1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên đài truyền hình việt nam luận văn thạc sỹ ngữ văn

105 1,9K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên đài truyền hình việt nam
Tác giả Lê Thị Thuỷ
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Mai
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 609 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời cảm ơnTrong quá trình thực hiện đề tài “ Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam”, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Trịnh

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài “ Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời

sự trên Đài truyền hình Việt Nam”, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Trịnh Thị Mai và những ý kiến đóng góp thiết thực của các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ, khoa ngữ văn trường ĐH Vinh cũng như

sự động viên khích lệ của người thân và bạn bè, đồng nghiệp Nhân dịp này cho phép chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh, khoa đào tạo sau đại học và những người thân cùng bạn bè đồng nghiệp.

Vinh, tháng 1/2012

Tác giả

Lê Thị Thuỷ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang _Toc313326275

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1.1 Từ trong ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp: 9

1.1.1 Từ trong ngôn ngữ 9

1.1.2 Từ trong hoạt động giao tiếp 15

1.2 Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ trong bản tin thời sự trên đài truyền hình Việt Nam 19

1.2.1 Báo chí và ngôn ngữ báo chí 19

1.2.2 Ngôn ngữ trên Đài truyền hình Việt Nam và ngôn ngữ trong các bản tin thời sự 24

1.3 Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: TỪ TRONG CÁC BẢN TIN THỜI SỰ TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO VÀ NGUỒN GỐC 34

2.1 Các lớp từ xét theo cấu tạo trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam 34

2.1.1 Từ đơn 34

2.1.2 Từ phức 36

2.2 Các lớp từ xét theo nguồn gốc trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam 51

2.2.1 Từ thuần Việt 52

Trang 3

2.2.2 Từ Hán -Việt 52

2.2.3 Từ vay mượn các ngôn ngữ Ấn-Âu 57

2.3 Các lỗi dùng từ trong bản tin thời trên Đài truyền hình Việt Nam 60

2.3.1 Lỗi dùng thừa từ 60

2.3.2 Lỗi dùng từ không đúng ngữ cảnh 61

2.3.3 Lỗi dùng sai nghĩa của từ 63

2.3.4 Lỗi dùng từ sai phong cách 63

2.3.5 Lỗi dùng từ nước ngoài chưa thống nhất 64

2.3.6 Lỗi lạm dụng từ nước ngoài 65

2.3.7 Lỗi lạm dụng phương thức cấu tạo từ tạo ra nhiều từ mới khó hiểu, không phù hợp 66

2.3.8 Lỗi dùng các từ đồng nghĩa không thống nhất 68

2.4 Tiểu kết chương 2 68

CHƯƠNG 3: TỪ TRONG CÁC BẢN TIN THỜI SỰ TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA 70

3.1 Nghĩa và nghĩa của từ 70

3.2 Các lớp từ thể hiện nội dung về các lĩnh vực mà bản tin thời sự Đài truyền hình Việt Nam phản ánh 70

3.2.1 Lớp từ thể hiện nội dung về lĩnh vực chính trị 71

3.2.2 Lớp từ thể hiện nội dung về lĩnh vực kinh tế 79

3.2.3 Lớp từ thể hiện nội dung về lĩnh vực văn hoá xã hội 84

3.3 Lớp từ chỉ địa danh, nhân danh 87

3.3.1 Lớp từ chỉ địa danh 87

3.3.2 Lớp từ chỉ nhân danh 93

3.4 Lớp từ chỉ số liệu 95

3.5 Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong đời sống hiện nay, truyền thông đã trở thành một nhu cầu

không thể thiếu của con người Sự bùng nổ các phương tiện truyền thông làđiều tất yếu Điều này được diễn ra trên cả hai phương diện: nội dung và hìnhthức Nội dung càng phong phú đa dạng bao nhiêu thì hình thức phải hấp dẫnbấy nhiêu Hai phương diện này thực sự là những “ mặt trận “ ở đó diễn ra sựcạnh tranh quyết liệt Việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để không ngừngnâng cao chất lượng truyền thông là một đòi hỏi cấp bách

1.2 Hiện nay, ngôn ngữ báo chí đang có xu thế được xem là một phong

cách chức năng trong ngôn ngữ Trên cơ sở nhận thức rằng” phong cách lànhững khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, được hình thành từ những thóiquen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống và chuẩn mực trong việcxây dựng các lớp văn bản tiêu biểu” người ta đã tìm ra những luận cứ với cácmức độ thuyết phục khác nhau để khẳng định là ngôn ngữ báo chí có nhữngnét đặc thù, cho phép nó có vị thế ngang hàng với các phong cách chức năngkhác trong ngôn ngữ như phong cách khoa học, phong cách hành chính- công

vụ, phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách chính luận

1.3 Trong các bộ phận của ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ báo chí

nói riêng thì từ ngữ là bộ phận nhạy cảm nhất, thay đổi nhiều nhất Với tưcách là một phương tiện thông tin đại chúng hàng đầu, truyền hình luôn thuhút sự chú ý của công chúng vì vậy nó được coi là mẫu mực trong việc dùng

từ Chính vì thế nếu có sai sót gì trên truyền hình thì nó rất nhanh chóng trởthành sai sót chung của toàn xã hội Và từ đây nảy sinh một vấn đề khá quantrọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức là trách nhiệm của nhà báo,người biên tập và trách nhiệm của phát thanh viên trong việc nói đúng và viếtđúng nhằm góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Trang 5

Bản thân là một nhà báo đang làm việc tại Đài phát thanh truyền hìnhNghệ An, trực tiếp tổ chức sản xuất và thực hiện các chương trình thời sự,hơn ai hết tôi luôn ý thức được trách nhiệm này Bởi vậy tôi chọn vấn đề “

Từ ngữ trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam “ làm đối

tượng nghiên cứu, hi vọng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nângcao chất lượng truyền hình hiện nay…

2 Lịch sử vấn đề

Có thể nói, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến vàquan trọng nhất, ra đời từ thế kỉ XVI và phát triển ngày càng mạnh Báo chígồm nhiều loại hình như báo viết, báo truyền hình ( báo hình) , báo phát thanh( báo nói) và báo điện tử

Báo chí là một địa hạt rất rộng , vì thế nghiên cứu ngôn ngữ báo chíđòi hỏi phải bao quát những vấn đề lý thuyết và thực tiễn Nghiên cứu vềngôn ngữ báo chí nói chung đã có các tác giả như Vũ Quang Hào, QuangĐạm, Hoàng Anh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Tri Niên, Trịnh Sâm…

Các tác giả này đã tập trung tìm hiểu những yêu cầu chung nhất,những đặc trưng của báo chí

Theo Vũ Quang Hào “ Ngôn ngữ báo chí trước hết và chủ yếu là lĩnh

vực của ngôn ngữ học xã hội Sử dụng ngôn ngữ báo chí có tác dụng trực tiếp

và quyết định nhất tới hiệu quả của thông tin báo chí Do vậy ngôn ngữ báo chí trước hết phải là một thứ ngôn ngữ văn hóa chuẩn”

Tác giả còn cho rằng “ Tính chuẩn mực này không loại trừ mà

thậm chí còn cho phép sự sáng tạo của cá nhân nhà báo với tư cách là một hiện tượng đi chệch ra khỏi chuẩn mực” Hai vấn đề này được nêu và

gọi tên trong cuốn” Ngôn ngữ báo chí” Những vấn đề mà Vũ Quang Hào

đặt ra rất có ý nghĩa về mặt lý luận và chúng tôi xem đây là cơ sở quantrọng để triển khai đề tài này

Trang 6

Liên quan đến vấn đề này, tác giả Hoàng Anh đã có công trình

nghiên cứu về “ Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, NXB Lao

động, Hà Nội, 2003 “ Trong công trình này, tác giả đã nêu ra những vấn

đề: Trách nhiệm của nhà báo trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng

Việt ; các tính chất của ngôn ngữ báo chí , sự đan xen khuôn mẫu và biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí ; một số thủ pháp nhằm tăng cường tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí ; về cách sử dụng thành ngữ - tục ngữ trên báo chí ; một số nét khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ văn học; những kiểu lỗi về chính tả thường gặp trên báo chí và mấy kiểu lỗi về dùng từ trên báo chí

Tác giả Nguyễn Đức Dân trong công trình Ngôn ngữ báo chí – những

vấn đề cơ bản đã khái quát những đặc trưng cũng như những yêu cầu của

ngôn ngữ báo chí về từ ngữ, về câu văn, về tính biểu cảm Đồng thời ôngcũng chỉ ra những khác biệt giữa ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ thuộc cácphong cách chức nămg khác Ngoài công trình chuyên sâu này, ông còn viếtmột số bài đăng trên tạp chí chuyên ngành bàn về việc vận dùng thành ngữtục ngữ, danh ngôn trên báo chí

Cùng với Vũ Quang Hào, Nguyễn Đức Dân, Quang Đạm, Hoàng Anh

thì tác giả Nguyễn Trí Niên trong công trình Ngôn ngữ báo chí cũng khái quát

những yêu cầu chung của ngôn ngữ báo chí nói chung Yêu cầu quan trọngđược ông nhấn mạnh là tính biểu cảm

Tác giả Trịnh Sâm tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhưng gắn với

một địa phương cụ thể đó là ở thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình Đặc

điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo chí ở thành phố Hồ Chí Minh

(Ngôn ngữ và đời sống số 12) năm 2008, ông đã nêu một số đặc điểm củangôn ngữ báo chí ở thành phố Hồ Chí Minh về chính tả, về dùng từ, về dùngcâu, về tổ chức thông tin văn bản báo chí Qua đó ông cũng chỉ ra những điểmtích cực và những điểm tiêu cực Ngoài ra còn có một số bài viết của các nhà

Trang 7

báo trẻ hay một số luận văn của sinh viên học viện báo chí tuyên truyền bàn

về nghệ thuật làm báo, nghệ thuật thông tin, , phóng sự báo chí hiện đại, học

tập cách dùng từ , đặt câu trong báo chí của Hồ Chí Minh.

Riêng lĩnh vực báo hình (báo truyền hình đã) có một số công trìnhnghiên cứu ngôn ngữ ở các mảng cụ thể như ngôn ngữ phỏng vấn, ngôn ngữbình luận bóng đá, ngôn ngữ quảng cáo… Hai tác giả Hoàng Anh và Nguyễn

Thị Yến trong công trình Trường nghĩa ẩm thực trong bình luận bóng đá

(Ngôn ngữ đời sống, số 7, 2009) đi sâu tìm hiểu hiện tượng chuyển trường

nghĩa từ trường ẩm thực sang bóng đá Còn tác giả Phạm Hữu Đức trong Một

số đặc điểm ngữ pháp liên nhân trong các bản tin tiếng Anh thì đi vào nghiên

cứu thức, nghĩa liên nhân và không khí diễn ngôn trong bản tin tiếng Anh

Tác giả Vũ Anh nghiên cứu tính lịch sự trong phỏng vấn, tác giả này đãchỉ ra những vấn đề đảm bảo tính lịch sự và chưa lịch sự của phóng viên khiphỏng vấn…

Như vậy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu ngôn ngữ trongbản tin thời sự, một bản tin quan trọng nhất của truyền hình Vì vậy chúng tôichọn một phạm vi hẹp là từ ngữ trong loại bản tin này để nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ trong các bản tin thời sựcủa Đài truyền hình Việt Nam Từ ngữ được khảo sát trong 800 bản tin thời

sự của Đài truyền hình Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do dung lượng có hạn của một luận văn thạc sỹ , chúng tôi không thểnghiên cứu hết cả từ và ngữ cố định nên luận văn chỉ đi sâu tìm hiểu về từtrong bản tin thời sự

Trang 8

Từ mà chúng tôi khảo sát trong 800 bản tin thời sự được phát trên Đàitruyền hình Việt Nam trong 2 năm 2010 và 2011 ( từ tháng 6-2010 đến tháng12-2011)

Các bản tin được khảo sát chủ yếu được phát vào lúc 19h và một sốđược phát vào lúc 12h trưa

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê phân loại các lớp từ trong các bản tin thời sự của Đài truyềnhình Việt Nam

- Phân tích miêu tả các lớp từ trong các bản tin thời sự của Đài Truyềnhình Việt Nam: Về cấu tạo, về nguồn gốc, về ngữ nghĩa

- Chỉ ra một số lỗi dùng từ trong các bản tin thời sự của Đài Truyềnhình Việt Nam

- Trên các kết quả đã phân tích miêu tả chúng tôi rút ra những kết luận

để so sánh đổi chiếu, làm rõ đặc trưng riêng về cách dùng từ của các bản tinthời sự khác với cách dùng từ của các bản tin khác, làm rõ yêu cầu riêng của

từ ngữ trên Đài truyền hình Việt Nam ( tức là báo hình ) khác với báo viết Từ

đó đưa ra những đánh giá về việc dùng từ ngữ trong các bản tin thời sự trênĐài truyền hình Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê phân loại

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh đối chiếu

6 Đóng góp của luận văn

- Đây là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu đặc điểm từ ngữ trên Đàitruyền hình Việt Nam qua một bản tin quan trọng nhất- bản tin thời sự.Những đặc điểm trong sử dụng từ ngữ của bản tin thời sự là những điểm riêng

để phân biệt ngôn ngữ trong bản tin thời sự khác với các bản tin khác Đây

Trang 9

cũng là những yêu cầu về ngôn ngữ nói chung và dùng từ ngữ nói riêng củaloại bản tin đặc biệt này.

- Qua việc thống kê, khảo sát, phân tích miêu tả các lớp từ được sửdụng trong bản tin thời sự của Đài truyền hình Việt Nam cũng như chỉ ra một

số lỗi dùng từ, công trình của chúng tôi sẽ là nguồn tư liệu đóng góp thiếtthực trong việc nâng cao chất lượng truyền hình về mặt ngôn ngữ

- Hơn bao giờ hết, trong bối cảnh hội nhập và phát trển như hiện nay,ngôn ngữ cũng như các lĩnh vực khác đều bị tác động mạnh mẽ của các yếu

tố từ nước ngoài Ngôn ngữ báo chí cũng bị tác động nhiều và tác động trướctiên Công trình của chúng tôi góp một phần vào việc giữ gìn bảo vệ sự trongsáng của Tiếng Việt trên lĩnh vực truyền hình

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Từ trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam xét về mặt cấu tạo và nguồn gốc

Chương 3 Từ trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam xét về mặt ngữ nghĩa

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Từ trong ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp:

1.1.1 Từ trong ngôn ngữ

1.1.1.1 Định nghĩa từ

Bàn về khái niệm từ, từ trước đến nay có khá nhiều ý kiến Tuy nhiênkhái niệm về từ đầu tiên là do các nhà ngôn ngữ Ấn – Âu đưa ra Chẳng hạn,

học phái Alex-xan-dri đã định nghĩa: Từ là đơn vị nhỏ nhất trong chuỗi lời

nói (Dẫn theo V.A.Zveghinxep, Lịch sử ngôn ngữ học thế kỉ XIX – XX, bằng

Sau đây, chúng tôi xin nêu một số định nghĩa tiêu biểu

Giáo sư Đỗ Hữu Châu định nghĩa "Từ của tiếng Việt là một hoặc một

số âm tiết cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu"

Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp, trong cuốn "Từ vựng học tiếng Việt" Nhà

xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp năm 1985 định nghĩa "Từ của

tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một "chữ" viết rời."

Tác giả Hồ Lê trong "Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại" đã viết

"Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc

chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa"

Trang 11

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ

gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu [Ngữ pháp tiếng Việt, tr.18].

1.1.1.2 Đặc điểm của từ

- Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất.

Trong tiếng Việt, âm tiết trùng với hình vị nên từ tiếng Việt được cấutạo bởi âm tiết, có thể một âm tiết hoặc nhiều âm tiết

Ví dụ: Ăn, ở, nhà, xe, vội vàng, rung rinh, nóng nảy,…

Các từ: ăn, ở, xe, nhà là những từ gồm một âm tiết Còn các từ: vội

vàng, rung rinh, nóng nảy, thơm tho… là những từ có hai âm tiết, trong đó

một âm tiết mang nghĩa gốc (vội, rung, nóng, thơm), còn âm tiết còn lại chỉ là đơn vị khu biệt nghĩa (vàng, rinh, nảy, tho).

- Từ có cấu tạo hoàn chỉnh

Từ luôn xuất hiện với tư cách là một khối chặt chẽ cả về nội dung ngữnghĩa lẫn hình thức cấu tạo Chúng ta không thể chêm xen bất cứ một yếu tố

phụ nào vào giữa các yếu tố cấu thành một từ như cụm từ Ở ví dụ trên, vội

vàng, nóng nảy, thơm tho là một từ, ta không thể chêm xen yếu tố phụ vào

giữa vội và vàng, nóng và nảy, thơm và tho Còn ở trường hợp khác như: ao

cá là cụm từ ta có thể chêm xen yếu tố phụ vào giữa: ao và cá để thành ao nuôi cá, ao thả cá…

Tính hoàn chỉnh của từ mới giúp chúng ta xem xét trong cấu tạo nội bộcủa từ, phân biệt từ với cụm từ

- Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo câu

Khả năng tự do này thể hiện ở chỗ từ có thể kết hợp nhiều từ khác đểtạo nên các câu Hình vị cũng giống như từ ở chỗ là đơn vị nhỏ nhất nhưnghình vị không có khả năng hoạt động tự do mà luôn bị ràng buộc trong từ.Đây là đặc điểm để ta phân biệt từ và hình vị

Trang 12

Ví dụ: Biệt thự là một từ độc lập, nó có khả năng kết hợp tự do với từ

căn…này để cấu tạo thành cụm từ: Căn biệt thự này; hoặc cấu tạo thành câu: Căn biệt thự này rất đẹp Còn từ biệt (hình vị), thự (hình vị) không thể kết

hợp được như vậy

Từ đơn đơn tiết như nhà, ăn, bút, sách, vở, quân áo, đi, đứng, nói, cười….

Từ đơn đa tiết như mồ hôi, bồ hóng, bồ câu, mặc cả, mát rượi….

- Từ phức

Từ phức là từ có 2 hình vị trở lên Dựa vào phương thức cấu tạo từ cóthể chia ra từ láy và từ ghép

- Từ láy

Từ láy là những từ được cấu tạo dựa trên phương thức láy ngữ âm

Ví dụ: long lanh, rì rào, rũ rượi, mấp mô, lấp lánh, chập chờn, chon von

- Từ ghép

Từ ghép là một trong hai kiểu từ phức được tạo thành bằng cách ghéphai hoặc hơn hai hình vị có quan hệ ngữ nghĩa

Ví dụ: giàu sang, buôn chuyến, cà pháo, ốc bươu, hợp tác xã, xã hội, tụ hội….

Từ ghép được chia thành 2 loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Từ ghép đẳng lập là từ mà các hình vị có quan hệ ngang hàng

VD: Nhà cửa, đi đứng, ăn uống, khóc cười, mệt nhọc, trên dưới, trắng

đen, trong ngoài, xa gần, tươi sáng, sống chết, nghe nhìn, tìm kiếm….

Trang 13

Từ ghép chính phụ là từ ghép mà các hình vị có quan hệ chính-phụ.Nghĩa là một hình vị giữ vai trò chính một hình vị giữ vai trò phụ.

Ví dụ: Rau cải, xe đạp, xe hơi, nghệ sĩ, chiến sĩ, nha sĩ, nhà báo, nhà

văn, tốt bụng, tốt mã, mát tay, mát dạ….

Cách phân loại này là cơ sở để chúng tôi khảo sát các lớp từ xét về cấutạo ở chương 2

Việc phân định từ loại tiếng Việt theo cách thứ hai thành những lớp từ

cụ thể chủ yếu căn cứ vào các tiêu chuẩn:

b Các lớp từ xét về nguồn gốc: có từ thuần Việt và từ vay mượn

- Từ thuần Việt

Được quan niệm là những từ người Việt dùng quen thuộc, dễ hiểu, từthuần Việt trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt Chúng biểu thịnhững sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, tồn tại từ rất lâu đời

Ví dụ: ông, bà, cha, mẹ, an,h chị, thầy, cô, đẹp xấu, béo, sửa, bền , gan

khát, trốn, gáy, mỏ, mâm, váy, cơm, cây, củ, mây, cỏ, gà, trứng, đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, bánh, vắng, vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột, đâm, trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, củi, hột, rắn, khô, mây, mưa, sấm, sét, bàn chân, đầu gối, da, óc, thịt, mỡ, bố, mẹ, mày, nó, nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, bếp, chổi, sao, gió, sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi, răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, con, cháu, bão,

bể, bát, dao, gạo, ngà voi, than, cày, đen, gạo, giặt, thủ trưởng, bà con, đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,

- Từ vay mượn: Trong từ vay mượn có thì tiếng Việt chủ yếu là từ Hán

và ngôn ngữ châu âu

- Từ vay mượn từ tiếng Hán: Từ ngữ gốc Hán là lớp từ tiếng Việt mượntiếng Hán, đọc theo âm Hán -Việt Cách đọc này có từ đời Đường, là kết quảtrực tiếp của sự giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng Trung Quốc đời Đường, vớitiếng Việt cùng thời điểm Sau đời Đường, hầu hết các từ mượn Hán qua con

Trang 14

đường sách vở được người Việt đọc theo cách này và đi vào kho từ vựngtiếng Việt thường được coi là Từ Hán –Việt

Phần lớn các từ Hán-Việt có từ hai tiếng trở lên Các tiếng dùng để cấutạo từ Hán Việt gọi là các yếu tố Hán- Việt

Ví dụ: Tư duy, thổ địa, tiên lợi, cốt nhục,

Giống như từ ghép thuần Việt, từ ghép Hán-Việt cũng có loại từ ghép đẳng

lập ( giang sơn, sơn hà, quốc gia) và từ ghép chính phụ ( quốc kì, ái quốc )

Sau hàng chục thế kỷ dưới sự cai trị và đồng hóa của người Hán chúng

ta có sự ảnh hưởng nhất định về văn hóa, kể cả trong tư tưởng triết học vàngôn ngữ Tuy vậy, người Việt vẫn giữ được tiếng nói và nhiều phong tụcriêng của mình Chúng ta có lớp từ Hán -Việt là từ vựng sử dụng trong tiếngViệt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt Sau này khi có sự

ra đời của chữ quốc ngữ, từ Hán -Việt ngày nay được ghi bằng ký tự Latinh

Từ Hán -Việt đã góp phần làm phong phú vốn từ của tiếng Việt, nhiều khikhông tìm được từ thuần Việt tương đương để thay thế

Ví dụ : hội nghị, phát triển, thương mại, hợp tác, đấu tranh, cảnh

quan, quan sát, bút danh, tọa đàm, âm hưởng, biệt phái, kỹ năng , kỷ cương, doanh nghiệp, du hành, đồng chí, ngoại thương, kiên quyết, sản xuất, kinh doanh, đơn vị, phù hợp, phát biểu, đổi mới, quản lý, giáo dục, đào tạo, đề nghị, ký kết, chiến dịch, truyền thông, phát động, thành lập, giai đoạn, hội thảo, lực lượng, vũ trang, công trình, hạ tầng, kỹ thuật, đầu tư, xây dựng, hệ thống, bổ sung, chiến công, tham gia, góp ý, thế hệ, tài liệu, quy hoạch, bổ sung, chủ trì, bồi dưỡng, chức năng, nhiệm vụ, đồng tình, hưởng ứng, phương châm, chương trình, thử nghiệm , trách nhiệm, hệ thống, trau dồi, công ty, tiềm năng, khánh thành, triển khai, giang sơn, quốc gia, sơn hà, … )

-Từ vay mượn ngôn ngữ Ấn-Âu

Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnhhưởng đáng kể đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều

Trang 15

vào tiếng Việt, chỉ sau từ Hán-Việt Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp được

sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhàtrường, cũng như trong các loại sách báo khác

Đồng thời qua tiếng Pháp, một số từ tiếng Anh, tiếng Đức cũng dunhập vào tiếng Việt

Ví dụ: mít tinh, boong ke, bồi bàn, axit, xà phòng, cà phê, game, catxe,

karaoke….)

c Các lớp từ xét về phạm vi sử dụng:

Các lớp từ xét về phạm vi sử dụng có từ toàn dân và từ địa phương

- Từ toàn dân “ là những từ ngữ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn

từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt thuộc các địa phương khác nhau trên toàn lãnh thổ Từ toàn dân là lớp từ vựng cơ bản, quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ Nó làm cơ cở cho sự thống nhất ngôn ngữ trong một quốc gia”.

Ví dụ: mưa, nắng, núi , sông, mắt mũi, tay , chân, nhà ,cửa, cuốc , cày,

đi , đứng, nói , cười, xấu, tốt, đỏ, đen….

Từ toàn dân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho tự vựngtiếng Việt từ toàn dân là lớp từ thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng, đặcđiểm của từ vựng tiếng Việt

- Từ địa phương : Nếu từ toàn dân được sử dụng trên phạm vi toànlãnh thổ thì từ địa phương chủ yếu được lưu hành, sử dụng trong một phạm vi

hẹp, gắn với một hoặc một số địa phương nào đó “ Từ địa phương là bộ phận

tự vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày ở một địa phương nào đó, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học”.

Ví dụ: chi, rứa, mồ, nỏ, đọi, tô, ghe, ngái, tê, heo, rứa, nác, ngáy, tru,

chén, nón, giã, ngá, mần…

Trang 16

1.1.2 Từ trong hoạt động giao tiếp

Các phong cách chức năng, các ứng xử ngôn ngữ trong những hoàncảnh giao tiếp khác nhau, được hình thành và nhận diện dần dần trong quátrình phát triển của ngôn ngữ và xã hội Từ vựng học cũng phân lớp từ vựngtheo tiêu chí phong cách chức năng nhưng không hoàn toàn là sự khảo sát,phân loại của phong cách học

Ngôn ngữ giao tiếp của con người tồn tại dưới hai dạng cơ bản là nói

và viết Về mặt thuật ngữ, trước đây chúng ta vẫn thường gặp các tên gọi:phong cách nói hoặc phong cách khẩu ngữ đặt trong thế đối lập với phongcách viết hoặc phong cách sách vở

Tuy rằng gọi tên như vậy, nhưng thực tế trong nội dung người ta muốnphân biệt giữa một bên là ngôn ngữ thông tục, “đời thường”, chưa có sự giacông, trau dồi, ít gắn với những chuẩn mực nguyên tắc; còn một bên là ngônngữ được trau dồi, chọn lọc, gắn liền với những chuẩn tắc đó

Thật ra, ngay trong phong cách nói cũng có sự phân biệt giữa lời nóiđược chọn lọc, trau dồi (ví dụ như lời diễn giảng, thuyết trình, lời phát biểuchính thức có chuẩn bị sẵn, ) với lời nói chưa được chọn lọc kĩ và trau dồicẩn thận (ví dụ như trong nói năng thân mật thông thường hàng ngày, thậmchí có thể chấp nhận cả tính chất thông tục trong đó) Loại thứ nhất ở đâynhích gần về phía ngôn ngữ thuộc phong cách viết hơn, còn loại thứ hai, từbản chất của nó, được gọi đích danh là khẩu ngữ – một tên gọi mà tuy khôngnói ra một cách hiển minh, nhưng ít nhiều bên trong, người ta có ý phân biệt

nó với ngôn ngữ nói, nói chung

Như thế, có thể nhận ra trong từ vựng ba lớp từ mang đặc điểm của baphong cách: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ ngữ thuộc phong cách viết, và cuối cùng

là lớp từ ngữ trung tính (hoặc còn gọi: trung hoà về phong cách) có thể dùngtrong mọi phong cách khác nhau

Trang 17

1.1.2.1 Từ trong khẩu ngữ

Cái gọi là khẩu ngữ mà chúng ta xét ở đây, chỉ gồm khẩu ngữ của toàn

xã hội nói chung.Có thể nhận thấy ở lớp từ khẩu ngữ của tiếng Việt một sốdấu hiệu sau đây:

Về mặt cấu trúc hình thức, các từ ngữ thuộc lớp này khi đi vào hoạtđộng giao tiếp, ít nhiều có thể “tự do, phóng túng” nếu điều kiện cho phép.Nói cách khác, chúng có nhiều khả năng biến đổi cấu trúc vốn có của mình

Ví dụ:

- Tách rời ra và chen thêm những yếu tố khác vào:

học hành – học với hành, học với chả hành

chồng con – chồng với con

- Tăng cường các dạng láy hoặc lặp lại từ:

ông – ông ông ênh ênh

đàn ông – đàn ông đàn ang

con gái – con gái con đứa

Ưa dùng những từ ngữ có sắc thái đánh giá cực đại theo chiều nào đó

để cường điệu sự đánh giá của người nói, lôi cuốn sự chú ý của người nghe

Ví dụ: lo thắt ruột, chờ đỏ mắt, đánh sặc tiết, chạy bở hơi tai, chẻ xác

ra, no đòn, cứng họng, (tức) sôi máu, (giận) tím mặt,

Chấp nhận những lối xung hô thân mật hoặc đậm màu sắc bày tỏ thái

độ Bên cạnh đó là những từ ngữ có sắc thái thông tục, thậm chí thô thiển

Chẳng hạn, về xưng hô, có thể dùng: mày, tao, cậu, tớ, mình, chúng

mình, bọn mình, y, hắn, hắn ta, bọn nó, tụi nó, thằng, thằng cha, con mẹ, mụ, con mụ, mụ ta,

Về những từ đánh giá hoặc miêu tả hành vi, có: ngu, tồi, mèng, chẳng

ra chó gì, chẳng nước mẹ gì, ăn thua gì, ăn thua mẹ gì, nước non gì, ăn vàng

ăn bạc gì, biết tay, phải lòng, cực, cực kì

Trang 18

Về cách dùng các quán ngữ, thành ngữ để đưa đẩy, rào đón, hoặc diễnđạt cho sinh động

Ví dụ: của đáng tội, có đời thuở nhà ai, thôi thì , thì đã đành là vậy,

nó chết một nỗi (một cái) là , đánh đùng một cái, ấm ớ hội tề, chầu rìa hút thuốc vặt, tuần chay nào cũng có nước mắt, ai biết quan đái mà hạ võng, luỵ như uỵ đò

Thậm chí, đôi khi để tỏ thái độ thân thương, quý mến của các bậc chachú, ông bà, đối với trẻ em, người ta còn dùng cả những lời “mắng yêu”

nghe chừng rất thông tục như: thằng chó con, con cún con, cha bố (cô, cậu),

Sắc thái khẩu ngữ và biểu cảm của lớp từ khẩu ngữ còn thể hiện rõ ở sự

hiện diện và hoạt động của những từ thưa gửi (dạ, thưa, ), các từ ngữ cảm thán (ôi, ối, ôi trời, trời ơi, trời đất ơi, cha mẹ ơi, ), ở các ngữ khía từ (à, ư,

nhỉ, nhé)

Mặt khác, việc dùng các từ ngữ với sắc thái nghĩa mới, hoặc kèm theonhững nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, khá phổ biến Bởi lẽ giản dị là: Khẩungữ ít nhiều “phóng túng” về mặt chuẩn tắc

Tuy vậy, dầu thế nào đi nữa thì cũng phải khẳng định lại rằng tínhthông tục của khẩu ngữ nói chung và từ vựng khẩu ngữ nói riêng, không phải

là sự nói tục và các từ tục Nếu không thấy sự khác biệt về bản chất này, lạmdụng các từ tục thì sẽ dẫn đến chỗ làm vẩn đục ngôn ngữ, phá mất cái gọi làthẩm mĩ ngôn ngữ, thậm chí vi phạm đạo đức trong giao tiếp

1.1.2.2 Từ trong văn bản

Từ trong văn bản là lớp từ ngữ thuộc phong cách viết

Bản thân tên gọi này đã ngụ ý rằng ở đây gồm những từ ngữ chỉ chủyếu dùng trong sách vở, báo chí Người ta cũng thường hiểu đằng sau tên gọinày còn có một ẩn ý khác: Đó là lớp từ ngữ có được sự chọn lọc, được trau

dồi, được “văn hoá hoá” và gắn bó với chuẩn tắc nghiêm ngặt.

Trang 19

Lớp từ ngữ thuộc phong cách viết bao gồm chủ yếu những từ ngữthường xuyên được dùng gắn liền với nội dung của một số phong cách chứcnăng cụ thể như:

Phong cách khoa học: Gắn bó với các thuật ngữ khoa học, các từ ngữchuyên môn hoá: đạo hàm, ẩn số, quỹ tích, âm vị, hình vị, từ pháp, ngữpháp, âm tố, phụ tố,

Phong cách hành chính sự vụ: Chủ yếu gồm các từ ngữ thường dùng

trong những văn bản pháp lí, ngoại giao, hành chính: công văn, công hàm,

công ước, hoà ước, tạm ước, hiệu lực, biên bản, sao lục, tố tụng, chiểu theo, đơn phương,

Phong cách chính luận báo chí: gồm những từ ngữ thường dùng trong

các văn bản chính luận, bày tỏ thái độ, quan điểm: cộng sản, vô sản, tư sản,

đế quốc, thực dân, suy thoái, vũ trang, xâm lược, chiến tranh, cánh tả, cánh hữu, cấp trên

Phong cách văn học (nghệ thuật): Có thể tổng hoà các phong cáchkhác bằng những thủ pháp riêng của từng thể loại và từng truyền thống vănhọc của mỗi dân tộc, mỗi giai đoạn

Việc cố gắng xác định những tiêu chí thuần hình thức cho lớp từ ngữthuộc phong cách viết này là hết sức khó khăn, bởi vì chính bản thân nó hếtsức đa dạng và luôn luôn linh động Tuy nhiên cũng có thể thấy có một sốbiểu hiện tương đối rõ rệt như sau:

Không mang tính thông tục, chính vì thế mà các từ ngữ của lớp từ ngữnày và lớp từ khẩu ngữ hầu như không đi vào địa phận của nhau

Chủ yếu gồm các thuật ngữ, các từ ngữ chuyên môn hoá của các lĩnhvực: văn hoá, văn học nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật, chính trị, quân sự, hànhchính, pháp luật, triết học, kinh tế, Trong các từ ngữ đó, nhìn chung, cấutrúc hình thức của chúng là có tính hệ thống và theo chuẩn mực chặt chẽ

Trang 20

Về mặt nội dung ý nghĩa, các từ ngữ ở đây nói chung mang tính kháiquát, trừu tượng hoặc gợi cảm, hình tượng tuỳ theo phạm vi riêng của mỗiphong cách chức năng.

Về mặt nguồn gốc, thì phần nhiều là các từ gốc Hán và gốc Ấn-Âuđược du nhập

Ở đây, vai trò của các từ Hán -Việt có vị trí rất đặc biệt Nó có mặt ởkhắp mọi địa hạt của các phong cách khác nhau và điều quan trọng là tính đadạng, tính tĩnh tại, gắn liền với thế giới của những ý niệm đã đem lại cho các

từ Hán-Việt trong tiếng Việt cái sắc thái trang trọng và bác học của chúng.Cũng chính vì vậy mà chúng mới hoạt động một cách tích cực trong lớp từ

thuộc phong cách viết đến như thế (Nguyễn Nhữ Thành- Nhận xét về ngữ

nghĩa của từ Hán- Việt Ngôn ngữ số 2/1977).

1.2 Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ trong bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam

1.2.1 Báo chí và ngôn ngữ báo chí

1.1.1.1 Vai trò của báo chí

Chức năng của báo chí là dùng để thông báo tin tức thời sự chính trị xãhội trong nước và quốc tế, phản ánh dư luận quần chúng và quan điểm, chínhkiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm hướng dẫn, giáo dục mọi ngườitheo quan điểm tiến bộ, phê phán những quan điểm sai trái, lạc hậu, thúc đẩytiến bộ của xã hội

Xã hội càng phát triển, đất nước càng hội nhập với thế giới thì thông tintrên các phương tiện truyền thông và báo chí càng trở nên hết sức cần thiết vàngày càng gắn bó với đời sống các tầng lớp người trong xã hội Hơn lúc nàohết, báo chí ngày nay đang trở thành một phương tiện cung cấp thông tin hiệuquả nhất và đồng thời là diễn đàn của nhân dân Đối với báo chí cách mạngViệt Nam, Bác Hồ là người sáng lập và dày công vun đắp, bồi dưỡng Dưới

sự dìu dắt, dạy bảo của Người, báo chí nước ta đã không ngừng phát triển, lớn

Trang 21

mạnh về mọi mặt Báo chí cách mạng Việt Nam đã trở thành một phương tiệnthông tin thiết yếu của đời sống xã hội, là công cụ của Đảng, diễn đàn củaquần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, thực trạng báo chí của ta hiện nay, vẫn còn một số vấn đềnổi cộm cần phải nghiêm túc nhìn nhận và sửa chữa Một số nhà báo chưathực hiện tốt 9 quy định về đạo đức của người làm báo mà nghị quyết trungương 5 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X đã chỉ rõ.Để báo chí cóthể làm tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của nó, mỗi một nhà báo cần học tậpcách dùng từ, đặt câu của Bác Đừng coi thường câu, chữ, vì cái vĩ đại thườngbắt nguồn từ những cái bình thường nhất, vì những con chữ nhỏ bé có thể nóilên được bao vấn đề lớn lao, vĩ đại

Có thể nói rằng báo chí cách mạng Việt Nam đã phát triển rất mạnh

mẽ Chất lượng ngày càng được nâng cao Vai trò của báo chí ngày càng đượccoi trọng Vị thế của nhà báo từng bước được khẳng định Tuy vậy, vẫn còntình trạng một số nhà báo quan liêu, xa rời quần chúng, vẫn còn một số bàibáo rườm rà, khó hiểu, thông tin sai lệch vấn đề, không thiết thực

Trong bài “Sửa đổi lối làm việc” Bác Hồ cũng đã chỉ rõ “Nhiều

người cứ tưởng mình viết cái gì, nói cái gì người khác cũng hiểu cả không chịu khó hỏi quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn biết cái gì cứ ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng như cái gì mình làm cũng đúng, mình viết cũng hay”.

Để báo chí thực sự là công cụ tuyên truyền đắc lực của Đảng, nhàbáo thực sự là những chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hóa của

Đảng, chúng ta phải làm theo lời dạy của Bác: “Muốn tuyên truyền quần

chúng phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại đơn giản” (Sửa đổi lối làm việc).

Trang 22

1.2.1.2 Các thể loại báo chí

Báo chí là tên gọi chung của các thể loại thông tin đại chúng Hiện nay

ở Việt Nam có những thể loại báo chí sau:

- Báo viết: Thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiệntrên giấy, có hình ảnh minh họa

Ưu điểm: tính phổ cập cao, có nội dung sâu, người đọc có thể nghiên cứu Nhược điểm: thông tin chậm, khả năng tương tác hai chiều (giữa ngườiđọc và người viết) kém

- Báo nói ( báo phát thanh) : Thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầucuối là radio bằng ngôn ngữ Ra đời thế kỷ XIX

Ưu điểm: thông tin nhanh

Nhược điểm: không trình bày được các thông tin bằng hình ảnh (phóng

sự ảnh) hoặc các thông tin có hình ảnh minh họa

-Báo hình: Thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh quathiết bị đầu cuối là máy phát hình (Đài truyền hình) và máy thu hình(television)

Ưu điểm: thông tin nhanh;

Nhược điểm: khả năng tương tác hai chiều chưa cao

- Báo điện tử: Sử dụng giao diện website trên Internet để truyền tảithông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnhđộng và âm thanh (video clip)

Ưu điểm: thông tin cập nhật nhanh, tính tương tác hai chiều cao

Nhược điểm: tính phổ cập yếu

1.2.1.3 Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí

Hiện nay, ngôn ngữ báo chí đang có xu thế được xem là một phongcách chức năng trong ngôn ngữ Trên cơ sở nhận thức rằng " phong cách lànhững khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, được hình thành từ những thóiquen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống và chuẩn mực trong việc

Trang 23

xây dựng các lớp văn bản tiêu biểu, người ta đã tìm ra những luận cứ, với cácmức độ thuyết phục khác nhau, để khẳng định là ngôn ngữ báo chí có nhữngnét đặc thù, cho phép nó có vị thế ngang hàng với các phong cách chức năngkhác trong ngôn ngữ như phong cách khoa học, phong cách hành chính - công

vụ, phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách chính luận

Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản, có vai trò quan trọng hàng đầucủa báo chí là thông tin Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập các

sự kiện Không có sự kiện thì không thể có tin tức báo chí Do vậy, nét đặctrưng bao trùm lên báo chí là có tính sự kiện

Đinh Trọng Lạc, sau khi nêu rõ các đặc trưng của phong cách báo chí(như: tính chiến đấu, tính thời sự, tính hấp dẫn ), đã chỉ ra các đặc điểm củangôn ngữ báo chí thuộc các phương diện như từ vựng, cú pháp, kết cấu

Theo chúng tôi, đây phần lớn mới chỉ là các đặc điểm của một vài thểloại báo chí cụ thể, vì thế chúng chưa đủ tầm khái quát để có thể khắc họadiện mạo của cả một phong cách ngôn ngữ trong sự đối sánh với các phongcách ngôn ngữ khác Nói đến báo chí là nói đến tính chiến đấu, tính thẩm mỹ

và giáo dục, tính hấp dẫn và thuyết phục, tính ngắn gọn và biểu cảm Do vậyngôn ngữ báo chí phải phục vụ để thể hiện những tính chất đó

Như chúng ta đều biết, chức năng cơ bản, có vai trò quan trọng hàngđầu của báo chí là thông tin Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đềcập các sự kiện Không có sự kiện thì không thể có tin tức báo chí Do vậy,theo chúng tôi, nét đặc trưng bao trùm của ngôn ngữ báo chí là có tính sựkiện Chính tính sự kiện đã tạo nên cho ngôn ngữ báo chí một loạt các tínhchất cụ thể như tính chính xác, tính cụ thể Ngôn ngữ của bất kỳ phong cáchnào cũng phải bảo đảm tính chính xác Nhưng với ngôn ngữ báo chí, tính chấtnày có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vì báo chí có chức năng định hướng dưluận xã hội Chỉ cần một sơ suất dù nhỏ nhất về ngôn từ cũng có thể làm cho

Trang 24

độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những gây hậuquả xã hội nghiêm trọng không lường trước được

Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đặc trưng của các quá tình chuyển tảithông tin báo chí Mỗi thể loại có yêu cầu về cách sử dụng ngôn ngữ khácnhau ( báo in, báo nói, báo hình…) Do vậy ngôn ngữ báo chí một mặt đượchiểu là tổng thể ngôn ngữ các thể loại, mặt khác khái niệm ngôn ngữ báo chíđược xác lập chủ yếu trong sự khu biệt với khái niệm ngôn ngữ văn học vàngôn ngữ đời sống tự nhiên Trong tương quan đó, nếu như đặc trưng củangôn ngữ văn học là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ thì đặc trưng củangôn ngữ báo chí là tính chính xác, khách quan và hiệu quả thông tin tối ưu,tức làm nhằm chuyển tải trọn vẹn và nhanh chóng thông tin tới người nhận

Đối tượng mà báo chí hướng đến là ở nhiều lứa tuổi và nhiều trình độkhác nhau Do vậy vấn đề sử dụng ngôn ngữ trên báo chí cần lưu ý là cách

sử dụng ngôn ngữ

Thứ nhất, về phương diện ngữ âm Báo chí Việt Nam đều sử dụngnhững đơn vị ngữ âm của loại hình ngôn ngữ đơn lập và chịu sự chi phối chặtchẽ của quy tắc ngữ âm tiếng Việt Chữ viết trên báo chí nhất loạt đều sửdụng hệ thống ký tự chữ cái la tinh , gọi là chữ quốc ngữ, tuân theo nhữngquy định về văn phạm tiếng Việt

Thứ hai, về phương diện từ ngữ Sự ra đời của báo chí nhằm cung cấpthông tin Các thông tin mà báo chí chuyển tải có nhiều loại, có chọn lọc,phản ánh kịp thời những vấn đề nổi bật , nhiều mặt của đời sống xã hội Mụcđích của báo chí rất rõ ràng Đó là cung cấp thông tin và định hướng dư luận.Muốn thực hiện được mục đích này và không ngừng nâng cao hiệu quả hoạtđộng của báo chí đòi hỏi nhà báo phải thực sự có vốn từ ngữ phong phú

Thứ ba, về phương diện cú pháp Do phải thực hiện chức năng thôngtin nên phong cách báo chí đòi hỏi sử dụng mọi loại câu Tùy theo đối tượng,tùy theo thể loại chương trình của từng từ báo mà người viết có thể lựa chọn

Trang 25

những kiểu câu phù hợp Tuy nhiên kiểu câu có cấu trúc chuẩn mực đầy đủcác thành phần và ngắn gọn vẫn là sự lựa chọn tối ưu.

Thứ tư, về phương diện diễn đạt Thông tin báo chí được chọn lọc

và diễn đạt ngắn gọn Viết ngắn là giữ được tính chính xác của ngôn ngữ,

nội dung phù hợp với ngôn từ diễn tả, không kéo dài “ viết ngắn là tốt,

viết ngắn và đơn giản còn tốt hơn Viết ngắn, đơn giản mà gây được sự

chú ý là tốt nhất”.

1.2.2 Ngôn ngữ trên Đài truyền hình Việt Nam và ngôn ngữ trong các bản tin thời sự

1.2.2.1 Truyền hình và ngôn ngữ trên truyền hình

a Vai trò của truyền hình

Ngày nay, hệ thống báo chí bao gồm nhiều loại hình: báo in, báo phátthanh, báo truyền hình, báo điện tử Truyền hình là một loại hình báo chí cólịch sử phát triển ngắn hơn so với các loại hình truyền thông khác

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độnhư vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra mộtkênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình làphương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hìnhtrở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng nhưlĩnh vực kinh tế xã hội Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sửdụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần truyềnhình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập vàđịnh hương dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảngcáo và các dịch vụ khác Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệthống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về sốlượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càngđông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ,

Trang 26

truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ýnghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung.

Truyền hình có 5 chức năng:

-Chức năng thông tin

-Chức năng tư tưởng

-Chức năng tổ chức quản lý xã hội

-Chức năng chỉ đạo giám sát xã hội

-Chức năng văn hóa giải trí

Hiện nay, truyền hình được coi là phương tiện truyền thông thông dụngnhất hữu hiệu nhất Tất cả mọi thông tin được truyền qua truyền hình đềuđược đông đảo khán giả lĩnh hội vì trong đới sống hiện nay hầu như gia đìnhnào cũng có ti vi Các thông tin truyền qua truyền hình đến được với khán giảnhanh nhất Truyền hình có vai trò rất lớn trong việc thông báo tin tức và tácđộng mạnh mẽ đến người xem Chính vì vậy mà mọi cuộc vận động như vậnđộng ủng hộ người nghèo, vận động ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam,vận động học tập và làm theo lời Bác, vận động ủng hộ đồng bào bão lụt đềuđược tổ chức qua truyền hình, và có hiệu quả rất cao

b Ngôn ngữ trên truyền hình

Truyền hình có nét đặc thù riêng khác hắn với các phương tiện báo chíkhác đó là không chỉ dùng ngôn ngữ lời mà truyền hình còn dùng hình ảnh

để làm ngôn ngữ thể hiện Đặc biệt, ngôn ngữ trên truyền hình được thể hiệnqua hai giai đoạn Giai đoạn trước tiên là ngôn ngữ viết Các phóng viên thuthập tin tức và viết thành văn bản Giai đoạn thứ hai và là giai đoạn cuối cùng

là ngôn ngữ nói Các tin tức trong các văn bản viết của phóng viên được phátthanh viên truyền lại cho khán giả qua hình thức nói Do vậy, tin tức mà khángiả tiếp nhận được đã qua hai lần mã hoá Chính vì điều này mà ngôn ngữtrên đài truyền hình vừa mang những đặc điểm của ngôn ngữ viết lại vừamang đặc điểm của ngôn ngữ diễn đạt bằng lời nói Cho nên có nhiều trường

Trang 27

hợp cùng một từ nước ngoài nhưng các phát thanh viên đọc khác nhau Cùngmột nội dung nhưng các phát thanh viên diễn đạt khác nhau, cùng một sắcthái biểu cảm trong ngôn ngữ viết nhưng được các phát thanh viên thể hiệnbằng các ngữ điệu khác nhau.

Vì thế ngôn ngữ trên truyền hình là "loại" ngôn ngữ tổng hợp, sử dụngrộng rãi lớp từ văn hóa gọt giũa, nhiều từ ngữ thưa gửi, đưa đẩy,sử dụngnhiều số từ, chủ yếu dùng từ một nghĩa ( ít dùng từ đa nghĩa), từ dễ hiều, gầngũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng, sử dụng rộng rãi lớp từngữ giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm , nhiều danh từ riêng - tên riêng,nhiều thuật ngữ, từ ngữ chuyên ngành, nhiều từ ngữ Hán –Việt

c Tình hình sử dụng ngôn ngữ trên Đài truyền hình Việt Nam

Ngôn ngữ truyền hình có đặc thù đó là tính chuẩn mực, quy phạm Tuynhiên trong quá trình tác nghiệp hàng ngày với công việc chính là biên tập tinbài và chương trình phát sóng cũng như đọc báo, nghe đài xem truyền hình,chúng tôi có một nhận xét chung là khả năng tu từ học cũng như kỹ năng diễnđạt của báo chí nước ta đang ngày càng pha tạp giữa ngôn ngữ thuần Việt vớingôn ngữ nước ngoài khiến câu chữ trên báo chí lắm lúc trở nên ngô nghê,khó hiểu hoặc khô cứng Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể là do cácnhà báo của ta trong quá trình học và sử dụng ngoại ngữ đã mang theo thóiquen sử dụng cấu trúc của câu văn tiếng nước ngoài vào câu văn Việt; hoặc làmuốn viết cho khác người, cho lạ, cho hiện đại

Ví dụ: Bản quy hoạch này được thực hiện bởi một nhóm các kiến

Trang 28

Những câu trên đều có thể diễn đạt lại theo lối thuần Việt, xuôi tai và

dễ hiểu hơn, nhất là với số đông người bình dân:

Một nhóm kiến trúc sư trẻ đã thực hiện bản qui hoạch này.

Hai xe máy phóng ngược chiều với tốc độ rất cao đã đâm nhau một cú chí mạng

Các nhà máy thủy điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông đã làm cho nguồn nước bị cạn dần đi v.v

Chính cách viết theo cấu trúc đặt trước từ “được” những động từ và

tính từ đã làm nên những câu văn kiểu tây tây như thế Trong lúc cách nói

truyền thống của người Việt ta là “Chúng ta đi trên đường tắc nghẽn quá” không ai nói “Chúng ta tắc nghẽn quá bởi con đường đi”

Tất nhiên là dù nói và viết theo cách nào thì người đọc người nghe

cũng hiểu Chúng ta đi trên một con đường tắc nghẽn; và con đường tắc

nghẽn mà chúng ta đang đi Về nghĩa giữa hai câu thì giống nhau nhưng diễn

đạt theo câu thứ hai thì vụng về và nặng nề lắm Trong khẩu ngữ thì có thểnói như thế nhưng trên báo chí nói chung và truyền hình nói riêng thì khôngnên chút nào

Trong thời đại bùng nổ thông tin, báo chí cạnh tranh quyết liệt để thuhút bạn đọc, nội dung và hình thức báo rất phong phú, nhiều màu, nhiều vẻ

Ðiều mà người đọc, người nghe, người xem không hài lòng là trong khitrình độ người làm báo không ngừng được nâng cao, bài tin rất hấp dẫn thìnhững sai sót về chính tả, văn phạm, sự thiếu chính xác về dùng từ cũng ngàycàng gia tăng

Việc dùng từ sai nghĩa, nhất là từ Hán-Việt như: bao biện là làm thay được dùng như ngụy biện và ngược lại, cứu cánh là mục đích cuối cùng được dùng như cứu vớt, câu 'bách niên giai lão' là dùng để chúc hai vợ chồng đều

(giai) sống lâu, đến già thì được dùng để chúc thọ cho một cụ ông hay cụ bàriêng lẻ Một số cán bộ viết báo trẻ ngày nay không có điều kiện học chữ

Trang 29

Hán - Nôm và cũng không quan tâm đến việc học loại chữ này mà lại haythích dùng nên càng sai nhiều.

Những chữ dùng thừa đều bị gạch bớt như: Ngày mai trên địa bàn Hà

Nội có mưa, thì chỉ cần viết gọn là Ngày mai Hà Nội có mưa, bỏ chữ địa bàn.

Trong thời hội nhập quốc tế, việc dùng tiếng Anh trong giao tiếp là rấtcần thiết Nhưng nói và viết xen kẽ tiếng Anh không chút cần thiết gây khóchịu cho người đọc, người nghe như đội bóng T và T thì đọc là Ti en Ti,người dẫn chương trình viết là MC và đọc là em xi Xu hướng này đang cónguy cơ tiếp diễn và ngày càng tràn lan

Báo chí, phát thanh, truyền hình là những công cụ vô cùng quan trọng,

có thể nói là quan trọng hàng đầu trong việc giữ gìn sự trong sáng và pháttriển tiếng Việt Người làm báo nói chung, báo hình nói riêng là những chiến

“ tin tức báo chí là một thể tài phản ánh những sự kiện , sự việc, tình

hình có thật vừa mới xảy ra, đang xảy ra, vừa mới phát hiện thấy, có ý nghĩa quan trọng hoặc có liên quan đến đời sống xã hội, theo một đường lối và cải tạo, thực tiễn bằng hình thức ngắn gọn nhất, cô đọng nhất, nhanh chóng nhất, kịp thời nhất được ghi bằng chữ, tiếng nói hoặc hình ảnh( Giáo trình

nghiệp vụ báo chí tập 2 trường Tuyên huấn TW Hà Nội, 1978)

“ Tin là một trong những thể loại thuộc nhóm thông tấn báo chí, trong

đó thông báo, phản ánh, bình luận có mức độ một cách ngắn gọn,chính xác

Trang 30

và nhanh chóng nhất về sự kiện, vấn đề, con người, có ý nghĩa chính trị xã hội nhất định “ ( Đinh Văn Hường- bài giảng về thể loại tin tại khoa báo chí

trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, ĐH quốc gia Hà Nội )

Có nhiều quan niệm, nhiều cách nói khác nhau về tin nhưng đều toát

lên một số yêu tố tương đối đồng nhất đó là: Tin là mới, ngắn gọn, súc tích,

nhanh chóng, chính xác và có ý nghĩa chính trị xã hội nhất định

Tin có 7 loại: tin ngắn ( tin vắn), tin sâu ( tin bình luận), tin dự báo, tintổng hợp, tin tường thuật, chùm tin và tin công báo

Còn bản tin là một đơn vị bao gồm nhiều tin được phát sóng theomột thời lượng nhất định trên Đài truyền hình Ví dụ bản tin kinh tế tàichính được phát sau bản tin thời sự và nó gồm nhiều tin nhỏ như tin về thịtrường nhà đất, tin về chứng khoán, tin về tỉ giá… Hay bản tin thể thaođược phát ngay sau dự báo thời tiết, và có các tin thể thao trong nước, tinthể thao nước ngoài…

b Bản tin thời sự truyền hình

Mọi hoạt động của con người, mỗi nghề nghiệp đều bắt đầu tư cơ sởnhất định nào đó, từ cái rất đơn giản Trong quá trình hoàn thiện những cơ sở

ấy dẫn đến đỉnh cao của nghệ thuật nghiệp vụ Nhà báo nhìn thấy điều gì đóđáng chú ý, phát hiện ra điều gì đó mà trước kia chưa biết, chú ý đến hiệntượng nào đó rồi ghi chép lại vắn tắt và thế là đã có thông tin dành cho cácphương tiện thông tin đại chúng Điều đó có nghĩa là bài ghi chép là thể loạithông tin của báo chí, bản tin ngắn trong đó trình bày về một sự việc nào đó

Đó là thể loại chung của báo chí được sử dụng trong các ấn phẩm truyền hình,nhiều khi người ta còn gọi là bản tin thời sự Bản tin thời sự là bản tin ngắnghi lại những sự kiện lịch sử theo thời gian Trong báo chí, thể loại thời sự làthông tin ngắn về sự việc vậy nên bản tin ngắn và thời sự trở nên đồng nghĩa.Trong truyền hình thể loại này bao gồm tin được phát bằng lời và hình ảnh

Và những người làm truyền hình gọi đó là bản tin thời sự

Trang 31

Trong các chương trình trên Đài truyền hình Việt Nam thì thời sự làchương trình được xem là “xương sống” Chúng ta biết rằng bản tin thời sựđòi hỏi với đặc thù là thời sự cập nhật các tin tức, sự kiện nên ngôn ngữ trêncác bản tin thời sự có đặc thù riêng khác với các chương trình khác như vănnghệ, chuyên đề….

Bản tin thời sự có rất nhiều tin, trước hết là tin trong nước và tin quốc

tế Tin trong nước lại bao gồm nhiều tin như tin về sản xuất nông nghiệp, tin

về thị trường tiêu dùng, tin về văn hoá xã hội, tin về hoạt động ngoại giao củacác vị lãnh đạo… Tin quốc tế cũng có nhiều tin như tin kinh tế ở một số nước,tin về quan hệ giữa một số nước…

Trong báo chí, bản tin thời sự luôn là mảng đề tài được nhiều ngườiquan tâm nhất Ở cả 3 thể loại báo nói, báo hình và báo viết thì thời lượnggiành cho thời sự luôn được đặt ở phần đầu Bản tin thời sự là nội dung quantrọng, nó mang tính định hướng, phát triển Những tin tức nóng hổi mang đầyhơi thở cuộc sống hàng ngày từ cơ sở mang đến cho người đọc người nghe,người xem thông tin mới nhất, sự kiện chính trị- kinh tế- văn hóa xã hội mớinhất vừa xảy ra

c Ngôn ngữ trong các bản tin thời sự

Tin thời sự là những tin mới, nóng và ngắn, do vậy phải đảm bảocác yếu tố: Thời gian, địa điểm, sự kiện, cung cấp tin tức mới, viết ngắngọn, dễ hiểu

Người soạn tin và phát tin phải sử dụng những từ ngữ, kiểu câu khuônmẫu kết hợp với sử dụng từ ngữ một cách linh hoạt, biểu cảm, phải chú ýcách diễn đạt trình bày sao cho hấp dẫn

Từ ngữ được dùng phải thể hiện một lập trường quan điểm rõ ràng,nhất quán, nhưng phải giàu sắc thái biểu cảm Phóng viên cần phải có vốnkiến thức từ vựng phong phú, đúng chính tả, hạn chế sử dụng từ lóng, từđịa phương

Trang 32

Từ ngữ nước ngoài nếu sử dụng phải triệt để tôn trọng nguyên tắc phiên

âm, phát âm chuẩn Khi viết tin người viết cần lưu ý sự khác biết giữa lời nói

và văn viết Ngay cả những tài liệu có tính chất biên bản cũng cần được “nhân cách hóa” để làm chúng bớt khô khan Muốn vậy cần phải tránh nhữngcâu viết dài dòng, từ vựng truyền hình không dung nạp những câu chữ kiểubàn giấy, những thuật ngữ chuyên nghiệp và những thuật ngữ thuần túy khoahọc.Từ đặc thù đó đòi hỏi ngôn ngữ của các bản tin thời sự cần phải ngắngọn, chính xác, rõ ràng, mang tính phổ thông và khách quan Tuy nhiên đangôn và hoa mỹ cũng không có đất ở đây và cũng như các ý tưởng cường điệuhoặc võ đoán, cả những cụm từ dùng để ví von, so sánh cũng cần hạn chế.Các câu trong tin tức nên viết ở thế chủ động và có cấu trúc đơn giản: chủngữ, vị ngữ, tân ngữ Mặt khác cũng cần chú ý rằng, không chỉ sử dụng nhữngmệnh đề chính ngắn gọn kế tiếp nhau mà cũng cần sử dụng các cấu trúc câu

có mệnh đề chính và mệnh đề phụ

Ngôn ngữ trong các bản tin thời sự thường mang phong cách chínhluận Bởi trong các bản tin , việc sử dụng từ ngữ là sự có mặt của các lớp từngữ chính trị Nội dung của các lớp từ ngữ này luôn thể hiện lập trường vàquan điểm cách mạng, về từng vấn đề cụ thể của đời sống xã hội nhằm tuyêntruyền giải thích chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củanhà nước Do vậy phong cách chính luận đòi hỏi người dùng từ ngữ chính trịphải luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm, tình cảm cách mạng của mình Cũngqua đây mà biểu thị thái độ của tác giả đối với sự kiện, với vấn đề được đề

cập Một nhà lý luận về báo chí học Nga Xô viết “ sự phản ánh của chính

luận bao giờ cũng đậm đà sự xúc cảm Biên độ xúc cảm của nhà chính luận rất lớn Đó là sự tán thưởng và niềm vui sướng, lòng căm thù và tức giận, trầm tư và âu yến Đó là sức hấp dẫn trong việc phân tích sự kiện và đánh giá chính trị về các sự kiện đó “ ( D.M.Pri-ljuk, Chính luận trong báo chí, nội san

MGU 1973, số 11 trang 11)

Trang 33

Về điểm này, Lê Xuân Thại nhấn mạnh “ để thể hiện sự bình giá, tác

giả chính luận phải sử dụng các phương tiện ở các cấp độ ngôn ngữ, đặc biệt

Tuy nhiên để tạo được sự truyền cảm thì mỗi phóng viên, biên tập viêncần phải sử dụng các phương tiện, hình tượng biểu cảm của ngôn ngữ như ấn

dụ, hoán dụ , so sánh, chơi chữ, thành ngữ, tục ngữ Cần phải phân biệt việc

sử dụng các phương tiện hình tượng biểu cảm này khác với phong cách ngônngữ trong văn chương Mặt khác cũng cần nhận thấy rằng “ ngôn ngữ hìnhtượng, biểu cảm góp phần tăng giá trị của chính luận nhưng không nên lạmdụng nó Những ẩn dụ, hoán dụ quá phức tạp và hàm súc bắt trí não của conngười tiếp nhận phải vất vả là không thích hợp

Một vấn đề nữa trong sử dụng từ ngữ ở các bản tin thời sự là do mangphong cách chính luận nên ngôn ngữ của nó mang tính chất đơn diện, trongkhi đó ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật lại có tính chất đa diện Tuy nhiêntính đơn diện này không có nghĩa là dấu hiệu của sự nghèo nàn Trái lại chínhđặc điểm này tạo cho phóng viên, biên tập viên diễn đạt sự bình giá, cảm xúc,suy tư đối với vấn đề, sự kiện một cách trực tiếp, thẳng thắn, tạo được nhữnghiệu quả cao

Trong tất cả các chương trình trên Đài truyền hình thì chương trình thời

sự mang tính qui chuẩn nhất, qui chuẩn từ tác phong, cách ăn mặc, thái độbiểu cảm của phát thanh viên đến việc dùng ngôn ngữ Bởi vậy ngôn ngữtrong bản tin thời sự khác với các bản tin khác đó là yêu cầu tính chuẩn mực

Trang 34

rất cao Ngôn ngữ dùng trong bản tin thời sự không phóng khoáng như bản tinthể thao Cách trình bày, cách dẫn dắt vấn đề, cách dùng từ ngữ của phátthanh viên trong chương trình thời sự không giống như các chương trình tròchơi giải trí khác trên truyền hình.

Chúng ta biết rằng , trong bản tin thời sự bao gồm nhiều vấn đề như:chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, khoa học kỹ thuật, thểthao Chính vì sự đa dạng này nên đòi hỏi người viết, người biên tập chươngtrình cần phải có trình hiểu biết và sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác phùhợp với từng vấn đề, từng thể loại

1.3 Tiểu kết chương 1

Hiện nay truyền hình được coi là phương tiện truyền thông quan trọngnhất, có nhiều khán giả nhất Trong đó chương trình thời sự là một chươngtrình xương sống của truyền hình Với vị trí hết sức quan trọng của chươngtrình, ngôn ngữ trong bản tin thời sự phải đáp ứng yêu cầu chuẩn mực cao.Ngôn ngữ trong bản tin thời sự vừa mang đặc điểm của ngôn ngữ truyền hìnhnói chung lại vừa có những đặc trưng riêng Ngôn ngữ là một trong nhữngyếu tố quyết định chất lượng của chương trình thời sự

Trang 35

Bảng 2.1 Bảng thống kê các lớp từ xét theo cấu tạo trong các bản tin

thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam

Trang 36

2.1.1.1 Từ đơn đơn tiết

Trong số từ đơn mà các bản tin thời sự Đài truyền hình Việt Nam dùngthì chủ yếu là từ đơn đơn tiết Chúng tôi xin dẫn một số tin làm ví dụ

VD: Trong những chuyến đi ấy, tàu của ông gặp địch buộc phải phá

hủy tàu để đảm bảo bí mật Ông Bản đã may mắn sống sót sau năm giờ đồng hồ bơi ròng rã từ ngoài vào bờ Đến tận bây giờ người cựu binh này vẫn còn nhớ như in.

Tin này đã sử dụng 27 từ đơn thì đều là từ đơn đơn tiết

Hay tin sau:

Với phương châm mỗi thanh niên một việc làm, mỗi chi đoàn một công trình thanh niên chung tay góp sức xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp Hơn 150 đoàn viên thanh niên của 5 chi đoàn thuộc Đoàn công ty TNHH một thành viên Cảng Nghệ Tĩnh đã ra quân tham gia hưởng ứng

12 nghìn ha đất nông, lâm nghiệp Nhờ đó, đã đáp ứng từ 1/3 đến 1/2 nguyên liệu cho các nhà máy chế biến như: mía, dứa, sắn, cao su, 100% nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gia cầm và thuỷ hải sản đông lạnh.

Ở ví dụ này đã sử dụng 34 từ đơn và cũng đều là từ đơn tiết Các từ đơnđơn tiết này gồm cả thực từ và hư từ

2.1.1.2 Từ đơn đa tiết

Trong số các từ đơn mà các bản tin thời sự trên Đài truyền hình ViệtNam dùng thì từ đơn đa tiết chiếm số lượng rất ít, chủ yếu là những từ vay

Trang 37

mượn tiếng nước ngoài Các từ vay mượn này thuộc các lĩnh vực kinh tế,công nghệ thông tin, văn hoá xã hội chiếm đa số Có thể kể một số từ như

Maketing, karaoke, dancing, solo, online, album, live show

Ví dụ: Khâu maketinh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu nên

hàng hoá sản xuất ra chưa tới tay đông đảo người dùng Hàng ngoại vẫn tràn ngập và vẫn được nhiều người chọn lựa.

Ví dụ: Gần đây thị trường âm nhạc Việt Nam rất sôi động Các ca sĩ

từ những ngôi sao hàng đầu như Thanh Lam, Mỹ Linh đến những người vừa

mới chập chững nhập làng giải trí đều thi nhau ra album.

Qua những ví dụ nêu trên, chúng ta thấy trong các bản tin thời sựtruyền hình số lượng từ đơn đa tiết được sử dụng ít hơn hẳn từ đơn đơn tiết

Đó là một điều hiển nhiên không chỉ trên truyền hình mà trong giao tiếp hàngngày của người Việt Bởi lẽ đa số từ đơn đơn tiết là từ thuần Việt và đa số từđơn đa tiết là từ vay mượn

2.1.2 Từ phức

Các loại từ phức trong bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Namđược chúng tôi thống kê ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Bảng thống kê các loại từ phức trong bản tin thời sự trên

Đài truyền hình Việt Nam Tổng số từ phức

Trang 38

Bảng 2.4 Bảng thống kê các loại từ ghép trong các bản tin thời sự trên

Đài truyền hình Việt Nam Tổng số từ ghép

Có thể kể một số từ ghép đẳng lập được dùng nhiều trong bản tin thời

sự truyền hình là : áo quần, sách vở, cây cỏ, ăn nói, ăn mặc, thương nhớ, đầu

đuôi, nhà cửa, đi đứng, nói cười, ăn uống, trong ngoài, đầu đuôi, sống chết, điện nước, xăng dầu, tàu xe,chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, tốt đẹp, may rủi, sinh tử, tham gia, ngập úng, tiêu hủy, dột nát, trao đổi, hèn mọn, vợ con, thầy trò…núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm, hiểu biết, hợp tác, đổi

mớ, lấn chiếm, hao hụt, dôi dư, cơi nới, khẩn nguy,đổ ngã

Ví dụ : Mặc dù những người con của quê hương Diễn Châu tham gia

vào con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển đến nay không còn nhiều, nhưng hàng năm vào dịp 23/10 các cựu binh tham gia những đoàn tàu

không số năm xưa lại gặp nhau để cùng ôn lại những kỷ niệm của một thời

sinh tử, cùng chia sẻ những khó khăn vất vả, niềm vui và nỗi buồn để động viên nhau sống có ích hơn nữa cho xã hội xứng đáng với nshững đồng đội đã

hy sinh.

Ví dụ: Do ảnh hưởng của các đợt mưa lớn kéo dài, nhiều diện tích rau

màu vụ đông ở các tỉnh Bắc Trung Bộ bị ngập úng và dập nát, vì thế lượng

rau xanh ngày khan hiếm.

Trang 39

Ví dụ: Giải thể thao các doanh nghiệp trẻ năm nay nhằm tăng cường

đoàn kết, mở rộng giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm quản lý điều hành

và các hoạt động trong cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước,; đồng thời

kêu gọi sự chia sẻ đóng góp của các doanh nghiệp, cá nhân giúp trẻ em nghèo hiếu học, trẻ em tàn tật ở các địa phương…

Ví dụ: Mặc dù thời tiết thời gian qua không thuận lợi, mưa bão nhiều,

nhưng năm nay bà con vùng cao huyện Kỳ Sơn ( Nghệ An ) đang rất vui mừng vì được mùa ngô

Ví dụ: Cảnh sát Pháp được lệnh thắt chặt an ninh tại khu vực biên giới

của Pháp với Monaco, do lo ngại những người biểu tình phản đối hội nghị cấp cao Nhóm các nước công nghiệp phát triển và mới nổi (G20) sẽ nhắm tới

khu vực này

Ví dụ: Hôm qua, Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai và người

đồng cấp Pakistan Asif Ali Zardari đã có cuộc hội đàm trực tiếp tại thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ trong nỗ lực nhằm giải tỏa căng thẳng và thúc đẩy hợp tác chống hoạt động tăng cường tấn công của lực lượng Taliban

Ví dụ: Hôm nay, 31/10 là ngày được tổ chức Liên hiệp quốc chọn

đánh dấu dân số thế giới tròn 7 tỷ người Đi cùng với tình hình dân số thế giới không ngừng tăng là hàng loạt thách thức đối với nhân loại đó là

nghèo đói, bất bình đẳng, tài nguyên cạn kiệt, thiên tai dịch bệnh Hạn chế mức sinh và nâng cao chất lượng dân số đang là vấn đề đặt ra đối

với Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng.

Ví dụ: Hết quí 3 năm 2011, Nghệ An có 41 cụm công nghiệp được phê

duyệt qui hoạch, trong đó 15 cụm công nghiệp đã được đầu tư xây dựng hạ tầng Ngân sách trung ương và tỉnh đã đầu tư gần 450 tỷ đồng phục vụ đền

bù giải phóng mặt bằng, xây dựng công trình giao thông, cấp điện, cấp nước

cho cụm công nghiệp…

Trang 40

Ví dụ: Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 66/2011 sửa đổi, bổ

sung một số điều của Quyết định số 147/2007 về một số chính sách phát triển

rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015

Ví dụ: Tại nhiều địa phương phía Bắc như Tuyên Quang, Yên Bái,

Thái Nguyên, Phú Thọ đã xảy ra tình trạng các nhà máy chè không thu mua được nguyên liệu Nguyên nhân là hầu hết lượng chè tươi sản xuất ra được thương lái thu mua để bán sang Trung Quốc Điều đáng nói là chính vì việc thương lái thu mua với số lượng lớn và không hề kiểm định chất lượng nên

đã dẫn đến việc tại một số nơi xảy ra tình trạng chế biến chè bẩn, chè trộn

tạp chất và chè kém phẩm chất.

Qua một loạt các ví dụ trên đây, chúng tôi có mấy nhận xét:

- Xét về phạm vi sử dụng: Các từ ghép đẳng lập được dùng trong cácbản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam chủ yếu tập trung ở các tin vềsản xuất nông nghiệp, công nghiệp, về văn hoá xã hội

- Xét về ngữ nghĩa, các từ ghép trong các bản tin thời sự trên Đàitruyền hình Việt Nam đa số hai thành tố gần nghĩa hoặc lặp nghĩa, ví dụ như

tươi sáng, lắp ghép, dôi dư, hao hụt, mong ngóng, tốt đẹp,tìm kiếm, thịnh vượng, binh lính, con em, anh em, đào bới, lấn chiếm…

- Xét về quá trình sử dụng, các từ ghép đẳng lập trong các bản tin thời

sự trên Đài truyền hình Việt Nam, ngoài các từ được dùng lâu nay quen thuộctrong tiếng Việt thì còn xuất hiện một số lượng không nhỏ các từ mới Những

từ mới này là kết quả của sự kết hợp hai từ đơn vốn đồng nghĩa hay gầnnghĩa Nay do nhu cầu về lượng thông tin phải tổng hợp cao cho nên các từđơn này xem ra không đáp ứng, do vậy các nhà báo đã kết hợp để tạo thànhcác từ ghép đẳng lập mới Loại này có tần số sử dụng cao Có thể kể một số từ

như: dôi dư, ngã đổ, lấn chiếm, phục tạo, nhãn mác, cơi nới, khẩn nguy, củ

quả, tươi sống, tồn dư, tồn đọng, lạng lách, vườn đồi, sâu bệnh, bùng phát,dột nát, tươi sạch, cây con… Sau đây là một số tin cụ thể:

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Dân, Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Đỗ Hữu Châu ( 2001) Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, Nxb ĐH quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐH quốc gia Hà Nội
3. Nguyễn Thiện Giáp. Lược sử Việt ngữ học (tập 1, Nxb Giáo dục, H, 2005, trang 66–73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Việt ngữ học (tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng( 2005), tuyển tập từ vựng- ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập từ vựng- ngữ nghĩa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Đô Hữu Châu (1994), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đô Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
11. Tạp chí người làm báo” số 12/2007 “ học tập cách dùng từ, đặt câu trong báo chí của Hồ Chủ Tịch Sách, tạp chí
Tiêu đề:
12. Đỗ Hữu Châu ( 2011 ), Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, Nxb ĐH quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐH quốc gia Hà Nội
13. Quang Đạm (1973), Ngôn ngữ báo chí, Khoa báo chí trường tuyên huấn TW 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Quang Đạm
Năm: 1973
14. Vũ Quang Hào ( 2010), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Thông tấn 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Nhà XB: Nxb Thông tấn 2010
15. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1986
16. Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến, 1998, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
17. Hà Minh Đức ( 2000), cơ sở lý luận báo chí-đặc tính chung và phong cách, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơ sở lý luận báo chí-đặc tính chung và phong cách
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
18. Hoàng Văn Hành( 1998), Vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt và vai trò của thông tin đại chúng”, in trong Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng, tài liệu hội thảo do hội ngôn ngữ TP HCM tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt và vai trò của thông tin đại chúng”", in trong "Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng
19. Nguyễn Thị Bích Hà ( 1994), Tìm hiểu về phương thức thể hiện lời nói trên sóng của Đài truyền hình Việt Nam, luận văn cử nhân khoa báo chí, phân viện báo chí và tuyên truyền Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về phương thức thể hiện lời nói trên sóng của Đài truyền hình Việt Nam
20. Lê Anh Xuân, (2009), Giải nghĩa và mở rộng từ ngữ Hán-Việt, Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải nghĩa và mở rộng từ ngữ Hán-Việt
Tác giả: Lê Anh Xuân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2009
21. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1996), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
22. Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng (1994), Ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
23. Nguyễn Hồng Cổn ( 2003), Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt, Bài đã in trong Tạp chí Ngôn ngữ, số 2 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
24. The miss Ouri Group ( 2007), nhà báo hiện đại, Nxb Trẻ TP HCM 25. Khiếu Quang Bảo ( 2007 ), Nguồn tin: Tạp chí Người làm báo, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhà báo hiện đại
Nhà XB: Nxb Trẻ TP HCM25. Khiếu Quang Bảo ( 2007 )
26. Mai Thị Minh Thảo ( 2004), Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự đài truyền hình Việt Nam : Luận văn Thạc sỹ ĐHKHXH & NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự đài truyền hình Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê các lớp từ xét theo cấu tạo trong các bản tin  thời sự  trên Đài truyền hình Việt Nam - Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên đài truyền hình việt nam luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.1. Bảng thống kê các lớp từ xét theo cấu tạo trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam (Trang 34)
Bảng 2.3. Bảng thống kê các loại  từ phức trong bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam - Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên đài truyền hình việt nam luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.3. Bảng thống kê các loại từ phức trong bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam (Trang 36)
Bảng 2.5.    Bảng thống kê các loại từ láy trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam - Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên đài truyền hình việt nam luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.5. Bảng thống kê các loại từ láy trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam (Trang 48)
Bảng 2.7   Bảng thống kê từ Hán-Việt trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam - Đặc điểm từ ngữ trong các bản tin thời sự trên đài truyền hình việt nam luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.7 Bảng thống kê từ Hán-Việt trong các bản tin thời sự trên Đài truyền hình Việt Nam (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w