Đây có thể xem là cuốn trích lục thơ văn trào phúng cả một quá trình dài đầu tiên của nớc ta, "là công trình su tầm, soạn thảo, trích dẫn rất công phu, trong đó soạn giả cố gắng trình bà
Trang 1Lời cảm ơn.
Luận văn này đợc hoàn thành là nhờ sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy giáo
h-ớng dẫn TS Biện Minh Điền, thầy giáo phản biện Lê Văn Tùng cùng với sự giúp
đỡ nhiệt tình của quý thầy cô giáo khoa Ngữ Văn - trờng Đại học Vinh.
Qua đây tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến thầy giáo ỡng dẫn, thầy giáo phản biện và tất cả quý thầy cô giáo trong khoa
h-Mặc dù đã cố gắng nhiều nhng vì thời gian và nguồn tài liệu có hạn, hơn nữalần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứu khoa học nên luận văn cọn nhiều thiếusót Chính vì vậy tôi kính mong đợc sự quan tâm, góp ý của quý thầy cô giáo
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi ,giới hạn của đề tài 6
Chơng 1 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX
phát triển với diện mạo mới.
1.1 Cơ sở Xã hội-thẩm mỹ của thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX 91.2 Bức tranh chung về thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX 19
Chơng 2 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX
tập trung huớng về đối tợng khách thểvới nội dung phê phán
mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.
Trang 22.1 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX tập trung
2.2 Nội dung phê phán mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc
Chơng 3 Nghệ thuật châm biếm, đả kích của thơ trào phúng
XX (1900 - 1930), thơ trào phúng mới thực sự phát triển mạnh ở diện rộng Thế
nh-ng, thơ trào phúng đầu thế kỷ XX còn ít đợc chú ý nghiên cứu
Trang 31.2 Giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX là giai đoạn giao thời có vị trí khá đặcbiệt trong lịch sử văn học dân tộc, thơ trào phúng mới thực sự phát triển thành dònglớn, góp phần chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện thựctrong văn học Việt Nam
1.3 Nghiên cứu thơ trào phúng đầu thế kỷ XX nhằm nắm vững nội dung phêphán, nghệ thuật châm biếm đả kích, xác định đóng góp cũng nh hạn chế của thơtrào phúng giai đoạn này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
2.1 Từ trớc cho đến nay đã có một số công trình đi vào nghiên cứu văn họctrào phúng nói chung cũng nh thơ trào phúng nói riêng Đáng ghi nhận trớc hết là
những công trình su tầm, khảo cứu, tiêu biểu nh Văn Tân với "Văn học trào phúng Việt Nam (từ thể kỷ XVIII đến ngày nay)" [18]; Vũ Ngọc Khánh với "Thơ văn trào phúng Việt Nam (từ thế kỷ 13 đến 1945)" [10]; Bùi Quang Huy với "Thơ ca trào phúng Việt Nam " [8] Bên cạnh các công trình su tầm, khảo cứu là những công
trình đi vào nghiên cứu từng tác giả trào phúng cụ thể (chủ yếu ở giai đoạn nửa sauthế kỷ XIX, đặc biệt với những phong cách lớn nh Nguyễn Khuyến, Tú Xơng ).Còn thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX thì thiếu những công trình chuyên biệt
2.2 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX hầu nh cha có công trình nào đisâu nghiên cứu Có chăng nó chỉ xuất hiện ở một số công trình nh là một phầnnghiên cứu trong một công trình nghiên cứu chung
"Thơ văn trào phúng Việt Nam từ thế kỷ 13 đến 1945" do Vũ Ngọc Khánh
biên soạn [10] chỉ điểm vài nét đại lợc về thơ văn trào phúng hiện đại từ đầu thế kỷ
đến 1945 Đây có thể xem là cuốn trích lục thơ văn trào phúng cả một quá trình dài
đầu tiên của nớc ta, "là công trình su tầm, soạn thảo, trích dẫn rất công phu, trong
đó soạn giả cố gắng trình bày một cách sáng sủa với tinh thần thực sự cầu thị" (tựa
của Xích Điểu cho cuốn sách) Mặc dù vậy, cuốn sách cũng có một số hạn chế Cóthể do quá trình su tầm, thu thập tài liệu không đầy đủ mà hầu nh cuốn sách chachú ý đến những tác phẩm viết về kẻ thù cớp nớc Còn có quá nhiều bài khuyếtdanh (không biết đợc tên tác giả) đây là sự thiệt thòi cho lực lợng sáng tác của dòngvăn học trào phúng Việt Nam
Văn Tân trong cuốn "Văn học trào phúng Việt Nam (từ thế kỷ XVIII đến ngày nay)" [18] mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp thơ văn trào phúng
của một số tác giả tiêu biểu
Năm 1996, nhà xuất bản Đồng Nai đã cho ra đời cuốn sách "Thơ ca trào phúng Việt Nam " [8] Cuốn sách có đa ra một số điểm khái quát về thơ trào phúng,
Trang 4điểm qua tiếng cời đa dạng, phong phú và rộn rã của ca dao, dân ca Nhng việc sutầm, giới thiệu về tác giả, tác phẩm cha đầy đủ, mới chỉ ở mức sơ lợc qua về một sốtác giả tiêu biểu.
Năm 1988, xuất hiện cuốn sách "Văn học Việt Nam 1900 - 1930" của Trần
Đình Hợu và Lê Chí Dũng [7], có thể xem đây là công trình nghiên cứu công phu
về giai đoạn văn học giao thời trong lịch sử văn học dân tộc Trần Đình Hợu và LêChí Dũng đã khái quát đợc đặc điểm, tình hình chính trị, xã hội, văn học của giai
đoạn 30 năm đầu thế kỷ, trong đó đặc biệt, thơ trào phúng đã đợc nhìn nhận nh một
đối tợng riêng Lần đầu tiên thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX đợc nghiên cứu
tơng đối công phu Tuy nhiên, trong "Văn học Việt Nam 1900 - 1930", thơ trào
phúng mới chỉ đợc đề cập đến trong chơng năm và nó mới chỉ là một trong nhữngvấn đề đợc đa ra trình bày trong vòng 10 đến 15 trang Công của hai nhà nghiên cứurất đáng đợc ghi nhận Họ đã chỉ ra điều kiện phát triển mới của thơ trào phúng;Nội dung đả kích phê phán xã hội; Thơ trào phúng thành công cụ đấu tranh chínhtrị và chuẩn bị cho văn học hiện thực ở giai đoạn sau Tuy vậy, thơ trào phúng 30năm đầu thế kỷ XX đợc đề cập trong công trình này cũng chỉ dừng lại ở mức độgiới thiệu với t cách là những trang giáo trình cho sinh viên đại học, các tác giả cha
có dịp đi sâu nghiên cứu nó với t cách là vấn đề chuyên biệt
2.3 Chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn nó là công trình mang tínhchuyên biệt, đi sâu tìm hiểu đặc điểm thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX, từ đóxác định vị trí, vai trò, ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của văn học dân tộc
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài:
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu mà chúng tôi xác định ở đây là các tác giả, tác phẩmthuộc thơ ca trào phúng Việt Nam đầu thế kỷ XX (trớc 1932)
3.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn đề tài.
Đề tài này chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các tác giả thơ trào phúng
30 năm đầu thế kỷ XX, tuy nhiên có mở rộng sự đối chiếu, so sánh với những hiệntợng văn học khác trong giai đoạn văn học trớc và sau nó
Khảo sát các hiện tợng thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX, chúng tôi dựa
vào các văn bản t liệu: "Thơ ca trào phúng Việt Nam " của Bùi Quang Huy [8];
"Thơ văn trào phúng Việt Nam từ thế kỷ 13 đến 1945" của Vũ Ngọc Khánh [10];
"Văn học trào phúng Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến nay" của Văn Tân [18].
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Phác thảo diện mạo thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX:
Trang 5Tìm hiểu, xác lập cơ sở xã hội - thẩm mỹ của thơ trào phúng giai đoạn này
4.2 Phân tích, xác định đặc điểm thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX trên phơng diện đối tợng trào phúng và nội dung trào phúng:
Từ việc phân tích những hiện tờng trào phúng cụ thể, đi đến xác định đặc
điểm loại hình (tác giả, tác phẩm) của chúng
4.3 Phân tích, xác định đặc sắc và hạn chế của thơ trào phúng 30 năm
đầu thế kỷ XX trên phơng diện nghệ thuật trào phúng:
Cuối cùng rút ra một số kết luận về vai trò, vị trí của thơ trào phúng 30 năm
đầu thế kỷ XX trong lịch sử thơ ca trào phúng nói riêng và lịch sử văn học nóichung
5 Phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn chúng tôi có mục đích tìm hiểu đặc điểm thơ trào phúng 30 năm
đầu thế kỷ XX, do đó để giải quyết vấn đề, chúng tôi sử dụng các phơng phápnghiên cứu sau: Khảo sát, thống kê phân tích, so sánh loại hình, hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc luận văn.
6.1 Đóng góp:
Có thể xem luận văn là công trình chuyên biệt đi sâu khảo sát, nghiên cứu cótính hệ thống và toàn diện về thơ trào phúng đầu thế kỷ XX, tìm ra những đặc trngcơ bản về cả hình thức và nội dung của nó Hy vọng, công trình nhỏ này góp phầnvào việc khám phá, tìm hiểu những đặc sắc của thơ trào phúng đầu thế kỷ XX Kếtquả của luận văn cũng có thể sẽ đợc vận dụng vào tham khảo, giảng dạy văn học ởnhà trờng phổ thông
6.2 Cấu trúc luận văn:
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn đợc triển khai trong 3 chơng.
Chơng 1: Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX phát triển mạnh với
diện mạo mới
Chơng 2: Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX tập trung hớng về
đối tợng khách thể với nội dung phê phán mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc
Chơng 3: Nghệ thuật châm biếm, đả kích của thơ trào phúng 30 năm
đầu thế kỷ XX
Cuối cùng là T liệu tham khảo.
Trang 6Chơng 1 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX phát triển mạnh với diện mạo mới.
1.1 Cơ sở xã hội - thẩm mỹ của thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX.
Đời sống xã hội với những mối quan hệ chằng chéo phức tạp, cùng nhữngbiến động luôn luôn xảy ra trong lịch sử mỗi một dân tộc, chính là nguồn cảmhứng, là chất liệu dồi dào cho văn học Nhà văn qua tác phẩm văn học bộc lộ t tởng,tình cảm của riêng bản thân mình hay đại diện cho tiếng nói của một tầng lớp, giaicấp nào đó
Đất nớc ta đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử Qua mỗi thời kỳ, mỗi giai
đoạn lịch sử, văn học có những bớc phát triển mới trên cơ sở kế thừa những thànhtựu trớc đó Văn học viết Việt Nam đợc tính từ thế kỷ X cho đến nay, đây là một
Trang 7khoảng thời gian xảy ra bao biến thiên, thay đổi Đời sống lịch sử, xã hội chứa đựngtrong nó biết bao buồn vui, điều đó cho thấy, tồn tại trong mời thế kỷ văn học ấy làmột kho tàng trào phú dồi dào Đây là cơ sở để tiếp cận, đánh giá thơ trào phúng 30năm đầu thế kỷ XX.
1.1.1 Cảm hứng trào phúng trong lịch sử văn học dân tộc
1.1.1.1.Giới thuyết một số khái niệm.
Khi nói đến trào phúng chúng ta thờng nghĩ ngay đến tiếng cời Điều đó hoàntoàn đúng, trào phúng không tồn tại nếu bản thân chúng không tạo ra tiếng cời,tiếng cời là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống Tiếng cời bật ra khi phát hiện đợcnhững mâu thuẫn đầy thú vị Tiếng cời mang nhiều sắc thái khác nhau: Có tiếng cờiphát ra một cách thoải mái vui vẻ, có tiếng cời mỉa mai khinh bỉ, nhng cũng cótiếng cời chua chát, xót xa Tuy nhiên, không nên đồng nhất trào phúng với tiếngcời
Trong nghiên cứu văn học, vấn đề trào phúng đợc xem là một vấn đề phức tạpcha có đợc ý kiến đánh giá thống nhất ở các nhà nghiên cứu Mỗi một nhà nghiêncứu nêu ra một khái niệm khác nhau cùng nhiều tên gọi khác nhau về vấn đề tràophúng Có ngời xem trào phúng nh một loại hình văn học, có ngời lại cho rằng tràophúng thuộc về thể loại hoặc nh một nguyên tắc phản ánh hiện thực đặc biệt
Theo "Từ điển thuật ngữ văn học": "Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật, trong
đó các yếu tố của tiếng cời mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trơng, hài hớc v v đợc sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội
Trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cời nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học cái hài với các cung bậc hài hớc u mua, châm biếm Văn học trào phúng bao hàm một lĩnh vực rộng lớn với những cung bậc cái hài khác nhau từ những truyện cời, truyện tiếu lâm đến tiểu thuyết (nh "Số đỏ"), từ các vở hài kịch cho đến những bài thơ trào phúng, châm biếm (nh của Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng )" [5; 246].
Tiếng cời đợc tạo ra ở đây không phải là tiếng cời sinh lý đơn thuần, mà làtiếng cời mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Tiếng cời ấy có thể hớng vào đối tợng chủthể hay khách thể, hớng vào những cái xấu, cái đáng chê trách trong xã hội - nhữngcái đã làm cho con ngời giảm đi giá trị của mình về mặt đạo đức và nhân cách Khicon ngời xuống dốc thì xã hội trở nên chậm tiến hơn
Trang 8Văn học trào phúng xác định cho mình một đối tợng rõ ràng đó chính là cáixấu, cái khuyết tật về mặt giá trị đạo đức và nhân cách Còn những khuyết tật vềmặt hình thức của con ngời là những cái đáng để cảm thông, chia sẻ, cần nhận đợc
tấm lòng nhân ái của con ngời hơn là sự cời nhạo: "Nghệ thuật chân chính không dạy ngời ta cời cái mũi bị vẹo mà dạy ngời ta cời một tâm hồn lệch lạc" (GôGôn)
[4;141]
Việc xác định đúng đối tợng phê phán, chĩa mũi nhọn vào nó đã nâng cao giátrị của thơ văn trào phúng lên rất nhiều Nhà văn châm biếm Nga Xatcốp - Sedrin
cho rằng: "Muốn cho văn học châm biếm thực sự trở thành văn châm biếm và đạt
đợc mực đích của nó thì Nó phải hoàn toàn nhận thức đợc một cách rõ ràng đối ợng mà mình chĩa mũi nhọn vào" Tuy nhiên, đối với văn học trào phúng việc xác
t-định đúng đối tợng trào phúng cha hẳn đã tạo ra đợc tiếng cời., mà phải biết pháthiện ra mâu thuẫn chứa đựng trong nó Mâu thuẫn trào phúng chính là những mâuthuẫn giữa nội dung và hình thức, thật và giả, bản chất và hiện tợng Những mâuthuẫn này cho thấy ở đối tợng đợc đề cập đến cái đáng cời, đáng chê trách Tiếng cời
có thể đợc xác định ở những cung bậc khác nhau Có tiếng cời Umua - đây là tiếng cời
ở mức độ phê phán nhẹ nhàng nhằm mục đích mua vui Cũng có tiếng cời đợc nânglên ở mức độ cao hơn đó là châm biếm, đả kích
"Thơ trào phúng là một dạng trữ tình đặc biệt, trong đó tác giả thể hiện tình cảm phủ nhận những điều xấu xa Sức mạnh của thơ trào phúng là lòng căm thù sâu sắc những thói h tật xấu, những con ngời phản diện trong xã hội, xuất phát từ một lý tởng thẩm mỹ đúng đắn, tiến bộ Nếu chỉ xoay quanh ở cách nói hóm hỉnh, cách chơi chữ đùa vui thì thơ trào phúng ít có ý nghĩa và không có sức hấp dẫn"
[15;190]
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâmtrạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, có nhịp
điệu Nếu chia một cách tơng đối, có thể thấy thơ bao gồm trữ tình và trào phúng.Nhng thuộc về trào phúng hay trữ tình thì thơ luôn là sự biểu hiện cảm xúc, t tởng,tình cảm của nhà thơ Trong quá trình xuất hiện của văn học, thơ là hình thái xuấthiện đầu tiên Vì thế, dễ dàng nhận thấy rằng thơ trào phúng là mảng chiếm khối l -ợng lớn và có vị trí quan trọng trong văn học nói chung cũng nh trong văn học tràophúng nói riêng
Thơ trào phúng hay toàn bộ văn học trào phúng đều là "Cái cời hệ trọng và sâu sắc , nó là cái cời đào sâu và đối tợng, buộc nó phải bộc lộ ra những gì, nếu
Trang 9thiếu một sức mạnh xuyên thấm qua nó, thì nó sẽ trôi tuột đi và những điều nhỏ nhặt và trống rỗng sẽ làm cho ngời ta kinh sợ" (GôGôn) [14; 173].
1.1.1.2 Cảm hứng trào phúng trong văn học trung đại.
Văn thơ trào phúng xuất hiện trong văn học Việt Nam từ rất sớm, điều đó bắtnguồn từ tình hình chính trị, văn hoá, xã hội của nớc ta Văn học trào phúng ViệtNam có nguồn gốc từ lâu đời, ngay trong văn học dân gian (tục ngữ, ca dao, truyệntiếu lâm, ngũ ngôn ) đã xuất hiện tiếng cời trào phúng Trong suốt 10 thế kỷ vănhọc viết (từ thế kỷ X cho đến thế kỷ XX) dân tộc ta có đợc một kho tàng trào phung
đáng kể Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XX trở về trớc đã trải qua bao cuộc biến thiên,thăng trầm của lịch sử Xã hội chất chứa trong nó rất nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫngiữa dân tộc và ngoại xâm, phong kiến và nông dân, mâu thuẫn trong nội bộ tầnglớp thống trị, bị trị Đây chính là nguồn cảm hứng cho thơ văn trào phúng xuấthiện
Suốt chiều dài của lịch sử đã xẩy ra biết bao sự đổi thay, nó đợc đánh dấu bởi
sự thay đổi của các vơng triều khác nhau Mỗi một vơng triều dù tồn tại lâu dài haytrong thời gian ngắn cũng đều để lại những biến động lớn cho xã hội Khi nhắc đếnthơ văn trào phúng và sự ảnh hởng của lịch sử đối với nó, Các Mác từng nêu ra luận
điểm: "Lịch sử hành động triệt để , và khi nó muốn đa hình thái đã già cỗi của cuộc sống đến huyệt, thì nó trải qua nhiều giai đoạn Giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử toàn thế giới là tấnhài kịch của nó Vì sao lịch sử lại diễn theo tiến trình nh thế? Điều đó là cần để cho loài ngời rời bỏ quá khứ một cách vui vẻ " [2;
245 - 246]
Văn học trào phúng đã làm công việc tiễn đa quá khứ bằng một cách vui vẻ,tuy nhiên đó không hẳn là tiếng cời đơn thuần mà ẩn chứa trong đó bao suy nghĩ,bao nhiêu sự đánh giá, nhận xét, có khi là sự đau đớn, chua xót đối với cuộc đời.Việc làm đó là công việc rất nghiêm túc của các tác giả trào phúng trong tiến trìnhphát triển của xã hội, đó chính là một công việc tích cực
Văn học trung đại Việt Nam ngay từ giai đoạn đầu đã xuất hiện những tác giả
có cái nhìn trào phúng Điều này dễ dàng nhận thấy trong một số tác giả nh NguyễnTrãi, Hội Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhìn vào toàn bộ sự nghiệp thơ văn của
Nguyễn Trãi, rõ nhất là trong hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm của ông ("Quốc âm thi tập","ức Trai thi tập"), không thể xếp hay đánh giá một bài thơ nào thuộc về thơ
trào phúng Nhng trong thơ ông không hoàn toàn không có nụ cời ẩn sâu trong đó
Ví dụ nh trong bài "Mèo" (trích "Quốc âm thi tập"), nhà thơ cho hình ảnh tầng lớp
quan lại thấp thoáng hiện lên thiếu sự trong sạch Hay trong thơ Nguyễn Bỉnh
Trang 10Khiêm, bài "Tăng thử" đã mợn chuyện phá hoại của chuột để chỉ bọn tham quan vô
lại:
Thị triều tứ nhĩ thi,
Ô diên trách nhĩ nhục (ỷ thành, xã làm càn thần dân đều hằn học) Bài thơ "Đề tranh Giáng Kiều" của Ngô Ngọc Du nhằm đả kích cô Tiên ở
chùa Ngọc Hồ và chùa Bích Câu:
Mạn tơng phật ngữ vi tình thoại Câu dẫn si lang hựu quốc quân (Mợn lời phật làm lời ong bớm Cám dỗ chàng si với quốc quân)
Từ thế kỷ XVI trở đi, văn học trào phúng ngày càng có sự phát triển mạnh
mẽ Đặc biệt đến thế kỷ XVIII đến XIX xuất hiện những phong cách trào phúng lớn
nh Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ Hồ Xuân Hơng với những bài thơ Nôm
truyền tụng nh: "Nhắn phờng công tử dốt", "Vịnh cái quạt", "Giễu s" thể hiện sự
châm biếm, đả kích, sự giễu cợt sắc sảo của mình Nhà thơ Nguyễn Công Trứ với
ơn rộng trong mọi ngóc ngách của đời sống:
Tiếng xóng xảnh đầy trong trời đất Thần cũng thông huống nữa là ai.
Mặc dù thơ trào phúng trong những thế kỷ này đã có sự phát triển nhng phải
đến nửa sau thế kỷ XIX, thơ trào phúng mới thực sự phát triển thành một dòng
Với một cái nhìn tổng quan có thể thấy, thơ văn từ thế kỷ XIX trở về trớc ờng là sáng tác của các nhà nho (đây là lực lợng sáng tác chủ yếu) Các nhà nhochân chính, có tấm lòng hớng về quần chúng nhân dân đau khổ, họ đứng trớc xã hội
th-đầy áp bức bất công đã cất lên tiếng nói tuy kín đáo nhng đánh đúng đối tợng.Tiếng cời thấm đòn rất đau Tuy nhiên, thời trung đại, chữ Hán đợc xem là chữchính thống trong học hành, thi cử, sáng tác cho nên nó là một trong những nguyênnhân dẫn đến hạn chế của thơ văn trào phúng thời kỳ này Theo Vũ Ngọc Khánh:
" Những tác phẩm trào phúng bằng Hán văn, kể cả những "đại tự" trên các hoành
Trang 11phi vẫn đòi hỏi sự tìm tòi xa xôi, hóc hiểm quá Thành thử rất có thể đã có những bài trào phúng rất mạnh mẽ đã bị lãng quên đi trong thời gian, vì cái thâm thuý nhà nho đã đẩy quần chúng vào những kho lu trữ thâm nghiêm, ít ai buồn lục đến!"
[10;37]
Bớc sang nửa sau thế kỷ XIX, văn học trào phúng có bớc chuyển mình pháttriển thật sự mạnh mẽ Kế thừa những thành tựu văn học của các giai đoạn trớc,cộng với hoàn cảnh lịch sử - xã hội của giai đoạn này, một dòng thơ trào phúng đặcsắc xuất hiện
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta, tiếng súng đó khôngnhững báo hiệu cuộc chiến bắt đầu mà nó còn báo hiệu cho những chuyển biến dữdội trong xã hội Cuối thế kỷ XIX - đầu XX, thực dân Pháp tiến hành những cuộckhai thác thuộc địa, bóc lột vơ vét sức lao động và tài nguyên thiên nhiên nớc ta,chúng đồng thời tiến hành chính sách văn hoá nô dịch Trớc tình hình phức tạp ấy,quần chúng nhân dân đứng lên tiến hành những cuộc đấu trang chống xâm lợc Nh-
ng những cuộc đấu tranh đó cha đạt đợc kết quả, lúc này nớc ta bị biến thành một
n-ớc thực dân nửa phong kiến Quang cảnh xã hội trở nên lố lăng, đảo điên khi đạo
đức phong kiến dần dần bị phá vỡ Trong tình hình đó, văn học cuối thế kỷ XIXphát triển theo nhiều khuynh hớng khác nhau, trong đó khuynh hớng hiện thực tràophúng - một khuynh hớng lớn bên cạnh khuynh hớng yêu nớc chống Pháp
Văn học trào phúng giai đoạn này đã có những điểm mới mẻ về mặt nội dụng
và hình thức trào phúng Đối tợng đả kích lúc này là những mặt xấu của xã hội thựcdân nửa phong kiến, là bộ mặt của bọn tay sai bán nớc Văn học trào phúng pháttriển và trong đó vẫn chứa nội dung yêu nớc nhất định Về nghệ thuật, các nhà thơtrào phúng đều để lại những tác phẩm xuất sắc với phơng pháp trào phúng, ngônngữ, hình ảnh sử dụng độc đáo Điều đặc biệt của thơ trào phúng giai đoạn này là sựkết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố trào phúng và trữ tình, mà tiêu biểu nhất làNguyễn Khuyến và Trần Tế Xơng
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) là nhà thơ viết nhiều về thơ bọn quan lại, ngòibút đả kích, châm biếm của ông thờng kín đáo, thâm trầm Dới con mắt NguyễnKhuyến, hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến buổi đầu với chế độ vua quancủa nó là một trò hề:
Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.
(Lời ngời vợ hát chèo)
Trang 12Thơ Nguyễn Khuyến không chỉ nhằm vào đối tợng khách thể mà còn nhằmvào cả đối tợng chủ thể Hiện tợng tự trào trong thơ ông (cũng nh thơ Tú Xơng) làhiện tợng hết sức độc đáo của thơ trào phúng nửa sau thế kỷ XIX Cũng trong giai
đoạn văn học cuối thế kỷ XIX, cạnh nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xơng xuất hiện
"với nụ cời sắc sảo và độc địa Dới ngòi bút linh hoạt của ông, xã hội thực dân nửa phong kiến giả dối và ngu xuẩn, vừa mới thành lập ở nớc ta, bị bóc trần một cách thảm hại" [16; 765].
Thơ trào phúng của Tú Xơng hết sức đa dạng Có bài cách diễn đạt có vể tràophúng, nhng cảm xúc lại trữ tình; Ngợc lại, có bài cách diễn đạt là trữ tình nhngthực chất lại là trào phúng một cách tinh tế, kín đáo, sâu sắc Khác với nhà thơNguyễn Khuyến - một nhà thơ cùng thời với Tú Xơng, tiếng cời bao giờ cũng thâmtrầm, kín đáo, dù là nhà thơ tự cời mình, hay chế giễu cái xấu xa trong cuộc đời,tiếng cời tự trào của Tú Xơng có khi pha lẫn nớc mắt, khi lại đầy khinh bạc Còn
đối với đối tợng khách thể thì lại là tiếng cời khinh bỉ, đánh thẳng Nghệ thuật tràophúng của nhà thơ Tú Xơng đạt đến đỉnh cao, tiếng cời trong thơ ông là tiếng cờicủa lý trí nhạy bén, và xúc cảm con tim Thơ Tú Xơng ngôn ngữ, hình ảnh giàucảm xúc, cô đọng, sinh động với những lối đánh bất ngờ, tạo tiếng cời độc địa
Nhìn chung, qua hai đại biểu xuất sắc (Nguyễn Khuyến, Tú Xơng) của vănhọc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, ta thấy sự phát triển mạnh thành dòng ở nhữnggiai đoạn văn học về sau
1.1.2 Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX và cơ sở hiện thực của cái hài.
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã hoàn toàn chịu sự kiểm soát của thựcdân Pháp Điều đó đợc đánh dấu bằng sự kiện 1896 Phan Đình Phùng mất, phongtrào Cần Vơng chấm dứt, năm 1987 Pôn Du-Me sang Việt Nam làm toàn quyền
Đông Dơng Lúc này, triều đình phong kiến sụp đổ, ý thức hệ phong kiến bị phá vỡ,cộng thêm vào đó, thực dân Pháp ra sức bóc lột, vơ vét tài nguyên và sức lao độngcủa nhân dân Chúng độc chiếm tất cả mọi điều kiện cơ sở vật chất cũng nh mọimặt về chính trị, kìm hãm sự phát triển của đất nớc ta Mặc dù, lúc này thực dânPháp mở rộng việc giao lu buôn bán với nớc ngoài, nhng lại tạo ra một hàng ràothuế quan chặt chẽ Những chính sách trên đã biến Việt Nam trở thành một nớc phụthuộc
Xã hội Việt Nam giai đoạn trớc khi Pháp xâm lợc là một xã hội phong kiến,con ngời sống trong cộng đồng làng xã có quan hệ mật thiết với nhau, sống vớinhau bằng tình làng nghĩ xóm, bằng tấm lòng chân chất dân quê Trong quan hệ giatộc, thứ bậc tôn nghiêm, anh em họ hàng đùm bọc nhau, sống với nhau đúng với lễ
Trang 13nghi phong kiến Triều đình phong kiến với quyền lực cao nhất tập trung vào tayvua, thống trị xã hội bằng ý thc hệ phong kiến, lễ nghi, đạo lý chặt chẽ.
Thực dân Pháp đặt bộ máy cai trị lên nớc ta xã hội Việt Nam có những thay
đổi rõ rệt Trong xã hội, xuất hiện sự đối lập giữa nông thôn và thành thị Nông thônvới ruộng đất manh mún, với những đình chùa, miếu mạo đậm chất dân gian, cònthành thị là trung tâm của chính trị văn hoá Thành thị cũng chính là nơi thu hútnhiều lớp ngời ở nông thôn ra kiếm sống (do sự phá sản của nông nghiệp), tạo ratầng lớp tiểu t sản nghèo đông đảo Thực dân Pháp đã làm mọi cách tách sự ảnh h-ởng của thân sĩ ra khỏi nông dân Tầng lớp thợng lu cũng thay đổi mạnh, trớc đây là
những ông nghè, ông thám "hèo hoa", "tán tía lọng xanh" thì nay cũng có những
ông quan tham, những học giả "Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn, nhục nhã sang hớng t sản, một hớng t sản kém lành mạnh nhất, què quặt nhất, để lại hậu quả tai hại nhất, nhng điều đó cũng lôi kéo các mặt khác phát triển: Thay
đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành trung tâm kinh tế lớn, dần dần quy tụ nông thôn quanh thành thị "[7;12].
Xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiềuhiện tợng lố bịch khôi hài, những hiện tợng tự phơi bày mâu thuẫn chính nó trong
đời sống Điều này chính là mảnh đất tốt, màu mỡ cho văn học trào phúng khai thác
và phát triển mạnh
Trớc đây (khi cha có sự thống trị của Pháp), xã hội Việt Nam là xã hội có tôn
ti, trật tự, có thế bậc, có quy tắc, lễ giáo chặt chẽ, thì đến nay chính trị đổi thay dẫn
đến sự phá vỡ trật tự xã hội cũ Xã hội t sản mà Việt Nam đang bớc sang chất chứatrong nó đầy rẫy những điều xấu xa, trái tai gai mắt, đó là xã hội chạy theo thế lực
đồng tiền, theo đòi những hởng thụ vật chất tầm thờng của những kẻ có tiền, có
quyền thế: Thói đua đòi học chữ Tây, ăn uống kiểu Tây "ngời đủ hạng ngời, trò đủ trò, đua nhau thanh lịch cũng lắm lối", sống nhà Tây xa rời lối sống chân quê,
giản dị ngày xa Tự điều đó đã phơi bày những điều đáng buồn, đáng cời
Đất nớc mất vào tay quân giặc, đi vào con đờng t sản hoá, con ngời sốngcuộc sống đa dạng, phức tạp hơn với đầy đủ những mối quan hệ Trớc tình hìnhkinh tế, chính trị - xã hội đầy biến động phức tạp nh vậy, nền văn học Việt Namcũng có những thay đổi phù hợp với thời đại Văn học Việt Nam từ thế kỷ XIX trở
về trớc có hai dòng chính: Văn học bác học và văn học bình dân Văn học bác học
là văn học của các nhà nho, của tầng lơp trí thức sáng tác ca ngợi triều đình phongkiến với những cơng thờng đạo lý, ca ngợi thiên nhiên đất nớc, biểu đạt tâm trí của
Trang 14mình Còn văn học bình dân viết về ngời dân lao động với cuộc sống vất vả, nghèohèn, bình dị của họ.
Đến giai đoạn đầu thế kỷ XX, khi xã hội bớc sang giai đoạn thực dân nửaphong kiến, nền văn học thành thị ra đời Lúc này, trong văn học xẩy ra tình trạnghỗn loạn về t tởng và diễn ra cuộc đấu tranh về quan niệm văn học Chính tình trạng
đầy phức tạp nh vậy trong xã hội cũng nh trong văn học là cơ sở để cho việc xuấthiện những mâu thuẫn, đó chính là cơ sở hiện thực rõ ràng nhất, quan trọng nhất đểcái hài có thể đặt nền móng vững chắc phát triển mạnh mẽ
1.1.3 Chủ thể thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX.
Có hiện tợng hài xuất hiện tất yếu phải có kẻ biết cời, phải có chủ thể biếtphát hiện mâu thuẫn, dùng các yếu tố của tiếng cời để tạo nên tiếng cời trong vănhọc Đúng vậy, chủ thể của trào phúng là nhân tố không thể thiếu, là nhân tố quantrọng nhất để tạo ra tiếng cời Việc phát hiện những mâu thuẫn gây cời để sau đóbiểu hiện, diễn đạt lại điều đó thông qua cách nhìn, cách biểu hiện riêng đã tạo nênnhững tác phẩm trào phúng
Các tác giả văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX thuộc nhiều loại hình khácnhau, trong đó có lớp nhà nho, lớp trí thức mới nhng thấm sâu truyền thống tràophúng của dân tộc Họ là những ngời thông minh, nhanh nhẹn, vui cời, họ khôngkhông chấp nhận những điều lố lăng, lố bịch của xã hội đơng thời Từ những điềucảm nhận trớc thực trạng xã hội thực dân nửa phong kiến, từ chính kiến của bảnthân, họ đã chủ động dùng tiếng cời vui làm vũ khí để phê phán hiện thực xã hội Rất đáng chú ý ở trào phúng đầu thế kỷ XX là lớp nhà nho nhng đợc tiếp cận với trithức hiện đại Lớp nhà nho này rất nhanh nhẹn, năng động trong phát hiện các mâuthuẫn ở đời sống Nhiều nhà nho không chấp nhận hiện thực xã hội, họ gặp nhau ởtiếng cời
1.2 Bức tranh chung về thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX.
Văn học trào phúng đã manh nha từ rất sớm trong văn học dân gian cho đếnvăn học trớc thế kỷ XIX, nhng để thực sự phát triển mạnh mẽ thành một dòng riêngthì phải đến những năm bản lề giữa hai thế kỷ XIX và XX Lúc này, sự phát triểnbiểu hiện rõ nét và dễ thấy nhất là sự phát triển cả về số lợng và cả chất lợng (đạt
đến cả chiều rộng và chiều sâu) Thơ trào phúng phá vỡ khuôn khổ của văn chơngnhà nho, nó vợt qua giới hạn phát hiện và biểu lộ tiếng cời trong những chuyện nhỏhẹp của đời sống, những chuyện vặt vãnh Lúc này thơ trào phúng đi vào khái thácnhững vấn đề có ý nghĩa lớn lao, sâu sắc hơn Đó là những vấn đề có ý nghĩa t tởng,chính trị - xã hội sâu sắc mang nội dung phê phán, đấu tranh mạnh mẽ, có mục đích
Trang 15lớn lao hơn trớc Vì thế, tiếng cời trào phúng lúc này sắc bén, đa dạng, khai thácnhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội và đạt hiệu quả phê phán thực sự cótác dụng cao.
Những đặc điểm mới của thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX thể hiệnkhông những ở việc thay đổi đề tài, nội dung, nghệ thuật, mà còn thay đổi ở trongquan niệm nghệ thuật, trong mối quan hệ tác giả với công chúng
So với văn chơng Việt Nam ở những thời kỳ trớc, văn thơ thời kỳ này đãmang những nét mới Từ thế kỷ XIX trở về trớc, văn chơng bao gồm văn chơngbình dân và văn chơng bác học, tồn tại theo hình thức nhất định (ca dao, hò, vè -văn, thơ, phú, lục) phản ánh cuộc sống nhân dân và triều đình phong kiến Giữa haitầng lớp tác giả nhà nho và nông dân còn có sự cách biệt rõ rệt các nhà nho sángtác phục vụ cho triều đình phong kiến, thể hiện tâm, chí, đạo của mình Các tácphẩm lúc này không đi vào quần chúng mà thờng lu truyền trong đối tợng trí thức.Còn văn chơng bình dân, đối tợng sáng tác và tiếp nhận đều là quần chúng nhândân, là văn chơng của nhân dân lao động Văn chơng bình dân là lời ca tiếng hátbộc lộ xúc cảm trong cuộc sống nhân dân, dân dã, trong cảnh lao động sản xuất haytrong hội hè, đình đám, hay những chuyện ngang trái mà họ muốn phê phán Vănchơng bình dân có cái đẹp giản dị, tự nhiên
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân cùng với thơ cayêu nớc cách mạng đã phá bỏ đợc tất cả những điểm ngăn cách ở thơ văn những thế
kỷ trớc Đặc biệt, thơ trào phúng đã đi vào phản ánh tất cả các khía cạnh của xã hội,những gì là mâu thuẫn là xấu xa, phi lý, bất bình trong xã hội, trong giới thị dân,trong môi trờng xô bồ, hỗn loạn của thành thị Trong đó cũng nổi lên những vần thơ
đả kích chế giễu bọn tay sai, bọn thực dân cớp nớc Tiếng cời của các nhà nho lúcnày nổi lên sâu cay hơn, phê phán, đả kích mạnh mẽ hơn nhiều
Chế độ thực dân thiết lập ở nớc ta đồng thời là sự chém giết, đốt phá, cuộcsống của ngời dân trở nên xơ xác, tiêu điều Cùng với điều đó là sự phát giàu, sangcủa bọn tay sai bán nớc, bọn đầu cơ trục lợi Chúng thi nhau leo lên nắm giữ tất cảcác vị trí quan trọng trong xã hội (tri huyện, trị phủ, tổng đốc ), xã hội trở nên đảo
điên Điều này là đề tài cho thơ trào phúng khai thác mạnh
Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX nhằm vào nhiều đối tợng khác nhau,
từ tội theo Tây của các cụ lớn, cho đến các nhà khoa bảng, bọn phản Đảng, mậtthám đến giới quan trờng (Điều này chúng tôi sẽ đi sâu ở chơng 2)
1.2.1 Lực lợng tác giả.
Trang 16Thơ trào phúng đầu thế kỷ XX có nhiều loại hình tác giả khác nhau Nhngnhìn chung, lực lợng nhà nho vẫn là lực lợng sáng tác thơ trào phúng chủ yếu ở vănhọc đầu thế kỷ XX Xuất hiện trong thơ trào phúng thời kỳ này, có các tác giả lànhững nhà nho yêu nớc, những nhà cách mạng nh Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,Vơng Thúc Lơng, Nhì Mỹ, Huỳnh Thúc Kháng
Phan Bội Châu (1867 - 1940) là nhà văn nhà thơ, nhà cách mạng, nhà t tởnglớn Ông sáng tác nhiều, liên tục với nhiệt huyết cách mạng Trong sự nghiệp sángtác văn học đồ sộ của mình, thơ châm biếm trào phúng của Phan Bội Châu mặc dùchỉ là một bộ phận nhỏ, song đã thể hiện đợc tinh thần lạc quan, ung dung tự tại củamột nhà t tởng, của một chí sĩ cách mạng Trong rất nhiều trờng hợp, thơ trào phúngcủa ông đã trở thành một thứ vũ khí lợi hai Có thể nhận thấy ở một số tác phẩm thơ
trào phúng của ông sau đây: Bị giam ở ngục hoả lò tức cảnh (1925); Học chữ Tây (1926); Giễu cô nữ sinh trờng Đồng Khánh, Tiền (1926); Tợng vôi đứng trớc đền sập cửa (in trên báo Tiếng dân, 15/4/1928); Tết tây (1928); Bán mình (Tiếng dân,
15/12/1928)
Phan Châu Trinh (1872 - 1926), tự Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hi Mã,quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phớc, Quảng Nam Thơ văn Phan Châu Trinh canhcánh nỗi lòng u quốc, ái dân, và lòng đau trớc cảnh nớc mất nhà tan Khi bị bắtgiam trong ngục, óc trào lộng đã tạo cho nhà thơ tinh thần lạc quan Di sản thi caPhan Châu Trinh để lại, khá nhiều bài có tính chất tinh nghịch đùa vui Chẳng hạn
nh: Hát bội; Cha đậu ông nghè đã đe hàng tổng; Nớc lụt chó ngồi giàn gác
Vơng Thúc Lơng (1882- 1931), quê làng Kim Liên, xã Chung Cự, huyệnNam Đàn (Nghệ An), thi không đỗ, tham gia phong trào Duy Tân, và bị giặc bắtgiam 5 năm Sau đó ông gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội
Ông có những bài thơ đả kích mạnh, ví dụ nh bài: Cá cạn; Con gà
Nhng nhìn chung, phần lớn các sáng tác thơ trào phúng là của các nhà nho, từnhững nhà nho đỗ đạt ra làm quan, đến những nhà nho dạy học (do không đỗ đạt,hay chán cảnh quan trờng bon chen danh lợi, xô bồ, xấu xa mà từ quan về quê dạyhọc)
Vũ Ngọc Khánh trong Thơ văn trào phúng Việt Nam từ thế kỷ 13 đến 1945,
đã nêu ra vài nét đại lợc về thơ văn trào phúng nhà nho từ cuối thế kỷ XIX đến đầuthế kỷ XX cho thấy: Từ cuộc xâm lăng của ngời Pháp, giới nhà nho của nớc ta đãtrải qua hơn một thời kỳ phân hoá Nhà nho lúc này phân ra 3 lớp rõ rệt: Nhà nhonhng phản lại cốt cách nho phong; Nhà nho có tinh thần đấu tranh, sẵn sàng hiếnthân vì nạn nớc; Lớp nhà nho thứ 3 khá phức tạp ở nhiều hoàn cảnh khác nhau (làm
Trang 17quan nhng khinh bỉ thực dân và tay sai, nhà nho bất đắc chí, nhà nho an phận thủthờng )
ở loại nhà nho thứ nhất, xét về t cách của một nho sỹ thì họ đã đi ngợc lại vớinho phong, họ vứt bỏ danh dự, t cách, để làm tay sai cho giặc, phản bội lại đất nớc.Cũng có những ngời gánh vác trách nhiệm cao cả, đang tâm trong lúc quan trọng
đầu hàng giặc, bỏ trốn Họ không xứng đáng đợc gọi là nhà nho
Lớp nhà nho thứ hai nh đã nêu trên, là những nhà nho có tinh thần yêu nớccao, có chí khí mạnh, tinh thần kiên cờng, họ lăn lộn trong các phong trào để thựchiện sứ mệnh lịch sử Đây là lớp nhà nho trung thành với đất nớc, với nhân dân
Hai lớp nhà nho này tuy ở hai t thế khác biệt nhau, thậm chí đối nghịch nhau,nhng xét về lĩnh vực văn chơng họ đều có chung đặc điểm: Về văn thơ trào phúng,không đạt đến sự phong phú, cha đạt đến chiều sâu của tiếng cời Nhà nho phản lạinho phong thì tiếng cời của họ nếu có cũng chỉ là tiếng cời vô vị, nhạt nhẽo Còn nụcời của các chí sỹ cách mạng là sự đả kích, châm biếm, đánh vào kẻ thù khi họkhông đấu tranh trực diện bằng vũ khí
Lớp nhà nho thứ ba là lực lợng đông đảo với nhiều loại ngời, nhiều hoàn cảnhkhác nhau: làm quan nhng khinh bỉ bọn tay sai bán nớc và thực dân cớp nớc; Nhữngngời sống bất đắc chí; Những nhà nho thất bại trên con đờng công danh trở về sinhsống sau luỹ tre làng, gần gũi với ngời dân lao động, ca ngợi lao động, ca ngợi tinhthần chiến đấu, ca ngợi công cuộc chiến đấu Họ gửi gắm vào thơ trào phúng tất cảtâm t tình cảm của bản thân mình
Dễ dàng nhận thấy nguyên nhân khiến phần lớn các nhà nho ở 30 năm đầuthế kỷ XX tìm đến với thơ trào phúng Có thể khái quát đợc những nguyên nhân cơbản có nguồn gốc xuất phát đều từ thực trạng xã hội đơng thời, trong xã hội thựcdân nửa phong kiến nhố nhăng, điên đảo Đó chính là sự áp bức bóc lột của thựcdân Pháp đợc che đậy dới lốt "khai hoá văn minh" của"nớc mẹ" Triều đình phongkiến trở thành con rối bị giật dây, vua bù nhìn, quan bù nhìn, tất cả đều mục ruỗngnhng lại bao phủ bởi ánh hào quang giả tạo, bởi lớp sơn hào nhoáng Sự mâu thuẫn
đó đợc vạch trần, tạo ra nguồn thi liệu dồi dào, phong phú cho thơ trào phúng Bêncạnh đó xã hội Việt Nam bớc sang thời kỳ t sản hoá chất chứa trong lòng biết bao
điều xấu xa, mọi đạo lý cơng thờng bị bẻ gãy, đảo lộn, con ngời lao theo bao điềunhố nhăng, lao theo ánh hào quang của đồng tiền Xã hội xoay vần theo tiếng xócxách, theo hơi đồng: Cuộc sống hỗn độn nh trái ổi (theo lời Huỳnh Thúc Kháng),
một cuộc sống "lung tung xoèng"(theo lời Nguyễn Đôn Phục) nh vậy, lại cứ tởng
rằng thế là tốt đẹp, đáng yêu! [10; 145]
Trang 18Các nhà nho đã chĩa tiếng cời công phá vào vấn đề này Có thể phân loại(một cách tơng đối) các tác giả trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX ra thành nhữngloại nh sau:
Loại tác giả không chịu hợp tác với Pháp, về nhà dạy học, tiêu biểu nh: PhanVăn Trị (1830 - 1910); Trần Tích Phiên (1870 - 1942); Lê Quang Chiểu; Từ Diễn
Đồng (1866 - 1922)
Các tác giả thi không đỗ, về tham gia dạy học, làm thơ, tiêu biểu nh: Học Lạc(1842 - 1915); Nhữ Quý Thích (1864 - 1942); Phan Điện (1874 - 1945); Song Ng(1890 - 1917)
Các tác giả thi đỗ ra làm quan, rồi bị cách chức nh: Nguyễn Thiện Kế (1858 1917); Tam Xuyên (1860 - 1913)
-Các tác giả thi đỗ nhng không ra làm quan, về làm nghề dạy học, tiêu biểunh: Kép Trà (1873 - 1927)
Có thể thấy phần lớn các tác giả trào phúng đều thuộc loại hình nhà nho nhng
là nhà nho trong môi trờng xã hội t sản (chế độ thực dân nửa phong kiến) với haikhuynh hớng:
- Các tác giả trào phúng chuyên và không chuyên: Lê Quang Chiểu, Lê CơngPhụng, Phan Điện, Vơng Thúc Lơng
- Các tác giả làm thơ trào phúng theo khuynh hớng yêu nớc thể hiện bất bìnhcủa các nhà nho buổi hạ màn: một số tác giả khuyết danh, Phan Chu Trinh, PhanBội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Nhì Mỹ, Đồ Chu, Song Ng, Hoàng
Đức Hậu, Quả Ngôn
1.2.2 Về tác phẩm:
Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX nh đã nói ở trên có khối lợng tácphẩm đồ sộ, phong phú Phần lớn các tác phẩm thơ trào phúng đều đánh vào nhữngtên bán nớc giới quan trờng, xã hội nhố nhăng, lúc này thơ trào phúng trở thànhcông cụ đấu tranh chính trị
Thơ trào phúng đả kích bọn đế quốc, vua quan và các tệ nạn xã hội mà chúng
tôi dựa vào xem xét trong "Văn học trào phúng Việt Nam từ thế kỷ 13 đến 1945"
(do Vũ Ngọc Khánh su tầm biên soạn) có một số bài cha xác định chính xác năm ra
đời nhng dựa trên một số sự kiện lịch sử chúng tôi xếp vào khoảng thời gian trớcnăm 1930 Ví dụ nh:
Đề ảnh một ngời - Đẩu Nam Theo chú giải trong sách vào khoảng 1922 tên
vua Khải Định làm lễ thọ 40 tuổi Một số bọn bồi bút làm thơ ca ngợi mặt rồng, đề
ảnh Khải Định Bài này làm để vịnh bức ảnh hồi ấy đợc in trên nhiều báo
Trang 19Đón Khải Định ra Vinh - Năm 1916, Khải Định ra Vinh.
Hay Xuân thu nhị kỳ - KD, Lính tập vinh quy - N V H
Nh vậy, qua các sự kiện lịch sử đã xác định, có thể thấy những bài thơ trên ra đờitrong khoảng thời gian xẩy ra sự kiện
Song, trong đề tài luận văn chúng tôi thực hiện do số tài liệu về mảng thơ tràophúng 30 năm đầu thế kỷ XX cha nhiều, cơ sở xác định tác giả ở một số tác phẩmcha chính xác, cho nên chúng tôi thực hiện khảo sát chính ở những tác phẩm đã xác
định rõ tác giả, năm ra đời
Tiến hành thống kê, khảo sát các tác phẩm thơ trào phúng giai đoạn này,chúng tôi nhận thấy, các bài thơ trào phúng đợc viết theo các thể loại cơ bản sau:
Thứ nhất, là thể thơ Đờng luật bao gồm các dạng:
- Thể thất ngôn tứ tuyệt (4 câu 7 chữ): Bao gồm một số tác phẩm, tác giả tiêu
biểu: Con Tôm - Học Lạc; Nhắn bạn giàu - Nhiêu Tâm; Đợc phục hàm - Tam Xuyên; Tiến sĩ giấy - Từ Diễn Đồng.
- Thể thất ngôn bát cú (8 câu 7 chữ), bao gồm: Thơ Học Lạc, có: Chó chết trôi; Con Trâu; Ông làng hát bội; Tạ Hơng Đảng Thơ Nhiêu Tâm, có: Cha trẻ con già Thơ Nguyễn Thiện Kế, có: Vịnh Lê Hoan; Vịnh Lê Văn Chấn; Vịnh Phạm Văn Thụ; Vịnh phủ Quảng nịnh đầm; Vịnh Phạm Văn Hàm; Vịnh ban tu th; Vịnh Từ
Đạm; Vịnh nghị viên Thơ Tam Xuyên, có: Bức chân dung tự họa Thơ Từ Diễn
Đồng; Dịch thơ Thu Hứng; Đề chùa Thầy; Năm mơi tuổi tự thọ.
Và thơ của các tác giả Trần Tích Phiên; Kép Trà; Lê Cơng Phụng, Phan Điện,Vơng Thúc Loan
Thứ hai là, thể Văn tế: Khóc cụ Phan Chu Trinh - Nhữ Quý Thích
Thứ ba là, thể Cáo: Cáo hủ lậu văn - Ngô Vi Lâm dịch.
1.2.3 Tính chất, khuynh hớng của thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX:
Văn học dân tộc ta là một nền văn học luôn luôn phát triển có sự kế thừathành tựu, tinh hoa không những của văn học các nớc khác, mà còn của chính từnggiai đoạn trớc của văn học nớc nhà Chính vì thế, trải qua các giai đoạn, các thời kỳ
Trang 20văn học khác nhau vẫn bắt gặp những thể loại sáng tác giống nhau, tuy nhiên trong
đó những t tởng, tình cảm, thậm chí cách biểu lộ tình cảm cũng đã có những nétkhác biệt nhau
Cũng nằm trong quy luật chung của sự phát triển đó, văn học trào phúng ViệtNam trải qua các giai đoạn tuy nội dung, ý nghĩa, t tởng, tình cảm đợc chuyển tải đã
có nhiều phần khác nhau, nhng chung quy lại vẫn nhằm bật lên tiếng cời Tiếng cời
đợc tạo ra ở đây có thể chỉ là mua vui, phê phán nhẹ nhàng hay đả kích sâu cay
Tiếng cời trong văn học Việt Nam xuất hiện từ văn học dân gian cho đến giai
đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều nét mới Trong văn học dân gian đó làtiếng cời nặng về cảm tính, giàu tính chất tự phát, hay chỉ phần nào nặng về lý trí
Đến văn học viết trớc thế kỷ XIX, tiếng cời xuất hiện chứa tải nội dung, ý nghĩa sâusắc hơn văn học dân gian Tuy nhiên, do hạn chế của thời đại, do chịu ảnh hởng lớncủa chế độ phong kiến, ý thức hệ phong kiến nên những tác phẩm trào phúng lúc
này chỉ là "đa ra phải rào đón, rào đón nhng phải đa ra" [10; 37] Nếu phải châm
biếm, đả kích thì nhẹ nhàng, kín đáo không sỗ sàng Đó là ngón đòn hiểm hóc, nhẹnhàng nhng rất đau Văn học trào phúng nửa cuối thế kỷ XIX, nhất là đến đầu thế
kỷ XX đã có sự phát triển mạnh mẽ: lúc này, thơ trào phúng phát triển thành mộtdòng Nó tồn tại bên cạnh dòng văn hoc yêu nớc cách mạng Thơ trào phúng đi vàohớng đả kích chính trị, phê phán xã hội - đây là một bớc chuyển quan trọng lớn laocủa thơ trào phúng so với các giai đoạn trớc Tuy nhiên, ở giai đoạn này cha cónhững phong cách trào phúng lớn
Trào phúng, đả kích luôn gắn với thời sự, chính trị ngay từ thế kỷ XIX, vì thếlúc này thơ trào phúng mới tạo đợc bớc bứt phá mới mẻ, phát triển và tồn tại thànhmột dòng riêng (ở thế kỷ XIX, phải đến Nguyễn Khuyến, Tú Xơng thơ trào phúngmới có sự phát triển thành một dòng) Đầu thế kỷ XX, đối tợng me Tây, gái đĩ, đốitợng ông Thông, ông Phán của trào phúng nửa cuối thế kỷ XIX đến đây đã thay đổi.Lúc này, đối tợng tập trung bị phê phán là giới quan trờng, bọn khoa bảng Tức lúcnày đề tài trào phúng đã vợt ra khỏi những cái tầm thờng, vụn vặt của cuộc sống, h-ớng tới những vấn đề thuộc phạm vi lớn hơn, có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.Khi đi vào những vấn đề chính trị - xã hội, thơ trào phúng tạo cho mình đợc sứcmạnh Tiếng cời phát ra đã ẩn chứa một sức chiến đấu, nó nh là một công cụ đấutranh mới, nó đã khác với những tiếng cời bực dọc nhng bất lực ở trào phúng trớc
đây
Song song tồn tại với dòng thơ trào phúng là dòng văn học yêu nớc và cáchmạng Đầu thế kỷ XX đến 1930 cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn hoạt
Trang 21động (trớc và sau đại chiến thứ nhất) Năm 1904, Duy Tân hội thành lập, phong tràocách mạng phát triển rầm rộ, phục vụ công cuộc tuyên truyền vận động (Phan Bội
Châu "La cầu huyết lệ tân th"), đến Đông Du xuất hiện "á tế ca", "Phú cải lơng",
"Hải ngoại huyết th" Sau cuộc khủng bố 1908 - 1909, làn sóng cách mạng tạm
lắng xuống, thơ văn các chí sĩ trong tù bùng lên Sau đại chiến thứ nhất, phong trào
ái quốc dân chủ lại sôi nổi phát triển, văn thơ cách mạng xuất hiện trở lại với phogtrào đấu tranh đòi tự do cho Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh Về sau, do
ảnh hởng của cách mạng tháng Mời, văn học vô sản nảy nở Văn học cách mạngmang đặc điểm chung: ít chất văn nghệ giàu chất chính trị Cũng giống nh thơ tràophúng, văn học yêu nớc cách mạng cũng nhằm vào thực dân, vua quan và chế độchính trị Văn học yêu nớc và cách mạng khai thác con ngời ở khía cạnh quan hệvới đất nớc, con ngời thì thơ văn trào phúng khai thác con ngời ở chi tiết cụ thể,những mâu thuẫn trái ngợc, thậm chí vô lý trong xã hội Cùng phát triển trong giai
đoạn này là dòng văn học cách mạng (văn học mới) Dòng văn học mới này ra đời
do sự phát triển mạnh của cuộc sống thành thị, để thoả mãn nhu cầu tinh thần của c
dân ở thành thị Công chúng thành thị a thích truyện nôm nh Phan Trần, Sơ kính tân trang, Bach Viên - Tôn Các ; Ưa thích tiểu thuyết tình cảm nh Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả da đỏ của Nguyễn Trọng Thuật; Kim Anh lệ sử của Trọng
Khiêm
Điều đáng quan tâm chú ý ở đề tài này là dòng thơ trào phúng 30 năm đầuthế kỷ XX với những đặc điểm mới, những bớc phát triển mới của nó là cơ sở, làyếu tố quan trọng chuẩn bị cho văn học hiện thực xuất hiện về sau với những câybút tiêu biểu nh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng
1.2.4 Những hiện tợng tiêu biểu.
Mặc dù đến đầu thế kỷ XX, dòng thơ trào phúng hình thành và phát triếnmạnh, tuy không có những phong cách lớn nhng nổi lên là những gơng mặt tiêubiểu nh Phan Điện, Kép Trà, Nguyễn Thiện Kế Những gơng mặt này với ngòi bútchâm biếm, đả kích trực diện, sâu cay đã tạo cho thơ văn trào phúng những nétphong phú, mới và mạng điểm khác biệt khá rõ với trào phúng trớc đó
Nguyễn Thiện Kế (1858 - 1917), tục gọi là ông Huyện móm đỗ cử nhân năm
1888, ngời làng Nẻ (Nễ Độ) huyện Tiên Lữ - Hng Yên Làm tri phủ các huyệnThuận Thành, Từ Sơn, Bắc Ninh rồi bị cách chức Sau đợc làm Huấn đạo HoànLong (Hà Nội) và tri huyện Tùng Thiện, Sơn Tây, rồi bị cách chức lần nữa Ông córất nhiều thơ trào phúng chỉa mũi nhọn vào bọn quan lớn, quan bé Tuy tác phẩmcủa ông để lại cho đến ngày nay cha đợc su tầm hết, nhng qua những tác phẩm đợc
Trang 22giới thiệu [10; 247 - 253], ta thấy đợc đối tợng, ý nghĩa mà tác phẩm đề cập Những
tác phẩm đã su tầm đợc gồm: Vịnh Lê Hoan; Vịnh Từ Đạm; Vịnh Phạm Văn Thụ; Vịnh Lê Văn Chấn; Vịnh Vũ Phạm Hàn; Vịnh phủ Quảng nịnh đầm; Vịnh ban thu th; Vịnh nghị viên
Kép Trà (1837 - 1927), chính tên là Hoàng Thuỵ Phơng, ngời Lê Xá, naythuộc xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên (Hà Nam), đỗ hai khoá tú tài, làm nghề dạyhọc ở thôn quê Nhiếu thơ văn trào phúng xuất sắc và phổ biến đã làm ông trở thànhnhà thơ châm biếm đợc nhân dân a thích Những tác phẩm của ông đã đợc su tầm:
Vịnh các quan ở Hà Nam; Vịnh hội đồng cải lơng; Vĩnh Vũ Tuân; Vịnh Phó Bá Thuận; Chuyện ngâm Kiều.
Phan Điện (1874 - 1945), quê ở xã Châu Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh HàTĩnh Ông không thành công trên con đờng thi cử, làm nghề dạy chữ Nho ở NhaTrang, Hà Đông Tiếng tăm ông để lai trên diễn đàn văn học cũng nh trong lòngquần chúng là thơ ca trào phúng Tác phẩm của ông bao gồm (cha su tầm đầy đủ):
Tự thuật; Bảo Đại ra Đức Thọ; Vịnh Hoàng Cao Khải; Nhắn Hoàng Mạnh Trí.
Ngoài ra, còn có rất nhiều những tác giả với những tác phẩm thơ trào phúngkhác nh: Nguyễn Khách Doanh, Lê Quang Chiểu, Tam Xuyên, Nhữ Quý Thích, TừDiễn Đồng, Trần Tích Phiên, Lê Cơng Phụng, Nhì Mĩ
Có thể thấy, hầu hết các nhà thơ trào phúng đầu thế kỷ XX đều tập trung vào
đối tợng phê phán chính là quan trờng, thơ họ đều có ý nghĩa phê phán xã hội sâusắc Tuy nhiên cũng có thể thấy nét riêng của từng tác giả Chẳng hạn nh Kép Tràquan tâm đến những chuyện ở Hà Nam quê hơng ông Những nhân vật ông chế giễu
là quan phủ, quan huyện, cùng bọn nha lại, hào cờng, bọn công chức, ngời buôn
bán kiếm ăn quanh đám hào cờng đó "Cách chọn đề tài của Kép Trà gần với vè và nghệ thuật đả kích của ông cũng đang gần với vè: Nhân vật có lai lịch, sự việc đợc
kể có đầu có đuôi" Còn Nguyễn Thiện Kế " nhà thơ chú ý tới quan trờng và giới thợng lu trong phạm vi lớn, cái nhìn nặng về chính trị - xã hội hơn Nguyễn Thiện
Kế làm thơ vịnh, không chú ý đến câu chuyện, mà chú ý đến nét tính cách của nhân vật" [7;194 - 195].
Nhìn chung, với khối lợng tác phẩm khá phong phú, với số lợng tác giả thơtrào phúng đông đảo, dòng thơ trào phúng đầu thế kỷ XX đã có đóng góp xuất sắccho nền văn học dân tộc về mặt nội dung, ý nghĩa cũng nh nghệ thuật trào phúng
Trang 23Chơng 2 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX tập trung
hớng về đối tợng khách thể với nội dung phê phán mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.
2.1 Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX tập trung hớng về đối tợng khách thể.
2.1.1 Đối tợng khách thể, chủ thể trong nhân thức của thơ ca nói chung
và thơ trào phúng nói riêng.
Khác với các tác phẩm tự sự và kịch, tác phẩm trữ tình không đi vào miêu tảcác sự kiện, biến cố hay hành động của nhân vật, mà đi vào miêu tả các sự kiện,diễn biến thế giới nội tâm bên trong bản thân nhân vật (nhân vật trữ tình)
ở trữ tình, "chủ thể" và "khách thể" của sự miêu tả nghệ thuật rất gần gũinhau, nó đều là thế giới nội tâm của tác phẩm Nhận thức đời sống trong tác phẩmtrữ tình trớc hết là sự tự nhận thức Trong thơ trữ tình cái Tôi tác giả là một phạmtrù đặc biệt quan trọng Các cảm xúc đợc thể hiện mang tính xã hội - lịch sử cao.Trong thơ cái Tôi đợc bộc lộ trực tiếp Cái Tôi trong thơ là thế giới cảm xúc, tìnhcảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo Thơ trữ tình chú trọng đến cái đẹpcủa tâm trạng con ngời và của cuộc sống khách quan Nhà thơ phải nhạy cảm vớicái đẹp của cuộc sống, cũng nh của từng đối tợng chủ thể Thông qua một bài thơ,
độc giả có thể hiểu về thế giới bên ngoài, hiểu tâm t tình cảm của tác giả
Văn học trào phúng có thể hớng tiếng cời vào nhiều đối tợng khác nhau Nói
cụ thể hơn, tất cả mọi hiện tợng của đời sống đều có thể trở thành đối tợng của vănhọc trào phúng khi bản thân nó chứa đựng những mâu thuẫn Chính những mâuthuẫn đó là yếu tố hấp dẫn để trào phúng khai thác
Trang 24Đối tợng trào phúng có hai loại cơ bản: Đối tợng trào phúng khách thể (đối ợng trào phúng trong hiện tợng khách quan, ngoài bản thân tác giả) và đối tợng tràohúng chủ thể (đối tợng trào phúng là tác giả).
t-Riêng ở thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX, đối tợng mà trào phúng hớngtới chủ yếu là đối tợng khách thể, đó là các thế lực theo Tây, xu nịnh, bợ đỡ thựcdân Pháp Các nhà thơ hớng tiếng cời vào việc phát hiện mâu thuẫn tồn tại ở các đốitợng này ở giai đoạn 1900 - 1930, chúng ta ít bắt gặp những bài tự trào nh trongthơ trào phúng của Nguyễn Khuyến, Tú Xơng giai đoạn trớc
2.1.2 Đối tợng phê phán đặc trng của thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX
Nh chúng tôi đã chứng minh trên, đối tợng phê phán mà thơ trào phúng 30năm đầu thế kỷ XX hớng tới đó là đối tợng khách thể, tức đối tợng trào phúng tronghiện thực khách quan, ngoài bản thân tác giả Văn học trào phúng lúc này đã tậptrung vào nhiều loại đối tợng cùng một lúc trong xã hội: Từ đả kích những tên bánnớc, đến lên án quan trờng, phê phán xã hội
Xã hội Việt Nam chuyển mình đau đớn sang xã hội thực dân nửa phong kiến,chế độ phong kiến lúc này đã bị lấn át, triều đình phong kiến chỉ còn là triều đình
bù nhìn, là con rối của thực dân Pháp Thực dân Pháp đã thiết lập đợc chế độ thựcdân lên nớc ta, chúng tiến hành nhiều cuộc khai thác, bóc lột, chém giết, đốt phá.Lúc này đối lập với cảnh tiêu điều, xơ xác của nông dân là hình ảnh giàu sang, sungtúc của những bọn phản nớc hại dân, bọn xu danh trục lợi Bọn chúng lợi dụng thờicuộc thay đổi để kiếm chác, mua danh bán lợi, trở thành tổng đốc, tuần vũ Cùngvới sự thay đổi đó là xã hội thành thị ra đời, lúc này trong lòng xã hội Tây Tàu nhốnhăng ấy rất nhiều mâu thuẫn xuất hiện, trào phúng có đợc mảnh đất màu mỡ đểphát triển mạnh
Thơ trào phúng đầu thế kỷ XX phát triển phong phú về tất cả mọi mặt, cónhững bớc tiến mới Thể hiện rõ nhất là sự thay đổi đối tợng trào phúng so với cácgiai đoạn trớc nó Các loại đối tợng đợc đề cập đến ở đây là bọn quan lại, bọn theoTây, bọn mật thám, bọn xu nịnh, cơ hội Nói chung, đối tợng chính đó là nhữngthế lực thù địch với nhân dân, là bọn phản dân hại nớc, bọn gieo rắc tai hoạ cho ng-
ời dân bình thờng, lơng thiện
Trớc hết, đối với giới quan lại, thơ trào phúng chía mũi nhọn vào bọn quangian tham, leo lên ghế cao danh vọng không nhờ tài năng, đức độ mà nhờ mua danhbán tớc, xu nịnh theo gót Tây dẫm đạp lên ngời dân Mục đích của chúng khôngphải là làm quan để giúp dân giúp nớc mà để trục lợi cá nhân, để thoả mãn dục vọng
bản thân, để "vét cho đầy túi tham" Trong xã hội bấy giờ, lực lợng này xuất hiện đông
đảo, chúng là lớp ngời đại diện cho những gì xấu xa, bỉ ổi của tầng lớp trên Chỉ mặt
tầng lớp này, Trần Đình Hợu dùng từ "lúc nhúc nh giòi bọ" là rất đích đáng.
Trang 25Viết nhiều về tầng lớp này, đồng thời vạch mặt chỉ tên đợc bọn chúng lànhững tác giả Nguyễn Thiện Kế, Từ Diễn Đồng, Kép Trà, Phan Điện
Nguyễn Thiện Kế có rất nhiều thơ trào phúng, hầu hết những bài thơ ông viết
ra (đã su tầm đợc) đều chía mũi nhọn vào bọn quan lớn (Đại viên thập vịnh) và quan
bé (Tiểu Viên Tam Thập Vịnh) Một số bài tiêu biểu về loại đối tợng này gồm:
Vịnh Lê Hoan - Lê Hoan vốn là tay chân của Hoàng Khải hắn trớc xuất thân
là tên lính hầu, nhờ đàn áp Đề Thám đợc thởng Bắc đẩu bội tinh và đợc phong làmtổng đốc Miền Đông (tỉnh Hải Dơng và Quảng Yên) Hắn có con rể là Trần Đình L-
ợng tổng đốc Nam Định, bài thơ dùng giọng điệu châm biếm "Vịnh Lê Hoan"
-nhng thực chất là để chỉ trích
Vịnh Phan Văn Thụ - Phạn Văn Thụ là tay chân của sở mật thám Pháp Hắn
làm quan ở Thái Bình nhiều lần, làm tri huyện ở Tiền Hải, tri phủ Kiến Xơng, rồi
đến chức tuần phủ Hắn là môt tên gian ngoan, giả đạo đức
Vịnh Vũ Phạm Hàm - Vũ Phạm Hàm ngời làng Đôn Th, Thanh Oai, Hà
Đông, đỗ thám hoa năm 1892, hắn đợc tả trong bài thơ là kẻ thám bạc, thẳng tay ăn
tiền học trò thi cử, thờng nịnh Pháp
Vịnh Từ Đạm - là một tên tay sai hay giở dói văn chơng.
Vịnh Lê Văn Chấn - viết về tên tri huyện chuyên ăn của đút lót.
Vịnh Phủ Quảng nịnh đầm - tả tri phủ Quảng Oai trong đợt đi kinh lý Sơn
Tây với viên công sứ Pháp, qua chỗ ngập nớc hắn đã cõng vợ quan lội qua
Vịnh Ban Tu Th - vạch rõ bản chất của Ban Tu Th (8 ngời) do nha học chánh
Đông Dơng lập ra nhng lại ngô nghê, ngốc nghếch
Vịnh Nghị Viên - châm biếm lũ quan hòn.
Tất cả những đối tợng đa ra trong thơ trào phúng ở trên đều bị vạch trần tất cảnhững mặt xấu xa: Từ việc chúng leo lên quyền chức cho đến thói ăn tiền, nịnh
đầm, thậm chí ngu dốt của chúng
Nhà thơ Từ Diễn Đồng cũng nổi tiếng là nhà thơ châm biếm, ông đã viết bài
thơ "Tiến sĩ giấy".
Ông đỗ khoa nào, ở xứ nào?
Thế mà hoa hốt với trâm bào Năm năm hễ tết trung thu đến, Tôi vẫn quen ông chẳng dám chào.
Bài thơ chế diễu, đả kích những ông nghè dốt nát, hám t cách Nhà thơ thôngqua hình ảnh ông Tiến sĩ hàng mã đợc bày bán ở quầy hàng vào dịp tết trung thu để
đánh vào những Tiến sĩ ngoài đời
Trang 26Kép Trà (1873 - 1972) cũng đóng góp cho thơ trào phúng một số bài viết vềgiới quan trờng rất sắc sảo.
Vịnh các quan ở Hà Nam - vạch trần bọn quan lại Nam triều cầm đầu các
phủ huyện ở Hà Nam đầu thế kỷ XX
Vịnh hội đồng cải lơng - khoảng 1925 - 1926, thực dân phong kiến bày trò
cải lơng hơng chính, đặt mỗi làng một hội đồng để bàn việc làng Tác giả làm bàithơ đả kích hội đồng làng mình, nâng các sự kiện lên mức khái quát
Vịnh Vũ Tuân - Vũ Tuân là ngời Lơng Đờng, làm tri huyện Duy Tiên y là ngời có tiếng văn chơng nhng làm quan lại đục khoét Làm cho hại nớc lại tàn dân.
Vịnh Phó Bá Thuận - viết về tên quan huyện Thanh Liêm nổi tiếng về nịnh
đầm ,vơ vét
Phan Điện cũng là một nhà thơ trào phúng sắc sảo Thơ ông đợc nhân dântruyền tụng nhiều Ông viết khá nhiều về giới quan chức Tiêu biểu là những bài:
Vịnh Hoàng Cao Khải - Hoàng Cao Khải đợc làm quận công nhờ làm tay sai
cho Pháp, nhân dân luôn phải dâng lễ vật biếu xén cho hắn
Nhắn Hoàng Mạnh Trí - Hoàng Mạnh Trí là con trai của Hoàng Cao Khải, làm tổng đốc Nam Định, là kẻ hung hăng, hay lên mặt đòi "đào mả đại khoa", "đập chú thông gia", rắp tâm đốt nhà văn miếu v.v
Những bài thơ trào phúng đánh thẳng vào giới quan trờng nh vậy đã vạch ranhững tội ác, mặt xấu xa, đê tiện của giới quan lại, tạo cho thơ trào phúng giai đoạn
30 năm đầu thế kỷ XX sự mới mẻ về đối tợng châm biếm, đả kích Không chỉ hớngtiếng cời đả kích vào bọn quan lại làm việc cho Tây, thơ trào phúng còn vạch tội
bọn bán nớc, những kẻ có thế lực trong xã hội Phan Điện với với bài Đám bà Bông, phê phán bà Bông một cách mạnh mẽ.
Toàn quyền thống sứ nâng tay cụ, Nam Định, Hà Đông nể mặt cha
Xe điện đông nêm ngời tứ xứ,
Ô tô đỗ chật bãi tha ma Tàu bay vặn lái bay qua lại Cái gái làng Bông sớng dữ a!
Bài thơ Nhắn Hoàng Mạnh Trí - nhắc đến sự hung hăng của Hoàng Mạnh Trí
khi làm quan cũng là một dẫn chứng tiêu biểu cho vấn đề này
Ngoài ra còn có một số bài thơ khuyết danh mang nội dung tố cáo, đả kíchtội theo Tây của các cụ lớn nh:
Ngoài đã lớn hình thêm lớn xác
Trang 27Trong thời không ruột lại không gan.
(Con nộm nan, thơ đả kích Nguyễn Thân)
"Ông đi đâu! bỏ vợ bỏ con, bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ xe, bỏ ngựa, bỏ hu bổng lộc
điền, bỏ hát bội, thầy tăng, bỏ hết trần duyên rồi một kiếp"
(Câu đối điếu Nguyễn Thân)
"Ông về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài chính phủ một lòng với nớc có hai đâu".
(Đối điếu Hoàng Cao Khải).
Đối tợng mà nhà thơ trào phúng hớng tới ở giai đoạn này còn là bọn xu nịnh,
kẻ cơ hội lợi dụng thời cuộc luồn cúi để đợc giàu sang, chức tớc Có thể bắt gặp
hình ảnh những kẻ thấp hèn này ở một số bài tiêu biểu: " Vịnh tri phủ Quảng Oai" ( Nguyễn Thiện Kế); "Đợc mùa" (Song Ng); "Vịnh khuyển Ưng, khuyển Phệ" (KD);
"Vịnh Vũ Tuân" (Kép Trà)
Bọn phản đảng và mật thám cũng là một đối tợng bị công kích mạnh mẽ củathơ trào phúng đầu thế kỷ XX Bọn chúng có những kẻ từng tham gia các phongtrào Duy Tân, Đông Du nhng rồi lại phản bội, quay sang làm tay sai đắc lực choPháp, phản nớc hại dân Có thể thấy hình ảnh bọn ngời này qua một số tác phẩm thơtrào phúng của các nhà thơ quen thuộc mà chúng tôi đã diễn ra ở trên
Một đối tợng khác mà thơ trào phúng công kích rất đáng chú ý đó là các nhàkhoa bảng Trong xã hội cũ, các nhà khoa bảng thờng đại diện cho danh giáo, lễnghi, và các giá trị đạo đức t tởng trong xã hội Nhng đến lúc này, họ phản bội lạitất cả Họ leo lên quan chức bằng con đờng mua danh, bán tớc, họ hèn nhát làm tay
sai cho giặc, phản bội đạo nghĩa Chúng đợc điểm mặt trong một số bài thơ: " Khoa Bính Ngọ" (KD); "Vịnh Vũ Phạm Hàm" (Nguyễn Thiện Kế); "Dốc lòng đến chiếm bảng vàng, nào ngờ thiếu luật bị quan đuổi về" (L.M - tác giả ký tên tắt); " Chuyện
cử Tú" (KD)
Qua việc thống kê các đối tợng mà thơ trào phúng nhằm vào, chúng tôi nhậnthấy: Thơ trào phúng 30 năm đầu thế kỷ XX đã đánh vào lực lợng đông đảo thuộctầng lớp trên trong xã hội bấy giờ Đó là bọn quan lại phản nớc hại dân, sẵn sàng
đạp lên đạo đức và các giá trị truyền thống để mu cầu giàu sang, danh lợi cho riêngbản thân mình Những đối tợng này mang những đặc trng riêng Đó là những đối t-ợng gắn với chính trị, đại diện cho một loại ngời nào đó trong xã hội Phê phánnhững bọn sống bám vào thực dân, làm tay sai cho thực dân tức là thơ trào phúng đã
đấu tranh chính trị, làm chính trị