc giáp dãy núi Tam Điệp, huyện Kim Sơn(Ninh Bình), phía Nam giáp huyện Hậu Lộc, phía Tây giáp huyện Hà Trung(Thanh Hoá) và phía Đông giáp biển Đông Nhìn trên bản đồ hành chính,Nga Sơn có hình dáng nh một lá cờ đuôi nheo mà cạnh huyền chạy theo hớng

Đông Bắc- Tây Nam, kéo dài từ xã Nga Điền, qua phần tiếp giáp với biểnxuống xã Nga Thạch

Vị trí địa lý trên đã mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu Hải Dơng đặctrng và mang tính chuyển tiếp giữa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: nắnglắm, ma nhiều, rét sớm và chịu tác động trực tiếp của biển theo mùa Hàngnăm, nhiệt độ trung bình của các ngày từ 230C đến 260C, lợng ma trungbình là 1.540mm Nga Sơn có hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận tiện Cáccon sông Hoạt, sông Báo Văn là giới hạn tự nhiên giữa huyện Nga Sơn vớihuyện Hà Trung; sông Lèn thuộc hệ thống sông Mã là giới hạn tự nhiên giữahuyện Nga Sơn với huyện Hậu Lộc có quốc lộ 10B, hệ thống tỉnh lộ chạyqua, tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lu kinh tế, văn hoá giữa huyệnNga Sơn với các huyện khác trong tỉnh và các tỉnh khác Vì vậy mà văn hoá,con ngời nơi đây không chỉ mang những đặc điểm của miền Trung mà cònchịu ảnh hởng không nhỏ của vùng Bắc Bộ

Trang 8

Điều kiện tự nhiên của huyện Nga Sơn có những nét đặc trng riêng biệt

so với nhiều huyện trong tỉnh Là một vùng đất do phù sa bồi tụ nên Nga Sơn

có những dạng địa hình lợn sóng, tạo ra những dãi đất cao thấp xen kẽ nhau,

độ cao trung bình 3-5 m (so với mặt nớc biển), cá biệt có nơi ở các xã vùngchiêm thấp hơn độ cao trung bình toàn huyện 1-1.5 m Tổng thể địa hìnhnghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phía Tây Bắc huyện là vùng núi

đá thuộc vòng cung Tam Điệp, chia địa hình thành 3 vùng:

Vùng đồng chiêm ở phía Tây gồm 7 xã chiếm 30.3% diện tích tựnhiên toàn huyện Nằm trên dải đất cao hơn của huyện và thoải dần về haiphía, đất đai chủ yếu là cát biển, là vùng chuyên canh màu, cây công nghiệpngắn ngày, phát triển thủ công nghiệp

Vùng ven biển phía Đông gồm 8 xã Địa hình ở đây có dạng làn sóng,xen kẽ giữa những cồn cát cao là những dải đất trũng hình lòng máng theo h-ớng Bắc Nam, là vùng chuyên canh trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản

Bờ biển huyện Nga Sơn dài 11 km có điều kiện phát triển nông nghiệptrồng trọt ven biển với giá trị kinh tế cao Từ lâu Nga Sơn đã nổi tiếng về ghềtrồng cói dệt chiếu Thiên nhiên đã ban tặng cho Nga Sơn một loại cói đặc tr-

ng, sợi nhỏ mà dai, màu tơi và dài hơn những nơi khác Vì vậy Nga Sơn ngay

từ rất sớm đã có nghề dệt chiếu Nhắc đến Nga Sơn là nhắc đến quê hơng củamột trong những sản vật nổi tiếng: chiếu Nga Sơn

Vùng biển Nga Sơn có tốc độ bồi tụ khá nhanh.Từ năm 1960 diện tích

đất tự nhiên của toàn huyện tăng lên hàng ngàn hecta do quai đê lấn biển.Nga Sơn có những vùng đánh bắt hải sản truyền thống bao gồm cả khơi vàlộng Toàn huyện có vùng triều quy mô khai thác khoảng 1.200 hecta, doquai đê lấn biển, có tiềm năng lớn trong nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn, nớc lợ

ở phía Bắc, từ Nga Thiện, Nga Giáp đến Nga Phú là phần cuối củavòng cung Tam Điệp, đợc chia làm 2 dãy, một bên là núi Thiết Giáp, một bên

là núi Thần Phù dài 8.3km, độ cao trung bình là 100m, chạy theo hớng ra

Trang 9

biển Giữa hai núi là con sông Chính Đại xinh đẹp, nơi gặp biển là cửa ThầnPhù Đây là dãy núi đá vôi có trữ lợng lớn và có giá trị đẹp kinh tế cao Đâycũng là nơi quần tụ nhiều danh lam thắng cảnh, gắn với nhiều truyền thuyết,

sự tích của những buổi đầu cha ông ta khai thiên lập địa, xây dựng quê hơng

nh núi Mai An Tiêm, động Từ Thức, chùa Tiên, hồ Đồng Vụa, bia Thần, cửaThần Phù,

Điều kiện tự nhiên, đặc điểm và tính chất địa hình đã đem đến choNga Sơn ngoài điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp kết hợp ngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp phong phú còn mở ra nhiều tiềm năng cho pháttriển du lịch Du khách ngày nay có thể đến thăm động Từ Thức để hoà mìnhvào trong cảnh thần tiên đọc những dòng chữ Hán, lu bút của những bậc danhnhân xa, đi lễ chùa Tiên, thăm hồ Đồng Vụa hoặc đến núi An Tiêm, quê h-

ơng của những quả Da Hấu đỏ, để ngỡng mộ về một thời xa xa ông cha tabằng sức lao động, tình yêu, ý chí vợt khó khăn và óc thông minh sáng tạo đãtạo nên mảnh đất này

Điều kiện tự nhiên của Nga Sơn đã tác động đến việc hình thành cáclàng quê và ảnh hởng đến việc hình thành, phát triển văn hoá truyền thốngcủa các làng nơi đây, nhất là với việc phát triển văn hoá giáo dục trong thời

kỳ hiện đại

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Nga Sơn là một trong những huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổsông Mã có đặc điểm riêng về kinh tế-xã hội Những đặc diểm về kinh tế xãhội ở đây đã tác động, ảnh hởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội và hìnhthành nền văn hoá truyền thống cũng nh việc phát triển nền văn hoá giáo dụchiện nay

Là một huyện phía Bắc Thanh Hoá cửa ngõ của xứ Thanh ở vào vị trítiếp giáp với châu thổ sông Hồng, cận kề biển cả, có hệ thống giao thông đ-ờng bộ, đờng sông, đờng biển thuận lợi, Nga Sơn có điều kiện thuận lợi cho

Trang 10

việc giao lu phát triển kinh tế văn hoá Vị trí địa lý này đã tạo điều kiện thuậnlợi cho Nga Sơn sớm trở thành một trung tâm phát triển phía Bắc Thanh Hoá

và sớm trở thành một trong những vùng văn hoá đặc sắc của con ngời xứThanh

Điều kiện tự nhiên: Có đồng bằng, có biển, có núi, có sông và sự phân

bố địa lí thuận lợi hơn nhiều huyện khác, Nga Sơn có nhiều lợi thế cho sựphát triển nền kinh tế đa ngành, đa nghề: nông nghiệp, thuỷ hải sản, côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thơng mại , dịch vụ, du lịch Do vậy NgaSơn là huyện có nền kinh tế đa dạng giàu tiềm năng Bên cạnh việc trồng lúavới sản lợng hàng năm là 39.923 tấn, Nga Sơn còn là nơi sản xuất các loạicây hoa màu có giá trị xuất khẩu cao nh lạc, đậu tơng, rau xanh Đặc biệtcây cói đang là cây trồng mang lại cho huyện nguồn thu nhập cao Thông quachế biến, nhờ bàn tay khéo léo của thợ thủ công từ các làng nghề truyềnthống, từ những ngời đợc dạy nghề, những sản phẩm từ cói đã qua biên giới,vợt đại dơng đi đến nhiều nớc trên thế giới mang lại giá trị xuất khẩu hàngnăm là 9.810.000 USD Chăn nuôi cũng là một lĩnh vực đợc chú ý, góp phầntăng thu nhập của nông dân

Cũng nhờ vào điều kiện thuận lợi của tự nhiên, Nga Sơn còn phát triểnngành nuôi trồng thuỷ hải sản Với diện tích vùng triều 1.200 ha, điều kiệnthuỷ văn thuỷ triều tơng đối thuận lợi, với 2 cửa sông là Lạch Sung, Cửa Càn.Nga Sơn đã có diện tích rừng phòng hộ ven biển lên tới 240 ha chủ yếu làtrồng sú, vẹt, diện tích mặt nớc dành cho nuôi trồng thuỷ sản là 578.19 ha

Đó là cha kể vùng triều còn mang lại cho ng dân nơi đây nguồn lợi từ đánhbắt tự nhiên

Là một vùng đất do phù sa bồi tụ tự nhiên biển tạo theo dạng sóng nêntính chất ở đây cũng đa dạng: bao gồm đất mặn(mặn ít, mặn nhiều, mặntrung bình), đất phù sa, đất đỏ vàng, đất xói màu trơ sỏi đá Vì vậy, bêncạnh diện tích đất canh tác trồng lúa là chủ yếu, Nga Sơn còn canh tác trồng

Trang 11

cói, trồng cây màu, rừng tạp Thực tế này đã chi phối đời sống kinh tế ởhuyện nhà Ngay từ xa xa ngời dân Nga Sơn đã biết kết hợp giữa sản xuấtnông nghiệp với chăn nuôi giữa nông nghiệp với thủ công nghiệp… và trênvùng đất ngập mặn đã ra đời làng nghề dệt chiếu nổi tiếng khắp cả nớc.

So với các huyện lân cận, Nga Sơn cũng là nơi có nguồn tài nguyênkhoáng sản phong phú mỏ đá vôi đợc phân bố ở các xã phía bắc của huyện(Nga Thiện, Nga Điền, Nga Giáp, Nga An, Nga Phú trữ lợng khoảng 25 triệu

m3, hàng năm đợc khai thác nhằm phục vụ vào sản xuất vật liệu xây dựng cơ

sở hạ tầng trên địa bàn huyện, ngoài ra Nga Sơn còn có mỏ đô lô mit ( ở NgaAn) với trữ lợng 500.000 đến 700.000 tấn; mỏ đất sét trữ lợng 2 triệu m3(Nga Thắng, Nga Lĩnh, Ba Đình) Nhìn chung khoáng sản ở Nga Sơn cho

đến nay cha dợc khai thác hết tiềm năng nhằm phục vụ cho sự phát triển củahuyện, mới chỉ dừng lại ở khai thác nhỏ lẻ manh mún …

Ngoài diện tích rừng phòng hộ Nga Sơn còn có 300 ha rừng sản xuấtchủ yếu tập trung ở khu vực phía bắc, dọc theo vòng cung Tam Điệp, trồngbạch đàn, keo lá tràm Tuy giá trị kinh tế không cao song tài nguyên rừngmang lại giá trị về mặt cải tạo đất, điều hoà môi trờng sinh thái, bảo vệ và lấnbiển

Thiên nhiên đã ban tặng cho Nga Sơn những thắng cảnh đẹp dệt lênnhững huyền thoại nổi tiếng nh động Từ Thức, Cửa Thần phù, Bia thần Khíthiêng của Nga Sơn đã sinh ra những danh nhân nh Lê Thị Hoa, Mai AnhTuấn con ngời Nga Sơn đã làm nên những chiến tích lừng lẫy nh Ba Đìnhlịch sử gắn liền với những di tích nổi tiếng đó là những điều thuận lợi hứahẹn một tiềm năng du lịch cho cả hiện tại và tơng lai

Tuy là huyện nông nghiệp nhng do điều kiện tự nhiên thuận lợi nênbên cạnh việc phát triển nông nghiệp, Nga Sơn còn có thế mạnh trong sảnxuất thủ cộng nghiệp nh khai thác chế biến gỗ, chế biến nông sản, sản xuấtvật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất chiếu cói Sự khác nhau về địa hình

Trang 12

của các vùng đã đa tới sự đa dạng về ngành nghề giữa các xã, các vùngtrong huyện nếu nh ở vùng chiêm trũng có các xã thuần nông canh tác theolối một năm 2 vụ là chủ yếu, kết hợp chăn nuôi gia súc theo đàn , nuôi cá n-

ớc lợ, vùng màu canh tác nhiều vụ, đa cây, đa con kết hợp với chế biến nôngsản, dịch vụ thì ở vùng biển, ngoài nông nghiệp trồng lúa trồng cói ngời dâncòn phát huy nghề truyền thống phát triển thủ công nghiệp phục vụ cho xuấtkhẩu, nuôi trồng thuỷ hải sản Hiện nay ngành sản xuất chế biến cói đang đ-

ợc chú trọng đầu t phát triển mạnh không chỉ ở các xã ven biển ma còn mởrộng trên địa bàn toàn huyện Trong 2 năm trở lại đây, từ sản phẩm chiếu cói,cói đã đem lại cho huyện giá trị xuất khẩu Nga Sơn đang là điểm sáng trongchơng trình mở rộng, phát triển các doanh nghiệp của tỉnh Mặc dù vậy, thủcông nhiệp của huyện đang còn dừng ở dạng chế biến thô là chủ yếu, các mặthàng thủ công cha có giá trị hàng hoá cao

Về nuôi trồng thuỷ sản cũng đợc chú trọng Từ khai thác đánh bắt tựnhiên, hiện nay Nga Sơn ngày càng mở rộng diện tích khai thác nh nhữngcánh đồng 50 triệu / ha nuôi tôm càng xanh ,cá lúa kết hợp …,vùng triềunuôi công nghiệp, bán công nghiệup song nhìn chung còn chịu nhiều rủi ro

do thiên nhiên Việc chế biến chỉ ở dạng tự phát

Những dòng sông trên đất Nga Sơn: sông Hoạt, sông Báo Văn, sôngLèn đã tạo lên ở đây những làng quê trù phú, những điểm trên bến dớithuyền tấp nập những thị trấn, thị tứ làm cho diện mạo kinh tế ở Nga Sơnmang màu sắc riêng

Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp đã kéo theo trao đổibuôn bán trên địa bàn Nga Sơn Từ xa xa ở nơi đây đã có chợ Điền Hộ, chợ

Hồ Vơng, Bến Sung,… Hệ thống chợ phiên, chợ buổi đợc phân bố đều khắpcác vùng trong huyện Ngoài ra còn có các chợ làng nghề, chợ đầu mối muabán các sản phẩm nh: chiếu cói, hải sản …Thêm vào đó, Nga Sơn là nơi tiếpgiáp với huyện Kim Sơn, một huyện nổi tiếng về buôn bán, vì thế thời Pháp

Trang 13

thuộc nơi đây còn là nơi giao lu buôn bán của những thơng nhân trong tỉnhThanh Hoá với thơng nhân tỉnh ngoài Hệ thống sông ngòi chạy bao quanhhuyện, là nơi cửa sông đổ ra biển đã khiến Nga Sơn là nơi có hoạt động buônbên "trên bến dới thuyền " giữa miền xuôi và miền ngợc sầm uất Ngày nay,một số bến này trở thành nơi ra vào của những tàu có trọng tải hàng trămtấn,đa hàng chiếu cói đi khắp cả nớc và sang thị trờng Trung Quốc Sự pháttriển của các thơng nghiệp đã tạo điều kiện cho văn hoá Nga Sơn với cácvùng trong và ngoài tỉnh có tiếp xúc và giao lu Chính vì vậy mà văn hoá củangời Nga Sơn trong sinh hoạt, nếp sống, giọng nói phần nào pha trộn gữa khu

Ba và khu Bốn Con ngời Nga Sơn vì thề cũng năng động hơn, hớng ngoạihơn so với nơi khác

Ngày nay, Nga Sơn cha phải là huyện giàu mạnh song đợc đánh giá làhuyện có tiềm năng về phát triển kinh tế, kinh tế nông nghiệp chiếm 47%trong cơ cấu chung Hoạt động thủ công đang từng bớc phát triển Đặc biệt làhoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện đang hứa hẹn sự đột phátrong tăng trởng về kinh tế

Nga Sơn là huyện có dân c đông, làm nghề nông là chủ yếu Song do

điều kiện địa hình nên phơng pháp canh tác khác nhau dẫn đến sự khác nhautrong cách quần c Vì vậy có những cụm dân c hình thành từ rất sớm sau nàythành làng tập trung ở những khu vực có địa thế khô ráo cùng với đất đai màu

mỡ dễ canh tác, có những cụm dân c hình thành ven sông thuận tiện cho việctrao đổi buôn bán…là nơi sinh sống của nhiều dòng họ lâu đời nh họ Mai( ởNga Thạch, Nga Hải, Nga An ),Họ Đào (ở Nga Trung, Nga Hng…).ngoài raquan hệ thân tộc trong dòng họ Nga Sơn còn có những quan hệ rất đặc biệt

đến nay vẫn đợc giữ gìn và phát huy đó là qua hôn nhân mà có đến 3 dòng họcùng thờ một ông tổ: ví dụ nh nghè thờ ông tổ Nguyễn Đào tam tộc ở xứ NgaHng, cả 3 họ đều lấy ngày 12 tháng giêng làm ngày giổ tổ… Điều đó cho

Trang 14

thấy thấy sự cộng c lâu đời, mối quan hệ gắn bó đoàn kết của những c dântrên mảnh đất ven biển này.

Nga Sơn còn có giáo xứ của đông bào theo đạo thiên chúa giáo (giáo

sứ Tam Tổng) Vì thế huyện có c dân theo đạo đông nhất tỉnh Ngoài ra còn

có bộ phân c dân theo đạo Phật Với phơng châm " đạo pháp- dân tộc- chủnghĩa xã hội" Việc xây dựng đời sống văn hoá mới là tạo điều kiện cho nhândân sống phúc âm trong lòng dân tộc sống "tốt đời đẹp đạo"

Công cuộc đổi mới hiện nay đã tạo nên những biến đổi mới trên đấtNga Sơn Sự phát triển kinh tế Nga Sơn thời kỳ đổi mới, đã tác động đếnnhiều đến việc phát triển văn hoá giáo dục

1.2 Khái quát văn hoá - giáo dục Nga Sơn trớc năm 1986

1.2.1 Văn Hoá

Với thắng lợi rực rỡ của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuânnăm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiếncủa nhân dân kết thúc thắng lợi, non sông thu về một mối Nhân dân cả nớchân hoan bớc vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN Trong niềm vui chung của dân tộc, cùng với quân dân cả nớc, Đảng bộ

và nhân dân Nga Sơn vô cùng phấn khởi và tự tin tiến thẳng vào thời kỳ cáchmạng mới theo định hớng xã hội chủ nghĩa

Nhiệm vụ đầu tiên của Đảng bộ và nhân dân Nga Sơn trong thời kỳnày là tiếp tục ổn định đời sống nhân dân sau chiến tranh, phát triển kinh tế,văn hoá xã hội

Nhờ có bớc tăng trởng về kinh tế, công tác văn hoá, giáo dục, y tếcũng đợc đẩy mạnh Hoạt động thông tin văn hoá, văn nghệ đã đi sát cơ sởgóp phần thiết thực phục vụ nhiệm vụ chính trị và đời sống nhân dân tronghuyện Hệ thống truyền thanh đợc tăng cờng, toàn huyện có hơn 3000 chiếcloa Các đội văn nghệ nghiệp d đợc củng cố Qua hội diễn mùa xuân năm

Trang 15

1976 có 17 đội tham gia, trong đó có 5 đội đạt tiêu chuẩn mạnh Đội vănnghệ Nga Thành đợc tặng huy chơng vàng trong hội diễn văn nghệ của tỉnh.

Từ ngày 9-6 đến 12-6-1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nga Sơnlần thứ VIII (vòng 1) đợc tiến hành đại hội nhất trí nhận định:"… Công tácvăn hoá thông tin, giáo dục, y tế tiếp tục phát triển Công tác vận động quầnchúng, công tác xây dựng Đảng đợc quan tâm hơn[15,25]" Đại hội quyết

định phát động các phong trào, thi đua lập thành tích chào mừng đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng thời đẩy nhanh việc thực hiện chỉthị 214 về tổ chức nếp sống mới, gia đình văn hoá, phong trào văn hoá vănnghệ cho nhân dân

Năm 1977 phong trào văn hoá văn nghệ tiếp tục phát triển cả về số ợng lẫn chất lợng Đặc biệt là phong trào vệ sinh phòng bệnh đợc Huyện uỷ,

l-Uỷ ban nêu lên thành chủ trơng và coi là cuộc đấu tranh xoá bỏ tập quán cũ,lạc hậu xây dựng tập quán mới hợp vệ sinh Phong trào phát triển mạnh ở cácxã nh: Nga Bạch, Nga Thạch, Nga Văn…hàng ngàn gia đình đã phá thùngngâm làm cầu tiêu hai ngăn và hố xí hợp vệ sinh

Mặc dù đến nửa đầu những năm 80 của thế kỷ XX có nhiều khó khăn,nhất là về kinh tế nhng công tác văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, th việnvẫn phát triển và làm nhiệm vụ phục vụ chính trị Đặc biệt là hệ thống th viện

có nhiều cố gắng, chất lợng hoạt động bớc đầu có nhiều chuyển biến, nângcao kiến thức cho cán bộ đảng viên và nhân dân trong huyện

Nh vậy, cho đến trớc năm 1986 mặc dù còn gặp nhiều khó khăn thửthách nhng công tác văn hoá thông tin vẫn đợc Đảng ta quan tâm Đặc biệt d-

ới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn thì việc phát triển văn hoá thểdục, thể thao, nhằm xây dựng nếp sống văn hoá, văn minh lành mạnh trongquần chúng nhân dân là một điều vô cùng cần thiết

1.2.2 Giáo dục

Trang 16

Mỹ cút Ngụy nhào, non sông thu về một mối, hội bảo trợ các nhà ờng lại cùng nhân dân, phụ huynh và thầy trò san lấp hầm hào, các lớp họclại trở về khu trung tâm tạo điều kiện cho con em học hành tiến bộ Từ đâycác ngành học, cấp học lại thi đua dạy tốt và học tốt.

Trờng cấp 3 Nga Sơn đợc trở về Nga Yên, trung tâm huyện Đợc sựchăm sóc của Đảng bộ, nhân dân huyện, cơ sở vật chất từng bớc đợc cũng cố,quy mô trờng phát triển nhanh chóng

Năm học 1981-1982 trờng có tới 51 lớp phổ thông, 12 lớp bổ túc vănhoá

Đến năm học 1985-1986 yêu cầu phát triển ngày càng lớn Trờng cấp

3 Nga Sơn học tách làm 2 cơ sở, cở sở 2 đóng tại Nga An do thầy ThịnhGiao phụ trách Đến tháng 1 năm 1987 trờng phổ thông trung học Nga Sơn 2

có quyết định của uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập trờng

Tháng 12-1986 trờng phổ thông trung học Nga Sơn đợc mang tên ờng PTTH Ba Đình Nga Sơn nhân dịp kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa Ba Đình

ở 27 xã có 27 trờng phổ thông cơ sở, năm học 1980-1981 có 187000học sinh tốt nghiệp cấp 2 trong đó 35% đợc vào cấp ba Số cháu vào lớp mẫugiáo, nhà trẻ cũng tăng lên, năm 1979 có 7045 cháu năm 1981 có 9202 cháu

Số ngời đi học mỗi năm một tăng năm 1979 có 24600 ngời đi học năm

1980-1981 có 30.500 ngời đi học, trong đó số học sinh phổ thông là 21.200 em.Tính trung bình các xã cứ 1000 ngời dân thì có 312 ngời đi học

Tuy có nhiều khó khăn về vật t, tiền vốn, nhng các cấp uỷ và chínhquyền từ huyện đến cơ sở vẫn động viên nhân dân đóng góp vốn, lao động,vật t, tiền của để xây dựng trờng học, mua sắm đồ dùng dạy học Số phònghọc phổ thông đợc xây gạch, lợp ngói trong năm học 1980-1981 lên tới 311phòng Nhiều xã đã xây dựng đợc nhà trẻ, nhà mẫu giáo khang trang

Đội ngũ giáo viên, học sinh mỗi năm một tăng, phong trào thi đua “haitốt” đã có sức hấp dẫn đối với sự nghiệp giáo dục toàn huyện Các trờng phổ

Trang 17

thông cơ sở tiên tiến nh Nga Văn, Nga Thuỷ vẫn giữ vững và phát huy trongnhiều năm Đặc biệt trờng phổ thông cơ sở Nga Văn là hình mẫu của phongtrào giáo dục phổ thông không chỉ trong huyện mà cả ở trong tỉnh.

Trờng PTTH Ba Đình đã có những bớc tiến nhảy vọt, lập nên nhữngthành tích đáng tự hào Nhà trờng đợc tăng cờng, củng cố về mọi mặt Các kìthi học sinh giỏi tỉnh trờng dành đợc ngày càng nhiều giải cá nhân và đồng

đội Học sinh đậu Đại học và Cao đẳng ngày càng tăng

Mặc dù trong khó khăn gian khổ, con em của Nga Sơn với truyềnthông hiếu học của mình đã cố gắng học tập Theo thống kê cha đầy đủ, thời

kỳ này đã có những học sinh thành đạt và đang giữ những vị trí quan trọngtrong Nhà nớc

1 Nguyễn Đức Khiêm: Tiến sĩ trờng ĐH Nông Nghiệp

2 Nguyễn Thị Tới: Tiến sĩ trờng ĐH Kinh Tế Quốc Dân

3 Nguyễn Sinh Huy: Phó giáo s - tiến sĩ Viện Khoa Học Giáo Dục

4 Lê Văn Toàn: Giáo s – tiến sĩ Tổng cục thống kê

5 Dơng Tất Tốn: Viện khoa học giáo dục

6 Mai Tuyên: Tiến sĩ Viện hoá học Việt Nam

7 Mai Ngọc Thức: Tiến sĩ Viện hoá công nghiệp

Đất nớc thống nhất, giang sơn thu về một mối Nga Sơn là vùng đất địa

đầu của tỉnh Thanh Hoá, là cửa ngõ quan trọng của xứ Thanh Là nơi dễ tiếpthu cái mới, thuận lợi trong việc giao lu kinh tế, văn hoá Từ đó bổ sung vàphát triển văn hoá giáo dục cho quê hơng ngày một đa dạng, đồng thời tạonên nét riêng về văn hoá giáo dục của huyện mình Thông qua đó góp phầnlàm phong phú thêm văn hoá dân tộc Việt Nam và đóng góp một phần nhỏnhững nhân tài cho nớc nhà để xây dựng và phát triển đất nớc trong thế kỷXXI một cách vững chắc

Trang 18

Mặc dù kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn nhng công tác phát triểnvăn hoá giáo dục vẫn đợc Đảng bộ huyện chăm lo xây dựng Tuy nhiên thựctrạng văn hoá giáo dục trớc 1986 vẫn còn nhiều những hạn chế

Về giáo dục: Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, quy mô giáo dục cha rộngkhắp, chất lợng giáo dục đang còn thấp, tình trạng học sinh bỏ học còn nhiều,cán bộ giáo viên còn thiếu Công tác quản lý giáo dục cha khoa học, cha

đồng bộ

Về văn hoá: Công tác thông tin văn hóa, văn nghệ phát triển cha đều,cha toàn diện Nếp sống văn hoá mới cha đợc tổ chức và thực hiện một cáchnghiêm túc và rộng khắp Các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan vẫn còn tồn tại

Chơng 2

Đảng bộ huyện Nga Sơn lãnh đạo công tác phát triển văn

hoá - giáo dục trong 20 năm đổi mới (1986- 2005)

2.1 Chủ trơng đờng lối của Đảng và các cấp chính quyền trong phát triển văn hoá - giáo dục

Cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 của thế kỷ (XX) cuộc khủng hoảngkinh tế xã hội nớc ta ngày càng lâm vào trầm trọng và sâu sắc Các địa ph-

ơng trong cả nớc đều lâm vào tình trạng sản xuất trì trệ, hàng hoá khan hiếm,giá cả tăng cao…Đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn Trớc thực tế đó, Đảng

Trang 19

ta nghiêm túc sữa chữa những sai lầm và khuyết điểm, quyết tâm đổi mới sựnghiệp xây dựng đất nớc bằng cách khẩn trơng soạn thảo các văn kiện cơ bảnchuẩn bị tiến hành đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.

Đại hội VI đánh dấu một bớc mới trong quá trình phát triển kinh tế vàxã hội Việt Nam, bớc đầu giải quyết đợc những khó khăn tồn tại và yếu kémtrong mấy thập kỷ Mặc dù đứng trớc muôn vàn khó khăn thử thách nhng

Đảng và nhà nớc ta vẫn luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển văn hoágiáo dục

Tại đại hội VI Đảng ta đã đa ra chủ trơng, đờng lối phát triển văn hoágiáo dục: "Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhâncách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ luật

đồng bộ về ngành nghề phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội".Trong hoạt động văn hoá văn nghệ Đảng ta cũng đa ra chủ trơng "Công tácvăn hóa, văn nghệ phải đợc nâng cao chất lợng, mỗi hoạt động văn hoá vănnghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến t tởng, tâm lý, tìnhcảm Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá quần chúng thành nề nếp, nhất làtrong thanh niên, khắc phục bệnh phô trơng hình thức Xây dựng và sử dụngcác hệ thống th viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, viện bảo tàng, nhà truyềnthống từ trung ơng đến cơ sở, ở các ngành và các địa phơng

Có thể nói Đại hội VI của Đảng, đã đa ra một cách toàn diện về đờnglối phát triển văn hoá giáo dục, trong những năm đầu tiên của công cuộc đổimới đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Đây là một chủ trơng đúng đắntạo cơ sở, tiền đề để phát triển văn hoá giáo dục trong giai đoạn sau

Phát huy những thành tựu về văn hoá giáo dục mà Đại hội VI đã đề ra

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta lại tiếp tục đa rachiến lợc phát triển văn hoá giáo dục trong những năm tiếp với mục tiêu giáodục "Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài " "Chăm loxây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc " Giáo dục nếp sống,

Trang 20

đạo đức và phong cách ứng xử có văn hoá cho mọi ngời Phát triển văn hoádân tộc đi đôi với mở rộng giao lu văn hoá với nớc ngoài, vừa gìn giữ và pháthuy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa của thế giới

Quán triệt quan điểm giáo dục và đào tạo của Đảng và nhà nớc đồngthời trên cơ sở đánh giá thực trạng, khoa học và công nghệ nớc nhà trongnhững năm đầu thập kỷ 90 Nghị quyết hội nghị lần hai BCHTW Đảng khoáVIII đã xác định t tởng chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo và định hớng pháttriển khoa học và công nghệ trong thời kỳ CNH-HĐH đất nớc Cũng nh mụctiêu, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu của sự nghiệp giáo dục đào tạo vàkhoa học công nghệ đến năm 2000

Qua 10 năm đổi mới, các ngành giáo dục đào tạo và khoa học côngnghệ nhìn chung đã có nhiều cố gắng, đạt đợc những thành tựu quan trọng.Song phải thừa nhận rằng, những kết quả đó vẫn còn thấp xa với yêu cầucàng cao của đất nớc và sự mong mỏi ngày càng lớn của nhân dân, nhất làtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nớc

Nghị quyết lần thứ 2 BCHTW Đảng (khóa VIII), đòi hỏi Đảng và Nhànớc cần tập trung mọi cố gắng, dành u tiên cao nhất cho phát triển giáo dục

đào tạo, khoa học công nghệ thể hiện trên các mặt, chính sách, đội ngũ cán

bộ, tổ chức quản lý… làm cho việc phát triển giáo dục-đào tạo và khoa họccông nghệ trở thành sự nghiệp của toàn dân

Các t tởng chỉ đạo, nhiệm vụ và t tởng định hớng phát triển giáo- dụcnớc nhà trong thời kỳ CNH-HĐH đã đợc xác định trong nghị quyết TW2(khoáVIII), kết luận hội nghị TW6 (khoá IX) đó là:

Mục tiêu giáo dục nhằm xây dựng con ngời có lý tởng độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, ý chí, có tổ chức lý luận, có ý thức cộng

đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân làm chủ tri thức khoa học và côngnghệ hiện đại, có t duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong

Trang 21

công nghiệp, có sức khoẻ là những ngời " vừa hồng, vừa chuyên " đáp ứngyêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thúc đẩy CNH-HĐH đất nớc.

Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục là sự nghiệp củatoàn Đảng, Nhà nớc, toàn dân : Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu kinh tếxã hội, những tiến bộ khoa học, công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh Các nhiệm vụ trọng tâm là: Nâng cao chất lợng, hiệu quả giáo dục, tạochuyển biến về chất lợng giáo dục; phát triển quy mô giáo dục, cả đại trà vàmũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo chất lợng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn vớiyêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đào tạo với sử dụng nhằm phát huy hiệuquả giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục

Quốc hội khoá X đã thông qua nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mớichơng trình giáo dục phổ thông, nghị quyết 41/2000/QH10 về thực hiện phổcập trung học cơ sở

Mục tiêu đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông là xây dựng nộidung, chơng trình, sách giáo khoa, phơng pháp giáo dục phổ thông, mới phùhợp với yêu cầu thực tiễn của Việt Nam Đổi mới đồng bộ từ phơng pháp dạyhọc, nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử đếnchuẩn hoá trờng sở, đào tạo bồi dỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục Mục tiêu phổ cẩp trung học cơ sở là vào năm 2010 tất cả các tỉnh,huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở, bảo đảm cho hầu hếtthanh niên đạt đợc trình độ trung học cơ sở trớc khi hết 18 tuổi

Quán triệt nghị quyết trung ơng 2 (khoáVIII) về chiến lợc phát triểngiáo dục đào tạo trong thời kỳ CNH - HĐH đất nớc, đại hội lần thứ XVIII

Đảng bộ huyện đã nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục, xác

định rõ mục tiêu giáo dục đào tạo đến năm 2000 Tiếp tục thực hiện đồng bộcác chủ trơng xã hội hoá giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, đào tạonhân lực, bồi dỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nớc Đểthực hiện chủ trơng đó, ngày 1/8/1996 Huyện uỷ ra nghị quyết số 02

Trang 22

-NQ/HU "về tiếp tục đổi mới và phát triển giáo dục đào tạo trong giai đoạn1996-2000", với những mục tiêu và giải pháp:

1 Tiếp tục đổi mới toàn dân mọi hoạt động giáo dục với tinh thần giáodục là quốc sách hàng đầu Thực hiện xã hội hoá giáo dục và đào tạo

2 Đến năm 2000, huy động trẻ em từ 5 tuổi ra trờng mầm non với tỷ

lệ 95% Hoàn thành vững chắc phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ,30% số xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở… từ xã lên huyệnphải đủ trờng học và phòng học kiên cố

3 Các xã cần xây dựng đề án cụ thể, biện pháp huy động vốn, trong đólấy nguồn vốn của ngân sách xã và của nhân dân đóng góp là chủ yếu để xâydựng trờng học[15, 273]

Bên cạnh những chủ trơng để phát triển giáo dục thì Đảng ta cũng chútrọng xây dựng một nền văn hoá mới, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghịquyết trung ơng 10 (khoá VI) năm 1988 đã khoán đất, khoán ruộng cho hộnông dân, ngời nông dân đã đợc chủ động làm ăn trên mảnh đất nhận làmkhoán Đội sản xuất không còn nữa, hợp tác xã chỉ còn có vai trò chỉ đạo sảnxuất ở một số khâu từ đó vai trò của làng xã xuất hiện trở lại Năm 1990 BộVăn Hoá- Thông Tin đã tiến hành thực hiện xây dựng làng văn hoá Trên cơ

sở thực tiễn và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nớc, Nghị quyết Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết hội nghị lần th 5 BCHTW Đảng(khoá VIII) về việc: Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc văn hoá dân tộc theo định hớng XHCN đã đợc nêu lên nhiêm vụ quantrọng hàng đầu đó là "…phải xây dựng môi trờng văn hoá từ trong mỗi gia

đình, làng bản, xã phờng, khu tập thể, cơ quan…xây dựng đời sống văn hoálành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên củacác tầng lớp nhân dân Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã văn hoá,nâng cao tính tự quản của cộng đồng c dân trong việc xây dựng nếp sống vănminh" [11, 25]

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Học sinh giỏi và học sinh đậu đại học từ 1991 - 1995 Năm học Học sinh - Đảng bộ huuyện nga sơn lãnh đạo công tác phát triển văn hoá giáo dục từ 1986 đến 2005
Bảng 2 Học sinh giỏi và học sinh đậu đại học từ 1991 - 1995 Năm học Học sinh (Trang 29)
Bảng 4: Giáo viên giỏi cấp tỉnh Năm học Tiểu học Trung học - Đảng bộ huuyện nga sơn lãnh đạo công tác phát triển văn hoá giáo dục từ 1986 đến 2005
Bảng 4 Giáo viên giỏi cấp tỉnh Năm học Tiểu học Trung học (Trang 30)
Bảng 5: Danh sách các tiến sĩ từ 1986-1995 - Đảng bộ huuyện nga sơn lãnh đạo công tác phát triển văn hoá giáo dục từ 1986 đến 2005
Bảng 5 Danh sách các tiến sĩ từ 1986-1995 (Trang 34)
Bảng 7: Thành tích học sinh giỏi Quốc gia và đậu Đại học                                                  (Từ 1990-2003) - Đảng bộ huuyện nga sơn lãnh đạo công tác phát triển văn hoá giáo dục từ 1986 đến 2005
Bảng 7 Thành tích học sinh giỏi Quốc gia và đậu Đại học (Từ 1990-2003) (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w