1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng của thể tài du ký trên nam phong tạp chí luận văn thạc sỹ ngữ văn

127 871 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng của thể tài du ký trên nam phong tạp chí
Tác giả Phan Thị Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 611,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 17 năm xây dựng và phát triển, Nam phong tạp chí đã xuất bản được 210 số, với khoảng 35000 trang chữ Quốc ngữ, Pháp và chữ Nho.Đây là một tài liệu quí giá về văn học và văn chương, đ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

PHAN THỊ MINH

ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ TÀI DU Kí

TRấN NAM PHONG TẠP CHÍ

MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nam phong tạp chí (1917 - 1934) là một trong số những tờ báo ra

đời tương đối sớm và có vị trí nổi bật trong đời sống văn hóa – văn học dântộc nửa đầu thế kỷ XX Năm 1917, Đế quốc Pháp chủ trương cho ra đờimột tờ nguyệt san nhằm phục vụ chính sách cai trị của Pháp tại Việt Nam

Tờ báo được đặt tên là Nam phong tạp chí do học giả Phạm Quỳnh làm chủ

bút phần Quốc ngữ và Pháp văn và học giả Nguyễn Bá Trác làm chủ bútphần chữ Nho Tuy nhiên, với tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc sâu sắc,học giả Phạm Quỳnh đã dần dần chuyển nội dung của tạp chí hướng về họcthuật, tìm hiểu các nền văn hoá Đông Tây, đặc biệt là văn hoá Việt Nam,với mục đích xây dựng một nền quốc văn mới, phổ biến học thuật, giớithiệu những tư tưởng triết học, khoa học, văn chương, lịch sử… để nângcao dân trí và dân khí

Sau 17 năm xây dựng và phát triển, Nam phong tạp chí đã xuất bản

được 210 số, với khoảng 35000 trang chữ Quốc ngữ, Pháp và chữ Nho.Đây là một tài liệu quí giá về văn học và văn chương, đề cập đến các lĩnhvực văn hoá Đông phương và Việt Nam nhằm đối mặt với nền văn minh cơkhí và văn hoá Pháp mà Đế quốc Pháp thời ấy muốn áp đặt để thanh tẩy

nền Nho học cũ, theo chủ trương “khai hoá” dân ta.Giá trị lịch sử của Nam

phong tạp chí cũng rất lớn vì đây là một phong trào của giới sĩ phu, trong

một thời đại đen tối của vận nước, cố gắng gìn giữ những giá trị lớn củaĐông phương và tìm cho nhân dân Việt Nam một con đường sáng sủa,trong đó nền nhân bản của dân tộc được bảo tồn và phát huy Bộ Quốc gia

Giáo dục Việt Nam cộng hoà đã đưa Nam phong tạp chí vào chương trình giáo dục bậc Trung học và yêu cầu tuổi trẻ Việt Nam phải đọc Nam phong

tạp chí để hiểu được một thời đại đau thương của lịch sử dân tộc và tinh

thần bất khuất của một lớp tiền bối

Trang 3

1.2 Nam phong tạp chí gồm có 9 chuyên mục khác nhau Mục Du ký với hơn sáu mươi tác phẩm, được nằm trong chuyên mục Tạp trở Chuyên

mục này ngoài việc giới thiệu sách mới, những bài tựa, những danh ngôn,trích lục các sách… thì chủ yếu đăng các bài ký (du hành, du ký), trình bàycác câu chuyện “mắt thấy tai nghe” dọc đường của một chuyến tham quan,công tác… Đây chính là nội dung được đánh giá là một trong những đóng

góp quan trọng của Nam phong tạp chí với nền văn học nước nhà Những tác phẩm du ký trên Nam phong tạp chí có giá trị nhiều mặt, phản

ánh được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người Việt Nam Trên

phương diện văn học, những tác phẩm du ký trên Nam phong tạp chí

thực sự là những tác phẩm đặc sắc Ngoài nội dung hiện thực phản ánh

rộng lớn, mới mẻ, thể du ký trên Nam phong tạp chí còn ghi dấu sự tìm

tòi, thử nghiệm của các tác giả trước lối viết theo hướng hiện đại Ở mức

độ nào đó, có thể khẳng định sự phát triển của thể du ký trên Nam phong

tạp chí đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt

Nam Trải qua hơn 70 năm, đến nay bộ du ký trên Nam phong tạp chí vẫn

là một kho tư liệu quý, một chứng tích của thời gian “Bộ du ký này là một

sự tập hợp một lúc nhiều giá trị: văn học sử, xã hội học, văn hóa học, dân tộc học, địa lý, phong tục… Và tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước thể hiện một cách hồn nhiên nhất Người xưa viết du ký trước hết là một cách cảm nhận không gian, còn người nay đọc du ký sẽ ám ảnh hơn về cảm giác thời gian” (Vũ Tuấn Anh).

1.3 Tuy nhiên, một vấn đề cần phải khẳng định là không phải đến khi

xuất hiện Nam phong tạp chí thì thể tài du ký mới ra đời Du ký đã xuất

hiện trong nền văn học trung đại qua các bài thơ ca đề vịnh phong cảnh

như: Vịnh Văn Yên tự phú của Huyền Quang Lý Đại Táo, Bài ký Tháp Linh

Tế núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu, Tịnh cư ninh thể phú và Đại đồng phong cảnh phú của Nguyễn Hàng, Nhị Thanh động phú và Tây Hồ phong

Trang 4

cảnh phú của Ngô Thì Sĩ, hay Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác… Đến

thế kỷ XIX, các tác phẩm du ký đã trở nên phong phú hơn cả về hình thứccũng như nội dung Phần lớn bài viết đều thuật lại những cuộc hành trìnhdài Nội dung của những bài du ký không chỉ còn giới hạn về các vấn đề

ca ngợi vẻ đẹp đất nước, mà đã xuất hiện một số tác phẩm ghi lại những

chuyến du ngoạn nước ngoài, tiêu biểu như: Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ, Ghi về vương quốc Khơme, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu của Trương Vĩnh Ký, Như Tây nhật trình, Chư quốc thạc hội của Trương

Minh Ký…

Bước sang thế kỷ XX, nhờ sự ra đời của báo chí, các nhà xuất bản,

sự phát triển của chữ Quốc ngữ và đặc biệt là nhờ điều kiện giao thôngthuận lợi, du ký đã thực sự chiếm một vị trí quan trọng trong đời sốngvăn học lúc bấy giờ Bằng việc sáng lập ra mục “Việt Nam nhị thập kỷ -

xã hội ba đào ký” trên An Nam tạp chí, Tản Đà (1889 - 1939) trở thành

người có công đầu trong việc thúc đẩy thể du ký phát triển Thế nhưng,

chỉ đến khi Nam phong tạp chí ra đời thì trên văn đàn Việt Nam mới có

nhiều tác phẩm du ký với lối viết đầy chất trữ tình và mang đậm dấu ấn

cá nhân, như: Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký (Phạm Quỳnh), Cuộc đi chơi năm tầng núi (Tùng Vân), Hương sơn du ký (Minh Phượng), Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đức Tánh)…

Những tác phẩm du ký này đã để lại nhiều giá trị nội dung cũng nhưnhững cách tân nghệ thuật độc đáo Cùng với những thể loại văn họckhác, du ký đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn họcViệt Nam

1.4 Với mong muốn củng cố và hoàn thiện thêm những hiểu biết về

sự phát triển của thể tài du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX, chúng tôi chọn vấn

đề Đặc trưng của thể tài du ký trên Nam phong tạp chí (1917-1934) làm

đề tài nghiên cứu của mình

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Xoay quanh vấn đề mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu, cho đến nay

có khá nhiều bài viết, thậm chí còn có cả những cuốn sách và một số khóa

luận, luận văn… bàn về thể tài du ký Việt Nam cũng như mục Du ký trên

Nam phong tạp chí trước hết phải kể tới các bài sau:

2.1 Những bài nghiên cứu về Nam phong tạp chí nói chung

Các tác giả nghiên cứu, giới thiệu về Nam phong tạp chí và các

chuyên mục của Nam phong tạp chí, để thông qua đó khẳng định sự đóng góp to lớn của Nam phong tạp chí với nền văn học nước nhà Trong hướng

nghiên cứu này có rất nhiều bài nghiên cứu, tuy nhiên trong khuôn khổluận văn, chúng tôi chỉ trình bày tóm tắt một số bài viết tiêu biểu

Cuốn sách Mục lục phân tích tạp chí Nam phong [54] của tác giả

Nguyễn Khắc Xuyên biên soạn năm 1962, năm 1968 được xuất bản tại SàiGòn và được Nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữĐông Tây in lại lần 2 vào năm 2002 Thông qua cuốn sách, tác giả đã xác

định du ký là một trong 14 bộ môn và đồng thời khẳng định Nam phong là

tạp chí văn học, văn chương, xã hội, nghệ thuật lớn, đánh dấu một thời kỳ

đi lên của văn hóa nước nhà Xuất bản cuốn sách, tác giả mong muốn gạnlọc, cung cấp cho bạn đọc mai sau những tư liệu quí về văn học, văn hóanước nhà, không để những giá trị đích thực có thể bị mai một đi

Bài viết Về thuật ngữ tiểu thuyết trên Nam phong tạp chí [48] của

Nguyễn Đức Thuận đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2/2005,

khẳng định Nam phong tạp chí ra đời không chỉ đánh dấu với sự hình thành

và phát triển của thể loại tiểu thuyết hiện đại trên Nam phong tạp chí nói

riêng mà còn gắn với sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam nói

chung Trong suốt thời gian 17 năm tồn tại, Nam phong tạp chí đã có công

gây dựng nền văn xuôi quốc ngữ của nước nhà, trong đó có việc xây dựng

thể loại tiểu thuyết Nam Phong tạp chí đã dẫn dắt, định hướng và cổ vũ

Trang 6

cho các cây bút văn xuôi của nước ta sáng tác đoản thiên tiểu truyện ngắn, một thể loại văn học cho đến giai đoạn bấy giờ nền văn họcviết bằng chữ quốc ngữ Latinh của nước ta mới ở điểm khởi đầu Tác giảcũng cho rằng, vào thời kỳ bình minh của tiểu thuyết viết bằng quốc ngữ,đây là một sự cố gắng, một thành tựu đáng được ghi nhận.

thuyết-Trong bài viết Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam

phong tạp chí [6] đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2/2005, tác giả

Nguyễn Đình Chú và Trịnh Vĩnh Long đã giới thiệu sơ lược về Nam phong

tạp chí Hai tác giả cũng khái quát sự đóng góp của Nam phong tạp chí trên

4 phương diện: quan điểm văn chương, sưu tầm bảo lưu văn học cổ, dịchthuật và giới thiệu các tác phẩm mới trong, ngoài nước Theo các tác giả,Nam phong là một tạp chí đa chức năng trong đó có văn hóa và văn học, cóvai trò khá đắc lực, cũng có thể nói là đặc biệt trong việc góp phần hiệnđại hóa văn hóa, văn học Việt Nam từ những năm 1920 trở đi Các tácgiả khẳng định, hiện nay việc xử lí mối quan hệ giữa báo chí và văn

chương trên báo chí cần thiết tham khảo kinh nghiệm đã có trên Nam

phong tạp chí

Bài viết Thử bàn về những đóng góp của mảng tư liệu Hán Nôm trên

Nam phong tạp chí [17] của tác giả Chu Tuyết Lan, đăng trên Tạp chí Hán Nôm, số 1, năm 1992, thông qua việc trình bày một số chứng cứ chứng

minh sự đóng góp của Nam phong tạp chí với mảng tư liệu Hán Nôm như:

399 đơn vị giới thiệu các bài sưu tầm, dịch thơ văn cổ; 33 đơn vị giới thiệucác bài nghiên cứu văn học; 168 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu vềlịch sử hoặc tư liệu về lịch sử; 119 đơn vị giới thiệu các sáng tác thơ vănđương thời; 7 đơn vị giới thiệu các văn bản chính trị đương thời Ngoài ra

tạp chí Nam phong còn đề cập đến rất nhiều vấn đề khác như luật hình, lễ

nghi, tang lễ, y học, nghề đàn, lịch, lăng tẩm, lệ cống Trung Quốc, các bộ

sử, nhận xét người phương Bắc về người nước ta, lịch sử và phong tụcnước ngoài Từ đó tác giả khẳng định, đến nay hơn nửa thế kỷ đã qua đi,

Trang 7

song những đóng góp đã phân tích ở trên các mảng tư liệu Hán Nôm trên

tạp chí Nam phong vẫn còn được ghi nhận và sẽ giúp cho bạn đọc cũng như

những nhà nghiên cứu có thêm căn cứ để tìm hiểu lịch sử, ngôn ngữ vănhóa, xã hội và phong tục nước nhà

Trong bài viết Du ký của người Việt Nam viết về các nước và những

đóng góp vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt giai đoạn thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, tác giả Nguyễn Hữu Sơn cho rằng bên cạnh vai trò

“người môi giới” văn hóa – văn học Việt Nam với thế giới, các tác phẩm

du ký nói riêng và Nam phong tạp chí nói chung đã có những đóng góp

đặc biệt quan trọng vào tiến trình phát triển văn xuôi tiếng Việt nửa đầuthế kỷ XX

2.2 Những bài nghiên cứu về du ký trên Nam phong tạp chí nói riêng

Trong Lời giới thiệu của Nguyễn Hữu Sơn đăng ở cuốn Du ký Việt

Nam Tạp chí Nam phong 1917 – 1934, Nxb Trẻ, 2007, tập 1 và được đăng

lại với tựa đề Thể tài du ký trên tạp chí Nam phong (1917 – 1934) [36], tạp

chí Nghiên cứu Văn học, số 4/2007, tác giả khẳng định nhu cầu hiểu biết,khám phá, đổi thay không khí chính là cơ sở cội nguồn hình thành nênnhững trang du ký Các tác phẩm du ký ra đời thể hiện nhu cầu kết nối giữachủ thể sáng tác và bạn đọc Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã cónhiều sáng tác thuộc thể tài du ký, song phải ghi nhận các trang du ký

trên Tạp chí Nam phong đã tiếp nối được tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc từ cội nguồn văn học ông cha Nam phong tạp chí đã biết lợi

dụng diễn đàn công khai để khơi gợi và giáo dục tình cảm yêu nước,nhắc nhớ lại truyền thống đấu tranh anh dũng ngàn năm của dântộc.Nguyễn Khắc Xuyên cho rằng: theo tờ Nam Phong, “có thể thấy mộtphần nào làm một cuộc hành trình qua những phong cảnh hùng vĩ nhất,đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc tới Nam” [dẫn theo Nguyễn

Trang 8

Ngọc Thiện, 47] Trần Hữu Tá trong bài Du kí Việt Nam – một bộ sách quý

lại chú ý tới văn phong của tác phẩm này Theo ông “đọc lại văn chươngquốc ngữ đầu thế kỉ XX của Phạm Quỳnh, Trần Tiến Lãng, Nguyễn TrọngThuật, Huỳnh Thị Bảo Hòa… về cơ bản, ta vẫn có được cái nhã hứng của

người khát khao tri âm tri kỷ với văn chương” [45]

Bài viết Du ký trên tạp chí Nam phong [20] đăng trên báo Người đại

biểu nhân dân, số 91/2009, của tác giả Phong Lê nhận định, mục du ký trên

Nam phong tạp chí là minh chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử

văn học dân tộc - giai đoạn bản lề, giao thời trên tất cả các phương diện củangôn ngữ và thể loại, của tác giả và công chúng, của nội dung học thuật và

tư duy nghệ thuật, hội tụ đủ các tri thức về địa dư và lịch sử, cùng nhữngcảm khái và suy ngẫm về thời thế, đồng thời xen với việc kể, tả, các tác giảluôn gửi gắm vào trong tác phẩm của mình một tình yêu và niềm tự hào vềđất nước

Bài viết của Trung Sơn trên báo Doanh nghiệp ra ngày 13-5-2007 với nhan đề Viết của sự đi Bài viết đã nêu lên một vài đặc điểm nổi bật

của du ký trên Nam phong tạp chí, đó là điều kiện ra đời, những đặctrưng không gian - thời gian trong du ký.Tác giả nhận định: “Bộ du kýViệt Nam trên Nam phong tạp chí là một kho tư liệu quí, một chứng tíchcủa thời gian” [42]

Báo Tuổi trẻ, ra ngày 23 - 3- 2007, Phạm Xuân Nguyên có bài Đọc

sách để đi chơi Tác giả Xuân Nguyên cũng đã đưa ra ý kiến đánh giá của

mình về du ký: ”Đọc du ký, để hiểu biết có thêm thông tin tri thức là một

lẽ Đọc những tác phẩm du ký này còn để hiểu thêm suy nghĩ, cảm xúc củanhững con người đứng ở buổi đầu nền văn học hiện đại, muốn truyền tải vàgửi gắm tới quốc dân trong một nước đang tìm cách thoát lạc hậu đến vănminh” [28]

Trang 9

Báo Văn hóa và thể thao, ra ngày 27- 4- 2007 có bài viết Du ký như

một thể tài của tác giả Linh Lê Trong đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn

khi trả lời phỏng vấn của tác giả Linh Lê, đã khẳng định: “Du ký cần quanniệm như là một thể tài Thể tài du ký cần phải hiểu là nhấn về phía đề tài,nội dung và cảm hứng nghệ thuật của người viết chứ không phải phía thểloại” [21]

Tạp chí Nghiên cứu văn học số 04 năm 2007, có bài Thể tài du ký trên

tạp chí Nam Phong (1917 - 1934) Trong bài viết này, Nguyễn Hữu Sơn đã

đi sâu vào các đặc trưng của thể du ký [39]

Trong bài viết Du ký của người Việt Nam viết về các nước và những

đóng góp vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt giai đoạn thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX , tác giả Nguyễn Hữu Sơn cho rằng mặc dù giới hạn ở

thể tài du ký, nhưng các tác phẩm du ký của người Việt Nam viết về các

nước được đăng tải trên Nam phong tạp chí đã đánh dấu sự vận động, đổi

thay, mở rộng, hoàn chỉnh dần tất cả các cấp độ hình thức ngôn từ nghệthuật như hệ từ vựng, cách ký âm, chính tả, ngữ pháp, dung lượng, thể văn,thể tài, bút pháp, văn phong, phong cách Tác giả khẳng định, bên cạnhvai trò “người môi giới” văn hóa - văn học Việt Nam với thế giới, các tác

phẩm du ký nói riêng và Nam phong tạp chí nói chung đã có những đóng

góp đặc biệt quan trọng vào tiến trình phát triển văn xuôi tiếng Việt nửađầu thế kỷ XX

Bài viết Giá trị văn hóa và văn học của loại văn du ký (khảo sát qua

sách du ký Việt Nam) [10] của tác giả Nguyễn Thúy Hằng, đăng trên tạp

chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tiến hành khảo sát các tácphẩm du ký Việt Nam trên 3 phương diện tác giả, bối cảnh lịch sử - vănhóa và đề tài để tìm ra những giá trị văn hóa và văn học của thể loại du

ký Trong bài viết này, tác giả cũng khẳng định các tác phẩm du ký Việt

Nam nói chung và các tác phẩm du ký trên Nam phong tạp chí nói riêng

Trang 10

đều là những trang viết dưới góc nhìn văn hóa thể hiện tình yêu tổ quốc,

dù là phê phán hay ca ngợi cũng đều hướng đến mong muốn xây dựng mộtnước Việt phồn vinh Chính từ mong muốn tha thiết bảo tồn các di sảnvăn hóa dân tộc, muốn xây dựng một ngôn ngữ tiếng Việt giàu và đẹp

mà các tác giả, thông qua tác phẩm của mình, đã làm nên giá trị văn hóa

và văn học của thể du ký

Trong cuốn Quá trình hiện đại hóa văn học do nhà nghiên cứu Mã

Giang Lân chủ biên, cũng nói tới thể tài du ký: “Thể tài văn học đầu tiênviết bằng chữ quốc ngữ phải kể đến du ký Đây là một hình thức bút kývăn học được ghi lại bằng văn xuôi Thuật lại những chuyến đi của tác giảđến những vùng đất khác nhau Nguồn gốc của du ký cần tìm trong nhữnghình thức tùy bút, ký sự truyền thống” [18]

Năm 1989, trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nói

sơ lược về thể tài du ký khi nói tới nhóm nhà văn trong Nam phong tạp

chí và ông có nhắc tới một số tác phẩm du ký: Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất

Hợi của Trương Vĩnh Ký, Ba tháng ở Pari (rút từ Pháp du hành trình nhật kí) của Phạm Quỳnh [33].

Năm 1965, trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên,

Phạm Thế Ngũ có bàn tới thể tài du ký nhưng là du ký riêng trong sángtác của Phạm Quỳnh Ông đã đưa ra nhận xét: “Du ký Phạm Quỳnh thiên

về biên khảo, văn nghị luận nhiều hơn văn cảm giác Như bài Trẩy chùa

Hương mở đầu bằng một khúc đại luận về tôn giáo, rồi dọc đường chỉ

thấy những lời bình phẩm, suy xét về phong tục, tín ngưỡng của ngườimình (…) Phạm Quỳnh đã biết thuật chuyện có duyên, biết điểm vàonhững đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất là khéo biết sử dụng một lời văn thanhthoát trang nhã Nhưng từ năm 1925 trở đi, ngòi bút hướng vào giản dị vàchuẩn xác hơn” [29]

Trang 11

Năm 2010, luận văn thạc sĩ của Đặng Hoàng Oanh (Trường Đại Học

Vinh) đã nghiện cứu về Phạm Quỳnh với đề tài Đóng góp của du kí Phạm

Quỳnh trong việc hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ

XX Ở luận văn này tác giả đã đưa ra những đóng góp của Phạm Quỳnh ở

Những ý kiến mà chúng tôi đã điểm trên đây nhìn chung các tác giả

mới chỉ tập trung nghiên cứu giá trị lịch sử, những đóng góp của thể tài nàyđối với nền văn học nước nhà, mà chưa có nhiều bài viết sâu sắc về đặc

trưng của thể tài du ký trên Nam phong tạp chí trên cả hai bình diện nội

dung và nghệ thuật

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Luận văn nhằm tìm hiểu đặc trưng nội dung và nghệ thuật của

mảng du ký trên Nam phong tạp chí.

3.2 Xác định đóng góp của du ký trên Nam phong tạp chí trong tiến

trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát

Lấy Đặc trưng của thể tài du ký trên Nam phong tạp chí (1917

-1934) làm đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung khảo sát ba tập Du ký Việt Nam - tạp chí Nam phong (1917 - 1934) do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm

và giới thiệu, Nxb Trẻ ấn hành năm 2007 với 62 tác phẩm

Trang 12

Ngoài ra, để làm rõ sự kế thừa và cách tân của thể tài du ký trên Nam

phong tạp chí, luận văn mở rộng diện bao quát và tìm hiểu những tác phẩm

du ký thời trung đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp thống kê, miêu tả

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn cấu trúc qua ba

chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về du ký và thể tài du ký

Chương 2 Đặc trưng của thể tài du ký trên Nam phong tạp chí nhìn

từ bình diện nội dung

Chương 3 Đặc trưng của thể tài du ký trên Nam phong tạp chí nhìn

từ bình diện nghệ thuật

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU KÝ

VÀ THỂ TÀI DU KÝ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về thể tài du ký

1.1.1 Khái niệm du ký

1.1.1.1 Quan niệm về du ký trên thế giới

Du ký, cùng với phóng sự, tùy bút, hồi ký, bút ký… được coi là mộttrong những tiểu loại của thể loại ký, một nhóm thể tài nằm ở phần giaonhau giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu cácloại) Sáng tác văn học dạng thể ký thường thịnh hành ở các giai đoạn, thời

kỳ xã hội có khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp sống mới,làm tăng cường chú ý đến sự miêu tả các thói tục Có thể thấy những ví dụsinh động trong nền văn học thế giới biểu hiện rõ rệt điều này: văn học Ngagiữa thế kỷ 19 khi sự hỗn loạn xã hội với chế độ nông nô sụp đổ, quý tộcsuy đồi, tầng lớp hạ lưu bị bần cùng hóa, ký là một trong những thể loạichủ đạo của văn học; hoặc nước Anh đầu thế kỷ XVIII khi các tạp chíchâm biếm đăng những bài phác họa chân dung và cảnh sinh hoạt, đã trởthành ngọn nguồn cho sự nở rộ thể ký

Thế nhưng, hầu như ở mọi thời và mọi nền văn hóa đều có du ký Ởphương Tây những tác phẩm du ký đầu tiên viết về những cuộc thám hiểmcác vùng đất mới Làn sóng du ký đầu tiên ở thế kỷ sau Columbus kể vềcác cuộc thập tự chinh, các cuộc chinh phục và các cuộc hành hương củacác anh hùng Trong tiếng Anh, du ký có tên gọi là “travel literature” vàđược sử dụng để chỉ những ghi chép lấy cảm hứng từ sự thích đi, từ nhữngcuộc hành hương, những chuyến công cán sự vụ, từ những cuộc thám hiểmđịa lý hay tìm kiếm lợi nhuận ở các vùng đất mới Do vậy, trên thế giớisong song với các “ghi chép thực tế”, những “chuyện kể xác thực” thường

Trang 14

do các nhà lịch sử tự nhiên và triết học thực hiện, còn có một dòng du kýviết về những chuyến phiêu lưu, mạo hiểm, những kỳ tích mà tính xác thựccủa các câu chuyện đó bị hoài nghi Ví dụ như các tác phẩm hoàn toàn hư

cấu như Odyssey của Homer, Thần khúc của Dante, Những chuyến du hành

của Gulliver của Jonathan Swift ở châu Âu cũng được coi là du ký.

Cũng do vậy, trên thế giới, căn cứ vào chủ thể sáng tác, du ký đượcphân ra làm bốn thể loại Loại thứ nhất là những bài viết về những chuyến

đi của những người lãng du Loại thứ hai lấy việc đi chỉ là cái cớ để viếtnhững bài bàn về quốc gia, dân tộc như trường hợp nhà văn người Anh V

S Naipaul được giải Nobel vào ngày 11 tháng 11 năm 2001 Loại thứ ba làkiểu của các nhà tự nhiên học như Charles Darwin, du ký nhưng là sự phântích tự nhiên dưới góc độ khoa học Loại thứ tư là kiểu các nhà văn đi rồiviết như John Steinbeck

Tóm lại, trên thế giới du ký là thể tài trung gian giữa thực và hư, tựtruyện và dân tộc học, nó kết hợp nhiều bộ môn hàn lâm, nhiều phạm trùvăn học và nhiều mảng xã hội Nó cũng nêu lên nhiều vấn đề liên quan đếnquyền lực và sự tu thân, đến sự biểu hiện văn hóa cũng như sự tưởngtượng Đi và thấy, cảnh và người, sự và việc, rồi viết ra cảnh ấy người ấy,

sự ấy việc ấy, kèm theo nghĩ suy, cảm xúc của mình, có khi còn là phântích, khảo cứu Đấy là quan niệm về du ký trên thế giới

1.1.1.2 Quan niệm về du ký ở Việt Nam

Có thể nói, du ký là loại ký có cốt truyện ghi chép về vẻ kỳ thú củacảnh vật thiên nhiên và cuộc đời; những cảm nhận, suy tưởng của conngười trong những chuyến du ngoạn Du ký phản ánh, truyền đạt nhữngnhận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người du lịch

về những điều mắt thấy tai nghe ở những xứ sở xa lạ, nơi mọi người ít códịp đi đến, chứng kiến Hình thức du ký có thể bao gồm các ghi chép, ký

Trang 15

sự, hồi ký, thư tín, hồi tưởng Tác giả của du ký tường bộc lộ niềm say mêkhát khao tìm kiếm, khám phá những điều mới lạ.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, du ký được hiểu là “một thể loại văn học

thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch,

ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ

sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến Hình thức của du ký rất đadạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng, miễn là manglại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục,dân tình của xứ sở ít người biết đến [ ] Dạng đặc biệt của du ký phát huycái chất ghi chép về miền xa lạ của nó là du ký về các xứ sở tưởng tượng,

có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học [ ] Dạng du ký khácđậm đà phong vị phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về nhữngnơi danh lam thắng cảnh đất nước [ ] Thể loại du ký có vai trò quantrọng đối với văn học thế kỷ XVIII- XIX trong việc mở rộng tầm nhìn vàtưởng tượng của nhà văn Sang thế kỷ XX, du ký mang nhiều tính chất tưliệu khoa học do các nhà địa chất, nhà dân tộc học viết Loại du ký khoahọc cũng rất thịnh hành” [9, 108]

Định nghĩa trên đây đã khái quát được những đặc điểm cơ bản nhấtcủa thể tài du ký Du ký về cơ bản là khác với truyện (truyện dài, truyện vừa,truyện ngắn) ở chỗ trong tác phẩm du ký không có một xung đột thống nhất,phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu tả, tường thuật Đề tài

và chủ đề của tác phẩm cũng khác biệt với truyện, nó thường không phản ánhvấn đề sự hình thành tính cách của cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh,

mà là các vấn đề trạng thái dân sự như kinh tế, xã hội, chính trị, và trạng tháitinh thần như phong hóa, đạo đức của chính môi trường xã hội

Những sáng tác văn học thuộc thể du ký là một bộ phận không thểtách rời của các nền văn học trên thế giới nói chung và văn học dân tộc nói

Trang 16

riêng Tuy nhiên, việc thừa nhận thuộc tính văn học của những tác phẩm du

ký nhất định đôi lúc còn phụ thuộc vào quan niệm đương thời ở từng nềnvăn học về cái gọi là tính văn học Các đặc điểm về văn phong, ngôn từnghệ thuật của những tác phẩm du ký phản ánh thuộc tính văn học của thểloại, bên cạnh sự gần gũi với văn học trong những nội dung mà tác phẩm

du ký đề cập

Du ký cho phép tái hiện những thời đoạn lịch sử đã qua trong tiếntrình phát triển xã hội thông qua những bình diện mà nó đề cập Có nhữngtác phẩm chú ý đến việc miêu tả các phong tục qua những nét tính cáchtiêu biểu; có tác phẩm chú ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc trongcuộc sống của cư dân các vùng miền qua các thời đại; có tác phẩm mang

âm hưởng trữ tình, triết lý…

Nhiều tác phẩm du ký nghiêng về tính báo chí, tính chính luận, biểuthị sự quan tâm mang tính thời sự đến những trạng thái và xu hướng nhấtđịnh của sự phát triển xã hội Bên cạnh đó là những tác phẩm đậm tínhchất tư liệu, hướng vào việc tái hiện chính xác thực tại với những sự kiện

có thực, thường kèm theo sự lý giải, đánh giá tùy theo sự nhạy cảm vàcách hiểu của tác giả Kết cấu của du ký rất đa dạng: có thể có mô hìnhngười kể chuyện để tạo sự thống nhất cho các thành phần vốn dị biệtnhau; có thể tạo thành thể loại từ những phần vốn chỉ gắn với nhau bằngmột trật tự bề ngoài, lấy đề tài các đoạn mô tả, hoặc các ý bình luận về các

sự việc được miêu tả làm ráp nối sự kiện

Nguyễn Hữu Sơn trong bài Thể tài du ký trên tạp chí Nam phong

cho rằng “khi nói đến “thể tài du ký” là nhấn mạnh ở phía đề tài, phía nộidung và cảm hứng nghệ thuật nơi người viết, chứ không phải ở phía thểloại Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác bằng thơ, phú, tụng và cácbài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, phóng sự, ghi chép, khảo cứu, hồi

ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các di tích lịch sử, danh lam thắng

Trang 17

cảnh, sinh thái, kiến trúc, mỹ thuật; thậm chí có thể liên quan tới nhiềuphương diện của xã hội học, văn hoá học, khảo cổ học, dân tộc học và vănhoá- văn nghệ dân gian khác nữa… Do đó đã xuất hiện thực tế có tácphẩm nằm ở trung tâm thể tài du ký và nhiều trang viết khác lại nằm ởđường biên hoặc hỗn hợp, pha tạp với những sắc độ đậm nhạt khác nhau,

cả về đối tượng, phạm vi đề tài, nội dung hiện thực lẫn phong cách thể

loại” [39, 22] Cũng chính tác giả này, trong lời giới thiệu Du ký Việt Nam

– Tạp chí Nam phong đã khẳng định thêm: du ký “không đơn thuần chỉ là

một tác phẩm văn chương mà còn dung chứa trong đó nhiều yếu tố lịch

sử, địa lí, giáo dục, và đôi khi còn phản ánh cả phương diện chính trị xãhội nữa Nói cách khác, du ký cùng với bút ký, hồi ký, nhật ký, kí sự,phóng sự, tùy bút, nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học”[38, 5]

Như vậy, về cơ bản ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều có chungquan điểm về thể tài du ký Tuy nhiên, một điểm khác biệt cơ bản đối vớithế giới là ở Việt Nam không có dòng du ký hoàn toàn hư cấu – dạng đặcbiệt của thể tài du ký, mà chủ yếu là dạng du ký đậm đà phong vị phươngĐông, ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơi danh lam thắng cảnhcủa đất nước Vì vậy có thể hểu rằng thể tài du ký có những dấu ấn riêngbệt đó là sự ghi chép chân thực về những chuyến đi, đưa lại cho độc giảnhững thông tin phong phú, chính xác về lịch sử, địa lí, xã hội, phongcảnh… của một vùng đất Ngoài ra các tác giả thể hiện tình cảm, quanđiểm… của mình

1.1.2 Đặc trưng thi pháp của thể tài du ký

1.1.2.1 Thể du ký - sự dung hợp của các thể loại

Du ký là một thể đặc biệt của văn học, bởi trong một tác phẩm du kýthường có sự kết hợp của nhiều thể loại khác nhau Không phải riêng thể du

ký mới mang đặc điểm nghệ thuật ấy, mà ngay trong những tác phẩm văn

Trang 18

học trung đại, người ta đã bắt gặp sự dung nạp của nhiều thể loại trong cáctác phẩm ký, hay truyền kỳ Ở đó, các tác giả có thể cho phép cùng lúctrong một tác phẩm văn xuôi tự sự, có sự xuất hiện của các thể văn khácnhư: thơ trữ tình, câu đối, hát nói, khúc ngâm…

Trong các bài du ký, văn xuôi tự sự vẫn là thể loại chính, theo Phan

Cự Đệ “ở văn học Việt Nam, ký là một trong những loại hình văn xuôinghệ thuật xuất hiện sớm nhất và có vai trò quan trọng ” [7, 373], nhưngcác tác giả đã khéo léo lồng ghép những bài thơ, những câu hát, những bài

ca dao, tục ngữ… xen lẫn những đoạn văn tả cảnh hay bình luận Thơ trữtình là thể loại được các tác giả du ký sử dụng nhiều nhất trong các tácphẩm của mình Đó có thể là những câu thơ của chính những nhà du kýtrên mỗi đoạn đường đi qua, là những câu chuyện kể về cảnh đời, cảnhngười bằng ngôn ngữ thơ, tức cảnh mà ngụ tình với những bài thơ như:

Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh, tập thơ Bắc hành tạp lục

của Nguyễn Du…

Ngoài những câu thơ của chính các tác giả khi “đối cảnh động lòngthơ”, du ký còn sưu tập, ghi lại nhiều bài thơ, bài vịnh của các tác giả nổitiếng như: Nguyễn Trãi, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Tản Đà, BàHuyện Thanh Quan… và nhiều bài Đường Thi, Tống Thi Không chỉ dungnạp riêng thể thơ trữ tình, du ký còn dung nạp nhiều thể loại khác như hátnói, khúc ngâm, ca trù, câu đối

Như đã trình bày ở trên, du ký là một dạng văn ghi chép trên đường

mà tác giả chính là người đi đường thuật lại chuyện Cho nên nó khá tự do

về mặt thể loại, cho phép tác giả bên cạnh việc kể lại những điều mắt thấytai nghe, còn có thể dừng lại suy tư, luận bàn bằng những ý thơ, nhữngkhúc hát, những bài ca dao… mà không hề ảnh hưởng tới nội dung, tưtưởng câu chuyện đang kể Thậm chí chính sự kết hợp giữa các thể loại ấy,

Trang 19

đã đem tới sự hiệu quả cho các tác phẩm du ký, khiến cho những trang du

ký vốn khô khan được trở nên sinh động và cuốn hút hơn

1.1.2.2 Không gian - thời gian trong các tác phẩm du ký

Thời gian - không gian là những yếu tố nghệ thuật có vai trò quantrọng trong việc chuyển tải nội dung và tư tưởng cho tác phẩm văn học.Không chỉ tạo ra thời điểm và bối cảnh xác định cho cốt truyện, mà trongthời gian, không gian còn trực tiếp tham gia và thúc đẩy quá trình phát triểncủa truyện Và cùng với như thời gian, không gian là hình thức tồn tại củathế giới nghệ thuật

Du ký với đặc trưng là thể văn ghi chép lại những điều mắt thấy tainghe của người đi, nên nó đòi hỏi cao ở tính khách quan, chính xác Bởivậy, ngay từ yếu tố thời gian trong các tác phẩm đã được các nhà du ký chú

ý, coi trọng Nếu như thời gian trong các tác phẩm truyện ngắn, hay tiểuthuyết thường là thời gian phiếm định, hư cấu, người viết tiểu thuyết khôngbắt buộc phải ghi rõ ngày tháng xảy ra câu chuyện, thì với các tác phẩm du

ký điều ấy là ngược lại Thời gian trong du ký là thời gian thực, thời gianđược xác định Ngay ở phần mở đầu bài du ký, các tác giả đã thường thôngbáo cho người đọc thời gian câu chuyện xảy ra

Việc ghi lại chính xác thời gian diễn ra các câu chuyện, sự kiện, khiếncho câu chuyện của các nhà du ký trở nên chân thực và đáng tin cậy hơn,

nó cũng cho thấy thái độ tôn trọng của người viết đối với độc giả Thờigian không chỉ mang tính chất thông báo đơn thuần, mà nhiều khi nó còn làyếu tố, là mắt xích xâu chuỗi các sự kiện, sự việc, góp phần thúc đẩy diễnbiến của cốt truyện Dường như mỗi bước chân qua, tác giả đều ghi lại dấumốc thời gian, khiến cho câu chuyện trở nên rõ ràng và đôi khi người đọc cócảm giác như chính mình cũng tham gia vào chuyến du lịch đó Một số tácphẩm khác được viết dưới dạng nhật ký, nên thời gian trong đó càng được

Trang 20

ghi lại chính xác từng ngày giờ Cũng bởi hình thức này, mà người đọc cóthể theo dõi dễ hơn những cuộc hành trình dài

Cũng giống như thời gian, không gian trong du ký là không gian thực,không gian mang tính địa lý Việc xác định rõ các nơi chốn, địa điểm khiếncho sự chân thực của các tác phẩm du ký càng được nâng cao Trong cácbài du ký, ở mỗi nơi dừng chân, các tác giả luôn ghi lại thật chính xác địađiểm, tên từng vùng miền Bằng cách ấy, độc giả có sự hình dung cụ thể vềcác danh thắng, các vùng miền văn hóa, thậm chí về cả những nước ngoài

xa xôi khác Nói như nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh, thì người xưa viết vàđọc du ký là một cách cảm nhận về không gian Ở đây, có thể là không giannhỏ hẹp của một địa danh, một di tích, một làng quê, cũng có thể là khônggian rộng lớn của cả một vùng miền, một đất nước

Như vậy, nhằm nâng cao tính xác thực cho những điều mắt thấy tainghe, các tác giả du ký đã luôn ý thức trong việc ghi lại không gian và thờigian một cách cụ thể, rõ ràng trong các tác phẩm của mình Thời gian cótác dụng xâu chuỗi các sự kiện, còn không gian thì chắp nối các địa danh

Có thể nói kiểu thời gian - không gian thực, chính là một đặc trưng nghệthuật của thể du ký nói riêng, thể loại ký nói chung

1.1.2.3 Kết cấu trong các tác phẩm du ký

Đối với một tác phẩm văn học, kết cấu luôn là yếu tố nghệ thuật quantrọng Nếu tác phẩm văn học được ví như một ngôi nhà, thì kết cấu chính làphần kiến trúc của ngôi nhà ấy Một cách khái quát, kếu cấu được địnhnghĩa như sau: “Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bốcục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thànhnội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiềuhướng tư tưởng nhất định”

Mỗi thể loại văn học, tùy theo những đặc trưng riêng về nội dung và

tư tưởng mà cũng có những cách xây dựng kết cấu khác nhau Tiểu thuyết

Trang 21

trung, cận đại thường kết cấu tác phẩm theo lối chương hồi; tiểu thuyết,truyện ngắn hiện đại thì mở rộng và sáng tạo hơn về mặt kết cấu, có kết cấu

đa tuyến, kết cấu song tuyến, đơn tuyến, kết cấu tâm lý, kết cấu theo dòng ýthức Về thơ ca cũng có những loại kết cấu riêng như: kết cấu đối đáp, kếtcấu so sánh

Du ký là sự ghi chép của người đi trong những cuộc hành trình Câuchuyện luôn được kể theo đúng trật tự thời gian, cái gì xảy ra trước thì kểtrước, cái gì xảy ra sau thì kể sau, bởi vậy những sự việc, sự kiện cũngđược các tác giả ghi lại, sắp xếp theo đúng trật tự tuyến tính như vậy Kiểukết cấu của du ký là kiểu kết cấu mang tính ghi chép nối tiếp Kiểu kết cấunày tuy đơn giản, nhưng chính nó lại làm nên hiệu quả cho thể du ký Nócho phép người viết có thể tốc kí lại những sự kiện trên đường đi một cáchnhanh và chuẩn xác nhất Và những câu chuyện được kể lại cũng rõ rànghơn giúp cho độc giả có thể hình dung dễ dàng

Với lối kết cấu đơn giản này, đòi hỏi nhiều hơn tài năng kểchuyện, dẫn dắt vấn đề của các tác giả, để câu chuyện không trở nên tẻnhạt, khô khan Các bài du ký không chỉ dừng lại ở việc thuật việc,thuật người, không chỉ là việc giới thiệu các mốc thời gian, các nơichốn, địa danh… mà trong đó các tác giả đã khéo léo trích dẫn những

dữ liệu về địa lý, lịch sử, phong tục tập quán Để cho câu chuyện không

bị nhàm chán, khô khan, các nhà du ký còn luôn lồng ghép vào đónhững bài thơ, những khúc ngâm, những câu ca dao, những câu Kiềuquen thuộc Nhờ đó mà những câu chuyện ấy luôn tạo nên sự mới mẻ,hấp dẫn đối với người đọc

Như vậy, kết cấu của du ký tuy đơn giản, nhưng các tác giả vẫn cónhững cách xử lý khéo léo, tinh tế giúp cho những bài du ký không chỉ bớtđơn điệu mà còn dung chứa nhiều giá trị khác ngoài giá trị văn học như: địa

lý, lịch sử, kiến trúc, văn hóa truyền thống…

Trang 22

1.1.2.4 Người kể chuyện hay cái tôi chủ thể của nhà văn

Trong một tác phẩm văn học, người kể chuyện không chỉ là người dẫndắt câu chuyện mà nhiều khi người kể chuyện còn tham gia trực tiếp vàodiễn biến của cốt truyện, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của truyện

“Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sựđánh giá bổ sung về mặt tâm lý ngôn ngữ, hay lập trường xã hội cho cáinhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tácphẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh”

Trong thể du ký, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất Và cũng chỉ có mộtngười kể chuyện duy nhất, đó chính là tác giả Trong các tác phẩm ấy,người kể chuyện hay nhà văn luôn tự xưng là “tôi”, “chúng tôi” hoặc là “kýgiả” Du ký là những câu chuyện có thật, là những chuyến du lịch, nhữngcuộc hành trình của chính người đi thuật lại Bởi vậy, toàn bộ câu chuyện

sẽ được nhìn nhận và đánh giá qua con mắt của các nhà du ký

Để những bài du ký mang đúng giá trị chân thực của nó, bắt buộc tácgiả phải tôn trọng yếu tố khách quan Đó là toàn bộ những sự kiện, nhữngđiều mắt thấy tai nghe được tác giả trần thuật lại Tuy nhiên, nếu một bài

du ký chỉ đơn thuần là sự thuật lại hiện thực thì nó sẽ không còn giá trị vănchương Sử dụng lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất, cho phép nhà văn ngoàiviệc trần thuật khách quan còn có thể nói lên tiếng nói chủ quan của mình

Đó là những lời luận bàn, đánh giá, đôi khi lại là những phút trải lòng củachính tác giả

Đọc du ký, ngoài việc thưởng thức những cái hay, cái đẹp của cảnhvật non sông, của lịch sử văn hóa, mà đôi khi độc giả còn được hiểu hơn vềcon người nhà văn với những tâm tư, tình cảm chân thành nhất mà họ bộc

lộ trong tác phẩm Nói như nhà nghiên cứu Phong Lê thì: “Mỗi du ký, xenvới việc kể, tả thế nào cũng có những suy nghĩ về xưa và nay, về người và

ta, qua đó gửi gắm khát vọng thay đổi đất nước” [19]

Trang 23

Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hay cũng chính là tác giả là mộttrong những đặc điểm nghệ thuật nổi bật của thể du ký nói riêng, thể loại

ký nói chung Với đặc trưng nghệ thuật ấy, nhà văn bên cạnh việc trầnthuật hiện thực khách quan, vẫn có thể nói lên tiếng nói chủ quan của mình.Các tác phẩm du ký cũng nhờ đó mà đậm chất trữ tình và trở nên sinhđộng, cuốn hút hơn đối với người đọc

1.1.3 Sơ lược sự phát triển của thể tài du ký ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Theo quan điểm của các nhà lý luận, du ký là một thể loại văn họcthuộc loại hình ký, do vậy sự phát triển của thể tài du ký ở Việt Nam gắnliền với sự phát triển của thể loại ký Chính vì vậy, nói về sự phát triển củathể tài du ký không thể tách rời khỏi lịch sử của thể loại ký

Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối vềđặc trưng thể loại, các tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi

tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài có tính giao thoa giữabáo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật sự kiện ) vớivăn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M Gorki) vàthường có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc Sự giao thoa này càng trở nên rõràng khi mà bản thân thể tài ký còn đang trong quá trình hình thành và pháttriển, khi mà ngay đường biên thể loại giữa truyện ngắn và ghi chép, giữatiểu thuyết và phóng sự đôi khi cũng chưa được phân định rõ nét Đây cũng

là đặc điểm chung của văn học Việt Nam ở giai đoạn bước đầu hiện đạihoá, đang từng bước hội nhập vào nền văn học có tính chất toàn nhân loại.Trên thực tế nền văn học dân tộc thời trung đại, nhất là ở giai đoạn

hậu kỳ, cũng đã xuất hiện nhiều tác phẩm ký xuất sắc như Thượng kinh ký

sự của Lê Hữu Trác (1720-1791),Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ) Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất

Trang 24

Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898) Đây có thể coi là sự đánh

dấu những bước đi đầu tiên trong việc hình thành thể tài du ký ở Việt Nam.Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã có nhiều sáng tác thuộc thểtài du ký như thơ ca đề vịnh phong cảnh Thăng Long, núi Bài thơ, Yên Tử,Hoa Lư, sông Hương núi Ngự, Gia Định, Hà Tiên Qua mười thế kỷ đã

xuất hiện nhiều tác giả, tác phẩm nổi bật như Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334), Bài ký tháp Linh Tế núi Dục Thuý của Trương Hán Siêu (?-1354), Tịnh cư ninh thể phú và Đại Đồng phong

cảnh phú của Nguyễn Hàng (thế kỷ XV-XVI), Hà Tiên thập vịnh của Mạc

Thiên Tích (1706-1780) và nhiều tác giả khác, Nam trình liên thi tập của Ngô Thì Ức (1709-1736), Phụng sứ Yên Đài tổng ca của Nguyễn Huy Oánh (1713-1789), Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791), Nhị

Thanh động phú, Tây Hồ phong cảnh phú của Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Tụng Tây Hồ phú, Ngự đạo hành cung nhật trình của Nguyễn Huy Lượng

(1750-1808), Bài ký chơi núi Phật Tích của Nguyễn An (1770-1815), Gia

Định tam gia thi của Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Trịnh Hoài Đức

(thế kỷ XVIII-XIX), Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882),

Ghi về vương quốc Khơ-me, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Dậu (1876) của

Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Như Tây nhật trình, Chư quốc thạc hội của Trương Minh Ký (1855-1900), Hương Sơn hành trình của Chu Mạnh

Trinh (1862-1905)…

Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển vượt bậc của chữ Quốcngữ và việc ra đời các loại báo, tạp chí, các nhà xuất bản khắp trong cả nướcthì thể tài ký cũng xuất hiện và mau chóng giữ một vị trí quan trọng trongđời sống văn học Ở đây trước hết phải ghi nhận những sáng tác có ý nghĩađặt nền móng của Tản Đà (1889-1939) - người đã có công “khai sinh chonhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ” - đặc biệt cũng chính

ông là người đã đề xuất và tự mình khai bút cho mục “Việt Nam nhị thập kỷ

- Xã hội ba đào ký” trên An Nam tạp chí (không đều kỳ, 1926-1933)

Trang 25

Gắn liền với sự phát triển của báo chí trong vài ba thập niên đầu, Nam

phong tạp chí (1917-1934) đã đi tiên phong trong việc in các tác phẩm ký,

nhất là loại du ký - du hành, ghi chép và tuỳ bút Bên cạnh phần trọng tâm

là các trang khảo cứu, biên dịch, bình luận các vấn đề chính trị xã hội văn hoá là nhiều mục bài ghi chép, du ký - du hành với những đóng góp đadạng của Phạm Quỳnh, Thiện Đình, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Tiến

-Lãng, Đông Hồ, Mộng Tuyết Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích

Tạp chí Nam phong, 1917-1934, nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên xác

định du ký là một trong 14 bộ môn và nhận xét về thể du ký - còn được

ông gọi là du hành - trên Tạp chí Nam phong: “Trong mục Du ký này, phải

kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ, và nhất là Pháp du

hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”

Bước sang thập kỷ ba mươi, thể tài ký Việt Nam có bước phát triểnvượt bậc cả về lượng và chất Có thể nói cùng với sự trưởng thành mauchóng của ngành xuất bản, báo chí cộng hưởng với tinh thần cởi mở, dânchủ hoá một bước đời sống tư tưởng xã hội đã góp phần quan trọng tạo nênbước ngoặt của hoạt động văn học nghệ thuật Trong bối cảnh chung ấy, tất

cả các loại hình và thể loại văn học như thơ ca, văn xuôi, kịch, dịch thuật,biên khảo đều thu được thành tựu lớn lao Nói riêng ở thể tài du ký cũng

nở rộ từ đó tạo nên diện mạo chủ yếu của lịch sử thể tài du ký Việt Namnửa đầu thế kỷ XX

Ở chặng đường nằm trọn trong thập kỷ ba mươi, thể loại ký về cơ bản

đã định hình phong cách nghệ thuật với các thể văn như phóng sự, hồi ký,nhật ký, bút ký, ghi chép có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển của du ký Thời kỳ này có nhiều tác phẩm du ký của nhiều tác giảkhắp trong Nam ngoài Bắc, chủ yếu in báo Đến lúc này, du ký phân nhánhthành nhiều cụm chủ điểm như khảo cứu phong tục, đi thăm di tích lịch sử,nơi danh lam thắng cảnh, du ngoạn bằng đường không, đường bộ, tàu hoả,

Trang 26

tàu thuỷ Ở đây có nhiều trang ghi chép khá sâu sắc, chi tiết về văn hoá

học, dân tộc học như Tam Lang với Một ngày ở xứ Chàm (Tri tân, 1941); Biệt Lam Trần Huy Bá với lữ ký Ban Mê Thuột (Tri tân, 1942), Hai tháng

ở gò Óc Eo hay là câu chuyện đi đào vàng (Tri tân, 1944-1945); Nhật

Nham Trịnh Như Tấu với Sau tám năm trở lại thăm Laokay, Từ Hà Nội

đến hồ Ba Bể (Tri tân, 1942); Mãn Khánh Dương Kỵ với Indrapura Đồng Dương, Thiên YANA (Tri tân, 1943); Thái Hữu Thành với Giống Mọi

-ở Đồng Nai thượng, 15 ngày với Mọi có đuôi, Mọi “Xà Niên”, Ngải Mọi -ở Đồng Nai thượng (Nam Kỳ tuần báo, 1943-1944) Đồng thời nhiều địa

danh lịch sử và danh thắng như Hạ Long, Yên Tử, Kiếp Bạc, Cát Bà, Hoa

Lư, Sầm Sơn, Huế, Đà Lạt, Bà Nà, Ngũ Hành Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc đều đã được miêu tả lại khá sinh động, chi tiết Dù không trực diện phảnánh cuộc đấu tranh xã hội đương thời song chính mảng văn du ký cũng gópphần nâng cao nhận thức và niềm tự hào dân tộc, mở rộng hơn nữa dunglượng hiện thực và tầm bao quát sâu rộng, đa diện của thể ký đương thời.Nhìn lại chặng đường phát triển của thể loại ký nói chung và du kýViệt Nam nói riêng từ đầu thế kỷ đến 1945, chúng ta không khỏi ngỡ ngàngtrước những bước tiến vượt bậc cả về đội ngũ sáng tác, phạm vi đề tài, nộidung và nghệ thuật thể hiện Khác với phong trào Thơ mới và kiểu sáng táckịch, truyện ngắn, tiểu thuyết còn in đậm dấu nét giao lưu, tiếp nhận ảnhhưởng văn học phương Tây thì bản thân các thể tài ký lại mang tính nộisinh hết sức rõ nét Điều này có lý do trước hết bởi các thể tài ký cóphương thức thể hiện chủ đạo là ghi chép, gần với phong cách thông tinngười thật việc thật của báo chí Do đó các đề tài và nội dung hiện thựcphải là con người và sự kiện đang diễn ra ở Việt Nam chứ khó có hình thức

mô phỏng, tiếp nhận cốt truyện ký ở nước ngoài vào Việt Nam Sau khoảngmột thập kỷ tập dượt, phải sang những năm ba mươi thì các thể tài du kýmới có bước phát triển vượt bậc Với tư cách là dòng chủ lưu của thể ký,

Trang 27

các tác phẩm du ký đã đóng một vai trò quan trọng trong nền văn xuôitrước Cách mạng tháng Tám

Nhìn chung, thể tài du ký đã phản ánh được phần nào mọi khía cạnhbức tranh đời sống xã hội ở một giai đoạn lịch sử phức tạp và đầy biếnđộng Đó cũng đồng thời là con đường tự định hình, hoàn chỉnh dần cácđặc điểm thể loại và xây dựng được nhiều tác phẩm xuất sắc, có đóng góptích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại

1.2 Du ký trên Nam phong tạp chí trước yêu cầu hiện đại hóa văn học dân tộc

1.2.1 Vài nét về Nam phong tạp chí (1917-1934)

1.2.1.1 Thời gian ra đời và các giai đoạn phát triển của Nam phong tạp chí

Nam phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ

ngày 1 tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, tất cả được

17 năm và 210 số Tạp chí Nam phong do Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm và

chủ bút; Phạm Quỳnh làm chủ biên phần chữ quốc ngữ và Nguyễn Bá Trác

làm chủ biên phần chữ nho Nam phong là một trong những tạp chí Việt

Nam đầu tiên đúng thể thức, bài bản và giá trị về tri thức, tư tưởng Trụ sởtòa soạn ban đầu ở nhà số 1, phố Hàng Trống, Hà Nội - cùng nhà PhạmQuỳnh lúc bấy giờ, năm 1926 chuyển về nhà số 5, phố Hàng Da, Hà Nội

Trong mục Nhóm Nam phong của Từ điển Văn học bộ mới do Nhà

xuất bản Thế giới phát hành, đã viết: đây là một tờ tạp chí tập trung nhiềutrí thức Bởi vì đa số trí thức Việt Nam thời bấy giờ được đào tạo từ cái lòNho học; nhưng Nho học đang mạt vận, các nhà Nho không còn chỗ để thithố tài năng Khi Phạm Quỳnh đưa ra chủ trương “bảo tồn cổ học”, “quốctúy”, “dung hòa Đông Tây”, họ cảm thấy đây là nơi ít nhiều có thể giúpmình “thế thiên hành đạo”; “quốc hồn”, “quốc túy”, cũng xoa dịu tính tự áicủa những kẻ có đầu óc bài Tây nhưng bất lực, yếu đuối [4]

Trang 28

Nam phong tạp chí ra đời với khẩu hiệu “làm văn hóa không làm

chính trị” thì sẽ làm cho hoạt động chính trị của tờ báo bớt lộ liễu, và khiến

Pháp bằng lòng Chính vì vậy, hàng loạt cây bút Nho học đã đến với Nam

Phong tạp chí, giữ các mục “Văn uyển”, “Tiểu thuyết”, “Văn học bình

luận”… và đem lại cho tờ báo cái “phong vị ngôn ngữ” cũng như “tinh thầnHán học”: Dương Bá Trạc, Nguyên Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, NguyễnTrọng Thuật, Thân Trọng Huề, Nguyễn Bá Học, Lê Dư… Về sau, một sốngười vừa có Tây học vừa có Hán học, hoặc chỉ có Tây học, cũng ra cộng

tác với Nam Phong: Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long,

Nguyễn Tiến Lãng, Đồ Đình Thạch…

Nam phong tạp chí ra hàng tháng, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, có

một phần viết bằng chữ Hán, và từ 1922 trở đi còn thêm một phần chữ

Pháp Mục đích trực tiếp của tờ báo là thay chân Đông Dương tạp chí

tuyên truyền, giải thích chính sách của Pháp ở Đông Dương sau Đại chiến

I, cổ vũ công việc “khai hóa” của Pháp Ba nhân vật quan trọng đóng vaitrò sáng lập tờ báo là: Macty (Louis Marty), trùm mật thám Pháp ở PhủToàn quyền lúc ấy, rồi đến Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (? - 1945)

Nam phong tạp chí đề cập nhiều, dịch nhiều về tất cả các vấn đề chính trị,

văn học, lịch sử, triết học… nhưng không chuyên sâu một vấn đề gì, mà

gặp đâu bàn đấy, nhằm giới thiệu những kiến thức phổ quát Nam phong

tạp chí lúc bấy giờ mặc dù tán dương chính sách “khai hóa” của Pháp,

nhưng cũng chủ trương “bảo tồn quốc túy”, là tinh thần và đạo lý phươngĐông đã tồn tại trên đất nước ta hàng ngàn năm, trong đó chủ yếu là Nho,Phật, Lão Tờ tạp chí đã trải qua các giai đoạn phát triển như sau:

Giai đoạn đầu (1917-1922)

Có thể nói đây là thời kỳ thành lập và bành trướng Bài vở nặng vềmặt dịch thuật, sao lục, nặng về phần Hán văn Tiếng nói hoàn toàn chỉ cómột đường lối chính trị là tán dương quan Pháp, ca tụng vua Khải Định

Trang 29

Tuy nhiên tờ báo dần dần đổi giá trị với các bài vở súc tích và truyền đạtthanh thế ra khắp ba kỳ Trong giai đoạn này, Phạm Quỳnh hợp tác chặt

chẽ với Nguyễn Bá Trác Các tác giả gắn bó với Nam phong tạp chí thời kỳ

này ngoài Nguyễn Bá Trác còn phải kể đến Dương Bá Trạc, Nguyễn BáHọc, Trần Văn Ngoạn, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Khôi, Tản Đà, Trần Mỹ,Thân Trọng Huề, Hoàng Yến, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng

Giai đoạn thứ hai (1922-1925)

Sau khi Phạm Quỳnh đi Pháp về (cuối năm này (1922), Phạm Quỳnh

xin được đứng tên chủ nhân giám đốc Nam phong tờ báo từ nay coi như độc lập, của riêng ông Marty hết còn – dù gián tiếp – điều khiển đường lối

bài vở nữa), ảnh hưởng cá nhân ông gây được làm cho tờ báo mạnh thêm

và truyền ra đến nước ngoài Nhưng Nguyễn Bá Trác đã bỏ vào Huế làmquan Phần Hán văn bèn được trao cho Lê Dư Lại thêm ra một phần chữ

Pháp Nam phong dựa vào hội Khai trí, thi hành mục đích khai hoá quốc

dân của Hội Khai trí Phạm Quỳnh thường đứng ra tổ chức các cuộc diễn

thuyết ở Hội (như diễn thuyết về Truyện Kiều) Tháng nào báo cũng có một

bài đại luận về các vấn đề đạo đức, nhằm cải tổ phong tục tập quán quốc

dân (như Cách nói chuyện, Danh dự luận, Địa vị đàn bà, Giáo dục đàn bà),

có thể coi như một giai đoạn tờ Nam phong đề cao mục đích giáo huấn.

Thời kỳ này các tác giả cộng tác với tạp chí có Nguyễn Hữu Tiến, NguyễnTrọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Triệu Luật, Hoàng Ngọc Phách,Đoàn Tư Thuật, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long, NguyễnTường Tam

Giai đoạn thứ ba (1925-1932)

Tờ báo vẫn tiếp tục phát triển với uy thế nổi bật của người chủ nhiệm.Phạm Quỳnh tách rời khỏi Hội Khai trí, dọn toà soạn về ngôi nhà mới muađược ở phố Hàng Da Tờ báo không còn đăng kỷ yếu của Hội Khai trí.Những cuộc diễn thuyết cũng không còn tổ chức ở đó mà chuyển sang Hội

Trang 30

Trí tri Đồng thời ly khai với Khai trí, Phạm Quỳnh tỏ rõ thái độ độc lậphơn với chính quyền Giọng tán tụng Pháp không còn nữa

Năm 1925 xảy ra nhiều biến cố quan trọng: Phạm Hồng Thái ám sátMerlin, Phan Bội Châu bị bắt về nước Bên Pháp tả đảng lên cầm quyền,Phan Châu Trinh trở về Sài Gòn Phong trào đòi hỏi chính trị phát động

Toàn quyền Varenne thuộc đảng Xã hội được phái sang Nam phong

chuyển sang hướng chính trị Những bài luận thuyết và khảo cứu hướng

về thời cuộc chính trị (như Tinh thần lập quốc, số 103 - Khảo về chính

đảng, số 102, Học thuyết Rousseau, số 104, Montesquieu, số 108, Voltaire,

số 144) Cuộc vận động chính trị của các đảng bí mật tiếp diễn khôngngừng đưa đến vụ khởi nghĩa Yên Bái và những năm giao động ghê gớm

1930-1931 Trên tờ Nam phong Phạm Quỳnh đã dám mạnh dạn ăn nói,

nhất là ở phần Pháp văn Ông đưa ra chủ nghĩa quốc gia, thuyết lập hiến,bút chiến với Nguyễn Văn Vĩnh Giai đoạn này là giai đoạn hoạt độngchính trị của tờ báo và đưa Phạm Quỳnh đến việc được vời vào Huế làmThượng thư Nam Triều Cộng tác với tạp chí Nam phong giai đoạn nàyngoài Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật còn có một số tác giả mớinhư Lê Dư, Bùi Kỷ, Tương Phố, Nguyễn Thúc Khiêm, Vũ Đình Long,Nguyễn Tường Tam và Nhóm Trí Đức Hà Tiên bao gồm: Đông Hồ,Nguyễn Văn Kiêm, Mộng Tuyết, Trúc Hà

Giai đoạn thứ tư (1932-1934)

Đây là giai đoạn suy yếu của tờ báo Quyền chủ bút được trao choNguyễn Trọng Thuật Được vài số Lê Văn Phúc phải đứng ra canh tân, mờinhiều nhà Tây học trợ bút Rồi một thanh niên giỏi Pháp văn là NguyễnTiến Lãng đứng ra thừa kế Phần Pháp văn được tăng thêm, phần Hán văn

bỏ đi Báo thêm tranh ảnh, trình bày để cho hấp dẫn, lại ra mỗi tháng hai

kỳ, nhưng không đuổi kịp được thị hiếu của thời đại nên đến cuối năm

1932 thì đình bản

Trang 31

Như vậy ngoài chủ bút Phạm Quỳnh còn có ba người hợp tác chính làNguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục rồi Nguyễn Trọng Thuật Các câybút ở giai đoạn đầu có những nhà Nho cựu học do khoa cử xuất thân, hoặcquan lại đương nhậm (Trần Mỹ, Thân Trọng Huề) Cây bút ở giai đoạn hai

và ba có những người bán cựu, bán tân (Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long)

và ở giai đoạn bốn có những cây bút hoàn toàn tân học (như Nguyễn TiếnLãng, Đỗ Đình Thạch)

1.2.1.2 Nội dung của Nam phong tạp chí

Về bài vở ngay ở số ra mắt, bộ biên tập đã phân chia các phần như sau:

Phần Luận thuyết: Bàn chung những vấn đề có liên hệ đến thời thế,

nhất là những vấn đề liên hệ đến riêng dân ta để cho độc giả trong nước cómột quan niệm minh chính về các vấn đề ấy

Phần Văn học bình luận: Gồm những khoa văn chương lịch sử, đại để

những môn tổng danh gọi là văn học Bàn rộng những sách hay dù cũ dùmới, thâu thập những ý kiến tư tưởng mới hay danh tiếng

Phần Triết học bình luận: Nghiên cứu các lý thuyết tư tưởng đời xưa

đời nay, so sánh tư tưởng Âu Tây với Á Đông ta để giúp cho sự đề xướngmột tư trào riêng cho nước ta Tôn chỉ là giúp cho quốc dân về trí thức vàđạo đức

Phần Khoa học bình luận: Không chuyên luận về những khoa một

nhưng chỉ trình bày những vấn đề đại cương, những nguyên lý, lịch sử tiếnhành của khoa học

Phần Văn uyển: Sưu tầm những thi ca cũ bằng chữ Hán, chữ Nôm,

đồng thời đăng tải những bài thơ mới đủ loại: Đường thi, phú, ca trù, văn

tế, kinh sách, lục bát trường thiên

Phần Tạp trở: Gồm có những bài nho nhỏ, những câu chuyện vụn vặt

không thuộc vào những loại trên, những bài giới thiệu sách mới, những bàidanh ngôn trích lục các sách, những tin tức về học giới

Trang 32

Phần Thời đàm: Bàn về thời sự các việc lớn trong cũng như ngoài

nước, luôn luôn giữ một thái độ bình tĩnh mà thuật những việc đó, mưutoan lợi ích cho dân ta

Phần Tiểu thuyết: Dịch những bộ tiểu thuyết hay ở Pháp văn ra, cần

nhất là những cuốn có văn chương hay nghĩa lý cao kết cấu khéo, làm mẫumực cho tiểu thuyết sau này

Tuy nhiên, theo như cách phân chia của một số học giả bây giờ thìngoài bài luận thuyết thời cuộc và bài tóm tắt thời sự ra còn lại có thể chialàm hai phần: Một phần biên khảo học thuật (Tây hoặc Hán học) và mộtphần thi văn tiểu thuyết (sao lục, hoặc dịch thuật hoặc sáng tác)

Nói chung tờ báo có tính cách trang nghiêm khắc khổ nhưng dồi dào,

nội dung thiên về biên khảo học thuật So với tờ Đông Dương tạp chí thì tờ

Nam phong khó hơn, đề cập đến những vấn đề lý thuyết cao hơn, phần thi

văn cũng dồi dào hơn Ngoài ra ngay từ số đầu đã có một phần Hán văndày tới vài chục trang cũng có luận thuyết, có thi văn sao lục hoặc sáng tác,phần này đặt dưới sự trông nom của Nguyễn Bá Trác Từ 1922 trở đi lạithêm một phần Pháp văn do Phạm Quỳnh hoặc Nguyễn Văn Nho viết, cókhi đăng tải những bài trích các báo Tây hoặc những bài diễn văn của cácnhà chức trách Pháp

1.2.2 Thể tài du ký, một bộ phận quan trọng của Nam phong tạp chí

1.2.2.1.Cơ sở xã hội, văn hóa, văn học, về sự ra đời của thể tài du ký trên Nam phong tạp chí

Cơ sở lịch sử - văn hóa

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới lầnthứ nhất, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa ởnước ta, tạo ra những biến đổi to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa xã hội Một trong những hệ quả to lớn của quá trình thực dân hóa

Trang 33

chính là việc thúc đẩy sự phát triển mau chóng của đô thị ở Việt Nam.Trước đó, trong thời đại phong kiến, dưới tác động của nền kinh tế hànghóa tuy mới chỉ là manh nha, đô thị cũng đã sớm xuất hiện với sự ra đờicủa các phường thợ thủ công, những làng nghề, những cơ sở thương mại Nhưng phải tới thời kỳ Pháp thuộc đô thị mới thực sự được “tái sinh” theodòng chảy hiện đại Đô thị là nơi tích tụ và phản ánh những chuyển biếncủa xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa, là nơi cửa ngõ giao lưuvăn hóa giữa Việt Nam và thế giới, là nơi mà những ảnh hưởng phươngTây được thể hiện rõ nhất Ở đó, xuất hiện những tầng lớp mới của xã hội,những viên chức, những trí thức… với lối sống tư sản hóa đang mau chónghình thành Chính những tầng lớp xã hội ấy đã đem đến một luồng gió tinhthần mới trong đời sống Những tập tục, thói quen, những trói buộc khôngcòn phù hợp thậm chí là hà khắc của chế độ phong kiến đã dần bị họ đẩylui Thay vào đó là là những lối sống mới với những trạng huống tâm lýmới mẻ

Thứ nhất, đô thị phát triển chính là một trong những tiền đề quantrọng cho quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà Đô thị không chỉtạo ra những tầng lớp mới trong xã hội nói chung, mà đối với riêng lĩnh vựcvăn học nghệ thuật, đô thị đã “đào tạo” ra một tầng lớp công chúng mới

Họ bao gồm những học sinh, sinh viên, những trí thức, những người bìnhdân… Cho dù thành phần và xuất thân của lớp công chúng mới khônggiống nhau, nhưng tất cả đều có chung một thị hiếu, một đòi hỏi với vănhọc Văn học của thời đại mới phải thể hiện chân thực và sinh động nhấtđời sống, con người hiện đại Độc giả được biết đến như là những ngườitrực tiếp tiếp nhận tác phẩm văn học từ nhà văn Không có họ, câu hỏi

“Viết cho ai?” sẽ trở nên vô nghĩa, và như vậy cũng có nghĩa là văn họckhông thể tồn tại Độc giả của thế kỷ XX là những con người mới, mangnhững tri thức mới, đã không còn bằng lòng với kiểu văn chương đậm tính

Trang 34

chất giáo huấn với muôn ngàn khuôn vàng thước ngọc, những quy phạm,những ước lệ, những phi ngã của nền văn học trung đại Thay vào đó, họyêu cầu văn học như một nhu cầu giải trí thiết yếu, phải luôn sáng tạo, luônphục vụ kịp thời Trước những đòi hỏi ấy của người đọc, lớp nhà văn mới

đã phải không ngừng nâng cao ngòi bút, không ngừng cạnh tranh Vănchương thực sự trở thành một nghề kiếm sống Có thể nói cho tới lúc này -những thập niên đầu của thế kỷ XX, chưa bao giờ đời sống văn học lại trởnên sôi nổi, muôn sắc đến vậy

Thứ hai, một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của nền vănhọc mới đầu thế kỷ XX nói chung, cho sự ra đời và phát triển của các thểloại văn xuôi Quốc ngữ nói riêng, phải kể tới sự xuất hiện của báo chí vàchữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ trước thế kỷ XVII, làsáng kiến và cũng là nhu của các nhà truyền giáo Âu châu khi sang giảngđạo Và tuy từ khi chiếm được Nam Kỳ, Pháp đã chính thức hóa chữ Quốcngữ, đã xuất bản một vài tờ báo bằng chữ Quốc ngữ nhưng trong đời sốngvăn học, giữ địa vị thống trị vẫn là văn học nhà nho và văn học truyềnmiệng của nhân dân Văn chương Quốc ngữ tồn tại như những yếu tố xa lạ,không được kể là văn chương, chưa được công nhận vào đời sống văn họccủa dân tộc Sang thế kỷ XX, vấn đề văn chương Quốc ngữ mới được đặt

ra như một nhu cầu tất yếu, quan trọng cho quá trình hiện đại hóa nền vănhọc nước nhà Phạm Quỳnh, một nhà tân học, ngay trong số đầu tiên củatạp chí Nam phong do ông chủ bút đã xác định mục tiêu số một của tạp chílà: “Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta lúc này là vấn đề văn Quốc ngữ,vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới cóthể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong đợi được Đến ngàychữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thểthâu thái các khoa học mới, mà gây thành một nền học thích hợp với thái

độ, với tính cách dân ta Đến ngày ấy thì người dân ta mới phát biểu được

Trang 35

tinh thần cốt cách của mình… Nói rút lại, chữ Quốc ngữ có phát đạt thì nềnquốc học mới gây dựng được, quân dân ta mới không đến nỗi chung kiếp đihọc mướn viết nhờ như từ xưa đến nay”

Bên cạnh sự phát triển của chữ Quốc ngữ, sự ra đời của báo chí đã tạonên những môi sinh thuận lợi cho sự hiện diện và thăng hoa của nền vănhọc mới Báo chí chỉ thực sự ra đời trong quá trình thực dân hóa ĐôngDương của người Pháp Với mục đích “chinh phục tinh thần người bảnxứ”, người Pháp đã dùng báo chí như một công cụ hữu hiệu, là cầu nối giữangười đi chinh phục và người bị chinh phục Vì thế, ngay năm 1865, Pháp

đã cho xuất bản tờ Gia Định báo Sang thế kỷ XX, cùng với sự phổ biến

của chữ Quốc ngữ, báo chí phát triển nở rộ Bằng chứng là nếu như năm

1865 cả nước ta chỉ có một tờ Gia Định báo thì đến năm 1922 cả nước

đã có 96 tờ báo, tạp chí, tập san Năm 1925: 121 tờ; năm 1929: 153 tờ

với các tên báo nổi tiếng như: Đông Dương tạp chí, An Nam tạp chí,

Hữu Thanh tạp chí, Nam phong tạp chí, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo Thêm vào đó, đến đầu thế kỷ XX, nhờ sự trưởng thành nhanh

chóng của đội ngũ những người làm báo Việt Nam, hoạt động báo chícàng trở nên sôi động hơn bao giờ hết Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của

các nhà báo Việt Nam, Nghiệp đoàn báo chí thuộc địa được thành lập

(1919) với những cương lĩnh tiến bộ như: đòi tự do ngôn luận, cấm xâmphạm thân thể nhà báo… Đồng thời với sự ra đời của báo chí là nhữngtiến bộ về khoa học kỹ thuật trong ngành in ấn Các phương tiện in ấnhiện đại được nhập từ phương Tây đã thay thế lối khắc in bằng mộc bảnthủ công Cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam đã có một hệ thống các nhà in hỗtrợ đắc lực cho các nhà xuất bản thời ấy, góp phần thúc đẩy sự phát triểncủa báo chí nước nhà Với văn học Việt Nam buổi giao thời, báo chí làmôi trường tồn tại lý tưởng của văn học nói chung, các thể loại văn họcmới như du ký nói riêng Báo chí với tính thời sự và đại chúng của nó,

Trang 36

đã là phương tiện, là cầu nối đưa tác phẩm văn học tới tay độc giả mộtcách nhanh nhất, phổ biến nhất Ngoài ra, quá trình chuyển từ sáng tácbằng chữ Hán sang chữ Quốc ngữ, bắt buộc tất cả các nhóm nhà văn dùtân học hay cựu học đều phải trải qua một quá trình “tập làm văn bằngtiếng mẹ đẻ”, đặt nền móng xây dựng một thứ ngôn ngữ văn học mớibằng tiếng Việt Và báo chí là môi trường thuận lợi cho những thểnghiệm đó.

Thứ ba, đầu thế kỷ XX, quá trình tiếp xúc văn hóa Đông Tây diễn ramạnh mẽ Trước hết, đó là do hệ thống giáo dục Pháp - Việt mà Phápthiết lập đã tạo môi trường thuận lợi cho cơn gió văn hóa Tây Âu trànvào nước ta Cùng với đó, là sự phát triển của phong trào dịch thuật Kếtquả là hàng loạt các tác phẩm văn hóa văn học nước ngoài mà chủ yếu làtác phẩm của người Pháp được độc giả trong nước tiếp nhận Tư tưởngTây phương tràn vào đem lại cho chúng ta những quan niệm mới về vũtrụ và nhân sinh Trong quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây

ấy, nền văn học Việt Nam đã có những ảnh hưởng mang tính tích cực

Dễ nhận thấy, nền văn học ấy không ra đời theo con đường phủ định bêntrong từng bước văn học truyền thống mà bằng con đường chuyển nhữngthể loại bên rìa của văn học chính thống thời phong kiến vào trung tâmvăn học Song song với việc làm đó, các nhà văn đã lấy hệ thống thể loạivăn học cận hiện đại của châu Âu để phản ánh những vấn đề đời sốngbuổi đương thời Cơn gió văn học Tây Âu không chỉ đem tới cho nềnvăn học nước nhà hệ thống thể loại, chủ đề, đề tài mới mà nó còn cungcấp cho các nhà văn không ít những sáng tạo nghệ thuật đưa văn họcViệt Nam tiến vào con đường hiện đại hóa

Thứ tư, sau khi chiếm được nước ta, nhằm đẩy mạnh công cuộckhai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã cho xây dựng một hệ thống cơ sởvật chất, giao thông liên lạc hiện đại Giao thông thuận lợi, việc đi lại

Trang 37

được mở rộng chính là một trong những tiền đề thúc đẩy sự phát triểncủa thể du ký trong giai đoạn văn học giao thời này Du ký đúng như têngọi của nó, là “cái Viết của sự Đi”, vì thế để viết được những trang du kýchân thực và sinh động, bắt buộc người viết phải có những chuyến đi,bất kể là ngắn hay dài, có giới hạn rộng hay hẹp Có như vậy, họ mới cóthể thâu tóm và tái hiện những điều mắt thấy tai nghe, cũng như nhữngxúc cảm thành thực của cá nhân trong các tác phẩm du ký Đầu thế kỷ

XX, nhờ các phương tiện đi lại hiện đại như: máy bay, tàu hỏa, tàu thủy,

xe hơi, mà bao giấc mộng tang bồng của những người nghệ sĩ có cơ hộiđược thực hiện

Như vậy, sự xuất hiện và phát triển của đô thị, báo chí, nhà in, chữquốc ngữ, và sự tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, điều kiện giao thông thuậnlợi là những tiền đề lịch sử, văn hóa quan trọng cho việc ra đời của nềnvăn hóa mới của Việt Nam Trong nền văn học mới ấy, nhiều thể vănxuôi nghệ thuật như du ký đã có điều kiện phát triển và đã tạo đượcnhiều giá trị độc đáo

Cơ sở văn học

Thứ nhất, ở mỗi thời kỳ văn học luôn có những thế hệ nhà vănriêng Nền văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ XV tới thế kỷ XIX, lànền văn học Nhà nho Bởi lẽ nhà Nho chính là đội ngũ sáng tác văn họcchính Họ là những người con của “cửa Khổng sân Trình”, tiến thân lậpdanh bằng con đường khoa cử Theo quan niệm Nho giáo, văn học nghệthuật là phương tiện để giáo hóa chính tâm, chế dục, là công cụ chính trịđộng viên, tổ chức xã hội Văn học phải hướng vào Đạo, có quan hệ đếnnhân tâm, có tác dụng di dưỡng tính tình Quan niệm văn học nghệ thuậtcủa Nho gia, được chính quyền chuyên chế coi là chính thống, được đơngiản hóa cho thích hợp với nhu cầu nhà nước Và các văn sĩ nghệ sĩ đượcđào tạo theo quan niệm đó Chế độ thi cử nghiêm khắc đã xác định ra

Trang 38

những người có tài Nhà nước lấy văn chương chọn quan lại Sĩ tử muốn cócông danh chỉ có con đường duy nhất là học chữ, thi đỗ, và ra làm quan.Cũng vì lí do ấy mà văn chương cử tử được coi là thứ văn chương chínhthống, chính đạo và cao quý nhất Từ giữa thế kỷ XVIII, cùng với nhữngbiến đổi to lớn về các mặt của đời sống từ chính trị - xã hội, tư tưởng, đãdần xuất hiện một loại hình nhà nho mới: nhà nho tài tử Nhìn chung, nhànho tài tử vẫn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, vẫn vận động trongkhuôn khổ của một thể chế xã hội truyền thống, nhưng ở họ đã bắt đầu nảysinh những định hướng nhằm phá vỡ các khuôn khổ đó.

Bước sang thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn giao thời (1900 - 1930)nền văn học Việt Nam đã có nhiều biến đổi trong đội ngũ sáng tác Đâyđược coi là thời kỳ chung chuyển nhiều loại hình tác giả Lớp nhà văn cũchưa hoàn toàn mất đi, nhưng kiểu nhà văn hiện đại cũng chưa hình thànhmột cách rõ nét Các loại hình nhà văn ấy cùng tồn tại với những quanniệm văn học, những hướng đi riêng Bao gồm lớp nhà nho tài tử, tiêu biểunhư Tản Đà, các nhà nho là những chí sĩ yêu nước (Phan Bội Châu, PhanChu Trinh) Trong bước đầu quá trình hiện đại hóa nền văn học, với nhữngđòi hỏi mới của độc giả, các tác giả này đã không ngừng nỗ lực cách tâncác tác phẩm của mình Tuy nhiên sự cố gắng ấy vẫn chủ yếu theo conđường cách tân những thể loại văn học truyền thống như: Thơ, phú, kinhnghĩa, văn sách, luận, ký… Ngoài ra văn học thời kỳ này còn phải kể tớimột đội ngũ đông đảo các nhà văn là những trí thức tân học, đó là nhữngtên tuổi: Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Phạm Quỳnh, NguyễnVăn Vĩnh… Họ là lớp nhà văn ảnh hưởng rõ rệt nhất nền văn học hiện đạiphương Tây, là những người tiên phong học hỏi và thử nghiệm các thể loạivăn học mới Nhìn chung thế hệ nhà văn giai đoạn này khá phong phúnhưng ở họ quan niệm về văn chương nghệ thuật khá đồng nhất Vănchương không còn là việc “trước thư lập ngôn”, là để di dưỡng tính tình và

Trang 39

giáo dục con cháu, để thể hiện tâm trí đạo, mà văn chương được coi nhưmột nghiệp kiếm sống của nhà văn Văn chương không chỉ phản ánh hiệnthực mà nó còn là nơi để những người nghệ sĩ thể hiện cái tôi, thể hiệnnhững xúc cảm chân thành nhất Có thể nói chưa bao giờ “khát vọng thànhthực” được các nhà văn bộc lộ mạnh mẽ và sâu sắc như lúc này.

Thứ hai, sự phát triển của thể loại văn xuôi nói chung, thể du ký nóiriêng Thể loại là dạng thức tồn tại của chỉnh thể tác phẩm văn học Trongquá trình hình thành, tồn tại và phát triển, thể loại văn học vừa ổn định vừabiến đổi Ổn định không phải là sự đứng yên, khô cứng mà chỉ ở dạng địnhhình, khẳng định thành tựu Còn biến đổi là liên tục, là động lực của sựphát triển, đổi mới văn học Do đó, thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa

cũ M Bakhtin cho rằng, thể loại chứ không phải phương pháp hoặc trườngphái sáng tác là những nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học Và thểloại còn được coi là một trong những tiêu chí, thậm chí là quan trọng nhấttrong việc phân kỳ lịch sử văn học Nói như nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân:

“Lịch sử văn học là lịch sử phát triển của thể loại văn học”

Ở văn học Việt Nam cho tới cuối thời kỳ trung đại, các thể loại nhưtiểu thuyết, ký…cũng dần đi vào trung tâm của văn học Sang thế kỷ XX,với những tiền đề quan trọng của lịch sử - văn hóa, cũng như trong chínhnội hàm văn học, các thể văn xuôi nói chung, thể du ký nói riêng đã thực sự

có điều kiện để phát triển một cách mạnh mẽ

1.2.2.2 Mục du ký trên Nam phong tạp chí

Du ký Việt Nam là một tuyển tập gồm 3 tập giới thiệu những bài du

ký in trên tạp chí Nam phong (1917-1934), giới thiệu những cuộc hành

trình đi qua các vùng đất ở Việt Nam và một vài nơi ở nước ngoài vào đầuthế kỷ, khi mà các phương tiện giao thông còn thô sơ, việc đi lại còn rấthạn chế và khó khăn Từng địa danh nổi tiếng trên bản đồ đất nước, từngcảnh đẹp và di tích lịch sử hiện dần lên trước mắt người lữ hành Đây là hồ

Trang 40

Ba Bể và núi Dục Thúy, kia là Chùa Thầy cùng với Chùa Hương… Mộtchuyến Ai Lao hành trình hay một lần Pháp du cũng là dịp để mở rộng tầmnhìn ra thế giới… Qua những tập du ký, người đọc có thể hình dung đượcmột phần cuộc sống và sinh hoạt của dân ta ở mọi miền đất nước đầu thế

kỷ, niềm tự hào về đất nước Như ta biết Việt Nam giai đoạn này là một xãhội thuộc địa, nửa thực dân, nửa phong kiến, với việc phân chia đất nướcthành ba miền, chia để trị, chế độ kiểm duyệt khắt khe Chính vì vậy, việc

đây đó qua các bài viết đăng trên Nam phong tạp chí có những dòng ca

ngợi Nam triều, ca ngợi nước Pháp và người Pháp như là những người cócông bảo hộ, khai phá văn minh… là điều dễ hiểu NXB Trẻ cho biết, tôntrọng những yếu tố chân thực của bối cảnh lịch sử, những người thực hiện

bộ sách quyết định vẫn giữ nguyên không lược bỏ đi Bởi vì, chính Phạm

Quỳnh, ông chủ bút của Nam phong tạp chí cũng đã thể hiện tình cảm thiết

tha, mặn nồng với quê hương đất nước qua ngòi bút: "Huống chi tuy khác

xứ mà cũng đất nước nhà, tuy người lạ mà cùng là anh em, thời càng quenbiết lại càng đậm đà cái tình máu mủ, càng đằm thắm cái nghĩa quê hương"(trích Một tháng ở Nam Kỳ)

Những đóng góp trong việc xây dựng một nền quốc văn mới, phổbiến học thuật, giới thiệu những tư tưởng triết học, khoa học, văn chương,

lịch sử của cả Á và Âu trong những năm đầu thế kỷ XX của Nam phong

tạp chí là điều đã được ghi nhận Tồn tại 17 năm, từ năm 1917 đến năm

1934, Nam phong tạp chí đã thực sự để lại một dấu ấn tinh thần trong tâm

trí của nhiều độc giả Với uy tín của một tờ báo chuyên về học thuật, uy tín

của một học giả làm chủ nhiệm kiêm chủ bút như Phạm Quỳnh, Nam

phong tạp chí đã được sự cộng tác của nhiều cây bút từ Bắc vào Nam Mục

Du ký trên tạp chí cũng không là một ngoại lệ Những tên tuổi viết cho mụcnày như Nguyễn Bá Trác, Huỳnh Thị Bảo Hoà, Đông Hồ, Mộng Tuyết sau này đều được lịch sử văn học lưu danh Và chính bản thân người khởixướng ra mục này là Phạm Quỳnh đã có những tác phẩm du ký xuất sắc mà

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Anh (2007), “Đọc Du ký Việt Nam: Ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, Văn hóa (1355) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Du ký Việt Nam: "Ngồi một chỗ màthấy ngoài muôn dặm”, "Văn hóa
Tác giả: Nguyễn Anh
Năm: 2007
2. Bakhtin.M. (1993), Những vấn đề thi pháp Doxtoiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Doxtoiepxki
Tác giả: Bakhtin.M
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1993
3. Nguyễn Huệ Chi (2004), “Phạm Quỳnh”, Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quỳnh”, "Từ điển văn học (bộmới)
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
4. Nguyễn Phương Chi (2004), “Nhóm Nam phong”, Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm Nam phong”, "Từ điểnvăn học bộ mới
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
5. Thượng Chi (1932), “Cùng các phái viên Nam kỳ”, Nam phong, (32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cùng các phái viên Nam kỳ”," Namphong
Tác giả: Thượng Chi
Năm: 1932
6. Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long (2005), “Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam phong tạp chí”, Nghiên cứu Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và vănchương qua một trường hợp: Nam phong tạp chí”, "Nghiên cứu Vănhọc
Tác giả: Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long
Năm: 2005
7. Phan Cự Đệ (Chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2011), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giaiđoạn giao thời 1900-1945
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
9. Lê Bá Hán, TrầnĐình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Thúy Hằng (2010), “ Giá trị văn hóa và văn học của loại văn du ký (khảo sát qua sách du ký Việt Nam)”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa và văn học củaloại văn du ký (khảo sát qua sách du ký Việt Nam)”, "Tạp chí Khoahọc
Tác giả: Nguyễn Thúy Hằng
Năm: 2010
11. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1999
12. La Khắc Hoà (2006), Đề cương chuyên luận Thi pháp kết cấu của B. Uspenxki, trình bày tại Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương chuyên luận Thi pháp kết cấucủa B. Uspenxki
Tác giả: La Khắc Hoà
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Hoàn (2007), “In lại các bài du ký, một sáng kiến hay”, Báo Giáo dục và Thời đại, (81) Sách, tạp chí
Tiêu đề: In lại các bài du ký, một sáng kiếnhay”, Báo "Giáo dục và Thời đại
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Năm: 2007
14. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giaiđoạn giao thời 1900-1930
Tác giả: Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệpHà Nội
Năm: 1988
16. Nguyễn Khuê, “Phác thảo quá trình hình thành tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”,http:/www.khoavanhocngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo quá trình hình thành tiểu thuyết vănxuôi quốc ngữ ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”
17. Chu Tuyết Lan (1992), “Thử bàn về những đóng góp của mảng tư liệu Hán Môm trên Nam phong tạp chí”, Tạp chí Hán Nôm, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn về những đóng góp củamảng tư liệu Hán Môm trên "Nam phong tạp chí"”," Tạp chí Hán Nôm
Tác giả: Chu Tuyết Lan
Năm: 1992
18. Mã Giang Lân (Chủ biên, 2000), Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hiện đại hóa vănhọc Việt Nam 1900-1945
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
19. Phong Lê (2007), “Du ký trên Tạp chí Nam phong”, báo Người đại biểu nhân dân, (91) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du ký trên Tạp chí Nam phong”, báo"Người đại biểu nhân dân
Tác giả: Phong Lê
Năm: 2007
20. Phong lê (2009), “Du ký Việt Nam trên chặng đầu hiện đại hóa”, Nghiên cứu Văn học, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du ký Việt Nam trên chặng đầu hiện đạihóa”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Phong lê
Năm: 2009
21. Linh Lê (2007), “ Du ký như một thể tài ”, Báo Thể thao và Văn hóa, (Số 19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du ký như một thể tài" ”, Báo "Thể thao vàVăn hóa
Tác giả: Linh Lê
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w