1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt

118 2,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người Việt
Tác giả Lê Sỹ Đài
Người hướng dẫn GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 783,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÊ sỹ ĐàIđặC TRƯNG NGữ PHáP, NGữ NGHĩA CủA CáC CÂU CA DAO Có Từ Gà, TRÂU Trong quỏ trỡnh thực hiện đề tày, ngoài những nổ lực của bản thõn, tụi cũn nhận được sự quan tõm, chỉ bảo tận tỡ

Trang 1

LÊ sỹ ĐàI

đặC TRƯNG NGữ PHáP, NGữ NGHĩA

CủA CáC CÂU CA DAO Có Từ Gà, TRÂU

Trong quỏ trỡnh thực hiện đề tày, ngoài những nổ lực của bản thõn, tụi

cũn nhận được sự quan tõm, chỉ bảo tận tỡnh của cỏc thầy, cụ giỏo trong khoaNgữ văn - trường Đại học Vinh và sự giỳp đỡ, động viờn của bạn bố Đặcbiệt, là sự nhiệt tỡnh hướng dẫn của GS.TS ĐỗThị Kim Liờn đó tạo điều kiện

Trang 2

các bạn lời cảm ơn chân thành!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nổ lực nhất định song luận văn không thểtránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được sự lương thứ của bạn đọc

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

LÊ SỸ ĐÀI

Trang 3

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 5

1.1 Xung quanh vấn đề ca dao 5

1.2 Vấn đề từ và từ loại danh từ 16

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 21

1.4 Tiểu kết 25

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các câu ca dao có từ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt 27

2.1 Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ gà .27 2.2 Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ trâu37 2.3 Điểm tương đồng và khác biệt 44

2.4 Tiểu kết 45

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt 47

3.1 Ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà 47

Trang 4

3.4 Tiểu kết 90

Kết luận 92

Tài liệu tham khảo 94

Phụ lục 98

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong các thể loại văn học dân gian, ca dao chiếm một vị trí hết sứcquan trọng Ca dao Việt Nam là một nguồn tư liệu vô cùng phong phú, đadạng có thể tìm hiểu nghiên cứu ở nhiều góc độ: ngôn ngữ học, văn hoá học,tâm lý học, dân tộc học trong đó đặc biệt thú vị là việc tìm hiểu nó ở góc độngôn ngữ trong quan hệ với văn hoá, văn học

1.2 Trong ca dao, hệ thống từ ngữ chỉ con vật nuôi quen thuộc trong gia

đình người Việt như trâu, bò, ngựa, dê, chó, lợn, gà, mèo thì số lượng từ ngữ chỉ về gà, trâu chiếm một tỷ lệ rất lớn Việc đi sâu tìm hiểu chúng về

phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa sẽ giúp ta hiểu thêm đặc điểm văn hoá củamột tiểu nhóm danh từ chỉ con vật trong thể loại ca dao người Việt

Kết quả nghiên cứu đề tài này là một nguồn tư liệu đáng quý góp phầnphục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu ca dao Với những lý dotrên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Đặc trưng ngữ pháp, nghĩa nghĩa của

các câu ca dao có từ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt’’ để nghiên

cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học

2 Lịch sử vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam từ nhiều khíacạnh, điểm nhìn khác nhau: góc độ thi pháp, ngôn ngữ, văn hoá, ngữ dụnghọc đặc biệt là đi vào tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng

Người đầu tiên đề cập trực tiếp đến biểu tượng con vật trong ca dao là

Vũ Ngọc Phan, trong cuốn sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam Dưới góc

độ ngôn ngữ - văn hoá, hình ảnh các con vật đã được một số tác giả nghiêncứu, tiêu biểu có thể kể đến một số bài viết sau:

Trang 6

- Nguyễn Thuý Khanh (1995), Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh

có tên động vật, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, [tr.63 - 73] và (1997), Đặc điểm tư duy liên tưởng và thế giới động vật của người Việt - phẩm chất và chiến lược,

Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, [40 - 48].

- Phạm Văn Quế (1995), Các con vật và một số đặc trưng của chúng

được cảm nhận từ góc độ dân gian, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, [tr.59 - 64].

- Trí Sơn (2001), Con Rắn trong tâm thức người Việt qua thành ngữ

Việt Nam, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1

- Phạm văn Thấu (1997), Con Trâu trong tâm thức người Việt qua tục

ngữ, ca dao, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1.

- Bùi Thị Thi Thơ (2006), Hình ảnh các con vật mang ý nghĩa biểu

trưng trong thành ngữ so sánh, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh.

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong bài Tìm hiểu nguồn gốc biểu

tượng trong ca dao Việt Nam (Kỷ yếu Khoa học Ngữ Văn, ĐHSP Hồ Chí

Minh, 1999) đã phân chia các biểu tượng chủ yếu hình thành từ ba nguồn sau:

- Những biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của con người ViệtNam, từ quan niệm dân gian, tín ngưỡng dân gian trầu cau, cây đa, vuôngtròn

- Những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc:

Thúy Kiều - Kim Trọng, Ngưu Lang - Chức Nữ, dây tơ hồng, ông Tơ, bà Nguyệt, trăng già

- Những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của

nhân dân: hoa sen, hoa đào, con cò, con bống, trăng thu

Gần đây, một số biểu tượng đã được nghiên cứu tương đối kỹ ở bìnhdiện văn hóa cũng như bình diện văn học đem lại cho người đọc nhiều hiểu

biết thú vị và sâu sắc như các bài viết: Biểu tượng con chim quyên của Triều Nguyên [28]; Biểu tượng hoa Đào, Biểu tượng hoa Sen, của Nguyễn Phương

Trang 7

Châm, in trên Tạp chí Văn hóa dân gian, 2001- 2002; Tính biểu trưng của

thành ngữ tiếng Việt [36] của Phạm Xuân Thành, Tạp chí Văn hóa dân gian

(3), Hà Nội Đáng chú ý là bài viết Hàm ý biểu trưng của từ ngữ của hoa và

tên hoa trong ca dao của Hà Quế Hương, in trong Ngữ học trẻ, 2002 [20], đã

gợi ý cho chúng tôi những vấn đề về biểu tượng

Trong cuốn sách Ca dao Việt Nam và những lời bình, tác giả Vũ Thị

Thu Hương đã tập hợp các bài viết về các biểu tượng con vật, cây, hoa trêncác báo, tạp chí khác nhau của các tác giả: Trương Thị Nhàn, Mai Ngọc Chừ,Đặng Hiến, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Lạc

Đặc biệt tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao đã

dùng hẳn một chương để viết về các biểu tượng như: Con Bống, con Cò, câyTrúc, cây Mai, hoa Nhài

Trong các bài viết đã công bố, mỗi bài tìm hiểu mỗi góc độ nhưng chưa

có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu một cách sâusắc toàn diện, có hệ thống đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ

về gà, trâu, trong ca dao Đó là lý do để chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề Đặc

trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong Kho tàng

ca dao người Việt.

3 Đối tượng nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi chọn các câu ca dao có chứa từ gà,

trâu trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan

Đăng Nhật chủ biên (2001), Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, Hà Nội làmđối tượng nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê phân loại các từ ngữ chỉ gà, trâu trong Kho tàng ca dao

người Việt

Trang 8

- Chỉ ra những đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao chứa

từ gà, trâu.

- Chỉ ra các đặc trưng văn hoá của người Việt qua việc sử dụng từ chỉ

gà, trâu.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, phân loại;

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ;

- Phương pháp so sánh, đối chiếu;

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3

chương:

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài.

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các câu ca dao có chứa từ gà, trâu

trong Kho tàng ca dao người Việt

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các câu ca dao chứa từ gà, trâu

trong Kho tàng ca dao người Việt.

Trang 9

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Xung quanh vấn đề ca dao

1.1.1 Khái niệm ca dao

Ca dao còn được gọi là phong dao, mà theo từ ngữ dân gian nó còn đượcgọi là câu ca, câu hát, câu ví, câu hò Đây là lời hát gắn với giai điệu, cakhúc dân gian trong lao động, trong đối đáp trữ tình hoặc lễ hội dân gian Tác giả Minh Hiệu cho rằng: ở nước ta thuật ngữ Ca dao vốn là một từHán Việt được dùng rất muộn, có thể muộn đến hàng nghìn năm với thời gian

đã có những câu ví, câu hát [tr.50] Còn theo tác giả Cao Huy Đỉnh thì dân ca

và văn truyền miệng của dân tôc Việt Nam ra đời rất sớm, và ở thời đại đồđồng, chắc nó đã phồn thịnh và phức tạp Trình độ sáng tác và biểu diễn cũngtương đối cao, nghệ sĩ cũng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế [16, tr.35] Tác giả Vũ Ngọc Phan thì định nghĩa: Ca dao là một loại thơ dân gian cóthể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân

ca Theo ông, ca dao có những câu bốn chữ, năm chữ, sáu tám hay hai bảy sáutám đều có thể ngâm được nguyên câu không cần tiếng đệm như người tangâm thơ vậy Còn khi dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao sẽ biến thànhdân ca

Sau này các nhà nghiên cứu văn học dân gian dùng tên gọi dân ca cho cácbài hát dân gian để phân biệt với ca dao là lời thơ từ dân ca Và từ đó ca daonhanh chóng trở thành một một thuật ngữ chỉ loại thơ ca dân gian truyềnmiệng dưới hình thức những câu hát không theo một nhịp điệu nhất định

Có thể nói rằng, ca dao Việt Nam là tấm gương phản chiếu đời sống vậtchất, tinh thần của nhân dân, của dân tộc Việt Nó là tiếng hát yêu thươngnghĩa tình, là nỗi tủi cực đắng cay, là nỗi nhớ nhung khắc khoải, là niềm vuihạnh phúc, là niềm tin ở tương lai, là nổi buồn, sự khổ đau, sự căm ghét

Trang 10

những thế lực hắc ám trong xã hội, là tình yêu lao động, tình cảm gia đình bèbạn, là tình yêu nam nữ, là niềm tự hào về quê hương, đất nước và con ngườiViệt Nam.

1.1.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ

Có thể nói có một bộ phận văn bản tục ngữ và ca dao giống nhau về hìnhthức thể hiện Câu tục ngữ cũng có thể gồm 14 tiếng phân bố trên hai dòngthơ giống với những lời ca dao ở dạng hai dòng thơ đều có hình thức thể hiệnlục bát Sự nhập nhàng khó phân định này thường ở những lời có nội dungnhân sinh và ngược lại cũng có những lời ca dao lấy chất liệu từ tục ngữ

- Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.

- Tiếng đồn quán rộng lòng thương Hết nạc thì vạc đến xương còn gì.

Dựa vào đặc trưng văn hoá giao tiếp, tác giả Nguyễn Thái Hoà chorằng: không phải ca dao thuộc loài hình nghệ thuật vì độ dài, mà ca dao địnhhình trong một mô hình nghệ thuật (thể thơ) phổ biến Mô hình đó có thể pháttriển theo người sáng tạo Mặt khác, tục ngữ hình thành lời thoại hàng ngày,trong tình huống giao tiếp cụ thể Ca dao lại thuộc loại khác, đó là giao tiếpnghệ thuật (có thể ngâm, hát, có nhạc kèm theo làn điệu) Tác giả Hoàng TiếnTựu lại cho rằng: “Tục ngữ thiên về lý trí nhằm nêu lên nhận xét khách quan,còn ca dao thiên về tình cảm khi chúng được dùng theo phương thức nói -luân lý thì chúng là tục ngữ, còn khi dùng theo phương thức hát - trữ tình thìchúng là ca dao” [42, tr.131]

phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau

Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc

điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến

Trang 11

trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca daođồng nghĩa với dân ca’’ [49, tr.31].

Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo trình: Lịch sử văn học

Viêt Nam - Văn học dân gian (1973) cho rằng để phân biệt ca dao và tục ngữ

trước hết cần tìm đâu xem là tính trội thuộc về ca dao hay tục ngữ trên cơ sở

đó tiến hành quy loại

Như vậy, để phân biệt tục ngữ và ca dao, chúng ta có thể dựa vào cáctiêu chí:

* Về hình thức: tục ngữ thường có số lượng âm tiết ngắn hơn so với ca

dao và ngắn đến mức chỉ có ba âm tiết (Đen như mực, cay như ớt, tham thìthâm ) Tục ngữ chủ yếu là câu có 6 âm tiết, câu dài nhất 28 âm tiết, nhưngloại câu này không nhiều (Chớp đằng đông vừa trông vừa chạy, chớp đằngtây mưa giây mưa giật, chớp đằng nam vừa làm vừa chơi, chớp đằng bắc đổthóc ra phơi) Trong khi đó ca dao ít nhất cũng phải hai dòng câu trở lên

Ví dụ: Cơm ăn mỗi bữa một lưng

Uống nước cầm chừng để dạ thương em

Tuy nhiên, nếu dựa vào tiêu chí hình thức có nhiều trường hợp tục ngữ cóhình thức là một cặp lục bát giống như ca dao, ví dụ:

Tục ngữ:

- Rau bợ là vợ canh chua

Ai chết nửa mùa sống lại mà ăn.

- Mẹ đần lại đẻ con đần Gạo chiêm đem giả mấy lần vẫn chiêm

Trang 12

Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

Ở những trường hợp này, chúng ta không chỉ dựa vào tiêu chí hìnhthức mà còn phải dựa vào một tiêu chí khác - tiêu chí nội dung

* Về nội dung: Tục ngữ thiên về lý trí, triết lý, đúc rút kinh nghiệm.

Còn nội dung ca dao thường đề cập đến tâm trạng, tình cảm, cảm xúc

Ví dụ: Tục ngữ đúc rút kinh nghiệm nhận thức về tự nhiên; Mùa hè đang

nắng cỏ gà trắng thì mưa; đúc rút kinh nghiệm trong lao động sản xuất: Lúa chiêm lấp ló đầu bờ / Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên; hay kinh nghiệm

nhận thức về xã hội: Thà ăn bắp hột chà vôi / Còn hơn giàu có mồ côi một

mình.

Còn ca dao thiên về cảm xúc, tình cảm rõ rệt

Ví dụ:

Còn hơn lấy gái lẹm cằm răng hô.

- Tay ôm bó mạ xuống đồng

Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai.

Ngoài ra, chúng ta có thể dựa vào các tiêu chí sau đây:

* Về ý nghĩa: Ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen, nghĩa bóng,

còn ca dao thiên về ý nghĩa biểu cảm

* Về đích tác động: Tục ngữ được xem là những hành động nói (Được

ăn cả ngã về không) tác động đến nhận thức, còn ca dao thường gồm ít nhất

hai hành động nói tác động đến tâm trạng cảm xúc

* Về cấu trúc toàn chỉnh thể: Tục ngữ thường có cấu trúc Đề -Thuyết

đơn: Ai // biết được ma ăn cổ; Nước // đổ đầu Vịt; Nước // chảy chổ trũng Hoặc cấu trúc Đề -Thuyết sóng đôi: Chè hâm lại, gái ngủ trưa; Ai ăn trầu,

nấy đỏ môi; Muốn ăn thì lăn vào bếp; Mất lòng trước được lòng sau.

Trang 13

Còn ca dao có cấu trúc toàn chỉnh gồm hai phần Phần thứ nhất nêu hoàn cảnhkhách quan (thiên nhiên hay con người), phần thứ hai ngụ tình, bộc lộ cảnhhuống chủ quan.

Ví dụ: 1

Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.

Ví dụ: 2

Rau răm ở lại chịu nhiều đắng cay

Trong hai câu trên đều có hai phần: phần đầu nói về thiên nhiên gợihứng làm nền, còn phần cuối nói đến cảm xúc tâm trạng

1.1.3 Những đặc điểm của ca dao

1.1.3.1 Đặc điểm về nội dung phản ánh

Ca dao là thơ dân gian, có lịch sử lâu đời và sức sống mãnh liệt Ca dao

là tiếng vọng tâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân lao động trong trường

kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, hành trình song song cùng với lịch sử dân tộc

Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số lượng tác phẩm mà còn hết sức phong phú

về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật

Muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam dồi dào, thắm thiết,sâu sắc đến mức nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào thì

tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình Tình yêu của người lao động ViệtNam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt: Tình yêu đôi lứa, yêu gia đình, yêulàng xóm, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp, yêuthiên nhiên, yêu hoà bình Không những thế ca dao còn biểu hiện tư tưởng

Trang 14

đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong sự chinh phụcthiên nhiên.

Như vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất củacon người, ca dao còn phản ánh ý thức, kinh nghiệm lao động, sản xuất củanhân dân Việt Nam và tình hình xã hội trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, xãhội Những biểu hiện ấy đều xuất phát từ cảm xúc trữ tình của người lao độngthuộc nền văn hoá nông nghiệp lúa nước nên nó đã trở thành những lời ca đicùng năm tháng với lịch sử nước nhà

Trước hết, ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngônngữ đời thường Có những câu ca dao sử dụng ngôn ngữ điêu luyện và tinh tế

- Đồng tiền không phấn không hồ

Sao mà khéo điểm khéo tô mặt người

- Vì hoa tham sắc lấy vàng Cho nên hoa phải muộn màng tiết thu

Bên cạnh đó lại là những lời tâm sự rất mộc mạc, đời thường khẩu ngữ

- Đêm nằm nghĩ lại mà coi Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà.

- Gặp em thì gặp cho lâu Đừng gặp một tý cho sầu lòng em.

Trang 15

Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao cho rằng: đa số những

lời ca dao trữ tình là những văn bản biểu hiện Điều này có nghĩa là khi sángtác thơ và ca dao, các tác giả đã lựa chọn và kết hợp các đơn vị ngôn ngữ.Việc lựa chọn để sử dụng như thế nào tạo nên các văn bản biểu hiện Còn nộidung biểu hiện thì vô cùng phong phú, đa dạng có thể là miêu tả, bày tỏ trựctiếp tình cảm, thái độ

Gặp em anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?

Nội dung ca dao cũng có thể không biểu hiện rõ trực tiếp trên bề mặtcon chữ mà nó là nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn với lối nói ví von gián tiếp, trừutượng:

- Anh nói em cũng nghe anh Bát cơm đã trót chan canh mất rồi Nuốt đi đắng lắm anh ơi

Bỏ ra thì để tội trời ai mang

- Làm chi cho dạ ngập ngừng

Đã có cà cuống xin đừng hạt tiêu

Ngôn ngữ ca dao còn là ngôn ngữ khôi hài, trào lộng:

Ví dụ :

Dẫu mà nấm lở mồ mòn Hòm kia đậy nắp vẫn còn thương anh

Thứ hai, nói đến ngôn ngữ ca dao là nói đến hình thức biểu đạt Mộttrong những phương tiện hình thức đó là nhịp điệu Nhịp điệu giữ vai trò hếtsức quan trọng Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm

sức biểu đạt của thơ Ca dao ngắt nhịp hai là phổ biến, như Cha chài / mẹ lưới

/ con câu nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo Chẳng hạn,

Trang 16

để làm bật lên cái quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, trục trặc của những conngười đi theo tiếng gọi của tình yêu, ca dao đã sử dụng:

- Yên nhau / tam tứ núi / cũng leo (2/ 3/ 2) Thất bát sông / cũng lội / tam thập lục đèo / cũng qua.(3/ 2/ 4/ 2)

Ngược lại câu ca dao dưới đây, nhịp điệu 3/ 3 lại khẳng định một sự ly khaidứt khoát

Chồng gì anh / vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây

Những câu ca dao trên, nhịp điệu biến hoá thích hợp với việc biểu hiệnnhững tâm trạng khác nhau Tuỳ mục đích, tác giả ca dao có cách ngắt nhịplinh động, có sự khác biệt giữa các câu

Thứ ba, đặc điểm của ngôn ngữ ca dao còn được thể hiện rõ ở tính biểucảm Để thể hiện tính biểu cảm, ngôn ngữ ca dao thường sử dụng các biệnpháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và so sánh:

- Ví dụ:

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

so sánh: Ai về ai ở mặc ai

Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh

Vì thế, trong ca dao thường sự xuất hiện với tần số cao của các biệnpháp tu từ, đặc biệt là so sánh, ẩn dụ và nhân hóa

b ) Về kết cấu

Trang 17

Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao đã căn cứ vào “ý

lớn" và “các phán đoán" trong mỗi lời ca dao để phân ra các dạng kết cấu của

ca dao, gồm 5 dạng kết cấu sau:

- Kết cấu một vế đơn giản

- Kết cấu một vế phần vần

- Kết cấu hai vế tương hợp

- Kết cấu hai vế đối lập

- Kết cấu nhiều vế nối tiếp

Xét theo quy mô (độ dài ngắn) có thể phân ca dao (chủ yếu là ca daolục bát) thành 3 loại chính

+ Loại ca dao ngắn từ 1 - 2 câu

+ Loài ca dao trung bình từ 3 - 5 câu

+ Loại ca dao dài từ 6 câu trở lên

* Phương thể hiện kép, gồm 3 tiểu nhóm:

- Trần thuật kết hợp với đối thoại

- Trần thuật kết hợp với miêu tả

- Kết hợp cả ba phương thức: trần thuật, miêu tả và đối thoại

Theo tác giả Triều Nguyên trong Tiếp cận ca dao bằng phương pháp

xâu chuỗi đã thống kê, phân loại mô hình hoá các bài ca dao về 4 dạng sau:

1 Các dị bản của cùng một bài ca dao

2 Các bài ca dao có cùng mô hình cấu trúc

Trang 18

3 Các bài ca dao cùng có một bộ phận lời ca giống nhau

4 Các bài ca dao cùng chứa một mô hình cấu trúc

[tr.28]

c) Về thể loại

nhiều thế kỷ và gắn bó với cuộc sống muôn mặt đời thường của người dân laođộng nên việc phân loại ca dao hết sức phức tạp:

Nếu phân chia theo đề tài phản ánh và nội dung phản ánh thì bảngphân loại ca dao sẽ rất dài và không tránh khỏi sự trùng lặp Vận dụng cácloại tiêu chí phụ khác nhau (đề tài, đặc điểm thi pháp ca dao), có thể phânchia ca dao thành nhiều bộ phận: ca dao trẻ em (đồng dao), ca dao lao động,

ca dao ru con Các thể thơ trong ca dao đều là những thể thơ thuần dân tộc

Có ba thể thơ được ca dao sử dụng nhiều nhất: thể lục bát (chính thể và biến thể), thể vãn (còn gọi là thể nói lối) Trên cơ sở kết hợp các thể trên, ca dao còn có các thể hỗn hợp.

c1) Thể lục bát

Đây là thể thơ được dùng rộng rải phổ biến nhất trong ca dao, thể lụcbát gồm những cặp câu với hai dòng (vế) - dòng trên 6 âm tiết, dòng dưới 8

âm tiết

+ Ở lục bát chính thể, số âm tiết mỗi dòng (vế) thay đổi vị trí gieo vần

cố định chỉ có vần bằng Nhịp phổ biến là nhịp chẳn (2/ 2/ 2) đôi khi nhịpthay đổi do yêu cầu diễn tả cảm xúc, tâm lý:

Yêu nhau / cởi áo / cho nhau

Trên đồng cạn / dưới đồng sâu (3/ 3)

Chồng cày / vợ cấy / con trâu / đi bừa

+ Ở lục bát biến thể, số âm tiết trên mỗi dòng (vế) có thay đổi thường

là tăng

Trang 19

Yêu nhau / tam tứ núi / cũng trèo (2/ 3/ 2)

Ngũ lục sông / cũng lội / thất bát đèo cũng qua (3/2, 3/2)

Thể lục bát là một cống hiến của ca dao trong văn chương bác họcchính lối lục bát biến thể với vần bằng thay đổi đều đặn, vị trí gieo vần bắtdính liên tục, câu lục bát trên với hai câu lục bát tiếp theo đã mở đường cho

sự hình thành những truyện thơ dài hơi của dân tộc như Truyện Kiều

Thể song thất lục bát

Các bài ca dao thể song thất lục bát - cứ hai dòng 7 âm tiết lại tiếp đếnhai dòng (vế) lục bát So với thể lục bát thì thể này không phổ biến bằngnhưng là thể thơ bắt nguồn từ dân ca Thể song thất lục bát tạo nên một sựbiến đổi mới mẻ so với thể lục bát, rất thích hợp để diễn tả một tâm trạngnhiều mâu thuẩn, khúc mắc

Bến cửa Tùng / bến vàng bến bạc Sông cửa Tùng / vừa mát vừa trong Người tình ở bên kia sông

Không đò em cũng băng đồng vượt sang.

Thể song thất lục bát cũng có những biến thể:

Gà lạc bầy / gà kêu nhao nhác

Cá lạc bầy / cá tìm bóng mát dựa nương Trai như anh đây không vợ sao em không thương

Em lại tìm nơi có vợ náu nương làm gì ?

Việc sử dụng lối song thất lục bát biến thể như thế này nhiều khi là biểu hiện của sự chi phối bởi điệu hát đối với lời hát

c2) Thể vãn

Thể vãn của ca dao hiện nay còn khá phổ biến trong thơ ca dân gian.Tuỳ theo theo số tiếng trong mỗi câu từ 2 - 3 đến 4 - 5 mà có các thể vãn 2,

Trang 20

vãn 3, vãn 4, vãn 5 Tuy nhiên các thể này thường chỉ được sử dụng trong cácbài vè kể vật, kể việc dùng cho trẻ em hát, vừa hát vừa chơi.

Ca dao trữ tình chỉ sử dụng thể vãn 5, đôi khi có xen vãn 4

- Bụi tre có mắt Nồi đồng có quai

- Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm

Thể loại hỗn hợp này trong ca dao tuy không được dùng phổ biến nhưthể thơ lục bát nhưng nó nhiều hơn so với thể song thất lục bát Thể này là sựkết hợp tự do giữa các thể thơ vốn có của ca dao Việt Nam

Nắm tóc ngôi, tóc ngôi dài Nắm tóc mai, tóc mai cụt Cầu trời khấn Bụt cho tóc mai dài Bao giờ tóc chấm ngang vai Thì ta kết nghĩa làm hai vợ chồng

[N.100 - tr.1614]

Tóm lại, nghệ thuật của ca dao rất tinh tế, tế nhị, liên hệ mật thiết vớinội dung phong phú Cách dùng chữ, những lối biến thể, những lối hình tượnghóa, nhân cách hóa, sát với thực tế biểu hiện ở nội dung, làm cho ca dao trởnên những câu hát, bài hát rất tình tứ, thấm thía về mặt trữ tình, cũng như vềmặt phản ánh cuộc đời của nhân dân lao động

1.2 Vấn đề từ và từ loại danh từ

1.2.1 Vấn đề từ

1.2.1.1 Khái niệm từ

Trang 21

Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn nhưcụm từ, câu, văn bản Từ là đơn vị hết sức quan trọng, giống như viên gạchxây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ.

Theo Từ điển tiếng Việt: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng đặt câu Từ đơn, cách dùng từ Kết hợp từ thành câu

[32, tr.1326]

Theo Đỗ Hữu Châu: "Từ của tiếng Việt là một hoặc mốt số âm tiết cốđịnh, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặckiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhấtđịnh, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu" [7, tr.139].Nguyễn Thiện Giáp thì định nghĩa: "Từ của tiếng Việt là một hoàn chỉnh nhấtđịnh có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, có hình thức của một âm tiết, một

“chữ” viết rời" Tác giả Đỗ Thị Kim Liên quan niệm: "Từ là một đơn vị củangôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoànchỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu" [25, tr.18]

1.2.1.2 Đặc điểm của từ

- Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết.

- Từ có cấu tạo riêng, hoàn chỉnh (từ ghép, từ láy)

- Từ có nghĩa nhỏ nhất

- Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo câu

Tóm lại, từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ có chức năngđịnh danh; là chỉnh thể gồm hai mặt, mặt (âm và nghĩa) có tính cố định sẵn

có Là đơn vị thực hiện đầy đủ các chức năng ngôn ngữ, vừa phản ánh hiệnthực khách quan vừa thể hiện tình cảm, thái độ chủ quan của người dùng

1.2.2 Danh từ và đặc điểm của danh từ

1.2.2.1 Khái niệm danh từ

Trang 22

Theo Từ điển tiếng Việt, Danh từ là từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật,

đối tượng, thường làm chủ ngữ trong câu [32, tr.242]

Tác giả Đỗ Kim Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt định nghĩa: "Danh từ

là lớp từ có ý nghĩa phạm trù sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thứcđược trên cơ sở tồn tại của chúng dưới hình thức những hiện tượng trong tựnhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con người" [25, tr.44]

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý (chủ

biên) cho rằng, danh từ là "Từ loại có ý nghĩa phạm trù “sự vật”, có các phạmtrù ngữ pháp giống, số, cách, (được thể hiện không giống nhau trong các ngônngữ khác nhau), thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu nhưchủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ" [49, tr.67]

Theo Nguyễn Kim Thản: “Danh từ là loại thực từ biểu thị sự vật tính(sinh vật) vật thể, hiện tượng, sự việc trong đời sống thực tại và tư duy, cónhững đặc trưng ngữ pháp sau đây:

a) Không trực tiếp làm vị ngữ,

b) Có thể kết hợp một trong những từ loại sau đây và được từ loại nàyxác định, hạn chế: số từ, đại từ chỉ số, lượng từ, phó danh từ, đại từ chỉ định”

(Nguyễn Kim Thản Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, NXB KH, H, 1963,

tr.162) Còn tác giả Nguyễn Tài Cẩn thì cho “Danh từ là từ loại không thể độc

lập làm vị ngữ Đó là một từ loại không có vị ngữ tính" (Nguyễn Tài Cẩn Từ

loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, H, 1975, tr.29).

Ví dụ một số nhóm danh từ:

- Danh từ chỉ vật: nhà, bà, ghế, sách, bút, áo, quần

- Danh từ chỉ người: bộ đội, sinh viên, học sinh, nông dân, xã viên,

thanh niên, cán bộ

- Danh từ trừu tượng: tinh thần, văn hoá, khái niệm, tư duy, vật chất,

thượng đế, triết học

Trang 23

1.2.2.2 Đặc điểm của danh từ

- Về ý nghĩa:

Danh từ là từ loại chỉ “sự vật’’ - ý nghĩa sự vật ở đây được hiểu theonghĩa rộng, bao hàm (động vật, thực vật, vật thể, hiện tượng trong thiên nhiên,trong đời sống vật chất, tinh thần của con người )

Nó đi ra ngoài sân

Hùng đang làm bài tập trong nhà.

* Trong câu danh từ thường làm chủ ngữ

Ví dụ:

Nước // chảy, hoa // trôi (chủ ngữ)

* Danh từ không trực tiếp làm vị ngữ Muốn làm vị ngữ phải có quan hệ

từ là đứng trước

Ví dụ:

- Huyền Trân là một vị công chúa

- Ruộng rẫy là chiến trường

Cuốc cày là vũ khí

Nhà nông là chiến sỹ

Trang 24

(Hồ Chí Minh)

1.2.2.3 Danh từ gà, trâu trong ca dao

* Dựa vào đặc điểm khái quát, có thể chia danh từ thành các tiểu nhómsau:

Anh em Không tổng hợp

Chỉ đơn vị Không chỉ đơn vị

tự nhiên quy ước người đồ vật động vật thực vật chất liệu trừu

Trang 25

- Chỉ tiểu nhóm động vật

- Kết hợp sau từ chỉ đơn vị tự nhiên: con gà, con trâu

- Không trực tiếp đứng sau số từ:

Ví dụ, người Việt không nói 3 gà, mà phải nói: 3 con gà, 5 con trâu

- Trong câu nó thường làm chủ ngữ: Gà què // ăn quẩn cối xay

CN VN

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

1.3.1 Khái niệm ngôn ngữ

Trong cuộc sống hàng ngày, con người có thể dùng nhiều phương tiện

để trao đổi thông tin, nhưng phương tiện tối ưu, cơ bản nhất vẫn là ngôn ngữ.Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện cơ bản và quantrọng nhất của việc giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội,đồng thời cũng là phương tiện để hình thành và phát triển tư duy, truyền đạtcác thông tin, tư tưởng cũng như lưu giữ nét văn hoá - lịch sử từ thế hệ nàysang thế hệ khác

Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do Hoàng Phê (chủ biên) cho

rằng: Ngôn ngữ là hệ thống những âm, những từ, và những quy tắc kết hợpchúng mà những người trong một cộng đồng dùng làm phương tiện để giaotiếp với nhau Hoặc ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện đểdiễn đạt, thông báo Ngôn ngữ là cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụngngôn ngữ có tính chất riêng

Ngôn ngữ hình thành từ lâu đời, được duy trì và phát triển qua hàng ngànnăm Ngôn ngữ vừa là tiền đề vừa là kết quả của sự phát triển xã hội

Ngôn ngữ không mang tính giai cấp, không thuộc thượng tầng kiến trúchay hạ tầng cơ sở Nó là sản phẩm của tập thể, tài sản của xã hội, nó phục vụcho mọi giai cấp, là công cụ phản ánh và truyền đạt tư tưởng của con người,

Trang 26

đúng như kết luận của C Mác: “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư

tưởng".

1.3.2 Khái niệm văn hóa

Thuật ngữ Văn hoá bắt nguồn từ tiếng La Tinh Cultus với nghĩa đen là

lao động nông nghiệp, trồng trọt, canh tác và nghĩa bóng nó liên quan đến cácgiá trị tinh thần, đến giáo dục, đến sự phát triển trí tuệ, trình độ học vấn, trithức

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạtđộng thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và

xã hội [44, tr 83]

Tổ chức Khoa học Giáo dục và Văn hoá của Liên hợp Quốc Unesco lạicho rằng: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tìnhcảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Nó không thuần tuý bó hẹp trongsáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền conngười cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng” [52, tr.5] Văn hoá có thể coi là tổngthể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quy định tínhcách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống và quyền lợi cơ bản của con người,những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ Văn hoá được hiểu là: “1 Tổng thể

nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trongquá trình lịch sử Ví dụ: Văn hoá phương tây Kho tàng văn hoá dân tộc 2.Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần(nói khái quát)

Ví dụ: Sinh hoạt văn hoá văn nghệ 3 Tri thức, kiến thức khoa học (nóikhái quát) Ví dụ; Học văn hoá, Trình độ văn hoá 4 Trình độ cao trong sinh

Trang 27

hoạt xã hội biểu hiện của văn minh Ví dụ; Người thiếu văn hoá Cư xử rấtvăn hoá 5 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần của mộtthời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìmthấy được có những đặc điểm giống nhau Ví dụ; Văn hoá Sa Huỳnh, văn hoáĐông Sơn’’ [32, tr.1360] Văn hoá mà chúng ta đang bàn đến ở đây là vănhoá được dùng với nghĩa thứ nhất.

Nói tóm lại, văn hoá là một đối tượng rộng lớn, một hiện tượng đặc biệtthu hút không chỉ các nhà văn hoá học, ngôn ngữ học mà còn cả các nhà triếthọc, sử học, dân tộc học, xã hội học ở hầu hết các nước trên thế giới

Trong sự phong phú, đa dạng trên của các quan niệm về văn hoá, chúngtôi đặc biệt quan tâm những đến những nét chung, nổi cộm nhất là đã nói vănhoá là nói đến những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra vàtích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn

1.3.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Nhìn chung, về nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt độngvăn hoá là hoạt động tinh thần, cả hai đều giúp cho xã hội phát triển Ngônngữ là phương tiện, cầu nối mở rộng giao lưu trao đổi, hiểu biết về văn hoágiữa các cộng đồng người Ngôn ngữ là phương tiện và cũng là tiền đề đểgiúp cho văn hoá phát triển

Văn hoá bao gồm những thành tố như phong tục, tập quán, tín ngưỡng,

lễ hội, ngôn ngữ trong đó ngôn ngữ là thành tố quan trọng nhất Bởi vì,ngôn ngữ là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển vàhoạt động của những thành tố khác trong văn hoá Ngôn ngữ là phương tiệntruyền đạt, chuyển tải, củng cố và phát triển văn hoá

Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ dân tộc và văn hoá dân tộc luônluôn nương tựa lẫn nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại theo

“Quan niệm của mỗi dân tộc và thế giới được khúc xạ độc đáo trong bức

Trang 28

tranh ngôn ngữ của mình Bức tranh ngôn ngữ ấy lại có ảnh hưởng trở lại đến

sự tri giác đặc thù đối với hiện thực của những người thuộc cộng đồng vănhoá - ngôn ngữ tương ứng” [6, tr.194]

Không những thế, trong ngôn ngữ, đặc điểm của nền văn hoá dân tộcđược lưu giữ một cách rỏ ràng nhất E.Sapir khi bàn về mối quan hệ ngôn ngữ

và văn hoá đã chỉ ra rằng: “Trong ý nghĩa là từ vựng của một ngôn ngữ phảnánh ít nhiều trung thành với các nền văn hoá mà ngôn ngữ đó phục vụ, thì mộtđiều hoàn toàn đúng là lịch sử của ngôn ngữ và lịch sử của văn hoá chuyểnđộng theo đường song song ” [34, tr.270]

Tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá cần phải lưu ý đến giảthuyết “tính tương đối ngôn ngữ” của E.Sapir - whofl: “Tôi cũng không thểtin rằng văn hoá và ngôn ngữ có quan hệ nhân quả với nhau” [34, 268], nhữngngôn ngữ hoàn toàn không có quan hệ có thể chung một nền văn hoá, vànhững ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau (thậm chí một ngôn ngữ duynhất) lại thuộc vào những thế giới văn hoá khác nhau’’ [34, 263]

Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn là thành tố độc lập của văn hoá, chiếm vị tríđặc biệt trong nền văn hoá dân tộc Có thể xem ngôn ngữ là một trong nhữngthành tố đặc biệt nhất, rõ ràng nhất của bất kỳ nền văn hoá nào Ngôn ngữ lưugiữ và thể hiện rất rõ đặc điểm văn hoá Còn văn hoá đi vào ngôn ngữ làmthành các giá trị của ngôn ngữ Văn hoá làm cho ngôn ngữ thực sự là chất liệusáng tạo nghệ thuật

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá được đề cập đến từ cuối thế kỷXIX, bắt đầu từ công trình nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người ĐứcV.Humboldt Sau đó được nhiều học giả quan tâm, tiến đến nghiên cứu vàxây dựng được khung lý thuyết tương đối hoàn chỉnh với việc phân xuất rahàng loạt đặc điểm của văn hoá và cách thức diễn đạt văn hoá qua ngôn ngữ

và bằng ngôn ngữ Đó là những tiền đề trực tiếp dẫn đến sự ra đời của ngành

Trang 29

khoa học nghiên cứu về văn hoá và ngữ văn học mang tên: ngôn ngữ - vănhoá học.

Tóm lại, “Ngôn ngữ văn văn hoá quan hệ khăng khít với nhau Quan hệ

đó vô cùng chặt chẽ, tới mức ta không thể hiểu và đánh giá đúng được cái nàynếu không có kiến thức về cái kia và ngược lại” [6, tr.194]

Việc nghiên cứu đặc điểm văn hoá dân tộc của hành vi ngôn ngữ rất đángđược quan tâm xem xét cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Ngôn ngữ là một trongnhững hệ thống tín hiệu đặc biệt là phương tiện cơ bản và quan trọng nhất củaviệc giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng người và cũng là phươngtiện phát triển của tư duy, truyền đạt các truyền thống văn hoá - lịch sử quacác thế hệ

1.4 Tiểu kết chương 1

Trên đây, chúng tôi đã đi vào trình bày một số vấn đề cơ bản nhất liênquan khái niệm về ca dao, chỉ ra điểm giống, khác nhau giữa ca dao và tụcngữ, cũng như tìm hiểu một số khía cạnh tiêu biểu về đặc điểm của ca dao cóliên quan đến đề tài (đặc điểm về mặt nội dung phản ánh, về hình thức nghệthuật như ngôn ngữ, kết cấu và thể loại)

Chúng tôi cũng đã trình bày khái niệm văn hoá, ngôn ngữ và mối quan

hệ, ảnh hưởng qua lại giữa chúng

Để làm tiền đề cho việc miêu tả danh từ gà, trâu chúng tôi đi vào tìm

hiểu về từ, danh từ nói chung, đặc điểm của danh từ và phân loại các tiểunhóm danh từ trong đó có danh từ chỉ con vật nói riêng, đặc biệt là danh từ

chỉ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt Qua việc tìm hiểu về danh từ chỉ gà, trâu trong các câu ca dao của người Việt đặt trong tương quan với

cuộc sống, văn hoá tâm thức của người Việt Nam Kết quả tìm hiểu giúp

chúng ta hiểu sâu hơn vai trò của hai con vật gà, trâu trong đời sống lao động sản xuất, đời sống tinh thần của người dân Việt Việc tìm hiểu vấn đề này đã

Trang 30

ít nhiều giúp chúng ta lý giải nguyên nhân vì sao ca dao lại có sức sống lâubền, có sức lan toả mạnh mẽ đến như vậy trong cộng đồng xã hội.

Trang 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA CÁC CÂU CA DAO

CÓ TỪ GÀ, TRÂU TRONG KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT 2.1 Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ

vịt) xuất hiện với số lượng hạn chế (khoảng hơn 10 từ)

Bảng thống kê sau đây sẽ cho ta những thông tin quan trọng:

Từ và

TN

Số lượng từ

Tần số xuất hiện

gà ri, gà ác, gà lôi, gà tơ,

Bảng 2.1: Bảng thốngkê số lượng và tần số xuất hiện từ gà

(từ đơn, từ ghép, thành ngữ) trong Kho tàng ca dao 2.1.1.2 Cấu tạo của từ gà trong ca dao

Trong tổng số 157 câu ca dao có từ gà thì có 186 lượt từ gà hay yếu tố gà

xuất hiện, trong đó từ đơn 131 lượt, từ ghép 45 lượt và thành ngữ 10 lượt Tần

Trang 32

số xuất hiện của từ đơn (gà) gấp 2,9 lần từ ghép (gà vịt) và gấp 13,1 lần thành

ngữ Còn từ ghép gấp 4,5 lần thành ngữ Trong từ ghép lại có hai nhóm: từghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong 157 câu ca dao có chứa từ gà thì có 171

số lượt từ gà xuất hiện ở các vị trí khác nhau trong dòng

Con em chèo chẹo đòi cơm cả ngày

Nhủ trăng khoan lặn, nhủ gà khoan kêu

Vườn rộng bắt chẳng đặng gà

Bảng 2.2 Vị trí và tần số xuất hiện của các câu ca dao có chứa từ gà

Từ chỉ gà trong câu, dòng ca dao có mặt ở nhiều vị trí khác nhau: có thể đứng đầu dòng, giữa dòng hay cuối dòng Trong đó từ gà đứng ở vị trí giữa

dòng chiếm tỉ lệ lớn nhất ((36,25%) với số lượt 62/171), đứng ở vị trí đầu

dòng chiếm tỉ lệ thấp nhất (29,82%) Từ gà đứng ở vị trí cuối dòng chiếm tỉ lệ

trung bình (33,91%)

2.1.2.2 Đặc điểm về khả năng kết hợp

a) Kết hợp làm thành phần chính của câu

Trang 33

a1) Từ chứa gà làm chủ ngữ:

Chủ ngữ là thành phần chính, thành phần thứ nhất của câu hai thành phầnthường do từ, cụm từ hay một kết cấu C- V đảm nhận Chủ ngữ thường nêulên nhân vật, sự vật, sự việc, tình hình có quan hệ với thành phần chính thứhai là vị ngữ

* Đặc điểm của chủ ngữ

- Về hình thức: thường đứng đầu câu và đứng trước vị ngữ

- Về cấu tạo: chủ ngữ thường có cấu tạo một từ hay một cụm từ

Từ có thành tố gà làm thành phần chính của câu (làm chủ ngữ), chiếm số

lượng khá lớn trong ca dao

1 Gà con // đuổi bắt diều hâu

Trang 34

không xuất hiện trường hợp này.

b) Kết hợp làm thành phần phụ của câu

Ta thường gặp gà kết hợp với con/ đàn đứng ở vị trí trung tâm:

Ví dụ: - con gà kia

TT P

- đàn gà này

TT P

Định ngữ là thành phần phụ của câu trong cụm danh từ, nó có tác dụnglàm rõ nghĩa cho danh từ mà nó phụ thuộc

Về cấu tạo, định ngữ có thể là một từ, một tổ hợp từ hay một kết cấu C- V

Trang 35

4 Máu gà tẩm với xương gà (tr.1434).

DT ĐN DT ĐN

5 Mẹ sinh con trai làm chi

Đầu gà má lợn mang đi cho người (tr.1474).

Bổ ngữ là thành phần phụ của động từ hoặc tính từ có thể xuất hiện ở

trong cụm động từ hay cụm tính từ làm vị ngữ trong câu Trong tiếng Việt, bổngữ thường đứng sau động từ, tính từ

- Về mặt cấu tạo, bổ ngữ có thể là một từ, một cụm từ Xét về mặt từ loại, bổngữ có thể là danh từ, vị từ, số từ, đại từ

Với những cương vị khác nhau có những vị từ đòi hỏi hơn một bổ ngữ, thậmchí có đến ba bốn bổ ngữ

- Bổ ngữ bắt buộc: là bổ ngữ do nội dung từ vựng của vị từ chi phối để cho

nó được trọn nghĩa, gồm bổ ngữ nội dung và bổ ngữ đối tượng Ta thường

gặp bổ ngữ là bổ ngữ thể hiện rõ các nội dung của động từ (ăn cơm, viết thư, đọc bài, cắt tóc )

- Bổ ngữ không bắt buộc còn gọi là bổ ngữ hoàn cảnh là bổ ngữ không do ýnghĩa của động từ trung tâm (còn gọi là vị từ) trực tiếp đòi hỏi mà do nhiệm

vụ phản ánh hiện thực ngoài câu nói và ngôn ngữ quy định Chúng gồm các

Trang 36

loại bổ ngữ như: bổ ngữ cách thức (ăn nhanh), bổ ngữ kết quả (ăn xong), bổ ngữ thời gian (ăn chiều).

Sau đây là những ví dụ về các câu ca dao có từ gà làm bổ ngữ:

1 Hào tư anh để mua gà

c) Kết hợp sóng đôi với danh từ khác

Trong ca dao người Việt, từ có thành tố gà thường đi kèm với các danh

từ chỉ các con vật khác, hay kết hợp để chỉ những món ăn ngon, bổ dưỡng,

gà - lợn, rắn - gà, gà - vịt, ba ba - gà, quạ (diều) - gà, công - gà, phượng

Hồ rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi gà [tr.188].

Trang 37

Mẹ anh lại kể con cà con kê [tr.197].

Vườn hoang cỏ rậm thì nhiều gà con [tr.220].

Gà con đuổi bắt diều hâu

Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông [tr.242].

Gà con đuổi bắt diều hâu

Trứng gà tha quạ biết đâu mà tìm [tr.242].

Bói cho một quẻ trong nhà

Con heo bốn cẳng, con gà hai chân [tr.305].

Chim chích cắn cổ diều hâu [tr.337].

Gà con tha quạ biết đâu mà tìm

Mẹ sinh con trai làm chi

Đầu gà má lợn mang đi cho người [tr.1474].

d) Đặc điểm về khả năng xuất hiện trong kết cấu bài ca dao

d1) Cấu trúc lặp

Từ điển tiếng Việt cho rằng: Lặp là nhắc lại giống y như cái đã có trước [32, 551] Nói cụ thể hơn về khái niệm của cấu trúc lặp: là cách dùng đi dùng

lại một yếu tố (đơn vị) ngôn ngữ để tạo ra tính liên kết giữa các câu chứa yếu

tố đó Lặp là một biện pháp nghệ thuật tu từ phổ biến trong ca dao Nó thu hút

sự chú ý vào sự vật, sự việc hay lập luận đang nói đến

Các phép lặp cụ thể mà chúng ta gặp nhiều trong văn bản là lặp từ vựng,lặp cấu trúc cú pháp và lặp ngữ âm

- Lặp ngữ âm: là phép liên kết câu dùng các âm tiết hoặc các vần giống

nhau ở các câu khác nhau

Nhủ trăng khoan lặn, nhủ gà khoan kêu [tr.67].

Trang 38

Sáu xu mua rượu, hào ba đi tàu [tr.131].

Năm ba đọi gạo con gà cũng xong [tr.177]

- Lặp từ vựng: là phép liên kết câu dùng các từ ngữ giống nhau ở các câu

khác nhau Theo thống kê của chúng tôi, trong các câu ca dao có từ gà thì

phép lặp từ vựng ở kết cấu 2 dòng lục - bát chiếm số lượng cao nhất

ví dụ:

Trứng gà tha quạ biết đâu mà tìm (tr.242).

2 Chợ Môi có giống gà cồ

Có con gà chọi cộc lồ, anh cũng mua luôn (tr.1772).

Mấy con gà nhép ước chừng nắm tay (tr.2599).

- Lặp cú pháp: là phép liên kết câu dùng cấu trúc cú pháp giống nhau ở

các câu khác nhau

Trách con gà trống gáy tan tình cờ (tr.846)

Sao mai đã mọc, tiếng gà gọi con (tr.846).

Gà con lạc mẹ, gà con chiu chít

Gà mẹ lạc con, miệng tục chân bươi (tr.1090).

Mẹ anh đi chợ mua trầu mua phải lá đa

Mẹ anh đi chợ mua gà mua phải cuốc con (tr.1455).

Mười bốn trăng lặn gà đều gáy tan (tr.1587).

Trang 39

So sánh là một biện pháp nghệ thuật tu từ khá phổ biến trong ca daongười Việt Nó giúp cho ca dao giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm và tạo nênnhững biểu tượng phong phú hấp dẫn.

kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc hơn kém" [42, 830]

Còn theo quan niệm của các nhà phong cách học Cù Đình Tú, ĐinhTrọng Lạc thì so sánh tu từ là đối chiếu lại sự vật (tính chất, trạng thái, sự

việc) A và B cùng một dấu hiệu chung nào đấy giống nhau A là sự vật chưa

biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A So sánh tu từ còngọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng loại, không cùngmột phạm trù chung, miễn là có nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức haytâm lý

Ngoài ra còn có kiểu so sánh ngầm mà chúng ta gọi là ẩn dụ: Lấy têngọi của một đối tượng này để lâm thời biểu thị một đối tượng khác trên cơ sởngầm thừa nhận một mức giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng

So sánh có nhiều kiểu: so sánh hơn, so sánh đồng nhất, so sánh songhành, so sánh đối nghịch - dị biệt, so sánh đối chiếu, so sánh miêu tả, so sánhphủ định, khẳng định, so sánh bổ sung minh xác Có nhiều cấp độ so sánh, sosánh một dòng, so sánh hai dòng, so sánh một vế, so sánh hai vế, so sánh trựctiếp, gián tiếp

Trong các câu ca dao có từ chỉ về gà chúng tôi ít gặp những câu ca dao

có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh đi kèm với những từ: như, hơn mà

chỉ là những so sánh mang nét tương đồng nào đó

Ví dụ:

Trang 40

Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên [tr.701].

2 Nơi gần không có phải ngó nơi xa

Tham giàu để phượng sánh gà sao nên [tr.1795].

3 Gà khôn gà chẳng đà lang

Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái đi [tr.1090].

4 Gà tơ xào với mướp già

Vợ hai mươi mốt, chồng đà sáu mươi [tr.1091].

d3 Cấu trúc đối

nhau về nội dung, giống nhau về từ loại, trái nhau về thanh điệu bằng trắc vàđược đặt ở thế trên dưới ứng nhau thành từng cặp (ở một số quy định trong vếcâu) để tạo nên giá trị tu từ nhất định [32, 327]

Có thể nói đối là một hình thức liên kết câu bằng cách dùng ở các câu khác

nhau các từ ngữ có quan hệ trái ngược nhau.

Cấu trúc đối thể hiện qua một số phương tiện như sau:

1 Từ trái nghĩa

2 Từ ngữ khẳng định - phủ định

3 Từ ngữ có ý nghĩa trái ngược nhau trong ngữ cảnh (có thể là ước lệ)

Xuất hiện trong cấu trúc đối của những câu ca dao có chứa từ gà.

Chúng tôi gặp chủ yếu nhóm thứ 3 (đối lập là nhờ ngữ cảnh):

Ví dụ:

Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông (tr.242).

Trứng gà tha quạ biết đâu mà tìm (tr.24).

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938),Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Bốn phương, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Bốn phương
Năm: 1938
2. Hà Thị Quế Anh (2007), Đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ ngữ, hình ảnh các loài hoa trong ca dao Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ ngữ, hình ảnh các loài hoa trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Quế Anh
Năm: 2007
3. Toàn Ánh (1969), Phong tục Việt Nam, Nhà sách Khai trí Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Toàn Ánh
Năm: 1969
4. Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
5. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ trong Ca dao, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ trong Ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2005
6. Đỗ Hữu Châu (1986), Ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
9. Đỗ Hữu Châu (2005),Tuyển tập, (tập 1) phần Từ vựng - Ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, (tập 1) phần Từ vựng - Ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt và các phát ngôn đơn phần, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt và các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
11. Nguyễn Phương Châm (2001), Biểu tượng hoa Đào, Văn hoá dân gian, Số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng hoa Đào, Văn hoá dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2001
12. Nguyễn Phương Châm (2003), Vài nhận thức về biểu tượng thực vât trong ca dao người Việt, Văn hoá nghệ thuật (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận thức về biểu tượng thực vât trong ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2003
13. Nguyễn Tố Chung,Góp phần tìm hiểu cách sử dụng các thành ngữ, tục ngữ tiếng Nhật có danh từ chỉ con vật, Ngữ học trẻ, 2003, tr.211- 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu cách sử dụng các thành ngữ, tục ngữ tiếng Nhật có danh từ chỉ con vật
14. Mai Ngọc Chừ (1991), Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1991
15. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1990), Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam, Kỷ yếu khoa học khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 1990
16. Cao Xuân Đỉnh (2000), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Cao Xuân Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2002) , Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
18. Vũ Thị Thu Hương (2007), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Mai Hương (2006), Ngôn ngữ thể hiện hành động thề nguyền trong ca dao Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thể hiện hành động thề nguyền trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hương
Năm: 2006
20. Hà Thị Quế Hương (2002), Hàm ý biểu tượng của từ chỉ hoa và tên hoa trong Ca dao, Kỷ yếu Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm ý biểu tượng của từ chỉ hoa và tên hoa trong Ca dao
Tác giả: Hà Thị Quế Hương
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê sau đây sẽ cho ta những thông tin quan trọng: - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng th ống kê sau đây sẽ cho ta những thông tin quan trọng: (Trang 31)
Bảng thống kờ sau đõy cho thấy rừ điều đú: - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng th ống kờ sau đõy cho thấy rừ điều đú: (Trang 32)
Bảng 3.5: Bảng so sánh số lượng ngữ nghĩa giữa từ gà và trâu       3.3.1 - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng 3.5 Bảng so sánh số lượng ngữ nghĩa giữa từ gà và trâu 3.3.1 (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w