Không chỉ là một tác phẩm tiêu biểu về đề tài chiến tranh mà Lạc rừng còn mang trong mình những thành tựu của nghệ thuật tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam nó
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
-Nguyễn văn thiện ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LẠC RỪNG CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH Chuyên ngành: lí luận văn học Mã số: 60.22.32 Luận văn thạc sĩ ngữ văn Ngời hớng dẫn khoa học: ts Lê thanh nga Vinh, 2010 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU……… ………1
1 Lý do chọn đề tài……… ………1
2 Lịch sử vấn đề……… ………2
3 Đối tượng nghiờn cứu……… ………6
4 Nhiệm vụ nghiờn cứu……… ………6
5 Phương phỏp nghiờn cứu……… ………7
Trang 26 Đóng góp mới của luận văn……… ………7
7 Cấu trúc luận văn……… ……7
Chương 1: MỘT SỐ GIỚI THUYẾT………… ……8
1.1.1 Một số vấn đề về tiểu thuyết……… ………8
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết ……… ………8
1.1.2 Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết 11
1.1.3 Nhận thức mới về tiểu thuyết trong văn học 15
Việt Nam sau 1986……… ………15
1.2 Tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh sau 1986… 21
1.2.1 Một cái nhìn thể hiện khát vọng nhận thức lại chiến tranh… 1
1.2.2 Vấn đề thân phận con người thời hậu chiến………… ……24
1.2.3 Sự xoá nhoà khoảng cách sử thi……… ……28
1.3 Một số vấn đề về tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh……… 31
1.3.1 Một cây bút có nhiều đóng góp cho văn xuôi Việt Nam sau 1986… 1
1.3.2 Một cây bút nhiều duyên nợ với Tây Nguyên……… … 34
1.3.3 Lạc rừng - một tác phẩm tiêu biểu của Trung Trung Đỉnh…… 37
Chương 2 LẠC RỪNG - MỘT BIỂU HIỆN CỦA XU THẾ NHẬN THỨC PHI SỬ THI VỀ CHIẾN TRANH………… 41
2.1 Chiến tranh - một tai nạn của lịch sử và con người…… 41
2.1.1 Sức huỷ diệt của chiến tranh đối với cuộc sống hiện thực… … 41
2.1.2 Sức huỷ diệt của chiến tranh đối với số phận con người… …… 43
2.1.3 Sức huỷ diệt của chiến tranh đối với đời sống tinh thần con người… 46
2.2 Chiến tranh không phải là nơi phô diễn sức mạnh cộng đồng và tài nghệ cá nhân………… … 48
2.2.1 Hành động tự thú không vướng bận bởi mặc cảm hèn nhát…… …48
2.2.2 Một ghi chép trung thực về đời sống tinh thần của những người lính tham chiến kể cả hai phía………… … 51
Trang 32.2.3 Một cái nhìn lạnh lùng, nghiêm khắc về trách nhiệm của các bên tham
chiến trước những mất mát bởi cuộc chiến…… … 54
2.3 Sự nỗ lực phân tích, đánh giá một cách chính xác nét đẹp của con người trong chiến tranh… ……56
2.3.1 Vẻ đẹp có được từ những nhận thức đơn giản của con người về chiến tranh và trách nhiệm công dân ………… 56
2.3.2 Vẻ đẹp nảy sinh từ sự dồn ép tình thế…… ….59
2.3.3 Vẻ đẹp hiển nhiên từ nhận thức và hành động mang tính tự giác cao… 63 Chương 3 LẠC RỪNG – MỘT NỖ LỰC CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH TRONG VIỆC ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN CHIẾN TRANH 67 3.1 Nỗ lực làm mới thể tài tiểu thuyết chiến tranh trong việc hướng tới chuyện hơn là truyện…… ……….67
3.1.1 Làm mới thể tài tiểu thuyết chiến tranh bằng cốt truyện đơn giản… ….67 3.1.2 Nhìn nhận chiến tranh không bằng những dấu hiệu phổ biến của chiến tranh (hay nghệ thuật miêu tả cái vắng mặt) …… 71
3.1.3 Nỗ lực mở rộng nhận thức bằng sự làm loãng chi tiết … ….74
3.2 Những đóng góp trong miêu tả không gian, thời gian nghệ thuật… 77
3.2.1 Không gian, thời gian - một yếu tố quan trọng trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết …77
3.2.2 Nhận thức chiến tranh thông qua không gian hẹp, không gian sinh hoạt thường nhật …79
3.2.3 Sự thủ tiêu ý niệm thời gian trong Lạc rừng …82
3.3 Một số vấn đề về nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu … 85
3.3.1 Nhân vật … … 85
Trang 43.3.2 Một số đặc điểm ngôn ngữ……… ……… 88
3.3.3 Giọng điệu …91
KẾT LUẬN… 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
MỞ ĐẦU
8 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống loại hình văn xuôi nghệ thuật, tiểu thuyết là một thể loại quan trọng Với tiểu thuyết, cuộc sống được thể hiện một cách sinh động, toàn vẹn với đầy đủ tính đa dạng và phức tạp của nó Khi nhà văn đặt ra nhu
Trang 5cầu phản anh một phạm vi hiện thực rộng lớn, khái quát được ở một tầm baoquát những trạng thái tinh thần của cuộc sống ở tầm vĩ mô, tiểu thuyết đươngnhiên là sự lựa chọn số một Ở Việt Nam, sau 1975, chiến tranh kết thúc, vàđặc biệt là sau đại hội Đảng lần thứ IV (1986), văn nghệ nói chung và thểloại tiểu thuyết nói riêng đã có nhiều đổi mới Từ đó đến nay, nghệ thuật tiểuthuyết không ngừng được hiện đại hoá Nhiều tác phẩm lớn ra đời và trởthành những thành tựu của nền văn học nước nhà Có thể thấy, trong mấythập kỷ đổi mới văn học vừa qua, tiểu thuyết là thể loại tiên phong Đặt vấn
đề nghiên cứu tiểu thuyết là góp phần khẳng định thêm những ưu thế của thểloại này trong việc chiếm lĩnh hiện thực
Trung Trung Đỉnh là nhà văn có nhiều đóng góp trong nền văn học ViệtNam đương đại Trưởng thành sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước,ông được nhiều bạn đọc biết đến với 5 tập truyện ngắn, 5 cuốn tiểu thuyết
Hai tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn đã được Hãng phim truyện Việt Nam chuyển thể thành phim Ngõ lỗ thủng công chiếu trên
truyền hình năm 2008 thu hút sự quan tâm chú ý của người xem Các sángtác của Trung Trung Đỉnh mang hơi thở của cuộc sống đương đại với rấtnhiều vấn đề nóng hổi được đặt ra, mổ xẻ Với những đóng góp của mình,Trung Trung Đỉnh đã vinh dự được nhận giải thưởng cấp Nhà nước 2007.Nghiên cứu sáng tác của nhà văn này, vì thế, là để tiếp tục góp phần nhìnnhận, đánh giá một hiện tượng văn học, kiểm chứng tính chân xác của nhữngđánh giá về ông
Trong các tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh thì Lạc rừng là một tác phẩm
thành công nổi bật Tác phẩm đạt giải A cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn
tổ chức (1998-2000) Không chỉ là một tác phẩm tiêu biểu về đề tài chiến
tranh mà Lạc rừng còn mang trong mình những thành tựu của nghệ thuật tiểu
thuyết Trung Trung Đỉnh nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam nói chung Có
người coi Lạc rừng là một tác phẩm đi đầu trong xu hướng cách tân thể loại
Trang 6tiểu thuyết Tác phẩm đã được nhiều người bàn đến, nhưng chỉ trong phạm
vi những bài viết nhỏ, lẻ, hoặc trong hệ thống sáng tác hay hệ thống tiểuthuyết của ông, thể hiện ở một số luận văn,luận án, nghĩa là nó chưa đượcnghiên cứu với tư cách là một đối tượng độc lập Đó là những lý do gợi dẫn
cho chúng tôi tiếp cận và nghiên cứu đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Lạc rừng
của Trung Trung Đỉnh.
9 Lịch sử vấn đề
2.1 Với một sự nghiệp sáng tác không nhỏ, Trung Trung Đỉnh đã cómột vị trí nhất định trong lòng mến mộ của công chúng và bạn đọc Tuynhiên, nghiên cứu về tiểu thuyết của ông chưa nhiều, chủ yếu là một số bàiviết rải rác trên các báo, tạp chí và một số luận văn thạc sĩ
Trong bài viết Khi đồng tiền kể chuyện (Báo Văn nghệ, số 28/2008),
Nguyễn Chí Hoan đánh giá cao thủ pháp nghệ thuật đồng thoại và bút phápkhoa đại theo lối phúng dụ ngụ ngôn được Trung Trung Đỉnh sử dụng trong
tiểu thuyết Sống khó hơn là chết Theo tác giả bài viết, “việc sử dụng hình
thức đồng thoại một ý hướng làm giảm tầm vóc của nguồn phát ngôn, củavai kể chuyện; kể cả giảm bớt bằng cách trừu tượng hoá vai kể đó, thay thế
nó bằng các ký hiệu quy ước” Bút pháp khoa đại “chứa đựng một ý hướnggiảm bớt tầm vóc của đối tượng nói đến hoặc cả hai trong một tương quannhất định nào đó”
Ngoài ra còn có các bài viết của Tâm An, Dương Bình Nguyên về tiểu
thuyết Sống khó hơn là chết; Thanh Thảo, Thu Trang, Lê Thi, Trần Linh viết về Tiễn biệt những ngày buồn, Chuyện tình ngõ lỗ thủng Nhìn chung,
các bài viết trên đều đánh giá cao, ghi nhận thành tựu của tiểu thuyết TrungTrung Đỉnh
Bên cạnh đó, tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh cũng đã trở thành đốitượng nghiên cứu của một số luận văn thạc sĩ tại các trường đại học trênphạm vi toàn quốc
Trang 7Trước hết, phải kể đến luận văn Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh (Luận
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – 2009) của Nguyễn Thị Anh
Với ý đồ tìm hiểu, đánh giá khái quát về tiểu thuyết của Trung TrungĐỉnh nói chung, tác giả luận văn đã đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật vềcon người, thế giới nhân vật, nghệ thuật trần thuật của nhà văn thể hiện trong
5 tiểu thuyết tiêu biểu Luận văn này đã chỉ ra một cách có hệ thống nhữngđặc điểm cơ bản của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh, qua đó, đánh giá cao vềnhững đóng góp của nhà văn này cho nền nghệ thuật văn xuôi nước nhà
2.2 Bên cạnh những công trình, những bài viết nghiên cứu về tiểuthuyết, hoặc sáng tác của Trung Trung Đỉnh nói chung, cũng có một số côngtrình, bài viết có đề cập và đưa ra những đánh giá, nhận xét đáng tin cậy về
Lạc rừng.
Trong lời bạt cuốn Trung Trung Đỉnh ba tiểu thuyết, nhà phê bình
Phạm Xuân Nguyên đã có những nhận xét tinh tế: “Anh có lối đi riêng củamình, không thời thượng, không ồn ào, lặng lẽ cày xới trên những điều mìnhcảm, mình nghĩ” Theo Phạm Xuân Nguyên, Trung Trung Đỉnh “đã khơiđược một độ sâu đáng kể của vấn đề nội dung tác phẩm trên một số lượngtrang không nhiều” Đồng thời với việc đánh giá cao nghệ thuật trần thuậttrong các tiểu thuyết nói trên, Phạm Xuân Nguyên cũng cho rằng, “cố nhiênlối tự sự ngôi thứ ba ở đây vẫn còn nhiều chỗ kể đơn giản, nhất là khi cầnphơi bày tâm lí nhân vật” Từ đó, ông đi đến kết luận: “Vì cuộc sống hiệnnay còn đồng vọng với trang sách Vì trang sách còn nhiều điều gợi mở vớingười đọc Vì người đọc còn nhu cầu suy ngẫm với văn chương Như thế,đáng để đọc Trung Trung Đỉnh lắm chứ”
Trong bài viết giới thiệu tiểu thuyết Lạc rừng với nhan đề “Lạc rừng”,
cuốn tiểu thuyết thành công của Trung Trung Đỉnh (Văn nghệ Quân đội, số
40) Tác giả Lưu Khánh Thơ khẳng định: “Trung Trung Đỉnh đã đạt đượcnhững thành công đáng khích lệ Anh tỏ ra là một cây bút phân tích tâm lí tinh
Trang 8tế và kín đáo, giản dị mà sâu, không lên gân, không cường điệu Điểm đángchú ý nữa ở tác phẩm này là ngôn ngữ mang đậm màu sắc Tây Nguyên, tựnhiên, phóng khoáng và hiện đại Sự gắn bó máu thịt với vùng đất TâyNguyên là nhân tố đầu tiên tạo nên sức cuốn hút trong những trang viết của
Trung Trung Đỉnh” Lưu Khánh Thơ cũng cho rằng: “Tiểu thuyết Lạc rừng có
cốt truyện khá giản dị” và “quá trình thay đổi trong nhận thức và diễn biếntâm lý của nhân vật được tác giả miêu tả sâu sắc và khá hợp lý”, vì vậy, “sốphận của người lính hiện ra trần trụi, mong manh nhưng cũng thật hơn và đời
hơn” Theo Lưu Khánh Thơ, “những tác phẩm như Lạc rừng đã góp phần cắt
nghĩa và lí giải bao điều bí mật đã làm nên chiến thắng của dân tộc Đó cũng
là nhiệm vụ lâu dài của nền văn học viết về chiến tranh và người lính”
Tác giả Hồ Thị Thái trong đề tài Những đổi mới của tiểu thuyết Việt
Nam viết về đề tài chiến tranh và người lính cách mạng từ thập kỷ 80 đến nay (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh – 2002) cũng đã dành khá
nhiều trang viết về tiểu thuyết Lạc rừng Ở công trình nghiên cứu của mình,
Hồ Thị Thái sau khi phân tích, đánh giá nghệ thuật xây dựng tình huống vàkhắc hoạ tâm lý nhân vật đã có những nhận xét, đánh giá khá xác đáng thành
công nghệ thuật của Lạc rừng.
Tác giả luận văn cũng đã dành khá nhiều trang viết để phân tích, đánh
giá thành công về thủ pháp xây dựng tình huống trong tiểu thuyết Lạc rừng
và khẳng định đó là một thành công tiêu biểu về mặt nghệ thuật của tiểuthuyết này
Phạm Thị Thu Thuỷ trong Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1995
đến nay (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2005) đã đi sâu tìm hiểu và chỉ ra
nghệ thuật tạo tình huống đặc sắc của tiểu thuyết Lạc rừng Sau khi so sánh tình huống nhân vật “đi lạc” trong Lạc rừng với một số tác phẩm khác, tác giả luận văn khẳng định: “Lạc rừng hấp dẫn trước hết là nhờ tình huống tâm
lí đặc sắc này”
Trang 9Sau khi phân tích trên nhiều cấp độ, Phạm Thị Thu Thuỷ có những
nhận xét tinh tế: “Lạc rừng có một cốt truyện đơn giản, không nhiều nhân
vật và có độ dài vừa phải nhưng chiếm được cảm tình của người đọc là bởi
sự chân thực, bởi tấm lòng của người viết về Tây Nguyên” “Những nhân vậtnhư Bin, Miết, Yơng có tính cách vừa hồn nhiên, chất phác, vừa nghiêmtrang, kỷ luật, có sức hấp dẫn rất lớn đối với người đọc” Phạm Thị Thu
Thuỷ đánh giá cao bức tranh văn hoá về Tây Nguyên thể hiện trong Lạc
rừng: “Ở Lạc rừng, chúng ta được làm quen với văn hoá, con người Tây
Nguyên ( ) Cuộc chiến đấu của đồng bào Tây Nguyên được Trung TrungĐỉnh thể hiện chân thực, sinh động, giàu cảm xúc ( ) Và qua cuộc chiếntranh nhân dân ấy, hình tượng những con người Tây Nguyên hiện lên vừamang vẻ đẹp hết sức tự nhiên của núi rừng vừa mang vẻ đẹp được tôi luyệnqua thử thách”
Tác giả Phạm Thị Hồng Duyên trong công trình nghiên cứu Tiểu
thuyết Trung Trung Đỉnh thời kỳ đổi mới (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại
học Vinh, 2009) đã khá công phu khảo sát thế giới nhân vật, kết cấu, ngôn
ngữ, giọng điệu trong 5 tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh là Ngõ lỗ thủng,
Ngược chiều cái chết, Tiễn biệt những ngày buồn, Lạc rừng, Sống khó hơn
là chết, từ đó đưa ra kết luận: “Trung Trung Đỉnh để lại những tình cảm
thâm trầm kín đáo trong trang viết của mình Điều đáng ghi nhận trong tiểuthuyết của ông là sự cố gắng đi sâu vào cõi tâm linh của con người TrungTrung Đỉnh có một giác quan nhạy bén của người nghệ sỹ kiên trì đi tìmchân lý, và những trăn trở đầy trách nhiệm của một nhà văn có tâm huyết.Tác phẩm của ông thể hiện một tiếng nói riêng, một phong cách riêng, thểhiện nỗ lực của hành trình khẳng định cái bản ngã trong nghệ thuật củangười cầm bút”
Theo Phạm Thị Hồng Duyên, kiểu nhân vật “lạc rừng” chính là thànhcông lớn nhất trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh Bằng thủ pháp cho
Trang 10các nhân vật “đi lạc”, tác giả dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này sang bấtngờ khác.
Nhìn chung, hầu hết các ý kiến đều thống nhất trong việc ghi nhận
thành công của tiểu thuyết Lạc rừng, trong đó, điểm gặp nhau dễ nhận thấy
là các tác giả đều đánh giá cao nghệ thuật xây dựng tình huống trong tácphẩm Bên cạnh đó, bản sắc của Tây nguyên cũng được nhìn nhận là mộtthành công, thể hiện một sở trường của Trung Trung Đỉnh
Trên cơ sở những ý kiến đã được đưa ra, chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm
hiểu tiểu thuyết Lạc rừng để từ đó có một cái nhìn toàn diện về tác phẩm này
trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Nghiên cứu đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung
Đỉnh, chúng tôi muốn khẳng định những cách tân nghệ thuật đặc sắc của tác
phẩm này như là một đóng góp đáng trân trọng đối với quá trình hiện đại hoáthể loại tiểu thuyết
10.Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh.
11.Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định cho mình nhiệm vụ nghiên cứu:
- Chỉ ra những tiền đề xuất hiện sự đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Lạc
rừng của Trung Trung Đỉnh.
- Làm rõ những biểu hiện của xu thế nhận thức phi sử thi về chiến
tranh thể hiện trong Lạc rừng.
- Chỉ ra những nỗ lực của Trung Trung Đỉnh trong việc đổi mới nghệ
thuật kể chuyện chiến tranh trong Lạc rừng.
12.Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sauđây: phương pháp miêu tả- phân tích, phương pháp so sánh của thi pháp họclịch sử
Trang 1113.Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn bao quát những nét đặc trưng cơ bản nhất của tiểu thuyết
Trung Trung Đỉnh thể hiện trong Lạc rừng.
- Với việc tiếp cận tác phẩm Lạc rừng bằng hệ thống quan niệm hiện
đại về tiểu thuyết, luận văn cố gắng bổ sung thêm một hướng tiếp cận mớiđối với thể loại tiểu thuyết
- Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là tư liệu thamkhảo cho những ai quan tâm đến tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh nói riêng vàhành trình hiện đại hoá thể loại tiểu thuyết nói chung
14.Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn có cấu trúc gồm ba chương:
Chương 1: Một số giới thuyết
Chương 2: Lạc rừng - một biểu hiện của xu thế nhận thức phi sử thi
về tranh
Chương 3: Lạc rừng - một nỗ lực của Trung Trung Đỉnh trong việc
đổi mới nghệ thuật kể chuyện chiến tranh
Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo
Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT
1.1 Một số vấn đề về tiểu thuyết
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
Trang 12Trong nền văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nóiriêng, tiểu thuyết là một thể loại chiếm vị trí quan trọng Trong quá trình tìmhiểu thể loại tiểu thuyết, đã có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí là tráingược nhau được đưa ra Nhìn chung trong suốt một thời gian khá dài, ở cảphương Đông và phương Tây, đã có nhiều nhà nghiên cứu cố gắng đưa ramột định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết để có thể ứng dụng cho mọi trường hợptrong thực tế văn học Đó là một điều rất khó.
Ở phương Tây, từ rất sớm, Friedrich Hegel gọi tiểu thuyết là “sử thi tưsản hiện đại” và nhấn mạnh tính chất “văn xuôi” của thể loại này Biêlinxkycho tiểu thuyết là “sự tái hiện thực tại với sự thực trần trụi của nó”, là “xâydựng một bức tranh sinh động, toàn vẹn và thống nhất”
Ở Việt Nam, một trong những người đưa ra quan niệm về tiểu thuyết
sớm nhất là Phạm Quỳnh Trong bài viết Bàn về tiểu thuyết đăng trên Nam
Phong (1921), Phạm Quỳnh cho rằng“Tiểu thuyết là một truyện viết bằng
văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, hay phong tục xã hội các sự lạ li kì, đủlàm cho người đọc hứng thú” Phạm Quỳnh cũng khẳng định: “Văn tiểu
thuyết phải là cái văn sinh hoạt” Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận, Thạch Lam trong Theo dòng, Vũ Bằng trong Khảo về tiểu thuyết, Nhất Linh,
Khái Hưng trong một số bài viết cũng có nhiều ý kiến sắc sảo về tiểu thuyết.Chẳng hạn, khi bàn về nhân vật trong tiểu thuyết, Thạch Lam cho rằng “Cáiquan niệm “vai chính hoàn toàn” của tiểu thuyết là sai lầm Cái hoàn toàn tốthay hoàn toàn xấu không có ở trên đời, đó là một điều ai cũng biết”
Nhìn chung, trước cách mạng tháng Tám, ở Việt Nam, các tác giả mớiđưa ra được những quan niệm, ý tưởng cá nhân về tiểu thuyết mà thiếu đimột cái nhìn hệ thống có chiều sâu lý luận
Sau 1945, các nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm đến tiểu thuyết ThanhLãng cho rằng: “Tiểu thuyết là một truyện tương đối dài, bịa đặt ra do óctưởng tượng nhưng được xây dựng theo những tài liệu lấy ngay từ trong thực
Trang 13tế hàng ngày Tiểu thuyết bởi vậy thường là những bức tranh phong tục là vìtác giả chủ trương về một trạng thái có thực của cuộc sống loài người, đặtcâu chuyện vào một khung cảnh xã hội có những đường nét, những màu sắcquen thuộc” Nguyễn Đình Thi phát biểu: “Viết tiểu thuyết là một hóa côngnhỏ, viết tiểu thuyết là sáng tạo ra một thế giới” Còn Nhà văn Nguyễn CôngHoan lại định nghĩa: “Tôi không hiểu các nhà lý luận văn học giảng nghĩa vềtiểu thuyết và nhà tiểu thuyết là gì Theo tôi hay nghĩ nôm na thì tiểu thuyết
là một truyện bịa y như thật Nhà tiểu thuyết là người biết bịa chuyện” (Đờiviết văn của tôi-1977)
Nhìn chung, tùy theo góc nhìn và hoàn cảnh phát biểu, mỗi người cóthể nhấn mạnh vào một hoặc một vài đặc điểm này hoặc vài đặc điểm kiacủa tiểu thuyết
Cho đến nay, những định nghĩa khái niệm tiểu thuyết toàn diện và cóluận chứng, dẫn giải xác đáng, đầy đủ hơn có lẽ vẫn tồn tại trong các côngtrình ở dạng từ điển thuật ngữ văn học, trong đó đáng chú ý nhất là các côngtrình của Lại Nguyên Ân và nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, NguyễnKhắc Phi
Trong 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, tiểu thuyết
được định nghĩa là “Tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào sốphận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trầnthuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đếnmức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” [4;313]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), tiểu thuyết “Là tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống của mọi giới hạn không gian
và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, nhữngbức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp,tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[29;328]
Trang 14Nhà bác học người Nga M.Bakhtin đã có nhiều công trình nghiên cứu
và đề xuất nhiều kiến giải sâu sắc về thể loại tiểu thuyết Ông cho rằng, tiểuthuyết “Là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa địnhhình Những lực cấu thành thể loại đang còn hoạt động trước mắt chúng ta:thể loại tiểu thuyết ra đời và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạchnhật của lịch sử Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng tachưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” [6;23].Thay vì nỗ lực xây dựng một định nghĩa cố định, M.Bakhtin tìm ra ba đặcđiểm cơ bản làm cho tiểu thuyết khác biệt về nguyên tắc với tất cả các thểloại khác Đó là: “1/ tính ba chiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết, gắnliền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết; 2/ sự thay đổi cơ bảncác toạ độ thời gian của hình tượng văn học trong tiểu thuyết; 3/ khu vựcmới, nơi xây dựng hình tượng văn chương tiểu thuyết, chính là khu vực tiếpxúc tối đa với cái hiện tại (đương đại) ở thì không hoàn thành của nó” [6;36]
Qua một số ý kiến vừa dẫn, dễ thấy rằng khó có thể có được một địnhnghĩa hoàn chỉnh, đầy đủ về tiểu thuyết, có khả năng ôm trọn mọi thực tếsáng tác Song cũng dễ dàng nhận thấy các định nghĩa trên có những chỗ gặpnhau, mà nếu lựa chọn những điểm chung nhất ấy, có thể diễn đạt một cáchkhái quát: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự có dung lượng tương đối dài vềmột câu chuyện được hư cấu “như thật” dựa trên sự hiểu biết, từng trải củanhà văn về cuộc sống Tiểu thuyết có khả năng phản ánh hiện thực rộng lớn,bao quát nhiều tính cách, số phận trong những không gian, thời gian khônghạn chế Vì thế, để viết tiểu thuyết, tác giả phải là người có kiến thức rộng vàbiết vận dụng nhiều lối văn khác nhau” Chúng tôi xin được coi đây là cáchhiểu có khả năng bao quát nhất và từ cơ sở này sẽ triển khai các luận điểm cụ
thể của mình về đặc điểm tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh.
1.1.2 Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết
Trang 15Tiểu thuyết là một thể loại đặc thù, mang trong mình những đặc trưng
mà các thể loại khác không có Một trong những đặc trưng cơ bản nhất củatiểu thuyết là nhìn nhận cuộc sống dưới góc độ đời tư Chỗ khác nhau cơ bảngiữa tiểu thuyết và sử thi cổ điển là, sử thi thể hiện quá khứ anh hùng củadân tộc mà cơ sở là truyền thống, còn tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tạiđang không ngừng biến đổi, sinh thành Tuy nhiên, tuỳ theo từng thời kỳnhất định, cái nhìn đời tư có thể kết hợp với các chủ đề thế sự hoặc lịch sửdân tộc
Các tiểu thuyết tiêu biểu của nền văn chương nhân loại đều là những tácphẩm thành công trong việc khắc hoạ cuộc đời, số phận của những con người
cụ thể, qua đó khái quát những trạng thái tồn tại của xã hội Có thể kể ra nhữngcuộc đời, những số phận riêng tư gắn liền với các tác phẩm nổi tiếng: Giăng
Vangiăng trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của V.Hugo, Anđrây trong tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình của L.Tônxtôi… Tuy nhiên, điều đó chỉ
đúng hoàn toàn với các tiểu thuyết thuộc loại “cổ điển”, các tiểu thuyết đượcviết theo mẫu mực của tiểu thuyết thế kỉ XIX Bước sang thế kỉ XX, khi thếgiới có nhiều biến động về chính trị - xã hội, với sự phát triển của khoa học kĩthuật, của triết học, nhất là triết học về con người, tình hình của thể loại tiểuthuyết cũng có những thay đổi đáng kể Tiểu thuyết nhiều khi không chỉ lànhững câu chuyện về một cuộc đời, một số phận, mà nhiều khi chỉ xuất hiện đểtrình bày một trạng thái tồn tại của xã hội, một tình thế của số phận con ngườinói chung Chúng ta có thể thấy điều này với các tác phẩm của M.Proud,F.Kafka, E.Hemingwey, Cao Hành Kiện…
Một đặc trưng nữa để có thể phân biệt tiểu thuyết với các thể loại khác
như truyện thơ, trường ca, sử thi đó chính là “chất văn xuôi” của nó Đặc
trưng này đòi hỏi tiểu thuyết phải tái hiện cuộc sống một cách không lãngmạn hoá, không thi vị hoá Chất văn xuôi này xuất hiện đậm đặc trong các
tiểu thuyết theo trường phái hiện thực Tấn trò đời của H Balzac là một dẫn
Trang 16chứng tiêu biểu Qua tác phẩm của mình, nhà văn đã phơi bày tất cả xấu xa,tiêu cực của xã hội tư sản, phơi bày tất cả những khổ đau, bi kịch của conngười trong xã hội ấy
Ở Việt Nam, Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống mòn của Nam Cao, sau này là Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Mảnh đất
lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là những tiểu thuyết miêu tả
cuộc sống như một thực tại cùng thời đang sinh thành, hấp thụ vào bản thân
nó mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn, bao hàm cái cao cả lẫn cái tầm thường, bi
và hài Trong các tác phẩm vừa kể ở trên, không khó khăn để người đọc cóthể nhận ra chất văn xuôi như là một đặc trưng của thể loại Nếu bộ tiểu
thuyết Tấn trò đời của H.Balzac phơi bày bộ mặt hiện thực của xã hội tư sản
Pháp với đầy đủ những nhố nhăng, đồi bại, những toan tính, mâu thuẫn thì
Sống mòn của Nam Cao, Số đỏ, Giông tố của Vũ Trọng Phụng cũng khắc
hoạ được chân dung tất cả cái bi, cái hài của một xã hội Việt Nam đang quằnquại dưới chế độ thực dân nửa phong kiến trước cách mạng tháng Tám
Chính chất văn xuôi tạo ra một vùng tiếp xúc tối đa với thời hiện tạiđang sinh thành làm cho tiểu thuyết không bị giới hạn nào trong nội dungphản ánh Nói cách khác, chất văn xuôi là đặc trưng không thể thiếu để làmnên tiểu thuyết
Về nhân vật của tiểu thuyết, chúng ta cũng có thể thấy những đặctrưng riêng khi so sánh với nhân vật sử thi, truyện trung cổ Trong các thểloại ấy, nhân vật gắn liền với hành động Nhân vật tồn tại chủ yếu bằng hànhđộng và qua hành động bộc lộ tính cách, bản chất của mình Không hànhđộng, nhân vật sẽ không tồn tại Thậm chí, mỗi nhân vật sinh ra chỉ để thựchiện một hành động mà thôi (ví dụ như Thánh Gióng với hành động đánhgiặc) Nói cách khác, nhân vật không có thời gian để tư duy, suy nghĩ Quátrình tồn tại của nhân vật trong tác phẩm là một quá trình hành động tiếpdiễn không ngơi nghỉ Nhân vật của tiểu thuyết cũng hành động, nhưng đó là
Trang 17những hành động trong sự nếm trải tư duy, dằn vặt, khổ đau, toan tính Nhânvật tiểu thuyết trưởng thành, biến đổi, thay đổi trong môi trường cuộc sốngđang diễn tiến, chịu sự chi phối của hoàn cảnh Chính vì thế, tiểu thuyết luôn
là thể loại đi đầu trong việc thâm nhập, khám phá thế giới tâm hồn, nội tâmphong phú và phức tạp của con người Những nhân vật thành công của tiểuthuyết thường là những con người nếm trải khổ đau, dằn vặt và không ngừng
tư duy trước cuộc đời Gôriô, Anna Karênina, Thứ là những nhân vật như
thế Trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao, chuỗi ngày Thứ sống là
chuỗi dằn vặt trăn trở đau khổ vì sự tàn tạ, tha hóa của kiếp người Trong cáctiểu thuyết hiện đại, thế giới nội tâm của nhân vật càng được nhà văn khámphá, thể hiện đến tận cùng trong chiều sâu của nó Thậm chí, nhiều tiểuthuyết gia đã nương theo diễn tiến của dòng ý thức nhân vật để xây dựng kếtcấu cho tác phẩm của mình Như vậy, cũng có nghĩa, thế giới tâm hồn củacon người mới là “nhân vật chính” của tiểu thuyết Trong các tiểu thuyết thời
kỳ đổi ở Việt Nam, các nhà văn đã chú trọng đặc biệt đến quá trình diễn biếnphức tạp trong thế giới tâm hồn nhân vật, từ đó xây dựng nên những tácphẩm văn học có chiều sâu nhân bản
Một đặc trưng nữa của tiểu thuyết đó là luôn có thêm yếu tố “thừa” Yếu tố “thừa” này có thể hiểu là những yếu tố ngoài hệ thống sự kiện tạo
nên cốt truyện, các chi tiết về tính cách bao gồm những suy tư của nhânvật, sự miêu tả ngoại cảnh, sự phân tích chi li, cặn kẽ diễn biến tình cảm, tâmtrạng của nhân vật Ở các tiểu thuyết hiện đại, khi yếu tố cốt truyện bị mờ
hoá thì những yếu tố “thừa” này càng phát huy tác dụng nghệ thuật của nó Nhiều khi yếu tố “thừa” này lại dẫn dắt người đọc đến những liên tưởng, suy nghĩ sâu xa về cuộc đời Linh sơn của Cao Hành Kiện là một tiểu thuyết
như vậy Trong đó, la liệt những diễn biến tâm trạng sẵn sàng rời xa cốttruyện ban đầu để dẫn độc giả tiếp cận một vùng hiện thực khác Yếu tố
Trang 18“thừa” chính là khả năng dẫn dụ, mê hoặc của thể loại tiểu thuyết trong
hành trình chinh phục người đọc
M Bakhtin đã chỉ ra một cách hết sức rõ ràng sự khác nhau giữa sử thi
và tiểu thuyết trong vấn đề trần thuật Theo M Bakhtin, trong sử thi, giữangười trần thuật và nội dung trần thuật luôn tồn tại một khoảng cách Đó làkhoảng cách về giá trị Người trần thuật bị cách ly với “quá khứ tuyệt đối”bằng giới tuyến không thể thẩm lậu nên chỉ có một thái độ ngợi ca, ngưỡng
mộ Cái thế giới sử thi của quá khứ tuyệt đối về bản chất là không để chokinh nghiệm cá nhân xâm nhập vào và không cho phép có những cách nhìn
và đánh giá mang tình cá nhân, cá thể Tiểu thuyết phá bỏ khoảng cách ấy đểmiêu tả cái hiện tại đang tiếp diễn Là một hiện tại cùng thời, tiểu thuyết chophép người trần thuật tiếp xúc, nhìn nhận các nhân vật một cách gần gũi nhưnhững người bình thường “Chính điều này đã tạo ra một khu vực hoàn toànmới của việc xây dựng hình tượng tiểu thuyết – khu vực xúc tiếp gần gũi tối
đa giữa đối tượng miêu tả với thực tại giang dở hôm nay và vì thế mà cảtương lai” [6;69] Khoảng cách gần gũi này làm cho tiểu thuyết trở thànhmột thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái độ suồng sã,thân mật với nhân vật của mình
Đặc trưng cuối cùng của tiểu thuyết cần phải kể đến đó là khả năngtổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại hình văn học khác
Đó chính là khả năng “phê phán” tuyệt vời của thể loại tiểu thuyết “Tiểuthuyết cho phép đưa vào, lắp ghép vào trong nó nhiều thể loại khác nhau, cảnhững thể loại nghệ thuật (những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, nhữngtrường ca, những màn kịch nói v.v ) lẫn những thể loại phi nghệ thuật (cácthể văn đời sống hàng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo, v.vv )”
[6;146] Vì thế, người ta có thể thấy trong tiểu thuyết Chiến tranh và hoà
bình của L.Tônxtôi chất sử thi, chất huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của
G.G Marquez Người ta có thể thấy tiểu thuyết “ôm” trong mình các đoạn
Trang 19thơ, kịch, thư từ, nhật ký Và chính vì đặc trưng này mà người ta có thể chiatiểu thuyết thành các tiểu loại: tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết trinh thám, tiểuthuyết viễn tưởng
Tóm lại, tiểu thuyết là một thể loại đặc thù Việc xác định những đặctrưng của nó sẽ giúp chúng ta tìm ra “đường dẫn” trong việc nghiên cứu tiểuthuyết Việt Nam đương đại
1.1.3 Nhận thức mới về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam sau 1986
Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết ra đời không đến nỗi muộn màng vớimột số tác phẩm nền móng của Hồ Biểu Chánh, Trương Vĩnh Kí, tiếp đóđược tiếp nhận những đóng góp của Hoàng Ngọc Phách, các tác phẩm củaNhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,Nam Cao… Nhìn chung tiểu thuyết Việt Nam trước 1945 đã đạt được nhiềuthành tựu, đạt đến trình độ mẫu mực của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX, và
có những chỗ đã gần như bắt kịp được các tiểu thuyết hiện đại của thế giớiđầu thế kỉ XX Tuy nhiên, do tình thế đặc biệt của lịch sử, tiểu thuyết giaiđoạn 1945-1975 đã không mặn mà với việc kế thừa toàn bộ những thành tựucủa tiểu thuyết trong giai đoạn này, mà tự nguyện rẽ sang một hướng khác đểđáp ứng kịp thời những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của trạng thái tinhthần dân tộc trong chiến tranh và cách mạng Tiểu thuyết thời điểm này, về
cơ bản, đặt nhiệm vụ phục vụ chính trị, lên hàng đầu với đối tượng phản ánh
là cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc và công cuộc lao động sảnxuất để hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương lớn đồng thời xây dựng chủnghĩa xã hội Tinh thần của tiểu thuyết giai đoạn này do vậy, đậm đà chất sửthi với việc mô tả con người mới xã hội chủ nghĩa, mô tả những người anhhùng trên chiến trận để cổ vũ lòng nhiệt thành hiến dâng cho Tổ quốc, hisinh vì nhân dân Sự kiện, con người, hành động, suy nghĩ, phát ngôn, khônggian, thời gian trong tác phẩm phần lớn đều mang một vẻ đẹp hoành tráng, kì
vĩ sao cho xứng tầm với sự nghiệp chung, mà nói như Chế Lan Viên là “vóc
Trang 20nhà thơ phải ngang tầm chiến lũy” Dĩ nhiên, trong tiểu thuyết thời kì nàyvẫn có chỗ cho những cái xấu xa, đê hèn, mất mát, nhưng chủ yếu là dànhcho phía kẻ thù Đối tượng mà tiểu thuyết thời kì này là công nông binh, vìvậy nên yêu cầu viết thế nào đó để phục vụ được “đại chúng”, viết sao cho
“chân, chân, chân, thật, thật, thật” cũng được đặt ra và có sự chi phối đáng kểđến ngòi bút của tác giả Chính vì lẽ này, mặc dù đã có nhiều thành tựu đángchủ ý, nhiều tác phẩm phản ánh được khá chân thật, nhiều khi sắc nét hiệnthực và trạng thái tinh thần của thời đại, hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm
vụ trước lịch sử, song tiểu thuyết giai đoạn này cũng không tránh khỏi một
số hạn chế nhất định Hạn chế dễ thấy nhất là cái nhìn một chiều về conngười đã chi phối nhiều cấp độ của nghệ thuật tiểu thuyết, dẫn đến sự sơ giảnxét trong một chừng mực nào đó
Sau 1975, hết chiến tranh, cuộc sống chuyển sang giai đoạn mới, hiệnthực cuộc sống trở nên bộn bề, phức tạp Trong tình hình chiều kích hiệnthực được mở rộng, phạm vi đề tài cũng trở nên bao quát, phong phú hơn.Nhà văn không còn chỉ chú trọng miêu tả, khắc hoạ chiến tranh và lao độngtập thể, với không gian mang tính chất quảng trường, mà chuyển hướng chú
ý nhiều đến các đề tài thế sự với sự tham dự khá dày đặc các yếu tố đời tư,đời thường Vì thế, chất thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 lại trởnên đậm đặc Cái được nhà văn quan tâm nhất không còn là gương mặtchung, hào khí chung của cộng đồng, dân tộc mà là những gương mặt cụ thểcủa từng số phận cá nhân Tiểu thuyết lại trở về với đặc trưng cơ bản của nó
trong Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến
không chồng của Dương Hướng, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh
Một điều dễ nhận thấy, khi chú trọng vào phản ánh hiện thực sử thivới cái chung trùm lấp, các tác phẩm văn học thời kỳ 1945-1975 đã khôngthể nào đi sâu vào thân phận mỗi cá nhân con người Vì thế, trong hàng loạttác phẩm được đánh giá cao tại thời điểm đó vẫn rất khó để tìm ra một
Trang 21“gương mặt người cụ thể” với nỗi niềm riêng tây của “chính nó” mà chỉ thấynhững “gương mặt công dân” dại diện cho một phẩm chất nào đó của dântộc Anh Trỗi, chị Út Tịch, Lê Mã Lương, chị Sứ, Chính ủy Kinh… là những
“gương mặt công dân” được vẽ bằng nét bút sử thi hào hùng ấy Không điđến tận cùng trong chiều sâu tâm hồn từng cá nhân con người thì văn học sẽgặp nhiều khó khăn trong tham vọng đụng đến được cái chung của toàn nhânloại, khó mà đánh thức được những tầng sâu ý thức và tình cảm trong lòngbạn đọc và công chúng Thực tiễn văn học đã chứng minh điều đó
Trong tư duy nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết, cảm hứng sử thi
chiếm vị trí chủ đạo Từ Xung Kích, Vỡ Bờ của Nguyễn Đình Thi đến Đất
nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh
Châu đều có sự thống nhất một nguồn cảm hứng với kiểu miêu tả nhiều khi
sơ giản như đã nói trên Và từ góc nhìn thể loại, có thể coi trong khoảng thờigian 1930 – 1945, đã có những tổn thất nhất định cho thể loại tiểu thuyết.Thực tế này có nguyên nhân từ điều kiện lịch sử đặc thù và quan niệm chínhthống về chức năng của văn học Hoàn cảnh chiến tranh bắt buộc văn học,trong đó có thể loại tiểu thuyết phải bám sát, thực hiện nhiệm vụ chính trịcủa mình mà ít để ý đến sự đổi mới nghệ thuật theo đặc trưng thể loại.Những năm tiền đổi mới, do chưa thoát khỏi những quán tính của quan niệmthời chiến, từ 1975-1985, tiểu thuyết Việt Nam vẫn nghiêng về bao quát
những sự kiện, hiện thực rộng lớn với cảm hứng sử thi chưa phai nhạt Họ
đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thuỵ), là những tiểu thuyết tiêu biểu.
Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), cùng với sự thay đổi nhiều mặt từ xãhội đến văn học, tiểu thuyết mới thực sự đổi mới về tư duy thể loại Là mộtthể loại văn học tiên phong, tiểu thuyết đi đầu trong việc khai phá hiện thực,một hiện thực bao gồm cả những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống
Trang 22Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đó chính là cốtlõi của sự đổi mới tư duy tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
Nhà văn Nguyễn Khải trong Gặp gỡ cuối năm đã nêu lên quan niệm
của mình về việc khám phá hiện thực: “Tôi thích cái hôm nay, cái ngổnngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những
biến động, những bất ngờ mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây
bút thả sức khai vỡ” Còn Nguyễn Minh Châu, một nhà văn luôn trăn trở và
đi đầu trong sự nghiệp đổi mới văn học cho rằng: “Cái thước đo cuối cùngcủa văn học là sự đóng góp của nhà văn cho cuộc sống hôm nay, là sự cải tạo
nó, xây dựng nên nó, và trước tiên là xây dựng con người” Để làm đượcđiều đó, nhà văn phải “viết sao cho chạm được vào các tầng sâu, vào tận đáysâu những sự thật về quê hương, đất nước, dân tộc mình”, tác phẩm văn họcphải “tiếp giáp lá cà đời sống, xông vào những chốn gai góc thâm u của cuộcđời” Bảo Ninh, một nhà văn có nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mớivăn học thì khẳng định: “Nhà văn, nghề văn có nhiệm vụ nói lên tiếng lòng
của nhân dân đất nước mình” (Báo Văn nghệ số 47, 2007)
Không dừng lại ở cấp độ nhận thức, sự đổi mới của thể loại tiểu thuyếtcòn thể hiện sinh động trong thực tiễn sáng tác Đề tài lịch sử và chiến tranhcách mạng không còn giữ vị trí độc tôn, các tiểu thuyết gia không còn bị tróibuộc bởi chủ nghĩa đề tài, tha hồ lựa chọn cho mình vùng hiện thực để khámphá Và với ưu thế của mình, tiểu thuyết lại quay về với con người riêng tư
để khám phá, để nói lên những điều trước đó chưa nói được hoặc chưa đượcnói Một loạt tiểu thuyết ra đời, phản ánh khá chân thực và đầy đủ mọi ngóc
ngách cuộc sống, mọi ngóc ngách trong tâm hồn con người Đó là Thời xa
vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (tiểu thuyết này còn có tên gọi khác là Thân phận tình yêu, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất dùng một tên gọi là Nỗi buồn
Trang 23chiến tranh), Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo
Các tác phẩm này đã đi sâu vào đời sống cá nhân và những quan hệ thế sựchằng chịt, đa chiều để từ đó đưa ra một cái nhìn nghiêm khắc về tráchnhiệm của con người, trách nhiệm của xã hội trước hiện thực Với tư duynghệ thuật mới mẻ, sự nhìn nhận hiện thực của nhà văn chuyển từ tư duy sửthi sang tư duy tiểu thuyết nhằm thâm nhập sâu vào những miền khác nhaucủa cuộc sống
Trong các tác phẩm tiêu biểu cho sự đổi mới về tư duy thể loại tiểuthuyết vừa kể trên, cuộc sống được nhìn nhận nhiều ở khía cạnh bi kịch của
nó Các nhân vật được mổ xẻ và phơi bày bằng cái nhìn trung thực, táo bạo,thậm chí lạnh lùng của nhà văn Không còn sơ lược, giản đơn, công thức,tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã xác lập cho mình tiêu chí để đánh giá conngười: tiêu chí nhân bản Và để thể hiện được cái nhìn “dân chủ hoá”, tiểuthuyết đã cất lên giọng nói riêng mang đặc trưng thể loại: tiếng nói đa thanh,
đa giọng điệu
Thoát ra khỏi cái nhìn sử thi truyền thống, cảm hứng chung của tiểuthuyết thời kỳ đổi mới là đấu tranh phê phán xã hội nhằm đi đến loại trừ cái
ác, cái xấu xa đang xâm lấn, ngự trị Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều
ma của Nguyễn Khắc Trường phơi bày những mâu thuẫn mới trong xã hội
nông thôn Việt Nam, sự biến chất tai hại của con người ở các làng quê sauchiến tranh, mâu thuẫn giữa các dòng họ… để rồi từ đó có một sự khái quát
về bức tranh hiện thực về nông thôn Thời xa vắng, Bến không chồng, Nỗi
buồn chiến tranh… đều từ bỏ cảm hứng về cái chung, cái cộng đồng mà đi
vào cái riêng, vào bi kịch từng cá nhân cụ thể Nếu bi kịch của Giang Minh
Sài trong Thời xa vắng là suốt đời bị động để người khác sai khiến, suốt đời
phải tuân thủ chấp hành đến mức quên đi sự tồn tại của bản thân mình thì
Trang 24Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh là bi kịch của một tâm hồn bị chiến tranh và
cả cuộc sống thời hậu chiến dồn vào chân tường Chết chóc, bắn giết đã ámảnh Kiên, cả những trơ trẽn thường ngày phơi bày ra trước mắt đã làm chotâm hồn anh biến dạng, méo mó với những vết thương không thể lành
Sự đổi mới một cách khá quyết liệt tư duy tiểu thuyết đã giúp thể loạinày thoát khỏi sự ám ảnh của chủ nghĩa đề tài, hệ thống sự kiện chạy dàitheo trật tự thời gian tuyến tính Điều đó đã đem lại thành tựu mới, để tiểuthuyết ngày càng khẳng định được vị thế của mình Bởi, nói như NguyênNgọc: “Tiểu thuyết không chỉ là thể loại văn học, hơn thế rất nhiều, đó làbước phát triển quan trọng và cơ bản trong tư duy con người về thế giới, làthời đại mới trong tư duy con người” Các tiểu thuyết gia Việt Nam đang cốgắng rút ngắn khoảng cách của văn học nước nhà với nền văn chương thếgiới Ngày càng có nhiều tác phẩm thể nghiệm cách tân táo bạo về hình thức
và bước đầu mang lại hiệu quả nghệ thuật nhất định Các thủ pháp nghệ thuậtnhư kết cấu dòng ý thức, kết cấu phân mảnh, lồng ghép cốt truyện… đều đãxuất hiện trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tóm lại, qua hơn hai thập kỷ phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đã cónhững bước tiến dài, đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Tất cả xuấtphát từ sự thay đổi, đổi mới căn bản về tư duy thể loại Sự đổi mới ấy đã vàđang được các nhà văn tìm tòi thể nghiệm những kỹ thuật hiện đại với mụcđích cuối cùng là tăng cường hiệu quả thẩm mỹ cho tác phẩm Làm đượcđiều đó, các nhà văn đã đưa thể loại tiểu thuyết trở thành thể loại chủ lựctrong loại hình văn xuôi nghệ thuật, đánh dấu sự trưởng thành của một nềnvăn học
1.2 Tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh sau 1986
1.2.1 Một cái nhìn thể hiện khát vọng nhận thức lại chiến tranh
Chiến tranh đã đi qua, nhưng ám ảnh của nó còn mãi đè nặng lên tâmthức người Việt, đặc biệt trong tâm hồn của các nhà văn mặc áo lính Những
Trang 25ám ảnh ấy khiến cho đề tài này vẫn có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với không ítnhà văn, kể cả trong thơ, trong truyện ngắn và tiểu thuyết Và đx có một sốtiểu thuyết thành công với nó.
Trước thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết viết về chiến tranh mang âm hưởnganh hùng ca rõ rệt Khi đất nước đang có chiến tranh, mỗi nhà văn đồng thờiphải là một chiến sĩ, đó là quan điểm đường lối lãnh đạo của Đảng, đồng thờicũng là mệnh lệnh của cuộc sống và tâm huyết, tinh thần tự nguyện của nhàvăn, của văn học Chức năng phục vụ chính trị khiến cho văn học nói chung
và tiểu thuyết nói riêng phải cất giọng hoà chung với bài ca chiến đấu và
chiến thắng của dân tộc Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Dấu chân
người lính của Nguyễn Minh Châu, Hòn đất của Anh Đức là những bản
anh hùng ca chiến trận ca ngợi hào khí của dân tộc trong chiến tranh Trongcác tác phẩm đó, chiến tranh là nơi để con người Việt Nam thể hiện phẩmchất, sức mạnh của mình Các nhân vật được khắc hoạ với đầy đủ đặc điểmcủa những người anh hung trong thời đại ấy Mỗi nhân vật đều là điển hìnhcho những phẩm chất tốt đẹp, tiêu biểu của dân tộc
Theo mạch chảy của cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi, tiểuthuyết về chiến tranh giai đoạn này gieo vào lòng người những hi vọng lớnlao, giúp họ quên đi những gian lao, mất mát, hướng đến những chiến cônghiển hách, đến độc lập, tự do của dân tộc Con người trong tiểu thuyết 1945-
1975 là những con người, mà nói theo cách nói của M.Bakhtin là luôn
“khoác bộ áo xã hội”, luôn trùng khít với địa vị xã hội của mình là “nhữngcon người đơn trị, dễ hiểu đúng với quan niệm con người kiểu sử thi”
Đến thời kỳ đổi mới, chiến tranh được nhận thức lại Điều này có thểđược cắt nghĩa bởi nhiều nguyên nhân Thứ nhất, về mặt xã hội, nhiệm vụchính trị đấu tranh thống nhất đất nước đã hoàn thành, họa ngoại xâm tạmthời đã được đẩy lùi, người ta có thể tĩnh tâm đề cập đến những khía cạnh
mà trước đó chưa có điều kiện nói đến Không còn bị ràng buộc bởi nhiệm
Trang 26vụ chính trị khiến cho người ta có thể có điều kiện để nhìn nhận vấn đều mộtcách khách quan và có chiều sâu hơn Thứ hai, theo quy luật nhận thức, conngười luôn muốn đi đến cùng trong việc nhận thức, khám phá thế giới nhằmgiải đáp cho hàng loạt câu hỏi mà bản thân cuộc sống đặt ra Người ta cầnnhận thức lại vấn đề về nguyên nhân, bản chất hay những cái được, cái mất
mà chiến tranh mang lại cho con người Trong văn học, nhu cầu nhận thứclại chiến tranh cũng đặt ra trực tiếp, gay gắt đối với những người cầm bút.Riêng ở thể loạt tiểu thuyết, khát vọng nhận thức lại chiến tranh thể hiện ởhàng loạt tác phẩm, biểu hiện thành những tiếng nói mới mẻ, sâu sắc
Trong hàng loạt tiểu thuyết về đề tài chiến tranh ra đời sau 1975 có thểtạm chia ra mấy khuynh hướng như sau: khuynh hướng thứ nhất, vẫnnghiêng theo quán tính của dòng văn học sử thi, xây dựng cốt truyện trên cái
nền lịch sử hào sảng của chiến thắng mà Họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang
Thụy)… là những tác phẩm tiêu biểu Khuynh hướng thứ hai là nhìn thẳngvào sự thật và không ngần ngại chỉ ra cái mà người ta thường gọi là “mặt tráicủa tấm huy chương”, đó là những đau đớn, mất mát, những hệ lụy dai dẳng
mà chiến tranh mang đến cho con người, cho xã hội thời hậu chiến Cảmhứng phê phán này có lúc lên đến mức cực đoan, dẫn đến việc phủ nhậnnhững giá trị của quá khứ, hay biểu hiện một cái nhìn hoài nghi về lịch sử.Song, nhìn chung, trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1986 đã cómột cái nhìn mới, thẳng thắn và đầy trách nhiệm trước hiện thực, cả hiệnthực trước mắt và hiện thực trong quá khứ Với Bảo Ninh, chiến tranh khôngchỉ là bản anh hùng ca mà còn là mất mát đau thương “Chiến tranh là cõikhông nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi khôngđàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp
nhất của dòng giống con người”[64;77] Với Chu Lai, chiến tranh đồng
nghĩa với sự huỷ diệt, với cái chết: “ngày nào cũng nhìn thấy người chết,
Trang 27ngày nào cũng chôn người chết mà vẫn chưa đến lượt mình”[49;69] Chính
vì thế, trong hàng chục tiểu thuyết về đề tài chiến tranh ra đời sau 1986, cácnhà văn không ngần ngại khi nói về sự mất mát, về cái chết Đó là cái chết
thảm thương của nhân vật Bảo trong Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) khi đồng đội
bất cẩn để súng cướp cò: “Bảo đang nằm ngửa, đầu ngoẹo lên lưng anh, mắtchỉ còn độc lòng trắng trợn ngược, miệng sùi máu đang thở hắt ra”; đó là cái
chết tức tưởi của trung đoàn trưởng Thành trong Vòng tròn bội bạc (Chu
Lai) bởi viên đạn của đồng đội trong khi anh đang bị thương chỉ vì một hiềm
khích cá nhân trước đó; đó là cái chết của Can trong Nỗi buồn chiến tranh
(Bảo Ninh) trên đường đào ngũ: “Cái xác lở loét, ốm o như xác nhái bị dòng
lũ xô tấp lên một bãi lau lầy lụa Mặt của xác chết quạ rỉa, miệng nhét đầybùn và lá mục, nom cực kỳ tởm”
Với một cái nhìn mới về chiến tranh, các nhà văn đã cho thấy một tưduy tiểu thuyết mới mẻ: đa diện, dân chủ Không hề phủ nhận, không chốnglại cuộc chiến tranh được mô tả trong các tác phẩm trước đó, nhưng cuộc
chiến tranh được miêu tả trong Ăn mày dĩ vãng, Nỗi buồn chiến tranh, Lạc
rừng là một cuộc chiến tranh khác Có cái anh hùng bên cạnh cái hèn nhát,
có chiến thắng bên cạnh chiến bại, mất mát, hi sinh, có cái đẹp bên cạnh cáixấu xa, bỉ ổi Và, nhìn nhận chiến tranh phải thông qua số phận của từng cánhân cụ thể chứ không thể để hào quang của số đông che lấp Chính cái nhìnmới, nhận thức mới ấy là tiền đề cho những thành tựu tiểu thuyết thời kỳ sau
1986 ở Việt Nam
1.2.2 Vấn đề thân phận con người thời hậu chiến
Ở bất cứ một nền văn học nào, con người luôn là đối tượng trung tâm
để nhận thức khám phá Mỗi nền văn học là sản phẩm của một bối cảnh lịch
sử cụ thể vì thế quan niệm về con người gắn liền và chịu sự tác động bởi cácđiều kiện lịch sử, văn hoá xã hội mà nó tồn tại trong đó Vì thế, có thể nói,đổi mới văn học trước hết là sự đổi mới nhận thức về thân phận con người
Trang 28Theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, văn học trước 1975quan tâm đến con người mang tầm vóc lớn lao, vĩ đại Con người xuất hiệntrong tiểu thuyết nói riêng và học nói chung với tư cách những anh hùng củathời đại, có sức mạnh phi thường, phẩm chất tốt đẹp, đủ tư cách đại diện cho
những phẩm chất tốt đẹp của cả dân tộc Anh Núp trong Đất nước đứng lên, Chị Sứ trong Hòn Đất, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng là những con
người như thế Một thời gian dài trong văn học, con người cá nhân hầu nhưvắng bóng, tạm thời lùi về phía sau nhường chỗ cho con người cộng đồngngự trị Hiện tượng “con người đơn trị” đó xuất hiện gắn liền với quan niệmgiản đơn về con người Điều này, một phần do hoàn cảnh lịch sử chi phối,một phần là do sự những hạn chế trong nhận thức thể loại Trong hoàn cảnhđất nước có chiến tranh, con người phải cất giấu phần riêng tư, phần cá nhân
để thực hiện nhiệm vụ công dân của mình Con người trong văn học, do đó,cũng không thể là con người cá nhân Tác phẩm nào đề cập đến nỗi buồn,đến mất mát cá nhân, đến cái xấu trong hàng ngũ cách mạng sẽ bị phê phán,chỉ trích với những quy kết đôi khi chẳng nhẹ nhàng gì Trong tình hình ấy,tác phẩm văn học nhiều khi không dấu được vẻ khô khan, nhàm chán, côngthức nên bớt phần hấp dẫn Số phận nhân vật nhìn chung đều có một quátrình phát triển khá đồng nhất: quá khứ đau thương, căm hận, hiện tại đượcsống cuộc sống mới và không ngừng phấn đấu vì ngày mai tươi sáng Hệ quảcủa những nét tương đồng, đồng nhất ấy đã khiến những tiểu thuyết khôngmang đến được nhiều đóng góp cho sự phát triển của bản thân thể loại này.Khi cuộc sống chuyển sang một trang khác, tiểu thuyết tất yếu phải đổi mới
để tồn tại, để chiếm được vị trí tương xứng với tầm vóc của thể loại trên vănđàn và trong lòng bạn đọc
Văn học sau 1975 đã phá bỏ cái nhìn một chiều đơn giản về con ngườitheo công thức điển hình hoá của đa số các tác phẩm viết theo khuynh hướngchủ nghĩa hiện thực trước đó Vấn đề thân phận con người thời hậu chiến
Trang 29được nhìn nhận một cách nghiêm túc, đa diện Đó là lúc cuộc sống trở lại vớiquy luật bình thường, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đốimặt với một môi trường “lạ lẫm”, đầy biến động thời hậu chiến Bối cảnh đó
đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi quan tâm đến từng số phận
đã không ngần ngại trình bày những cái nhìn mới, những cách khám phá mới
về thân phận con người thời hậu chiến
Mỗi nhà văn có một con đường riêng trong hành trình đi tìm nhân vậtcủa mình, song, nhìn chung, có mấy hướng khám phá về thân phận conngười sau đây: bi kịch của người lính trở về Đó là một bi kịch lớn của đôngđảo những người lính trận thoát khỏi bàn tay của thần chết Trở về với cuộcsống đời thường, họ không thể hoà nhập được Đó là Giang Minh Sài trong
Thời xa vắng của Lê Lựu, là Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,
Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, ông Thuấn trong Tướng về
hưu của Nguyễn Huy Thiệp Không những không hoà nhập được vào cuộc
sống đầy toan tính nhỏ nhen của cuộc sống thời bình, họ còn bị bủa vây, ámảnh bởi ký ức Trở về từ chiến trường, Kiên luôn sống lẫn lộn giữa hai miền
hư thực, sự ám ảnh day dứt khôn nguôi đã trở thành một vết thương trầmtrọng trong tâm hồn anh Giang Minh Sài cũng không may mắn hơn, anh đãđánh mất tất cả trong cuộc sống đời thường Với Sài, tình yêu, hôn nhân,hạnh phúc mong manh như bong bóng xà phòng
Từ bi kịch thứ nhất, đẻ ra bi kịch thứ hai: bi kịch đổ vỡ niềm tin Ròng
rã hàng mấy chục năm chiến tranh, tất cả mọi người đều chung một quyết
Trang 30tâm chiến đấu cho hoà bình, độc lập và tất cả đều có chung một niềm tin sắt
đá ở tương lai: cuộc sống mới nhất định sẽ là tự do, hạnh phúc Nhưng, hiệnthực lại chưa được như những mong ước và niềm tin của họ Xã hội thời hậuchiến bắt đầu xuất hiện những “lỗ thủng” Những quanh co lừa lọc, nhữngtoan tính thấp hèn, vun vén cá nhân có đất để nảy nở Trước hiện thực trầntrụi ấy, niềm tin bắt đầu đổ vỡ, bắt buộc con người phải có một cách nhìnkhác về hiện thực, về cuộc đời Trong các tiểu thuyết về chiến tranh đượcviết sau 1986, các nhà văn Việt Nam chưa bao giờ nguôi trăn trở với thânphận đầy bi kịch của con người thời hậu chiến
Thiếu đi sự chuẩn bị về tinh thần để hòa nhập với cuộc sống đờithường, điều đó tạo nên bi kịch về nỗi cô đơn, lạc loài của người lính thờihậu chiến Tuy nhiên, đấy chỉ là một trong số những bi kịch lớn mà các nhàvăn đã phát hiện và khắc họa trong lúc vẽ nên những bức chân dung đầy ámảnh về những con người đã bước ra khỏi chiến trường Trong tiểu thuyết viết
về chiến tranh sau 1986, các tác giả còn rất chú ý miêu tả vẻ thảm hại củanhững con người ấy bằng những xộc xệch, méo mó về nhân cách Những đặcđiểm tính cách của họ, như là chiến đấu dũng cảm, lòng căm thù, nỗi oánhờn và hành động tấn công, tiêu diệt kẻ thù chính là những điều kiện quantrọng đảm bảo cho chiến thắng của họ trong từng trận đánh, bảo đảm chothắng lợi vĩ đại của những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ thànhquả của cách mạng Tuy nhiên, quen sống riết với môi trường chiến tranh vớinhững phẩm chất ấy, khi trở về, nghiền ngẫm và nhận thức lại, không ítngười lính cảm thấy mình đã trải qua một thời khói lửa với đời sống căngthẳng, với tính cách tàn bạo, man rợ Những hành động tiêu diệt kẻ thù trước
đó, lúc này được họ nhìn nhận như những cuộc chém giết của những kẻ máu
lạnh Chính vì lẽ đó, trong Ăn mày dĩ vãng, trong Nỗi buồn chiến tranh, các
nhân vật, nhất là Hai Hùng, Kiên, luôn sống trong thảm trạng day dứt vớinhững ám ảnh của những cuộc chém giết đẫm máu ấy Những hành động
Trang 31giết người do thù hận cũng được các tác giả miêu tả thật man rợ Ở đấykhông còn cái háo hức, cái oanh liệt của ngày xưa, mà trái lại, nó buồn mộtnỗi buồn tê tái.
Trở trăn, day dứt trong cái nhìn mang chiều sâu của sự suy nghiệm,những người lính trở về từ chiến trường luôn mang mặc cảm của những kẻsát nhân, dẫu rằng đó, theo cách nói của Lại Văn Long, là kẻ sát nhân lươngthiện Bên cạnh đó, lại có những người lính không còn đủ độ tỉnh táo cầnthiết cho một cuộc sống mà mọi quy củ đều phải sắp xếp lại Những conngười ấy méo mó và dị hợm trong căn bệnh tâm thần phân liệt như một thứ
di chứng tiêu biểu của những tháng ngày tham chiến Kiên trong Nỗi buồn
chiến tranh chẳng hạn Anh sống theo lối sống của một dạng người không
phải anh hùng, không phải thổ phỉ, không đúng nghĩa một nghệ sĩ và cũngkhông hẳn đã là tâm thần Mọi cố gắng của Kiên để vớt vát lại cái phần đời
đã ném một cách không tiếc nuối, ném một cách hoàn toàn tự nguyện vàocuộc chiến bằng cách tìm về quá khứ, tìm về với tình yêu và tình người đềutrở nên vô nghĩa Kiên thực sự không nhận được một tín hiệu nào, dù nhỏcho những hi vọng kiếm tìm của mình Vô ích và vô nghĩa, tất cả mọi khátvọng của Kiên về một sự hòa nhập, một sự giải thoát đều bị chặn đứng
Như vậy khi viết về chiến tranh, các tiểu thuyết trong văn học ViệtNam sau 1986 đã mạnh dạn đề xuất một quan niệm mới về con người vànhìn thẳng vào thân phận của họ thời hậu chiến, mà do giới hạn của đề tài và
tư tưởng của tác giả, những con người được khắc họa ở đây chủ yếu vẫn làngười lính Sự thay đổi trong quan niệm ấy sẽ chi phối đến mọi cấp độ, mọibình diện của thể loại mà chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ trong các phần tiếptheo của luận văn
1.2.3 Sự xoá nhoà khoảng cách sử thi
Khoảng cách sử thi, như M.Bakhtin đã nói chỉ rõ, là khoảng cách củacác giá trị đã được xác lập trong quá khứ đối với con người hiện tại, với cái
Trang 32chưa hoàn tất của hôm nay Khoảng cách đó bắt buộc người trần thuật phải
có một cách nhìn, một thái độ thành kính một cách sâu sắc mà không phảiluận bàn đối với đối tượng miêu tả “Thế giới sử thi là hoàn tất đến tận cùngkhông chỉ như một sự kiện có thực trong quá khứ đã lùi xa mà còn là hoàntất cả về ý nghĩa và giá trị của nó: không thể thay đổi, biện giải lại, đánh giálại nó ( ) Chính cái đó làm nên khoảng cách sử thi tuyệt đối”[6;46]
Văn học Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh phát triển theo mộtkhuynh hướng chủ đạo là khuynh hướng sử thi Vì vậy, như một tất yếu,khoảng cách sử thi được xác lập Khoảng cách ấy, chính là sự thừa nhậnkhông cần phải bàn cãi về ý nghĩa, giá trị của cuộc sống Trong thời đại ấy,con người sống là phải lao động, chiến đấu vì đất nước Các nhà văn, khicầm bút lên là đã có được hệ thống giá trị chịu sự quy ước, dù ngấm ngầmhay công khai của xã hội Vì thế, không dễ để tìm thấy một thái độ khác, mộtđánh giá khác về hiện thực
Khoảng cách sử thi thể hiện rõ nhất ở cấp độ hình tượng, hầu hếtnhững hình tượng văn học được xây dựng trong thời kỳ này đã được “cự lyhoá”, để trở thành những biểu tượng cao cả trong sự ngưỡng mộ của mọingười Hình tượng người lính, hình tượng nhân dân, hình tượng người mẹ đều được các nhà văn khắc hoạ với một thái độ trân trọng thành kính Cuộcchiến tranh đã được thần thánh hoá, con người cũng được thần thánh hoá.Không có chỗ cho sự hèn nhát, cá nhân “tầm thường”, tất cả nhường chỗ chocái hào hùng tuyệt đối của dân tộc
Ở cấp độ ngôn ngữ, giọng điệu, khoảng cách sử thi ấy cũng tạo nên
âm hưởng hùng tráng, làm nên hào khí của thời đại Ngôn ngữ trong các tiểuthuyết nói riêng và văn học nói chung của thời kì này là thứ ngôn ngữ mangmàu sắc chính trị với lối nói tô đậm, phóng đại, nhất mực khẳng định, đầyniềm tự hào, lạc quan cách mạng Điều này hoàn toàn có thể thấy được trong
một loạt các tác phẩm viết về chiến tranh như Đất nước đứng lên (Nguyên
Trang 33Ngọc), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Hòn Đất (Anh Đức), Mẫn và tôi (Phan Tứ)
Nhưng, nhìn trên một giác độ khác của vấn đề, khoảng cách sử thi ấy
đã dẫn đến một số hạn chế nhất định của nền văn học thời kỳ chiến tranh nhưchúng tôi đã từng đề cập đến, là đã tạo nên các tác phẩm chưa thực sự đạtđến những ưu trội về nghệ thuật thể hiện, và một một nền văn học phẳng,dẹt, thiếu chiều sâu
Cuộc sống, trong đó có cả chiến tranh, là một mớ hỗn độn, một sựphức tạp, ngổn ngang cần có sự nhìn nhận và đánh giá nhiều chiều, nhiềugóc độ Có chiến thắng và cũng có chiến bại, có anh hùng và có hèn nhát, cóhùng tráng nhưng cũng có cả đau thương, mất mát
Nhận ra những hạn chế đó, tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổimới đã có ý thức xoá nhoà khoảng cách sử thi ấy để tạo nên một diện mạomới cho văn học nước nhà Người có công khai phá đầu tiên trong lĩnh vựcnày là Nguyễn Minh Châu, một nhà văn trưởng thành trong chiến tranh, một
ngòi bút đầy duyên nợ với chiến tranh Truyện ngắn Bức tranh xuất hiện
trong những năm đầu của thời kỳ Đổi mới đã đặt ra những nhận thức mới vềcon người và cuộc sống Nhân vật hoạ sĩ trong tác phẩm đã tự thú: “Trongcon người tôi đây, có cả thiên thần lẫn ác quỷ, rồng phượng lẫn rắn rết”
Một loạt tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và hậu chiến ra đời lần lượtsau đó đã kéo cái “quá khứ tuyệt đối” ấy lại gần để nhìn nhận, xem xét lại.Lịch sử được đặt vào cấp độ thời hiện đại, trong khu vực tiếp xúc trực tiếpcủa tiểu thuyết Cho nên, hình tượng người lính không còn đơn thuần lànhững vị anh hùng, “những Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi” (Tố Hữu) nữa,
mà là những sinh mạng đang từng ngày quằn quại trong mớ bi kịch thời hậu
chiến Thiếu tướng Nguyễn Thuấn, nhân vật chính trong Tướng về hưu của
Nguyễn Huy Thiệp là một ví dụ Vầng hào quang chiến trận không thể giúpông trở lại sống như một con người bình thường trong xã hội thời hậu chiến
Trang 34Đau đớn, dằn vặt như những con người bình thường, bé nhỏ khác trong xãhội Những hình tượng cao đẹp khác cũng được nhìn nhận, đánh giá lại Vàtheo đó, sự ngợi ca, ngưỡng mộ, thành kính cũng dần dần được thay thế bằngthái độ dân chủ hơn, suồng sã đời thường hơn.
Trong tiểu thuyết, sự phá vỡ khoảng cách sử thi được thể hiện ngàycàng quyết liệt dứt khoát trên mọi cấp độ Các tiểu thuyết gia đã đi sâu vàonhững tầng vỉa mới trong tâm hồn con người để khám phá Không để nhânvật đứng xa để ngưỡng mộ, hình tượng người lính được kéo về đặt trần trụigiữa cuộc sống đời thường để soi chiếu, phân tích, đi đến tận cùng sự phứctạp, vi diệu của nó Giang Minh Sài, Hai Hùng, Kiên… là những bức chândung đời thường mà người đọc cảm thấy hết sức gần gũi và chân thật Vềnghệ thuật ngôn từ, các tiểu thuyết gia cũng không ngừng đổi mới Kết cấutác phẩm triển khai một cách linh hoạt, không còn lệ thuộc vào tuyến tínhthời gian như trước Các thủ pháp nghệ thuật được vận dụng một cách linhhoạt, đủ sức khái quát hiện thực - cái hiện thực được nhà văn nung nấunghiền ngẫm theo yêu cầu của thực tiễn sinh động, không phải là hiện thựcđược phản ánh theo yêu cầu quá cụ thể của “đường lối văn nghệ” Sự xoánhoà khoảng cách sử thi đã khiến cho hiện thực được miêu tả trong các tiểuthuyết thời kỳ đổi mới trở nên vô cùng gần gũi với người đọc Độc giả có thểcảm nhận được cuộc sống trong tác phẩm chính là cuộc sống đang diễn raxung quanh mình qua đó tìm thấy những thông điệp nóng hổi về thế giớinhân sinh Điều đó đã góp phần làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết
Việc xóa nhòa khoảng cách sử thi không chỉ giúp nhà văn có cái nhìnsáng rõ nhiều khi mang tinh thần phản biện đối với hiện thực, mà còn giúpmang đến cho tiểu thuyết một sinh khí mới nhìn từ phương diện hình thứcnghệ thuật Nếu tiểu thuyết 1945 - 1975 chủ yếu vẫn lựa chọn phản ánh hiệnthực bằng hình thức của chính bản thân đời sống, thì tiểu thuyết viết về chiếntranh sau 1986 đã tìm đến những cách viết mới lạ, như việc sử dụng yếu tố kì
Trang 35ảo, việc sử dụng thế mạnh của dòng kí ức… Sự vận dụng những yếu tố đómột mặt làm cho nhận thức về cuộc sống được mở rộng chiều kích, mặt khácgiúp tác phẩm có thêm tiếng nói đa thanh, đối thoại, giàu độ mở.
Tóm lại, sự xoá nhoà khoảng cách sử thi đã làm cho thể loại tiểuthuyết trở nên gần gũi với người đọc Ở mọi cấp độ, từ ngôn ngữ, đề tài, nộidung, tiểu thuyết đã “xích gần lại” với bạn đọc, trở thành một thể loại đượccông chúng đón nhận và chờ đợi
1.3 Một số vấn đề về tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh
1.3.1 Nhìn qua hành trình sáng tạo của Trung Trung Đỉnh
Trung Trung Đỉnh còn có tên thật là Phạm Trung Đỉnh, sinh năm 1949tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng Là nhà văn thuộc thế hệ trưởng thành sau 1975,hơn chục năm trở lại đây, Trung Trung Đỉnh đã xây dựng cho mình một sựnghiệp văn chương khá dày dặn, trở thành một nhà văn được nhiều bạn đọcmến mộ Ông từng tốt nghiệp Khoá I trường viết văn Nguyễn Du, từng làmbiên tập cho tạp chí Văn nghệ Quân đội, sau đó là Phó tổng biên tập tuần báoVăn nghệ, hiện nay đang công tác tại Nhà xuấn bản Hội Nhà văn
Tính đến nay, Trung Trung Đỉnh đã có 5 tập truyện ngắn, 5 cuốn tiểu
thuyết đã xuất bản, trong đó tiểu thuyết Lạc rừng đạt hai giải: giải thưởng
của Bộ Quốc phòng và giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt
Nam (1999-2000) Hai tiểu thuyết Chuyện tình ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt
những ngày buồn được Trung tâm sản xuất phim truyền hình - Đài truyền
hình Việt Nam chuyển thể thành phim Ngõ lỗ thủng (29 tập) đã công chiếu
trên VTV1 và được công chúng đón nhận Ghi nhận những đóng góp khôngmệt mỏi của ông, năm 2007, Trung Trung Đỉnh được nhận giải thưởng Nhànước về văn học nghệ thuật
Các tác phẩm đã xuất bản của Trung Trung Đỉnh:
Trang 36Các tập truyện ngắn: Thung lũng Đá Hoa (1979), Người trong cuộc (1980), Đêm nguyệt thực (1982), Những người không chịu thiệt thòi (1982),
Bậc cao thủ (1994).
Tiểu thuyết gồm: Ngược chiều cái chết (1985-1986), Tiễn biệt những
ngày buồn (1988), Chuyện tình ngõ lỗ thủng (1990), Lạc rừng (1998-1999), Sống khó hơn là chết (2007).
Văn xuôi Trung Trung Đỉnh có một giọng điệu riêng khó lẫn lộn: chậmrãi, chắc chắn và có chiều sâu Giọng điệu ấy phù hợp với những đề tài mà nhàvăn có nhiều vốn sống Có thể dễ dàng nhận thấy hai mảng đề tài quen thuộctrong sáng tác của ông đó là: đề tài chiến tranh và đề tài cuộc sống đô thị thờihậu chiến Ở cả hai mảng đề tài lớn ấy, Trung Trung Đỉnh “lặng lẽ cày xới trênnhững điều mình cảm, mình nghĩ” (Phạm Xuân Nguyên)
Đọc văn xuôi Trung Trung Đỉnh, người đọc được tiếp cận với mộtmảng hiện thực lớn của cuộc sống phơi bày dưới ngòi bút sắc sảo Đó là hiệnthực ngổn ngang sau chiến tranh với đầy rẫy mảnh vỡ nhân cách Đối diệnvới cuộc mưu sinh, con người trở nên nhỏ bé, bất lực đến thảm hại Và trêncái nền cuộc sống hiện tại, quá khứ chiến tranh được đan xen như nhữngthước phim của ký ức đủ để soi chiếu nhiều góc cạnh trong tâm hồn nhânvật Trong cuộc hành trình giữa hai bờ hiện thực và ký ức ấy, người viết có
cơ hội nhìn nhận lại mình, nhận thức lại những giá trị của cuộc sống
Không phải ngẫu nhiên mà Phạm Xuân Nguyên lại cho rằng Trung
Trung Đỉnh là người báo động “lỗ thủng”! Trong Chuyện tình ngõ lỗ thủng,
Sống khó hơn là chết, Trung Trung Đỉnh muốn đi tìm một lời giải cho hiện
tượng tha hoá của nhân cách con người trong hoàn cảnh cuộc sống mới.Dưới ngòi bút nhà văn, thế giới nội tâm của nhân vật hiện lên vô cùng phongphú, từ tiềm thức, vô thức đến sự biến chuyển của tư tưởng, nhận thức Cóthế nói, Trung Trung Đỉnh đã sớm có ý thức đưa ra những cách nhìn mới vềthân phận con người Trong thế giới nhân vật của ông, người đọc bắt gặp đủ
Trang 37các thành phần, từ trí thức đến lính giải ngũ, người lao động tất cả đangquay quắt trong có chế thị trường, đối mặt với được mất, thành bại mỗi ngày.Trong hoàn cảnh đó, con người thật trong mỗi con người mới hiện hình,đúng bản chất của nó.
Trong sáng tác của Trung Trung Đỉnh, nhân vật thường được bắt đầumiêu tả từ thì hiện tại, cái hiện tại còn dang dở hôm nay Và từ đó, bằng cácthủ pháp khác nhau, nhân vật có thể được kéo về với quá khứ - thường là quákhứ chiến tranh chưa xa, chưa thể nguôi ngoai Trong hầu hết các tiểu thuyếtcủa ông, nhân vật đều được kéo đi kéo về trên cái trục quen thuộc hiện tại -quá khứ ấy Vì thế, sáng tác của ông giàu chất suy tư, chiêm nghiệm Ôngtừng tâm sự: “Toàn bộ những tác phẩm của tôi chủ yếu viết bằng ký ức, hưcấu từ ký ức Những ký ức Tây nguyên và cả những ký ức tuổi thơ ở quêhương” [31]
Có thể nói, sáng tác của Trung Trung Đỉnh đã động chạm đến hầu hếtnhững vấn đề còn nhức nhối trong xã hội hôm nay Qua đó, tác giả đặt ra vấn
đề nhân cách con người trong một môi trường mới Ông không ngần ngạiphơi bày những thói xấu thảm hại của bọn trí thức mới Đó là nhân vật Ngô
trong Sống khó hơn là chết “khi có giặc thì chúng nó lủi vào xó tối, lặn
không sủi tăm và những chức vụ hờ, để chờ cơ là hiện nguyên hình, dạy dỗanh em, phán xét người này người nọ” [17;390] Đó là tay đoàn trưởng văn
công trong Ngược chiều cái chết “chuyên đẩy anh chị em tới những chỗ khó
khăn ác liệt, còn hắn thì kiếm cớ ngồi thu mình sau cái chức tước chẳng cầnchuyên môn, chẳng cần tài năng gì cả” [17;214] Đó là ông tiến sĩ trong
Chuyện tình ngõ lỗ thủng “chưa bao giờ viết được bài báo cho ra bài báo,
thậm chí câu chữ cũng chưa chuẩn” [17;27] Từ những nhân vật đó, TrungTrung Đỉnh muốn khái quát về một căn bệnh trầm trọng của xã hội hôm nay:đạo đức giả! Vì thế, sáng tác của ông có khả năng khái quát cao về hiện thực,giúp người đọc có thái độ đúng đắn đối với hiện thực ấy
Trang 381.3.2 Một cây bút nhiều duyên nợ với Tây nguyên
Nói đến đóng góp của Trung Trung Đỉnh, không thể không nói đếnđặc sắc về đề tài Tây nguyên trong sáng tác của ông Tây nguyên chính làmảnh đất mà nhà văn đã gắn bó suốt những năm dài chống Mỹ Ông đãsống, chiến đấu cùng đồng bào Và, như một lẽ tất yếu, cái vốn sống chiếntrường ấy in đậm dấu ấn trong hầu hết các tác phẩm Vì thế, nhiều nhànghiên cứu đã xếp Trung Trung Đỉnh vào hàng ngũ các nhà văn tiêu biểu vềTây nguyên sau Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành
Hầu hết trong các sáng tác của Trung Trung Đỉnh đều xuất hiện khônggian Tây nguyên của những năm tháng chiến tranh chống Mỹ Đúng như TS.Lưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Tuy sinh trưởng ở đồng bằng Bắc bộ nhưngcuộc đời quân ngũ gắn bó chặt chẽ với chiến trường Tây nguyên, quê hươngthứ hai này đã trở thành nguồn cảm hứng cho hàng loạt sáng tác của TrungTrung Đỉnh”
Tây nguyên trong sáng tác của Trung Trung Đỉnh không chỉ là những
địa danh xa xôi, rùng rợn như Hồ Cá Sấu, Truông Gọi Hồn trong Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh mà sâu hơn, nhà văn như đã đụng đến được, lột tả
thành công hồn vía, bản sắc riêng của núi rừng “Đâu đó rất xa như có tiếng
ai hát Giọng hát êm đến nỗi, tôi tưởng như mình được bay lên Đầu tôi đãgối lên đùi người đàn bà Chị ta đang thổi đinh-yơng Chị kia nằm chống taylên má hát Đinh - yơng là nhạc cụ chỉ dành riêng cho đàn bà con gái, saunày tôi mới biết Đó là một chùm ống nứa được bó kết lại giống như cáikhèn Người đàn bà ngồi hơi nghiêng, đầu lắc lắc thổi Âm thanh bập bùngthoáng nhẹ như lời tâm sự phát ra từ tít sâu trong tâm tưởng con người Nórung lên, chập chờn phía sau giọng hát rất êm với giai điệu mềm đến naolòng” [19;20] Với những khung cảnh chỉ có thể bắt gặp trong các sử thi củaTây nguyên hoang dã mà giàu có muôn phần: “Con trai con gái trộn lẫn vàonhau Ai ưng uống nữa thì cứ ôm lấy ghè rượu mà uống Ai ưng múa hát với
Trang 39ai thì thả sức đưa đẩy, mời chào, lôi kéo Còn ai thích đùa giỡn thì cứ đùagiỡn”[19;122].
Với Tây nguyên, Trung Trung Đỉnh đã có một sự gắn bó máu thịt.Dưới ngòi bút của ông, không gian văn hoá Tây nguyên hiện lên đậm đà bảnsắc Không có vốn sống, không có sự gắn bó, khó mà phát hiện ra đượcnhững vẻ đẹp vốn tiềm ẩn của vùng đất hoang dã này Dù hoàn cảnh chiếntranh, mùa lễ hội ở đây vẫn “có tiếng chinh chiêng chập chờn cùng tiếng đànTơrưng, tiếng đàn Goong rạo rực đâu đó Trên bãi rộng của dân làng một tốpthanh niên đang tập phóng lao, tập múa khiên và tập đi cà kheo” [19;137]
“Nhà rông được trang trí bằng những cây cột lớn với những chùm tua ruanhiều màu sắc rực rỡ Một dây rượu cần được xếp đều nhau theo chiều dọcngôi nhà Hai bên trải chiếu hoa, thứ chiếu được đan bằng lá dứa dại rất côngphu”[19;141]
Trung Trung Đỉnh cũng dành khá nhiều trang viết để phản ánh vẻ đẹpcủa con người Tây nguyên trong chiến tranh Cuộc chiến đấu của đồng bàoTây nguyên diễn ra một cách lạ lùng, bất ngờ nhưng cũng rất hợp lí: “Chiếntranh đối với họ là công việc hàng ngày Họ quen chịu đựng khó khăn, giankhổ một cách bản năng nhưng thực ra rất có ý thức Cái ý thức ấy vô cùnggiản đơn và dễ hiểu rằng, muốn tồn tại thì phải nắm được địch tình Cần thìđánh, không cần thì chạy trốn Mà hình như chạy trốn là chiến thuật sắc sảonhất, có nhiều kinh nghiệm nhất của họ” [19;73] Trong hoàn cảnh chiếntranh, mỗi thành viên trong cộng đồng đều cố gắng làm tròn phận sự củamình một cách lặng lẽ, chắc chắn Qua cuộc chiến tranh ấy, hình tượng conngười Tây nguyên hiện lên với đầy đủ vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng Đó, làgià Phới, linh hồn, sức sống của làng Đê Chơ Rang, của cộng đồng ngườiBana, đó là du kích Bin “chưa một ngày ngồi trên ghế nhà trường” nhưngchiến đấu hết sức ngoan cường, mưu trí, đó là Yơng, Miết, Bin vừa đánh
Mỹ vừa sản xuất, bảo vệ buôn làng Cái hồn nhiên, chất phác vừa hết sức
Trang 40nghiêm trang kỷ luật của Bin, Miết cũng chính là tinh thần, thái độ của đồngbào Tây nguyên trong cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm Đây là suynghĩ của Bin - của con người Tây nguyên về cách mạng: “làm cách mạngkhông phải bình thường đâu” Suy nghĩ chân thành, tự nhiên và hết sức lạcquan trong đời thường: “và cứ thế, cậu vừa đi vừa hát, cái bài hát kỳ lạ manglời “con Kinh” dựa theo một làn điệu dân ca Banar Nó vừa chất chứa mộtnỗi niềm thật cay đắng, chán chường, lại vừa hóm hỉnh, khôi hài “tanhoang du kích tan hoang ờ tan hoang Bin hát say sưa” [19;47].
Trong từng trang viết, Trung Trung Đỉnh đều muốn cố gắng cắt nghĩamột điều gì đó, một hiểu biết nào đó về Tây nguyên với một tình cảm ngợi
ca chân thành Đọc các sáng tác của ông, người đọc được biết thêm, hiểuthêm về bản sắc văn hoá các dân tộc Tây nguyên Từ câu nói ngộ nghĩnh củaBin: “Anh đã bắt vợ chưa”, hay cách diễn đạt mộc mạc: “Biết lâu, biết mau.Biết sống, biết chết” [19;34], đến quan niệm độc đáo về vẻ đẹp của ngườiphụ nữ: “khi còn trẻ, nhất là khi chưa có chồng, vẻ đẹp cơ thể của người congái phải được phô ra, chỉ khi có con người ta mới che lại” [19;128]
Viết về đề tài Tây nguyên vẫn là một thử thách đối với nhiều cây bút
“dưới xuôi” Nhiều nhà văn đến và viết về Tây nguyên nhưng không phải aicũng có thể để lại dấu ấn qua từng trang viết Trung Trung Đỉnh là một trongnhững người ít ỏi trụ lại được ở đề tài này và có nhiều trang viết thành công
Trước Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Nguyên Ngọc cũng đã cắm một cột mốc cho văn xuôi Tây nguyên bằng tác phẩm để đời Đất nước đứng lên Với
tài năng và vốn sống dày dặn của mình, Nguyên Ngọc đã xây dựng được mộtbức tranh chân thực về con người và cuộc đấu tranh bảo vệ buôn làng của
người dân Tây nguyên dưới sự dẫn dắt của Đảng Đất nước đứng lên là một
thành tựu xuất sắc được nhà văn viết theo khuynh hướng sử thi rõ rệt Mỗinhân vật trong đó như anh hùng Núp, Liêu… đều có thể đại diện cho nhữngphẩm chất của cộng đồng, dân tộc Cuộc chiến đấu chống Pháp của du kích