1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng giới tính biểu hiện qua tục ngữ, ca dao việt nam

81 2,7K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng giới tính biểu hiện qua tục ngữ, ca dao Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Nhung Quyên
Người hướng dẫn PGS. TS Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 248 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ý kiến này đợc thể hiện trong bài viết "Thêm một cách nhìn về một số biểu hiện của sự kì thị giới tính trong việc sử dụng tiếng Việt" Tài liệu tra trên mạng Internet, tác giả lại chứng m

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học Vinh

Nguyễn Thị Nhung Quyên

đặc trng giới tính biểu hiện Qua tục ngữ, ca dao việt nam

lòng cảm ơn chân thành tới PGS TS Phan Mậu Cảnh- ngời

hớng dẫn, xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô và các bạn.

Trang 2

Vinh, ngµy 09 th¸ng 9 n¨m 2006

T¸c gi¶

Trang 3

Chơng 1 Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài 7

Chơng 2 Các quan niệm của xã hội về giới tính thể hiện trong tục ngữ,

ca dao Việt Nam

23

1 Quan niệm của xã hội về giới tính thể hiện qua tục ngữ 23

2 Quan niệm của xã hội về giới tính thể hiện qua ca dao 44Chơng 3 Các đặc trng về giới tính và sự kỳ thị giới tính qua tục ngữ,

ca dao Việt Nam

72

1 Các đặc trng về giới tính thể hiện qua tục ngữ, ca dao 72

2 Sự kỳ thị giới thể hiện qua tục ngữ, ca dao Việt Nam 80

Trang 4

tiếng hát yêu thơng tình nghĩa; là lời than vãn về thân phận tủi nhục, cay

đắng, là niềm lạc quan tin tởng vào tơng lai, là lời phản kháng thế lực,tình yêu nam nữ, tình yêu quê hơng đất nớc là những kinh nghiệm quýbáu đúc rút từ ngàn đời… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiệnhữu và nuôi dỡng mọi thế hệ con ngời trên đất nớc Việt Nam thân yêu

Do vị trí đặc biệt quan trọng của tục ngữ, ca dao trong kho tàng vănhọc dân gian cũng nh trong lòng độc giả thởng thức, cho nên, việc tìmhiểu tục ngữ, ca dao ở bất kỳ phơng diện nào cũng đợc xem là một bớckhám phá rất có ý nghĩa Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao,tục ngữ từ nhiều góc độ Có một mảng đề tài phản ánh nhận thức, tìnhcảm của xã hội thể hiện trong tục ngữ, ca dao khá đậm nét là đặc trng giớitính

Trong những năm gần đây ngôn ngữ học xã hội - một ngành mớiphát triển rất quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ giới tính, nhng giới tính thểhiện qua tục ngữ, ca dao nh thế nào thì vẫn là một câu hỏi cần có sự giải

đáp cụ thể qua điều tra, khảo sát, phân tích t liệu

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đền tài tìm hiểu "Đặc trng giớitính biểu hiện qua tục ngữ, ca dao Việt Nam"

2 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Mục đích của đề tài

- Nhằm góp phần tìm hiểu một lĩnh vực còn khá mới mẻ và thú vịtrong nghiên cứu ngôn ngữ (từ góc độ ngôn ngữ học xã hội)

Trang 5

- Nhằm góp phần tìm hiểu một khía cạnh mới từ ca dao, tục ngữ, giớitính thể hiện trong sáng tác dân gian này phong phú nh thế nào ?

- Qua đó, nhằm khẳng định thêm những biểu hiện phong phú về tâmhồn, tình cảm, t tởng quan niệm của dân gian qua tục ngữ, ca dao ViệtNam

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

a Tổng hợp những quan niệm về giới tính (nam / nữ) thể hiện trongtục ngữ, ca dao Việt Nam

b Thống kê phân loại và miêu tả các biểu hiện của giới tính qua

hệ thống từ ngữ, nội dung phản ánh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam

c Bớc đầu nêu vấn đề kỳ thị giới tính thể hiện qua tục ngữ, ca daoViệt Nam

3 Phơng pháp nghiên cứu và su tầm

Với nhiệm vụ mà luận văn này đã đặt ra, chúng tôi sử dụng nhiềuphơng pháp kết hợp hoặc độc lập theo nội dung và công đoạn nghiên cứu

- Phơng pháp khảo sát thống kê phân loại: Phơng pháp này dùng

để su tập t liệu từ các nguồn ngữ liệu đã nêu, sau đó tiến hành phân loạitheo những tiêu chí nhất định mà nhiệm vụ đề tài đặt ra Chẳng hạn:

Trong cuốn sách: Ca dao trữ tình Việt Nam (hơn 500 trang do Vũ Dung chủ biên - NXB Giáo dục - 1998) và cuốn "Kho tàng tục ngữ ngời Việt"

(tập 1,2 do tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thuý Loan, Phan Văn

H-ng, Nguyễn Luân biên soạn, NXB Văn hoá - Thông tin, 2002), để tìm raquan niệm giới tính của ca dao, tục ngữ, trớc hết chúng tôi thống kê tất cảnhững câu nói về giới tính, thuộc về giới tính Sau đó chúng tôi đi vàochọn lọc, tuyển lựa những câu tiêu biểu nhất, bộc lộ rõ nhất quan điểmgiới tính của dân gian

Trang 6

Bên cạnh hai tài liệu cơ bản này, chúng tôi còn tham khảo thêm

một số tài liệu khác nh cuốn Tục ngữ - Ca dao của Vũ Ngọc Phan và một

số công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao nói chung

- Phơng pháp phân tích, miêu tả: Trong quá trình khám phá, tìmhiểu những câu ca dao, tục ngữ biểu hiện quan niệm giới tính, chúng tôidùng phơng pháp phân tích và miêu tả các dẫn chứng và các nguồn t liệukhác nhau để làm sáng rõ các luận điểm đã nêu, từ đó đa ra kết luận nhất

định

- Phơng pháp so sánh, đối chiếu… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Song song với việc phân tíchngôn ngữ giới tính nữ, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu với ngôn ngữgiới tính nam, hoặc so sánh ngôn ngữ của một giới trong các giai đoạnkhác nhau… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện

4 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 3

ch-ơng

Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chơng 2: Các quan niệm về giới tính của xã hội thể hiện trong tục ngữ, ca dao Việt Nam

Chơng 3: Các đặc trng về giới tính và sự kỳ thị giới tính thể hiện quangôn ngữ tục ngữ, ca dao Việt Nam

Trang 7

Ch ơng 1 những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

1 Khái niệm giới tính và ngôn ngữ giới tính

1.1 Khái niệm giới tính

Theo truyền thuyết, lịch sử nhân loại đợc đánh dấu bằng sự xuấthiện của A đam và Eva sau khi tự ý ăn trái cấm thì nhân loại cứ tăngdần… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Cho đến ngày nay, con cháu của Ađam và Eva vẫn không ngừngphát triển, và đợc gọi là Con Ngời

Nhng có một điều đặc biệt là con ngời luôn đứng ở hai thái cực âm

- dơng đều đặn Một nửa thế giới này là đàn ông và nửa kia là đàn bà

Vậy, giới tính (sex, sexizm) là gì? Theo các tài liệu mà chúng tôi

có dịp tiếp thu, có thể hiểu:

Về mặt lý luận, "giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ vềchủng tộc, trong tầng bậc xã hội, luật pháp và thói quen thể chế giáo dục

mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp xã hội, phát triển xã hội và nhậnthức, vai trò trong gia đình và công sở, phong cách xử sự, quan niệm vềcái tôi, phân bố về nguồn lực, giá trị thẩm mỹ, đạo đức và nhiều vấn đềkhác nữa Về mặt thực tiễn, vấn đề giới tính liên quan mật thiết đến sựthay đổi về quan niệm và đời sống vị thế ở cả gia đình cũng nh ngoài xãhội giữa nam và nữ Sally Me Connell Ginet (Nguyễn Văn Khang, trang144) "Giới tính không những chỉ tính hai mặt mà còn chỉ tính hai cực củacon ngời và sự căng thẳng nội tại của nó" (Jean Chevalier, Alain Gheer -Brant; trang 364)

Thế giới tự nhiên do hai thái cực hiện hữu, khi đi vào thế giới nghệthuật hai thái cực này dờng nh vẫn song song tồn tại với nhau, và con ngờikhông chỉ có sự phân biệt thái cực mà kéo theo đó là những sự phân biệtkhác tuỳ vào mỗi thời đại, mỗi lĩnh vực mà ngời ta có những suy nghĩ,những đánh giá, những hình ảnh, hình tợng… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Hay nói cách khác là ngời

ta có những khái niệm khác nhau về giới tính

Trang 8

Đối với xã hội Phơng Đông thời phong kiến, ngời ta có những quy

định có thể nói là rất hà khắc cho mỗi con ngời Ngời phụ nữ gắn với "Tứ

đức tam tòng", còn ngời đàn ông gắn với "Tam cơng ngũ thờng" Đó làtiêu chí bất di bất dịch cho tất cả mọi con ngời trong xã hội trung đại Sựkhác biệt giới tính đợc thể hiện rất nhiều lĩnh vực Trớc hết là việc đặt têncho mỗi giới Việc đặt tên cho hai giới không chỉ có ý nghĩa phân biệtgiới tính mà một phần nào đó nói lên trách nhiệm mà mỗi giới phải hoànthành

Nam đợc gắn với "Văn" có nghĩa là khát vọng ngời đàn ông thành

đạt trên con đờng nghiên bút Trách nhiệm của ngời đàn ông thời bấy giờ

đợc đánh giá bằng kết quả khoa cử, quan trờng

Nữ đợc gắn với "Thị" ấy là mong ớc có nhiều con Thời phong kiếnngời phụ nữ mẫu mực là ngời phụ nữ sinh đợc nhiều con; đặc biệt là contrai nối dõi tông đờng

Xã hội phong kiến đơng thời chấp nhận một thực tế:

"Trai nam thê bảy thiếp Gái chính chuyên thủ tiết chờ chồng"

Mãi sau này, đến thời "Nguyễn Đình Chiểu" vẫn còn quan niệm:

"Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình"

Vào lúc này ngời ta xem giới tính là một vấn đề trọng đại, mỗi giớigắn với một chuẩn mực, và nhất thiết hai giới phải:

"Nam nữ thọ thọ bất tơng thân"

Cho nên Lục Vân Tiên mới nói với Kiều Nguyệt Nga rằng:

"Khoan khoan ngồi đó chớ ra Nàng là phận gái, ta là phận trai"

Trang 9

Cách ứng xử này nếu đặt trong thời đại này đã có sự thay đổi Nhng

đó lại là chuẩn mực thời bấy giờ Cũng chính vì thế mà ngời ta xem hành

động "Xăm xăm băng lối vờn khuya một mình" của nàng Kiều là "Tắcdâm":

"Nam đáo nữ phòng nam tắc loạn Nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm"

Đến thời hiện đại thì quan niệm về giới tính có phần phóng khoánghơn, đó là "Nam nữ bình quyền" Dờng nh lúc này mọi quy định thờiphong kiến đã trở nên lỗi thời Lúc này tiêu chí về mỗi giới là "Chấpchính tòng quyền" (chấp hành quy định nhng có những thay đổi tuỳ vàohoàn cảnh, đối tợng - Khổng Tử)

Nh vậy, giới tính là một vấn đề liên quan nhiều mặt trong xã hộiloài ngời, và đó là một thực tế, một lẽ đơng nhiên

1.2 Giới tính và ngôn ngữ

Nghiên cứu về giới tính, về mặt lý luận cũng nh thực tiễn, ta có thểthấy một điểm nổi bật: Giới tính không chỉ thể hiện qua hình thức, cấu tạotính tình của con ngời mà còn đợc thể hiện qua ngôn ngữ

Giới tính thể hiện ở cấu tạo cơ thể con ngời, trong đó có cấu tạocủa bộ máy phát âm Chẳng hạn: Giọng nam thì "ồm ồm", giọng nữ thì

"the thé" Nghe giọng nói, ngời ta cũng có thể phân biệt đợc nam hay nữ

Quan niệm của mọi ngời về mỗi giới cũng khác nhau Những quanniệm ấy có từ lâu đời, chúng kết thành những "Định kiến" Và điều đócũng thể hiện rất rõ qua ngôn từ (vốn từ vựng) chẳng hạn:

- Phái mạnh, mạnh mẽ, táo tợn, táo bạo… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện ờng dùng để chỉ namthgiới

- Phái yếu, yểu điệu, thớt tha, đanh đá… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện ờng dùng để chỉ nữ giới thRồi cách dùng ngôn ngữ (trong nói năng hàng ngày) cũng thể hiệnrất rõ giới tính nữ có thiên hớng ăn nói nhẹ nhàng, tử tế, ít khi dùng

Trang 10

những từ ngữ thô tục cách nói bổ bã, sổ sàng, còn nam có xu h ớng ăn nóimạnh mẽ, lời nói thờng bổ bã, thẳng thắn.

Ta nghe một cuộc đối thoại sau đây:

Chồng: Em chuẩn bị mai về quê!

Có một sản phẩm cũng đợc tạo lập trong giao tiếp lu truyền từ đờinày sang đời khác của sáng tác dân gian, đó là ca dao và tục ngữ

Vậy ca dao, tục ngữ Việt Nam thể hiện giới tính nh thế nào? Đây làmột câu hỏi mà chúng tôi mong muốn góp phần lý giải trong luận vănnày

2 Lịch sử nghiên cứu về giới tính

Vấn đề giới tính gần đây đợc các nhà ngôn ngữ đề cập đến từ góc

độ ngôn ngữ học xã hội Trớc hết ở Việt Nam phải kể đến công trình

Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản năm 1999 của tác giả

Nguyễn Văn Khang Trong công trình của mình, ông đã dành hẳn chơng

7 bàn về vấn đề Ngôn ngữ và giới tính Có thể tóm lợc tinh thần của

ch-ơng này qua các luận điểm chính sau:

- Phong cách ngôn ngữ mà mỗi giới sử dụng chỉ xuất hiện ở sautuổi thứ năm, thứ sáu

Trang 11

- Hiện nay các nhà nghiên cứu đầu tiên về phong cách ngôn ngữcủa mỗi giới đều tập trung vào khảo sát phong cách ngôn ngữ nữ tính vàgọi là "phong cách nữ tính" hay ngôn ngữ nữ tính Tuy vậy, nói đếnphong cách ngôn ngữ nữ tính cũng là ngầm nói phong cách ngôn ngữ

"nam tính" Bởi muốn nêu ra đặc trng ngôn ngữ của giới này thì tất phải

có sự so sánh dù là không công khai với đặc trng ngôn ngữ của giới kia.Nữ tác giả đi tiên phong trong hớng tiếp cận này là nhà ngôn ngữ học ng-

ời Mĩ R Lakoff

- Khảo sát sự khác biệt về giới tính trong ngôn ngữ không thể táchrời ngữ cảnh giao tiếp Trong quan hệ giao tiếp - theo nghĩa rộng là hoàncảnh xã hội, theo nghĩa hẹp là văn cảnh cụ thể các nhân tố nh nghềnghiệp, trình độ văn hoá, tuổi tác, tính cách, mục đích của ngời sử dụngngôn ngữ đều có thể ảnh hởng đến phong cách ngời nói Vì thế, không thểlấy một vài đặc điểm của lời nói có tính chất nữ tính để quy nạp thành sựkhác biệt giới tính trong ngôn ngữ

Bài viết của Lơng Văn Hy (Trong cuốn: "Ngôn từ , giới và nhómxã hội từ thực tiễn Tiếng Việt, 2000) cũng có điểm lại ý kiến của RobinLakoff Theo bài viết, Lakoff đã đa ra nhận xét về cách sử dụng tiếng Anhcủa giới phụ nữ trung lu trong môi trờng bà sống và làm việc có nhữngkhuynh hớng nh sau:

Âm: Lên giọng ở cuối câu khẳng định (nh để trả lời câu hỏi Whattime is dinner ready - Mấy giờ rồi? Phái nữ có khuynh hớng lên giọng

cuối câu: around six o'clock - khoảng sáu giờ - tơng tự nh thêm chữ nhé)

Từ vựng: Dùng những từ làm nhẹ ý diễn đạt (nh hơi hơi - sort of) hay ở một thái cực khác là nhấn mạnh nhiều (nh cực kì thông minh - so

intelligent)

Cú pháp: Dùng những câu hỏi kèm sau khẳng định (nh He hasalready left, hasn't he?) và những câu cực kì lịch sự (Would you mindclosing the door thay vì chỉ là Close the door)

Trang 12

Đặc điểm khác: Thiếu óc hài hớc trong lúc nói chuyện.

Những đặc điểm trên đây đã làm nên sự khác biệt về cách nói vớinam giới

Tiếp sau là một số công trình nghiên cứu về giới tính ở từng phạm

vi hẹp Có thể kể tên các công trình đó nh sau:

Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ (2004) của Trần Xuân Điệp Theo

tác giả, "sự kì thị giới tính là sự đối xử không bình đẳng giữa nam giới vànữ giới thể hiện trong việc dùng ngôn ngữ" Trong Tiếng Việt có hiện t-ợng sử dụng ngôn ngữ thể hiện thái độ kì thị giới tính, thể hiện:

Tập quán dán nhãn cho những phụ nữ đã có chồng hoặc còn độc

thân là phục vụ những mục đích kỳ thị giới tính Ví dụ, hiện tợng dùng bà

với nghĩa là "vợ của … Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện", nh trong cách nói: bà Sơn nghĩa là vợ của ông

Sơn.

Trong nhiều ngôn ngữ, sự kì thị giới tính đợc thể hiện bằng một tậpquán rất phổ biến là sử dụng thiếu cân xứng những chức danh (danh hiệuchỉ nghề nghiệp, chức vụ) Điều này cũng diễn ra cả trong tiếng Việt,

nh "bà trong bà bác sĩ, bà giám đốc, bà bộ trởng dùng để đánh dấu giới

tính nữ của những ngời mang chức danh ấy, trong khi đó nếu những chứcdanh ấy mà thuộc về đàn ông thì thờng là không có hình thức đánh dấugiới tính gì cả"

Tác giả Nguyễn Hữu Thọ, trái lại, xem sự kì thị giới tính ở ViệtNam lại diễn ra đối với nam chứ không phải đối với nữ, hay nói đúng ra

thì đối với nam mạnh hơn ý kiến này đợc thể hiện trong bài viết "Thêm

một cách nhìn về một số biểu hiện của sự kì thị giới tính trong việc sử dụng tiếng Việt" (Tài liệu tra trên mạng Internet), tác giả lại chứng minh

hình ảnh ngời phụ nữ trong tâm thức ngời Việt: "Ngời Việt từ xa đã nhìnngời phụ nữ với con mắt đặc biệt u ái, đặt cho họ một vai trò hết sức quantrọng cả về gia đình cũng nh xã hội"

Trang 13

Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh không nghiên cứu biểu hiện sự

phân biệt giới tính trong tiếng Việt mà trong tiếng Nhật, Hiện tợng phân

biệt giới tính của ngời sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật Tuy tiếng Việt

và tiếng Nhật là hai ngôn ngữ khác nhau nhng lại có một số biểu hiệnphân biệt giới tính gần nhau

Tóm lại, vấn đề giới tính và ngôn ngữ giới tính đã đợc giới thiệu vàbớc đầu tìm hiểu ở Việt Nam Trong thời gian qua, dới góc độ ngôn ngữhọc xã hội đã gợi mở những hớng nghiên cứu rất thú vị và đầy triển vọng.Những kết quả và các hớng tiếp cận ấy làm cơ sở cho chúng tôi tìm hiểugiới tính thể hiện trong ca dao và tục ngữ Việt Nam

3 Một số đặc điểm của tục ngữ, ca dao Việt Nam

3.1 Tục ngữ Việt Nam

Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là

đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét dới hình thứcnhững câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễtruyền

Ví dụ:

- Tre già măng mọc

- Nói ngọt lọt tận xơng

- Quan thấy kiện nh kiến thấy mỡ

- ở bầu thì tròn, ở ống thì dài… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện

Lời ít, ý nhiều, hình thức nhỏ, nội dung lớn, tính khái quát cao; đó

là những đặc điểm nổi bật nhất của thể loại này

Tục ngữ là một hiện tợng, hình thái ý thức xã hội phản ánh nhậnthức của nhân dân lao động trải qua bao thời đại So với các thể loại kháctục ngữ là một thể loại ra đời khá sớm trong nền văn học dân gian củamỗi dân tộc trên thế giới

Trang 14

Việt Nam có một khối lợng tục ngữ rất phong phú và đa dạng, tụcngữ là nơi đúc kết trí tuệ và tâm hồn của ngời lao động Nhiều khi, mộtcâu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý mà đó còn là mộtvăn bản nghệ thuật mang giá trị cao Sự tồn tại của tục ngữ không chỉ làmphong phú đa dạng thêm cho văn học dân gian mà ở một khía cạnh nào

đó nó còn đóng góp tích cực vào sự phát triển của những thể loại khác nh

ca dao hoặc thơ ca trong văn học viết

Mỗi câu tục ngữ đều ngắn những nội dung của nó "đánh giá hàngpho sách" nh Gorki đã từng khẳng định ở đây không thể và cũng khôngnên làm công việc liệt kê, tờng thuật, miêu tả nội dung của tục ngữ Việt

mà chủ yếu và quan trọng là nhận xét và đánh giá tổng quát về nội dungấy

Không một thể loại văn học dân gian nào có phạm vi đề tài rộnglớn nh tục ngữ Hầu nh mọi lĩnh vực của đời sống và có quan hệ với conngời đều là đối tợng chú ý của tục ngữ theo chức năng của nó (các lĩnhvực đời sống vật chất, tinh thần, đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh xãhội, việc hôn nhân, tình yêu, việc sinh nở, nuôi dạy con cái, quan hệ gia

đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè, thầy trò… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện) Vì thế các nhà su tầm, biênsoạn tục ngữ ở nớc ta cũng nh nhiều nớc khác trên thế giới đều phải sắpxếp tục ngữ thành hàng trăm đề mục khác nhau theo đề tài rộng, hẹp, lớnnhỏ mà vẫn cha đủ

Hầu hết những câu tục ngữ nhiều nghĩa đều có phần "ý tại ngônngoại" (ý ở ngoài lời) Mà cái phần "ý ở ngoài lời" lại là phần đợc sử dụngchính thức của những câu tục ngữ ấy Ví dụ khi nói những câu nh "Nồi danấu thịt" hay "Cốt nhục tơng tàn" thì ngời nói cũng nh ngời nghe đều chỉdùng nghĩa bóng, chứ không ai hiểu theo nghĩa đen của chúng cả Hơnnữa, xét kĩ thì nghĩa đen của chúng cũng chỉ mang tính chất giả thiết (chỉ

có trong tởng tợng chứ không tồn tại trong thực tế) Vì trong thực tế làmgì có một loại "nồi da" để mà "nấu thịt" (hoặc "xáo thịt") (?) Những câutục ngữ thuộc loại này tiêu biểu cho bộ phận tục ngữ mang tính chất ngụ

Trang 15

ý (hay ngụ ngôn), tính chất phúng dụ (nói bóng) Ngay từ khi mới ra đờichúng đã sống và chỉ sống với nghĩa bóng mà thôi.

Bộ phận thứ hai gồm những câu đợc dùng với cả hai nghĩa songsong (nghĩa đen - nghĩa trực tiếp và nghĩa bóng - nghĩa gián tiếp) Ví dụ:

"Rút dây động rừng", "Tức nớc vỡ bờ", "Rau nào sâu ấy", "Quá mù ra a"… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Loại này ban đầu có thể chỉ xuất hiện với nghĩa đen, nhng về sau lạichủ yếu đợc dùng với nghĩa bóng

m-Nói chung, loại tục ngữ nói về các hiện tợng và quy luật tự nhiên

có tính khái quát cao, phần lớn đều có thể đợc dùng theo nghĩa bóng đểnói về những hiện tợng và quy luật xã hội ở đây, nói chung tính chất ngụ

ý không nằm trong dụng ý sáng tác ban đầu của tác giả dân gian, mà nảysinh về sau trong cách hiểu của ngời sử dụng Không phải bất kỳ tục ngữnào cũng có thể nảy sinh (hay phát sinh) nghĩa bóng Hiện tợng này chỉ

có thể diễn ra đối với những câu tục ngữ có tiềm ẩn khả năng mở rộngnghĩa Đó là những câu đợc nói bằng hình tợng mà hình tợng ấy lại cókhả năng trở thành ẩn dụ hay phúng dụ, chứa đựng nghĩa bóng Ví dụnhững câu "Cây muốn lặng, gió chẳng muốn dừng", hoặc "Rút dây độngrừng", "Tức nớc vỡ bờ"… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện đều có khả năng mở rộng nghĩa Những từ chỉ

sự vật cụ thể (nh "Cây", "Gió", "Dây", "Rừng", "Nớc", "Bờ") dù ngời sángtác ban đầu chỉ dùng theo nghĩa đen, thì những ngời sử dụng về sau vẫn

có thể và có quyền hiểu theo nghĩa bóng với những mức rộng hẹp khácnhau, tuỳ theo từng trờng hợp, từng văn cảnh (hay ngữ cảnh) cụ thể Cònnhững câu nh "Khoai a lạ, mạ a quen", "Gió đông là chồng lúa chiêm.Gió bấc là duyên lúa mùa", "Trời nắng tốt da, trời ma tốt lúa"… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện không cókhả năng mở rộng nghĩa (vì nghĩa đen đã đợc xác định chặt chẽ, khép kín,không có chỗ cho nghĩa bóng "ngụ" vào đợc)

Tính nhiều nghĩa của tục ngữ gắn chặt với những đặc trng cơ bảncủa thể loại này (nh tính tự phát, tính tập thể, tính hàm súc, giàu hình t-ợng) Nội dung ý nghĩa của mỗi câu tục ngữ không chỉ lệ thuộc vào cách

Trang 16

hiểu của ngời sáng tác ban đầu, mà còn lệ thuộc rất nhiều vào quan niệm

và cách dùng của những ngời sử dụng về sau

Nói tục ngữ có tính nhiều nghĩa là nói theo cách nhìn đồng đại

Đúng ra phải nói tục ngữ có tính mở rộng nghĩa (mở rộng nghĩa trong thờigian, không gian của quá trình sử dụng tục ngữ) Do đặc điểm này màmỗi câu tục ngữ không chỉ là kết quả, là sản phẩm trí tuệ của một ngời,một địa phơng, một thời kỳ lịch sử nhất định mà còn là phơng tiện diễn

đạt, thể hiện kinh nghiệm, tri thức, quan niệm của nhiều ngời thuộc nhiều

địa phơng và thời kỳ lịch sử khác nhau Nhìn chung, số lợng kinh nghiệm

và tri thức đúc kết, phản ánh trong kho tàng tục ngữ của mỗi địa phơng,mỗi dân tộc lớn hơn rất nhiều so với số lợng những câu tục ngữ mà họ đãsáng tác và lu giữ Lời ít, ý nhiều và đặc điểm của từng câu cũng nh củatoàn bộ tục ngữ mỗi dân tộc

Không chỉ là kho kinh nghiệm, kho tri thức vô cùng phong phú vàquý giá, tục ngữ còn là một kho mĩ từ pháp, một kho kinh nghiệm sửdụng lời nói để tổng kết tri thức, diễn đạt t tởng rất lâu đời, phong phú và

đậm đà bản sắc dân tộc của nhân dân

3.2 Ca dao Việt Nam

Ca dao là nguồn thơ dân gian vô tận, có lịch sử lâu đời và sức sốngmạnh mẽ Chúng ta có thể hình dung ca dao Việt Nam nh một dòng sônglớn, bắt nguồn từ hàng trăm con sông, thậm chí hàng ngàn con sông, consuối ca dao, dân ca của các địa phơng, các vùng, miền trong cả nớc Cadao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân trong trờng kỳlịch sử dân tộc Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số lợng tác phẩm mà cònhết sức phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật

Trong dòng văn học dân gian, ca dao đợc coi là một trong nhữngdòng chính của thơ ca trữ tình Với tính chất là thơ ca trữ tình, ca daomang một đặc điểm nổi bật đó là lối trữ tình trò chuyện ở ca dao, dù kếtcấu theo lối đối đáp hay lối kể chuyện, chủ thể trữ tình ẩn hay hiện, ta

Trang 17

luôn thấy bóng dáng một nhân vật đang trò chuyện, tức là kể chuyện hoặcgiải bày cảm nghĩ, tâm tình của ngời khác.

Trong quá trình biểu hiện, giá trị độc đáo của ca dao là ở chỗ, nóphản ánh chân thực tâm hồn, khí sắc dân tộc Sinh ra giữa thiên nhiênkhắc nghiệt, sống triền miên trong xã hội hà khắc, là trải qua bao chiếntranh loạn lạc, dân tộc này không thể không nói đến khổ đau và căm giận,nhng cội nguồn và sức mạnh của nó lại chủ yếu là chất tơi sáng, rắn rỏicủa tâm hồn tình bầu bạn, là tình cảm yêu thơng, là tình nghĩa thuỷchung, là lòng trung hậu với gia đình, quê hơng đất nớc

Ngoài những đặc điểm nêu ở trên, trong ca dao chủ thể trữ tình chaphải là một cá nhân riêng lẻ, cha phải là một con ngời có thể khai thácnhững suy nghĩ và tình cảm của mình ở những góc độ riêng t, mà cácnhân vật trữ tình còn gắn bó không tách rời với đời sống nhân dân, cònhoàn toàn đắm mình trong môi trờng của nhân dân và chỉ là tính cách, làchủ thể khách quan, qua đó biểu hiện chất trữ tình của đời sống nhân dân.Vì vậy, ta chỉ thấy ở ca dao một số nhân vật trữ tình nhất định, những conngời cùng cảnh ngộ Ca dao là những tiếng hát cất lên từ chính trái timmình của những chàng trai, cô gái trong quan hệ tình duyên, những ngờiphụ nữ, kẻ làm con, ngời làm dâu, ngời làm vợ, làm mẹ trong nghịch cảnh

về hôn nhân gia đình, những ngời lao động trong công việc làm ăn, trên

đồng ruộng hay trên sông nớc, trong cảnh ngộ nghèo khó

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xemdồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả vềnhững khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu cadao Việt Nam mà hiểu biết đợc Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, làkhuôn thớc cho lối thơ trữ tình của ta Tình yêu của ngời lao động ViệtNam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái,yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nớc, yêu lao động,yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Không những thế, ca dao cònbiểu hiện t tởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội,

Trang 18

trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự trởngthành của t tởng ấy qua các thời kỳ lịch sử.

Trong thời phong kiến, quyền sống của con ngời luôn luôn bị chà

đạp, phụ nữ Việt Nam thời xa là những ngời khổ cực nhất, cho nên trong

ca dao và dân ca, những tiếng oán ghét, chống đối, hầu hết là tiếng nóicủa phụ nữ

Ca dao là những bài thờng thờng ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay támcâu, âm điệu lu loát và phong phú Dới hình thức truyền miệng, ca dao đã

đợc qua nhiều ngời, nhiều thế hệ sửa chữa, nhng nó vẫn giữ đợc chủ đề ttởng và tính chất mộc mạc Ca dao có nhiều thể, mà nhiều hơn cả là thểsáu tám, thể bốn chữ và thể hai bảy sáu tám cũng có, nhng không nhiều

Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vừa sát lại vừa thanh thoát,không gò ép, lại giản dị và rất tơi tắn Nó có vẻ nh lời nói thờng mà lạinhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả đợc những tình cảm sâu sắc Cadao của ta đã lợi dụng rất đúng chỗ những âm thanh, nhạc điệu của tiếngViệt ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên khi tả ngời, tả việc, tảtiếng kêu, tả cảnh rất tài tình

Tóm lại, ca dao là tấm gơng phản chiếu tâm hồn, tâm trạng củanhân dân, dân tộc Giá trị độc đáo này, điểm nổi bật về nội dung này gắnliền với bản chất trữ tình của nó Theo F Hê ghen, thơ ca dân gian hợpthành một trong những dòng chính của thơ trữ tình Tuy nhiên, cũng theo

Hê ghen: "Bài hát dân gian dù có biểu hiện một tâm trạng cô đọng nhất

cũng không cho ta thấy, qua cái biểu hiện ấy, một cá nhân riêng biệt" ; ở

đây, "cá nhân còn gắn bó không tách rời với cộng đồng" và chỉ là, với t

cách là chủ thể trữ tình, cái tiếng nói qua đó biểu hiện cảm hứng trữ tình của đời sống dân tộc" Nh vậy, mặc dù tính chất trữ tình, nghĩa là "chủ

quan", của nó, cảm xúc và tình cảm trong ca dao không phải là cảm xúc

và tình cảm của một cái tôi cá nhân riêng biệt mà của một quần thể, mộtcộng đồng

4 Tục ngữ, ca dao và vấn đề giới tính

Trang 19

Trong văn học dân gian nói chung và trong ca dao, tục ngữ nóiriêng thì ngoài một mảng đề tài phổ biến là thể hiện tình cảm (ca dao) vàtri thức, kinh nghiệm (tục ngữ), ca dao, tục ngữ còn có một số lợng khálớn dành riêng để bàn về hai giới.

Để tiến hành tìm hiểu về quan niệm giới tính đợc thể hiện trong cadao, tục ngữ, và sự thể hiện giới tính cũng nh sự kỳ thị giới tính trong cadao, tục ngữ, chúng tôi đã tiến hành su tầm, thống kê và phân loại các câu

ca dao, tục ngữ Việt Nam có liên quan đến đề tài này Kết quả nh sau:

Trong cuốn Ca dao trữ tình Việt Nam do Vũ Dung biên soạn, NXB

Giáo dục - 1998

Chúng tôi đã su tầm đợc 210 câu ca dao nói về giới tính Trong đócó:

- 117 câu dành riêng cho giới nữ

- 64 câu dành riêng cho giới nam

- 39 câu để chỉ chung cho cả hai giới

- Trong số 16.311 câu tục ngữ trong tập Kho tàng tục ngữ ngời Việt

(2 tập) do tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan

H-ơng, Nguyễn Luân biên soạn, NXB Văn hoá - Thông tin, 2002 chúng tôithống kê đợc: 1124 câu gắn với giới tính, chiếm 14,51% Trong đó có:

- 636 câu dành riêng cho nữ giới

- 485 câu dành riêng cho nam giới

Trang 20

- Quan niệm của xã hội về giới tính và những biểu hiện của giớitính thể hiện trong tục ngữ.

- Quan niệm của xã hội về giới tính và những biểu hiện của giớitính thể hiện trong ca dao

Sau đây là các phần cụ thể:

1 Quan niệm của xã hội về giới tính thể hiện qua tục ngữ

1.1 Quan niệm của xã hội đối với nam giới

1.1.1 Quan niệm về hình thức

Ngời xa không đề cao hình thức ngời đàn ông lắm nhng vẫn có sựquan tâm, đánh giá nhất định Việc đánh giá này chủ yếu đặt trong quan

hệ so sánh với ngời con gái: Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng

miệng tan hoang cửa nhà; Đàn ông rộng miệng thì tài, đàn bà rộng miệng

điếc tai láng giếng; Đàn bà tốt tóc thì sang, đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu Đàn ông không không râu bất nghì, đàn bà không vú lấy gì nuôi con; Đàn ông cời hoa, đà bà cời nụ; đàn bà mắt trắng hai chồng,

ời làm tròn bổn phận này mới đợc đề cao: Giai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm

chồng; Trai không kén vợ chợ đông, gái khôn kén chồng giữa chốn ba

Trang 21

quân Nếu ngời con trai nào không hoàn thành trách nhiệm này thì bị chê

trách: Giai không vợ nh cau không buồng; Voi không nài nh trai không

vợ; Trai không vợ nh cọc không chân.

b Trách nhiệm nuôi dạy con cái

Việc nuôi dạy con cái không chỉ là trách nhiệm của ngời mẹ mà

của cả ngời cha Con cái chịu ảnh hởng rất lớn của ngời cha: Mẹ đánh

một trăm không bằng cha ngăm một tiếng, Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn Tục ngữ thờng phản ánh sự ảnh hởng này cả chiều tốt lẫn

chiều hớng xấu:Cha làm sao, con bào hao làm vậy; Cha nào con nấy;

cha muốn con hay; thầy muốn trò tốt.

c Trách nhiệm rèn luyện, tu dỡng, ý chí, nghị lực

Tục ngữ coi những ngời đàn ông biết rèn luyện ý chí, nghị lực:

Làm trai có chí lập thân, rồi ra gặp hội phong vân có ngày; Làm trai chỉ

ở cho bền, đừng lo muộn vợ chớ phiền muộn con; Làm trai không sợ gai góc, làm gái không sợ cọc đâm.

Tục ngữ đề cao những ngời nam giới có sự hiểu biết do đi lại:

Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải Đồng Nai đã từng; Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

Tục ngữ đề cao những ngời đàn ông có tài: Làm trai đã đáng nên

trai, đánh đông đông tĩnh đánh đoài đoài yên.

Tục ngữ đề cao những ngời đàn ông có trí, biết suy xét trớc sau:

Làm trai mà chẳng biết suy, đến khi nghĩ lại còn gì là xuân; Trai có trí có màu, rựa có khâu có cán.

Tục ngữ cũng dành sự phê phán nhẹ nhàng đối với những ngời con

trai chỉ quẩn quanh ở nhà: Làm trai đã đáng nên trai, ăn cơm với vợ lại

nài vét niêu; Làm trai cho đáng nên trai, một trăm bữa cỗ chẳng sai bữa nào.

Tục ngữ dành sự khuyên răn đối với ngời đàn ông: Khuyên anh cờ

bạc thời chừa, rợu chè, trai gái say sa mặc lòng; Làm trai cờ bạc thì

Trang 22

chừa, rợu làng thì uống, rợu mua thì đừng; Làm trai chớ chống đò ngang,

đừng cấy ruộng Phật, chớ mang nợ làng; Đêm nằm nghĩ lại mà coi Lấy chồng đánh bạc nh voi phá nhà.

d Quan niệm về trách nhiệm đối với nghề nghiệp

Khác với ngời phụ nữ, ngời đàn ông xa đợc đánh giá cao ở các

điểm: nghề nghiệp, sự nghiệp, ý chí - nghị lực và sức mạnh Ngời xaquan niệm ngời con trai phải là trụ cột trong gia đình, là ngời kiếm tiền, là

ngời lao động chính để nuôi sống cả gia đình: Đàn ông làm ra đàn bà

cất lại.

Vì vậy, trớc hết, ngời đàn ông phải có một nghề trong xã hội: Của

rề rè không bằng nghề trong tay Nghề nghiệp mà ngời đàn ông xa thờng

làm đợc chia thành hai nhóm:

Nhóm nghề thứ nhất thờng đợc đề cao Nhóm nghề này đợc phản

ánh qua những danh từ chỉ loại đứng trớc danh từ chỉ nghề của ngời đàn

ông, nh: ông, ngài, vị, đức Ta có:

Nghề buôn: Buôn chung với đức ông; Chung voi với đức ông.

Nghề làm quan trong xã hội Ngời xa cho rằng đàn ông phải họcnghề thi đỗ đạt đợc bổ nhiệm làm quan mới xem là thành đạt Còn ngời

nào mà cha đỗ đạt gì đã lên mặt thì bị chê cời: Cha đỗ ông nghè đã đe

hàng tổng Một số tên chức tớc trong xã hội trớc đây nhng ngày nay

không tồn tại đợc ghi lại trong tục ngữ: ông chánh, ông phó, ông trơng,

ông cai, ông xã, ông huyện… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Biếu ông chánh ông phó chớ bỏ ông trơng;

Lúc thì chẳng có ai, lúc thì ông xã ông cai đầy nhà; Kh kh nh ông huyện giữ ấn; ông huyện cha đi, ông tri đã đến; Ông chánh ông phó không bằng

ông ló đồng tiền; Bo bo nh ông trởng bạ giữ án ; Túi ông xã, quả nhà hàng Tục ngữ phản ánh sự đề cao những ngời hay chữ: Đêm nằm nghĩ lại mà coi, lấy chồng hay chữ nh soi gơng vàng.

Một số vị thần linh, vị quan, vị vua tiền bối, vị tớng có công vớidân, có tài trị nớc hoặc nổi tiếng về một phơng diện đều đợc đề cao và gọi

bằng ông, vị, đức: Hiến mu nh ông Tứ Phòng; Hiếu dũng nh ông Tử Lộ;

Trang 23

Hiếu biện nh đức Mạnh Tử; Hiếu sát, hiếu vấn nh ông Đế Thuấn; Kì mu

nh đức Trần Bình; Ông Đại thánh lên đánh trời, Đức chúa trời sinh trời

đất; Ông đi đánh bắc dẹp đông, nếu về ba tổng xin ông đừng về; Ông thánh còn có khi lầm; Ông s có ngãi, bà vãi có nghì.

Nghề thầy thuốc cũng là một nghề đợc xem trọng nên có yếu tố

thấy đứng trớc: Con bệnh sợ thầy thuốc.

Nghề xem địa lí, thấy bói: Làm thầy địa lí mất mả táng cha;

Nghe mồm thầy bói đói rã họng.

Ngay cả trong cùng một câu thì vẫn sử dụng đồng thời hai từ thợ

và thầy, ông: Thợ rào có đe, ông nghè có bút; Làm thầy nuôi vợ làm thợ

nuôi miệng Một số nghề khác có tính trung hoà, không thể hiện sự đánhgiá cao thấp thờng có yếu tố thợ đứng trớc và đợc gọi là thợ nh: thợ sơn,thợ mộc, thợ nề… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện

Nghề thợ mộc, thợ nề, thợ may, thợ giày: Có phúc thợ mộc thợ nề,

vô phúc thầy đề thầy thông; Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng; Đồ mặc thì đến thợ may, bao nhiêu tấc sắt đến tay thợ rèn; Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ; Thợ rèn không dao ăn trầu; Thợ mộc giáng hạ, thợ rạ lên dân; Ba anh thợ giày bằng một ông Gia Cát Lợng; Bẩn nh thợ nề, chỗ ăn chỗ ngủ nh dê nó nằm; ăn ngủ bẩn nh thợ nề; Chính chuyên lấy chồng thợ giác, đĩ rạc lấy chồng quận công

Nghề thợ bạc, thợ sơn: Thợ sơn bôi bác, thợ bạc lọc lừa; Mồm nhà

bếp, mép thợ ngôi.

Nghề dệt chiếu, dệt vải, hàng săng: Làm hàng săng chết bó chiếu;

Chiếu đôi gon cỏ non chớ dệt; Càng rộng đờng go càng to vốn sợi; Con gái dệt nái tay trái đếm tiền.

Tu hành: Thừa quan rồi mới đến dân, thừa nha môn tuần mới đến

sãi đò đa.

Bách nghệ: Làm trai bách nghệ cho tinh Tục ngữ phản ánh cách

quan niệm này là nói đến sự từng trải, hiểu biết rộng là hết sức cần thiếtcủa ngời con trai nhng tục ngữ cũng có cách nhìn nhận hết sức biện

Trang 24

chứng: Một nghề cho chín hơn chín mời nghề Ngay cả khi một ngời

không nghề nghiệp thì tục ngữ thể hiện nghề mạt hạng nhất vẫn là nghề

của đàn ông: Cùng nghề đan thúng, túng nghề đan nia; Cùng nghề đi hát,

Nghề ăn trộm, ăn cớp: Chứa tiền chứa thóc thì giàu, chứa thằng

ăn cớp mất đầu nh chơi; Gái đĩ già mồm, kẻ trộm trắng răng; Tài gia là cha kẻ cớp; ăn trộm có kẻ điểm chỉ, làm đĩ có kẻ mai dong.

Thứ hai, ngời đàn ông phải duy trì nghề nghiệp cổ truyền của cha

ông để giữ nghề truyền thống: Nam thú đồng hơng, nữ gia bản quán có

nghĩa là con trai con gái chỉ lấy vợ, lấy chồng cùng làng để giữ bí mậtnghề thủ công

1.1.3 Quan niệm về các quan hệ xã hội

Ngời đàn ông dới chế độ xa luôn chịu sự ràng buộc của mọi phongtục, tập quán Có những phong tục tốt đẹp, cần gìn giữ và phát huy nhng

có những phong tục cổ hủ, lạc hậu mà ngày nay không còn giữ lại

Thứ nhất là phong tục cới xin nặng nề Ngời đàn ông xa muốn lấy

vợ thì phải nạp cheo cho làng, điều này đã trở thành một nhận thức hiển

nhiên nh bèo dùng để nuôi lợn: Nuôi lợn thì phải vớt bèo, lấy vợ thì phải

nạp cheo cho làng Có khá nhiều câu tục ngữ ghi lại điều này: Cới vợ không cheo nh leo cầu gỗ lim mỡ; Cới vợ không cheo nh neo không mấu; Lấy vợ không cheo nh nghèo không mấu; Lấy vợ không cheo, tiền gieo xuống biển; Lấy vợ thì phải nạp cheo cho làng Với phong tục này, việc

lấy đợc vợ là hết sức nặng nề đối với nhà trai: Cới đợc nàng dâu, sâu con

mắt Vì thế, nếu chê vợ, bỏ vợ thì đó là một sự tổn thất đối với ngời con

trai: Trai chê vợ mất của tay không, gái chê chồng một đồng trả bốn.

Trang 25

Thứ hai là phong tục ngời đàn ông rất kiêng lấy ngời phụ nữ đã có

một đời chồng: Gái khôn tránh khỏi đò đa, trai khôn tránh khỏi vợ thừa

ngời ta; Trai tơ lấy phải nạ dòng nh nớc mắm thối chấm lòng lợn thiu,

còn trái lại, ngời đàn bà lấy trai cha vợ thì đó là một sự may mắn lớn:

Nạ dòng lấy đợc trai tơ, đêm nằm tơ tởng nh mơ đợc vàng; Trăm quan tiền nợ không bằng vợ có con riêng.

Thứ ba là phong tục con trai có quyền lấy nhiều vợ: Giai khôn lấy

vợ lẽ; Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa; Hoa thơm đánh cả cụm; Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng; Trai làm nên năm thê bảy thiếp.

Tuy nhiên, tục ngữ cũng có những câu phản ánh sự không tốt của

hủ tục đa thê này: Một vợ lo ken kèn, hai vợ đốt đèn mà lo; Một vợ nằm

giờng leo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo; Một còng hai gáo chẳng khua láo cũng loong coong.

Thứ t là phong tục răn dạy vợ: giai khôn mài dao dạy vợ; Dạy con

từ thuở ban sơ, Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về; Dạy vợ từ thuở mới về làm dâu Trong câu Mài gơm dạy vợ, giết chó khuyên chồng phản ánh hai ph-

ơng thức cũng là hai quan niệm giáo dục khác nhau Ngời đàn ông thìmạnh mẽ, quyết liệt qua hai hành động đi liền: mài dao và dạy, còn ngờiphụ nữ lại nhẹ nhàng, gián tiếp: giết chó và khuyên chồng Hai cách thứcgiáo dục khác nhau nhng hiệu quả tác động đến ngời nghe cha hẳn đãkém nhau

Thứ năm là phong tục con trai không ở rể Nếu ở rể thì xã hội xem

đó là một sự kém cỏi: Trai ở rể nh chó nằm gầm chạn; Trai ở nhà vợ nh

chó chui gầm chạn; Trai tay không ai nhờ vợ; Con trai ở nhà vợ nh chó nằm gầm chạn.

Thứ sáu là phong tục duy trì nòi giống, thờ cúng tổ tiên Ngời con

trai xa có trách nhiệm lấy vợ và đẻ con trai để duy trì nòi giống Phongtục này gắn với việc thờ cúng tổ tiên Tục ngữ đã phản ánh phong tục này:

Giai kính thờ chăm việc thắp hơng; Cha để nhà cho trởng, cha ngất ỡng đi ăn mày; Cha truyền con nối; Con cháu mà dại làm hại ông bà;

Trang 26

ng-Con cháu mà dại thì hại ông cha,; con ngời có cố có ông, nh cây có cội

nh sông có nguồn, Đời cha đắp nấm đời con ấm mồ.

Phong tục sau khi chết: Cha gậy tre, mẹ gậy vông, bà gậy vông,

ông gậy tre Thông thờng làm giỗ cha to hơn cả: Kị cha lo ba tháng, kị mạ lo rạng ngày, kị ông nội đi vày về lo Vì thế, việc kị giỗ nhiều quá làm

cho ngời con trai trởng hết sức vất vả, lo lắng nhiều: Một trăm cái giỗ đổ

đầu con trởng; Một ngày giỗ cha, ba ngày húp nớc; Một ngày giỗ cha rõ bận bằng ba ngày Tết.

Tóm lại, quan niệm của xã hội về ngời đàn ông trong tục ngữ thểhiện ở mấy điểm nổi bật:

- Về hình thức: Tục ngữ ít coi trọng đến hình thức ngời đàn ông

- Về trách nhiệm: Ngời đàn ông phải có trách nhiệm trụ cột tronggia đình, phải có nghề nghiệp Rèn ý chí, nghị lực, lấy vợ sinh con nối dõitông đờng, thờ cúng tổ tiên

- Về mặt xã hội: Ngời đàn ông đợc dành nhiều địa vị, quyền thế

1.2 Quan niệm của xã hội đối với nữ giới

1.2.1 Quan niệm về hình thức

Trớc hết, ngời phụ nữ đợc nhìn nhận về hình thức bên ngoài Hìnhthức này đợc đánh giá qua các giai đoạn phân chia giới tính: Con gái, gái

có chồng (gái không chồng), gái có con, gái goá

Giai đoạn con gái: Các câu tục ngữ miêu tả con gái ở giai đoạn

này phần lớn thiên về hình dáng bên ngoài với vẻ đẹp đạt đến độ rực rỡ

nhất trong đời ngời: Hoa tơi trong độ gió đông, gái xinh xinh đến có

chồng thời thôi; Gái dậy thì nh hoa quỳ mới nở; Đàn bà nh cành hoa tơi,

nở ra chỉ đợc một thời mà thôi; Con gái có thì.

Vẻ đẹp của ngời con gái còn biểu hiện qua sự ý tứ, kín đáo, khác

với vẻ đẹp của ngời đàn ông: Đàn ông cời hoa, đàn bà cời nụ, những ngời

cha nói đã cời, cha đi đã chạy là ngời vô duyên.

Cùng với vẻ đẹp là sự đánh giá về biểu hiện hình thức bên ngoài

theo từng bộ phận: Đàn bà tốt tóc thì sang, đàn ông tốt tóc thì mang nặng

Trang 27

đầu; Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà; Gái chọc lỗ tai đòi khuyên bạc; Khéo léo khuyên tai, dài tai khuyên bạc; Trai thâm môi, gái lồi mắt ở độ con gái, họ không chỉ đợc ca ngợi

về vẻ đẹp mà còn tràn đầy sức lực: Con gái mời bảy bẻ gãy sừng trâu;

Con gái mím môi, Thiên lôi rơi búa.

Ngoài ra các câu tục ngữ còn đề cập đến thiên hớng về cách sinh

hoạt, đi lại của họ: Gái cha chồng trông mong đi chợ; Gái cha chồng xem

hang Cắc Cớ, trai cha vợ xem hội chùa Thầy; Cách trang phục: Đàn ông

đóng khố đuôi lơn, đàn bà mặc yếm hở lờn mới xinh; Gái chọc lỗ tai đòi khuyên bạc", Miệng mấp máy, cái váy chẳng còn.

Chính vẻ đẹp về hình thức và sức trẻ này khiến cho đấng mày râu

có cách nhận xét: Thế giới ba sự khôn chừa, rợu nồng, dê béo, gái vừa

đ-ơng tơ Hoặc họ đa ra nhận xét xếp hạng: Thứ nhất thịt bò tái, thứ nhì gái

đơng tơ.

Giai đoạn con gái không kéo dài, vì vậy họ chỉ có giá một thời, nếu

để quá thì xem là quá lứa, khó lấy chồng Tục ngữ ghi lại sự đánh giá củangời xa về giai đoạn này với hàm ý chê những ngời con gái kén chọn,

muộn chồng: Còn duyên kén những trai tơ, hết duyên ông lão cũng vơ

làm chồng; Còn duyên kén cá chọn canh, hết duyên ếch đực (rốc đực) cũng vơ làm chồng; Còn duyên năm nguyền mời hẹn, hết duyên mời nẹn cũng không; Còn duyên nh tợng mới tô.

Giai đoạn gái có chồng: Phần lớn những câu tục ngữ đề cập đến

gái có chồng đều thiên về ý tốt về chiều hớng phát triển, sinh sôi nảy nở

Có nhiều cách diễn đạt, cách ví ngời phụ nữ có chồng hết sức sinh động:

Gái có chồng má hồng tơi tốt; gái có chồng nh chông nh mác, Gái có chồng nh rồng có cánh, Gái có chồng nh rồng có mây, Gái có chồng nh

rồng có vây, Gái có chồng nh sông có nớc, Gái có chồng nh ngựa có

c-ơng Ngợc lại, gái không chồng lại đợc ví với sự không may mắn, sự tổn

thất, thiếu định hớng: Gái không chồng nh cối xay chết ngõng Trong kết hợp: Cối xay chết ngõng thì ngõng là một bộ phận có hình dáng giống cái

mỏ chim mắc vào tai cối xay, để đẩy cho cối xay quay Nếu bộ phận này

Trang 28

hỏng thì không thể xay đợc Ta bắt gặp cách ví thiếu định hớng này qua

một số hình ảnh cũng không kém phần sinh động: Gái không chồng nh

phản gỗ long đanh, Gái không chồng nh nhà không nóc, Gái không chồng

nh thuyền không lái… Thậm chí, hai vế có chồng và không chồng đợc đặt

cạnh nhau thành một sự so sánh đối lập: Gái có chồng nh sông có nớc, gái không chồng nh lợc gẫy răng Chính vì vậy khi ngời con gái lớn cha gả chồng thì đó là một gánh nặng cho gia đình: Gái to trong nhà lo bằng

ba mả cha cất; Gái chậm chồng mẹ cha khắc khoải; Cha chết không lo bằng gái to trong nhà.

Giai đoạn gái có con: Ngời Việt xa quan niệm gái có con là điều

tốt đẹp, là sự thuận hoà, hợp lẽ: Gái có con nh bồ hòn có rễ, gái không con nh bè nghể trôi sông Thờng ngời phụ nữ xa lấy chồng sớm (gái thập

tam, nam thập lục) nên khi đợc một con thì ngời con gái ở vào giai đoạn

đẹp hoàn thiện: Gái một con trông mòn con mắt; Cơm chín tới, cải ngồng

non, gái một con, gà mái ghẹ; Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa

điếu.

Tuy vậy, khi con cái, tuổi tác của ngời phụ nữ tăng thì hình thức lại

tỉ lệ nghịch: Gái một con trông mòn con mắt, gái hai con vú quặt đằng

sau, gái ba con chỉ đâu ngồi đấy.

Giai đoạn gái goá chồng: Tục ngữ cũng đề cập đến ngời phụ nữ bị

goá chồng Phần lớn các câu tục ngữ miêu tả ngời phụ nữ ở giai đoạn này

là không may mắn, đét gãy, thiên về bất trắc, không tốt Và ngời phụ nữ

sau khi chồng chết phải thủ tiết thờ chồng thì mới đợc ca ngợi: Gái goá

chồng phòng không chực tiết; Gái chính chuyên chẳng lấy hai chồng; Ghe bầu trở lái về đông, Làm thân con gái thờ chồng nuôi con Vì vậy, những

ngời ôm đồm, cáng đáng hoặc lo lắng đến những việc quá lớn so với khảnăng và phận sự của mình, ngời Việt thờng dùng câu tục ngữ để chỉ việc

làm của họ: Gái goá chồng lo việc triều đình.

Tục ngữ còn đề cập đến cả những ngời con gái chửa hoang, có tính

lẳng lơ Những ngời con gái này thờng bị xã hội chê trách, lên án: Gái h

ông s cũng ghẹo; Gái chửa hoang ngàn quan chẳng cáp, Gái đâu có gái

Trang 29

lạ đời, chỉ còn thiếu một ông trời không chim Ngời con gái phải có bổn

phận giữ gìn trinh tiết: Chữ trinh đáng giá nghìn vàng Tuy nhiên, đây là

cách quan niệm mang đặc thù văn hoá của ngời Việt xa, ngày nay quanniệm này đã có chiều hớng thay đổi

1.2.2 Quan niệm về trách nhiệm, thân phận

Trong tục ngữ ta bắt gặp các câu phản ánh cách quan niệm của xãhội về thiên chức và trách nhiệm của ngời phụ nữ

Trớc hết đó là thiên chức sinh nở Ngời xa có cách nhìn nhận về

chức năng sinh nở của ngời phụ nữ nh một nấc thang giá trị Nếu ngời phụnữ không có con là có tội với cả dòng tộc, đặc biệt là không có con trai:

Có chồng mà chẳng có con, khác nào hoa nở trên non một mình Họ đánh

giá chức năng này qua dáng vẻ bên ngoài: Cả vú to hông cho không

chẳng màng là đối với những ngời không thể sinh đẻ đợc hoặc đẻ khó.

Còn những ngời Lng chữ cụ, vú chữ tâm là với ý những ngời đàn bà lng

hơi gù và vú bầu bầu thì mắn đẻ và khéo nuôi con; Làm vợ là có bổn phậnsinh con đàn cháu đống thì mới đợc xem là tốt phúc Điều này gắn vớinền văn hoá sản xuất lúa nớc của ngời Việt xa cho rằng, đợc mùa là điềm

tốt cũng nh ngời con gái đẻ đợc nhiều con: Trời cho đợc mùa, gái có con

sai Trách nhiệm của ngời đàn bà là sinh nở cũng nh ngời đàn ông là đi

đánh giặc: Đàn ông chiến tranh, đàn bà sanh đẻ hoặc đàn ông là ngời lao

động chính trong gia đình: Đàn ông cắp chà, đàn bà làm tổ.

Thứ hai là trách nhiệm nuôi dạy con cái Trách nhiệm trong gia

đình của ngời phụ nữ không chỉ sinh con mà còn nuôi dạy con khôn lớn,

trởng thành: Con khôn nở mặt mẹ cha Việc con cái h hỏng hay thành bại

là do cả cha lẫn mẹ nhng chủ yếu là mẹ: Con h tại mạ, má h tại tra; Con

h tại mẹ, cháu h tại bà; Con dại cái mang; Con nhờ đức mẹ Việc nuôi

dạy con nên ngời là niềm vinh hạnh, tự hào của ngời mẹ, ngời bà, còn con

h là một nỗi đau to lớn: Đẻ con khôn mát l rời rợi, đẻ con dại, thảm hại

cái l … ; Đẻ con khôn thì mát nh quạt, đẻ con dại thì rát nh hơ Tục ngữ

không chỉ đề cập đến chức năng nuôi dạy con cái của ngời phụ nữ mà còn

Trang 30

phản ánh tính chất khác biệt trong lời khuyên răn, giáo dục con cái giữa

mẹ và bố

Trách nhiệm nuôi dạy con cái không chỉ của ngời mẹ mà cả bố,

nh-ng vai trò của nh-ngời mẹ thờnh-ng khác với nh-ngời bố Ngời mẹ thiên về sự khéo

léo, còn ngời bố thiên về trí tuệ, sự khôn ngoan: Mẹ dạy thì con khéo, cha

dạy thì con khôn; Mẹ đánh một trăm không bằng cha ngăm một tiếng Vì

sự gần gũi, thân thiết giữa mẹ và con nên nhiều khi không tránh khỏi sự

thiên lệnh trong cách đánh giá về con: mẹ hát con khen, ai chen vô lọt;

Cá chuối đắm đuối vì con.

Việc đánh giá hình thức bên ngoài về ngời con gái, trở thành một

đặc trng trong xét đoán, kén chọn vợ, liên quan đến trách nhiệm nuôi dạycon cái Ngời Việt xa luôn quan tâm kĩ càng đến chức năng này, nên luôn

có cách đánh giá qua hình thức bên ngoài: Những ngời thắt đáy lng ong,

vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con, những ngời béo trục béo tròn, ăn vụng nh chớp đánh con suốt ngày.

Những ngời bị coi là có hình thức xấu, không nên lấy: Mặt tày

lệnh, cổ tày cong, Những ngời con mắt lá răm, ve trai nh chớp hay nằm với trai.

Thứ ba là trách nhiệm nội trợ trong gia đình Ngời phụ nữ xa thờng

phụ thuộc gia đình nhà chồng, khi về nhà chồng, họ thờng giữ vai trò lo

việc bếp núc, khâu vá, chăm sóc cho cả gia đình: Vắng đàn ông quạnh

nhà, vắng đàn bà quạnh bếp; làm dâu vụng nấu vụng kho, chồng không bắt bẻ, mụ o nhím trề; đàn ông quện nhà, đàn bà quện bếp; trai có vợ tề gia nội trợ.

Thứ t là trách nhiệm lao động gắn bó với nghề nghiệp Trong xã

hội xa, đa số ngời phụ nữ là phải làm ruộng: Làm ruộng hỏi đàn bà, làm

nhà hỏi đàn ông Ngoài ra, ngời phụ nữ còn phải chăn nuôi gà lợn, chăn

tằm, dệt vải: Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác, đàn ông không

biết buộc lạt là đàn ông h; Con gái dệt nái, tay trái đếm tiền; Chăn tằm, kiếm cá nuôi con, trong ba việc ấy ai còn khoe hay Đồng thời họ còn

Trang 31

phải có tài khâu vá, nữ công gia chánh: Gái khéo vá vai, trai tài phủ nóc.

Một số ngời phụ nữ làm các nghề khác cũng đợc tục ngữ nhắc đến nh bà

đồng, bà vãi, gái đĩ… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Miệng bà đồng nh lồng chim khiếu; ông s có ngãi,

bà vãi có nghì… Những ngời làm gái đĩ, bán hàng cơm, trái lại, bị xã hội

coi thờng, vì họ làm những nghề đáng khinh: ả lành không ở hàng cơm;

rầu rỉ nh gái đĩ về già; đĩ dại làm hại thằng tù; đĩ rạc đợc tha, bà giả phải tội, đĩ chết có văn tế nôm; làm đĩ không xấu bằng xay gấu ban ngày; làm đĩ chẳng đắt; làm đĩ có tàn có tán, có ngang án thờ vua, có trống chùa niệm Phật; làm đĩ gặp năm mất mùa; Chính chuyên lấy chồng thợ giác, đĩ rạc lấy chồng quận công.

Tục ngữ phản ánh Phận ngời con gái có hai giai đoạn: Trớc lúc

lấy chồng và sau khi lấy chồng

Giai đoạn trớc khi lấy chồng, số phận ngời con gái ít nhiều bình ổn,còn sự bấp bênh là phía trớc, phụ thuộc vào nơi họ đợc làm dâu Có khá

nhiều câu tục ngữ phản ánh điều này: Phận gái bến nớc mời hai, gặp nơi

trong đục may ai nấy nhờ; Phận gái nh cái bầu, sa đâu ấm đấy; Phận gái mời hai bến nớc, trong nhờ, đục chịu; con gái có hai bến nớc, bến đục thì chịu bến trong thì nhờ Quan niệm về phận này đợc phản ánh qua cách

lựa chọn con dâu: Lựa đợc con dâu, sâu con mắt, có nghĩa là phải mất

nhiều công phu mới lựa chọn đợc con dâu vừa ý Điều này nói lên việcdựng vợ gả chồng không phải do tình yêu mà do sự định đoạt của số phận,

do nhà trai chọn lựa

Cuộc đời sớng khổ của phụ nữ không phải bắt đầu từ khi ở nhà bố

mẹ đẻ mà bắt đầu từ khi về nhà chồng Việc gả bán cho ai, yêu ai không

do ngời con gái định liệu mà do cha mẹ gả bán, do nơi họ về làm dâu

Đúng nh tổ hợp từ ghép gả bán, họ vừa là những món hàng để gả vừa là những vật đổi chác Vì vậy câu: Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy với nghĩa

là việc gả bán (đối với ngời con gái) do cha mẹ định đoạt

Giai đoạn sau khi kết hôn mới đợc xem là giai đoạn quyết định đốivới phận ngời con gái Ngời phụ nữ dới chế độ xa thờng phụ thuộc rấtnhiều vào thế lực nhà chồng Sau khi lấy chồng thì bổn phẩn của họ là

Trang 32

phải theo chồng: Thuyền theo lái, gái theo chồng; Phận gái chữ tòng;

Phận gái theo chồng Khi ngời phụ nữ lấy chồng thì họ không thể tự

quyết định cuộc đời riêng của mình mà phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình

nhà chồng: Lấy chồng bắt thói nhà chồng, đừng giữ thói cũ ở cùng mẹ

cha; Lấy chồng nhờ phúc nhà chồng; sống quê cha, ma quê chồng; Lấy chồng theo họ nhà chồng; Lấy chồng theo thói nhà chồng, thôi đừng theo thói cha ông nhà mình; Con gái là con ngời ta, con dâu mới thật mẹ cha mua về.

1.2.3 Quan niệm về các quan hệ xã hội

Trong tục ngữ, ngời phụ nữ đợc nhìn nhận từ nhiều vai quan hệkhác nhau: Họ là chị, là em, là mẹ, là vợ, là con dâu, là mẹ chồng, là bà,

là gái goá, là gái đĩ, là gái có chồng, gái không chồng, gái ch a chồng, gái

có con, gái ngoan, gái khôn, gái sề, gái già, gái chê chồng, gái chậmchồng, gái chính chuyên, gái chồng rẫy, gái dại, gái có công, gái cónghĩa, gái ghen, gái lẳng lơ, gái h… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Vì vậy trong mối quan hệ này, vai trò

vị thế của họ thay đổi theo thang giá trị của chồng, của dòng tộc bên nhà

chồng trong xã hội ở vào từng thời kỳ khác nhau Họ sẽ trở thành bà, hoặc thành con mụ tuỳ vào vị thế của họ trong dòng họ, trong xã hội.

a Quan hệ chị em

Các câu tục ngữ nói về chị em thờng có hai loại: chị em ruột và chị

em dâu Một bên là mối quan hệ do quan hệ huyết thống, dòng máu vàmột bên do kết hôn mà có Mối quan hệ này gắn với tình cảm, quan hệchị em dâu nặng về trách nhiệm Hai mối quan hệ này đã chi phối khámạnh đến sự ứng xử trong cộng đồng gia tộc ngời Việt Ta bắt gặp cách

đánh giá chị em dâu thờng không u thích nhau qua một loạt các câu: Chị

dâu làm đâu ra đấy; Chị dâu lội sông, em chồng đi mảng; Chị em chồng nấu nồi đồng đứt quai; chị em dâu làm rầu bát xáo; Chị em dâu nấu đầu trâu lủng nồi; Chị em dâu nói trâu thành bò; Chị em dâu nh bầu nớc lã, chị em gái nh cái nhân sâm; Chị em dâu ở lâu mới biết…

Trái lại, chị em gái thờng gắn bó thân thiết, yêu thơng lẫn nhau:

Chị em gái nh cái nhân sâm Các hình ảnh ví von về mối quan hệ chị em

Trang 33

gái rất đẹp: Chị em gái nh trái cau non; chị em gái nh trái sim muồi; Chị

em ba tháng, láng giềng ba ngày; Chị em ta đồng quà tấm bánh, chị em

ngời đòn gánh gót chân Chị em gái thờng gắn bó thân thiết, bảo ban

nhau: Chị em đừng nh hàng cá hàng thịt, chị dại đã có em khôn; Chị em

trên kính dới nhờng, là nhà có phúc mọi đờng yên vui; Chị ngã em nâng; Yêu nhau là chị em gái, rái nhau là chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh

em rễ.

Nếu chị em gái mà không đoàn kết thờng bị chê cời: Chị em nắm

nem ba đồng Các câu sau Chị ngã, em bng miệng cời; Chị xách bị đầu

hè, em mon men ngoài ngõ là chê trách chị, còn câu Chị em không thèm

đến ngõ là trách cả chị lẫn em.

b Quan hệ mẹ chồng nàng dâu

Mối quan hệ mẹ chồng và nàng dâu đã đi vào tâm thức ngời Việt,trở thành định kiến là bao giờ cũng xấu Trong tổng số các câu tục ngữ đãthu thập đợc, không có câu nào nói về quan hệ tốt đẹp giữa mẹ chồng

nàng dâu mà là quan hệ chẳng lấy gì gắn bó, thân thiết: Mẹ chồng không

ai nói tốt nàng dâu, nàng dâu đâu có nói tốt mẹ chồng; Rau muống tháng chín, mẹ chồng nhịn cho nàng dâu ăn; Mẹ chồng trồng cây ngợc; Mẹ chồng nói một, nàng dâu đối mời Quan hệ này có khi trở thành định

kiến: Mẹ chồng nàng dâu, chủ nhà ngời ở yêu nhau bao giờ; thật thà

cũng thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng; Dâu vô nhà, mụ gia ra ngõ; Muốn nói không làm mẹ chồng mà nói.

Quan hệ mẹ chồng nàng dâu chỉ đợc nhắc đến trong những câu tụcngữ liên quan đến giới nữ, thiên về sự chịu đựng lẫn nhau chứ không hềyêu thơng nhau Khi mẹ chồng chết, vì quan hệ đối ngoại mà ngời con

dâu phải khóc nhng trong lòng họ không có tình cảm: Thơng chồng phải

khóc mụ gia, ta đây với mụ có bà con chi Họ buộc phải sống với nhau

nhng không a nhau nên có một số câu tục ngữ cùng phản ánh sự trái ngợc

này: Bố chồng là lông con phợng, mẹ chồng là tợng mới tô, nàng dâu mới

về là bồ nghe chửi thì câu tục ngữ này phản ánh sự chịu đựng của ngời

con dâu

Trang 34

c Quan hệ mẹ con

Trái với quan hệ mẹ chồng nàng dâu, mối quan hệ mẹ con thờngthiên về sự tốt đẹp, yêu thơng nhau Về tình cảm, đây là quan hệ đángtrân trọng nhất trong các biểu hiện tình cảm của con ngời Ta bắt gặphàng loạt các câu tục ngữ lấy mẹ và con để nói đến sự gắn bó yêu thơng,

sự quấn quýt lẫn nhau: Cơm tẻ, mẹ ruột Câu tục ngữ này ví cơm tẻ quý

giá và quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày đối với con ngời, cũng nhngời mẹ đẻ thân thiết gắn bó với đứa con Tục ngữ Việt phản ánh quan hệ

mẹ con luôn tràn ngập sự yêu thơng, gắn bó: Ngầm ngập nh mẹ gặp con;

Rí rỏm nh con gặp mẹ; Mẹ con một lần da đến ruột; Mẹ nào con nấy; Mẹ với con lúa non cũng lấy; Lon xon nh con gặp mẹ; Con có mẹ nh măng

ấp bẹ; Cơm với cá nh mạ với con; Con thì mạ, cá thì nớc Các từ ngữ đợc

lựa chọn để tạo biểu tợng mang tính ẩn dụ ví von quan hệ giữa mẹ thờngliên quan đến cây lúa và sản phẩm cây lúa, nh: lúa non, cơm với cá, cơm

tẻ Mối quan hệ này đơn thuần là tình cảm không toan tính mạnh đến nỗi

lấn át sự khách quan cần thiết: Mẹ hát con khen, ai chen vô lọt; Nghe

con lon xon mắng láng giềng.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa mẹ kế và con chồng thì ngợc lại, luôn

thiên về chiều hớng xấu: Dì ghẻ con riêng chồng; Dì ghẻ mấy ngời biết

thơng con chồng, con chồng mấy ngời biết thơng gì ghẻ; Thơng chồng phải bồng con ghẻ Ngời xa đã đúc kết thành quy luật nhận thức: Mấy

đời bánh đúc có xơng, mấy đời dì ghẻ lại thơng con chồng; Mẹ gà con vịt chắt chiu, mấy đời dì ghẻ lại thơng con chồng Tuy vậy, ngày nay nhận

thức này đã có sự thay đổi

d Quan hệ với dòng họ

Ngời phụ nữ có vai trò, giá trị khác nhau trong dòng họ, gia tộc

Điều này gắn với việc họ thuộc họ nội hay ngoại

Ngời Việt có truyền thống văn hoá coi trọng bên nội, lấy họ nội,

con dâu về ở bên nội: ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại; Con cô con

cậu thì xa, con chú con bác thật là anh em; Con chú con bác chẳng khác gì nhau; Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; Con gái là

Trang 35

con ngời ta, con dâu mới thật mẹ cha mua về Tính huyết thống này đợc

kế tiếp qua các đời: Con ngời có cố có ông, nh cây có cội nh sông có

nguồn Tính huyết thống còn đợc thể hiện qua sự chăm sóc đùm bọc khi

bố hoặc mẹ mất: Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú gì; Dì ruột thơng cháu nh

con, Rủi mà không mẹ cháu còn cậy trông; Dì nh mẹ, chú nh cha Sau khi

chồng chết, ngời con dâu cũng không đi lấy chồng mà thờ phụng nhà

chồng mới đợc coi là dâu thảo: Cậu chết, mợ ra đứng đờng, chú tôi có

chết mợ đừng lấy ai.

Mối quan hệ dòng tộc còn thể hiện qua việc xem nhẹ bên ngoại:

Cháu bà nội, tội bà ngoại; Nữ nhi ngoại tộc; Con gái chỉ ăn xó bếp, chết gầm chạn Họ phải làm tròn bổn phận của mình, theo phong tục tập quán

xa, nếp suy nghĩ xa truyền từ đời này sang đời khác, đó là: Cha mẹ đặt

đâu con ngồi đấy; Con gái là con ngời ta, con dâu mới thật mẹ cha mua về; Con gái nhà này, con dâu nhà khác; Con so nằm nhà mạ, con rạ nằm nhà chồng Ngời phụ nữ có chồng cam chịu thân phận của mình Họ cho:

ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại Thậm chí đến mồ mả, họ ngoại

cũng không đợc dính líu: Cháu ngoại không đoái đến mồ; Buồn tênh

Hoà hợp về cuộc sống, về tình nghĩa: Của chồng công vợ; Vợ

chồng cùng tuổi, nằm ruỗi mà ăn; Bà phải có ông, chồng phải có vợ, Thuận vợ thuận chồng, bể Đông tát cạn; Chồng cần vợ kiệm là tiên; Chồng khôn vợ đợc đi hài, Vợ khôn chồng đợc tối ngày cậy trông; Vợ chồng đầu gối tay ấp; Vợ chồng là nghĩa trên đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn; Vợ chồng nh ông bà Ngâu; Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi

Trang 36

xơng; Vợ chồng nh đũa với đôi; Vợ có chồng nh rồng có mây, chồng có

vợ nh cây có rừng; Chồng hoà vợ thuận, Chồng loan vợ phợng.

Tục ngữ còn phản ánh cách thức ứng xử sao cho hoà hợp giữa vợ và

chồng: Vợ chồng chớ cãi nhau hoài, sao cho trong ấm thì ngoài mới êm;

Vợ chồng may rủi là duyên, Vợ chồng hoà thuận là duyên trên đời Để tạo

cho sự hoà hợp này đợc lâu bền thì vai trò ngời phụ nữ là chủ đạo: Vợ

hiền hoà, nhà hớng nam; Chồng giận thì vợ làm lành; Chồng tới vợ lui, chồng hoà vợ thuận Họ quan niệm một vợ một chồng là một sự hài hoà,

sự bình ổn: Thế gian một vợ một chồng, chẳng nh vua bếp hai ông một

bà, Chết trẻ con hơn lấy lẽ chồng ngời.

Tục ngữ còn phản ánh những ngời phụ nữ không chung tình bị lên

án một cách nghiêm khắc: Chồng chết còn chửa hết tang, l … đà gấm ngát nh mang cá mè; Chồng chết cha héo cỏ đã bỏ đi lấy chồng.

Trong gia đình, sự ứng xử giữa nam và nữ cũng khác nhau, khôngbình đẳng, ngang hàng mà dờng nh ngời phụ nữ có phần nhún nhờng, nín

nhịn thì mới đợc đánh giá là gia đình bình ổn: Chồng giận thì vợ bớt lời,

cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê; chồng tới vợ phải lui; chồng giận vợ giận thì dùi nói quăng; chồng giận thì vợ làm lành; vợ hiền chồng ít cục, con thảo cha mẹ nhẹ la Tục ngữ còn phản ánh quan niệm về sự tồn tại

mang tính quy luật bù trừ một cách biện chứng giữa vợ và chồng: Thế

gian đợc vợ hỏng chồng; Thế gian đợc vợ hỏng chồng, có phải nh rồng

mà đợc cả đôi; Thế gian đặng vợ hỏng chồng, đặng chồng mất vợ, có mô song toàn cả đôi; Thế gian đợc vợ hỏng chồng, có đâu lại đợc cả ông lẫn

bà Việc kiêng kị để tránh những tai hoạ cho đàn ông và đàn bà cũng khác

nhau: Đàn ông đốn nhà, đàn bà đốn áo Cây thuốc dùng cho đàn ông,

đàn bà cũng khác nhau: Đàn ông trồng rau lang, đàn bà trồng ích mẫu.

Tóm lại, quan niệm của xã hội về ngời phụ nữ trong tục ngữ thểhiện ở mấy điểm nổi bật:

- Về hình thức: Tục ngữ coi trọng hình thức của nữ giới

Trang 37

- Về trách nhiệm: Coi trọng thiên chức sinh nở, nuôi dạy con cái,chăm sóc gia đình, quan hệ vợ chồng.

- Về mặt xã hội: Tục ngữ phản ánh các quan hệ đa chiều của ngờiphụ nữ: quan hệ chị em, quan hệ mẹ con, quan hệ dòng họ, quan hệ vợchồng… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện Còn về địa vị xã hội phụ nữ không đợc đề cao

2 Quan niệm của xã hội về giới tính thể hiện qua ca dao

2.1 Quan niệm của xã hội đối với nam giới

2.1.1 Quan niệm về hình thức

Nếu nh về hình thức của một ngời con gái là nhỏ nhắn thớt tha, thìngời đàn ông phải là to cao, khoẻ mạnh, vạm vỡ ấy là đời sống thực cònkhi đi vào ca dao không biết ngẫu nhiên hay cố ý mà hình nh hình thứccủa ngời đàn ông rất ít đợc bàn đến Ca dao chỉ điểm qua vài chi tiết nhỏ:

"Đàn ông đóng khố đuôi lơn"

Hay quan niệm "Nam tu nữ nhũ" thì có câu:

"Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì anh tú rậm râu mà hiền"

Thế nhng nếu vi phạm chuẩn mực về hình thức thì ngời đàn ông lại

bị mỉa mai:

"Chồng gì chồng bé

Bé tẻo tèo teo Chân đi cà khèo

Đi thì phải cõng … "

Hay: "Chồng thấp mà lấy vợ cao

Nh đôi đũa lệch so sao cho bằng"

Cho nên ngời phụ nữ phải khổ sở, than vãn rằng:

"Chồng em nh cột đình xiêu

Nh cây gỗ mục còn yêu nỗi gì"

Hình thức ngời phụ nữ đợc nói đến rất nhiều, trong khi đó chỉ rất sơqua đối với ngời đàn ông Điều này chứng tỏ dân gian mình không chú

Trang 38

trọng hình thức ngời đàn ông mà chỉ chú trọng những mặt khác Cho nên

mới có câu: "Gái tham tài, trai tham sắc" Ngời đàn ông chỉ cần có "Tài"

thôi còn "Sắc" thì nhờng cho phái yếu Trong thực tế đời sống cũng vậy,dờng nh ngời ta ít coi trọng vẻ bề ngoài của đàn ông

Ngay cả chính bản thân ngời đàn ông cũng vậy, họ rất ít chú ý,thậm chí có những ngời không hề quan tâm đến vẻ ngoài của mình, trongkhi đó hầu hết giới nữ đều hết sức chải chuốt, chăm lo cho vẻ bề ngoài.Mặc dù xã hội ngày nay coi trọng mặt kiến thức, trí tuệ nhng ở nữ giớivấn đề ngoại hình vẫn đợc quan tâm đặc biệt Đó cũng là một sự khác biệtgiữa hai giới

2.1.2 Quan niệm về tính chất, trách nhiệm

Dẫu không khe khắt, không gò bó nh đối với phụ nữ, nhng ngời

đàn ông trong ca dao cũng có những chuẩn mực và trách nhiệm cần phảithực hiện Thân phận họ cũng phải chịu vất vả cực nhọc:

"Thân anh khó nhọc trăm phần Sớm đi ruộng lúa tối nằm ruộng da

Vội đi quên cả cơm tra Vội về quên cả trời ma ớt đầu"

Cũng vất vả song ngời đàn ông trong ca dao ít chịu cảnh "Bán mặtcho đất, bán lng cho trời" Trong xã hội cũ công việc của họ vẫn chủ yếugắn bó với nghiên bút, đèn sách:

"Trai thì đọc sách ngâm thơ

Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa Mai sau nối đợc nghiệp nhà Trớc là đẹp mặt sau là ấm thân"

Đọc sách ngâm thơ ở đây với mục đích là để đi thi, sau khi đỗ đạt

họ sẽ tiến thân theo con đờng quan lộ Ngày xa học để ra quan chính lànhiệm vụ cao cả vinh hiển của đấng trợng phu:

Trang 39

"Đã sinh ra kiếp ở đời Trai thời trung hiếu hai vai cho tròn"

Đối với ngời quân tử, phải là một ngời biết "Tu thân, tề gia, trịquốc, bình thiên hạ" Cho nên sống phải có chí khí:

"Làm trai quyết chí lập thân Cơng thờng giữ lấy có phần hiển vinh"

Cũng nh ngời phụ nữ, ngời đàn ông muốn lập thân, muốn đợc vinhhiển thì ngoài việc "Dùi mài kinh sử" còn phải giữ gìn "Tam cơng ngũ th-ờng" Đó mới là điều quan trọng, còn nh chỉ lo chuyện vợ con thì khôngphải là ngời quân tử:

"Làm trai chí ở cho bền

Đừng lo muộn vợ chớ sầu muộn con"

Một khi ngời đàn ông vi phạm chuẩn mực thì sẽ bị coi khinh

"Chồng em nh cột đình xiêu

Nh cây gỗ mục còn yêu nỗi gì"

Từ những câu ca dao đó ta thấy quan niệm của dân gian về tráchnhiệm của ngời đàn ông trong xã hội là rất lớn Xã hội ngày nay dùkhông nhất thiết cứ phải "Tam cơng ngũ thờng" song cứ là ngời đàn ôngthì thời đại nào cũng cần có chí khí, có quyết tâm để hoàn thành mọi côngviệc có ích cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội Là ngời đứng mũichịu sào, là chỗ dựa vững chắc cho cả gia đình về mặt kinh tế cũng nhtinh thần Xã hội mới mở ra cho ngời đàn ông nhiều cơ hội để làm việcnhng đồng thời cũng mở ra cho họ nhiều thử thách cam go Cho nên yêucầu đặt ra cho họ dĩ nhiên là khó khăn hơn

Một ngời thân hình cờng tráng, một ý chí kiên trung, một ngôn

ngữ dứt khoát… Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện gắn với một ngời đàn ông có tính chất thẳng thắn, đi đầutrong mọi việc:

"Làm trai cho đáng nên trai

Đến đông đông tĩnh, đến đoài đoài yêu"

Trang 40

Họ luôn thẳng thắn bộc lộ quan điểm:

"Thơng em không lấy đợc em Anh về ở vậy chẳng thèm lấy ai?"

Mặc dù có quan niệm: "Trai năm thê bảy thiếp

Gái chính chuyên thủ tiết chờ chồng"

Và "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" song cũng nh phụ nữ, ngời đàn

ông luôn khao khát kiếm tìm một tình yêu thực sự đối với ngời thơng:

"Ước gì anh đợc làm chồng

Để em làm vợ tơ hồng trời xe"

Và họ bộc lộ niềm vui khi lấy đợc ngời vợ vừa ý:

"Làm trai lấy đợc vợ hiền

Nh cầm đồng tiền mua đợc của ngon"

"Làm trai lấy đợc vợ khôn

Nh đĩnh vàng cốm đem chôn trong nhà"

Làm ngời đàn ông, họ ý thức đợc mình là trụ cột trong nhà nên họkhông mong chờ một gia tài hay một thứ mang tính vật chất từ ngời congái mà trong sâu thẳm họ chỉ mong tìm đợc một ngời vợ nết na:

"Chẳng tham nhà ngói em đâu Tham vì cái nết em mau miệng cời"

Một tình yêu chân thành, chung thuỷ ở ngời đàn ông, dờng nhkhông phụ thuộc hoàn toàn vào sắc đẹp:

"Dẫu rằng da trắng tóc mây

Đẹp thì đẹp vậy dạ này không u

Vợ ta dù có quê mùa Thì ta vẫn cứ sớm tra vui cùng"

Bởi vì ca dao cũng đã từng khẳng định:

"Chim gà, cây cau, rau cải Nhân ngãi vợ, đầy tớ con".

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hoá sử cơng, Nxb Hội Nhà văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhàvăn Hà Nội
Năm: 2001
2. Vũ Thuý Anh (1994), Ca dao trữ tình Việt Nam, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao trữ tình Việt Nam
Tác giả: Vũ Thuý Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1994
3. Nguyễn Thị Thanh Bình (1998), Ngôn ngữ giao tiếp trong các cuộc nói chuyện giữa ba thế hệ ông bà - cha mẹ - con cháu tại một số giađình ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ giao tiếp trong cáccuộc nói chuyện giữa ba thế hệ ông bà - cha mẹ - con cháu
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 1998
4. Nguyễn Thị Thanh Bình (1996), Tác động của hoàn cảnh giao tiếp ngôn ngữ trẻ em 2 - 3 tuổi ở Hà Nội: ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình ngời Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hoàn cảnh giaotiếp ngôn ngữ trẻ em 2 - 3 tuổi ở Hà Nội: ứng xử ngôn ngữ trong giaotiếp gia đình ngời Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1996
5. Phan Kế Bính (1994), Phong tục Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1994
6. Bem (1980), Ngôn ngữ học xã hội: Mục đích, đối tợng, các vấnđề, M (Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội: Mục đích, đối tợng, các vấn"đề
Tác giả: Bem
Năm: 1980
7. Bùi Hạnh Cẩn - Bích Hằng - Việt Anh (2001), Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ, Tụcngữ Việt Nam
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn - Bích Hằng - Việt Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2001
8. Đỗ Hữu Châu (1986), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
9. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 1996
10. Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An (2002), Tuyển tập Tục ngữ - ca dao, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ - ca dao
Tác giả: Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
11. Nguyễn Đức Dân (1986), Ngữ nghĩa thành ngữ, tục ngữ - sự vận dụng, Tạp chí ngôn ngữ số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ, tục ngữ - sự vậndụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
12. Chu Xuân Diên (1980), Việc nghiên cứu thi pháp Văn học dân gian, Tạp chí Văn học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc nghiên cứu thi pháp Văn học dângian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1980
13. Chu Xuân Diên, Lơng Văn Đang, Phơng Tri (1998), Tục ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ViệtNam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lơng Văn Đang, Phơng Tri
Nhà XB: Nxb Khoa học - Xã hội
Năm: 1998
14. Vũ Dung (biên soạn) (1998), Ca dao trữ tình Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao trữ tình Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung (biên soạn)
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1998
15. Phan Thị Đào (2001), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Đào
Nhà XB: NxbThuận Hoá
Năm: 2001
16. Trần Thanh Đạm (1989), Tục ngữ dân gian và vấn đề nguồn gốc văn chơng, Tạp chí Văn hoá dân gian số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ dân gian và vấn đề nguồn gốcvăn chơng
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 1989
17. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu văn hóa dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học- Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NxbKhoa học- Xã hội
Năm: 1974
18. Nguyễn Xuân Đức (2000), Về nghĩa của tục ngữ, Tạp chí văn hoá dân gian số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghĩa của tục ngữ
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2000
19. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dângian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học - Xã hội
Năm: 2003
20. Trần Xuân Điệp (2004), Sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ, NxbĐại học S phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ
Tác giả: Trần Xuân Điệp
Nhà XB: NxbĐại học S phạm Hà Nội
Năm: 2004

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w