1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngăn của các nhà văn nữ việt nam đương đại viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình

70 1,4K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình
Tác giả Trần Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 205,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm trong cách nêu và phát hiện vấn đề ở truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại...29 2.1.. Chọn thực hiện đề tài Đặc điểm truyện ngắ

Trang 1

trần thị hồng nhung

Đặc điểm truyện ngắn của các nhà văn nữ

Việt Nam đơng đại viết về tình yêu

và hạnh phúc gia đình

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh - 2007

Trang 2

trần thị hồng nhung

Đặc điểm truyện ngắn của các nhà văn nữ

Việt Nam đơng đại viết về tình yêu

Trang 3

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng khảo sát và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phơng pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

Chơng 1 Tình yêu và hạnh phúc gia đình - nguồn đề tài và cảm hứng sáng tác lớn của truyện ngắn Việt Nam đơng đại 8

1.1 Điều kiện nở rộ của truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình trong văn học Việt Nam đơng đại 8

1.2 Tổng quan về đóng góp của mảng truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình trong văn học Việt Nam đơng đại .13

1.3 Lý giải bớc đầu về thiên hớng lựa chọn nghệ thuật của các nhà văn nữ đối với đề tài, chủ đề tình yêu và hạnh phúc gia đình 20

Chơng 2 Đặc điểm trong cách nêu và phát hiện vấn đề ở truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại 29

2.1 Cách miêu tả những bi kịch tình yêu và hạnh phúc gia đình do chiến tranh gây ra 29

2.2 Cách thể hiện những vấn đề thuộc bản năng tính dục 34

2.3 Cách nhìn về quan hệ tình yêu - hôn nhân - gia đình 39

2.4 Cách nhìn về vấn đề bình đẳng giới 47

Trang 4

phúc gia đình của các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại 54

3.1 Cách xây dựng thế giới nhân vật 54

3.2 Cách kết cấu tác phẩm 62

3.3 Cách sử dụng ngôn ngữ và tạo giọng điệu 66

Kết luận 73

Tài liệu tham khảo 76

Trang 5

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam 1945 - 1975 với t duy sử thi và cảm hứng lãng mạnchủ yếu là nền văn học của những cái cao cả, hớng về những cái lớn lao củacộng đồng dân tộc Từ sau 1975, lịch sử dân tộc sang trang mới khi sự nghiệpthống nhất đất nớc đã hoàn thành Tiếp đó, với Đại hội Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ VI, đất nớc ta bớc vào công cuộc đổi mới toàn diện Văn họccũng chuyển mình đi lên, có thêm khí sắc mới, có nhiều sự bứt phá đầy ấn t-ợng, trong đó phải kể đến sự bứt phá của các cây bút nữ nh: Dơng Thu Hơng,Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Trần Thị Trờng, Võ Thị Hảo, Y Ban, PhanThị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc T Có thể nói, sự lênngôi của các cây bút nữ đã đem đến cho văn học Việt Nam một luồng gió lạcùng với quan niệm mới mẻ về cuộc sống, xã hội, con ngời

Trong văn xuôi Việt Nam cha bao giờ vấn đề tình yêu- hôn nhân- gia

đình, vấn đề tình dục lại đợc quan tâm thể hiện, đợc nói ra một cách quyết liệt,thậm chí mang tính thách thức, nổi loạn nh hiện nay, đặc biệt là ở sáng tác củacác nhà văn nữ D luận về chúng trong độc giả là đa chiều, nhng những thểnghiệm chín chắn nhất luôn đợc khẳng định, đợc đón nhận một cách đầy u áihoặc rất nhiệt tình Tất nhiên, không phải mọi chuyện đều đã đợc đánh giámột cách đủ khách quan, khoa học

Chọn thực hiện đề tài Đặc điểm truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt

Nam đơng đại viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình, chúng tôi hớng tới việc

nhìn nhận đúng về đóng góp của các nhà văn nữ cũng nh hiểu thấu đáo hơn vềmột trong những nguồn cảm hứng sáng tạo lớn của các nhà văn Việt Nam hiệnnay

2 Lịch sử vấn đề

Thập niên 90 của thế kỷ trớc đợc xem là ngày hội của các cây bút nữ

Sự xuất hiện của họ đã đem đến cho văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng

“một sinh khí mới rất cần thiết để thể hiện bề sâu của cuộc sống con ngời hômnay” [38] Sự xuất hiện đông đảo, tự tin ấy đã gây cho bạn đọc và các nhà phêbình những niềm hứng thú khá đặc biệt

Trang 6

Trong lời giới thiệu của Tuyển văn các tác giả nữ Việt Nam, các cây

bút nữ cuối thế kỷ XX đợc đánh giá: “Trên những trang viết của họ ta tiếpnhận đợc một nữ tính phức tạp hơn nhng đồng thời cũng phong phú hơn nhữnggì ta đã vẫn quan niệm trong quá khứ” Rất nhiều bạn đọc, nhiều nhà nghiêncứu phê bình đã hớng ngòi bút của mình vào để khám phá chất nữ tính phứctạp và phong phú đó

Trên Tạp chí Văn học số 6/1996 đăng tải tờng thuật buổi toạ đàm Phụ

nữ và sáng tác văn chơng, trong đó tập trung nhiều ý kiến của các nhà phê

bình nh: Văn Tâm, Vơng Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên; cácnhà thơ: Đặng Minh Châu, Ngô Thế Oanh; các cây bút nữ phê bình và sángtác nh: Đặng Anh Đào, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo Hầu hết các ý kiến đều

đặt niềm tin vào các cây bút nữ Vơng Trí Nhàn mở đầu cuộc nói chuyện bằngnhận xét về “đặc thù” của ngời phụ nữ trong sáng tác văn chơng: “Hình nh do

sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới”.Phạm Xuân Nguyên khẳng định: “Các nhà văn nữ hiện nay khá đa dạng, mỗingời có một gam riêng chứ không thuần bản năng nh có ngời nghĩ” Văn Tâmtin ở trong sáng tác của họ có sự đóng góp “cái mảng khá bí ẩn là tâm hồnhọ” Bên cạnh đó cũng có ý kiến chỉ ra mặt còn hạn chế của văn chơng nữ ởchỗ họ thờng “không viết đợc cái gì khác mình, lặp lại mình, đơn điệu trongcác kiểu của mình” (Đặng Anh Đào)

Trong số các bài viết về các tác giả nữ nổi bật là loạt bài viết của hai tácgiả Bích Thu và Bùi Việt Thắng Bích Thu qua các bài viết đã đánh giá caosáng tác của các nhà văn nữ trẻ Tác giả cho rằng đội ngũ sáng tác trong đó có

Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo v.v là “một lớp trẻ dồi dào bút lực”[53] và bằng tầm nhìn của một nhà phê bình Bích Thu nhận định: “Sự xuấthiện rầm rộ của các cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và dáng vẻ của vănxuôi hôm nay” [54] Không chỉ quan sát sự xuất hiện của đội ngũ tác giả nữ

nh một hiện tợng, Bích Thu còn có những ý kiến đánh giá về giá trị văn xuôiphái đẹp rất tinh tế: “Văn chơng của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi khaithác đề tài thế sự đời t với nội dung nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng

mà bén ngọt, riết róng mà đồng cảm, chia sẻ với những thân phận, những conngời sống quanh mình” [55] ý kiến này đã thể hiện ngời viết tỏ ra hiểu rõ vănchơng của phái đẹp ở cả bề rộng lẫn bề sâu

Trang 7

Bùi Việt Thắng trong bài viết Tản mạn về truyện ngắn của những cây

bút nữ trẻ, đã đa ra những đặc điểm chung của các cây bút nữ Theo ông:

“Làm nên đặc trng của những cây bút nữ trẻ là cái nhu cầu đến là say mê đợctham dự, đợc hoà nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con ng-

ời “Nữ tính” của những cây bút trẻ phát lộ rất rõ trong sự quyết liệt đấutranh giành giữ tình yêu và sự bình quyền trong tình cảm” [48] Tác giả đồngthời phát hiện ra đặc điểm chung của các cây bút nữ trong nghệ thuật thể hiện,

đó là lối viết “phá cách rất tự do, khoáng đạt và uyển chuyển, linh hoạt”

Trong bài viết Khi ngời ta trẻ II, ông cũng đã ghi nhận sức sáng tạo dồi dào,

khoẻ khoắn, “cách lý giải mới về những vấn đề muôn thuở phù hợp với nhânsinh quan về con ngời hiện đại của đội ngũ tác giả nữ” [49] Bùi Việt Thắngcũng là ngời viết lời giới thiệu cho nhiều tập truyện có sự hội tụ của các câybút nữ Về lĩnh vực này, ông nh ngời “trang điểm khéo” để sự xuất hiện củanhững cây bút nữ nhận đợc nhiều hơn sự mến mộ của bạn đọc

Ngoài ra, còn có một số tác giả viết về các cây bút nữ nh Phạm XuânNguyên, Vũ Tuấn Anh Phạm Xuân Nguyên trong bài viết Truyện ngắn và

cuộc sống hôm nay, đánh giá: “Một nét đặc biệt của mùa truyện ngắn hôm

nay là sự xuất hiện đông đảo, tự tin của đội ngũ viết trẻ và nhất là của các câybút nữ Trên những trang viết của họ, nỗi buồn, nỗi đau nhân thế luôn đợcnhìn nhận ở khía cạnh tinh tế rất phụ nữ” [36]

Vũ Tuấn Anh trong bài viết Đổi mới văn học vì sự phát triển cũng ghi

nhận những cây bút nữ đã có đợc “những dấu ấn cá nhân trong t duy nghệthuật và cách thể hiện” [4]

Anatoli A.Sokolov trong bài viết Văn hoá và văn học Việt Nam trong

những năm đổi mới (1986- 1996), đã đánh giá: “Văn xuôi nữ dám trình diện

mình, thực sự gây niềm lạc quan, trở thành một hiện tợng thực thụ của văn họcViệt Nam hiện thời Đó là những tác phẩm của: Nguyễn Thị Thu Huệ, PhanThị Vàng Anh, Võ Thị Hảo Văn xuôi nữ này tiếp tục một cách hữu cơnhững truyền thống tốt đẹp nhất của văn học hiện thực chủ nghĩa Việt Nam,chú ý đến con ngời bình thờng, nhỏ bé, cuộc sống, nỗi đau, niềm vui, hyvọng của nó ở các tác phẩm của mình, chủ yếu là truyện ngắn, các nhà vănnữ trẻ tạo ra “lãnh thổ con ngời, lãnh thổ tình yêu” trên đó diễn ra cuộc đờicon ngời ấy, trên đó có ngôi nhà của nó, gia đình của nó Chính các tác giả

Trang 8

này sẽ quy định tơng lai văn học Việt Nam và sự phát triển sau này của nó”[1].

Bên cạnh phê bình truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới thì truyện ngắn nữcòn là đối tợng nghiên cứu của một số luận văn thạc sĩ nh: Đào Đồng Điện

(2004), Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay, Đại học Vinh; Nguyễn Thị Thu Hơng (2004), Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn các

nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay, Đại học Vinh Đó là các đề tài có liên

quan đến truyện ngắn nữ nhng khác về góc độ và nhiệm vụ nghiên cứu với đềtài mà chúng tôi đang nghiên cứu

Nhìn chung nhiều bài viết về đội ngũ tác giả nữ chủ yếu mới dừng ởmức khái quát sơ lợc với mục đích ghi nhận dấu ấn và những đóng góp của họtrong văn học thời kỳ Đổi mới nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.Nghệ thuật thể hiện trong sáng tác của họ cha đợc chú ý nhiều Trên cơ sở kếthừa, tiếp thu, phát triển những ý kiến của các nhà nghiên cứu về các nhà vănnữ, chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra những nét mới mẻ của các nhà văn nữ ViệtNam đơng đại trong việc thể hiện tình yêu và hạnh phúc gia đình trên hai ph -

ơng diện: cách nêu - phát hiện vấn đề và phơng thức - thủ pháp biểu hiện

3 Đối tợng khảo sát và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hoa ma

Võ Thị Hảo: - Ngời sót lại của rừng cời

- Hồn trinh nữ

- Goá phụ đen

Lê Minh Khuê: - Màu xanh man trá

- Những dòng sông, Buổi chiều, Cơn ma

- Một mình qua đờng

- Trong làn gió heo may

Y Ban: - Chợ rằm dới gốc cây cổ thụ

Trang 9

- Cới chợ và những truyện ngắn mới

- Ngời đàn bà có ma lực

- I am đàn bà

Võ Thị Xuân Hà: - Truyện của con gái ngời hát rong

Nguyễn Thị Thu Huệ: - 37 truyện ngắn

- Hậu thiên đờng

- Cát đợiNguyễn Ngọc T: - Cánh đồng bất tận

- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc T

Đỗ Hoàng Diệu: - Bóng đè

Nhiều tác giả: - Văn mới 5 năm đầu thế kỷ XX

- Truyện ngắn hay các tác giả nữ

bỏ qua những truyện ngắn hay, đặc sắc thể hiện phong cách của các tác giả

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra một cách khái quát tính quy luật của việc thể hiện chủ đề tìnhyêu và hạnh phúc gia đình trong truyện ngắn Việt Nam đơng đại

- Xác định đặc điểm truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đìnhcủa các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại ở cách nêu và phát hiện vấn đề

- Nêu đặc điểm truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình củacác nhà văn nữ Việt Nam đơng đại trên phơng diện lựa chọn các phơng thức

và thủ pháp biểu hiện

4 Phơng pháp nghiên cứu

Với các tác giả nữ, số lợng truyện ngắn là khá lớn, luận văn sử dụng

tr-ớc hết là phơng pháp thống kê, phân loại Đồng thời để tìm ra những nét riêng,

độc đáo của các tác giả nữ viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình, luận văn sửdụng phơng pháp so sánh, đối chiếu với các truyện ngắn của các nhà văn namgiới viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử

Trang 10

dụng phơng pháp phân tích - tổng hợp để vừa đi sâu tìm hiểu nghiên cứu, vừarút ra đợc những đặc điểm khái quát nhất trong truyện ngắn của họ.

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần chỉ ra những nét mới mẻ và khẳng định những đónggóp của các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại trong việc thể hiện tình yêu vàhạnh phúc gia đình ở truyện ngắn trên hai phơng diện: cách nêu - phát hiệnvấn đề và phơng thức - thủ pháp biểu hiện

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của

luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:

Chơng 1 Tình yêu và hạnh phúc gia đình - nguồn đề tài và cảm

hứng sáng tác lớn của truyện ngắn Việt Nam đơng đại.

Chơng 2 Đặc điểm trong cách nêu và phát hiện vấn đề ở truyện

ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại.

Chơng 3 Đặc điểm truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại

viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình trong cách lựa chọn các phơng thức và thủ pháp biểu hiện.

Trang 11

Chơng 1 Tình yêu và hạnh phúc gia đình - nguồn đề tài

và cảm hứng sáng tác lớn của truyện ngắn

Việt Nam đơng đại

1.1 Điều kiện nở rộ của truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia

đình trong văn học Việt Nam đơng đại

1.1.1 Tình hình đất nớc thời hậu chiến và thời mở cửa

Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nớc, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Cuộc sốngcủa con ngời Việt Nam dần trở lại với những quy luật bình thờng của nó Conngời phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, vất vả và những biến động đổi thaycủa thời kỳ hậu chiến, điều này đã ảnh hởng không nhỏ đến t tởng và nhậnthức của các văn nghệ sĩ về hiện thực cuộc sống xã hội Đại hội VI của Đảng

đã kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật của đấtnớc và cuộc sống của nhân dân Đây cũng là thời kỳ Đảng đã xác định đúng

đắn hớng đi của đất nớc trong thời kỳ đổi mới, điều đó đã dẫn đến sự thay đổinhanh chóng và đáng ngạc nhiên của Việt Nam trong thời kỳ mở cửa - thời kỳxây dựng nền kinh tế thị trờng và xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp

Nền kinh tế thị trờng rõ ràng đã làm cho đời sống toàn dân đợc nângcao lên một bớc, tuy nhiên nó cũng bộc lộ những mặt trái của mình Nhữngchuẩn mực đạo đức, đạo lý làm ngời đang có chiều hớng đi xuống cùng vớinhiều hiện tợng băng hoại, tha hoá đạo đức Có hiện tợng tiền của nhiều baonhiêu thì lòng nhân ái giảm đi bấy nhiêu, lúc đó con ngời chỉ biết đến đồngtiền, chỉ biết đến cá nhân mình, yêu tiền hơn yêu bố mẹ, anh chị em Khônghiếm kẻ sống cá nhân, lòng lạnh tanh máu cá trớc sự đau khổ của đồng loại,của ngời thân, những quan hệ cha con, anh em, vợ chồng bị phá vỡ, ngời taquay cuồng kiếm tiền bằng mọi giá Những điều đó diễn ra trớc mắt chúng

ta, có trong mọi ngõ ngách của cuộc sống Tất cả đã trở thành nguồn cảmhứng sáng tác lớn cho các nhà văn của chúng ta vốn rất nhạy cảm với cuộcsống hiện đại Họ bắt đầu đi sâu khai thác chủ đề tình yêu và hạnh phúc gia

đình với tất cả sự đa dạng, bí ẩn và phức tạp của nó vì gia đình là nơi mà conngời ta phải gắn bó, tồn tại, là nơi mà con ngời bộc lộ hết những phẩm chất, cá

Trang 12

tính, những cái xấu, cái tốt, là nơi biểu hiện đầy đủ nhất của cuộc sống thờngnhật Vì gia đình là tế bào cơ sở của xã hội nên xã hội làm sao có thể tồn tạinếu thiếu đi gia đình, mà để tồn tại đợc gia đình thì không thể không có tìnhyêu và hạnh phúc.

1.1.2 Sự trở về chính mình của văn học

Văn học Việt Nam 1945 - 1975 ra đời trong hoàn cảnh đất nớc có chiếntranh, văn học phải phục vụ đắc lực cho cuộc đấu tranh của dân tộc, vì vậy vănhọc chủ yếu phản ánh những sự kiện lịch sử trọng đại và có tính chất toàn dân.Những vấn đề đời thờng, đời t, thế sự đạo đức trong văn học thời kỳ này ít đợcquan tâm, nó chỉ là một đề tài thứ yếu không đợc khuyến khích Sau 1975 đặcbiệt là những năm 80, do nhu cầu bức thiết của lịch sử, nhu cầu thẩm mỹ mớicủa bạn đọc và đợc sự khuyến khích động viên của Đảng, văn học đã có sựcách tân đổi mới Vấn đề đời thờng đời t thế sự đạo đức là nguồn cảm hứngsáng tạo chính của các nhà văn

Văn học trớc 1975 quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộng

đồng, dân tộc, ca ngợi những ngời xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể, “họ xuấthiện trong các trang văn, vần thơ nh là sự đại diện trọn vẹn cho đất nớc, cho lýtởng, lơng tâm khí phách thời đại Họ đẹp một cách toàn diện, hoàn mĩ nhnhững viên ngọc không tỳ vết” [45, 183 - 184] Văn học sau 1975 lại hớng tớinhững con ngời đời thờng, bình thờng trong cuộc sống, những số phận cá nhânhết sức phức tạp, không có sự phân biệt hay u ái một hạng ngời nào, mọi ngời

đều có sự bình đẳng trớc trang viết của nhà văn Con ngời trong văn học đợcsoi rọi từ nhiều hớng, nhiều chiều hết sức phức tạp, trong đó có sự chen lẫn,pha trộn giữa nét thiên thần và quỷ dữ, giữa rồng phợng và rắn rết, giữa cao cả

và tầm thờng Con ngời đợc khai thác khá kỹ về thế giới nội tâm bí ẩn, phongphú, mỗi nhân vật là một cá tính không giống với bất cứ nhân vật nào nhng lạihiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống

Trớc đây các nhà văn nhìn cuộc đời và con ngời một cách khá đơn giản,phiến diện và quan tâm vạch ranh giới rạch ròi thiện - ác, địch - ta, cao cả -thấp hèn Tâm hồn con ngời ít phức tạp, không có sự giằng xé khi đối diện vớicác mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng, giữa nghĩa vụ và quyền lợi riêng t.Nhân vật đợc tạo ra từ khuôn mẫu na ná giống nhau, thiếu cá tính Tiếp xúcvới những con ngời sau 1975, ngời đọc có cảm nhận ngợc lại, con ngời ở đây

Trang 13

là một tiểu vũ trụ phức tạp, chiều sâu tâm hồn khó nắm bắt, nhiều khía cạnhmới trong tính cách của con ngời đời thờng đợc các nhà văn khám phá, khaithác, “đó là những con ngời đợc nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ phứctạp: quan hệ xã hội, quan hệ đời t, quan hệ lịch sử , con ngời với nhữngniềm vui và nỗi buồn, trong sự phấn khởi và nỗi khổ đau, trong niềm tin và

sự hoài nghi chính đáng Họ đẹp trong chất thép và trong cả sự mềm yếu”[45, 184 - 185] Có thể nói văn học sau 1975 đã thực sự trở về với chínhmình, hiện thực cuộc sống trong các trang văn đầy đủ hơn, phong phú hơn,gần với hiện thực vốn đang tồn tại Đó là điều kiện để các nhà văn viết vềtình yêu và hạnh phúc gia đình với tất cả sự đa dạng và phức tạp của nó

1.1.3 Sự phổ biến rộng rãi những sáng tác viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nền văn học trên thế giới

Sau năm 1975, đất nớc thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển qua mộtthời đại mới nhng văn học nghệ thuật thì hình nh vẫn vận động theo quán tínhcủa văn học thời chiến Chiến tranh và ngời lính vẫn là đề tài chính của nhiềusáng tác văn học Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc

t duy nghệ thuật của nền văn học sử thi Nhng giới sáng tác đã cảm thấykhông thể viết văn nh trớc, độc giả cũng ít hào hứng đón đọc những tác phẩmviết về chiến tranh Vì vậy văn học không còn bỏ qua các “vấn đề muôn thuở”

và ngày càng gia tăng sự chú ý tới “câu chuyện” tình yêu và hạnh phúc gia

đình

Suốt một thời gian dài từ 1945 đến 1975, độc giả Việt Nam thờng chỉquen với một số đỉnh cao của văn học Âu - Mỹ từ thế kỷ XIX trở về trớc; vănhọc đơng đại nớc ngoài đợc giới thiệu ở Việt Nam thời ấy chủ yếu là văn họccủa các nớc trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là văn học Xô viết Văn họcViệt Nam thời kỳ này tập trung chủ yếu ở đề tài chiến tranh cách mạng, những

đề tài khác cũng chỉ xoay quanh và bổ sung cho đề tài chiến tranh cách mạng

Đề tài tình yêu, hạnh phúc gia đình lúc này không trở thành một đề tài độclập Nói nh thế không có nghĩa là đề tài tình yêu không đợc đề cập nhng tìnhyêu ở đây thờng là tình yêu cộng đồng, dân tộc chứ không phải là tình yêu lứa

đôi cùng những vấn đề riêng t của hạnh phúc cá nhân

Sau năm 1975, đặc biệt là những năm 80, nhờ vào chính sách mở cửacủa Đảng và nhà nớc, văn học đã có sự giao lu tiếp xúc rộng rãi với các nền

Trang 14

văn học trên thế giới Văn học dịch ở Việt Nam hoàn toàn thay đổi, hoạt độngdịch, giới thiệu các nền văn học đơng đại Âu Mỹ, những tác phẩm đợc giảiNobel, những tác phẩm u tú của các tác gia đơng đại thuộc các trờng pháinghệ thuật khác nhau đã đợc dịch ra tiếng Việt Văn học Việt Nam giai đoạnnày chủ yếu đề cập đến những vấn đề đời t, thế sự, đạo đức mà nổi bật là đềtài tình yêu và hạnh phúc gia đình Chính sự phổ biến rộng rãi những sáng tácviết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nền văn học trên thế giới nh:

Anna Karênia (L Tônxtôi); Tình yêu thời thổ tả, Trăm năm cô đơn (G.

Marquez); Nhà búp bê (H Ibsen); Thiếu nữ đánh cờ vây (Sơn Táp); Điên

cuồng nh Vệ Tuệ (Vệ Tuệ); Búp bê Bắc Kinh (Xuân Thụ); Rừng Na Uy, Nh cánh vạc bay (Murakami) , đã tạo nên sự kích thích tích cực cho văn họcViệt Nam viết về đề tài này

1.1.4 Sự hình thành lực lợng đông đảo các nhà văn nữ

Đất nớc những năm 80, đặc biệt là sau đại hội VI (1986) của Đảng đã

có những thay đổi nhanh chóng Sự đổi mới của đất nớc cùng với sự khuyếnkhích động viên của Đảng đối với lĩnh vực văn nghệ đã tạo ra sức bật lớn chocác nhà văn

Trớc hết, đó là sự đổi mới của các nhà văn vốn đã có “bề dày sáng tác”

ở giai đoạn trớc nh: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Bùi Hiển, NguyễnKhải Tiếp đó là sự xuất hiện nhiều cây bút trẻ nh: Nguyễn Huy Thiệp, PhạmThị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái Đặcbiệt là sự xuất hiện của các cây bút nữ nh: Dơng Thu Hơng, Trần Thị Trờng,Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà,Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc T, Đỗ Hoàng Diệu Giáo s Hoàng NgọcHiến gọi đây là hiện tợng “âm thịnh dơng suy”, còn có ngời khác lại cho rằng

“văn học Việt Nam đơng đại mang gơng mặt nữ” Anatoli A Sokolov đã đánhgiá: “Văn xuôi nữ dám trình diện mình, thực gây niềm lạc quan, trở thành mộthiện tợng thực thụ của văn học Việt Nam hiện thời Đó là những tác phẩmcủa: Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo Văn xuôi nữnày tiếp tục một cách hữu cơ những truyền thống tốt đẹp nhất của văn họchiện thực chủ nghĩa Việt Nam, chú ý đến con ngời bình thờng, nhỏ bé, cuộcsống, nỗi đau, niềm vui, hy vọng của nó ở các tác phẩm của mình, chủ yếu làtruyện ngắn, các nhà văn nữ trẻ tạo ra “lãnh thổ con ngời, lãnh thổ tình yêu”

Trang 15

trên đó diễn ra cuộc đời con ngời ấy, trên đó có ngôi nhà của nó, gia đình của

nó [1]

Bằng sự nhạy cảm với những vấn đề trong cuộc sống và với một trái timnhân hậu, đa cảm, các nhà văn nữ đã bắt nhịp đợc sự thay đổi của đời sốngtrong từng chi tiết nhỏ nhặt nhất Đó là điều kiện thuận lợi cho các nhà vănviết về tình yêu và hạnh phúc gia đình

1.2 Tổng quan về đóng góp của mảng truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình trong văn học Việt Nam đơng đại

1.2.1 Khắc phục những thiên lệch của văn học một thời trên phơng

diện lựa chọn đề tài, chủ đề

Văn học 1945 - 1975, nh ta đã biết ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: đấtnớc 30 năm có chiến tranh liên tục Văn học lúc này phục vụ đắc lực cho sựnghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì vậy văn họcnghiêng về hai đề tài lớn đó là: Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội Với 5 tập thơ:

Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Tố Hữu đã dựng lên bức

tranh khá toàn diện và chân thực về những chặng đờng đấu tranh và xây dựng

Tổ quốc của cả dân tộc ở giai đoạn này những đề tài khác cũng đợc nhắc đếnnhng đợc nhắc đến với ý thức của cộng đồng, dân tộc, không phải là nhữngvấn đề riêng t của con ngời cá nhân

Sau 1975, đất nớc thống nhất và cuộc sống của ngời dân lại trở về vớinhững quy luật bình thờng của nó Đặc biệt là sau đại hội VI của Đảng kêugọi đổi mới trong t duy, văn học cũng có điều kiện vơn mình, có nhiều cáchtân, đổi mới Nghị quyết V của Bộ Chính trị về văn học nghệ thuật đã tạo điềukiện cho văn học nói chung và văn xuôi nói riêng phát triển, mang những tốchất mới so với thời kỳ trớc đó - thời kỳ mà những tác phẩm hay nhất là nhữngtác phẩm viết về đề tài chiến tranh, ở đó là thế giới của cái cao cả, cái đẹp

đang vơn lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn, là thế giới của lòng dũngcảm, của tình ngời và lòng chung thuỷ Sau 1975, đất nớc có những biến đổi,hoàn cảnh đó lại tác động đến cuộc sống, đến số phận con ngời, những vấn đềthế sự và nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi và dày vò lơng tâm của mỗi conngời thì ngời viết cũng phải suy nghĩ và có thái độ thích hợp Nếu nh trớc đâycon ngời là đối tợng hầu nh chỉ để ca ngợi hay phê phán thì giờ đây nó đợcnhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm, đi vào số phận, tìm đến những vấn đề cụ

Trang 16

thể, đời thờng mà vẫn mang ý nghĩa nhân văn Văn học lúc này không chỉ chútrọng vào hai đề tài Tổ quốc và xã hội chủ nghĩa nh trớc Một mảng hiện thựclớn trớc đây hầu nh bị lãng quên, nay đợc đặc biệt chú ý đó là vấn đề đời tu,

đời thờng và thế sự đạo đức Nếu nh văn học trớc đây quan tâm đến số phận,hạnh phúc chung của cả cộng đồng, của cả dân tộc thì nay các nhà văn quantâm đến từng số phận cá nhân con ngời hiện lên vốn nh cuộc sống Nh vậy conngời bình thờng, đời thờng (1945 - 1975) hầu nh bị bỏ quên thì nay đợc cácnhà văn đặc biệt chú ý khám phá và miêu tả sâu sắc Cách nhìn vào hiện thực

và con ngời của các nhà văn đi vào các vấn đề đời t, đời thờng và thế sự đạo

đức đa diện, nhiều trờng và phức tạp hơn

Có thể nói văn xuôi nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói riêng đã bổsung một mảng hiện thực to lớn trong đời sống văn học trớc đây bị bỏ quên.Chính vì vậy, hiện thực cuộc sống trong các trang văn đầy đủ hơn, phong phúhơn, gần với hiện thực vốn đang tồn tại Cũng chính bởi thế mà bạn đọc hômnay luôn nhiệt tình đón đọc những truyện ngắn của những cây bút đã và đang

tỏ ra sắc sảo khi đi sâu vào cuộc sống của con ngời đời thờng, đặc biệt là cácvấn đề đạo đức thế sự, tình yêu và hạnh phúc gia đình Sự nghiệp đổi mới đấtnớc cùng với những nới mở trong cuộc sống văn học đã đem đến cho nhữngcây bút truyện ngắn cảm hứng và “sức chứa lớn” Đó là những cây bút nh:Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái ,

và sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến những cây bút nữ nh: Trần Thị Trờng,Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban ,bởi những tác phẩm của họ đã làm đầy đặn thêm bức chân dung về con ngờiViệt Nam hiện đại, về hiện thực cuộc sống Việt Nam thời mở cửa

1.2.2 Làm đầy đặn thêm bức chân dung về con ngời Việt Nam hiện

đại

Văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng từ sau 1985 có bớc đột phánhờ vào công cuộc đổi mới của Đảng Đời sống văn học liên tục chào đón cácnhà văn nữ, những tác phẩm của họ đã thổi vào không khí văn chơng một làngió mới Họ sống quyết liệt, viết quyết liệt và do đó ngôn từ của họ đã lay

động trái tim độc giả xa gần

Có thể nói, con ngời hiện lên trên tác phẩm của các nhà văn nữ thật đadạng Họ dờng nh không bỏ sót một mảng hiện thực nào Các nhà văn nữ th-

Trang 17

ờng quan tâm tới số phận, bi kịch của ngời phụ nữ, họ viết về phái họ nh “rút

ruột” ra để viết Đó là nỗi đau của cô gái mới lớn chửa hoang (Bức th gửi mẹ

Âu Cơ - Y Ban), là nỗi lòng quay quắt, tê tái của cô gái phải bán mình để mu

cầu cuộc sống (Vũ điệu địa ngục - Võ Thị Hảo, Nô tỳ đợc trang sức - Trần

Thị Trờng), là sự băn khoăn, trăn trở của những ngời đàn bà đã có tuổi trớc

bao lay động của cuộc đời (Sau chớp là bão giông Y Ban, Tân cảng

-Nguyễn Thị Thu Huệ) Nổi bật lên từng trang văn của các chị là hình ảnhnhững con ngời tất tả, ngợc xuôi đi tìm tình yêu, hạnh phúc Cha bao giờ vấn

đề tình yêu hôn nhân gia đình lại đợc quan tâm sâu sắc nh hiện nay trong sángtác của các cây bút nữ Viết về tình yêu họ viết say mê, táo bạo, họ thành thật

và dám thực hiện nỗi đam mê của mình Phan Thị Vàng Anh trong truyện

ngắn Mời ngày, đã viết: “tôi thích mọi thứ không phải nhà mình, ăn cơm nhà

khác, ngủ ở nhà khác, trèo lên một cây ổi nhà khác vặt quả đều thích hơnlàm ở nhà mình, thích hơn bởi vì nó lạ, và tôi chỉ cần lạ” [40, 25], vì thế nênkhi viết về tình yêu, chị thờng nắm bắt nó ở những chi tiết nhỏ nhặt nhất songvẫn diễn đạt đợc hết ý tởng của mình Nét lạ khi viết về tình yêu của các chịthờng gắn với nỗi đau Họ luôn khao khát, chờ đợi nhng chẳng bao giờ thựchiện đợc nên tình yêu trong sáng tác của họ thờng dang dở, chia lìa, khó nắmgiữ

Bên cạnh đó, cuộc sống gia đình cũng là một vấn đề đợc nhà văn quantâm, chú ý Lịch sử xã hội thay đổi kéo theo sự thay đổi trong tính cách củacon ngời và quan điểm sống của họ Gia đình trớc kia đợc coi là khuôn mẫu đểquy chiếu ra ngoài xã hội, ứng xử trong gia đình cũng theo tôn ti ở ngoài xãhội Gia đình hôm nay, do sự biến đổi nhiều mặt trong xã hội, nhân tố cá nhânbắt đầu “cựa quậy” và “xé rào” nên đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong

quan hệ gia đình Mùa lá rụng trong vờn của Ma Văn Kháng kể về nhân vật

Lý là hiện thân của một bà quản gia có tài quán xuyến mọi việc chi tiêu, cất

đặt, phân công công việc gia đình và cực kỳ tháo vát trong công việc nội trợ,

“cha ở đâu Lý đẹp lên toàn diện nh ở công việc nhà Chị thực hiện cái thiênchức cao quý của mình với một sự say mê vô cùng, tận tuỵ vô cùng Lý trútvào công việc tất cả sự sung sớng và kiêu hãnh vì đợc bộc lộ mình” Bên cạnhmột Lý truyền thống là một Lý hiện đại: đẹp, thông minh, tháo vát, khéo léo,giỏi mua bán, sành ăn chơi, nói năng sắc sảo mặn mà, biết chiều nịnh, biết

Trang 18

khêu gợi, biết giữ mánh Toát lên tất cả vẫn là một Lý nhởn nhơ, ăn diện,thích thởng lạc và quay cuồng trong tiếng gọi vật chất Lý mất dần vẻ đẹp vốn

có của ngời phụ nữ truyền thống, từ bỏ chồng để sống buông thả cùng gả ởng phòng bất lơng, làm ăn bất chính, thậm chí có nguy cơ ra toà Thôngqua nhân vật Lý, nhà văn đã khái quát đợc nhiều biến đổi của gia đình ViệtNam cũng nh mối quan hệ gia đình và xã hội, trong khi xã hội ngấp nghé thờikinh tế thị trờng: sự suy giảm đạo đức gia đình, sự phá vỡ mô hình gia đìnhtruyền thống, mỗi con ngời, mỗi gia đình cần phải sống nh thế nào và xã hộicần phải quan tâm trở lại nh thế nào

tr-Gắn liền với cuộc sống gia đình là vấn đề đạo đức, thế sự cũng đợc cácnhà văn chú ý khai thác Họ đặc biệt quan tâm tới sự băng hoại, xuống cấp củacác chuẩn mực đạo đức, môi trờng nhân tính đang có chiều giảm sút Trong

Trung du chiều ma buồn của Ma Văn Kháng kể về một ngời đàn bà giàu có,

quyền thế nhng sống cạn tình bất nghĩa ngay với cả em gái mình, Nhàn nghingờ vào chính sự nghèo đói của em mình, trong khi cô em đang hấp hối chờ

chị đến thì cô chị mải mê vui thú ở bờ biển Còn trong Thiếu phụ cha chồng

của Nguyễn Thị Thu Huệ thì lại kể chuyện một cô gái nhà quê đợc chị đemlên thành phố cu mang lập tức trở mặt cớp chồng của chị một cách hết sứctrắng trợn: “chuyện tình ái không liên quan đến tình chị em Tôi không chấpnhận cảnh chồng chung” [40, 340]

Hiện thực đa dạng của cuộc sống những năm gần đây đã trở thànhmảnh đất màu mỡ cho truyện ngắn phát triển không ngừng Đó chính là gơngmặt của xã hội đang chuyển mình trong thời kỳ đổi mới Các nhà văn vớinhững truyện ngắn của mình đã theo sát nhịp chuyển biến của thời đại, gópphần không nhỏ trong việc tôn tạo đầy đặn bức chân dung về con ngời ViệtNam hiện đại và tạo nền tảng vững chắc cho truyện ngắn Việt Nam

1.2.3 Phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống đất nớc

thời mở cửa

Đất nớc thời mở cửa bên cạnh những khả năng mà cơ chế mới đem lại

là cái giá rất đắt mà con ngời phải trả, đó là sự băng hoại những giá trị truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, sự đảo lộn bậc thang giá trị đạo đức Xã hội đầy rẫytiêu cực, cái xấu bao vây cái tốt, cái ác lấn lớt cái thiện, một số ngời giàu lênrất nhanh thành những nhà doanh nghiệp, nhng ông chủ của những công ty

Trang 19

trong số đó có những ngời càng giàu vật chất bao nhiêu thì càng giảm đi lòngnhân ái bấy nhiêu, lúc đó họ chỉ biết yêu mình, yêu tiền hơn yêu bố mẹ và anhchị em, lẽ sống đạo đức mình vì mọi ngời tốt đẹp trớc đây ở một số ngờikhông còn nữa, những điều tốt đẹp mà cha ông chúng ta đã đúc kết qua cách

c xử với nhau trong tình cảm nh: “một giọt máu đào hơn ao nớc lã”, “trẻ cậycha già cậy con”, “chị ngã em nâng”, không còn đúng nữa với một số gia

đình Bằng sự nhạy cảm của mình trớc sự đổi thay của cuộc sống, các nhà văn

đã phát hiện ra những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống đất nớc thời mởcửa với tất cả những mặt trái của nó

Đó là những ngời phụ nữ nhân cách tồi tệ, thậm chí mất hết nhân cách,sống một cuộc sống trụy lạc, tầm thờng hoàn toàn tơng phản với bề ngoài đẹp

đẽ của họ Uyển trong Vòng quay cổ điển của Ma Văn Kháng là một cô gái

nhan sắc, trong chiến tranh yêu một anh trung uý mặt trận Khe Sanh Sauchiến tranh gặp lại ngời yêu giờ đã là một ông trung tá già khọm, từ đó Uyểnlao vào một cuộc sống buông thả, hởng thụ Không còn nữa kiểu tình yêuchung thuỷ, sản phẩm của một thời quá khứ vàng son của dân tộc Với Uyển,ngời phụ nữ thuỷ chung đằm thắm trong quá khứ đã hoàn toàn lột xác Tìnhmẫu tử, tình cảm thiêng liêng của con ngời đợc các nhà văn tập trung khaithác khi phê phán sự băng hoại đạo đức, lối sống của con ngời trong xã hội

hiện nay Trong truyện ngắn Kiêm ái, bằng câu chuyện về một ngời mẹ làm đĩ

dới cái nhìn của đứa con gái khôn sớm vì hàng ngày phải chứng kiến côngviệc của mẹ ngay trong nhà mình: “căn buồng nh một ga tàu treo cái gì cũngchuẩn bị nhổ neo” Truyện kết thúc với việc đứa con gái sẽ kế nghiệp mẹ nó

nh một định mệnh, một quy luật tất yếu: “anh chàng 18 tuổi đứng giữa mẹ và

em, ngời đàn ông mới toanh hiện nay của mẹ và em” Phạm Thị Hoài đã lộtmặt nạ hiện thực xã hội Việt Nam ở thập niên cuối của thế kỷ XX Hình ảnh

bà mẹ trụy lạc, khốn đốn phải bán trôn nuôi miệng là một đối nghịch với bà

mẹ Việt Nam anh hùng, với Mẹ Âu Cơ, Bà Trng, Bà Triệu Lòng mẹ bao lagiờ không đợc dành cho chồng, cho con, cho đất nớc nữa mà dành cho tất cảnhững ngời đàn ông chợt đến chợt đi Trong quan niệm của ngời Việt Nam,trinh tiết của ngời phụ nữ là một khái niệm mang tính đạo đức sâu sắc.Nguyễn Du đã từng có quan niệm hiện đại về chữ Trinh: “Chữ trinh kia cũng

có ba bảy đờng” Ngày nay, với cơn lốc của kinh tế thị trờng, chữ trinh kiakhông còn là một nét đạo đức tốt đẹp của ngời phụ nữ mà nó đã trở thành một

Trang 20

phơng tiện để kiếm tiền Trong truyện ngắn Trinh tiết xóm Chùa của Đoàn

Lê, trinh tiết trở thành một món hàng đắt đỏ, có giá trị kinh tế cao Cô Khờ lấymột chồng Tây nuôi đủ cả nhà, lại còn xây đợc nhà cửa, lăng mộ tổ to nhấtlàng Con gái xóm chùa vì thế đua nhau bán mình cho khách tây Cô nào mấttân thì lo chạy vạy sắm lấy cái “trinh tiết y khoa” để mong vinh thân, làm nởmày nở mặt cho họ hàng

Văn xuôi thời kỳ đổi mới rõ ràng đã phát hiện ra nhiều vấn đề nảy sinhtrong cuộc sống đất nớc thời mở cửa, điều đó cho thấy cái nhìn đa chiều vàsắc sảo của nhà văn về cuộc sống

1.2.4 Làm phong phú thêm sắc thái trữ tình vốn có của truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Văn học Việt Nam vốn a sự nhẹ nhàng, êm ấm và thích những kết thúc

có hậu Điều đó đã trở thành một nét đặc trng dân tộc trong văn chơng, vì thếnhững tác phẩm của văn học Việt Nam đều mang tính trữ tình sâu sắc

Trong văn học Việt Nam trung đại, Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm,bên cạnh giọng văn phê phán và tố cáo xã hội là niềm khao khát của con ngời

về hạnh phúc gia đình Trớc cách mạng tháng 8- 1945, các nhà văn hiện thựcphê phán khai thác sự chông chênh, trắc trở của cuộc sống gia đình Trongsáng tác của Nam Cao, số phận gia đình Lão Hạc, gia đình anh Thứ đang đốimặt với cuộc sống đói nghèo, túng bấn nhng vẫn ấm áp tình ngời Hay trongsáng tác của Ngô Tất Tố, cái đói khổ đã chia năm sẻ bảy gia đình chị Dậu nh-

ng trong cái đắng cay ấy tình thơng, tình yêu và hơi ấm gia đình vẫn tồn tại,vẫn có chỗ đứng Thạch Lam trong tác phẩm của mình đã nói về những kiếpsống nhỏ nhoi của con ngời nghèo khổ nơi phố huyện nhng trong thẳm sâutâm hồn của những con ngời ấy vẫn khao khát một cuộc sống tốt đẹp, một thứ

ánh sáng của cuộc sống hiện đại soi chiếu và làm thay đổi cuộc đời họ mà

Hai đứa trẻ là một ví dụ Đến những tác phẩm sau 1975 nh Mùa lạc, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu đều đậm chất trữ tình Có thể nói, xuyên suốtcác tác phẩm của văn học Việt Nam, dù có đề cập đến những vấn đề có tính xãhội sâu sắc nhng các nhà văn vẫn thể hiện chất trữ tình trong tác phẩm củamình, có khi là trữ tình về cảnh thiên nhiên, trữ tình về số phận của ngời tríthức tiểu t sản, về những kiếp sống nhỏ nhoi của con ngời, về vẻ đẹp của conngời trong chiến đấu, trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới Sau Đổi

Trang 21

mới, hầu nh những truyện viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nhàvăn đều viết về những vấn đề bi kịch của tình yêu và hạnh phúc gia đình vớigiọng văn đắng cay, chát chúa nhng qua những trang văn ấy ta vẫn thấy đợctấm lòng khát khao về hạnh phúc gia đình.

Có thể nói, viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình của các nhà văn sau

Đổi mới nh một sự nối dài thêm chất trữ tình của truyện ngắn Việt Nam hiện

đại, hay nói cách khác, chất trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam đã có thêmsắc thái mới

1.3 Lý giải bớc đầu về thiên hớng lựa chon nghệ thuật của các nhà văn nữ đối với đề tài, chủ đề tình yêu và hạnh phúc gia đình

1.3.1 Thiên tính và sự trải nghiệm

Chủ đề tình yêu và hạnh phúc gia đình không phải là đề tài của riênggiới nào mà nó là đề tài chung của các nhà văn Tuy nhiên, ngời phụ nữ vớithiên tính và sự trải nghiệm đã tỏ ra nhạy cảm hơn trong vấn đề này

ở ngời phụ nữ, do vị thế xã hội, sự phân công lao động và quan hệ giatrởng từ xa xa luôn xem ngời phụ nữ là “phái yếu”, ngời phụ nữ chỉ quen vớicông việc bếp núc gia đình, ngoài xã hội không có gì là nổi bật Theo quanniệm từ ngàn xa (kể cả Phơng Tây), phái nữ thờng chỉ đợc lui tới giới hạntrong phạm vi gia đình hơn là ngoài xã hội ở Phơng Đông, dới sự chi phốicủa Nho giáo, vai trò của ngời phụ nữ bị ràng buộc bởi “tam tòng tứ đức”

Đồng thời, những vấn đề định kiến văn hoá, tôn giáo, xã hội tạo những trởlực lớn cho ngời phụ nữ bớc ra ngoài xã hội Mặt khác, lúc ngời mẹ mangthai là lúc bản năng làm mẹ trỗi dậy, mong đợc che chở cho con cái Chínhnhững điều đó đã tạo ra thiên tính nữ dịu dàng, a đợc che chở, chăm sóc,vừa muốn là chỗ dựa cho ngời khác vừa muốn ngời khác là chỗ dựa chomình

Một quy luật là vị thế của ngời phụ nữ trong xã hội đợc khẳng định thì

vị thế của họ trong văn chơng cũng đợc khẳng định ở Việt Nam, từ thế kỷ X

đến thế kỷ XV là thời kỳ phong kiến hng thịnh, xã hội trọng nam khinh nữ,vai trò của phụ nữ mờ nhạt vì vậy văn chơng thời kỳ này không có một nhàvăn nữ nào xuất hiện trên văn đàn và nhân vật chính trong tác phẩm văn họcthời kỳ này không phải là phụ nữ Bớc sang thế kỷ từ XVI - XIX, xã hội phongkiến suy vong, ngời phụ nữ bị chà đạp đến tận cùng vì thế số phận ngời phụ nữ

Trang 22

trở thành vấn đề nhức nhối Văn học giai đoạn này không chỉ có nam giới viết

về phụ nữ mà chính phụ nữ viết về giới mình nh Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân

H-ơng, Bà Huyện Thanh Quan, trong đó tiêu biểu là Hồ Xuân Hơng Hồ XuânHơng dám bày tỏ nỗi lòng khát khao yêu, khát khao hạnh phúc, thể hiện mộtcái tôi giàu sức sống, đầy bản lĩnh, mạnh mẽ, thị tài Đến thời hiện đại, cácnhà thơ nh Hằng Phơng, Vân Đài, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng đãquan tâm đến vấn đề này, họ cũng đã thể hiện thiên tính của phái mình trong

sáng tác văn chơng Lời Tự hát rất chân thành của Xuân Quỳnh cũng là tiếng

lòng của muôn ngời phụ nữ khác:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thờng ai chẳng cóVẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữaNhng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

(Tự hát)

Trái tim ngời phụ nữ là trái tim khao khát yêu thơng, là ớc vọng chởche, là mong ớc hoà hợp và hạnh phúc cho cả cuộc đời Trong tình yêu, họkhông chỉ dịu dàng, nhân hậu, bao dung và vị tha nh những ngời mẹ mà cònyếu đuối đáng thơng cần nơi nơng tựa, họ còn chủ động yêu và đòi quyền đợcyêu Trong truyện ngắn của các tác giả nữ hôm nay, tình yêu thự sự đợc cởi bỏlớp áo xã hội và trở về là góc độ riêng t của con ngời, “cha bao giờ trong vănhọc nớc ta, gơng mặt của hạnh phúc và các sắc thái tình yêu đợc biểu hiệnphong phú đến thế” [8, 91- 92] Trong các sắc thái của tình yêu không chỉ có

sự yếu đuối và bị động, mà điệu hồn của những ngời phụ nữ trong tình yêuvừa dịu dàng, vừa tha thiết, vừa kín đáo, vừa táo bạo, vừa đằm thắm, vừa mạnh

mẽ, và chính những khát vọng tình yêu rất nữ tính đó làm nên vẻ đẹp tâm hồncho ngời phụ nữ

Viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình, các nhà văn nữ không chỉ dùngthiên tính để thể hiện mà sự trải nghiệm của họ mới là điều quan trọng để họ

có thể rút ruột ra trên mỗi trang văn Chính cuộc sống gia đình thờng nhật đãgiúp họ hiểu đợc cuộc sống không hề đơn giản mà cuộc sống là phức tạp vớinhững gì bề bộn, với những lo toan, những mối quan hệ Đặc biệt sống trongxã hội ngày nay, đồng tiền ngự trị đã làm băng hoại một số giá trị đạo đức,

Trang 23

vấn đề hạnh phúc gia đình đặt ra nhiều giá trị, hạnh phúc gia đình của họ luônluôn bị thử thách vì vậy họ là ngời hơn ai hết tiên cảm đợc những rạn nứt,những đổ vỡ trong gia đình và những bi kịch trong gia đình có thể xảy ra bất

cứ lúc nào Ngời phụ nữ với trái tim nhân hậu, đa cảm và nhạy bén đã bắt nhịp

đợc sự thay đổi của đời sống trong từng chi tiết nhỏ nhặt nhất và vì vậy họ đãrất thành công khi thể hiện chủ đề tình yêu và hạnh phúc gia đình

1.3.2 Truyền thống văn hoá, văn học

Việt Nam có truyền thống coi trọng ngời phụ nữ trong gia đình và do

ảnh hởng của nền văn minh Đông Nam á nên cũng phổ biến chế độ mẫu hệ.Thực tế đời sống, lịch sử đã ghi nhận vai trò của ngời phụ nữ từ hình ảnh BàTrng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân cho đến hình ảnh Bà Bình, Bà Định trong chiếntranh chống Pháp, chống Mỹ với những phẩm chất rất đặc trng của ngời ViệtNam: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang Trong xã hội hiện đại ngờiphụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nhiều lĩnh vựckhác nh: kinh tế, chính trị, ngoại giao, khoa học, văn học, nghệ thuật

Trong truyền thống văn học Việt Nam, ngời phụ nữ là đối tợng đợc đềcập đến nhiều nhất từ văn học dân gian cho đến văn học hiện đại Trongtruyện cổ tích, các nhân vật nữ thờng đại diện cho cái thiện, cho lý tởng vàkhát vọng về tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội, bao giờ cũng có nhữngphẩm chất nh biết thơng ngời, biết làm tròn bổn phận, biết thực hiện lời hứa,tuân theo những chuẩn mực truyền thống của nhân dân Họ thờng là những

ngời giàu lòng nhân hậu, bao dung Cô út lấy Sọ Dừa trong truyện Sọ Dừa hay Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử chính là sự thể

hiện của lòng tốt, lòng thơng ngời, là sự công bằng theo quan điểm của ngờixa: ở hiền gặp lành Các nhân vật nữ ấy có thể gặp rất nhiều sự đe doạ bất trắcsong cuối cùng đều vợt qua và chiến thắng Tấm mỗi lần hồi sinh lại đẹp hơn

xa (Tấm Cám), cô út chui ra từ bụng cá vẫn hồn nhiên tơi tắn (Sọ Dừa), ngời

vợ của anh học trò nghèo khi trút bỏ lốt cóc là một cô gái nh tiên giáng trần

(Lấy vợ cóc) Ca dao là hình thức để ngời xa thổ lộ tâm tình, có lẽ vì thếnhững cung bậc của cõi lòng ngời phụ nữ thờng đợc giải bày nhiều hơn namgiới Ngời phụ nữ trong ca dao hiện lên thông qua những tâm trạng, những nỗiniềm riêng nhng mang dấu ấn xã hội rất rõ nét Xã hội phong kiến với quan

Trang 24

niệm “trọng nam khinh nữ” đã khiến rất nhiều ngời phụ nữ gặp bất hạnh, đắngcay Họ phải sống phụ thuộc và không tự quyết định đợc số phận của mình:

- Thân em nh trái bần trôiGió dập sóng vùi biết tấp vào đâu

- Thân em nh tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai

- Thân em nh giếng giữa đàngNgời khôn rửa mặt ngời phàm rửa chân

Ngời phụ nữ trong ca dao dân ca cũng hiện lên với vẻ đẹp ý nhị, kín đáotheo quan niệm truyền thống của ngời xa:

Miệng cời nh thể hoa ngâuCái khăn đội đầu nh thể hoa sen

Đặc biệt vẻ đẹp tâm hồn ngời phụ nữ cũng đợc đề cao Trong tình yêu

họ thiết tha, say đắm, chân chất, mộc mạc:

Em nghe anh đau đầu cha khá

Em băng đồng chỉ sá hái ngọn lá cho anh xông

ớc chi nên đạo vợ chồng

Đổ mồ hôi thì em quạt, ngọn gió lồng thì em che

Trong hôn nhân họ nhân hậu, vị tha và chung thuỷ:

Chồng em áo rách em thơngChồng ngời áo gấm xông hơng mặc ngời

Đến văn học trung đại, cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khaohạnh phúc là hai tâm trạng, hai nỗi niềm thờng gặp nhất ở hình tợng ngời phụ

nữ Vũ Nơng trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng của Nguyễn Dữ hiền

thảo, đảm đang, trung thuỷ thì bị nghi oan, đến phải lấy cái chết để minh oan

mà khi chết rồi trong lòng vẫn mang nặng nỗi oan uổng đó Ngời cung nữ

xinh đẹp tài hoa trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều khát

khao hạnh phúc thì bị nhà vua bỏ rơi sống cô đơn, mòn mỏi, lạnh lẽo nơi cungcấm, chôn vùi tuổi thanh xuân trong cung điện thâm u Ngời chinh phụ trong

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn chỉ có một khát vọng rất bình thờng là

đợc chung sống cùng ngời chồng thân yêu song lại rơi vào cảnh đau đớn “tửbiệt sinh ly” đằng đẵng đợi chồng không biết có ngày gặp lại Ngời phụ nữtrong giai đoạn này cũng đã thể hiện sự phản kháng, sự tố cáo xã hội cũ, nêu

Trang 25

lên nhiều suy nghĩ, nhiều quan điểm khác hẳn với quan điểm của xã hộiphong kiến mà Hồ Xuân Hơng là một ví dụ.

Trong văn học lãng mạn 1930 - 1945, hình tợng ngời phụ nữ đợc đề cập

đến trong đa số các tác phẩm của các nhà văn Tự lục văn đoàn, nhân vật nữ

đ-ợc họ xây dựng theo quan niệm: “đó là con ngời cá nhân xung đột với gia đìnhtruyền thống, với khát vọng tìm lối thoát trong tình yêu, thậm chí muốn thoát

ly mọi quan hệ xã hội để thoả mãn tự do bản năng” [31, 82] Tiêu biểu là các

nhân vật: Hiền trong Trống mái, Loan trong Đoạn tuyệt, Tuyết trong Đời ma

gió Trong văn học hiện thực phê phán, ngời phụ nữ đợc biểu hiện ở những

góc độ khác nhau ở từng tác giả Với Ngô Tất Tố, chị Dậu đợc hiện lên là mộtngời phụ nữ phải chịu đựng bao nhiêu sự chèn ép tàn bạo của hoàn cảnh nh

đói ăn triền miên, chạy vạy vay nợ, lo su thuế, bán con, bán chó mà sắc đẹpphẩm chất không thay đổi Ngời phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao thờng là

“cái bản tính tốt của ngời ta bị những buồn đau, ích kỷ che lấp mất”, nhnhững ngời vợ của những ngời trí thức tiểu t sản, còn các nhân vật khác vớinguyên tắc “cố tìm hiểu họ”, Nam Cao đã phát hiện ra những phẩm chất

đẹp của ngời phụ nữ là tấm lòng nhân hậu, giàu đức hi sinh và giàu lòng vị

tha nh Thị Nở (Chí Phèo), Nhu (ở hiền), Dần(Một đám cới).

Đến văn học 1945-1975, hình tợng ngời phụ nữ không còn là nhữngnhân vật chịu nhiều bất hạnh vì bị xã hội cũ vùi dập, không còn là những nhânvật nổi loạn đòi bình đẳng, bình quyền hay con ngời trong mối quan hệ vớihoàn cảnh mà ngời phụ nữ thời kỳ này gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổquốc Họ một mặt là những cô gái, những ngời vợ, ngời mẹ rất đỗi bình thờngtrong cuộc sống hàng ngày, dịu dàng, nhân hậu, yêu thơng chồng con hếtmực, song trong chiến đấu họ lại là những chiến sĩ rất dũng cảm, đó là Mẫntrong Mẫn và Tôi của Phan Tứ, chị út Tịch trong Ngời mẹ cầm súng củaNguyễn Thi, chị Sứ trong Hòn Đất của Anh Đức

1.3.3 ý thức nữ quyền và mong muốn đối thoại với các nhà văn“ ”

nam giới

Có thể nói, từ thời phong kiến t tởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào

ý thức của ngời dân Việt Nam và nó dần dần đi sâu vào trong sáng tạo văn

ch-ơng Đàn ông là ngời có quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là biểuhiện của năng lực sáng tạo nh Nguyễn Đăng Điệp từng nhận xét: “về phía

Trang 26

sáng tạo văn học, công việc này cũng đợc coi là đặc quyền của đàn ông Bảnthân cây bút (pen), ngoài hình dáng giống với sinh thực khí của đàn ông thì vềmặt từ nguyên nó cũng rất gần với Pennis (dơng vật) S.Gubar đã đa ra mộtliên tởng: cây bút chạy trên những tờ giấy trắng cũng giống nh dơng vật

đang cày trên những màng trinh thiếu nữ Đặc quyền của đàn ông trongviệc tạo nên những giá trị tinh thần còn đợc giải thích từ chỗ xem xét những

đặc tính riêng biệt về thể chất của từng phái Chính sự khác biệt trong cấutrúc não bộ và cơ thể của từng giới khiến cho nam-nữ nhìn nhận thế giới và

lí giải thế giới bằng con mắt và đặc tính của giới mình Nếu ở Ph ơng Tây,ngự trị trên đỉnh Olempo là thần Zớt thì ở Phơng Đông, các vị thần tối caocũng gắn với đàn ông Vị thế kẻ mạnh của đàn ông còn thể hiện ở khâu tiếpnhận văn học Nhng cuộc thù tạc, đàm đạo văn chơng chỉ diễn ra giữa nhữngngời đàn ông với nhau, nó không có chỗ cho “nữ nhi thờng tình” [11]

Trong văn học Việt Nam, ý thức về nữ quyền đã xuất hiện từ thời vănhọc trung đại, tiêu biểu là Hồ Xuân Hơng Thơ văn Hồ Xuân Hơng là tiếngnói than thân trách phận Bớc sang xã hội hiện đại, trình độ dân trí đợc nângcao, phụ nữ bắt đầu đợc đi học và tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sốngchính trị, xã hội thì trong văn học bắt đầu xuất hiện những tác phẩm nói vềphụ nữ trong quá trình tự giải phóng, nổi bật là nhiều tác phẩm của Tự lực văn

đoàn Vai trò của ngời phụ nữ đặc biệt đợc đề cao từ sau năm 1945 với sự ra

đời của Hội phụ nữ Việt Nam Trong văn học vai trò của nữ giới cũng đã đợc

đề cao, trong nhiều tác phẩm ngời phụ nữ đợc hình dung nh những anh hùng

tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại nh: chị út Tịch (Ngời mẹ cầm súng Nguyễn Thi), chị Sứ (Hòn Đất - Anh Đức), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng -

-Nguyễn Minh Châu) ở giai đoạn này, ý thức nữ quyền đã trỗi dậy nhng nóchỉ nằm trong t tởng chung của thời đại chứ cha trở thành mối quan tâm thực

sự của nhà văn và những nhìn nhận ấy đều đợc nhìn bằng đôi mắt của namgiới ý thức nữ quyền này thực sự phát triển từ sau năm 1986 Với chủ trơng

“cởi trói” cho văn nghệ sĩ, văn học Việt Nam bớc vào một cuộc thay đổi lớn

Có ngời cho rằng đây là thời kỳ “âm thịnh dơng suy” trong văn học với sự gópmặt của những cây bút nữ nh Trần Thị Trờng, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, LêMinh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban Những tác phẩm mới của họ đãthổi một luồng gió mới vào không khí văn chơng Họ sống quyết liệt, viết

Trang 27

quyết liệt và do đó những ngôn từ trung thực của họ đã lay động đợc trái timcủa độc giả xa gần, lớp già cũng nh giới trẻ Những nhà văn nữ liên tục xuấthiện và tạo ra những “cơn sốt” tinh khiết thực sự trong thẩm mỹ của côngchúng Họ đã mạnh dạn viết về những đề tài mà trớc đây cấm kị nh tình dục,

đời sống riêng t, cá nhân, họ tự thấy mình ngày nay vơng vào nhiều hệ luỵ hơn

xa và họ đã ý thức đợc sâu hơn về chính bản thân mình, về cả thể xác, tâm hồn

và các quan hệ xã hội bằng đôi mắt của giới mình chứ không phải bằng đôimắt của nam giới nh văn học trớc đây Mặt khác, các nhà văn nữ đã công khaibày tỏ thái độ của mình chống lại sự lệ thuộc và thế giới đàn ông, đàn bàkhông phải lúc nào cũng là trò chơi và nô lệ tình dục cho đàn ông mà nhiềukhi quyền chủ động thuộc về nữ giới Có thể nói, ý thức nữ quyền đã trỗi dậyquyết liệt và mạnh mẽ trong văn chơng của các chị và đó cũng là mong muốn

đợc đối thoại với các nhà văn nam về vấn đề này

Trang 28

Chơng 2

Đặc điểm trong cách nêu và phát hiện vấn đề

ở truyện ngắn viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình

của các nhà văn nữ Việt Nam đơng đại

2.1 Cách miêu tả những bi kịch tình yêu và hạnh phúc gia đình do chiến tranh gây ra

Sau khi chiến tranh kết thúc, chính trong cuộc sống hoà bình, chúng tanhận ra sự hy sinh lớn lao và cả dân tộc phải trả giá cho sự nghiệp giải phóngdân tộc và thống nhất đất nớc Văn học viết về “nỗi đau hậu chiến” khôngphải là sự phủ nhận, chối bỏ quá khứ mà đó là sự thẳng thắn đối diện, đốithoại với quá khứ, nhìn vấn đề không phải ở góc độ dân tộc, thời đại hay lý t -ởng, thay vào đó là cách nhìn ở góc độ con ngời, góc độ nhân đạo và nhânvăn Thông qua cuộc đời, số phận của từng cá nhân, chúng ta nhìn thấy mộtphần sự khốc liệt của chiến tranh đề hiểu hơn về quá khứ và sống ở hiện tạicho xứng đáng với những gì đã qua

Chiến tranh không chỉ có bộ mặt anh hùng với những chiến công vangdội, chiến tranh còn là sự khốc liệt kinh hoàng của chiến trận, là nỗi đau, sựmất mát, hy sinh Trong đó ngời phụ nữ bao giờ cũng phải chịu những thiệtthòi sâu sắc nhất, “họ là những ngời đầu tiên kêu gọi nhân loại hãy phỉ nhổ sự

đẫm máu bằng bản năng yếu mềm đầu tiên của giống yếu Nhng khi chiếntranh xảy ra thì họ chính là những ngời nhoi nhoai ra khỏi nó muộn nhất vàgần nh không bao giờ họ nhoài ra đợc cái vùng đẫm máu ấy” (Võ Thị Hảo -

Giọt buồn giáng sinh) [15, 71] Đó là xu hớng chung khi nói đến cuộc sống

hậu chiến của các nữ văn sĩ

Khi viết về bi kịch do hậu quả của cuộc chiến tranh, các nhà văn nữ đã

đặt nhân vật của mình vào những hoàn cảnh có vấn đề thậm chí là một chuỗivấn đề Trong quá trình đối mặt với hoàn cảnh mang tính thử thách đó nhânvật trong truyện của các chị thờng không thể hoặc cha thể vợt qua bởi nhiều lý

do khác nhau, họ giãy giụa mong thoát khỏi bi kịch của số phận và trong quá

trình tìm đờng nhiều ngời trong họ đã xuôi theo cái xấu Trong Dây neo trần

gian của Võ Thị Hảo, do bị ám ảnh bởi những trận tắm dới màn phun chất hoá

học hồi còn ở chiến trờng, ngời lính trở về lấy vợ mà chẳng dám sinh con bởianh sợ “đẻ ra một quái thai không đầu hoặc không tay” [40, 112], ngày ngày

Trang 29

anh tự dìm mình trong rợu để rồi nhọc nhằn theo dõi sự sống còn của tiểu đội

mình năm xa Hay trong Dạo đó thời chiến tranh của Lê Minh Khuê, Thắng

là ngời đã từng mang “cái phong độ của một ngời đàn ông chỉ huy” [27, 151],tuy là ngời anh hùng trong chiến trận nhng lại là kẻ chiến bại thảm hại trongcuộc sống đời thờng Anh chẳng những “bạc nhợc đến mức không xoay nổimột đời sống tử tế cho vợ con” [27, 152], mà còn ơn hèn vì “sợ một phép ngời

đàn bà hàng xóm” [27,152] Tuy trong bụng khinh miệt mụ ta nhng hằng ngàygặp vẫn phải nói lời nịnh bợ, gọi mụ ta là “bà chị kính mến” [27, 152], trongkhi đó ở gia đình anh ta lại luôn văng ra những lời cục súc, tàn nhẫn với vợcon Có khi nhân vật lại ý thức rõ về sự tha hoá của mình, cố gắng vợt nhng

chẳng đi đến đâu: ngời lính trong Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo là thế Anh ta

lạc lõng với cuộc sống đời thờng dù rất khao khát trở về với đời thờng Từ giã

đời lính anh trở về đời thờng với “một con mắt giả và thân hình tiều tuỵ” [40,177] song trong lòng khấp khởi mờng tợng thấy “hai mẹ con một cao một thấp

nh nàng Tô Thị sẽ giang hai tay ra: mình đấy ? và có thể vợ anh sẽ rơi nớcmắt vì sung sớng” [40, 178] Vội vã trở về để rồi anh lại vội vã ra đi trong sự

“gớm ghét đàn bà và nhân thể, gớm ghét luôn cả đồng loại” [40, 179] Đã từng

là ngời lính, đã từng trải qua cảm giác trớc trận đánh khát khao đợc ôm xiết,

đợc ân ái bởi chiến tranh ai có thể nói trớc đợc điều gì Vậy mà anh không thểnào chấp nhận đợc, không thể nào cảm thông nỗi với những ngời lính, cả vớingời vợ phụ bạc của mình, đã biến ngôi nhà bên đờng chiến tranh của anhthành nơi điểm hẹn của những cuộc giao hoan vội vã thoảng mùi chết chóc tr-

ớc khi vào họng tử thần Với mong muốn không phải nhìn mặt một ai đợc biếnthành một kẻ vô cảm, mọi giác quan nh đông lạnh, anh tìm đến đảo đèn Nửanăm sống xa đồng loại là nửa năm anh phải viện đến đủ trò quái gở, nửa nămlầm lì trong trạng thái vô hồn, anh vẫn không giấu nỗi cảm giác thèm ngời và

da diết nhớ vị đàn bà dù ngời ấy có thể thiếu một tay hoặc một chân Bi kịch

nọ chồng chất bi kịch kia Đáp lại trò chơi trả chai bia may rủi của anh, bù đắplại cảm giác thiếu vắng hơi hớng đàn bà cho anh đất liền đã gửi ra đảo “khuônmặt ngời đàn bà có đủ cả hai mắt, mồm và mũi, nhng là khuôn mặt đặc trngnhất của một con điếm , tã tợi mái tóc và hàng mi, trống huếch cái nhìn Đôimôi thâm sì quyện một lớp son dày màu máu trâu” [40, 183] Những ngày ở

đảo đêm có thêm một ngời đàn bà là những ngày ngời đàn ông phải dằn vặtgiữa tiếng nói của lý trí và bản năng con ngời Bản năng đa đảy anh đến với

Trang 30

thị Lý trí bắt anh phải “hắt mụ ta đi thôi” bởi “anh không thể xa lánh ngời

đàn bà h hỏng đã có với anh một mặt con chỉ đến với một con điếm đã bị thiênhạ hắt ra ngoài bãi thải” [40, 185] Cuống cuồng xua đuổi ngời đàn bà nh xua

đuổi một căn bệnh truyền nhiễm, rồi lại hốt hoảng cuống cuồng nhảy xuốngbiển, anh lặn ngụp, quờ quạng mong cứu vớt đợc ngời tình bất đắc dĩ củamình

Viết về cuộc sống thời hậu chiến, các nhà văn nữ không chú ý đến sựtác động của nền kinh tế thị trờng lên cuộc sống của những ngời lính nh trongmột số sáng tác của các nhà văn nam nh Nguyễn Minh Châu, Chu Lai mà

họ chú ý đến nỗi đau tinh thần không gì bù đắp nổi, đó là bi kịch dai dẳng,

day dứt nhất đối với họ Trong Hồn trinh nữ, Võ Thị Hảo viết về cuộc đời

một ngời con gái sinh ra trong một gia đình có ba đời chờ chồng đi lính, chờ

đến lúc ngời con trai trở về mà vẫn không có đợc hạnh phúc Chiến tranh đãmang đi một chàng trai bẽn lẽn ngợng ngùng với lời ớc hẹn để trả về một ngời

đàn ông có bộ mặt dữ dằn và khoé miệng đã tắt hẳn nụ cời, những khốc liệt vàman rợ của chiến tranh in hằn trên vóc dáng, cử chỉ, hành động của ngờichồng Điều đó làm ngời trinh nữ sợ hãi và ám ảnh, cảm thấy xa lạ ngay vớingời chồng mới cới Cuối cùng nàng chết thầm lặng biến thành cây trinh nữ

mà suốt đời không biết sợ hãi Đằng sau câu chuyện cổ tích về loài trinh nữ làmột bi kịch về tình yêu và hạnh phúc gia đình của ngời phụ nữ thời hậu chiến,

Võ Thị Hảo không viết cụ thể đó là cuộc chiến tranh nào, chính nghĩa hay phinghĩa nhng bóng dáng về chiến tranh và hậu quả của nó là rất lớn Phải chăngcách thể hiện phiếm chỉ đó đã tạo nên sức mạnh tố cáo về chiến tranh Chiếntranh có lúc cớp đi ngời chồng để lại ngời vợ trẻ cô đơn, điều này đợc thể hiện

qua cảm nhận của đứa con trong Điều ấy bây giờ con mới hiểu của Y Ban:

“Mẹ còn trẻ quá, nỗi cô quạnh sẽ trùm lên mẹ trong quãng đời còn lại” Cókhi chiến tranh trả về một ngời chồng thơng tật để ngời vợ phải tần tảo sớm

hôm gánh trách nhiệm gia đình (Bản lý lịch - Y Ban) và để ngời phụ nữ phải

ngậm ngùi chấp nhận một hạnh phúc không trọn vẹn: “Ngời đàn bà tay xách

túi quần áo, tay kia dắt ngời đàn ông hỏng mắt liêu xiêu trên đờng” (Bảy ngày

trong đời - Nguyễn Thị Thu Huệ) [40, 269] ám ảnh và sâu sắc nhất là lời tâm

sự chân thành mà quyết liệt của ngời thiếu nữ - ngời mẹ ở cuối Th gửi mẹ Âu

Cơ của Võ Thị Hảo: “Mẹ Âu Cơ sinh đợc năm mơi ngời con trai, năm mơi

Trang 31

ng-ời con gái Con trai của mẹ thì thành anh hùng, thi sĩ; con gái của mẹ thì trởthành những bà mẹ Đất nớc anh hùng, ngoại xâm, thiên tai liên miên, nên mẹquan tâm đến những anh hùng, thi sĩ Mẹ đã không chú ý đến những cô gáivốn đã dịu dàng, nhu mì, không mấy đòi hỏi mẹ Mẹ ơi, mẹ hãy quan tâm đếnchúng con, đến nỗi đau của những cô gái, những bà mẹ” Rõ ràng, chiến tranhkhông chỉ hiện hình nơi tiền tuyến mà còn ám ảnh cả hậu phơng, không chỉgây ra hậu quả trớc mắt mà có sức ám ảnh lâu dài.

Một điều dễ nhận ra rằng, với các cây bút nữ họ không thật chú ý đếnviệc tái hiện lại những cái tàn khốc, ác liệt của chiến tranh trên chiến trờng

nh trong sáng tác của các nhà văn nam khi viết về đề tài này nh: Ngời vãi linh

hồn (Vũ Bảo), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Trong cơn gió lốc (Khuất

Quang Thuỵ) mà họ đặc biệt chú ý đến cái xấu, mặt trái của chiến tranh,khôi phục lại chân lý Chiến tranh không chỉ là nỗi đau tinh thần dai dẳng màchiến tranh còn cớp đi của ngời phụ nữ tuổi thanh xuân rạng ngời, hình hài,vóc dáng Sau những trận sốt rét kinh hoàng, năm cô gái trong cánh rừng già

đầy bom rơi, đạn nổ đã không còn những mái tóc thơm ngát, mợt dài, thay vào

đó “chỉ còn là một dúm xơ xác” Thảo trong Ngời sót lại của rừng cời (Võ

Thị Hảo) đã rơi vào bi kịch tình yêu bởi sự khó chấp nhận của ngời ngoài cuộc

đối với một cô gái bị chiến tranh tàn phá sắc đẹp của mình Từ một cô gái có

“mái tóc óng mợt dài chấm gót, hai tháng sau bất chấp đủ các loại lá thơm mà

đồng đội mang về cho gội, tóc Thảo chỉ còn là một túm sợi mỏng manh, xơxác” [40, 95] Vẫn tin tởng vào tình yêu với chàng Văn Khoa nên Thảo vẫnyêu đời, lạc quan Khi chiến tranh kết thúc, cô trở về học đại học, “vẫn giữ đ -

ợc những đờng nét bẩm sinh nhng đôi mắt cô nh mắt của ngời đang đi trongmột giấc mộng dài Làn da xanh tái vì những cơn sốt rét rừng” [40, 101 - 102].Bằng sự nhạy cảm của ngời con gái, Thảo thấy mình nh lạc lõng giữa chốnnày, ngay cả Thành - chàng hoàng tử trớc đây của cô, cô cũng rất ngợng ngậpmỗi khi gặp Bom đạn chiến tranh, sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã bòn rút,vắt kiệt vẻ đẹp tuổi xuân của cô và của đồng đội Dờng nh sự khốc liệt củachiến tranh đã ăn sâu vào máu thịt của Thảo làm cô lúc nào cũng bị ám ảnh,chơi vơi, không nơi nơng tựa Nỗi buồn của chiến tranh và sự bất lực của lòngtốt, sự bất lực của những hi vọng dù là mỏng manh đã khiến Thảo phải ra đi

ở cô vẫn còn chút tự trọng của ngời phụ nữ Nhân vật phụ nữ của Võ Thị Hảo

Trang 32

dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn cố gắng giữ gìn những bản chất tốt đẹp củamình Họ có thể hi sinh tất thảy cho ngời khác chứ không thể chịu sự thơnghại của ngời đời Võ Thị Hảo rất hay viết về mái tóc của ngời phụ nữ, dờng

nh chị quan niệm đó là một biểu hiện của nữ tính, của vẻ đẹp xuân thì Bởi vậyviết về sự tàn phai trên mát tóc cũng là cách để chị thể hiện sự khốc liệt của

chiến tranh, sự trôi chảy của thời gian Trong truyện Dây neo trần gian, ngời

phụ nữ đã âm thầm chịu đau đớn, bứt từng sợi tóc của mình để tết lại thành dâyneo mong cứu vớt đợc ngời đàn ông trở về từ cuộc chiến, ngời đã mang theomình một niềm tin định mệnh: “Những ngời đã trở về với hoà bình để rồi lần lợtnằm vào cái huyệt đã đào sẵn cho mình trong chiến tranh từ mời mấy năm trớc”

[40, 118] Ngời phụ nữ trong Trận gió màu xanh rêu cũng đã bạc tóc chờ

chồng đi chiến đấu đến hoá điên trớc khi dạt đến làng Đẽo - làng đàn bà, nơi

có một ngày giỗ chung cho những ông chồng hi sinh không rõ ngày tháng.Suy cho cùng sự tàn phá của chiến tranh lên thân thể ngời phụ nữ cũng chính

là sự cớp đi hạnh phúc của họ

Với những trang viết về bi kịch thời hậu chiến của các nhà văn nữ,chúng ta hiểu đợc sự mất mát, khốc liệt của chiến tranh nhiều khi không phảibắt nguồn từ bom đạn mà còn do những mặt trái của nó gây nên trong tâmhồn Rõ ràng vết thơng lòng đó còn đau đớn hơn rất nhiều, còn đắng chát hơnrất nhiều Nhng nhìn thẳng vào những hi sinh, mất mát biểu hiện qua cuộc đời

số phận con ngời, đặc biệt là ngời phụ nữ, chúng ta có một thái độ, một cáinhìn thẳng thắn mà nhân ái, khách quan mà yêu thơng để trân trọng hơnnhững chiến công, để thấy ý nghĩa của cuộc sống hoà bình

2.2 Cách thể hiện những vấn đề thuộc bản năng tính dục

Các đề tài trong văn chơng bao giờ cũng lấy con ngời làm đối tợng, chonên chuyện là chuyện con ngời Đề tài trớc đây thờng là đề tài về chiến tranh

và hoà bình Thân phận con ngời trong chiến tranh với chết chóc, tàn phá, mấtmát và đau khổ hoặc những đề tài về xã hội, con ngời với những thể chế,những bất công Ngày nay, đề tài trong các truyện không còn là nhữngchuyện tình kiểu sự tích Trầu cau, Mị Châu - Trọng Thuỷ nữa mà là truyệntình dục đậm đặc giữa trai gái Nói nh thế không có nghĩa là những đề tài khác

bị bỏ quên Nó vẫn còn đấy nhng nhạt và nh một xen kẽ, nh một phụ phẩm

Có thể nói đề tài về tính dục xuất hiện nh một thứ cách mạng tình dục trong

Trang 33

văn chơng, “nói đến tính dục là đụng chạm đến cái gì đi trớc nó, đụng chạmngay đến cái làm nên sự nghiệp của các nhà văn trớc nó rồi Tính dục ở đây đểvào trong ngoặc những vấn đề tâm lý, đạo đức, luân lý, tôn giáo, phê phán,lịch sử hay xã hội Tính dục là tính dục từ chi tiết đến tổng thể, đợc bóc ra trầntrụi, đợc cảm giác bằng tay, bằng cái đầu và bằng cả sức nặng của cơ thể Sựnhìn nhận tính dục nh là yếu tính của tác phẩm, là một hình thức gián tiếp phủnhận lối viết cũ của các nhà văn viết trớc” [32].

Trớc đây một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn nh Đời ma gió hay Bớm

trắng đã đi vào khai thác đời sống tình dục, bản năng của ngời phụ nữ Nhng

vào thời điểm đó việc làm này thể hiện sự bế tắc hơn là việc tìm thấy nguồncảm hứng mới Đến nay, khi đất nớc thống nhất, ý thức cá nhân của mỗi conngời đợc thức tỉnh thì vấn đề đó đã đợc các nhà văn mạnh dạn đa vào nhữngtác phẩm của mình, “nó nh là một biểu hiện sự thức tỉnh của văn học trớcnhững khát vọng của cá nhân, những ham muốn hởng thụ chính đáng” [47,17]

Thể hiện những vấn đề thuộc bản năng tính dục, các nhà văn nữ đãthoải mái phơi bày đời sống của con ngời ở chiều sâu bản thể Y Ban trong

Th gửi mẹ Âu Cơ đã rất tinh tế đi sâu vào đời sống bên trong đang diễn ra

hàng ngày của cô gái mới lớn: “Đêm đến màn sơng bao phủ sự bí mật củacon Con thao thức, con hồi tởng và con khao khát, lý trí đôi lúc chẳng đợcviệc gì và với bàn tay mình, con tự vuốt ve thân thể ngời thiếu nữ để thoả mãncơn đàn bà” [41, 676] Có khi tác giả còn thể hiện tính dục ở sự hoang tởng,

hành xác, loạn luân, thích giao cấu với ngời chết Diễm trong Đàn sẻ ri bay

ngang rừng của Võ Thị Xuân Hà là một ví dụ Diễm là vợ Thân nhng lại sống

trong tình yêu với Nẫm (anh trai Thân) - một ngời đã chết, Diễm chỉ nghe kểchứ cha hề gặp mặt Những lúc ở bên Thân, Diễm thờng thấy bóng dáng ngờianh chồng lấp ló Đêm trở dạ sinh con đầu lòng cô nhìn thấy Nẫm: “một ngời

đàn ông ngó tôi từ trên trần nhà Hắn nhìn khuôn mặt võ vàng của tôi, rồinhìn lớt xuống bụng, nơi cái cuống rau vừa bị cắt còn lòng thòng thò ra ở chỗsinh nở Tôi nhận ra Nẫm Tôi thèm nhìn thấy ngời đàn ông đã rờ vàocuống rau thò ra ở chỗ sinh nở của tôi Trong giây phút tôi quên hết, quênThân Tôi đắm đuối với hình ảnh ngời đàn ông kia đang mân mê các cuốngrau, nh thể anh ta đã thò vào để sờ nắm những mạch máu nhỏ li ti chảy trong

Trang 34

cơ thể của tôi mà tình yêu của Thân chỉ chạm tới chứ không nắm đợc” [43,156] Qua câu chuyện ta thấy đời sống tinh thần của ngời phụ nữ là một cõiriêng phức tạp đến kỳ lạ, họ cho ta cảm nhận về ngời phụ nữ hiện đại, nhữngcon ngời thật sự đa sự, đa đoan Sự bất ổn trong nội tâm của họ là do bản tínhcủa họ mà ra chứ không ai gây ra cho họ

Bên cạnh việc thổ lộ chân thành tình cảm, các nhà văn nữ cũng khôngngần ngại bày tỏ nhục cảm của mình Đó là khoái cảm ngắm mình khoả thân

trớc gơng, Y Ban trong Ngời đàn bà đứng trớc gơng đã tờng thuật một buổi

kiểm tra cơ thể của đàn bà trớc gơng một cách tuần tự: “Nàng chậm rãi mởtừng cúc áo, khuôn ngực đầy đặn trắng ngà hiện ra Hai toà thiên nhiên nh hainắm cơm đẹp, chắc chắn với hai núm hoa bí hoa mớp đã qua kỳ đơm trái Nh-

ng dầu sao nàng tự hài lòng, không phải dạng quặt sau lng Nàng trút bỏ hẳnchiếc áo ”, công đoạn cuối cùng của buổi sinh hoạt thờng kỳ: “Nàng đánhmắt ra xung quanh tìm một chiếc gơng nhỏ ở bàn trang điểm Nàng đã thấy

nó Nàng với tay lấy rồi ngồi xổm đẩy chiếc gơng nhỏ xuống dới sàn ( ) Khisinh con lần đầu nàng đã phải khâu đến tám mũi: bốn mũi trong và bốn mũi

ngoài” Ma Văn Kháng trong Mùa lá rụng trong vờn cũng đã miêu tả khoái

cảm ngắm mình khoả thân trớc gơng của một ngời phụ nữ: “Lý đàn soi gơngthử chiếc xu chiêng mới, chiếc xu chiêng ni lông cỡ bốn mơi, màu da ngời.Trong gơng bây giờ là một cô gái mình trần đẹp mỡ màng Gơng Tàu, soi rấtthật mặt, mà lại nh soi một ngời khác, một thiếu nữ đã nẩy nở chín muồi, hoànthiện về thể chất và sắc đẹp Lý rất có ý thức về sắc đẹp đợc trời phú bẩm củamình, chỉ hớng sự chú ý tới cái đẹp của làn da, gơng mặt, khuôn ngực và ít lâunay bỗng nảy sinh một khoái cảm mới: ngắm mình gần nh khoả thân trớc g-

ơng mỗi sớm mai trở dậy” Cùng một khoái cảm ngắm mình khoả thân trớc

g-ơng của ngời phụ nữ nhng giữa cách thể hiện của nhà văn nam và nhà văn nữ

là khác nhau Do là nam giới nên họ hiểu biết về những khoái cảm này củaphụ nữ còn hạn chế Với các nhà văn nữ những sinh hoạt rất cơ bản nh thế củangời đàn bà đợc mô tả cụ thể hơn nhiều

Thể hiện những vấn đề thuộc bản năng tính dục, các nhà văn nữ đãkhông ngần ngại lên tiếng đòi hỏi giải phóng phụ nữ mà trớc hết là đòi hỏi

thân xác phải đợc giải phóng Trong truyện ngắn Dòng sông hủi, Đỗ Hoàng

Diệu đã bày tỏ vấn đề này một cách quyết liệt nhất, truyện viết về một cô gái

Trang 35

có chồng là điều tra viên luôn lột quần áo vợ xăm soi từng chỗ trên thân thể

nh “ngửi dấu vết tội phạm” Cô đã giải phóng mình bằng cách ngoại tình vớinhững cuộc làm tình điên dại: “Chồng tôi, tôi biết gọi anh là gì? Tôi nằm imlẩm bẩm bao điều vô nghĩa Nh một con thú, chồng tôi vật tôi nh một conmồi Đôi mắt chỉ còn là hai vệt đỏ lục lọi da thịt tôi tan nát Không cởi tất, cứthế Công chồng lên tôi, chọc sâu tàn nhẫn Tôi càng đẩy Công ra, Công càngcứa nh dao đâm Không phải đâm mà anh chích vào ngời tôi những con trùnglàm công tác huỷ hoại bộ nhớ Tôi nín lặng mặc cho Công quay lộn, mài giũa”[9, 131 - 132] Và sau những cơn làm tình nh thế: “Tôi muốn đập tan tành lờinói thô bạo mai mỉa của Công, tôi muốn đốt cháy chúng thành than Tôi muốncởi phăng áo rớn ngực vào mặt Công tôi muốn tri hô: tinh trùng của anh loãng

nh nớc máy Linh hồn của anh là linh hồn của một con hủi Tôi thấy rõ trínhớ tôi tan vữa dần sau mỗi cú thọc sâu của Công, chỉ có Buôn Hủi, làng Hủi

và ngời đàn ông Thợng tồn tại Khi Công chấm dứt, tôi không còn nhớ gìhết, kể cả mời ngón tay vừa cấu nát lng Công Tôi nhìn chúng xa lạ khônghiểu đã xảy ra chuyện gì ban nãy Ngoài kia, ánh trăng đại ngàn vẫn ngờingợi lung linh bên trên những con ngời thành phố thơm nức, sạch sẽ nhngkhông trí nhớ Tôi quyết định ra đi” [9, 132] Trong truyện của Đỗ HoàngDiệu yếu tố tình dục khá đậm đặc, đặc biệt nhân vật nữ trong truyện của cây

bút này thờng có khao khát tình dục mạnh mẽ Truyện ngắn Bóng đè kể về

một cô gái cùng chồng về quê, mỗi năm nhà chồng có mời sáu đám giỗ Bànthờ phủ màn đỏ, to rộng, không khí ma quái với tấm chân dung bố chồng, ôngnội chồng Ngủ cạnh chồng trên tấm phản trớc ban thờ, tự nhiên cô có cảmgiác thèm thuồng xác thịt Trong cơn mê tỉnh chập chờn, một bóng đen từ banthờ bay ra, lột quần áo và cỡng hiếp cô Cô nhận ra nét quen thuộc trên bứcchân dung, “tia nhìn sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác quen thuộc” [9, 21]

Về thành phố, cô thèm thuồng cảm giác khoái lạc ấy và háo hức mong ngày về

đám giỗ Đêm, lại một bóng đen từ ban thờ bớc ra, “mang dáng hình một lãogià Tàu quyền uy, bí ẩn, đen tối và quyến rũ” [9, 30] Cô gái thèm khát tìnhdục nóng bỏng, “dang rộng chân, oằn oại rên rỉ” Và một lần thứ ba tơng tự,còn dữ dội hơn rồi cô gái có thai, và “con tôi sẽ tiếp tục nối tiếp truyền thống,

sẽ tiếp tục banh giạng chân trên phản cho các binh thần thoả mãn” [9, 37].Thông qua chuyện tình dục, Đỗ Hoàng Diệu muốn gửi đến thông điệp về lịch

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anatoli Sokolov (2004), “Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm đổi mới (1986 - 1996)” (Vân Trang dịch), http://www.talawas.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và văn học Việt Nam trong nhữngnăm đổi mới (1986 - 1996)” (Vân Trang dịch)
Tác giả: Anatoli Sokolov
Năm: 2004
2. Annie Leclerc (2005), “Chữ nghĩa đàn bà”, (Lê Thị Huệ phóng dịch), http://www. gio-o.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ nghĩa đàn bà”, (Lê Thị Huệ phóng dịch)
Tác giả: Annie Leclerc
Năm: 2005
3. Tạ Duy Anh (1990), Bớc qua lời nguyền, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc qua lời nguyền
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1990
4. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
5. Y Ban (2003), Ngời đàn bà có ma lực, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời đàn bà có ma lực
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
6. Y Ban (2003), Chợ rằm dới gốc cây cổ thụ, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ rằm dới gốc cây cổ thụ
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
7. Y Ban (2004), Cới chợ và những truyện ngắn mới, Nxb Thanh niên, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cới chợ và những truyện ngắn mới
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
9. Đỗ Hoàng Diệu (2005), Bóng đè, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đè
Tác giả: Đỗ Hoàng Diệu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
10. Đào Đồng Điện (2004), Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986đến nay, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986"đến nay
Tác giả: Đào Đồng Điện
Năm: 2004
11. Nguyễn Đăng Điệp (2005), “Vấn đề phái tính và âm hởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đơng đại”, http://www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phái tính và âm hởng nữ quyềntrong văn học Việt Nam đơng đại”
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2005
12. Lê Minh Hà (2005), Thơng thế ngày xa và Những giọt trầm, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơng thế ngày xa và Những giọt trầm
Tác giả: Lê Minh Hà
Nhà XB: Nxb Vănhoá Thông tin
Năm: 2005
13. Võ Thị Xuân Hà (2006), Chuyện của con gái ngời hát rong, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện của con gái ngời hát rong
Tác giả: Võ Thị Xuân Hà
Nhà XB: Nxb HộiNhà văn
Năm: 2006
14. Võ Thị Hảo (2005), Ngời sót lại của rừng cời, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời sót lại của rừng cời
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
15. Võ Thị Hảo (2005), Hồn trinh nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn trinh nữ
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
16. Võ Thị Hảo (2005), Goá phụ đen, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Goá phụ đen
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
17. Phạm Thị Hoài (1995), Man nơng, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Man nơng
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
18. Phạm Thị Hoài (1995), Thiên sứ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên sứ
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
19. Nguyễn Thị Thu Huệ (1992), Cát đợi, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát đợi
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
20. Nguyễn Thị Thu Huệ (1993), Hậu thiên đờng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu thiên đờng
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1993
21. Nguyễn Thị Thu Huệ (2004), 37 truyện ngắn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: 37 truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w