Lịch sử nghiên cứu Nếu như phương ngữ Nghệ Tĩnh được khẳng định là có một vị trí đặc biệt: đấy là vùng hiện còn giữ được nhiều nét cổ…[6], được coi là một thứ của để dành [30] quý hiếm đ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt nhưng đồng thời cũng là ngôn
ngữ quốc gia - ngôn ngữ chung cho 54 dân tộc anh em cộng cư trên lãnh thổViệt Nam Do đó, tiếng Việt phải là một ngôn ngữ thống nhất vượt trên mọi thờigian, không gian Nhưng thống nhất không có nghĩa là đồng nhất Ở mặt biểuhiện, cũng như các ngôn ngữ khác, tiếng Việt hết sức đa dạng Tính đa dạng củangôn ngữ dân tộc thể hiện ở nhiều mặt: ở phong cách thể hiện, ở hiệu quả biểuhiện, ở tính phân từng xã hội - lớp người sử dụng, ở khu vực địa lý - dân cư Có
lẽ, tính đa dạng của tiếng Việt biểu hiện trên khu vực địa lý - dân cư là rõ nétnhất Sự biểu hiện của tiếng Việt xét trên phương diện này được gọi là tiếng địaphương hay phương ngữ Do đó, tìm hiểu phương ngữ chính là góp phần tìm
hiểu sự phong phú, đa dạng của bức tranh ngôn ngữ tiếng Việt.
1.2 Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn còn có những ý kiến khôngthống nhất với nhau về vị trí của tiếng Thanh Hóa trong khi phân chia các vùngphương ngữ Việt Một số người cho rằng, tiếng Thanh Hóa thuộc về phươngngữ Bắc Bộ Còn các tác giả Hoàng Thị Châu [8], Hoàng Trọng Canh [4],Nguyễn Hoài Nguyên [30] lại cho rằng tiếng Thanh Hóa thuộc về phương ngữBắc Trung Bộ cùng với tiếng Nghệ - Tĩnh và tiếng Bình Trị Thiên Lại có cáctác giả như Trương Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân [36], Phạm Văn Hảo [16]coi tiếng Thanh Hóa là thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và phươngngữ Bắc Trung Bộ Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì, Thanh Hóa vốn là vùng đất
cổ rộng lớn với dân số khá đông, lại là vùng tiếp nối giữa Bắc Bộ và Bắc Trung
Bộ nên tiếng nói giữa các vùng nhỏ, giữa các huyện, và nhiều khi giữa các xãtrong một huyện với nhau cũng không hoàn toàn thuần nhất mà có những điểmkhác nhau khá sinh động Chẳng hạn, nếu dựa vào tiếng nói của người dân thànhphố Thanh Hóa và phần lớn vùng phía Bắc của tỉnh gồm Nga Sơn, Hậu Lộc vàmột phần Hà Trung, một số xã ở Hoằng Hóa và thị xã Bỉm Sơn thì sẽ thấy tiếngnói ở những vùng này rất gần với phương ngữ Bắc Bộ Song, nếu coi tiếng nói
Trang 3của người dân các huyện trung tâm, có lịch sử văn hóa lâu đời như Đông Sơn,Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Quảng Xương, Nông Cống, Tĩnh Gia mới làđại diện cho tiếng Thanh Hóa thì lại thấy rằng tiếng Thanh Hóa gần với tiếngNghệ Tĩnh hơn Mặc dù còn nhiều ý kiến chưa thống nhất nhưng chúng tôi chorằng, phương ngữ Thanh Hóa là một trong những tiểu vùng trong vùng phươngngữ Bắc Trung Bộ Rõ ràng, trước một đối tượng phức tạp như vậy, nếu không
có một sự điều tra toàn diện, hệ thống đầy đủ các đặc điểm ngữ âm cũng như từvựng của một số lượng lớn các địa điểm khắp trong tỉnh thì rất khó có được kếtluận xác đáng về tiếng nói của người dân xứ Thanh
Với cách nhìn như vậy, chúng tôi không có tham vọng miêu tả một cáchđầy đủ và chính xác diện mạo của tiếng Thanh Hóa (bởi khối lượng tư liệu điềutra hiện có chưa đủ rộng khắp để làm việc này), mà chỉ muốn nêu lên một số nétkhái quát về những điểm chung nhất, phổ biến và dễ nhận thấy so với phươngngữ Bắc Bộ và tiếng nói phổ thông của cả nước
1.3 Đề tài này khảo sát cách phát âm các đơn vị từ vựng tiếng Việt đượcthể hiện ở khu vực dân cư Thanh Hóa với những khác biệt nhất định về mặt ngữ
âm phần vần so với ngôn ngữ toàn dân Như vậy, nghiên cứu phương ngữ ThanhHóa là việc làm cần thiết Bởi vì, sự khác biệt về mặt ngữ âm ở phần vần của từđịa phương Thanh Hóa so từ toàn dân là khá rõ nét Mặt khác, như ý kiến củanhiều nhà nghiên cứu, phương ngữ Thanh Hóa là một trong những tiểu vùngphương ngữ Bắc Trung Bộ mang nhiều nét cổ và khúc xạ khá rõ nét về diễntrình phát triển, biến đổi của lịch sử tiếng Việt
2 Lịch sử nghiên cứu
Nếu như phương ngữ Nghệ Tĩnh được khẳng định là có một vị trí đặc biệt:
đấy là vùng hiện còn giữ được nhiều nét cổ…[6], được coi là một thứ của để dành [30] quý hiếm đủ làm cho nó có một diện mạo riêng để cho người địa
phương khác nhận ra và gọi bằng cái tên tiếng Nghệ, được các nhà Việt ngữ học
quan tâm nghiên cứu Nhiều tư liệu trong phương ngữ Nghệ Tĩnh được khai tháclàm dẫn liệu cho những nghiên cứu phương ngữ Việt và lịch sử tiếng Việt thìviệc nghiên cứu phương ngữ Thanh Hóa là một vấn đề còn rất mới, chưa được
Trang 4nhiều người quan tâm Cho đến nay, chỉ mới có một số ít nhà nghiên cứu ngônngữ đi vào nghiên cứu vấn đề này trên một vài khía cạnh, ở mức độ rộng hẹpkhác nhau Chúng tôi xin được điểm qua một số công trình có liên quan tới đềtài này.
Đề cập đến phương ngữ Thanh Hóa, trước hết phải kể đến công trình
nghiên cứu Tiếng Việt trên các miền đất nước (Phương ngữ học tiếng Việt) của
GS Hoàng Thị Châu [8] Trong công trình này, GS đã đưa ra nhiều ý kiến xácđáng về việc phân chia vùng phương ngữ và đặc điểm chung của các vùngphương ngữ đó Theo tác giả, phương ngữ Thanh Hóa thuộc vùng phương ngữBắc Trung Bộ đồng thời bà cũng chỉ ra rằng, phương ngữ Thanh Hóa là mộttrong hai tiểu vùng của phương ngữ Bắc Trung Bộ mang một số đặc điểmchuyển tiếp Nếu như các vùng và các tiểu vùng phương ngữ khác trong tiếngViệt đã được nghiên cứu nhiều thì phương ngữ Thanh Hóa lại ít được chú ý.Tiếp đến, người nghiên cứu quan tâm tới phương ngữ Thanh Hóa là tác giả
Phạm Văn Hảo Ngoài công trình Nghiên cứu đặc điểm ngữ âm tiếng Thanh
Hóa (Luận án Tiến sĩ bằng tiếng Nga), hiện nay tài liệu được công bố trong
nước duy nhất chỉ có bài viết của tác giả Về một số đặc trưng tiếng Thanh Hóa,
thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Bắc Trung Bộ
(1985) [16] là trực tiếp bàn về phương ngữ này Tác giả Phạm Văn Hảo cùngchung quan điểm với các tác giả Trương Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân [36],xem tiếng địa phương Thanh Hóa là phương ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữBắc Bộ và phương ngữ Bắc Trung Bộ, đồng thời ông cũng nêu và nhận xét vềmột số đặc trưng của tiếng Thanh Hóa
Ngoài ra, còn một số tác giả khác khi phân vùng phương ngữ tiếng Việtcũng đã đề cập đến phương ngữ Thanh Hóa trong các bài viết của mình, như
Trương Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân trong Vị trí của tiếng địa phương Thanh
Hóa [36] Hai tác giả này đã nhận xét về vị trí không ổn định của tiếng địa
phương Thanh Hóa trong bảng phân loại của các tác giả, hoặc xếp phương ngữnày vào vùng phương ngữ Bắc Bộ hoặc định vị nó thuộc vùng phương ngữ BắcTrung Bộ Cuối cùng, hai ông đề nghị xếp tiếng địa phương Thanh Hóa vào
Trang 5phương ngữ Bắc Trung Bộ cùng với tiếng địa phương Nghệ Tĩnh và Bình TrịThiên.
Một số luận văn, khóa luận của học viên cao học và sinh viên Trường đạihọc Vinh trong những năm gần đây cũng đã đề cập tới phương ngữ Thanh Hóa
Chẳng hạn: Nguyễn Thị Sơn: Bước đầu khảo sát vốn từ địa phương Thanh Hóa;
Lê Thị Hữu: Đặc trưng ngữ âm tiếng Hoằng Hóa; Nguyễn Thị Thắm: Đặc điểm
từ địa phương Thanh Hóa; Nguyễn Thị Nga: Đặc trưng ngữ âm thổ ngữ Thọ Xuân (Thanh Hóa); Lê Thị Huệ: Nhận xét bước đầu về vốn từ địa phương Thanh Hóa; Nguyễn Thị Hương: Vốn từ địa phương Thanh Hóa (Khảo sát và
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các thổ ngữ phương ngữ Thanh Hóa là một thực tế có thể làm đối tượngnghiên cứu lí tưởng cho phương ngữ học tiếng Việt xét ở bất kỳ góc độ nào,theo bất cứ cách tiếp cận nào đối với hiện tượng phương ngữ Như tên đề tài đãnêu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống ngữ âm phần vần tiếng địaphương Thanh Hóa được xác lập qua so sánh đối chiếu với hệ thống ngữ âmtiếng Việt văn hóa và các phương ngữ khác Dĩ nhiên, xét về mặt ngữ âm, tiếngThanh Hóa không phải là một đối tượng thuần nhất Cố gắng của chúng tôi làđưa ra được một sự mô tả dù ở mức khái lược về hệ thống ngữ âm phần vầnphương ngữ Thanh Hóa để giúp người đọc thấy rõ hơn diện mạo sắc thái của nó
Do đó, ở luận văn này chúng tôi dành sự quan tâm mô tả những đặc điểm ngữ
âm phần vần vốn có của phương ngữ Thanh Hóa được thể hiện qua các thổ ngữ
Trang 6trong thực tế phát âm và cả trong những biến thể địa phương ở một bộ phận từvựng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi tự đặt cho luận văn nhiệm vụ phải giải quyết những vấn đề sauđây:
- Điều tra điền dã, thu thập và thống kê các biến thể địa phương trong cách phát
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để tiến hành nghiên cứu ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa, trướchết chúng tôi chọn một số huyện, trong mỗi huyện chọn một số xã có tiếng nóiđại diện cho mỗi vùng để làm điểm khảo sát và miêu tả Việc chọn các điểmđiều tra, chúng tôi dựa vào 2 căn cứ:
1/ Dựa vào sự thẩm nhận của người địa phương đó là những xã có tiếng nóiđặc biệt hơn cả
2/ Dựa vào những đặc điểm về địa lý, lịch sử, dân cư, chúng tôi chọnnhững xã xa trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xa trục giao thông Dựa vàocăn cứ đó chúng tôi chọn các huyện để điều tra khảo sát là: Hoằng Hóa, TriệuSơn, Nông Cống, Thọ Xuân, Đông Sơn, Tĩnh Gia, Hậu Lộc Mỗi huyện nhưvậy, chúng tôi chọn ít nhất hai xã Ngoài ra, chúng tôi cũng tranh thủ thu thập từđịa phương Thanh Hóa qua sinh viên là người Thanh Hóa ở các trường đại học
và qua tư liệu điền dã trong sổ tay của TS Nguyễn Hoài Nguyên Công việcđiều tra điền dã đã được thực hiện nhiều đợt trong một thời gian khá dài
Trang 74.2 Phương pháp nghiên cứu
Mục đích của luận văn là từ khảo sát thực tế về cách phát âm của tiếng địaphương Thanh Hóa để miêu tả đặc trưng ngữ âm phần vần tiếng địa phươngThanh Hóa như một hệ thống hoàn chỉnh Do đó, về phương pháp, ngoài việcvận dụng lí thuyết ngôn ngữ học đại cương, chúng tôi chủ yếu áp dụng phươngpháp điều tra nghiên cứu của phương ngữ học Để có được một sự hình dungtương đối đầy đủ về các nét đặc hữu địa phương chúng tôi còn sử dụng phươngpháp phân tích miêu tả ngữ âm học, âm vị học và phương pháp so sánh lịch sử.Nhằm chỉ ra những nét khác biệt về ngữ âm phần vần tiếng Thanh Hóa so vớicác phương ngữ khác và với tiếng Việt văn hóa, chúng tôi dùng phương pháp sosánh đối chiếu Ở phần so sánh đối chiếu, chúng tôi sử dụng các kết quả khảo sát
và miêu tả của các tác giả khác làm cơ sở so sánh đối chiếu với phương ngữThanh Hóa
Trong quá trình thu thập và xử lí tư liệu, chúng tôi dựa trên phân tích bằngthính giác của người bản ngữ Đây cũng là một phương pháp quan trọng, có hiệuquả và dễ áp dụng trong nghiên cứu phương ngữ học
Việc chọn tiêu thể để miêu tả, chúng tôi chọn cách phát âm phần vần củathành phố Thanh Hoá, từ đó xác lập các biến thể địa phương ở phần vần trongcác thổ ngữ của phương ngữ Thanh Hoá
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Từ việc khảo sát thực tế, đây là công trình đầu tiên trình bày một cách
có hệ thống đặc điểm ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa Qua so sánhđối chiếu với tiếng Việt văn hóa và các phương ngữ khác, luận văn chủ yếumiêu tả đặc trưng ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa như một hệ thốngngữ âm phần vần hoàn chỉnh của nó nhằm cung cấp một bức tranh tương đốitoàn diện về ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa với những nét chung vànhững nét đặc thù địa phương, qua đó thấy được vai trò, vị trí cùng với sự hìnhthành và biến động của ngữ âm phần vần Thanh Hóa trong tiến trình của tiếngViệt
Trang 85.2 Trong luận văn, các hiện tượng ngữ âm phần vần tiếng Thanh Hóađược miêu tả như nó với các biến thể địa lý và biến thể ngữ âm nhằm phác vạch
sự tương ứng giữa ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa với tiếng Việt vănhóa
5.3 Phương ngữ Thanh Hóa là một trong vài phương ngữ hiếm hoi còn bảolưu được nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Việc nghiên cứu phương ngữ ThanhHóa là góp phần khôi phục lại những dấu vết lịch sử vô cùng quý báu của tiếngViệt còn lưu giữ trong ngữ âm phần vần Thanh Hóa, góp thêm tư liệu phươngngữ giúp cho các nhà nghiên cứu có cách lý giải và tái lập những biến đổi ngữ
âm tiếng Việt trong lịch sử bao gồm một số hướng biến đổi phổ biến và cảnhững biến thái ngữ âm đa dạng vốn có trong tiến trình phát triển ngữ âm tiếngViệt trong lịch sử
Nghiên cứu ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa còn góp phần phục
vụ cho nhu cầu giao tiếp trên khu vực địa phương, về cách phát âm trong nhàtrường, về vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt
6 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nộidung được triển khai thành 3 chương:
- Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
- Chương 2: Đặc trưng ngữ âm phần vần của phương ngữ Thanh Hóa
- Chương 3: Vài suy nghĩ về lịch sử tiếng Việt qua phần vần phương ngữThanh Hóa
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 1 Một số khái niệm về phương ngữ
1.1.1 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ là biến thể và dạng tồn tại về các mặt ngữ âm, từ vựng và ngữpháp của ngôn ngữ văn hóa ở một vùng địa lý - dân cư nhất định hay một phạm
vi xã hội nào đó
Khái niệm phương ngữ mà chúng tôi dùng ở đây là theo cách hiểu thứ nhất
và đã được Hoàng Thị Châu định nghĩa như sau: Phương ngữ là một thuật ngữ
ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác [8, tr.24] Như vậy, theo cách hiểu này, thuật ngữ phương ngữ
còn có thể gọi là tiếng địa phương hay trước đây gọi là phương ngôn
Liên quan đến khái niệm phương ngữ còn có khái niệm giọng (giọng nói).
Giọng là nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm, là cái riêng của ngữ âm phương ngữ màcái riêng của phương ngữ chủ yếu là ở bình diện ngữ âm nên phương ngữ cũng
có thể gọi là giọng địa phương Theo nghĩa này, giọng không phải là yếu tố ngữ
âm đơn lẻ mà một tập hợp những yếu tố ngữ âm khác nhau và đồng thời xuấthiện khi phát âm, đồng thời được tiếp nhận khi giao tiếp Theo Hoàng Cao
Cương: Giọng địa phương là một hệ thống phương tiện âm thanh của một ngôn
ngữ được người bản địa dùng như một loại tín hiệu giao tiếp - văn hóa nhờ nó người ta không những nhận được các thông tin ngữ nghĩa, cảm xúc của một thông báo mà còn nhận ra được xuất xứ của người thực hiện giao tiếp [10, tr.1] 1.1.2 Phương ngữ và thổ ngữ
Ở mặt biểu hiện, sự đa dạng của tiếng Việt được thể hiện ở hai loại biếnthể: phương ngữ và thổ ngữ, song sự phân biệt và cách hiểu hai loại biến thể này
chưa có sự thống nhất trong các nhà ngữ học Các tác giả Khái luận ngôn ngữ
học (1960) phân biệt trong tiếng Việt có hai loại biến thể: một biến thể gọi là
tiếng địa phương và một biến thể gọi là thổ ngữ Theo các tác giả: Khái niệm về
tiếng địa phương rất linh động Khái niệm đó có thể thay đổi theo không gian,
Trang 10nghĩa là tuỳ phạm vi địa phương rộng hẹp Việc chia các tiếng địa phương trong một ngôn ngữ chỉ là một ước lệ [46,tr 70] Và một tiếng địa phương có thể gồm nhiều thổ ngữ Về ranh giới tiếng địa phương và thổ ngữ các tác giả cho
rằng: Không thể xem những ranh giới về đất đai giữa các tỉnh, huyện chẳng hạn
cũng là ranh giới giữa các tiếng địa phương, thổ ngữ [46,tr.71].
Tác giả Vương Toàn chia phương ngữ thành phương ngữ lãnh thổ và
phương ngữ xã hội, và cho rằng: Phương ngữ lãnh thổ là những biến thể địa lý
khu vực của nó Bên trong mỗi phương ngữ lại có rất nhiều thổ ngữ; là những biến thể của phương ngữ ở khu vực địa lý hẹp hơn như tỉnh, huyện hoặc làng
[44,tr.275-276] Cùng chia xẻ với quan niệm này là các tác giả Đỗ Hữu Châu[7], Nguyễn Kim Thản [39], Nguyễn Văn Tu [53] Như vậy, theo các tác giảnày, phương ngữ có tính chất khu vực rộng có thể bao gồm nhiều tỉnh, còn thổngữ có tính chất tỉnh, huyện hoặc làng
Lại có những biến thể tiếng Việt ở phạm vi một tỉnh như tỉnh Thanh Hóa,Phạm Văn Hảo [16] gọi là thổ ngữ, nhưng các tác giả Trương Văn Sinh vàNguyễn Thành Thân [36] gọi là tiếng địa phương, còn Hoàng Thị Châu [8],Hoàng Trọng Canh [4], Nguyễn Hoài Nguyên [30], Võ Xuân Trang [49] lại gọi
là phương ngữ Theo tác giả Hoàng Thị Châu, phương ngữ là một khái niệm hết
sức khó giải thích chính xác, bởi vì: Khi nói đến một phương ngữ nào đó trong
tiếng Việt lập tức người nghe cảm thấy một cái gì đó rất mơ hồ, khó xác định, thiếu tính hiển nhiên [8, tr.25] Nhưng cuối cùng tác giả cũng đưa ra một cách
hiểu: Thuật ngữ phương ngữ để chỉ tiếng địa phương trong một vùng rộng lớn
như tỉnh, thành phố bao gồm nhiều thổ ngữ ở các xã thôn [8, tr.24] Vậy là, theo
Hoàng Thị Châu, phương ngữ là những biến thể địa phương trên một vùng lớnnhư tỉnh, thành phố; còn thổ ngữ là những biến thể ở một phạm vi hẹp hơn như
xã, thôn Tác giả còn khẳng định, hầu hết các xã, thôn ở miền Bắc đều có thổngữ riêng và thổ ngữ là biến thể địa phương của tiếng Việt thống nhất Chúngtôi tiếp thu cách hiểu khái niệm và cách dùng thuật ngữ phương ngữ, thổ ngữcủa tác giả Hoàng Thị Châu nhưng có một sửa đổi nhỏ Chúng tôi cho rằng:phương ngữ có thể là biến thể tiếng Việt ở một tỉnh hoặc một vài tỉnh, một vài
Trang 11thành phố; còn thổ ngữ có thể là sự thể hiện tiếng Việt ở một xã, thôn hoặc vài
ba xã, thôn Liên quan đến khái niệm phương ngữ, thổ ngữ còn có cặp khái niệmvùng phương ngữ và nhóm thổ ngữ
1.1.3 Vùng phương ngữ và nhóm thổ ngữ
Việc phân chia phương ngữ, thổ ngữ tiếng Việt cùng việc hoạch định ranhgiới của chúng là một vấn đề hết sức phức tạp, đã thu hút sự quan tâm của cácnhà Việt ngữ học trong suốt những năm của thế kỷ 20 Tính chất phức tạp củavấn đề dẫn đến sự khác nhau về cách phân chia và tất yếu có sự khác nhau vềkết quả Chúng tôi chọn giải pháp phân chia tiếng Việt thành 3 vùng phươngngữ: vùng phương ngữ Bắc Bộ, vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, vùng phươngngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ Theo đó, khái niệm vùng phương ngữ được
hiểu là phần lãnh thổ tương đối rộng bao gồm nhiều tỉnh được xác định bằng
một tập hợp những đặc trưng về nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa đối lập với các phương ngữ khác [8, tr.90] Trong mỗi vùng phương ngữ
lại có các phương ngữ tiểu vùng Chẳng hạn, vùng phương ngữ Bắc Trung Bộgồm ba phương ngữ tiểu vùng là phương ngữ Thanh Hóa, phương ngữ NghệTĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên Trong các vùng phương ngữ tiếng Việt thì
vùng phương ngữ khu IV là một vùng phương ngữ Việt, và đó là vùng bảo lưu nhiều nét cổ nhất của tiếng Việt [6, tr.276].
Theo Võ Xuân Trang [49], sự phân biệt các biến thể địa phương của tiếngViệt như phương ngữ, thổ ngữ chủ yếu dựa vào đặc trưng ngữ âm Do vậy,
chúng tôi tán thành với ý kiến của tác giả về khái niệm nhóm thổ ngữ: Các thổ
ngữ có cùng một số đặc điểm ngữ âm nhất định được quy lại thành một nhóm thổ ngữ Các thổ ngữ trong cùng một nhóm có thể được phân bố trên cùng một địa bàn hoặc trên những địa bàn khác nhau của một phương ngữ [49, tr.22] 1.1.4 Đường đồng ngữ, chùm đồng ngữ và vùng đồng ngữ
Mỗi một hiện tượng ngôn ngữ, khi mới xuất hiện bao giờ cũng lan toảtrong không gian, nhưng mức độ lan toả cùng với ảnh hưởng của chúng là khácnhau Ở những vùng trung tâm, đông dân cư thì sự lan toả xảy ra nhanh và thốngnhất Còn ở những vùng dân cư thưa thớt, việc giao lưu tiếp xúc không xảy ra
Trang 12thường xuyên; những vùng bị sông núi chia cắt thì sự giao tiếp càng bị hạn chế,
nó sẽ lan chậm và không đồng đều Mặt khác, các hiện tượng ngôn ngữ lại xảy
ra ở những thời kì lịch sử khác nhau mà ở từng thời kì, việc bố trí dân cư theonhững mức độ khác nhau, địa vực hành chính lại thay đổi nên sự phát triển ngônngữ sẽ không đồng đều ở mỗi khu vực Do đó, ta có thể vạch ra được ranh giớicủa các hiện tượng ngôn ngữ, tức là các đường đồng ngữ Đường đồng ngữ
(đồng ngữ tuyến), F.de Saussure gọi là tuyến đẳng ngữ tố hay sóng đổi mới
[35,tr.342]
Đường đồng ngữ là đường được đánh dấu trên bản đồ ngôn ngữ học và chỉ
ra sự phân bố về lãnh thổ của một sự kiện ngôn ngữ nào đó Theo Phạm Văn
Hảo [16] có thể áp dụng lí thuyết làn sóng ngôn ngữ của Schmidt để xác định
các đường đồng ngữ trong tiếng Việt Theo lí thuyết này thì các sự kiện ngônngữ lan truyền trên lãnh thổ theo hình sóng Các làn sóng ngôn ngữ thường bịảnh hưởng của các yếu tố địa lý, lịch sử - xã hội nên có thể xác định được tâmsóng và các vùng biên, từ đó vạch ra các đường đồng ngữ
Các đường đồng ngữ thường không trùng nhau, đôi khi lại chồng chéo lênnhau hoặc liên quan với nhau Khi các đường đồng ngữ có quan hệ với nhau ta
có các chùm đồng ngữ Như vậy, khái niệm chùm đồng ngữ được hiểu là nhữngđường đồng ngữ liên quan với nhau được kết thành một chùm Trong phươngngữ học, các khái niệm đường đồng ngữ, chùm đồng ngữ, đặc biệt khái niệmchùm đồng ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định các biến thể địaphương và góp phần xác định ranh giới các phương ngữ
Những hiện tượng phương ngữ khác nhau thường được phân bố trong
những vùng đồng ngữ khác nhau Vùng đồng ngữ là: một vùng bị một đồng ngữ
tuyến khoanh lại ở trên bản đồ [8, tr.65] Khái niệm vùng đồng ngữ cũng có thể
được hiểu là một hiện tượng ngữ âm, từ vựng nào đó có thể được phân bố ở
nhiều phương ngữ Chẳng hạn vùng đồng ngữ của hiện tượng từ vựng mô, tê,
răng, rứa, ni là trải dài suốt miền Trung.
1.1.5 Ngôn ngữ văn hóa và ngôn ngữ địa phương
Trang 13Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất, tồn tại một cách khách quan dướinhững hình thức khác nhau: ngôn ngữ văn hóa và ngôn ngữ địa phương.
Ngôn ngữ văn hoá là ngôn ngữ dân tộc đã đạt đến trình độ cao của nền vănminh, có giá trị của ngôn ngữ quốc gia Ngôn ngữ văn hóa là phương tiện giaotiếp rộng rãi nhất của các thành viên trong xã hội, là cơ sở để giảng dạy trongnhà trường, sử dụng trong các lĩnh vực khoa học kĩ thuật, hành chính…và được
sử dụng phổ biến trong toàn lãnh thổ quốc gia có khả năng hấp thụ các phươngngữ
Ngôn ngữ văn hóa tiếng Việt gọi tắt là tiếng Việt văn hóa xây dựng theo cơ
sở phương ngữ miền Bắc mà tiêu biểu là Hà Nội và có bổ sung những yếu tốtích cực của các phương ngữ khác Ngôn ngữ văn hóa còn gọi là ngôn ngữchuẩn
Bên cạnh ngôn ngữ văn hóa được mọi người suy tôn và hướng tới thì còntồn tại song song các phương ngữ (còn gọi là ngôn ngữ địa phương) Ngôn ngữđịa phương là những biến thể và dạng tồn tại của ngôn ngữ văn hóa, được sửdụng trong phạm vi một địa phương nhất định Ngôn ngữ địa phương còn gọi làtiếng địa phương hay phương ngữ địa lý Do đó, khi ta nói tiếng Hà Nội, tiếngQuảng Nam, tiếng Nghệ…là nói đến các ngôn ngữ địa phương Nghiên cứu mộttiếng địa phương nào đó, về mặt lí thuyết, chúng ta có thể nghiên cứu nó nhưmột hệ thống độc lập nhưng bên cạnh đó còn có một cách khác là lấy ngôn ngữvăn hóa làm căn cứ so sánh đối chiếu, qua đó mà nhận biết diện mạo của tiếngđịa phương với những đặc điểm nào đó của riêng một vùng Ở luận văn này, đặctrưng ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hóa được xác lập trên cơ sở so sánhđối chiếu với ngữ âm phần vần tiếng Việt văn hóa
1.2 Vài nét về Thanh Hóa và phương ngữ Thanh Hóa
1.2.1 Vài nét về địa lý, lịch sử, con người Thanh Hóa
Trong Dư địa chí Thanh Hóa, tập 1, đã nói rõ tính chuyển tiếp của vị trí Thanh Hóa: Thanh Hóa - một tỉnh mang tính trung gian giữa Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ Phía Bắc giáp ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình; phía Nam và
Tây Nam nằm liền kề Nghệ An; phía Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn
Trang 14của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; phía Đông mở ra phần giữa của VịnhBắc Bộ thuộc biển Đông với đường bờ biển của dải đất liền hơn 102km và mộtthềm lục địa khá rộng.
Thanh Hóa là một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam Nó chứađựng nhiều di tích của người tiền sử, người ở thời đại đồ đá cũ còn để lại nhiềucông cụ thô sơ ở xưởng chế tác công cụ núi Đọ (Thiệu Hoá) Người ta cũng tìmthấy nhiều công cụ đồ đá đẽo gọt tinh vi ở Thiệu Dương (Thiệu Hóa), Quan Yên(Yên Định), Đa Bút (Vĩnh Lộc)…Nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn với trốngđồng và các loại đồ đồng tinh vi khác, không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam, ở ĐôngNam Á mà còn được cả thế giới quan tâm
Thanh Hóa không chỉ là một vùng quần cư lâu đời, một vùng kinh tế, vănhóa phát triển của đất nước mà còn là địa bàn chiến lược quan trọng, là căn cứđịa vững chắc của nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta
từ trước đến nay
Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hóa đã ghi lại những mốc sonchói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam.Thanh Hóa là nơi phát tích của các vương triều Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh,chúa Nguyễn, triều Nguyễn Đây là một nét chỉ thấy được đánh dấu ở xứ Thanh,không vùng nào có được Vào thời kì cận đại, hiện đại, người dân xứ Thanh vẫnghi được cố gắng của mình qua các phong trào Cần Vương, Duy Tân, Đông Du
và trong Cách mạng Tháng Tám, trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, Mĩ.Người dân Thanh Hóa cũng đều chung tinh thần chiến đấu, chung nỗ lực hi sinhnhư cả nước dành độc lập dân tộc, xây dựng quê hương nhanh chóng trở nêngiàu đẹp, phồn vinh
Về mặt cảnh quan, Hoàng Xuân Hãn ở một tập sách viết về Lý ThườngKiệt, đã có nhận định rằng, về những cảnh vật núi non trong cả nước Việt Nam,
không nơi đâu đẹp bằng Thanh Hóa Còn Phan Huy Chú cho rằng: Thanh Hóa
mạch núi cao chót vót, sông lớn lượn ven biển…núi sông rất đẹp, là một chỗ đất
có cảnh đẹp, nơi xung yếu, các triều nước vẫn coi là một trấn rất quan trọng, đời Lê lại là đất căn bản Vẻ non sông tươi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc
Trang 15vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho, đến những sản vật quý cũng khác mọi nơi Bởi vì đất thiêng thì người giỏi, nên nảy ra những bậc phi thường Vượng khí chung đúc, nên xứng đáng đứng đầu cả nước (Lịch triều hiến chương loại chí).
Thanh Hóa là một tỉnh có dân cư đông nhất cả nước, là địa bàn cư trú củangười Việt cổ; gắn với tổ quốc Việt Nam từ thời tiền sử khi nước ta mang tên lànước Văn Lang Vậy xét theo chiều dài lịch sử, địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã trảiqua những thăng trầm do chiến tranh, do sự thay đổi về cách gọi tên lúc phânhợp nhưng nó vẫn tồn tại và phát triển cho đến bây giờ, qua địa danh xứ Thanh
ta thấy nó phản ánh khá đầy đủ về nhiều mặt: lịch sử, con người, văn hóa, phongtục, ngôn ngữ, đặc biệt thể hiện rõ nhất là ngôn ngữ Sự hình thành của phươngngữ Thanh Hóa gắn liền với sự hình thành của các phương ngữ khác
1.2.2 Phương ngữ Thanh Hóa
Nếu như vùng phương ngữ Bắc được hình thành từ sự biến đổi chia táchcủa ngôn ngữ Việt - Mường chung do ảnh hưởng của tiếng Hán, văn hóa Hán thìvùng phương ngữ khu IV lại được hình thành từ ngôn ngữ Việt - Mường chung
do ảnh hưởng của tiếng Việt Bắc Bộ là vùng Việt - Mường chung bị Việt hóa
mạnh nên trở thành Việt [6, tr.331] Trong sự hình thành của phương ngữ khu
IV có sự hình thành phương ngữ Thanh Hóa, phương ngữ Nghệ Tĩnh và phươngngữ Bình Trị Thiên
Ngoài người Kinh chiếm đại bộ phận dân cư, trên địa bàn rộng lớn của tỉnhThanh Hóa còn có một số dân tộc anh em khác sinh sống Đó là các dân tộc:Mường, Thái, Thổ, Mông, Dao, Khơmú và Hoa Các dân tộc ít người này cóquyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội,bên cạnh tiếng Việt Tuy nhiên, do rất nhiều điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội quy định nên cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, ở ThanhHóa, tiếng nói của người Kinh là ngôn ngữ giao tiếp với nhau trong mọi lĩnh vựchoạt động cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Chính vì vậy, kháiniệm tiếng Thanh Hóa mà chúng tôi đề cập ở đây chỉ là tiếng Việt của người
Trang 16Thanh Hóa, hay nói chính xác hơn là tiếng Việt của người Việt ở tỉnh ThanhHóa.
Do đặc điểm về địa lý, lịch sử, dân cư có nhiều nét đặc biệt nên phươngngữ Thanh Hóa không có những khác biệt rõ rệt so với ngôn ngữ toàn dân màphương ngữ Thanh Hóa tồn tại nét khác biệt chủ yếu là ở những vùng ven biển,ven sông và phần đa cách phát âm của họ đều na ná giống nhau Có thể kháiquát một số đặc điểm của phương ngữ Thanh Hóa ở các mặt ngữ âm, từ vựngnhư sau:
- Về mặt ngữ âm
Hệ thống thanh điệu Thanh Hóa chỉ sử dụng hầu như có 5 thanh Vì trongcách phát âm của người Thanh Hóa, thanh hỏi với thanh ngã nhập lại thành một,thanh ngã phát âm thành thanh hỏi và ngược lại Đặc điểm nổi bật của thanhđiệu Thanh Hóa là thanh điệu bổng
Hệ thống âm đầu phương ngữ Thanh Hóa có 22 đơn vị So với phương ngữNghệ Tĩnh, phương ngữ Thanh Hóa không có âm đầu [p] Đa số các vùng ThanhHóa có dãy quặt lưỡi /ţ, , / (tr, s, r) và giữ lại không nhiều những âm tắc vốn
chưa hoàn thành quá trình xát hóa triệt để như: k/g cấy/ gái, b/v bản/ vải, đ/d
đao/ dao…
Phần vần phương ngữ Thanh Hóa có một số vần không thấy ở các phương
ngữ, thổ ngữ khác như: chậy, chệi/ chị; mịe/ mẹ; ông kộu/ ông cụ; mậu/ mụ…Đa
số các vùng không có 3 nguyên âm đôi iê, ươ, uô Sự triệt tiêu các nguyên âm
đôi làm nảy sinh sự đối lập trường độ ngắn, dài giữa các âm: /i/ và /i:/, /ư/ và/ư:/, /u/ và /u:/ Về âm cuối, phương ngữ Thanh Hóa có các âm cuối như phươngngữ Nghệ Tĩnh nhưng có nhiều trường hợp có sự tương ứng ngữ âm giữa hai âm
cuối /-i/ - /-n/ cấy/cấn, cày/cần, tối/tún, cây/cân…
- Về mặt từ vựng
Phương ngữ Thanh Hóa có một số nhóm từ được sử dụng như trong
phương ngữ Nghệ Tĩnh: Từ để hỏi: mô (đâu), chi (gì), răng (sao); từ chỉ trỏ: ni (này), tê (kia), nớ (ấy); từ xưng gọi: mi (mày), tau (tao), choa (chúng tao); từ chỉ
số ước lượng: ối (nhiều), mê (nhiều), cả cả (tất cả)…
Trang 17Phương ngữ Thanh Hóa có hiện tựợng chuyển đổi về nghĩa ở một bộ phận
từ vựng
1.3 Hệ thống ngữ âm tiếng Việt
1.3.1 Âm tiết và các đơn vị ngữ âm tiếng Việt
Theo cách hiểu thông thường, âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất trongchuỗi âm thanh và là đơn vị cơ sở để tạo nên chuỗi âm thanh
Đối với các nhà âm vị học, âm tiết dường như chỉ là đơn vị ở vào vị trí ítđược quan tâm, đơn giản chỉ là một đại lượng âm thanh do nguyên âm và phụ
âm tạo thành được tổ chức theo quy tắc nhất định, âm tiết là cái tổ để nguyên
âm, phụ âm tụ họp lại tạo thành vỏ âm thanh của từ Cũng có những nhà ngữhọc cho rằng, có thể đưa ra một định nghĩa âm tiết phù hợp với tất cả các ngônngữ trên thế giới nhưng cũng có nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng xác lập mộtđịnh nghĩa âm tiết phổ quát cho tất cả các ngôn ngữ trên thế giới là điều khôngtưởng Theo quan điểm của các nhà âm vị thì âm tiết hầu như không có chứcnăng gì khác ngoài mỗi một chức năng là làm cái tổ (vỏ âm thanh ngôn ngữ) chocác đơn vị từ ngữ nhưng trong thực tế âm tiết có nhiều chức năng, song có thểquy thành 3 chức năng chính: a/ là đơn vị nhỏ nhất dùng để tạo thành lời nói vàđồng thời cũng là đơn vị nhỏ nhất để tiếp nhận lời nói thành tiếng; b/ âm tiết làđơn vị nhỏ nhất trong cơ cấu nhịp điệu của lời nói; c/ trong một số ngôn ngữ, âmtiết có thể có chức năng tạo lập vỏ tiếng cho các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ hìnhthái và do đó, có thể được xem như một đơn vị đặc biệt của hệ thống ngôn ngữ.Chức năng (a) và (b) là phổ quát cho mọi ngôn ngữ, còn chức năng (c) chỉ có ởmột số ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính
Trong tiếng Việt, âm tiết có chức năng là giao điểm của các bình diệntiếng Việt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Từ âm tiết ta có thể phân xuất cácđơn vị trên âm tiết và các đơn vị dưới âm tiết Từ âm tiết, ta có thể phân xuất racác đơn vị ngữ âm (âm vị): âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu
Âm tiết còn có chức năng thi ca, tham gia tổ chức văn bản thơ ca Âm tiết
là đơn vị đo lường cho các thể thơ: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát…
Âm tiết tham gia vào hiệp vần, phối thanh (âm điệu) chế định các thể thơ
Trang 18Liên quan đến đơn vị âm tiết còn có các vấn đề như nhận diện âm tiếttrong ngữ lưu, cấu tạo âm tiết, phân loại âm tiết…Đây là vấn đề hết sức phứctạp, thể hiện nhiều quan điểm, ý nghĩa và dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Từtrước đến nay, các nhà ngữ học đã đưa ra nhiều lí thuyết nhận diện âm tiết màphần lớn trong số đó đều tiếp cận trên quan điểm ngữ âm học, tức là dựa vào cứliệu về cấu âm - âm học của hiện tượng âm tiết Dựa trên cơ sở cấu âm có líthuyết ngắt hơi của R.H.Stéton (Mĩ), lí thuyết độ căng của L.Roudet vàN.Grammont (Pháp), được L.V.Sherba (Nga) phát triển đầy đủ Theo tiêu chí
âm học, có lí thuyết độ vang mà đại biểu là O.Jespersen (Đức), lí thuyết vềcường độ của N.T.Jinkin Một số nhà ngữ học như B.Hala, N.T.Jinkin,L.A.Chistovich,…kết hợp với các tiêu chí cấu âm và âm học, cố gắng nhận diện
âm tiết một cách tổng hợp Một số nhà ngữ học khác như E.N Vinarskaja,E.B.Trofimova,… đặt vấn đề phân giới âm tiết (trong tiếng Nga) theo cách tiếpcận của ngôn ngữ học tâm lí (tức là cảm thức của người bản ngữ) Đối với vấn
đề cấu tạo âm tiết các nhà ngữ học xuất phát từ cách hình dung âm tiết như làmột sự tổ hợp các âm tố (âm vị) để tạo nên âm tiết trong cùng ngôn ngữ cụ thể.Trong các ngôn ngữ khác nhau, âm tiết được cấu tạo theo nhiều kiểu đa dạng,được quy định bởi số lượng và trật tự phân bố của các phụ âm so với nguyên âmtrong thành phần âm tiết Trong mỗi ngôn ngữ cũng có thể có nhiều kiểu cấutrúc âm tiết khác nhau nhưng có thể coi kiểu CVC (phụ âm + nguyên âm + phụâm) là những kiểu cấu trúc phổ quát cho các ngôn ngữ trên thế giới
Vấn đề phân loại âm tiết, có thể trong từng ngôn ngữ có nhiều cách phânloại âm tiết theo từng tiêu chí được xác lập nhưng cách phân loại âm tiết có tínhphổ quát là phân loại theo cách kết thúc âm tiết, theo đó cho ta hai loại âm tiết là
âm tiết mở (âm tiết hở) và âm tiết khép (âm tiết đóng) Ngoài ra, còn có cáchphân loại dựa vào thanh điệu, dựa vào thành tố tham gia cấu tạo…
1.3.2 Các đơn vị ngữ âm tiếng Việt
Hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại là một cơ chế gồm các tiểu hệ thống:
âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu Năm hệ thống con này là nét
Trang 19cố hữu của âm tiết, cấu tạo nên âm tiết (hình vị) tiếng Việt Ngoài ra, còn có mộtđại lượng âm thanh thuộc về ngữ lưu, đó là ngữ điệu.
1.3.2.1 Âm đầu
Âm đầu đều là phụ âm và là phụ âm đơn Đảm nhận vị trí âm đầu do 22phụ âm, trong đó có một phụ âm tắc bật hơi, một âm tắc thanh hầu (không cóchữ viết ghi lại); không có âm tắc - xát và âm rung Trong các âm đầu tiếngViệt, âm /p/ không nhập hệ Bởi vì, tuy /p/ có trong tiếng Việt cổ (bằng chứng là
âm /p/ vẫn tồn tại trong tiếng Mường) nhưng đến thế kỷ XXII thì /p/ biến mất.Trong tiếng Việt hiện đại, âm /p/ tái xuất hiện để phiên âm các đơn vị nướcngoài
Các âm đầu tiếng Việt gồm:
Trang 20- Các nguyên âm hàng sau, không tròn môi //, //, //, /a/, /ă/
- Các nguyên âm hàng sau, tròn môi /u/, /o/, //
- Các nguyên âm chuyển sắc /ie/, //, /uo/
Sự thể hiện trên chữ viết: i/y, ê, e, ư, ơ, â, a, ă/a (trong au, ay), u, ô, o/oo, ia/ya/ yê/ iê, ưa/ ươ, ua/ uô
1.3.2.4 Âm cuối
Các âm cuối tiếng Việt gồm 10 đơn vị, trong đó có 8 phụ âm và 2 bán âm.Tất cả các phụ âm làm âm cuối đều có đặc điểm chung là tắc và không buông(nghĩa là bộ phận cấu âm tiến đến vị trí cấu âm rồi cố định ở đó chứ không trở
về chỗ cũ) Âm cuối gồm:
- Các phụ âm tắc miệng (tắc điếc) /p/, /t/, /c/, /k/
- Các phụ âm tắc mũi (tắc vang) /m/, /n/, //, /ŋ/
- Tiêu chí âm vực: các thanh cao gồm /1/, /3/, /5/; các thanh thấp /2/, /4/, /6/
- Tiêu chí đường nét: bằng phẳng /1/, /2/; không bằng phẳng /3/, /4/ (gãy), /5/,/6/ (không gãy)
1.4 Vần và hệ thống vần tiếng Việt hiện đại
1.4.1 Khái niệm
Phần đoạn tính còn lại của âm tiết sau khi đã tách ra khỏi phụ âm đầu được
hầu hết các nhà Việt ngữ học gọi là phần vần hoặc vần, Nguyễn Quang Hồng
(1994) gọi là vần cái, còn thuật ngữ âm vận học Trung Hoa gọi là vận mẫu Ở đây, chúng tôi gọi là vần cái theo cách gọi của tác giả Nguyễn Quang Hồng
[20] Phần đoạn tính này được tác giả lí giải phụ thuộc vào lời đáp có hay khôngcho hai câu hỏi sau:
a Có yếu tố âm đệm không
Trang 21b Có yếu tố thanh điệu không
Lấy âm tiết hoàn ta sẽ có 4 khả năng:
1 Có a và b: oàn
2 Không a có b: àn
3 Có a không b: oan
4 Không a không b: an
Tác giả cho vần trong trường hợp 4, khi nó biểu thị phần sau của âm tiết
mà không bao hàm trong đó âm đệm và thanh điệu đó là vần cái Như vậy, thuậtngữ vần cái được hiểu là đơn vị ngữ âm cơ bản nằm trong thành phần cấu trúc
âm tiết tiếng Việt, không kể đến âm đệm được trừu tượng hóa khỏi thanh điệu;
về mặt âm học, vần cái bao gồm những yếu tố âm sắc được thể hiện từ đỉnh âmtiết cho đến kết thúc âm tiết
Vần còn có vai trò tổ chức tín hiệu đơn tiết (từ đơn), cấu tạo từ láy (cấutrúc hài âm), liên kết và tổ chức nhịp điệu trong thành ngữ, tục ngữ, vai trò ngữnghĩa (trong từ đơn, từ láy)
1.4.2 Hệ thống vần tiếng Việt hiện đại
Vần trong tiếng Việt văn hóa có số lượng rất phong phú: có 14 âm chính(nguyên âm), 10 âm cuối (trong đó có 8 phụ âm và 2 bán nguyên âm) và một âmđệm do bán nguyên âm /w/ đảm nhiệm Chúng tôi lấy vần của phương ngữ Bắc,tiêu biểu là Hà Nội có sự bổ sung tối đa, tích cực ở các phương ngữ khác và dựavào sự phản ánh trong chữ quốc ngữ Chúng ta có thể xác lập được số lượng vầntiếng Việt văn hóa là 151 vần, gồm các tiểu hệ thống sau đây:
- Vần mở, gồm 18 vần
uy
ia ưa uauya
uê uơ
Trang 22e a
- Vần nửa mở, gồm 25 vần
iu [ưu] ưi uiuyu
iêu [ươu] ươi uôi
au ayoeo oao uây
uau oai
oay
- Vần nửa khép, gồm 54 vần
im in inh
iêm iên iêng
êm ên ênh
em en anh
ưngươm ươn ương
uôm uôn uông
uyn uynhuyên
Trang 23oen oanhuên uênhuân uângoam oan oangoăm oăn oăng
- Vần khép, gồm 54 vần
ip it ichiêp iêt iêc
êp êt êch
ach
ưt ưcươp ươt ươc
uyêt uyêcoet oachuêt uêchuât
oat oacoăt oăcNhìn chung, hệ thống vần vùng phương ngữ Bắc (tiêu biểu là Hà Nội) tiêubiểu cho các vùng phương ngữ Việt Dĩ nhiên, cách phát âm phần vần ở vùng
Trang 24phương ngữ này cũng có một số nét địa phương Toàn vùng chỉ không phân biệt
các cặp vần ưu và iu (đều phát âm là iu), ươu và iêu (đều phát âm là iêu) Một số thổ ngữ Sơn Tây (Hà Tây) vần ang phát âm thành eng Chẳng hạn, (bò) vàng/ (bò) vèng, lèng nhèng/ làng nhàng…
1.4.3 Miêu tả hệ thống vần cái tiếng Việt
a Từ phía đỉnh vần
Đỉnh vần do nguyên âm đảm nhiệm Do đó, miêu tả hệ thống vần cái tiếngViệt từ phía đỉnh vần là dựa vào các tiêu chí: vị trí của lưỡi (còn gọi là tiêu chíđịnh vị), độ mở của miệng (hay độ nâng của lưỡi) và dáng môi Cụ thể:
- Theo tiêu chí vị trí của lưỡi, ta có đỉnh vần là các nguyên âm hàng trước/i, e, , ie/ và các nguyên âm hàng sau /, , a, ă, , u, o, , uo/
- Theo tiêu chí độ mở của miệng, ta có: đỉnh vần là các nguyên âm hẹp /i, ,u/, hơi hẹp /e, , , o/, hơi rộng /, / và rộng /a, ă/ Các nguyên âm chuyển sắc/ie, , uo/ có độ mở hơi hẹp
- Theo tiêu chí dáng môi, ta có: đỉnh vần là các nguyên âm không trònmôi /i, e, , ie, ,,, a, ă, / và các nguyên âm tròn môi /u, o, , uo/
Ngoài ba tiêu chí trên, các nguyên âm đỉnh vần còn phân biệt nhau bởi tiêuchí trường độ dài/ngắn, cấu âm bổ sung…
-là các phụ âm tắc - điếc (tắc - miệng)
b Phương thức tiếp hợp chặt - lỏng
Giữa đỉnh vần và kết vần còn có một đại lượng quan trọng khác là dạngtiếp hợp (hay còn gọi là độ chạm chặt hay lỏng) Hiện tượng này, nhiều khi được
Trang 25thuyết minh như trong đối lập ngắn/dài của nguyên âm đỉnh vần nhưng thực rakhông phải như vậy Theo thực nghiệm của M.V.Gordina (1976), các độ dài củacác vần có cùng thanh điệu là như nhau Do đó, để có một vần kết thúc chặtngười ta dồn cường độ và cả trường độ vào âm kết vần, và như thế âm đỉnh vầnđương nhiên bị rút ngắn Âm đỉnh vần trong các vần có kết thúc chặt đều ngắn,còn kết thúc lỏng thì đương nhiên là dài.
1.5 Tiểu kết
Phương ngữ học là một ngành đã có lịch sử nghiên cứu từ rất lâu trongngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu các phương ngữ, thổ ngữ của một ngôn ngữnào đó Phương ngữ không tạo thành ngôn ngữ độc lập mà chỉ là những biếndạng của ngôn ngữ văn hóa ở một địa phương cụ thể Ở mỗi phương ngữ, thổngữ có đặc trưng riêng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Trong đó, ngữ âm là quantrọng nhất Nghiên cứu phương ngữ là nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ học,dân tộc học, khảo cổ học, văn hóa dân gian…và còn là cơ sở cho việc nghiêncứu lịch sử ngôn ngữ, chuẩn hóa ngôn ngữ
Có nhiều ý kiến về cách phân chia vùng phương ngữ Việt, nhưng ý kiến vềviệc chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc Bộ, phươngngữ Bắc Trung Bộ, phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ được nhiều ngườiủng hộ Mỗi vùng phương ngữ như thế lại phân chia thành các tiểu vùng, cónhững đặc trưng về ngữ âm, từ vựng riêng
Thanh Hóa là mảnh đất có từ lâu đời, gắn liền với lịch sử hình thành và
phát triển của dân tộc Việt Nam Vùng đất được xem là thiên thời, địa lợi, nhân
hòa với những nét tương đối đặc biệt về địa lí, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ, văn
hoá…
Phương ngữ Thanh Hóa không phải là đối tượng thuần nhất mà bao gồmnhiều thổ ngữ khác nhau Mỗi thổ ngữ nó được thể hiện riêng biệt trên nềnchung của tiếng Việt văn hóa Các thổ ngữ Thanh Hóa có những nét riêng biệt
về thanh điệu, âm đầu, phần vần tạo nên bức tranh có nhiều màu sắc trong cáchuyện Có nhiều thổ ngữ hết sức đặc biệt như: Hải Ninh, Hải Châu, Hải Thanh,Hải An…(Tĩnh Gia); Quảng Tân, Quảng Phú, Quảng Cát, Quảng Châu…
Trang 26(Quảng Xương); Tế Nông, Tế Tân, Thượng Lĩnh, Minh Khôi…(Nông Cống);Đông Văn, Đông Phú, Đông Tân, Đông Hòa…(Đông Sơn); Xuân Tiến, XuânThành, Thọ Lộc, Xuân Quang, Xuân Sơn…(Thọ Xuân); Hoằng Thanh, HoằngYến, Hoằng Hải, Hoằng Trường…(Hoằng Hóa)…là những vùng có đặc trưnggiọng nói tương đối khác so với tiếng Việt văn hóa.
Tìm hiểu phương ngữ Thanh Hóa trong sự so sánh với tiếng Việt văn hóa
và tiếng Mường trong vùng cũng thấy được sự phong phú và bản sắc riêng vớinhiều từ cổ, từ có nguồn gốc địa phương, từ có nghĩa khác với tiếng Việt vănhóa…qua đó có thể nhận ra nhiều thông tin thú vị
Trang 27CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM PHẦN VẦN
PHƯƠNG NGỮ THANH HOÁ 2.1 Dẫn nhập
Cũng như các phương ngữ khác, phương ngữ Thanh Hóa so với tiếng Việtvăn hóa có sự khác biệt về mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp đặc biệt là về mặt
ngữ âm Ở luận văn này, chúng tôi đi vào khảo sát và miêu tả Đặc trưng ngữ âm
phần vần phương ngữ Thanh Hóa để thấy rõ đặc trưng nổi bật về phần vần qua
đó thấy được giọng điệu riêng của phương ngữ Thanh Hóa, làm cho mọi người
có cách nhìn đúng đắn về phương ngữ Thanh Hóa Tuy nhiên bên cạnh cáichung của ngôn ngữ văn hóa thì người Thanh Hóa còn có những nét riêng thểhiện được tính cách và con người xứ Thanh
2.2 Miêu tả ngữ âm phần vần phương ngữ Thanh Hoá
Trong phương ngữ Thanh Hóa cũng như trong tiếng Việt hiện đại, nếu một
âm tiết được kết thúc bằng chính nguyên tạo đỉnh, thì vần cái của âm tiết đó cócấu âm đơn giản, được gọi là vần cái đơn, chúng tôi gọi tắt là vần đơn Theocách mô tả của ngữ âm học đại cương thì các âm tiết có các vần đơn như thế đềuthuộc loại âm tiết mở Tuy nhiên, phần lớn âm tiết trong tiếng Thanh Hóa vàtrong tiếng Việt văn hóa đều có cách kết thúc phức tạp, nghĩa là sau khi đạt đếnđỉnh độ vang của âm tiết, bộ máy cấu âm không giữ nguyên như thế để kết thúc
mà chuyển sang hướng khép dần lại Như vậy, vần cái trong những âm tiết đó cóthể gọi là vần phức Căn cứ vào sự tương phản giữa đỉnh vần có tính nguyên âmvới kết vần có tính phụ âm hay không có tính phụ âm, ta lại có thể tiếp tục xáclập: 1/ có sự tương phản giữa đỉnh vần nguyên âm tính và kết vần bán phụ âmtính, ta có các vần phức nửa mở; 2/ có sự tương phản giữa đỉnh vần nguyên âmtính với kết vần phụ âm tính, ta có các vần phức khép Trong các vần phức khép,dựa vào tiêu chí mũi hay không mũi (miệng) của kết âm, ta có các vần khép - tắc
- mũi, còn gọi là nửa khép và khép - tắc - miệng tức là khép Như vậy, vần cáitrong phương ngữ Thanh Hóa và trong tiếng Việt văn hóa, ngoài những đặctrưng âm thanh khác thể hiện chủ yếu ở đỉnh vần còn có những nét khu biệt thểhiện ở cách kết thúc vần (kết vần)
Trang 28Trong vần cái, yếu tố nguyên âm tính là yếu tố bắt buộc nhưng không phảibao giờ vần cái cũng chỉ có mỗi yếu tố nguyên âm tính mà có thể còn có các yếu
tố khác Yếu tố nguyên âm tính gánh vác trọn vẹn chức năng tạo đỉnh âm tiết
Do đó, khi miêu tả ngữ âm vần cái phương ngữ Thanh Hóa cần phải chú trọngmiêu tả các đặc điểm của cái gọi là nguyên âm hay tổ hợp nguyên âm trong vầncái Muốn làm được điều đó, cần phải xác lập những tiêu chí ngữ âm cơ bản đểkhu biệt các yếu tố nguyên âm tính trong vần cái Thanh Hóa
Dựa vào tiêu chí độ nâng của lưỡi, chúng tôi phân biệt các nguyên âm trongphương ngữ Thanh Hóa theo ba độ nâng
Độ nâng cao, khoang cộng hưởng miệng hẹp: [i] (i), [] (ư), [u] (u)
Độ nâng vừa, khoang cộng hưởng miệng hơi hẹp: [e] (ê), [] (ơ), [o] (ô)
Độ nâng thấp, khoang cộng hưởng miệng rộng: [ε] (e), [a] (a), [] (o)
Tiêu chí vị trí của lưỡi tức là quan tâm đến vị trí của lưỡi theo chiều trước,giữa, sau dọc theo khoang miệng Theo tiêu chí này, chúng tôi chia các nguyên
âm Thanh Hóa làm hai loại: nguyên âm dòng trước: [i], [e], [ε]; nguyên âm dòngsau: [], [], [a], [u], [o], [] Tiêu chí dáng môi, ta có các nguyên âm tròn môinhư: [u], [o], [], các nguyên âm không tròn môi như: [], [], [a]
Ở mỗi dòng trước, sau - không tròn môi và sau - tròn môi đều có mộtnguyên âm phân biệt với các nguyên âm khác bằng một đặc trưng động trongcấu âm, đó là hoạt động chuyển sắc Đó là các trường hợp nguyên âm đôi [ie](ia), [] (ưa), [uo] (ua)
Trang 29B ng: Các y u t nguyên âm tính trong v n cái Thanh Hóaảng: Các yếu tố nguyên âm tính trong vần cái Thanh Hóa ếu tố nguyên âm tính trong vần cái Thanh Hóa ố nguyên âm tính trong vần cái Thanh Hóa ần cái Thanh Hóa
để tiện cho việc miêu tả vần cái phương ngữ Thanh Hóa, chúng tôi tách yếu tốkết vần thành các thành tố phụ âm và bán âm Yếu tố kết vần gồm 5 cặp đồng vịdựa vào một đặc điểm về phương thức là lối thoát không khí sau khi đã hìnhthành chướng ngại để kết thúc vần cái (và cũng là kết thúc âm tiết) Nếu yếu tốkết thúc bằng cách luồng hơi thoát ra ngoài qua khoang miệng, ta có các kết vầntắc - miệng (hay tắc - vô thanh) Nếu yếu tố kết thúc bằng cách luồng hơi thoát
ra ngoài qua khoang mũi, ta có các kết vần tắc - mũi (hay tắc - vang) Nếu chấpnhận giải pháp này, chúng ta sẽ xác lập được các đôi tương liên làm nhiệm vụkết thúc vần cái trong phương ngữ Thanh Hóa và cả trong tiếng Việt văn hóa
[- p] [- t] [- c] [- k] [- kp]
= = = = [- m] [- n] [- ] [- ŋ] [- ŋm]
Trang 30Ngoài các yếu tố phụ âm tính, kết vần còn có yếu tố bán phụ âm đảmnhiệm Đó là hai bán âm [-j] và [-w] được phân biệt với nhau theo đặc trưng vềdòng: dòng trước không tròn môi [-j], dòng sau tròn môi [-w] Có thể hình dung các kết vần trong phần vần phương ngữ Thanh Hóa qua bảng sau:
có nhiều nét riêng biệt địa phương Khác với phương ngữ Nghệ Tĩnh, ở phương
ngữ Thanh Hóa, khi phát âm không phân biệt các vần iu/ưu, iêu/ươu nhưng lại tận dụng triệt để các vần ưn/ưt và bảo lưu khá trọn vẹn cặp vần có tiếp hợp lỏng:
oong/ooc, ôông/ôôc…Đồng thời, trong cách phát âm của người Thanh Hóa, một
bộ phận vần của tiếng Việt văn hóa còn tồn tại một số biến thể địa phương ở một
bộ phận từ vựng Tương ứng giữa biến thể địa phương với vần cái tiếng Việt vănhóa có khi là 1/1 nhưng trong nhiều trường hợp có sự tương ứng 1/ hơn 1 Cácbiến thể địa phương ở vần trong phương ngữ Thanh Hóa thể hiện cả ở đỉnh vần
và kết vần
Do các yếu tố đỉnh vần và kết vần có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhauthành một chỉnh thể, cho nên, khi mô tả vần cái trong phương ngữ Thanh Hóa,người viết không mô tả, đối chiếu từng yếu tố tách rời nhau như đỉnh vần và kếtvần mà mô tả, đối chiếu toàn bộ vần cái Luận văn mô tả các loại vần:
Trang 31Để thấy được tính đa dạng và phức tạp của phương ngữ Thanh Hóa, chúngtôi sẽ tiến hành so sánh đối chiếu vần cái của phương ngữ Thanh Hóa qua cácthổ ngữ với vần của tiếng Việt văn hóa theo từng loại vần, qua đó xác lập một hệthống vần chung cho phương ngữ Thanh Hóa
a.Vần mở
Vần mở là những vần kết thúc bằng yếu tố nguyên âm tính, hay còn gọi là
vần có chung âm zêrô [17,tr 23] Do cách cấu âm đơn giản, kết thúc vần có đặc
trưng thực sự nguyên âm tính nên vần mở cũng có thể gọi là vần đơn
Trong tiếng Việt văn hóa hiện đại có 12 vần mở được chữ quốc ngữ ghi lại
là: i(y), ê, e, ư, ơ, a, u, ô, o, ia, ưa, ua, trong đó, ba vần cuối là những vần
chuyển sắc Phương ngữ Thanh Hóa cũng có 12 vần mở Nhìn chung, cách thểhiện vần mở trong phương ngữ Thanh Hóa không có sự khác biệt nhiều lắm sovới hệ thống vần mở tiếng Việt văn hóa Các nguyên âm trong vần mở có nhữngnét địa phương sau đây:
*Các nguyên âm dòng trước
- Vần [i], ngoài cách thể hiện giống như vần [i] tiếng Việt văn hóa, vần [i]
còn được phát âm theo cách địa phương Ở các thổ ngữ Xuân Thiên, Thọ Lâm(Thọ Xuân), Nông Cống, vần [i] được phát âm thành một nguyên âm có tínhchất như một nguyên âm chuyển sắc [ei] Cách cấu âm được bắt đầu bằng độngtác lưỡi nâng vừa, vị trí của lưỡi phía trước như cấu âm [e], sau đó lưỡi tiếp tụcnâng cao như cách cấu âm [i] và kết thúc ở đó
Ví dụ: [cei6] chị (em), [dei1 ťei1] đi thi
Vần [i] trong phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với các vần [i],[i], [ai], [ăi], [e], [], [ă], [], [ie]
Tương ứng [i] - [i]: [mi5] - [mi5] mí - mới
[vi5] - [vi5] trứng trọi ví đá - trứng trọi với đá
Tương ứng [i] - [i]: [ci5] - i5] (con) chí - (con) chấy
Tương ứng [i] - [ai]: [li6] - [lai6] lị - lại
[i5] - [ai5] ghí - gái
Tương ứng [i] - [ăi]: [ni1] - [năi2] ni - này
Trang 32[mi1] - [măi2] mi - mày
Tương ứng [i] - [e]: [bi1] - [be1] binh - bênh
[i1] - [e1] (hoan) nghinh - (hoan) nghênhCác tương ứng trên, mỗi tương ứng chỉ tồn tại trong một số từ nhưng phổbiến ở hầu hết các thổ ngữ Riêng tương ứng [i5] - [ai5] ghí - gái chỉ có ở thổ
ngữ làng Long Linh Ngoại, làng Long Linh Nội (Thọ Trường)
Tương ứng này tồn tại ở 7 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [i] - []: [kiu5] - [ku5] (cấp) cíu - (cấp) cứu
[miu1] - [mu1] miu (cầu) - mưu (cầu)Tương ứng này tồn tại ở 20 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [i] - [ă]: [im1] - [ăm1] ghim - ghăm
Tương ứng [i] - []: [biu1] - [bu1] (ốc) biu - (ốc) bươu
[riu6] - [ru6] rịu - rượu
Tương ứng [i] - [ie]: [him4] - [hiem4] (bảo) hỉm - (bảo) hiểm
[ci1] - [cie1] (ăn) chi - (ăn) chiaTương ứng này tồn tại ở 1070 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
- Vần [e], ở một số thổ ngữ vần [e] có hai biến thể:
+ Ở các thổ ngữ Xuân Thiên, làng Đoàn Kết, làng Lam Sơn (Thị trấn LamSơn) và các thổ ngữ vùng biển như Đa Lộc, Ngư Lộc, Hải Lộc (Hậu Lộc),Hoằng Trường, Hoằng Hải (Hoằng Hóa) , [e] được thể hiện thành một nguyên
âm chuyển sắc bắt đầu cấu âm, lưỡi nâng cao, đầu lưỡi đưa ra phía trước nhưcấu âm [i], sau đó lưỡi hạ độ nâng xuống mức vừa như cấu âm [e]
Ví dụ: [vie2] về, [zie5] dế
+ Ở các thổ ngữ vùng đồng bằng như Hoằng Thanh, Hoằng Kim (HoằngHóa) [e] được thể hiện thành nguyên âm lướt [εe ] Quan sát thực tế phát âmphần vần [e] chúng tôi thấy có hiện tượng cấu âm bắt đầu bằng một động táclưỡi nâng thấp như cấu âm [ε], sau đó lưỡi nâng lên mức vừa như cấu âm [e]
Ví dụ: [dεe4] (đáo) để, [kwεe1] quê (quán)
Vần [e] trong phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với vần [ε], [a], [],[], [i]
Trang 33Tương ứng [e] - [ε]: [me6] - [mε6] mệ - mẹ
Có sự tương ứng ngược lại [ε] - [e]: [mε1] - [be1] me - bê
Tính cả chiều ngược lại tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầukhắp các thổ ngữ
Tương ứng [e] - [a]: [e2] - [a2] gềnh - gành
Tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [e] - []: [cet5] - [c5] (bọ) chết - (bọ) chó
Tương ứng [e] - []: [be4] - [v3] bể - vỡ
Tương ứng [e] - [i]: [me2] - [mi2] (hếch) mềnh - (hết) mình
[dec6] - [dic6] (phin) dệch - (phiên) dịchTương ứng này tồn tại ở 219 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
- Vần [ε], ngoài cách thể hiện giống như vần tiếng Việt văn hóa, vần [ε]
phương ngữ Thanh Hóa còn được phát âm theo cách địa phương Khi phát âmvần [ε] thường kéo dài khiến vần [ε] biến thành một nguyên âm chuyển sắc [iε].Cách cấu âm bắt đầu bằng động tác lưỡi nâng cao, đầu lưỡi đưa ra phía trướcnhư cấu âm [i], sau đó lưỡi hạ độ xuống thấp như cấu âm [ε] và kết thúc ở đó.Cách phát âm này tồn tại ở hầu khắp các thổ ngữ Nông Cống, Triệu Sơn, ThọXuân
Ví dụ: [mi
6] mẹ, [tiεn6] thẹn, [kiεn5] kénVần [ε] phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với các vần [e], [a]
Tương ứng [ε] - [e]: [mε1] - [be1] me - bê
[rεn4 ] - [re3] (chổi) rẻn - (chổi ) rễ
Tương ứng [ε] - [a]: [cε1] - [ca1] che (mạy) - cha (mẹ)
Các tương ứng trên, mỗi tương ứng chỉ tồn tại ở 1vài từ nhưng phổ biến ởhầu khắp các thổ ngữ Riêng tương ứng [] - [a] chỉ xuất hiện ở thổ ngữ XuânLập
*Các vần nguyên âm dòng sau - không tròn môi
- Vần [] Phần lớn ở phương ngữ Thanh Hóa, vần [] được thể hiện như
vần của tiếng Việt văn hóa Ở thổ ngữ Xuân Yên, Thọ Trường, Xuân Trường…(Thọ Xuân), Quảng Tân, Quảng Phú (Quảng Xương)…Vần [] còn được phát
Trang 34âm theo cách địa phương Khi phát âm vần [] được thể hiện thành một nguyên
âm có tính chất như nguyên âm chuyển sắc [] Vần địa phương có đỉnh vần lànguyên âm lướt, bắt đầu bằng một động tác cấu âm lưỡi nâng vừa, dòng sau,không tròn môi như [], sau đó lưỡi chuyển đổi vị trí, đưa lên cao, độ mở hẹpnhư []
Ví dụ: [k3] (đầy) cữ, [2] nhừ (tử)
Ngoài ra, ở phương ngữ Thanh Hóa và tiếng Việt văn hoá, một số đơn vị
từ vựng hiện đang tồn tại hai cách phát âm: ờ/ ừ, hờ/ hừ, hở/ hử, thơ/ thư, (chứng) cớ/ cứ, nớ/ nứ và chiều ngược lại: giừ/ giờ, mự /mợ…
Vần [] phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với vần [a], [ă], [u], [u],[], []
Tương ứng [] - [a]: [l4] - [la4] (mệt) lử - (mệt) lả
Tương ứng này tồn tại ở 1từ và phổ biến ở hầu hết các thổ ngữ
Tương ứng [] - [ă]: [m5] - [ăm5] nhứm - nhắm
[bp5] - [băp5] bứp - bắpTương ứng này tồn tại ở 7 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [u]: [cm6] - [cum6] chựm - chụm
[p5] - [up5] (đánh) ứp - (đánh) úpTương ứng này tồn tại ở 9 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [u]: [kht5] - [khut5] (đề) xứt - (đề) xuất
Tương ứng này tồn tại ở 4 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - []: [mn6] - [mn6] (ai) mựn - (ai) mượn
[xt5 mt5] - [xt5 mt5] sứt mứt - sướt mướtTương ứng này tồn tại ở 130 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - []: [fn6] - [fn6] (an) phựn - (an) phận
[n1] - [n1]: (mĩ) nhưn - (mĩ) nhânTương ứng này tồn tại trong nhiều từ Hiện tại, chúng tôi mới thống kêđược 213 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
- Vần [], ngoài cách thể hiện giống vần tiếng Việt văn hóa, vần [] ở thổ ngữ
Thọ Xuân, Hoằng Hóa còn được phát âm thành vần [] Nguyên âm đỉnh vần là
Trang 35một nguyên âm lướt Biến thể địa phương được bắt đầu bằng một động tác cấu
âm lưỡi nâng vừa, dòng sau, môi không tròn như cấu âm [], sau đó lưỡi đưa lêncao, với độ mở hẹp như []
Ví dụ: [m6] mợ (mự)
Vần [] Thanh Hóa còn tương ứng với vần [a], [] trong tiếng Việt văn hóa
Tương ứng [] - [a]: [ti2] - [tai4] (bao) tời - (bao) tải
Tương ứng này tồn tại ở 2 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - []: [ť1] - [ť1] (bấy) thơ - (bí) thư
Tương ứng này tồn tại ở 4 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
- Vần [a], ngoài cách được thể hiện như vần tiếng Việt văn hóa Ở các thổ ngữ
Thọ Xuân, Đông Sơn, Triệu Sơn…vần [a] phát âm thành vần [e] Cách phát âmđịa phương có sự chuyển dịch giữa các nguyên âm cùng dáng môi nhưng khácdòng, từ dòng sau không tròn môi lên dòng trước Độ nâng của lưỡi từ thấp nânglên độ nâng vừa
Ví dụ: [be2] bà, [ŋe3] ngã
Vần [a] phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với vần [i], [ă], [ie], [u], [o], [],[uo], [e], [], []
Tương ứng [a] - [i]: [ta1] - [ti1] (mới) tanh - (mới) tinh
[da1] - [di1] (búa) đanh - (búa) đinhTương ứng này tồn tại ở 2 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - [ă]: [ca6] - [căn6] cạnh (kẽ) - cặn (kẽ)
Tương ứng này tồn tại ở một từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - [ie]: [ma5] - [mieŋ5] mánh - miếng
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - [u]: [mau2] - [mu2] (mịt) màu - (mịt) mù
Tương ứng này tồn tại ở từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - [o]: [ŋau2] - [ŋoi2] ngàu - ngồi
Tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - [ε]: [a5] - [ε5] nhá - nhé
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Trang 36Tương ứng [a] - [uo]: [ban1] - [buoi4] ban (sáng) - buổi (sáng)
Tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - [e]: [ba6] - [be6] bạnh - bệnh
Tương ứng này tồn tại ở 35 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - []: [bau2] - [bu2] bàu - bầu
[au6] - [u6] (ăn) nhạu - (ăn) nhậuTương ứng này tồn tại ở 118 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [a] - []: [daŋ2] - [dŋ2] đàng - đường
[nak5] - [nk5] nác - nướcTương ứng này tồn tại ở 32 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
* Các vần nguyên âm dòng sau - tròn môi
- Vần [u], ngoài cách thể hiện giống với vần của tiếng Việt văn hóa thì ở các thổ
ngữ Quảng Châu, Quảng Cát (Quảng Xương), Minh Sơn, Dân Lực (Triệu Sơn)
…,vần [u] còn tương ứng với vần [u] Vần địa phương có sự biến đổi về dángmôi từ dòng sau tròn môi [u] sang dòng sau không tròn môi [u] Từ độ nângcao hạ xuống độ nâng vừa có độ chạm chặt giữa nguyên âm đỉnh vần với kếtvần là bán phụ âm [-u] tròn môi
Ví dụ: [ţu6] triệu (phú), [mu3] (cái) mũ
Tương ứng này tồn tại ở 24 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Vần [u] phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với các vần [o], [uo]
Tương ứng [u] - [o]: [tun5] - [toi5] (bóng) tún - (bóng) tối
[tui1] - [toi1] (bày) tui - (bày) tôiTương ứng này tồn tại ở 27 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [u ] - [uo]: [mui6] - [muoi6] (ám) mụi - (ám) muội
[uŋ5] - [uoŋ5] (ăn) úng - (ăn) uốngTương ứng này tồn tại ở 160 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
[ťu1] - [ťuo1] (ăn) thu - (ăn) thua [mu2] - [muo2] (được) mù - (được) mùa
- Vần [o] Hầu hết các thổ ngữ, vần [o] được phát âm không có gì khác biệt so
với vần tiếng Việt văn hóa tương ứng
Trang 37Vần [o] phương ngữ Thanh Hóa tương ứng với các vần [u], [wa], [au], [a] [oi],[u].
Tương ứng [o] - [u]: [ţok5] - [du2] (tua) trốc - (to) đầu
[mo1] - [du1] (biết) mô - (biết) đâuTương ứng này tồn tại ở 2 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [o] - [wa]: [hoi1] - [hwa4] (dầu) hôi - (dầu) hoả
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [o] - [au]: [vo1] - [vau2] (thèm) vô - (thèm) vào
Tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [o] - [a]: [hot6] - [hat6] hột - hạt
Tương ứng này tồn tại ở 2 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [o] - []: [non5] - [nn5] nốn - nón
[khon5] - [kht5] xốn (ruột) - xót (ruột)Tương ứng này tồn tại ở 2 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [o] - [oi]: [to1] - [toi1] (vôi) tô - (vôi) tôi
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [o] - [u]: [hoŋ2] - [huŋ2] (anh) hồng - (anh) hùng
[fok6] - [fuk6] (âu) phộc - (âu) phục Tương ứng này tồn tại ở 129 từ và phổ biến ở các thổ ngữ Thọ Trường, ĐôngQuang, Vạn Thắng (Thọ Xuân)
- Vần [] Vần [] được thể hiện thành nguyên âm chuyển sắc [uo] Cách phát
âm này bắt đầu bằng nguyên âm ở vị trí cao nhất [u] rồi lướt nhẹ sang và hạ dầnđầu lưỡi xuống một vị trí thấp hơn [o]
Ví dụ: [tuo1] to, [muo2] (tối) mò
Cách phát âm này phổ biến ở các thổ ngữ Nông Cống, Triệu Sơn, và một
số thổ ngữ ở Hoằng Hóa, Quảng Xương
Vần [] còn tương ứng với các vần [e], [u], [wă], [n], [uo], [o], [wa]
Tương ứng [] - [e]: [bŋ4] - [be5] bỏng - bế
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [u]: [fk6] - [fuk6] (kếnh) phọc - (kính) phục
Trang 38Tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [wă]: [ŋ:k6] - [ŋwăk6] ngoọc - ngoặc
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [n]: [b4] - [bn5] bỏ (phân) - bón (phân)
Tương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [uo]: [mn3] - [muoi3] mõn - muỗi
[lk6] - [luok6] lọc - luộc [l6] - [luo5] lọ - lúaTương ứng này tồn tại ở 16 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [o]: [dc6] - [doc6] (ác) đọc - (ác) độc
Tương ứng này tồn tại ở 133 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [] - [wa]: [h:n6] - [hwan6] (bệnh) họn - (bệnh) hoạn
[h:2] - [hwa2] (chủ) hò - (chủ) hoàTương ứng này tồn tại ở 232 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
* Vần các nguyên âm chuyển sắc
Qua khảo sát chúng tôi thấy các vần nguyên âm chuyển sắc phương ngữThanh Hóa có những biến thể địa phương
[ie] [] [uo]
[ε] [i] [a] [] [] [u]Tương ứng [ie] - [ε], [] - [a], [uo] - [] chỉ tồn tại ở một bộ phận từ vựng
kiểu ẻ/ ỉa, lả/ lửa, ná/ nứa, ngả/ ngửa, ló/ lúa và được phát âm khá bảo thủ ở hầu
hết các thổ ngữ Tân Lâm, Xuân Thành, Thọ Trường (Thọ Lâm) Ở thổ ngữQuần Đội, Quần Lai (Thọ Điền), Nam Giang các vần nguyên âm chuyển sắcđược phát âm thành vần có nguyên âm thuần sắc, độ nâng của lưỡi cao hơn [ie] -[i], [] - [], [uo] - [u]
Ví dụ: Vần [ie] > [i]: [mie5] > [mi5] mía > mí
[cie1] > [ci1] (ăn) chia > (ăn) chiVần [] > []: [kh1] > [kh1] (cổ) xưa > (cổ) xư
[h5] > [h5] hứa (hôn) > hứ (hôn)
Trang 39Vần [uo] > [u]: [muo1] > [mu1] mua > mu
[cuo1] > [cu1] (cà) chua > (cà) chuBiến thể địa phương [ie] > [i]; [] > [a], []; [uo] > [], [u] theo Hoàng
Thị Châu đây là hiện tượng đơn hóa nguyên âm đôi Trong lịch sử ngữ âm tiếng Việt quá trình chuyển hóa một số nguyên âm đã xảy ra theo hướng từ nguyên
âm mở đến nguyên âm khép và cái cầu chuyển tiếp là nguyên âm đôi [8, tr.197].
Có thể nói, một số tương ứng hiện vẫn bảo lưu ở các thổ ngữ Thanh Hóa, cho tathấy trong quá khứ đã có sự biến đổi từ nguyên âm đơn mở đến nguyên âm khép
hơn: ε > ie, a > , > uo như mẹng/ miệng, lả/ lửa, nác/ nước, ló/ lúa Cũng
như ở các phương ngữ khác của tiếng Việt, nguyên âm đôi đó lại tiếp tục mộtbước phát triển mới, biến đổi thành các nguyên âm đơn khép: [ie] > [i], [] >[], [uo] > [u] Sự dao động và chuyển hóa không ngừng của các nguyên âm đôi
trong lịch sử tiếng Việt được Hoàng Thị Châu gọi đó là hình xoắn ốc: từ nguyên
âm đơn biến thành nguyên âm đôi, để rồi trở lại một nguyên âm đơn khác, cókhuynh hướng và theo quy luật chứ không tuỳ tiện lộn xộn: [ε] > [ie] > [i]; [a] >[] > []; [] > [uo] > [u] Quá trình biến đổi này rất phù hợp với thực tế phát âm
ở các phương ngữ Thanh Hóa ít nhất đã diễn ra trong 5 thế kỷ trở lại đây [8,
tr.198] Như vậy có thể nói, những biến thể địa phương từ nguyên âm đang tồntại trong cách phát âm ở các phương ngữ Thanh Hóa chính là dấu tích của tiếngViệt thế kỷ XVII
b Vần nửa mở
Vần nửa mở hay còn gọi là vần phức nửa mở là những vần kết thúc bằngmột yếu tố bán phụ âm tính Trong các vần nửa mở, từ đỉnh vần đến cuối vần có
sự xê dịch trong cấu âm Theo TS Nguyễn Hoài Nguyên thì hiện tượng này tạo
thành một sự tương phản âm thanh giữa đỉnh vần và kết vần [30, tr.105].
Phương ngữ Thanh Hóa có mặt đầy đủ 20 vần nửa mở như tiếng Việt văn hóađược thể hiện trên chữ viết
iêu ươu ươi uôi
âu ây
Trang 40êu ơu ơi ôi
au ay
Sự thể hiện các vần nửa mở ở phương ngữ Thanh Hóa có các nét địa phương:
* Các vần nửa mở có kết âm [-u]
- Các vần [iu], [eu], [εu] phát âm giống như các vần tiếng Việt văn hóa
tương ứng
Vần [iu] Thanh Hóa còn tương ứng với vần [au], [u], [wiu]
Tương ứng [iu] - [au]: [biu4] - [bau4] (chỉ) bỉu - (chỉ) bảo
Tương ứng này tồn tại ở 5 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ HoaLộc, Hưng Lộc (Hậu Lộc), Hoằng Hóa, Đông Sơn, Triệu Sơn
Tương ứng [iu] - [u]: [iu6] - [u6] (nát) rịu - (nát) rượu
[biu5] - [bu5] bíu (cổ) - bướu (cổ)Tương ứng này tồn tại ở 3 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Tương ứng [iu] - [wiu]: [xiu4] - [xwiu4] (khúc) khỉu - (khúc) khuỷuTương ứng này tồn tại ở 1 từ và phổ biến ở hầu khắp các thổ ngữ
Vần [eu] phương ngữ Thanh Hóa còn tương ứng với vần [wεu] trongtiếng Việt văn hóa
Ví dụ: [xeu2] - [xwεu2] khều - khoèo
Tương ứng [eu] - [au]: [beu5] - [5] (trình) bếu - (trình) báo
[beu1] - [bau1] bêu (nhiêu) - bao (nhiêu) [keu1] - [kau1] kêu (lớn) - cao (lớn)Tương ứng này tồn tại trong 14 từ và phổ biến ở thổ ngữ Xuân Yên, PhúYên (Thọ Xuân)
- Vần [ieu]
Ngoài cách phát âm như vần tiếng Việt văn hóa tương ứng, các thổ ngữvần [ieu] ở các thổ ngữ Đông Sơn, Quảng Xương, Thọ Xuân được phát âmthành vần [iu] Nguyên âm đỉnh vần có xu hướng giản lược, đơn hóa, có độ mởhẹp hơn vần tiếng Việt văn hóa, giữa nguyên âm đỉnh vần và kết vần có độchạm chặt