1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao

58 1,7K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao
Tác giả Nguyễn Việt Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Nhã Bản, PGS. TS. Đỗ Thị Kim Liên, PGS. TS. Phan Mậu Cảnh, TS. Trần Văn Minh, TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở đề tài này cũng vậy, chúng tôichọn cho mình sự kết hợp giữa các thao tác: khảo sát và thống kê, phân loại;phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; so sánh và đối chiếu… Ngoài ra,ph

Trang 1

Lời cảm ơn Trớc hết tôi xin phép đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Nhã Bản – Ngời đã trực tiếp hớng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm luận văn Tôi xin đợc tỏ lòng biết ơn đối với PGS TS Đỗ Thị Kim Liên, PGS TS Phan Mậu Cảnh, TS Trần Văn Minh, TS Hoàng Trọng Canh Và các thầy cô trong tổ ngôn ngữ đã có nhiều đóng góp và chỉ dẫn khoa học quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này Nhân dịp kết thúc chơng trình cao học, tôi chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, khoa Đào tạo Sau đại học, trờng Đại học Vinh, và tập thể lớp cao học X – Lí Luận Ngôn Ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập ở đây Tôi cũng xin đợc tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đồng nghiệp - những ngời đã thờng xuyên an ủi, động viên và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập ở trờng Đại học Vinh Vinh, tháng 12 năm 2004 Tác giả Nguyễn Việt Hùng Mục lục Tr ang A Mở đầu……… 4

1 Lý do chọn đề tài ……… 4

2 Đối tợng nghiên cứu……… 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 5

4 Phơng pháp nghiên cứu……… 6

5 Lịch sử vấn đề ……… 6

Trang 2

6 Đóng góp của đề tài……… 8

7 Cấu trúc của đề tài……… 8

B Nội dung……… 9

Chơng 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài ……… 9

1.1 Cơ sởlý thuyết……… 9

1.1.1 Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt ……… 9

1.1.2 Vấn đề nhận diện và phân biệt thành ngữ với tục ngữ 10 1.1.3 Cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt ……… 14

1.1.4 Ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt ……… 16

1.2 Cơ sở thực tiễn……… 17

1.2.1 Vấn đề sử dụng thành ngữ trong các hoạt động ngôn ngữ của ngời Việt………

17 1.2.2 Cuộc sống của thành ngữ trong ca dao ……… 18

Bảng 1: Bảng thống kê cuộc sống của thành ngữ trong ca dao…… 21

Chơng 2: Đặc trng cấu trúc của thành ngữ trong ca dao……… 22

2.1 Khái quát về cấu trúc của thành ngữ trong ca dao………… 22

2.1.1 Tính bất biến và khả biến của thành ngữ trong ca dao 22 2.1.2 Cấu trúc của thành ngữ trong ca dao ……… 23

2.2 Một số dạng cấu trúc đặc trng của thành ngữ trong ca dao 24 2.2.1 Cấu trúc nguyên thể ……… 24

2.2.2 Cấu trúc tỉnh lợc……… 26

2.2.3 Cấu trúc khai triển……… 29

2.2.4 Cấu trúc hoán đổi ……… 31

2.2.5 Cấu trúc chêm xen……… 38

2.2.6 Cấu trúc biến tố ……… 41

2.2.7 Cấu trúc mô hình hoá ……… 45

Bảng 2: Bảng hệ thống các dạng cấu trúc của thành ngữ trong ca dao 48 Chơng 3: Đặc trng ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao ………… 49

3.1 Ca dao - cuốn từ điển giải nghĩa các đơn vị thành ngữ tiếng Việt ……… ………

49 3.2 Biểu tợng trong ca dao và các giá trị biểu trng hoá ngữ nghĩa của một bộ phận thành ngữ tiếng Việt . 52 3.3 Một số dạng ý nghĩa đặc trng của thành ngữ trong ca dao ………

56 3.3.1 Dạng ý nghĩa chủ đề ……… 56

3.3.2 Dạng ý nghĩa tiền đề……… 59

3.3.3 Dạng ý nghĩa tục ngữ hoá ……… 61

3.3.4 Dạng ý nghĩa phái sinh ……… 64

Bảng 3: Bảng thống kê các dạng ý nghĩa của thành ngữ trong ca dao……… ………

67 C Kết luận ……… 68

* Tài liệu tham khảo ……… 71

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thành ngữ, tục ngữ, ca dao chính là nghệ thuật ngôn từ của ngờibình dân Việt Nam, là một phần quan trọng làm nên sự giàu đẹp của ngôn ngữViệt Nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, ca dao chính là nghiên cứu tiếng Việt,góp phần giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt, bản sắc dân tộcViệt

1.2 Thành ngữ là đơn vị khá đặc biệt của ngôn ngữ Có thể nói, đây là

đơn vị mang tính đa diện Xét về mặt hình thức, nó giống với cụm từ tự do

nh-ng khônh-ng phải là cụm từ tự do; xét về mặt chức nănh-ng nh-ngữ nh-nghĩa, nó tơnh-ng đơnh-ngvới từ nhng lại không phải là từ Nó vừa là đơn vị của ngôn ngữ nhng cũng

đồng thời là đơn vị của lời nói… Tuy nhiên, trên phơng diện ngôn ngữ học, nóvẫn đợc thừa nhận nh một đơn vị ngôn ngữ tơng đơng với từ Nó cũng cónhững đặc điểm riêng về cấu trúc cũng nh ngữ nghĩa Do vậy, tìm hiểu cấutrúc và ngữ nghĩa của thành ngữ, có thể nói là công việc quan trọng bậc nhấtkhi nghiên cứu đơn vị này

1.3 Là một đơn vị từ vựng, tất nhiên cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữmang tính cố định Tuy nhiên, sự vận dụng thành ngữ vào trong các hoạt độngngôn ngữ là rất phong phú và đa dạng Chúng có thể biến đổi rất linh hoạt cả

về cấu trúc và ngữ nghĩa khi đi vào những hoạt động ngôn ngữ cụ thể Hiểubiết về thành ngữ sẽ thật là khô cứng nếu không đặt nó trong sự hành chức.Vậy khi đi vào ca dao, cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ có những đặc trnggì?

Trên đây là những lý do chính khiến chúng tôi chọn đề tài: Đặc tr“Đặc tr ng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao

2 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này không phải là toàn bộ

hệ thống thành ngữ tiếng Việt mà chỉ đi vào tìm hiểu những đơn vị thành ngữ

tồn tại trong các ngữ cảnh ca dao ngời Việt Chúng tôi chọn cuốn sách Cuộc“Đặc tr

sống của thành ngữ tục ngữ trong kho tàng ca dao ngờii Việt” của PGS – TS.

Nguyễn Nhã Bản làm tài liệu chính để tiến hành khảo sát Cuốn sách này, tác

Trang 4

giả đã đa ra một khối lợng t liệu gồm 1551 mục từ, trong đó, chúng tôi thống

kê đợc 1097 mục từ là thành ngữ ở mỗi mục từ, tác giả đa ra đầy đủ các ngữ

cảnh ca dao đợc khảo sát từ công trình Kho tàng ca dao ng“Đặc tr ời Việt” (Nguyễn

Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, đồng chủ biên)

Nh vậy, đối tợng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này sẽ là 1097

đơn vị thành ngữ và các ngữ cảnh sử dụng của chúng trong ca dao đã đợc tậphợp trong cuốn sách của PGS – TS Nguyễn Nhã Bản Qua t liệu này chúngtôi tìm hiểu đặc trng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Thông qua tổng hợp các tài liệu, một lần nữa xác minh t cách củathành ngữ nh một đơn vị ngôn ngữ

3.2 Chỉ ra cuộc sống của thành ngữ trong các hoạt động ngôn ngữ nóichung và ca dao nói riêng để thấy đợc đặc thù của đơn vị đặc biệt này- đơn vịhành chức

3.3 Khái quát đợc một số đặc trng cấu trúc của thành ngữ khi đi vào cadao

3.4 Khái quát đợc một số đặc trng ngữ nghĩa của thành ngữ khi tham giavào ngữ cảnh ca dao

3.5 Thấy đợc sự gắn bó hữu cơ của thành ngữ và ca dao trong môi trờngvăn hoá đân gian

4 Phơng pháp nghiên cứu

Để tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, chắc chắn rằng không thểchỉ dùng một vài phơng pháp nghiên cứu ở đề tài này cũng vậy, chúng tôichọn cho mình sự kết hợp giữa các thao tác: khảo sát và thống kê, phân loại;phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; so sánh và đối chiếu… Ngoài ra,phơng pháp t duy lô gíc cũng rất cần thiết khi chúng tôi thực hiện đề tài này.Trớc hết chúng tôi tiến hành nhận diện sự tồn tại của các đơn vị thànhngữ tiếng Việt trong ca dao trong đối sánh với các đơn vị khác là tục ngữ dựatrên những tiêu chí so sánh cụ thể Chúng tôi xem các mục từ mà tác giả cuốnsách t liệu cung cấp là dạng từ vựng (cố định về hình thức cấu trúc, chỉnh thể

về nội dung ý nghĩa) đối chiếu vào các ngữ cảnh ca dao để tìm hiểu các đặc

tr-ng cấu trúc cũtr-ng nh tr-ngữ tr-nghĩa của thành tr-ngữ trotr-ng ca dao Từ t liệu đã có về

Trang 5

thành ngữ trong ca dao, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích cụ thể qua đókhái quát chúng thành những luận điểm với những số liệu thống kê và dẫnchứng kèm theo.

5 Lịch sử vấn đề

Trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt“Đặc tr ” , Nguyễn Văn Tu viết: việc nghiên

cứu cụm từ cố định cũng có thể trở thành bộ môn riêng trong ngôn ngữ học liên quan đến từ vựng học” [27;179] Qua đây, có thể thấy đợc phạm vi nghiên

cứu thành ngữ dới góc độ ngôn ngữ học là tơng đối rộng

5.1 Đến nay, hầu hết các cuốn giáo trình từ vựng tiếng Việt đều giànhmột phần để bàn về cụm từ cố định nói chung và thành ngữ nói riêng Trong

đó phải kể đến các tác giả lớn nh: Hồ Lê với cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng

Việt hiện đại [21]; Nguyễn Văn Tu với Từ và vốn từ tiếng Việt [27]; Đỗ Hữu

Châu với Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng [9], Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt [8]; Nguyễn Thiện Giáp với Từ vựng học tiếng Việt [12]; …Các tác giả tiếp cậnthành ngữ theo những cách khác nhau, mức độ khác nhau và quan điểm cũngkhông hoàn toàn nh nhau song họ đều thống nhất cho rằng thành ngữ là một

đơn vị ngôn ngữ tơng đơng từ nhng đồng thời lại có những đặc điểm riêngkhác với từ cả về phơng diện cấu trúc cũng nh ngữ nghĩa và khả năng vậndụng tạo câu

5.2 Thành ngữ tiếng Việt thực sự trở thành một lĩnh vực độc lập khi nó

đợc nghiên cứu bởi GS Hoàng Văn Hành Ông đợc coi là giáo s đầu ngành vềthành ngữ tiếng Việt Bằng các công trình của mình, ông đã xây dựng đợc một

hệ thống lý thuyết cơ bản về thành ngữ tiếng Việt Theo ông Thành ngữ là“Đặc tr

một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa, đợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày” [13;25] Ông

cũng chỉ ra các đặc trng ngữ nghĩa và các phơng thức tạo nghĩa cơ bản củathành ngữ tiếng Việt; phân biệt thành ngữ với tục ngữ; phân loại thành ngữtiếng Việt ra làm ba loại (thành ngữ đối, thành ngữ so sánh, thành ngữ th ờng) Ông chính là ng

… ời tạo ra một cơ sở lý thuyết vững chắc về thành ngữ chonhững ngời đi sau

5.3 Ngoài ra thành ngữ tiếng Việt còn đợc quan tâm nghiên cứu trênnhững phơng diện khác nhau ở nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt, nhiềubài báo tạp chí chuyên ngành

Trang 6

Trên bình diện lý thuyết, các tác giả vẫn tiếp tục đi sâu vào các vấn đề

nh: Phan Văn Hoàn, Bàn thêm về tục ngữ, thành ngữ với t cách là đối tợng

nghiên cứu khoa học [37]; Phạm Xuân Thành, Tính biểu trng của thành ngữ tiếng Việt [42], Cơ sở hình thành và biến đổi của thành ngữ tiếng Việt [43]; Bùi

Khắc Việt, Về tính biểu trng của thành ngữ tiếng Việt [44]…

Cho đến nay, vấn đề nghiên cứu thành ngữ trong dạng hành chức của nóvẫn cha đợc quan tâm nhiều Hớng nghiên cứu này chủ yếu mới dừng lại ở

một số bài viết có tính chất giới thiệu nh: Nguyễn Đức Dân, Ngữ nghĩa thành

ngữ và tục ngữ, sự vận dụng [32]; Nguyễn Thái Hoà, Tìm hiểu cách dùng thành ngữ tục ngữ trong các bài nói và bài viết của Hồ Chủ Tịch [36]; Phan

Văn Quế, Góp phần hiểu và sử dụng đúng thành ngữ trong giao tiếp và văn

ch-ơng [41];

5.4 Nh vậy vấn đề sử dụng thành ngữ trong ca dao ngời Việt vẫn còn là

một vấn đề mới mẻ và lý thú Bằng bài viết: Về sự hoạt động của thành ngữ,

tục ngữ trong kho tàng ca dao ngời Việt [30] và sự ra đời của cuốn sách: Cuộc sống của thành ngữ tục ngữ trong kho tàng ca dao ngời Việt [3] của PGS –

TS Nguyễn Nhã Bản, chúng tôi mạnh dạn chọn cho mình hớng nghiên cứu về

đặc trng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao

Kế thừa những kết quả nghiên cứu của những ngời đi trớc về đặc trng cấutrúc và ngữ nghĩa của thành ngữ, trong đề tài này chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ranhững đặc trng riêng của thành ngữ trong ca dao

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Tổng hợp các quan điểm của những ngời đi trớc, đề tài sẽ đa ranhững tiêu chí cơ bản để phân biệt thành ngữ với tục ngữ, hệ thống hoá cácvấn đề lý thuyết cơ bản của thành ngữ tiếng Việt

6.2 Phác hoạ một cách cụ thể, chi tiết cuộc sống của thành ngữ trong cadao, lập đợc những bảng biểu thống kê và làm nổi bật đợc những đặc trng cấutrúc, ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao

7 Cấu trúc của đề tài

Cũng nh nhiều luận văn khác, chúng tôi cấu trúc luận văn này thành baphần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong phần nội dungchính của luận văn chúng tôi trình bày ba chơng, cụ thể nh sau:

Chơng 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

Chơng 2: Đặc trng cấu trúc của thành ngữ trong ca dao

Trang 7

Chơng 3: Đặc trng ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao.

Chơng 1

Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt

Thành ngữ là một đơn vị khá đặc biệt của ngôn ngữ Do vậy, cho đếnnay vẫn cha có một khái niệm chuẩn về thành ngữ Công việc thờng làm củanhững ngời đi sau là tổng hợp tất cả các ý kiến của những ngời đi trớc, từ đó

định hình cho mình một khái niệm phù hợp để tiến hành nghiên cứu Qua tổnghợp tài liệu, chúng tôi thấy hầu hết các khái niệm về thành ngữ mà các nhàViệt ngữ đa ra là khác nhau:

Năm 1976, với công trình Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, tác giả Nguyễn Văn Tu định nghĩa: Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó

đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành

tố tạo ra Có thể có tính hình tợng cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhng cung có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học

[39;189]

Gần gũi với quan niệm này là quan niệm của ông Đái Xuân Ninh:

Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độc lập ở cái mức nào đó và kết hợp lại thành một khối tơng đối vững chắc và hoàn chỉnh [32;23].

Trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, GS Hồ Lê cũng

đa ra một quan niện về thành ngữ nh sau: Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm

nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hình tợng, một tính cách hay một trạng thái nào đó [29;97].

GS Đỗ Hữu Châu lại xác định thành ngữ ở đặc tính tơng đơng với từ

của chúng Ông viết: Cái quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tơng

đơng với từ của chúng về chức năng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tơng

Trang 8

đ-ơng với từ không phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc … nh nh từ mà còn vì

ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu [9;73].

Ngắn gọn hơn cả là khái niệm của GS Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn

Từ vựng học tiếng Việt: Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm [15;12].

Cuối cùng, cần phải đề cập đến khái niệm về thành ngữ trong cuốn Từ

điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định

có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động nh một từ riêng biệt ở trong câu [42;29]

Trên đây là một số khái niệm về thành ngữ tiếng Việt mà chúng tôi đã

đợc tham khảo Chắc chắn sẽ còn nhiều khái niệm khác mà chúng tôi cha códịp đợc tiếp xúc Nhng có thể thấy rằng về cơ bản tất cả các khái niệm đềuthống nhất với nhau ở nội hàm của nó Sự khác nhau là ở những khía cạnhthuộc ngoại diên của khái niệm Đây cũng là một điều kiện thuận lợi để nhữngngời đi sau lựa chọn và tổng hợp cho mình một cái nhìn khái quát về thànhngữ tiếng Việt

1.1.2 Vấn đề nhận diện và phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Khi nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, một công việc khó khăn và quantrọng đó là làm thế nào để nhận diện và phân biệt thành ngữ với các đơn vịkhác gần gũi với nó Trên thực tế, có bốn đơn vị gần gũi với thành ngữ, đó là:Quán ngữ, tục ngữ, từ ghép và cụm từ tự do Mỗi một đơn vị vừa nêu có thểgiống với thành ngữ ở điểm này, khác ở điểm kia, hoặc ngợc lại Tuy nhiên,ngời ta chú ý nhiều tới việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ Bởi vì thành ngữ

và tục ngữ là hai đơn vị có nhiều điểm giao thoa phức tạp Trong phạm vinghiên cứu của đề tài, vấn đề này càng trở nên cần thiết bởi nó có ý nghĩa địnhhớng cho toàn bộ quá trình thực hiện đề tài

Trên thực tế, thành ngữ và tục ngữ có rất nhiều điểm chung và chúngthờng đợc nhắc đến đồng thời nh một cặp đôi, một thuật ngữ kép trong hệthống cấu trúc của tiếng Việt Tuy nhiên, về phơng diện lý thuyết chúng là hai

đơn vị tồn tại độc lập, có những đặc trng riêng

1.1.2.1 Đặc trng về cấu trúc

Trang 9

Thành ngữ và tục ngữ đều là những tổ hợp từ cố định song thành ngữthờng tồn tại dới dạng cụm từ cố định còn tục ngữ nhất thiết phải là một câu.Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, chúng ta dễ dàng thấy đợc tục ngữ

luôn có cấu trúc đề thuyết Chẳng hạn nh: Gần mực / thì đen; Có làm / thì mới

có ăn; Đi một ngày đàng / học một sàng khôn… nh Ngay cả những câu tục ngữ

có hình thức tồn tại giống nh những cụm từ cố định thì về bản chất nó vẫn lànhững cấu trúc đề thuyết và chúng ta có thể dễ dàng phục hồi cấu trúc cú pháp

đầy đủ của nó Ví dụ: Da / La, cà / Láng, nem / Bảng, tơng / Bần, nớc mắm /

Vạn Vân, cá rô / đầm Sét; Cây / cau, rau / cải, nhân ngãi / vợ, đầy tớ / con;… nh

Vấn đề nhập nhằng là ở bộ phận thành ngữ có hình thức tồn tại là một

câu, thậm chí là một câu ghép, chẳng hạn nh: ếch / ngồi đáy giếng; Chuột / sa

chĩnh gạo; Ông / nói gà, bà / nói vịt; Trống / đánh xuôi, kèn thổi ng ợc… nh Đối

với loại này rõ ràng là tiêu chí đặc trng cấu trúc không thể phân biệt đợc màchúng ta phải dựa vào một tiêu chí khác, đó là đặc trng ngữ nghĩa

1.1.2.2 Đặc trng về ngữ nghĩa

Điểm khác nhau rất cơ bản về mặt ngữ nghĩa đó là thành ngữ thì chỉ cónghĩa định danh còn tục ngữ thì phải có nghĩa thông báo Hay nói cách khác,thành ngữ có nghĩa tơng đơng với từ còn tục ngữ thì có nghĩa tơng đơng vớicâu Điều này lý giải tại sao thành ngữ không thể độc lập tạo thành một phán

đoán, còn tục ngữ thì bao giờ cũng là một phán đoán hoàn chỉnh

Thành ngữ là đơn vị tơng đơng với từ, do vậy nó cũng có tính hoànchỉnh về nghĩa nh từ Thành ngữ thờng dùng các hình ảnh biểu trng để biểu thị

những khái niệm, ví dụ: Chuột / sa chĩnh gạo Thành ngữ này có cấu trúc hình

thức là một câu đơn nhng nghĩa tri nhận đợc lại không có giá trị của một phán

đoán Xét theo quan điểm tín hiệu học thì Chuột sa chĩnh gạo là cái biểu đạt, còn cái đợc biểu đạt là Sự may mắn Nh vậy, nghĩa của thành ngữ Chuột sa

chĩnh gạo là sự định danh cho một khái niệm cụ thể Cùng với nội dung ngữ

nghĩa này, chúng ta còn có một số hình thức biểu đạt khác cũng có cấu trúc

hình thức là một câu, ví dụ: Mèo mù vớ cá rán; Chuột sa lọ mỡ; … nh Tóm lại,

thành ngữ là những tổ hợp chỉ có nghĩa định danh

Xét câu tục ngữ: Cây cau, rau cải, nhân ngãi vợ, đầy tớ con Ta thấy

về mặt hình thức cấu trúc đây là bốn cụm danh từ độc lập Tuy nhiên, để hiểu

đợc ý nghĩa của câu tục ngữ này, chúng ta phải thực hiện thao tác phục hồiquan hệ cú pháp cho nó:

Trang 10

- Cây cảnh lợi nhất là cây cau,

- Rau ăn tiện lợi nhất là rau cải,

- Nhân ngãi chung tình nhất là vợ,

- Đầy tớ tận tuỵ nhất là con

Rõ ràng câu tục ngữ trên là bốn phán đoán đợc đánh giá bằng các tiêuchuẩn đúng, sai, logic Các phán đoán này chỉ đúng trong môi trờng văn hoánông nghiệp lúa nớc Việt Nam ở một mức độ nào đó Nhng nếu đặt nó trongmôi trờng văn hoá phơng Tây thì rất khó chấp nhận

Nh vậy, đặc trng ngữ nghĩa cho phép ta phân biệt đợc thành ngữ và tụcngữ Thành ngữ là những tổ hợp mang nghĩa định danh còn tục ngữ là những

tổ hợp có nghĩa thông báo Thành ngữ là những tổ hợp có sẵn dùng để chỉ mộtcái gì đó cụ thể còn tục ngữ là những tổ hợp có sẵn dùng để nói một điều gì đókhái quát

Cuối cùng, có một số đơn vị thực sự gây khó khăn cho việc phân biệtthành ngữ với tục ngữ Đây là những đơn vị mang tính chất trung gian Có khichúng đợc dùng nh một thành ngữ, có khi lại đợc dùng nh một tục ngữ Theochúng tôi, đối với những đơn vị này phải vận dụng thêm một tiêu chí nữa vàchúng tôi gọi đó là tiêu chí chức năng dụng học

1.1.2.3 Tiêu chí chức năng dụng học

Trên thực tế, cả thành ngữ và tục ngữ chỉ thực sự tồn tại khi chúnghành chức Khi đó chúng mới bộc lộ hết giá trị của mình Có những đơn vị màchỉ khi nào nó đi vào hành chức thì mới có thể xác định đợc t cách đơn vị của

nó Tiêu chí chức năng dụng học cho phép chúng ta xác định đợc t cách củacác đơn vị này Tiêu chí này chỉ áp dụng lâm thời khi các đơn vị đang hànhchức Theo đó đơn vị nào đợc dùng với t cách đơn vị định danh thì đó là thànhngữ, đơn vị nào đợc dùng với t cách đơn vị thông báo thì đó là tục ngữ

Ví dụ: Các tổ hợp Lụt lút cả làng, ăn cỗ đi trớc lội nớc theo sau, Đục

nớc béo cò, ăn cây nào rào cây ấy… nhĐây là những đơn vị vốn là tục ngữ, tuy

nhiên nhiều khi chúng lại đợc sử dụng nh là những thành ngữ Chúng ta chỉ

cần thêm một số từ vào trớc các tổ hợp này nh t tởng, kiểu, chớ nên, … nh thì

chúng lại trở thành thành ngữ Do vậy, chúng ta chỉ có thể xác định đợc t cách

của các đơn vị này khi chúng đang hoạt động trong ngữ cảnh Chẳng hạn: Mỗi

ngời phải ra sức góp công góp của để xây dựng nớc nhà Chớ nên ăn cỗ đi

tr-ớc lội ntr-ớc theo sau (Văn Hồ Chủ tịch- NXB Giáo dục, H, 1991, trg 221 Dẫn

theo[20]) Hoặc tục ngữ Già kén kẹn hom trong ngữ cảnh ca dao sau:

Trang 11

Gần bến gần thuyềnGần thầy gần mẹNhân duyên tôi cũng gầnTôi với chị Châu Trần kết nghĩa

Xin chị đừng già kén kẹn hom

Tiếng thị phi luống những om sòm

[3;212]

Mặt khác, có một số đơn vị vốn là thành ngữ nhng khi đi vào các ngữcảnh ca dao chúng lại có thể trở thành các đơn vị tục ngữ (vấn đề này chúngtôi sẽ trình bày cụ thể trong mục 3.3.3.)

1.1.3 Cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt

Cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt là một vấn đề rất đợc quan tâmnghiên cứu và cũng đã đạt đợc một số thống nhất quan trọng Cho đến naychúng ta đã có thể thống nhất với nhau ở hai dạng cấu trúc đặc trng của thànhngữ tiếng Việt, đó là cấu trúc đối xứng và cấu trúc so sánh Đã có rất nhiều bàiviết, công trình nghiên cứu về hai dạng cấu trúc này

GS Hoàng Văn Hành là ngời đã đa ra những kiến giải cụ thể về haidạng cấu trúc này Theo ông, thành ngữ đối là loại thành ngữ phổ biến nhấttrong tiếng Việt Chúng chiếm tới 56% tổng số thành ngữ trong thực tế Đặc

điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối xứng giữa các

bộ phận, các yếu tố tạo nên thành ngữ (xem [19] )

Cấu trúc đối xứng là dạng cấu trúc làm nên diện mạo của thành ngữ

tiếng Việt Có hai cấp độ đối xứng mà GS Hoàng Văn Hành nêu ra, đó là đối

ý và đối lời Đối ý là đối ở cấp độ vế còn đối lời là đối ở cấp độ yếu tố Chính

nhờ tính chất đối xứng mà những thành ngữ dạng này có khả năng biến đổi rấtlinh hoạt khi đi vào các hoạt động ngôn ngữ nói chung, ca dao nói riêng

Theo t liệu thống kê của chúng tôi về thành ngữ trong ca dao thì thànhngữ đối có tất cả 619 trên tổng số 1097 mục từ, chiếm 57,8% Hai con sốthống kê ngẫu nhiên trên đây đủ để khẳng định rằng cấu trúc đối xứng là dạngcấu trúc cơ bản của thành ngữ tiếng Việt

Cấu trúc so sánh cũng là dạng cấu trúc rất đặc trng của thành ngữ tiếngViệt Đây là dạng cấu trúc dựa trên nguyên lý của phép so sánh trong tiếngViệt Tuy nhiên, phép so sánh thông thờng có hình thức tồn tại phong phú hơncác kiểu cấu trúc so sánh của thành ngữ Theo GS Hoàng Văn Hành thì so

Trang 12

sánh trong cấu trúc so sánh của thành ngữ tiếng Việt chỉ ứng với hai dạng sosánh trong tiếng Việt, đó là:

- t nh B (Lạnh nh tiền, Nhảy nh choi choi, Nợ nh chúa Chổm, … nh )

- nh B (Nh nớc vỡ bờ, Nh cá nằm trên thớt, Nh kiềng ba chân, … nh )

T liệu thống kê về thành ngữ trong ca dao cho thấy có tất cả 126/1097mục từ, chiếm 12,2% Tuy nhiên có thể thấy thấy rằng rất nhiều thành ngữ th-ờng nếu ta thêm vào từ so sánh và quan hệ so sánh thì sẽ trở thành những

thành ngữ so sánh Ví dụ: Các thành ngữ Chuột sa chĩnh gạo, Mèo mù vớ cá

rán, Chỉ lìa kim, Châu chấu đá voi, Cá cắn câu, … nh ta chỉ cần thêm từ so sánh nh

“Đặc tr ” vào trớc các tổ hợp này ta sẽ đợc các thành ngữ so sánh

Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt là loại thành ngữ rất đợc quan tâmnghiên cứu Các biểu trng so sánh trong thành ngữ sẽ luôn là một vấn đề hấpdẫn các nhà nghiên cứu

Nhìn chung, cấu trúc đối xứng và cấu trúc so sánh là hai dạng cấu trúc

đã đợc thống nhất trong giới nghiên cứu Vấn đề là ở bộ phận thành ngữ cócấu trúc không đối xứng và cũng không so sánh GS Hoàng Văn Hành gọi

đây là thành ngữ thờng Nghĩa là cấu trúc của nó đợc xây dựng trên cơ sở luậtkết hợp bình thờng của tiếng Việt Bộ phận thành ngữ này trong t liệu củachúng tôi chiếm 30% (312/1097)

Cho đến nay, chúng tôi vẫn cha thấy có một công trình nào bàn về cấutrúc của bộ phận thành ngữ này một cách cụ thể Trên thực tế, đây là bộ phậnthành ngữ có cấu trúc tự do, không theo một khuôn hình nhất định nào cả Cóthể xem chúng là những cụm từ tự do nhng đã đợc cố định hoá Đành rằng bản

thân mỗi thành ngữ này đều có cấu trúc nội tại của nó, ví dụ thành ngữ Buộc

chỉ cổ tay có cấu trúc là một cụm động từ; Bù nhìn giữ da có cấu trúc là một

câu đơn, tuy nhiên chúng ta không thể khái quát chúng thành những khuônhình cấu trúc mang tính tổng loại nh kiểu đối xứng hay so sánh Cũng chính vìchúng là những cụm từ đơn lẻ đợc cố định hoá cho nên, những thành ngữ loạinày thờng có cấu trúc nội tại rất chặt chẽ, ổn định và ít biến hình khi đi vàocác ngữ cảnh

1.1.4 Ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt

Với t cách là một đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa, bình diện ngữ nghĩacủa thành ngữ luôn đợc các nhà nghiên cứu quan tâm Trớc hết nghĩa củathành ngữ đợc xác nhận nh là một chỉnh thể định danh, tơng đơng với từ Tuy

Trang 13

nhiên định danh của thành ngữ lại là định danh bậc hai đợc khái quát trên cơ

sở kết hợp các đơn vị định danh bậc một (các từ) Nội dung của thành ngữ

không hớng lên điều đợc nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó lại suy ra từ chúng[19;28].

Cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thờng đợc diễn dải thành một cụm

từ tự do trong đó có một từ trung tâm (hoặc một cụm từ trung tâm) và nhữngthành phần phụ bổ xung những sắc thái phụ cho ý nghĩa của thành phần trungtâm…(xem Đỗ Hữu Châu [9;79]

Ngữ nghĩa của thành ngữ cũng thờng đợc nhắc đến với những đặc

điểm nh: tính biểu trng, tính hình tợng, tính cụ thể, tính biểu thái, tính dân tộc

Đây là những đặc điểm làm nên giá trị ngữ nghĩa độc đáo của thành ngữ trongcác hoạt động ngôn ngữ

Tính biểu trng là đặc điểm ngữ nghĩa quan trọng nhất của thành ngữtiếng Việt, làm nên nét khu biệt quan trọng giữa thành ngữ với đơn vị tơng đ-

ơng với nó là từ Thành ngữ tiếng Việt lấy những vật thực việc thựcđể biểu

tr-ng cho nhữtr-ng đặc diểm, tính chất, hoạt độtr-ng, tình thế … nh phổ biến khái quát[9;82] Đặc điểm nổi bật trong nhĩa của từ là tính võ đoán còn trong thành

ngữ thì đó là tính biểu trng Vấn đề biểu tr“Đặc tr ng hoá làm sáng tỏ quá trình hình thành nghĩa của thành ngữ ” [41] Nh vậy có nghĩa là nghĩa của thành ngữ đợchình thành bằng cơ chế biểu trng hoá

GS Hoàng Văn Hành cho rằng: Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt th“Đặc tr ờng là kết quả của hai hình thái biểu trng hoá so sánh và ẩn dụ” [19;29] Với

-so sánh, ta có những thành ngữ nh: Lạnh nh tiền, Đông nh kiến, Nh chó với

mèo … nh Với ẩn dụ, ta có: Chuột sa chĩnh gạo, Cá mè một lứa, Mèo mù vớ cá rán … nh

Trên thực tế, chúng tôi thấy có một bộ phận thành ngữ tiếng Việt dùng

các hình ảnh hoán dụ để biểu trng hoá ngữ nghĩa cho mình Ví dụ: Mồm năm

miệng mời, Tai to mặt lớn, Chân lấm tay bùn … nh Nh vậy có thể nói rằng hoán

dụ cũng là một phơng thức biểu trng hoá ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt

Ngoài ra, còn có một phơng thức biểu trng hoá ngữ nghĩa của thànhngữ dựa trên cơ sở các điển tích, điển cố nữa Đối với loại này thì giá trị nghĩabiểu trng của thành ngữ đợc toát lên từ chính nội dung ngữ nghĩa mà các điểntích điển cố đã xây dựng

Ví dụ: Bá Nha Tử Kỳ; Ngu Lang Chức Nữ; Nợ nh chúa Chổm … nh

Trang 14

Đến nay các thành ngữ tiếng Việt vẫn đang tiếp tục đợc hình thànhbằng cả bốn hình thái biểu trng hoá nói trên.

Cuối cùng, cần phải đặt thành ngữ vào trong các ngữ cảnh sử dụng củachúng để thấy đợc những đặc trng ngữ nghĩa vợt trội của nó trong các hoạt

động ngôn ngữ phong phú của ngời Việt Khi hành chức, ngoài chức năng

định danh (nghĩa từ vựng) thông thờng, với những đặc điểm ngữ nghĩa u việtcủa mình, thành ngữ còn đóng những vai trò ngữ nghĩa hết sức quan trọngtrong cấu trúc ngữ nghĩa của ngữ cảnh mà nó tham gia

Trong đề tài này chúng tôi khảo sát ngữ nghĩa của thành ngữ khi đivào hoạt động trong các ngữ cảnh ca dao để thấy đợc những đặc trng ngữnghĩa của thành ngữ trong ca dao

Sở dĩ thành ngữ đợc a dùng nh vậy là do chính những khả năng u việtcủa nó Trớc hết thành ngữ là một đơn vị từ vựng nên sự vận dụng nó vàotrong câu là hợp logic, và cũng khá dễ dàng Thứ hai, thành ngữ có cấu trúc

đặc biệt, dễ thuộc, dễ nhớ và gây ấn tợng mạnh khi tiếp xúc Thứ ba, thànhngữ có khả năng ngữ nghĩa vợt trội so với các đơn vị tơng đơng Do vậy, thànhngữ luôn đợc dùng trong các trờng hợp cần nhấn mạnh, cần ghi nhớ hoặc gâymột ấn tợng đặc biệt nào đó

Tất nhiên, khi đi vào các phong cách ngôn ngữ khác nhau, đối tợng sửdụng khác nhau thì khả năng, cách thức vận dụng thành ngữ cũng khác nhau.Vận dụng thành ngữ là việc có thể nói ai cũng làm đợc nhng vận dụng nh thếnào cho hay, cho hiệu quả thì lại là chuyện khác Thành ngữ đợc vận dụngnhiều trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, nhng nếu muốn tìm hiểu về cáchvận dụng thành ngữ tiếng Việt thì tốt nhất là trong ngôn ngữ văn chuơng, ngônngữ chính luận Ca dao là nghệ thuật ngôn từ của dân gian, thành ngữ cũng làsản phẩm của dân gian, chính vì vậy, sự vận dụng thành ngữ trong ca dao cóthể xem là một chuẩn mực

Trang 15

Khác với từ, thành ngữ đợc vận dụng rất linh hoạt trong các hoạt độngngôn ngữ Nó có thể biến đổi về mặt hình thức cấu trúc, cũng có thể thay đổi

về chức năng ngữ nghĩa theo những mức độ khác nhau và bằng những cáchthức khác nhau Sự vận dụng thành ngữ nh thế nào phụ thuộc rất nhiều vàophong cách ngôn ngữ và trình độ ngôn ngữ của ngời sử dụng Ngoài ra nó cònchịu sự chi phối của các yếu tố khác nh ngữ cảnh, môi trờng văn hoá, dụng ýgiao tiếp, …

Tìm hiểu sự vận dụng của thành ngữ trong ca dao sẽ là một cách tiếpcận bổ ích về thành ngữ trong dạng hành chức của nó

1.2.2 Cuộc sống của thành ngữ trong ca dao

1.2.2.1 Mối quan hệ giữa thành ngữ và ca dao

Theo lý thuyết của ngôn ngữ học văn bản thì văn bản mới là đơn vị lớnnhất của ngôn ngữ Ca dao là một văn bản Do vậy, ca dao thuộc về đơn vị lớnnhất của ngôn ngữ Trong khi đó, thành ngữ chỉ là đơn vị từ vựng, đơn vị cơ sởnhỏ nhất gián tiếp tham gia cấu thành văn bản Và nh vậy, mối quan hệ trớctiên giữa thành ngữ và ca dao là mối quan hệ giữa hai đơn vị khác bậc củangôn ngữ Sự gắn kết giữa hai đơn vị này phải nhờ đến đơn vị trung gian đó làcâu Câu mới là đơn vị trực tiếp tạo thành văn bản còn thành ngữ là đơn vị tạocâu Tuy nhiên, rất nhiều bài ca dao chỉ có cấu tạo là một câu, do vậy mốiquan hệ giữa thành ngữ và ca dao là rất gần gũi

Xét về mặt nguồn gốc xuất xứ, thì thành ngữ và ca dao lại có quan hệvô cùng gắn bó Đây đều là những đơn vị đợc hình thành và lu truyền mộtcách tự nhiên trong cộng đồng ngôn ngữ ngời Việt Do đó, có nhiều trờng hợpcác đơn vị thành ngữ đợc lẩy ra từ các bài ca dao để tồn tại nh một đơn vị độclập Ngợc lại, có nhiều đơn vị thành ngữ lại đợc phát triển lên thành các bài cadao Sự phân biệt giữa hai hiện tợng này là rất khó khăn

Thành ngữ do có quan hệ rất gần gũi với ca dao, hơn nữa lại có nhiềukhả năng u việt nên khi đi vào ca dao nó trở thành một đơn vị đặc biệt quantrọng trong cấu trúc nghệ thuật của ca dao, nhiều khi nó trở thành linh hồncủa cả bài ca dao

Ví dụ: Thành ngữ ác đen đậu quế trong bài ca dao dới đây:

Đau đớn thay cho cây quế giữa rừng

Để ác đen nó độ đau lòng quế thay

Ước gì con ác nó bay

Trang 16

Phợng hoàng nó đậu quế nay bằng lòng

[3;24]

Bài ca dao đã sử dụng thành ngữ ác đen đậu quế nh một chủ đề xuyên

suốt Hình thức cấu trúc nguyên thể của thành ngữ này cũng đã bị phá vỡ hoàntoàn Điều này cho ta thấy khả năng biến đổi cấu trúc và triển khai ngữ nghĩacủa thành ngữ trong ca dao là rất linh hoạt

1.2.2.2 Khái quát về cuộc sống của thành ngữ trong ca dao

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng cuốn Cuộc sống của thành ngữ tục

ngữ trong kho tàng ca dao ngời Việt của PGS TS Nguyễn Nhã Bản làm t

liệu khảo sát, do vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nhận diện sự tồn tại củacác đơn vị thành ngữ trong ca dao mà không bị lẫn với các đơn vị tục ngữtrong ca dao?

Nh chúng tôi đã trình bày ở mục 1.2 về các tiêu chí nhận diện và phânbiệt thành ngữ với tục ngữ , trong đề tài này chúng tôi vận dụng cả ba tiêu chí

đặc trng cấu trúc, đặc trng ngữ nghĩa, chức năng dụng học vào quá trình khảo

sát, phân tích và sử lý t liệu Khi đã xác định đợc các đơn vị thành ngữ trong

ca dao chúng tôi lại vận dụng các tiêu chí về đặc trng cấu trúc, đặc trng ngữnghĩa để tiến hành phân xuất một cách cụ thể chi tiết các t liệu của mình Với

bộ tiêu chí nh vậy chúng tôi đi vào khảo sát và thống kê cuộc sống của thànhngữ trong ca dao Dới đây là bảng thống kê tổng quan của chúng tôi về cuộcsống của thành ngữ trong ca dao

Bảng 1: Bảng thống kê cuộc sống của thành ngữ trong ca dao

Dạng thành ngữ

Số lợt Ngữ cảnh

Thành ngữ

đối

Thành ngữ so sánh

Thành ngữ th- ờng

Tổng mục từ

Tổng ngữ cảnh

Trang 17

2.1 Khái quát về cấu trúc của thành ngữ trong ca dao

2.1.1 Tính bất biến và khả biến của thành ngữ trong ca dao

Về mặt lý thuyết, thành ngữ là đơn vị tơng đơng từ Do vậy, một trongnhững đặc tính nổi bật của nó là tính chặt chẽ, cố định về mặt cấu trúc hìnhthức Tuy nhiên, trên thực tế sử dụng thì hầu hết các đơn vị thành ngữ tiếngViệt đều có khả năng biến đổi ít nhiều về mặt cấu trúc cũng nh ngữ nghĩa tuỳthuộc vào mục đích sử dụng và khả năng biến đổi của từng thành ngữ

Chúng ta biết rằng thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai Nó đợchình thành sau ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Thoạt đầu, nó cũng là những kếthợp ngôn ngữ bình thờng, sau đó bằng con đờng hành chức mà giá trị thực củakết hợp đó bị nhợc hoá đi và thay vào đó bằng một giá trị biểu trng mới Dovậy, giữa cái biểu đạt và cái đợc biểu đạt trên thực tại sử dụng của kết hợp đó

đã mang dáng dấp võ đoán của một tín hiệu ngôn ngữ Và thế là nó nghiễmnhiên trở thành một đơn vị định danh sẵn có của ngôn ngữ tơng đơng với từ(đơn vị định danh bậc 1) Đến đây, do áp lực là một đơn vị tơng đơng từ nênthành ngữ buộc phải tồn tại dới hình thức của một tín hiệu Mang trong mình

t cách của một tín hiệu, lẽ dĩ nhiên hình thức tồn tại và giá trị ngữ nghĩa củathành ngữ phải là một chỉnh thể bất biến, cố định và trên thực tế, ở dạng từ

điển hoá, mọi thành ngữ đều đợc cấp cho một hình thức tồn tại và một giá trịngữ nghĩa cố định

Trang 18

Tuy nhiên, thực tế sử dụng lại có vẻ mâu thuẫn với tính bất biến củathành ngữ Nh chúng tôi đã trình bày ở trên, thành ngữ là đơn vị đợc hìnhthành bằng con đờng hành chức, hơn nữa, hình thức tồn tại chính của thànhngữ là trong dạng hành chức, mà thành ngữ lại là một đơn vị đợc dùng rấtrộng rãi bởi nhiều đối tợng, cho nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau do vậykhả năng biến hình của thành ngữ khi hành chức cũng là một điều dễ hiểu.Tuy vậy, cũng cần phải thấy rằng con đờng chính để thành ngữ trở thành một

đơn vị từ vựng chính là sự tổng hợp của tất cả các ngữ cảnh sử dụng chúng ởcác dạng thức khác nhau dới dạng từ điển Nh vậy, có thể thấy tính bất biến vàkhả biến chính là hai mặt có quan hệ biện chứng của thành ngữ tiếng Việt làmnên bản chất của thành ngữ tiếng Việt trong hệ thống ngôn ngữ Về điểm này,

GS Hoàng Văn Hành cũng cho rằng: Tính bền vững của thành ngữ trong hệ

thống chuẩn và tính uyển chuyển của nó trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn không hề loại trừ nhau [19;29]

2.1.2 Cấu trúc của thành ngữ trong ca dao

Qua thực tế khảo sát t liệu, chúng tôi thấy, trong tổng số 1097 đơn vịmục từ là thành ngữ thì có tới 2138 ngữ cảnh ca dao kèm theo Trong đó có

652 đơn vị mục từ chỉ tồn tại một ngữ cảnh tơng ứng còn lại mỗi đơn vị mục

từ đều có từ hai ngữ cảnh trở lên, có những mục từ tồn tại hàng chục ngữ cảnh,cá biệt có mục từ tồn tại trong 64 ngữ cảnh khác nhau Thành ngữ khi đợc vậndụng vào trong ca dao thì chịu sự chi phối mạnh mẽ của cấu trúc thể loại.Theo đó, thành ngữ thờng xuyên phải biến đổi cấu trúc nội tại của mình chophù hợp với khuôn hình cấu trúc của câu ca dao và ý đồ sử dụng của tác giảdân gian Có thể khẳng định rằng áp lực thể loại đã tác động mạnh mẽ đến cấutrúc của thành ngữ trong ca dao

Cách làm của chúng tôi là lấy mục từ làm dạng tồn tại nguyên thể để

đối chiếu vào các ngữ cảnh ca dao qua đó tìm hiểu các dạng thức tồn tại khácnhau của thành ngữ Với cách làm nh vậy, chúng tôi đi vào khảo sát một cáchchi tiết toàn bộ các ngữ cảnh tồn tại của thành ngữ trong ca dao và kết quả thu

đợc nh sau: Trong tổng số 2138 ngữ cảnh thì có 1441 ngữ cảnh thành ngữ đợc

sử dụng ở dạng nguyên thể (dạng của mục từ), còn lại 697 ngữ cảnh thành ngữtồn tại ở dạng biến thể (trong đối sánh với dạng nguyên thể) Tuy nhiên, xétmột cách toàn diện thì rất nhiều đơn vị thành ngữ đợc dùng ở dạng nguyên thểlại là dị bản của nhau Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày trong mục 2.2.1

Trang 19

Vấn đề đặt ra là trong số 697 ngữ cảnh thành ngữ tồn tại ở dạng biếnthể thì cách tồn tại của chúng ở mỗi một ngữ cảnh khác nhau là không giốngnhau Tuy nhiên sự biến hình của chúng cũng tuân theo những quy luật nhất

định và nhờ vậy mà tính thành ngữ của chúng vẫn đợc bảo đảm Cũng nhờ vậychúng tôi mới có cơ sở để khái quát thành một số dạng cấu trúc đặc trng củathành ngữ trong ca dao với các tên gọi nh sau:

1 Cấu trúc nguyên thể

2 Cấu trúc tỉnh lợc

3 Cấu trúc khai triển

4 Cấu trúc hoán đổi

2.2 Một số dạng cấu trúc đặc trng của thành ngữ trong ca dao

phổ biến Chẳng hạn nh ở trang 32, với mục từ: Ân cha nghĩa mẹ tồn tại 2 ngữ

cảnh, trong đó có 1 ngữ cảnh đợc dùng với cấu trúc nguyên thể:

Ân cha nghĩa mẹ nặng trìu

Ra công báo đáp ít nhiều phận con

[3;32]

Trong khi đó ở trang 125 lại có mục từ Công cha nghĩa mẹ tồn tại 4

ngữ cảnh khác nhau, trong đó có hai ngữ cảnh đợc dùng ở dạng nguyên thể:

Trang 20

- Thơng nhau cắp quách nhau đi

Công cha nghĩa mẹ sau thì hãy hay.

- Công cha nghĩa mẹ đừng quên

Con nên báo đáp trả đền hẳn hoi

[3;125]

Cũng vậy, ở trang 347 chúng tôi lại thấy xuất hiện mục từ ơn cha

nghĩa mẹ với 4 ngữ cảnh tồn tại khác nhau trong đó có một ngữ cảnh tồn tại ở

dạng nguyên thể:

Một câu phân với nữ trinh

ơn cha nghĩa mẹ cho trọn tình hiếu trung

[3; 347]

Vậy thì tại sao lại không gộp cả ba đơn vị mục từ nêu trên vào mộtmục từ chung và xem tất cả các ngữ cảnh đều là các dạng tồn tại biến thể củachính nó? Vấn đề không đơn giản nh vậy Chúng ta không thể có cơ sở chínhxác nào để có thể lựa chọn một trong số các mục từ trên làm đơn vị gốc vàxem các mục từ còn lại là những biến thể sử dụng đợc Và trên thực tế chúngvẫn tồn tại đồng thời nh những đơn vị thành ngữ đồng nghĩa trong hệ thốngthành ngữ tiếng Việt Hiện tợng này chiếm một số lợng rất lớn, 332/1097 đơn

vị mục từ chiếm 30%

* Một số nhóm đồng nghĩa minh hoạ:

- Dãi nắng dầm ma, Dãi nắng dầm sơng, Dãi gió dầu sơng, Dầu sơng dãi nắng, Dãi dầu ma nắng, Dãi dầu gió sơng,

- Bát sứ mâm son, Đĩa bạc mâm vàng, Mâm ngọc chén vàng, Đũa ngà mâm son, Đũa ngọc chén vàng, Đũa ngọc bát vàng,

- Bèo dạt mây trôi, Bèo dạt hoa trôi, Bèo nổi mây trôi,

- Gan héo dạ sầu, Gan khô ruột héo, Ruột héo gan xàu,

Nh vậy, có thể thấy rằng thành ngữ là một đơn vị tồn tại bằng ngữcảnh, chỉ trong ngữ cảnh thành ngữ mới thể hiện đợc dạng thức tồn tại củamình Tính cố định, bất biến của thành ngữ cũng cần phải hiểu nh vậy Thànhngữ chỉ cố định, bất biến khi nó ở trong một ngữ cảnh tại thời điểm nó đanghành chức

Cấu trúc nguyên thể của thành ngữ trong ca dao do vậy cũng chỉ làmột cách nói mang tính tơng đối mà thôi Trên thực tế, ca dao là một loại hìnhtruyền miệng dân gian mang bản chất dị bản cho nên chỉ khi nào nó đợc diễn

Trang 21

xớng thì khi đó nó mới có cuộc sống thực sự và cũng chỉ khi đó thành ngữtrong ca dao mới có đợc một cấu trúc cố định Tuy nhiên, ở đây chúng tôi

đang tìm hiểu của thành ngữ trong ca dao dới dạng văn bản đã đợc cố địnhhoá cho nên dạng cấu trúc nguyên thể của các đơn vị thành ngữ trong các ngữcảnh ca dao dù sao cũng là một hiện thực đã đợc kiểm chứng

2.2.2 Cấu trúc tỉnh lợc

Cấu trúc tỉnh lợc là dạng cấu trúc mà các thành ngữ tồn tại dới hìnhthức rút gọn trong các ngữ cảnh ca dao Đây cũng là một dạng cấu trúc rất đặctrng của thành ngữ trong ca dao Cấu trúc tỉnh lợc của thành ngữ trong ca daochủ yếu do sự chi phối của cấu trúc thể loại Theo đó các thành ngữ phải co lại

về mặt cấu trúc để sao cho phù hợp với cấu trúc chỉnh thể của câu ca dao, bài

ca dao mà nghĩa vẫn không thay đổi

gái là ở câu ba: Ví dù em đợc nâng khăn Ngời tiếp nhận dễ dàng nhận ra nâng

khăn ở đây chính là Nâng khăn sửa túi Một lời tỏ tình rất khéo léo của cô gái.

Trong bối cảnh của một câu lục bát và do yêu cầu của giao tiếp mà thành ngữ

nguyên thể Nâng khăn sửa túi đã đợc tỉnh lợc đi một vế Mặc dù vậy, không vì

thế mà tính chỉnh thể của thành ngữ này bị mất đi Ngời nghe vẫn lĩnh hội đợcmột cách đầy đủ rõ ràng giá trị ngữ nghĩa của thành ngữ Về mặt dụng học,ngời nói đã có một cách nói thật lịch sự, dễ nghe Giả sử chúng ta giữ nguyên

dạng thành ngữ này thì câu lục sẽ là: Nếu đợc sửa túi nâng khăn hoặc Ví đợc

sửa túi nâng khăn

Cách nói nh vậy, về mặt hình thức là hoàn toàn phù hợp lại đảm bảo

đ-ợc tính nguyên thể bất biến cho thành ngữ Tuy nhiên lại có vẻ thiếu sự nhẹnhàng, đáng yêu của ngời con gái Câu nói trở nên có tính điều kiện, rành

mạch và hơi lộ liễu Còn Ví dù em đợc nâng khăn thì lại khác Một cách nói

theo kiểu ví dầu rất nhẹ nhàng, có nhạc điệu và đầy sự trân trọng

Trang 22

Thành ngữ tồn tại ở dạng tỉnh lợc trong các ngữ cảnh ca dao với cácmức độ khác nhau Với các thành ngữ đối thì dạng tỉnh lợc thờng là rút gọnmột vế nh trờng hợp trên, có khi lại giữ lại mỗi vế một vài yếu tố Chẳng hạn

nh thành ngữ Ngu lang Chức nữ thành Ngu Chức:

Đôi ta gặp mặt nhau đây

Ba sinh âu hẳn nợ này chẳng không

[3;227]

- Kết duyên Châu Trần Châu Trần:

Xa xôi anh có lời thăm

Thăm em đôi chữ Châu Trần định cha

Trang 23

một hay nhiều yếu tố) thì chúng tôi gọi đó là dạng cấu trúc tỉnh lợc của thànhngữ trong ca dao Qua khảo sát thống kê một cách chi tiết, con số mà chúngtôi thu đợc là 82 ngữ cảnh thành ngữ đợc dùng với cấu trúc tỉnh lợc, chiếm3,8% Tuy rằng về mặt tỷ lệ dạng cấu trúc tỉnh lợc chỉ chiếm số nhỏ nhng đâyvẫn là một dạng cấu trúc rất đặc trng của thành ngữ trong ca dao Nó là bằngchứng sinh động về sự vận dụng tài tình, linh hoạt của các tác giả dân gian đốivới kho tàng thành ngữ tiếng Việt Hơn nữa, đối với những ngữ cảnh mà thànhngữ đợc dùng với cấu trúc tỉnh lợc thì khả năng dị bản là rất thấp ở đó, thànhngữ đã đợc cố định hoá dới một hình thức tơng đối chặt chẽ do phải co lại vềmặt cấu trúc Cho nên xác xuất biến hình của thành ngữ ở dạng này trong quá

trình truyền khẩu là rất thấp Ta thấy với cấu trúc rút gọn Nâng khăn trong cấu

trúc chỉnh thể của bài ca dao đã dẫn trên, thành ngữ sẽ không còn một phơng

án biến hình nào nữa mà vẫn giữ nguyên đợc ý nghĩa Còn nếu nh ở dạng

nguyên thể theo giả định đã nêu Ví đợc sửa túi nâng khăn thì rất có thể sẽ có một biến hình tơng đơng là Ví đợc sửa áo nâng khăn

Tóm lại, trong bối cảnh của một bài ca dao, một câu ca dao, do yêucầu của cấu trúc hình thức thể loại mà thành ngữ nhiều khi phải dùng với mộtcấu trúc tỉnh lợc

2.2.3 Cấu trúc khai triển

Ngợc lại với dạng cấu trúc tỉnh lợc là dạng cấu trúc khai triển Đâycũng là dạng cấu trúc đặc trng của thành ngữ trong ca dao Cấu trúc khai triển

là dạng cấu trúc mà khi đi vào các ngữ cảnh ca dao quan hệ của các yếu tốtrong thành ngữ gốc đợc khai triển bằng cách ghép thêm những thành tố phụhoặc đợc thay bằng các yếu tố tơng đơng nhng có kích thớc lớn hơn Thậm chí

có những ngữ cảnh thành ngữ gốc chỉ có giá trị liên hệ ngữ nghĩa còn cấu trúccủa nó đã đợc thay đổi hoàn toàn bằng một tổ hợp mới Có thể nói, cấu trúckhai triển của thành ngữ trong ca dao là một dạng cấu trúc biến thể khá tự do

và hoàn toàn mang tính lâm thời Có thể xem nó nh là những tổ hợp từ tự dotheo kiểu diễn xuôi các đơn vị thành ngữ tiếng Việt trong các ngữ cảnh

Ví dụ: Thành ngữ Bé hạt tiêu có nghĩa chỉ những ngời hay vật tuy bé

nhỏ nhng lại có bản lĩnh, có nhiều khả năng vợt trội Khi đi vào ngữ cảnh, tathấy cấu trúc của nó biến đổi nh sau:

Hạt tiêu nó bé nó cay

Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền

Trang 24

Rõ ràng đây là dạng tồn tại theo kiểu diễn xuôi các quan hệ ngữ nghĩa

của thành ngữ Bé hạt tiêu Chúng ta có thể không thừa nhận tổ hợp Hạt tiêu

nó bé nó cay là thành ngữ nhng không thể phủ nhận mối liên hệ ngữ nghĩa mật

thiết của nó với thành ngữ Bé hạt tiêu Chúng tôi gọi đây là dạng cấu trúc khai

triển của thành ngữ trong ca dao Loại này tồn tại 101 ngữ cảnh, chiếm 4,7%tổng số ngữ cảnh thành ngữ trong ca dao

Dạng cấu trúc này chỉ có giá trị lâm thời trong một ngữ cảnh nhất

định Nó rất khó lặp lại trong một ngữ cảnh khác Một thành ngữ gốc có thể tồntại nhiều cấu trúc khai triển khác nhau ở các ngữ cảnh khác nhau nhng rất khó cómột cấu trúc khai triển lại đợc dùng cho nhiều ngữ cảnh khác nhau

Ví dụ: Thành ngữ Có trăng phụ đèn tồn tại trong 5 ngữ cảnh với 5 cấu

trúc khai triển khác nhau:

Phòng này phòng nọ chớ quên phòng nào

Mới yêu mà cũ cũng yêuMới có mỹ miều cũ có công lênh

[3;117]

- Ngữ cảnh 5:

Trang 25

Bây giờ chàng ăn ở ra dạ bạc đen

Có bóng trăng tình phụ bóng đèn thoảng qua

[3;117]

Rõ ràng là ở năm ngữ cảnh ta thấy tồn tại năm dạng cấu trúc khai triểnkhác nhau: ở ngữ cảnh 1, yếu tố “Đặc trđèn” đợc khai triển thành “Đặc trlồng đèn” ; ngữcảnh 2, yếu tố “Đặc trđèn” đợc khai triển thành “Đặc tránh đèn” ; ngữ cảnh 3 thành “Đặc trbóng

đèn” , yếu tố “Đặc trphụ” đợc thay bằng “Đặc trtình phụ” … Có thể thấy rằng ở ngữ cảnhnào mà các yếu tố đợc khai triển cụ thể bao nhiêu thì tính thành ngữ của cấutrúc càng giảm đi bấy nhiêu và ngợc lại

Nếu nh cấu trúc ở dạng tỉnh lợc các mối quan hệ ngữ nghĩa của thànhngữ gốc bị rút gọn lại, ẩn kín đi thì ở dạng cấu trúc khai triển các mối quan hệngữ nghĩa của thành ngữ lại đợc mở rộng ra, diễn giải ra Đây là hai dạng cấutrúc trái ngợc nhau của thành ngữ khi đi vào ca dao, chúng góp phần làm nênnhững đặc trng cấu trúc của thành ngữ trong ca dao

2.2.4 Cấu trúc hoán đổi

Cấu trúc hoán đổi là dạng cấu trúc thờng thấy của các thành ngữ đốikhi đi vào hành chức ở trong ca dao, cấu trúc của thành ngữ đợc hoán đổi th-ờng xuyên hơn và cũng uyển chuyển hơn Trong ca dao không chỉ có thànhngữ đối mà cả thành ngữ so sánh và thành ngữ thờng cũng có thể hoán đổi cácyếu tố trong cấu trúc, tất nhiên là với một tỷ lệ rất nhỏ

Cấu trúc hoán đổi của thành ngữ trong ca dao là dạng cấu trúc mà cácyếu tố của thành ngữ gốc đợc hoán đổi vị trí cho nhau khi đi vào các ngữ cảnh

ca dao Chúng tôi thống kê đợc 107 ngữ cảnh thành ngữ đợc dùng ở dạng cấutrúc hoán đổi, trong đó có 98 ngữ cảnh là thành ngữ đối

Các thành ngữ thờng và thành ngữ so sánh hoán đổi cấu trúc khi đivào ca dao là do áp lực của thể thơ chứ hoàn toàn không có một cơ chế hoán

đổi nào cả

Ví dụ:

- Mời hai bến nớc Bến n ớc mời hai:

Phận gái bến nớc mời hai

Gặp nơi trong đục may ai nấy nhờChiều chồng lặng lẽ nh tờKhỏi bề sỉ nhục nh thờ mẹ cha

Trang 26

- Nồng nh vôi Vôi nh nồng:

Đó cao đây cũng tận trời

Đó mặn nh muối đây vôi nh nồng

[3;332]

- Nghĩa tao khang Tao khang nghĩa:

Em nghe anh tỏ lời này

Em đòi để bỏ nh vầy sao nên

Tao khang nghĩa ở cho bền

Liễu mai hoà hợp đôi bên thuận hoà

[3;306]

Với các thành ngữ đối thì khác Chúng cũng chịu áp lực của thể thơnhng sự hoán đổi cấu trúc của chúng là có quy tắc.Bất cứ thành ngữ đối nàocũng có cấu trúc hai vế đối xứng nhau Gọi thành ngữ gốc là cấu trúc nguyênthể, ta có mô hình cấu trúc tổng quát của thành ngữ đối nh sau:

Ví dụ:

Các yếu tố trong thành ngữ đối lập thành các cặp đối xứng với nhautheo quan hệ tơng đồng hoặc đối lập

Trang 27

- Quan hệ đối lập:

Lên voi / xuống chó Mặt sứa / gan lim

Đầu voi / đuôi chuột Khẩu Phật / tâm xà

Nh vậy, có thể thấy ngay rằng, các thành ngữ có cấu trúc đối xứng

t-ơng đồng thì sự hoán đổi diễn ra rất dễ dàng và hoàn toàn phù hợp logic ngữnghĩa, còn các thành ngữ có cấu trúc đối xứng đối lập thì sự hoán đổi rất khóxảy ra Theo khảo sát của chúng tôi thì trong ca dao không có trờng hợp hoán

đổi cấu trúc nào của các thành ngữ đối lập Nhìn chung, dạng cấu trúc hoán

đổi của thành ngữ đối trong ca dao có bốn cách thức hoán đổi cơ bản sau đây:

Dầu mà đó có nghi ngờ

Mực đen giấy trắng làm tờ giao duyên

[3;216]

Tơng tự ta có một số cặp hoán đổi vế sau đây:

Tai qua / nạn khỏi Nạn khỏi / tai qua Tài tử / giai nhân Giai nhân / tài tử Ghi lòng / tạc dạ - Tạc dạ / ghi lòng … nh

Sự hoán đổi các vế đối kiểu này hoàn toàn không hề ảnh hởng tích cựchay tiêu cực đến mô hình cấu trúc cũng nh ngữ nghĩa của thành ngữ đợc sửdụng Tuy nhiên nó lại có một giá trị vô cùng quan trọng đối với cấu trúc chỉnhthể của bài ca dao, làm nên tính hài hoà cân đối cho bài ca dao

Trang 28

2.2.4.2 Hoán đổi xen kẽ các yếu tố

Đây là cách thức hoán đổi thờng thấy của thành ngữ trong ca dao.Kiểu hoán đổi này yêu cầu các yếu tố hoán đổi vị trí cho nhau phải đối ứngvới nhau cả về ngữ nghĩa và chức năng cấu trúc

Ví dụ: Thành ngữ gốc Chân lấm / tay bùn có mô hình cấu trúc là:

Nhìn vào mô hình ta thấy các yếu tố chân tay đối ứng với nhau cả

về ngữ nghĩa và chức năng cấu trúc (đều là yếu tố chính), tơng tự các yếu tố

lấm bùn mặc dù khác nhau về từ loại nhng ở đây do áp lực của cấu trúccũng đối ứng với nhau và đều làm thành tố phụ của mỗi vế Theo nguyên tắc

đối ứng ta sẽ có hai phơng án hoán đổi yếu tố xen kẽ nh sau:

- Phơng án 1: Giữ nguyên vị trí yếu tố chính, hoán đổi vị trí yếu tố phụ

ta có cấu trúc tơng ứng là Chân bùn tay lấm.

Ai đem em đến giữa đồng

Chân bùn tay lấm mà lòng anh say

[3;85]

- Phơng án 2: Giữ nguyên vị trí yếu tố phụ, hoán đổi vị trí yếu tố

chính, ta có cấu trúc tơng ứng là Tay lấm chân bùn.

Nhớ khi tay lấm chân bùn

Ma dầm nắng dãi ăn mần hôm mai

[3;142]

Nhìn chung, đây cũng là kiểu hoán đổi mà mô hình cấu trúc và giá trịngữ nghĩa của thành ngữ vẫn đợc đảm bảo Tuy nhiên không phải thành ngữnào có thể hoán đổi vế thì cũng có thể hoán đổi yếu tố Bởi vì hoán đổi vế thìchỉ cần đối ứng về ý còn hoán đổi yếu tố thì phải đối ứng cả ở cấp độ lời nữa(xem Hoàng Văn Hành [19] )

2.2.4.3 Hoán đổi vị trí trong vế

Đây là kiểu hoán đổi làm thay đổi quan hệ trong mỗi vế, tuy vậy về cơbản mô hình cấu trúc và giá trị ngữ nghĩa của thành ngữ gốc vẫn đảm bảo đợctính ổn định Trở lại với ngữ cảnh ca dao đã dẫn trên:

Nhớ khi tay lấm chân bùn

Trang 29

Ma dầm nắng dãi ăn mần hôm mai

Dạng từ điển của Ma dầm nắng dãi là Dầm ma dãi nắng Nh vậy, nếu

nh ở dạng gốc quan hệ trong nội bộ mỗi vế là động từ + danh từ làm bổ ngữthì khi hoán đổi vị trí trong ngữ cảnh quan hệ của chúng đợc đổi thành danh từ+ động từ làm định ngữ (cụm động từ đổi thành cụm danh từ)

Hoán đổi thành:

Tất cả các cấu trúc hoán đổi vị trí trong nội bộ vế đều dẫn đến sự thay

đổi về quan hệ chính phụ giữa các yếu tố trong vế Bởi vì theo mô hình cấutrúc của thành ngữ đối thì bao giờ yếu tố chính cũng đứng trớc còn yếu tố phụ

đứng liền sau nó, bổ nghĩa trực tiếp cho nó ( ngoại trừ một số ít thành ngữ đốiHán Việt – loại này không thể hoán đổi đợc vị trí các yếu tố trong nội bộ vế)

Nhìn chung kiểu hoán đổi này của thành ngữ không nhiều trong ca dao

và cũng rất ít thành ngữ có khả năng này.Rất nhiều thành ngữ có khả nănghoán đổi theo cách 1 và 2, trong khi đó kiểu hoán đổi này lại rất ít thành ngữthực hiện đợc Nh vậy chứng tỏ rằng mọi sự biến đổi cấu trúc của thành ngữtrong ca dao đều phải hợp lý và đảm bảo đợc tính chỉnh thể của thành ngữ

2.2.4.4 Hoán đổi yếu tố phi đối xứng

Đây là dạng hoán đổi yếu tố rất ít gặp và cũng khá đặc biệt Nó làmphá vỡ cấu trúc đối xứng của thành ngữ gốc, tuy nhiên vẫn giữ đợc tính chỉnh

thể, hợp lý của thành ngữ Ví dụ: Đi ngang về tắt ngang tắt đi về

… Nếu em là quân ngang tắt đi về

Anh mang ngay xuống miếu Cậu em thề cho coi

Ngay gian em xin Cậu xét soi

Em gian thì Cậu gọt gáy bôi vôi em này

[3;182]

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng thống kê cuộc sống của thành ngữ trong ca dao - Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao
Bảng 1 Bảng thống kê cuộc sống của thành ngữ trong ca dao (Trang 16)
Bảng 3: Bảng thống kê các dạng ý nghĩa đặc tr  ng - Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao
Bảng 3 Bảng thống kê các dạng ý nghĩa đặc tr ng (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w