Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh -*** -
Trang 2vinh, năm 2007
Lời nói đầu
Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình là một
đề tài mới và rất lý thú Tuy nhiên, do thời gian hạn hẹp và năng lực bản thân nên luận văn chắc còn nhiều hạn chế Chúng tôi mong đợc sự góp ý của các thầy, cô giáo và những ngời quan tâm đến đề tài.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận đợc sự hớng dẫn tận tình của
TS Hoàng Trọng Canh cũng nh những ý kiến bổ ích của các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ, khoa đào tạo sau đại học, Đại học Vinh.
Nhân dịp này, cho phép chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo hớng dẫn cùng tập thể các thầy cô giáo.
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cộng tác viên, những ngời
đã hết sức giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra, điền dã khảo sát đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2007
Tác giả
Trang 3Mục lục Trang
Chơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài 8 1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ 8 1.2 Vốn từ toàn dân và vốn từ phơng ngữ 11
Vốn từ chỉ nông cụ qua một số thổ ngữ Quảng Bình 19
1.4 Vấn đề cấu tạo, định danh của lớp từ chỉ nông cụ 22 1.4.
Những bộ phận có tên gọi thống nhất ở mức độ thấp 46
2.2 Những bộ phận có tên gọi khác nhau nhiều 47
Trang 4Chơng 3: Đặc điểm cấu tạo và định danh của từ ngữ chỉ
nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình
53
3.1 Đặc điểm cấu tạo 53 3.2 Đặc điểm định danh 59 3.2.
khảo
78
Phụ lục 81
Trang 5mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất trong đa dạng, là ngôn ngữ chung cho 54 dân tộc anh em sống trên mọi miền của Tổ Quốc Tuy nhiên thống nhất không có nghĩa là đồng nhất, tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ Tiếng Việt trở thành công cụ t duy và giao tiếp chung quan trọng bậc nhất của ngời Việt Nhng trong biểu hiện, ngôn ngữ lại rất đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt, ở sự khác nhau giữa các vùng địa lí dân c, ở các tầng lớp ngời sử dụng, ở phong cách thể hiện Với hàng vạn đơn vị
từ và ngữ cố định, tiếng Việt đã trở thành một chỉnh thể gồm nhiều hệ thống có liên quan chặt chẽ với nhau Các lớp từ vựng khác nhau phản ánh độ phong phú của vốn từ tiếng Vịêt đồng thời phản ánh sự thống nhất sáng tạo của con ngời Việt trong quá trình sử dụng tiếng Việt
Xét theo bình diện khu vực dân c, tiếng Việt có nhiều phơng ngữ khác nhau Trên các vùng phơng ngữ, các tầng lớp ngời làm các nghề khác nhau sử dụng tiếng Việt có sự khác nhau ít nhiều về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ chung Vì thế mà đã tạo nên tính đa dạng của bức tranh tiếng Việt Nghiên cứu “Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình” là đi tìm một trong những biểu hiện của tính đa dạng đó
Trang 61.2 Vốn từ toàn dân là lớp từ có số lợng lớn nhất đợc sử dụng phổ biến, rộng rãi nhất trong số các lớp từ vựng của vốn từ tiếng Việt Lâu nay, nh một tất yếu, các đặc điểm, các phơng diện khác nhau của ngôn ngữ chung- tiếng Việt
đã đợc nghiên cứu sâu rộng và thu đợc nhiều thành tựu
Các lớp từ nh phơng ngữ, từ nghề nghiệp v.v còn ít đ… ợc chú ý su tầm và nghiên cứu Do đó tìm hiểu vốn từ chỉ nghề nghiệp là công việc hữu ích trong việc tìm hiểu vốn từ tiếng Việt
1.3 Việt Nam là một nền văn minh nông nghiệp lúa nớc, sản xuất nông nghiệp là nghề truyền thống phổ biến lâu đời Chính vì thế lớp từ chỉ nghề nông
có một vai trò hết sức to lớn đối với vốn từ tiếng Việt Các lớp từ trong tiếng Việt đều đợc thu thập vào từ điển tiếng Việt nhng sự có mặt của từ địa phơng nói chung, từ nghề nghiệp nói riêng trong từ điển là rất hạn chế Số từ địa phơng
và từ nghề nghiệp cha đợc thu thập hãy còn lớn, thu thập vốn từ này là việc làm cần thiết
Quảng Bình là một vùng đất mà nghề nghiệp chủ yếu của c dân ở đây là nghề nông Do địa bàn c trú, khí hậu, thổ nhỡng khác các vùng khác nên nghề nông ở Quảng Bình có những đặc điểm riêng Chính điều đó đã thúc đẩy chúng tôi thu thập vốn từ nghề nông nói chung, tên gọi các bộ phận chỉ nông cụ trên
địa bàn Quảng Bình nói riêng
1.4 Cũng nh Nghệ Tĩnh, Quảng Bình là một trong những vùng còn bảo
l-u nhiềl-u yếl-u tố cổ của tiếng Việt Cho nên thl-u thập vốn từ là tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ trong phơng ngữ Quảng Bình, đề tài nhằm chỉ ra những đặc
điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa cũng nh những nét đặc trng về văn hoá đợc phản ánh qua lớp từ này
Đó chính là những lí do để chúng tôi chọn đề tài “ Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình” làm đối tợng khảo sát, nghiên cứu của luận văn này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trang 7Nghiên cứu từ nghề nghiệp trong tiếng Việt cho đến nay vẫn là một vấn đề còn rất mới mẻ, cha đợc nhiều ngời quan tâm Từ trớc đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến từ nghề nghiệp, nhng kết quả nghiên cứu về từ nghề nghiệp chủ yếu mới chỉ dừng lại ở các quan niệm, định nghĩa của một số tác giả đa ra trong các giáo trình về từ vựng ngữ nghĩa hoặc dẫn luận ngôn ngữ Ngoài ra có một số bài viết khai thác đặc điểm từ ngữ của một số nghề truyền thống nhất định; một số khoá luận, luận văn thạc sỹ cũng khảo sát thu thập từ nghề nghiệp ở một số phơng ngữ cụ thể
Trớc hết chúng ta có thể tìm thấy các định nghĩa về từ nghề nghiệp qua các giáo trình của:
- Nguyễn Văn Tu - Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, NXBĐH và THCN,
Hà Nội, 1978
- Đỗ Hữu Châu - Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt , NXBKHXH, 1989
- Hoàng Thị Châu - Tiếng Việt trên các miền đất nớc, NXBKHXH, Hà Nội,
- Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh - Văn hoá ngời Nghệ qua vốn từ vựng nghề cá, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 1, 1996.
- Phạm Việt Hùng - Về từ ngữ nghề gốm, Viện ngôn ngữ học Hà Nội, 1989.
- Lơng Vĩnh An - Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh, 1998.
Trang 8- Trần Thị Ngọc Lang - Nhóm từ liên quan đến sông nớc trong phơng ngữ Nam Bộ, Phụ trơng Ngôn ngữ, số 2, Hà Nội, 1982.
- Võ Chí Quế - Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thanh Hoá, Ngữ học trẻ 99, NXB Nghệ An, 2000
- Triều Nguyên - Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thừa Thiên Huế, Ngữ học trẻ 2003, NXB Hội ngôn ngữ học Việt Nam, HN,
2003
- Nguyễn Viết Nhị - Vốn từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh,
Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh, 2002
- Bùi Thị Lệ Thu - Tên gọi các công cụ sản xuất nông nghiệp qua các thổ ngữ thuộc phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh, 2004
- Phan Thị Mai Hoa - Thế giới thực tại trong con mắt ngời Nghệ Tĩnh qua một số tên gọi một số nhóm từ cụ thể, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh,
2002
Ngoài đề tài khoa học cấp Bộ “ Từ nghề nghiệp trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh (Bớc đầu khảo sát lớp từ chỉ nghề cá)”, 2005 đã hoàn thành, Tiến sĩ Hoàng Trọng Canh còn viết một số bài về từ chỉ nghề nh: “Phơng thức định danh của một số nhóm từ chỉ nghề cá và nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh”(Hội thảo KH, Ngữ học trẻ, 2004); “ Thực tế nghề cá đợc phân cắt chọn lựa qua tên gọi và cách gọi tên trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh”, Tạp chí KH, Trờng Đại học Vinh; “ Những nét dấu ấn t duy văn hoá của ngời Nghệ qua từ ngữ chỉ nghề cá”, Ngữ học trẻ 2005; Một vài đặc điểm lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Ngữ học trẻ 2006
Nh vậy có thể thấy các nghiên cứu, các bài viết điểm trên đã đi vào khảo sát tên gọi của từ chỉ nghề, nghiên cứu từ nghề nghiệp trong quan hệ với phản
ánh thực tại hoặc vừa nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của từ chỉ nghề vừa nghiên cứu văn hoá đợc phản ánh qua các lớp từ chỉ nghề đó theo đặc điểm từng nghề
Trang 9trên những vùng cụ thể Điều đó cho thấy rằng: nghiên cứu từ nghề nghiệp ngày càng đợc quan tâm chú ý
Về từ nghề nghiệp trong phơng ngữ Quảng Bình, khảo sát “ Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình” là đề tài đầu tiên đi vào nghiên
cứu miêu tả về một phơng diện cụ thể lớp từ nghề nghiệp ở vùng này
Khảo sát tên gọi các nông cụ trên một phạm vi hẹp là các thổ ngữ của Quảng Bình nên tên gọi các nông cụ có thể không nhiều, nhng tên gọi khác nhau trên các thổ ngữ sẽ cho ta thấy bức tranh đa dạng của ngôn ngữ trong các phơng ngữ
3 Đối tợng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài của luận văn là “ Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình” nên để thu thập vốn từ chúng tôi đã điền dã qua các địa phơng
thuần nông trên mảnh đất Quảng Bình thuộc các huyện: Lệ Thuỷ, Quảng Ninh,
Bố trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá Trên cơ sở t liệu đã thu thập đợc, qua phân tích chúng tôi so sánh sự khác biệt trong cách gọi tên của từ địa phơng Quảng Bình với từ toàn dân (đối chiếu từ trong cuốn “từ điển tiếng Việt ” do Hoàng Phê chủ biên) Ngoài ra chúng tôi kết hợp so sánh qua nguồn t liệu trong các bài viết của các tác giả khác về từ chỉ công cụ nghề nông ở Thanh Hoá, Thừa Thiên Huế, Nghệ Tĩnh
3.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê thu thập tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ thuộc phơng ngữ Quảng Bình là góp phần làm cho bức tranh về từ chỉ nghề nghiệp ở Quảng Bình hiện lên đầy đủ rõ nét Qua đó thấy đợc những nét đặc điểm riêng của lớp từ này trong thổ ngữ, phơng ngữ và dấu ấn văn hoá ẩn chìm trong đó
- Nghiên cứu vốn từ nghề nghiệp để thấy đợc diện mạo của lớp từ này trong
sự đa dạng, phong phú của vốn từ địa phơng nói riêng và trong tiếng Việt nói
Trang 10chung Đề tài còn hớng đến cung cấp thêm một số cứ liệu cụ thể về từ chỉ nghề cho những ai quan tâm tới ngôn ngữ và văn hoá.
Ngoài ra đề tài cũng hớng tới việc phân tích, chỉ ra đặc điểm cấu tạo,
định danh của nhóm từ chỉ nông cụ nói riêng và từ nghề nghiệp nói chung Qua
so sánh đối chiếu với các thổ ngữ thuộc phơng ngữ khác để thấy rõ đặc điểm chung về sự phong phú của vốn từ nghề nghiệp và cách liên tởng, cách phân cắt hiện thực trong phản ánh qua tên gọi của từ trong các thổ ngữ Từ đó có thể thấy những nét t duy và sự tri nhận văn hoá của mỗi vùng
Nh vậy, xuất phát từ mục đích của đề tài nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là khảo sát, thu thập các từ chỉ nông cụ của các thổ ngữ thuộc Quảng Bình chỉ ra đặc điểm cấu tạo, định danh của nhóm từ chỉ nông cụ nói riêng từ ngữ nghề nghiệp nói chung
4 Phơng pháp nghiên cứu
Do tính chất của đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng những phơng pháp sau:
4.1 Phơng pháp điều tra điền dã
Để có đợc vốn từ làm cứ liệu, trớc tiên chúng tôi tiến hành phơng pháp
điều tra điền dã Chúng tôi vẽ các nông cụ vào phiếu, đánh số thự tự rồi trực tiếp
điều tra ở một số địa phơng thuần nông thuộc tỉnh Quảng Bình Chúng tôi chọn
đối tợng phỏng vấn chủ yếu là những nông dân cao tuổi có nhiều kinh nghiệm trong nghề, phỏng vấn về tên gọi của nông cụ và lí do đặt tên
4.2 Phơng pháp thống kê, phân loại
Thống kê, tập hợp vốn từ chỉ nông cụ về tên gọi của các bộ phận trong từng nông cụ Toàn bộ vốn từ sau khi thu thập sẽ đợc phân loại theo từng tiêu chí khác nhau, theo từ loại
4.3 Phơng pháp so sánh, đối chiếu
Mục đích của đề tài này không chỉ là thống kê thu thập tên gọi các nông
cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình, mà qua thu thập vốn từ là đi đến nghiên cứu nhằm chỉ ra đợc những nét đặc điểm riêng của lớp từ này trong thổ ngữ, phơng
Trang 11ngữ và dấu ấn văn hoá ẩn chìm trong đó Nên chúng tôi còn tiến hành đối chiếu,
so sánh từ chỉ nông cụ, tên gọi các bộ phận qua các thổ ngữ Quảng Bình với các phơng ngữ khác (phơng ngữ Thanh Hoá, Phơng ngữ Nghệ Tĩnh, tiếng Thừa Thiên Huế) để tìm sự giống và khác nhau giữa các thổ ngữ, phơng ngữ
Chơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chơng 2: Tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình
Chơng 3: Đặc điểm cấu tạo và định danh của từ chỉ nông cụ qua các thổ ngữ
Quảng Bình
Trang 12Chơng 1 cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài 1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ
Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể của xã hội, là phơng tiện giao tiếp giữa ngời với ngời trong xã hội Xã hội không thể tồn tại nếu thiếu ngôn ngữ Lịch sử xã hội và ngôn ngữ đã xác nhận rằng sự phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội loài ngời Ngôn ngữ đợc hình thành từ thế kỷ này sang thế
kỷ khác, đợc tích luỹ, tàng trữ hàng ngàn năm chính là điều kiện giúp cho xã hội phát triển Ngôn ngữ dân tộc là sản phẩm của một thời đại lịch sử Thời đại hình thành thống nhất dân tộc, ngôn ngữ dân tộc cũng đợc thống nhất theo Tính thống nhất của tiếng Việt cũng nằm trong quy luật chung của ngôn ngữ
Dù ở thế kỷ nào, trên các vùng đất thuộc nớc Việt Nam thì ngôn ngữ thống nhất của ngời Việt đó là ngôn ngữ Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất trong đa dạng Tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ Tiếng Việt trở thành công cụ t duy và giao tiếp chung của ngời Việt Về mặt biểu hiện, trên các vùng địa lý dân c khác nhau, trên các tầng lớp ngời dùng khác nhau, bên cạnh một mã chung, tiếng Việt có những biểu hiện khác nhau
Trang 13Khi nói đến tính thống nhất và đa dạng của ngôn ngữ toàn dân cũng có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại của phơng ngữ trong lòng ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ địa phơng hay phơng ngữ vận động trong lòng ngôn ngữ dân tộc Việt Các phơng ngữ nh là bức tranh cụ thể cho thấy tính phong phú, đa dạng của ngôn ngữ dân tộc.
Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc và phơng ngữ là sự phản ánh quy luật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Quy luật chung đó của ngôn ngữ gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội mà phơng ngữ là một hiện tợng không thể tách rời của quá trình hình thành và thống nhất của ngôn ngữ dân tộc Phơng ngữ ra đời cũng gắn liền với điều kiện lịch sử xã hội của từng quốc gia Do quy luật phát triển không đều trên các vùng lãnh thổ, do điều kiện địa lí văn hoá xã hội khác nhau, do những biến đổi liên tục của ngôn ngữ vì thế phơng ngữ hình thành trong lòng ngôn ngữ dân tộc
Sự ngăn cách về không gian địa lý, điều kiện giao thông và thông tin liên lạc khó khăn làm cho giao tiếp giữa các vùng diễn ra khó khăn, không thờng xuyên, bị khép kín, trong điều kiện nh vậy, thông thờng nếu có sự thay đổi nào
đó về ngôn ngữ thì sự thay đổi đó chỉ lan truyền trong nội bộ c dân vùng địa lý
đó mà thôi Vì thế đã tạo nên những thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau Có thể nói, nếu không có sự phân bố tách biệt về mặt địa lý dân c thì sẽ không có phơng ngữ, nhng đây không phải là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp
Nguyên nhân sâu xa để hình thành nên phơng ngữ chính là do quy luật phát triển biến đổi của ngôn ngữ Sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng địa lý dân c Lúc đầu sự thay
đổi tạo nên sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng chỉ mới là yếu tố rời rạc
về mặt từ vựng Ví dụ nh sự mất đi của các từ cũ và sự xuất hiện các từ mới Về sau có những thay đổi lớn hơn, đó là sự thay đổi đi vào các công cụ ngữ pháp, các h từ, các âm vị thì lúc này sắc thái địa phơng đã bắt đầu xuất hiện Vì nơi thì sử dụng dạng thức mới của ngôn ngữ nơi thì vẫn duy trì cách sử dụng cũ,
Trang 14dần dần tạo nên độ chênh trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng Vì thế
mà tạo nên sự khác nhau ít nhiều về ngôn ngữ giữa các vùng
Ngôn ngữ là tập hợp những thói quen tập quán nói năng vì thế sự tác
động từ bên trong các cấu trúc hệ thống ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ liên tục biến đổi và sự biến đổi đó đợc thể hiện ở mặt hành chức, ở hoạt động giao tiếp
đã làm thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ, tạo nên sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa các vùng, giữa các tầng lớp trong xã hội
Nh vậy phơng ngữ ra đời trong lòng ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ thay
đổi trong từng vùng dân c là sự thay đổi cách nói năng giữa các vùng dân c này với các vùng dân c khác Tập hợp các thói quen nói năng khác đó của các vùng
là tạo nên phơng ngữ của từng vùng Ví nh tiếng Việt có 3 vùng phơng ngữ đó là: Phơng ngữ Bắc Bộ, phơng ngữ Trung Bộ, phơng ngữ Nam Bộ Cho nên tập hợp những khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân trên các phơng diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) đợc ngời địa phơng quen dùng gọi là phơng ngữ
Sự khác nhau giữa các phơng ngữ dù lớn đến đâu cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân Bởi các phơng ngữ đều căn bản giống
về hệ thống cấu trúc với ngôn ngữ toàn dân; ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ thống nhất của các phơng ngữ trong nớc Các phơng ngữ dù khác nhau thì vẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất đó chính là ngôn ngữ toàn dân
Gần gũi với khái niệm phơng ngữ là khái niệm thổ ngữ Về tiêu chí căn bản, để phân biệt hai khái niệm này là đặc điểm và ranh giới của thổ ngữ Có ngời cho rằng: “ Thổ ngữ là phơng ngữ bị thoái hoá, đã bị thu hẹp lại trong một làng, một xã, một địa phơng nhỏ dân c ít“ [22, tr 26] Có tác giả lại cho rằng, giống nh phơng ngữ “Thổ ngữ là biến thể ngôn ngữ tự nhiên của tiếng Việt thống nhất, cũng nh xã thôn là bộ phận của quốc gia thống nhất” [ 8, tr 241]
Phần đông giới nghiên cứu cho rằng: ranh giới của thổ ngữ hẹp hơn so với phơng ngữ, thổ ngữ thờng bó hẹp trong phạm vi một làng, một xã Trong khi
đó ranh giới của phơng ngữ thờng là một tỉnh, một vài tỉnh hoặc một vùng Để tránh hiểu nhầm, Hoàng Thị Châu đã dùng thuật ngữ phơng ngữ để chỉ tiếng địa
Trang 15phơng trong một vùng lớn nh tỉnh thành phố, bao gồm nhiều thổ ngữ ở xã thôn [
8, tr 24]
Tuy vậy, khi đi vào thực tế của phơng ngữ, một số nhà nghiên cứu đã dùng các thuật ngữ khác nhau Ví dụ nh với biến thể của ngôn ngữ toàn dân thuộc địa bàn Thanh Hoá, Phạm Văn Hảo gọi là “Thổ ngữ” [ 20] Hoàng Thị
Châu gọi là phơng ngữ [8] , còn Trơng Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân gọi là
“tiếng địa phơng” theo nghĩa thông thờng của từ này[34] Để thuận lợi cho việc
điều tra su tầm chúng tôi theo cách hiểu: Thổ ngữ là ngôn ngữ đợc sử dụng trong phạm vi hẹp nh một làng, xã hay một khu vực dân c bao gồm một vài làng xã nào đó Còn phơng ngữ là những biến thể của ngôn ngữ đợc sử dụng rộng hơn trong địa bàn một tỉnh hoặc một số tỉnh
Nh vậy sự khác nhau giữa thổ ngữ và phơng ngữ chủ yếu ở phạm vi sử dụng rộng hay hẹp của các biến thể ngôn ngữ Trong đề tài này chúng tôi điều tra tên gọi các nông cụ ở các làng xã, các huyện có sự khác biệt so với ngôn ngữ chung thì đợc chúng tôi gọi là từ thuộc thổ ngữ
Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ vừa có tính thống nhất vừa có tính khác biệt Tính thống nhất đóng vai trò chủ đạo làm cơ sở cho sự thống nhất của ngôn ngữ quốc gia Bởi các phơng ngữ căn bản giống về hệ thống cấu trúc với ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ thống nhất các phơng ngữ trong nớc Tính khác biệt tạo ra cái riêng, cái khác biệt, cái độc đáo của từng phơng ngữ Chính những cái riêng, cái khác biệt đó tạo nên sự đa dạng phong phú cho ngôn ngữ toàn dân
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, cái bất biến và cái biến thể, cái trừu tợng và cái cụ thể
Ngôn ngữ toàn dân thống nhất trong đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt, ở sự khác nhau giữa các vùng địa lý dân c, ở các tầng lớp ngời sử dụng, ở phong cách thể hiện Phơng ngữ là một trong những biểu hiện tính đa dạng của ngôn ngữ Tiếng Việt có nhiều phơng ngữ khác nhau xét theo khu vực địa lý dân c Quảng Bình thuộc phơng ngữ Bình Trị Thiên là một
Trang 16trong những vùng có sự khác biệt khác rõ so với ngôn ngữ toàn dân về mặt ngữ
âm và ngữ nghĩa Vì thế nghiên cứu từ địa phơng Quảng Bình nói chung và từ nghề nông nói riêng có thể đóng góp một phần cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch
sử và vốn từ tiếng Việt
1.2 Vốn từ toàn dân và vốn từ phơng ngữ
Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhất toàn bộ từ và ngữ cố
định của một ngôn ngữ đợc tổ chức theo một quy luật nhất định nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau Chính vì vậy khi nói đến ngôn ngữ dân tộc hay một phơng ngữ nào đó chúng ta không thể không nói đến vốn từ, một bình diện vô cùng quan trọng của ngôn ngữ
Vốn từ của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ vựng khác nhau Nếu chúng ta nói vốn từ là một hệ thống thì trong vốn từ ngôn ngữ toàn dân có nhiều tiểu hệ thống Mỗi tiểu hệ thống đợc xem là vốn từ nếu xét theo một tiêu chí hoặc một quan niệm nhất định Chẳng hạn nh xét tiêu chí phạm vi sử dụng, theo bình diện khu vực dân c thì chúng ta có vốn từ toàn dân, vốn từ phơng ngữ Nếu xét theo tính chất xã hội nghề nghiệp chúng ta có vốn từ nghề nghiêp, vốn từ thuật ngữ khoa học
Vốn từ của một ngôn ngữ đợc phản ánh dới dạng từ điển phổ thông, thu thập những lớp từ đợc dùng phổ biến rộng rãi trong xã hội Trong vốn từ, thì từ
là đơn vị hạt nhân quan trọng, là đơn vị cơ bản trung tâm của ngôn ngữ là công
cụ hoạt động lời nói trên nhiều phơng diện khác nhau Xét theo chức năng hành chức, trong quan hệ phản ánh thực tại, về mặt cấu trúc, cấu tạo thì từ ở phơng diện nào từ cũng là đơn vị cơ bản nhất
Trong ngôn ngữ không có một đơn vị nào có thể đảm trách đợc nhiều chức năng nh từ Nó vừa là đơn vị thực tại vừa là đơn vị tiềm ẩn Ngoài chức năng định danh thì từ còn tiềm ẩn nhiều chức năng khác Trong hoạt động giao tiếp hay trong cấu tạo, từ có thể đảm bảo nhiều chức năng: ví dụ nh từ có thể
đóng vai trò là một hình vị, cũng có thể kết hợp với ngữ điệu mà đóng vai trò là một câu để thực hiện chức năng thông báo
Trang 17Nghiên cứu nghĩa của từ nói riêng và ngữ nghĩa của vốn từ nói chung dù với mục đích và phơng hớng nào, có ý thức hay không ý thức, ở cấp độ nào cũng liên quan đến từ.
Tuy nhiên việc nghiên cứu từ nói riêng và vốn từ nói chung cũng gặp nhiều khó khăn vì từ có những quan hệ chằng chéo đan xen, nó có thể nằm trong vốn từ ngôn ngữ toàn dân nhng lại có thể nằm trong vốn từ phơng ngữ Chính vì thế có những từ ta có thể xếp chúng vào nhóm này nhng cũng có thể xếp vào nhóm kia
Nghĩa của từ là cụ thể nhng trong từng ngữ cảnh giao tiếp thì nghĩa của từ lại có thể khác nhau, nhiều khi trong sử dụng từ có thể xuất hiện những nghĩa với sắc thái khác với nghĩa gốc Khi nghiên cứu từ nghề nghiệp trong phơng ngữ nói chung ngời ta phải đối chiếu với từ trong vốn từ toàn dân và với cả từ trong vốn từ phơng ngữ Do nhiều nguyên nhân mà sự tơng ứng về nghĩa của từ trong phơng ngữ nói chung và từ chỉ nghề nói riêng với từ trong ngôn ngữ toàn dân theo từng cặp một là ít có sự tơng đồng toàn vẹn; mức độ đồng nhất và dị biệt về nghĩa giữa từ trong ngôn ngữ toàn dân với từ trong phơng ngữ khá phức tạp
Việc nghiên cứu vốn từ chỉ nghề của phơng ngữ hay của một ngôn ngữ là vô cùng khó khăn và phức tạp vì từ nghề nghiệp trong phơng ngữ không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với sự khác biệt về ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân với các phơng ngữ khác mà nó
có thể là biến thể của từ trong phơng ngữ đó
Sự biến đổi của ngôn ngữ có tính lịch sử và theo thời gian các biến thể của ngôn ngữ có thể chồng xếp lên nhau Từ nghề nghiệp nói riêng và phơng ngữ nói chung, ngoài những cái chung cơ bản mang tính thống nhất với ngôn ngữ toàn dân thì vẫn có những nét dị biệt Chính những nét dị biệt không thống nhất ấy giúp chúng ta tìm hiểu kỹ hơn mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn
từ toàn dân và vốn từ địa phơng Đây là mối quan hệ đa chiều về không gian và thời gian của quy luật biến đổi và tồn tại của ngôn ngữ Khi đối chiếu và so sánh ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ trong đó có lớp từ nghề nghiệp ta thấy
Trang 18sự khác biệt đầu tiên chính là ngữ âm, rồi đến sự khác biệt về ngữ nghĩa Sự khác biệt giữa vốn từ của phơng ngữ trong đó có vốn từ nghề nghiệp với vốn từ của ngôn ngữ toàn dân trớc hết là do sự phát triển lịch sử ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nói riêng và ngôn ngữ nói chung của tiếng Việt Ngoài ra sự khác biệt giữa các lớp từ đó còn do nhiều nguyên nhân
Sự khác nhau giữa từ trong vốn từ của ngôn ngữ toàn dân với từ trong vốn
từ của phơng ngữ trong đó có lớp từ chỉ nghề nghiệp rất đa dạng Có thể đó là sự khác nhau hoàn toàn về âm và nghĩa, cũng có thể là những từ cùng âm nhng có
sự xê dịch ít nhiều về nghĩa giữa từ trong phơng ngữ so với từ trong ngôn ngữ toàn dân Hay có những từ khác nhau chỉ là dung lợng ngữ nghĩa rộng hay hẹp,
số lợng nghĩa nhiều hay ít Sự khác nhau có thể do từ gắn với đặc điểm nghề nghiệp của từng vùng có những công cụ, hoạt động riêng
Vốn từ vựng của ngôn ngữ toàn dân với vốn từ vựng của phơng ngữ căn bản là hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên nó có những nét dị biệt Chính những nét dị biệt đã thể hiện rõ bản sắc văn hoá của c dân vùng phơng ngữ Vốn từ ph-
ơng ngữ nói chung và từ chỉ nghề nói riêng góp phần xây dựng nên bức tranh ngôn ngữ văn hoá ngày càng phát triển
1.3 Vốn từ nghề nghiệp
1.3.1 Khái niệm từ nghề nghiệp
Từ nghề nghiệp là một sáng tạo về ngôn ngữ của nhân dân lao động Nó
là bớc tập duyệt của toàn bộ những ngời làm chủ chân chính của một ngôn ngữ
để tiến lên xây dựng một hệ thống thuật ngữ cho mình Khi tiếng Việt cha có thuật khoa học chân chính thì ở các làng thủ công, ở những gánh hát, ở các xí nghiệp của những ngời lao động bình thờng đã có những sáng tạo kỳ diệu thể hiện ở những lớp từ gọi là từ nghề nghiệp Bởi từ nghề nghiệp đó vừa cần thiết cho sự giao tiếp trong từng ngành nghề vừa cần thiết cho mọi ngời khi cần diễn
đạt một cách chính xác, sinh động, ngắn gọn cho những sản phẩm, những sự kiện của hoạt động xã hội
Trang 19Theo GS Đỗ Hữu Châu: “Từ nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng
đợc sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành nghề lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn th…)”[ 9, tr 249]
Nguyễn Văn Tu trong giáo trình “ Từ vựng học tiếng Việt hiện đại ”cũng
đã so sánh “ những từ ngữ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ đợc chuyên dùng
để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghề nghiệp còn khác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh có nhiều sắc thái vui
ý nghĩa của từ nghề nghiệp tồn tại trong bối cảnh của nghề nghiệp bởi từ nghề nghiệp không có vốn ngôn ngữ riêng mà khi một nghề ra đời cần từ ngữ
để đặt tên cho các công cụ, các sản phẩm của nghề thì ngời ta lấy trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng để gọi tên lâm thời cho các đối tợng đó
Khi một nghề mới ra đời thì đồng thời cũng có lớp từ chỉ nghề nghiệp cũng ra
đời Do tính chất của nghề tồn tại trong phạm vi hẹp nên tính chất xã hội của từ chỉ nghề nghiệp cũng bị hạn chế, khả năng hoạt động của từ nghề nghiệp cũng hạn chế, chỉ tồn tại trong phạm vi hoat động của nghề, có tính biệt lập Tuy nhiên có một số nghề không có tính biệt lập bởi phạm vi hoat động của nó rộng chẳng hạn nh một số nghề truyền thống nh nghề đánh cá, nghề trồng lúa…
Nh vậy “ Từ nghề nghiệp là các từ ngữ đặc trng cho ngôn ngữ của nhóm ngời thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào
đó”[32, tr 384]
Trang 20Vốn từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ và ngữ cố định của ngời làm nghề nào đấy trong xã hội dùng phục vụ cho hoạt động sản xuất hành nghề của nghề đó
1.3.2 Từ nghề nghiệp trong các thổ ngữ, phơng ngữ và trong vốn từ toàn dân
Từ toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn từ chung cho tất cẩ những ngời nói ngôn ngữ đó, thuộc các địa phơng khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ Có thể nói, từ toàn dân là hạt nhân từ vựng làm cở
sở cho sự thống nhất ngôn ngữ dân tộc, là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học Về mặt nội dung từ vựng toàn dân biểu hiện những sự vật, hiện tợng, những khái niệm quan trọng và cần thiết cho đời sống Từ toàn dân là cơ sở để cấu tạo các từ mới làm giàu cho vốn từ vựng của ngôn ngữ nói chung Đa số các
từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là những từ trung hoà về mặt phong cách
Là những lớp từ dùng hạn chế về mặt xã hội, từ nghề nghiệp là tên gọi duy nhất của hiện tợng thực tế Nó không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Vì vậy từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến trong xã hội Chẳng hạn nhnhững từ đục, bào, ca là những từ của nghề mộc nhng hiện nay nó dờng nh đã
trở thành từ toàn dân vì những dụng cụ này trở nên quen thuộc với những ngời không làm nghề mộc Từ nghề nghiệp thờng đợc dùng trong khẩu ngữ của
những ngời cùng nghề, cũng có thể đợc dùng trong vốn từ của ngôn ngữ văn học nghệ thuật Vì vậy có thể nói rằng quan hệ giữa từ nghề nghiệp và từ toàn dân là quan hệ giao thoa, đan xen, trong quy luật vận động của ngôn ngữ
Nh vậy từ nghề nghiệp có nhiều loại, nếu chúng ta xét về mức độ phạm vi
sử dụng và tính khó hiểu của các lớp từ này, ta thấy có những từ nghề nghiệp, tuy là từ của nghề nông - nghề phổ biến lâu đời trong xã hội , nhng nếu không phải là ngời làm nông thì khó mà hiểu đợc các từ “ Trốôc vát , triêng” “ ” trong các câu sau đây:
Trang 21“Nấu cơm không xới thì mất một bát
Cày ruộng không lấp trôốc vát thì mất môt triêng”
Hay những từ : xa, óng, suốt, thoi, go, trục, cửi, hồ sợi, lấy go, đánh óng, đánh suốt, tơ, mành… sẽ rất khó hiểu nếu ngời đó không sống trong làng nghề dệt
vải Hay những từ của nghề làm nón cũng vậy: lá, mốc, vanh, guột, triệp, nức, khuôn, là lá, bắt vành, nức nón, chằng nón…
Sở dĩ có hiện tợng những ngời không sống trong làng nghề thì không hiểu đợc các từ nghề nghiệp của làng nghề đó vì từ nghề nghiệp không có từ
đồng nghĩa với từ trong ngôn ngữ toàn dân.Từ nghề nghiệp có ý nghĩa biểu vật
cụ thể trong ngành nghề và là tên gọi duy nhất của nghề trong thực tế, mà nghề thủ công thờng gắn với địa phơng cụ thể, có thể có địa bàn hẹp chỉ trong một làng, một xã
Từ nghề nghiệp là lớp từ riêng của một nghề nó không đồng nhất với từ toàn dân nhng có một số từ nghề nghiệp có thể trở thành từ thuộc ngôn ngữ toàn dân khi những công cụ sản xuất, những khái niệm riêng của nghề đó trở thành phổ biến rộng rãi trong xã hội Chẳng hạn trong xã hội Việt Nam, có những nghề phạm vi khu vực hoạt động rất hạn chế nh: nghề đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm nón v.v thì lớp từ nghề nghiệp của các nghề này chỉ có ng… ời trong nghề mới hiểu đợc Tuy nhiên, lại có những nghề lâu đời đợc gọi là nghề truyền thống, mức độ pham vi phổ biến, địa bàn của nghề rộng rãi nên một bộ phận lớn những từ nghề nghiệp của nghề này đã trở thành ngôn ngữ toàn dân nh: nghề
đánh cá nghề trồng lúa
Việt Nam là một nớc có nền văn minh lúa nớc, tỷ lệ ngời dân trồng lúa chiếm số đông từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi đến miền ngợc; ngời làm nghề nông đều phân bố rộng khắp Chính vì thế có một số lợng từ chỉ nghề trồng lúa
đã trở thành lớp từ toàn dân Ngoài nghề trồng lúa còn có nghề đánh cá cũng phổ biến rộng nên một số từ nghề cá cũng trở thành từ toàn dân Những ngời làm nghề khác trong xã hội không ai xa lạ với các từ nh :cày, bừa, cấy, thuyền
Trang 22lới, đánh cá…Bởi trong toàn xã hội các từ này đợc dùng một cách tự nhiên
Đây chính là biểu hiện của mối quan hệ đan xen của từ nghề nghiệp với từ toàn dân
Nghề nào cũng có lớp từ nghề nghiệp riêng, nhng mức độ phổ biến của các từ lại không giống nhau Vì thế có những từ chỉ những ngời trong nghề mới hiểu và dùng Ví dụ ở nghề trồng lúa có những từ rất quen thuộc với mọi ngời nh: cày, bừa, lúa, mạ, thóc, gạo…nhng cũng có những từ rất lạ với những ngời
ngoài nghề, ví dụ : dờng (ngời Quảng Bình gọi là rờng) là bờ ngăn cách các
ruộng lúa với nhau, bừa phay (bừa sau khi đã cày xong làm chìm cỏ và rạ
xuống bùn để chuẩn bị gieo ) Nh vậy trong lớp từ nghề nghiệp có những từ do dùng rộng rãi, nay đợc dùng nh những từ toàn dân nhng lại có những từ riêng
mà ngời trong nghề mới hiểu Có thể nói rằng: từ nghề nghiệp là một trong những nơi cung cấp thêm từ cho ngôn ngữ toàn dân, góp phần làm cho ngôn ngữ toàn dân thêm phong phú và đa dạng
Chúng ta thấy rằng bất cứ một nghề nào cũng nằm trong một khu vực địa
lý nhất định nên từ nghề nghiệp luôn gắn liền với phơng ngữ, thổ ngữ của khu vực đó Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với phơng ngữ và thổ ngữ diễn ra trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, là mối quan hệ đan xen tác động qua lại rất phức tạp Mặc dù nó không tách biệt khỏi phơng ngữ, thổ ngữ nhng từ nghề nghiệp không hoàn toàn trùng khít với phơng ngữ, thổ ngữ Có những từ nghề nghiệp trong một thổ ngữ trùng với từ phơng ngữ nhng lại có những từ lại khác
C dân của mỗi địa phơng có những từ chỉ đặc điểm riêng về nghề Ví dụ nh ở Quảng Bình có lẽ không ai xa lạ với những từ: bắc má, bít ló, cộôc toóc, những
từ này là những từ nghề nghiệp mang tính chất phơng ngữ nhng lại có những từ
mà chỉ có những ngời trong làng xã mới hiểu đợc bởi phạm vi sử dụng của chúng rất hẹp: mần rờng ( jờng), cặm vè, dém mội ….).
Nh vậy mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với phơng ngữ, thổ ngữ và từ toàn dân là mối quan hệ đan xen, phức tạp Từ nghề nghiệp vừa mang những
Trang 23đặc điểm riêng của từng thổ ngữ nhng cũng mang những đặc điểm chung của lớp từ phơng ngữ và từ toàn dân Đi vào khảo sát đặc điểm lớp từ chỉ nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình, trên cơ sở khái niệm đa ra chúng tôi sẽ chú ý miêu tả và đặt nó trong mối quan hệ giữa thổ ngữ, phơng ngữ và từ toàn dân để xét.
1.3.3 Vốn từ chỉ nông cụ qua một số thổ ngữ Quảng Bình
a Sơ lợc về nghề nông và các thổ ngữ Quảng Bình
Việt Nam là một đất nớc có nền văn minh lúa nớc, có thể nói nớc ta là một nớc nông nghiêp Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cơ bản nhất của ngời Việt Nam trên các vùng
Quảng Bình là một mảnh đất có lịch sử làm nông nghiệp lâu đời và là nghề chủ yếu của c dân ở đây từ xa cho đến nay Tỉnh Quảng Bình có diện tích
tự nhiên: 7748 km2, là cửa ngõ miền Trung Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp nớc Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào và phía Đông là biển Dọc đờng thiên lý Bắc-Nam, Quảng Bình
là một trong những dãy đất gập ghềnh và eo hẹp nhất nớc Việt Nam
Trải qua hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, Quảng Bình luôn là mảnh
đất nằm ở vị trí xung yếu của đất nớc Quảng Bình hầu nh lúc nào cũng đứng ở
vị trị tiền tiêu của các cuộc đụng đầu lịch sử Với địa hình đầy đủ ba yếu tố rừng - núi - đồng bằng và biển nhân dân Quảng Bình làm tất cả các nghề phù hợp với địa hình Ba yếu tố này và các nghề nghiệp đã hoà hợp bổ sung cho nhau tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Bình Trong tất cả các nghề thì nghề nông là nghề phổ biến chiếm u thế về kinh tế đối với cả tỉnh,và từ phía Bắc đến phía Nam tỉnh đời sống c dân luôn phụ thuộc vào nghề nông Mặc dù đất đai và khí hậu ở đây khắc nghiệt, rất khó khăn cho việc sản xuất, đó là một mảnh đất “gió lào cát trắng” nhng ngời dân ở đây luôn chung lng đấu cật để hàng năm thu hoạch đợc hàng trăm tấn nông sản
Nghề nông là nghề cơ bản, chủ yếu của tỉnh Quảng Bình Tất cả 6 huyện của tỉnh Quảng Bình, nhân dân chủ yếu làm nông (chỉ có huyện Minh Hoá thì
c dân ít làm nông hơn) T liệu trong luận văn này chúng tôi tiến hành điều tra ở
Trang 24các xã thuần nông, là những xã có truyền thống làm nông lâu đời Vì vậy các từ chỉ nông cụ trong luận văn này là phản ánh trung thực và toàn diện bức tranh lớp từ chỉ nông cụ trong thổ ngữ Quảng Bình.
Quảng Bình từ trong xa thẳm đã là một trong những địa bàn c trú của
ng-ời nguyên thuỷ, ở đây vừa là địa bàn phân bố của văn hoá Đông Sơn vừa chứa
đựng bảo lu những dấu tích của văn hoá Sa Huỳnh ở phía Nam Nằm ở vị trí Trung Bộ của đất nớc, là vùng đất chuyển tiếp Bắc Nam càng về sau sự giao thoa Bắc Nam càng xảy ra hơn trong tiến trình tiến hoá của đất nớc Biết bao thế
hệ đã qua nhng họ đã để lại cho mảnh đất này tài sản văn hoá tinh thần và văn hoá vật chất vô giá Thời gian đã làm biến đổi rất nhiều giá trị nhng giá trị tinh thần của con nguời qua các thế hệ là vĩnh cửu
Về cơ bản tiếng nói giữa các vùng trong tỉnh Quảng Bình không khác nhau rõ nét về ngữ âm và từ vựng Giữa các xã có thể có những từ ngữ dùng khác nhau Điều đó cũng đợc thể hiện trong từ chỉ nghề nông Do vậy, thu thập các từ chỉ nông cụ theo các điểm điều tra đại diện cho các huyện khác nhau về tiếng chúng tôi tạm xem chúng là từ thuộc các thổ ngữ Quảng Bình
Tiến hành khảo sát “ Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình” nhằm dựng nên bức tranh văn hoá địa phơng Quảng Bình hiện lên
rõ nét hơn Chúng tôi những mong góp một phần sức lực của mình trong việc giữ gìn văn hoá của tổ tiên ông cha và phần nào nào làm cho mọi ngời hiểu thêm nét độc đáo trong ứng xử với thiên nhiên, xã hội của những con ngời chịu thơng, chịu khó ở một miền quê “gió lào cát trắng” này
b Vốn từ tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ
Bất cứ một nghề nghiệp nào cũng phải có công cụ để phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất cho nó Vậy nghề nông cũng phải có những công cụ để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Vậy nông cụ là gì? Nông cụ là những dụng
cụ dùng để sử dụng trong quá trình lao động sản xuất nông nghiệp nh cày, bừa, cuốc, liềm …Ngời dân lao động trong nghề nông hầu hết đều có những dụng cụ
Trang 25này, và nó là phơng tiện không thể thiếu trong mỗi gia đình nông dân Việt Nam.
Tên gọi các nông cụ là tên gọi chung của nghề nông nhng ở những thổ ngữ khác nhau thì tên gọi các nông cụ đó có thể không thống nhất Tuỳ theo quan niệm, phong tục mà mỗi thổ ngữ có những cách gọi tên các nông cụ khác nhau Nh thế chúng ta có thể hình dung đợc có một bức tranh rất phong phú và sinh động về tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình Việc tìm hiểu và khảo sát những từ liên quan đến tên gọi tất cả các nông cụ là điều không dễ Vì vậy chúng tôi chỉ tìm hiểu và khảo sát những tên gọi chủ yếu của các nông cụ phổ biến qua các thổ ngữ Quảng Bình
Phơng pháp khảo sát của chúng tôi chủ yếu là tiếp cận ngời dân và điều tra các tên gọi của nông cụ qua một số các nông cụ và một số hình vẽ Qua sự miêu tả của ngời dân chúng tôi ghi chép sau đó thống kê nên rất khó để xác
định độ chính xác Vì vậy đây chỉ mới là chỉ là kết quả bớc đâu và chỉ mới ở một số nông cụ, hi vọng có thời gian và có sự hỗ trợ hơn nữa mới có thể miêu tả các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình một cách chính xác và đầy đủ hơn
Qua khảo sát và nghiên cứu tên gọi các nông cụ qua thổ ngữ Quảng Bình chúng tôi thấy các tên gọi của nông cụ rất phong phú Sau đây là kết quả khảo sát bớc đầu về tên gọi các nông cụ qua thổ ngữ Quảng Bình
Các nông cụ đợc khảo sát là: cày, bừa (bừa đạp, bừa xốc), gàu sòng, gàu dai, hái, liềm, cuốc, vét, xẻng, thuổng, cào sắt, trang, quang gánh 14
nông cụ đó gồm có 73 bộ phận Chúng tôi điều tra đánh dấu tên gọi về 14 nông
cụ đó với 73 bộ phận của chúng Tổng số từ, ngữ điều tra thống kê đợc là 503
đơn vị cho 73 bộ phận của 14 nông cụ Trong đó tên gọi của các bộ phận cái cày là phong phú nhất, gồm 108 từ Đây là nông cụ có nhiều tên gọi khác nhau
giữa các thổ ngữ Quảng Bình
Trang 26Trong các bộ phận của nông cụ mà ngời Quảng Bình ai cũng biết nh: lỡi cày, con cày, ỉn cày thì có những bộ phận không phải ai cũng biết nh: lắc loi, chạc cày, cặc cày…
Các nông cụ khác nh: Liềm, cuốc, cào, thuổng tuy tên gọi không phong
phú nh cái Cày, cái Bừa nhng nó cũng có ít nhiều khác nhau về tên gọi qua các
thổ ngữ Chúng tôi không thu thập toàn bộ tên gọi các nông cụ sản xuất nông nghiệp mà chỉ thu thập các nông cụ chủ yếu mà thôi
Từ việc khái quát về vốn từ chỉ nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình chúng ta có cơ sở để định hớng, nghiên cứu về vốn từ chỉ nông cụ về các phơng diện cụ thể cũng nh mối quan hệ giữa vốn từ chỉ nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình với vốn từ chỉ tên gọi các nông cụ trong vốn từ toàn dân về đặc
điểm cấu tạo, cách thức đinh danh của lớp từ này
1.4 Vấn đề cấu tạo, định danh của lớp từ chỉ nông cụ
1.4.1 Vấn đề cấu tạo từ
Cùng với đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm cấu tạo cũng là một thành phần hình thức góp phần xác định từ và nhận thức t cách từ Đứng trớc một tổ hợp âm thanh nào đó chúng ta thờng đa ra những câu hỏi:
- Nhận thức xem tổ hợp âm thanh đó đã đủ t cách là từ hay cha, hay chỉ
là một yếu tố cấu tạo từ, hay chỉ là một tổ hợp của hai hay ba từ?
- Nếu đã là từ thì nó do những yếu tố nào tạo nên và đợc tạo ra theo
ph-ơng thức nào?
Trả lời cho câu hỏi đó nghĩa là chúng ta đang đi vào nhận thức t cách từ
và đặc điểm cấu tạo từ
Về nguyên tắc, cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ
(đ-ợc sự thúc đẩy của xã hội) để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt mà xã hội đặt ra Mà việc sản sinh ra từ cũng trớc hết là sản sinh ra các nghĩa mới, cho nên nghiên cứu cấu tạo từ phải làm sao phát hiện đợc các vận động cấu tạo trớc đây, hiện nay và sau này vẫn còn hoạt
Trang 27động Tất cả các sự kiện cấu tạo từ cần đợc lý giải dới ánh sáng của vận động
đó, đặc biệt cần đợc diễn giải trong các vận động phái sinh ra nghĩa của từ
Quá trình vận động cấu tạo của từ không phải phái sinh ra chỉ một từ riêng lẻ mà sản sinh ra hàng loạt từ cùng một kiểu Khi nghiên cứu cấu tạo từ cần chú ý đến các vận động hàng loạt các từ sản sinh ra cùng một kiểu cấu tạo
Để sản sinh ra từ của ngôn ngữ thì phải có các yếu tố cấu tạo nên từ Xét theo khả năng sản sinh ra các từ cho các từ vựng tiếng Việt, có thể định nghĩa
về yếu tố cấu tạo từ nh sau: “Yếu tố cấu tạo từ là những yếu tố mà tiếng Việt sử dụng để cấu tạo ra các từ cho từ vựng” (chứ không phải tạo ra các cụm từ, ra các câu ) [9, tr 28]
Những yếu tố cấu tạo từ của tiếng Việt phải có những điều kiện nhất định mới có khả năng cấu tạo ra từ Trong tiếng Việt các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất đợc dùng để cấu tạo ra các từ theo phơng thức cấu tạo từ của tiếng Việt Tuy nhiên các yếu tố cấu tạo từ đó trong ngôn ngữ học có rất nhiều cách gọi tên, chẳng hạn nh: tác giả Hồ Lê trong “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976) gọi yếu tố cấu tạo từ là “nguyên vị ,”nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (1992) gọi yếu tố cấu tạo từ là “tiếng ,” nhóm tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” gọi các yếu tố cấu tạo từ là “từ tố ” Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt ” gọi các yếu tố cấu tạo từ là “hình vị ” Hình vị “là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất-tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa-đợc dùng để cấu tạo ra các từ theo các phơng thức cấu tạo từ của tiếng Việt” [9, tr 28]
- Phơng thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị (yếu tố tạo từ) để cho ta các từ Theo Đỗ Hữu Châu tiếng Việt sử dụng ba phơng thức để tạo ra ba loại từ: phơng thức từ hoá hình vị, phơng thức ghép và phơng thức láy
- Phơng thức từ hoá hình vị:
Trang 28Đây là quá trình từ hoá bản thân hình vị gốc tạo nên những đơn vị từ vựng khá đặc biệt trong tiếng Việt
Phơng thức từ hoá hình vị là phơng thức tác động vào bản thân một hình
vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó Những từ nh:cày, bừa, cuốc, hái là những từ hình thành do từ hoá các hình vị: cày, bừa, cuốc, hái Bởi
trong tiếng Việt có hiện tợng trùng khít giữa ranh giới hình vị, âm tiết và từ
Bản chất của phơng thức từ hoá hình vị là đợc cấp những đặc trng về ngữ
âm, ngữ nghĩa, và ngữ pháp mà hình vị biến thành từ có t cách là những đơn vị
từ vựng ngữ pháp hoạt động tự do trong câu (Hoàng Văn Hành) Về phơng thức
từ hoá hình vị mà Đỗ Hữu Châu và Hoàng Văn Hành đề cập đến nh trên, hiện nay trong giới nghiên cứu Việt ngữ vẫn cha thống nhất
- Phơng thức ghép là phơng thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới gọi là từ ghép (mang
đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa nh một từ) Chẳng hạn hình vị “nhà” kết hợp với
hình vị “cửa tạo nên từ ghép hợp nghĩa là nhà cửa ; Hình vị “xe” ghép với hình
vị “máy” tạo nên từ ghép phân nghĩa “xe máy”
- Phơng thức láy : là phơng thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh của hình vị gốc tạo nên từ láy Nói tới láy là nói tới quy tắc ngữ âm mà biểu hiện của nó là
điệp và đối tạo ra sự hài hoà về ngữ âm
Chẳng hạn theo quy tắc nhân đôi A- AA’, tạo ra từ láy hoàn toàn xinh- xinh xinh, xanh-xanh xanh
Hay phơng thức láy tác động hình vị xanh cho ta hình vị “xao” để làm
thành từ láy xanh xao.
Nói tới cấu tạo từ ngoài những yếu tố cấu tạo, phơng thức cấu tạo thì còn những yếu tố khác cũng tham gia cấu tạo nên từ Ngoài hình vị và phơng thức cấu tạo từ còn có các nhân tố khác tuy không có đặc điểm của hình vị nhng lại
Trang 29có giá trị cấu tạo từ, một số tác giả gọi chúng là hình tố Chẳng hạn nh hình tố quan hệ, hình tố trật tự và hình tố ngữ âm Nhiều khi các yếu tố cấu tạo giống nhau nhng tính chất quan hệ giữa các yếu tố khác nhau, thì tạo ra từ khác nhau Hay vị trí giữa các yếu tố khác nhau thì t cách từ cũng khác nhau Chính vì vậy khi nghiên cứu cấu tạo từ chúng ta đồng thời phải chú ý đến các nhân tố tham gia cấu tạo từ trong đó cần nhấn mạnh quan hệ giữa các yếu tố và sự sắp xếp các yếu tố theo trật tự nào để phát hiện ra cơ chế nguyên tắc cấu tao từ.
Nh vậy căn cứ vào quan hệ, trật tự của các yếu tố chúng ta có thể khái quát thành các mô hình cấu tạo từ giúp cho việc nhận diện từ một cách rõ ràng, nhất là về nghĩa
Từ trong phơng ngữ và thổ ngữ cũng đợc tạo ra theo những phơng thức cấu tạo từ trong tiếng Việt nhng yếu tố dùng để tạo từ và tính chất quan hệ giữa các yếu tố có thể khác trong ngôn ngữ toàn dân, nên từ chỉ nông cụ trong phơng ngữ cũng có những đặc điểm riêng
1.4.2 Về định danh
Trong ngôn ngữ, từ đảm nhận nhiều chức năng khác nhau nhng hầu nh tất cả các từ đều có chức năng định danh Ngoài đặc điểm có tính chỉnh thể về nội dung và hình thức thì từ còn có chức năng định danh, tức là gọi tên cho các
sự vật hiện tợng ở đề tài này chúng tôi nhấn mạnh chức năng chủ đạo của từ và khảo sát khía cạnh này đó chính là chức năng định danh của từ
Chức năng định danh của từ đợc nghiên cứu nhiều trong lịch sử ngôn ngữ học và Việt ngữ học Các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề định danh của từ nh: “Những luận điểm của trờng phái ngôn ngữ học fraha” (Dẫn theo
Đỗ Hữu Châu,[10]); “Mác-ăng ghen-Lênin bàn về ngôn ngữ” [10] “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt’’ [9] “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại [24] “Từ
và nhận diện từ của tiếng Việt” [15] “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng[10]” Vấn
đề định danh của từ cũng đợc đề cập trên các bài viết đợc đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ nh “Tên gọi và cách gọi tên” (Nguyễn Phơng Chi, Hoàng Tử Quân,
Trang 30Tạp chí Ngôn ngữ 1984 số phụ 2) “Từ đặc trng dân tộc của định danh nhìn nhận lại nguyên lý võ đoán của ký hiệu ngôn ngữ” (Nguyễn Đức Tồn, Tạp chí
Ngôn ngữ 1997 số 4) “Về các yếu tố thứ hai trong từ ghép phân nghĩa đặc biệt” (Lê Bá Miên, Việt ngữ học 1999).
Vậy định danh là gì? Chúng tôi hiểu định danh theo quan niệm:“ Định danh là sự cố định (hay gán) cho một ký hiệu ngôn ngữ một khái niệm-biểu niệm phản ánh đặc trng nhất định của một biểu vật - các thuộc tính phẩm chất
và quan hệ của các đối tợng và quá trình thuộc phạm vi vật chất, tinh thần, nhờ
đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn ngữ’’ [32]
Định danh là một phơng tiện để t duy vì vậy chức năng định danh có vai trò rất lớn cho hoạt động tự duy Mỗi sự vật hiện tợng đều có mỗi tên gọi khác nhau vì thế khi cần, con ngời không cần phải huy động toàn bộ các sự vật hiện tợng mà chỉ cần suy nghĩ một cách nhanh nhất tên gọi của các sự vật hiện tợng
đó đã tồn tại trong tri giác cảm tính của con ngời Nó làm cho bộ não của chúng
ta tập trung suy nghĩ vào những thuộc tính cơ bản nhất, cần thiết nhất với đối với một sự vật hiện tợng mà ta cần chứ không cần nghĩ đến những thuộc tính thứ yếu Nhờ chức định danh của từ nên bộ não khi cần có thể hình dung đợc
đối tợng trong tính chỉnh thể của nó
Xã hội ngày một phát triển, trình độ con ngời ngày càng đợc nâng cao, ớc muốn khám phá và chinh phục thế giới càng tiến lại gần Vì vậy nhận thức của con ngời không bao giờ bó hẹp trong phạm vi những gì đã biết mà con ngời luôn tìm tòi khám phá những gì đang tồn tại trong xã hội mà con ngời cha biết Khoa học ngày càng phát triển điều đó càng trợ giúp con ngời phát hiện ra nhiều cái mới hơn Mỗi sự vật và hiện tợng mới đợc khám phá phát hiện ra con ngời lại đặt cho nó một tên gọi và tên gọi đó đợc xã hội công nhận
Mỗi sự vật hiện tợng đều có tên gọi của nó, nhờ tên gọi mà sự vật hiện ợng khách quan tồn tại trong t duy của chúng ta để giúp chúng ta phân biệt đợc giữa sự vật hiện tợng này với sự vật hiện tợng khác Khi sự vật, hiện tợng đợc
Trang 31t-gắn cho mình một tên gọi thì sự vật hiện tợng đó đợc nhận thức có ranh giới, có
đặc điểm riêng, có cá tính riêng và đời sống riêng Ngôn ngữ đợc chia thành những phân đoạn, mảnh đoạn Mỗi phân đoạn, mảnh đoạn là một ý nghĩa biểu vật bởi ngôn ngữ là một dãy liên tục đi từ thấp đến cao theo quan hệ tôn ti
Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng và có một nền văn hoá riêng nhng trong đó ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau “ngôn ngữ là địa chỉ của văn hoá” Nội dung của ngôn ngữ phản ánh thực tại, hàm chứa những yếu tố văn hoá của con ngời Về nguyên tắc hoạt động ngôn ngữ cũng nh hoạt động tinh thần cả hai đều giúp cho xã hội phát triển
Văn hoá giữa các cộng động ngời không thể mở rộng giao lu đợc nếu thiếu ngôn ngữ Bởi ngôn ngữ là phơng tiện của t duy, là công cụ giao tiếp giữa ngời và ngời Trong xã hội nếu thiếu ngôn ngữ thì xã hội không thể tồn tại Mỗi
sự vật, hiện tợng đợc gọi tên theo từng quan niệm của con ngời “sự lựa chọn đặc trng thuộc tính nào của sự vật hiện tợng để gọi tên, thói quen tâm lý dùng biểu trng biểu vật ra sao, nét riêng trong liên tởng chuyển nghĩa của từ là gì, đến cả cách quy loại khái niệm của đối tợng đợc định danh đều có thể là những biểu hiện của những nét đặc trng văn hoá dân tộc” (7, tr 157)
V.Humbold đã viết “Ngôn ngữ dờng nh là sự thể hiện ra bên ngoài của linh hồn dân tộc Ngôn ngữ của dân tộc là linh hồn của nó và linh hồn của dân tộc là ngôn ngữ của nó Khó lòng hình dung đợc một cái gì thống nhất với nhau hơn thế [10]
Ngôn ngữ phản ánh hiện thực, qua lăng kính nhận thức t duy của con
ng-ời Vì vậy phân tích ngôn ngữ không chỉ phân tích cấu trúc, chức năng của tín hiệu trong hệ thống mà cần phải chú ý đến yếu tố con ngời Theo F de.Saussure: Ngôn ngữ có tính võ đoán, song sự phản ánh của ngôn ngữ lại qua lăng kính chủ quan của con ngời Vì vậy, qua ngôn ngữ chúng ta ít nhiều nhận
ra đợc dấu ấn của con ngời qua cách gọi tên Qua những nhóm từ vựng cụ thể và tên gọi các nông cụ giữa các thổ ngữ, phơng ngữ cũng ẩn chìm trong nó dấu ấn văn hoá con ngời cũng đợc hiện lên
Trang 32Vì thế mà loại bánh làm bằng bột gạo tẻ xay ớt tráng thành tấm mỏng hình tròn, thờng có rắc vừng rồi phơi khô khi ăn thì nớng lên, ngôn ngữ toàn dân gọi thứ bánh đó là bánh đa (giống hình lá đa), có nơi ngời ta gọi là bánh tráng (Quảng Bình) (gọi theo phơng thức làm bánh), còn có nơi lại gọi là bánh khô (Nghệ Tĩnh) (gọi theo tính chất có nớc hay không có nớc).
Có một sự vật: “Cây nhỏ cùng họ với cà, hoa trắng, quả chín có màu đỏ,
vị cay dùng làm gia vị, ngời ta thờng gọi là ớt Nhng cây ớt vì quả nhỏ nên có nơi gọi là ớt mọi (bởi nó nhỏ nh muỗi mà tiếng địa phơng gọi là mọi), có địa
phơng gọi là ớt bay (không rõ lí do) có địa phơng gọi là ớt chỉ thiên, bởi quả
mọc chỉ thẳng lên trời
Một thực tế cho chúng ta thấy rằng sự vật thì giống nhau nhng sự vật đó tồn tại trong các vùng miền lại có thể đợc định danh không hoàn toàn giống nhau, nên tên gọi về chúng có thể không giống nhau Điều đó là do đặc điểm sự vật đợc phân cắt gọi tên khác nhau giữa các vùng miền Nh vậy mỗi tên gọi và cách gọi tên của mỗi sự vật là một thế giới phân cắt chi tiết sự vật cụ thể rất phong phú và đa dạng trong các vùng Tên gọi của sự vật rất gần gũi gắn liền với đời sống quan niệm của con ngời Qua cách định danh cho sự vật, ngời ta có thể thấy đợc cách nhìn chủ quan của con ngời và sắc thái văn hoá ẩn chìm sau tên gọi đó Tuỳ theo quan niệm của mỗi ngời, mỗi địa phơng về sự vật mà gọi tên cho nó Vậy chúng ta nghiên cứu cấu tạo từ, cách định danh của từ sẽ gắn liền với nghiên cứu văn hoá ngôn ngữ và t duy của con ngời Đó cũng chính là những cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng tôi đi vào khảo sát đặc điểm cấu tạo
và định danh của từ chỉ nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình
Để làm nổi bật điều đó một cách rõ ràng hơn chúng tôi đi vào xét nhóm
từ tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình trên những nét cơ bản nhất
Trang 33chơng 2 tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình
Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá thống nhất của một dân tộc thống nhất Nền văn hoá này đợc hình thành trong sự nghiệp trờng kì xây dựng và bảo
vệ Tổ Quốc, đã thể hiện bản sắc dân tộc Việt Nam Tuy Việt Nam thuộc khu vực văn hoá lúa nớc nhng nó hiện ra với nhiều vẻ, đủ màu sắc trên từng vùng khác nhau Mỗi vùng văn hoá của dân tộc Việt Nam gắn liền với từng môi trờng
tự nhiên cụ thể, với tiến trình lịch sử cụ thể cho nên mang bản sắc riêng không trộn lẫn với với vùng khác đợc Dĩ nhiên mỗi vùng nh thế chỉ là ánh xạ của nền văn hoá chung của cộng đồng ngời Việt và tô đậm thêm cho vùng văn hoá chung đó Chính ngôn ngữ đã phản ánh rõ từng vùng văn hoá này bởi ngôn ngữ
là phơng tiện cầu nối mở rộng giao lu trao đổi hiểu biết về văn hoá giữa các cộng đồng ngời Ngôn ngữ là phơng tiện và cũng là tiền đề giúp cho văn hoá phát triển
Từ nghề nghiệp là một trong những thành phần vốn từ vựng của ngôn ngữ, nó mang trong mình chức năng phản ánh thế giới khách quan Thế giới
Trang 34khách quan đợc phản ánh vào trong ngôn ngữ, trong ý nghĩa của từ ít nhiều có tính chủ quan của con ngời Vì vậy qua phân tích từ ngữ chúng ta không những biết từ gọi cái gì mà còn có thể biết cách gọi tên của từ nh thế nào.
Đi vào khảo sát lớp từ là tên gọi nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình chúng tôi chủ yếu tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của chúng Qua đó thấy đợc sự phong phú và đa dạng của vốn từ địa phơng cũng nh nét độc
đáo trong cách gọi tên các nông cụ của các thổ ngữ Quảng Bình
2.1 Tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình
2.1.1 Kết quả thống kê
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tên gọi của 14 nông cụ chủ yếu trong nghề nông ở Quảng Bình là: cày, bừa (bừa đạp, bừa xốc), liềm, hái, cuốc, xẻng, vét, thuổng, gàu dai, gàu sòng, cào sắt, bàn trang, quang gánh Mỗi
nông cụ nh vậy chúng tôi tiến hành khảo sát tên gọi của từng bộ phận một Trớc hết, chúng tôi vẽ nông cụ vào phiếu, đánh số thứ tự cho từng bộ phận, rồi trực tiếp gặp ngời dân (chủ yếu là ngời già) làm nông nghiệp ở các xã thuộc các huyện của tỉnh Quảng Bình để thu thập t liệu
ở Quảng Bình hầu nh huyện nào, xã nào cũng làm nông nhng chúng tôi chỉ khảo sát ở những xã thuần nông Sau đây là 24 xã mà chúng tôi tiến hành
điều tra khảo sát:
1 Xã Phong Thuỷ, 2 Xã Xuân Thuỷ, 3 Xã Hồng Thuỷ, 4.Xã Thanh Thuỷ, 5 Xã Cam Thuỷ (thuộc huyện Lệ Thuỷ) 6 Xã Tân Ninh, 7 Xã An Ninh, 8 Xã Vạn Ninh, 9 Xã Gia Ninh, 10 Xã Võ Ninh (thuộc huyện Quảng Ninh) 11 Xã Diêm Điền (thuộc thành phố Đồng Hới), 12 Xã Vạn Trạch, 13 Xã Hoàn Trạch,
14 Xã Tây Trạch, 15 Xã Hoà Trạch, 16 Xã Trung Trạch (Thuộc huyện Bố Trạch), 17 Xã Quảng Thuận, 18 Xã Quảng Thọ, 19 Xã Quảng Xuân, 20 Xã Quảng Hng, 21 Xã Quảng Phong (thuộc huyện Quảng Trạch), 22 Xã Đức Hoá, 23 Xã Phong Hoá, 24 Xã Mai Hoá (thuộc huyện Tuyên Hoá)
Chúng tôi đã thống kê kết quả đợc nh sau:
Trang 35Có 108 tên gọi khác nhau đối với 14 bộ phận của cái cày
Có 82 tên gọi khác nhau đối với 8 bộ phận của cái bừa đạp
Có 87 tên gọi khác nhau đối với 11 bộ phận của cái bừa xốc
Có 48 tên gọi khác nhau đối với 4 bộ phận của cái gàu sòng
Có 61 tên gọi khác nhau đối với 5 bộ phận của cái gàu dai
Có 37 tên gọi khác nhau đối với 6 bộ phận của cái hái
Có 16 tên gọi khác nhau đối với 5 bộ phận của cái liềm
Có 11 tên gọi khác nhau đối với 3 bộ phận của cái Cuốc
Có 4 tên gọi khác nhau đối với 2 bộ phận của cái vét
Có 4 tên gọi khác nhau đối với 2 bộ phận của cái xẻng
Có 4 tên gọi khác nhau đối với 2 bộ phận của cái thuổng
Có 13 tên gọi khác nhau đối với 3 bộ phận của cái cào sắt
Có 6 tên gọi khác nhau đối với 2 bộ phận của cái trang
Có 12 tên gọi khác nhau đối với 5 bộ phận của cái quang gánh
2.1.2 Phân loại
Mỗi bộ phận của nông cụ có nhiều tên gọi khác nhau giữa các thổ ngữ nên chúng tôi đánh số thứ tự theo số lợng tên gọi đối với các bộ phận nông cụ
đó Chữ số trong ngoặc đơn là chỉ địa điểm điêu tra theo danh sách các điểm
điều tra đã nêu ở trên Sau đây là tên gọi chỉ các bộ phận của nông cụ mà chúng tôi liệt kê đợc
a Tên gọi các bộ phận của cày
Trang 36I.1 Lại cày (1, 4, 5, 6, 14, 16, 18, 21, 22, 24,), 2.Lỡi cày (2, 3, 7, 8, 9, 10,
11, 13, 23), 3 Lợi cày (15, 19), 4 Mụi cày (12)
II.1 Điệp (2, 3, 4, 9, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 19, 20, 21, 22, 24), 2 Tán lật
đất (1), 3 Mu cày (5), 4.Tai đổ đất (6, 7, 8, 14), 5.Tai cày (10), 6 Jiệp (18, 23)
III.1 Đế cày (1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 12, 14,17, 22, 24), 2 Khu cày (4),
3 Điệp (10), 4.Lót (11), 5 Nụ (13, 15), 6 Nũ (16), 7 Mui (18), 8 Môi (19, 20), 9 Gót cày (21, 23)
IV.1 Con cày (1, 4, 5, 12, 14, 15, 16), 2 Thân cày (2, 11, 18, 20, 21, 22),
3 Chuôi cày (3, 6, 7, 8, 9), 4 Theo (10), 5 Cây cày (13, 19), 6 Cơn cày (17), 7 Seo (24), 8 Nảng cày (23)
IV ’1 Theo cày (1, 2, 10, 14, 15), 2 Thân cày (2, 11), 3 Chuôi cày (3, 6,
7, 8, 9), 4 Con cày (4), 5 Seo (12, 16, 18, 20, 21, 22, 23, 24), 6 Cây cày (13, 19), 7 Cơn cày (17)
V 1 ỉn cày (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23,
24), 2 ịn cày (12, 13, 14, 15)
VI 1 Náng cày (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15, 16, 20, 21, 22,
23, 24), Láng cày (11), Nảng cày (17, 18, 19)
Trang 37VII 1 Con trỏ (1), 2 Khoá cày (2), 3 Con ban (3, 4, 8, 13, 20), 4 Lộ
ban (6), 5 Con bọ (7), 6 Chốt náng (9),7 Chốt (10), 8 Lắc loi (11), 9 Cấy ban (12), 10 Kì ban (14, 15), 11 Ban (16, 18, 21, 22, 23, 24), 12 Náp (17), 13 Chốt tháp (19)
VIII 1 Náp cày (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 12, 13, 16, 20, 21, 22, 23, 24),
2 Ban (10), 3 Láp (11), 4 Kì náp (14, 15), 5 Thăng bằng (17), 6 Nâng su cạn (18), 7 Tháp (19)
IX 1 Đỏi cày (1), 2 Chốt cày (2, 5, 8, 11, 17), 3 Cặc cày (3, 6), 4 Con
chốt (4), 5 Con ton (9), 6 Móc cày (10), 7 Lắc loi (12, 20, 21, 22, 23, 24), 8 Chốt thang lang (13), 9 Đùi trôống (14, 15), 10 Lắc troi (16), 11 Chốt đứng (18), 12 Chốt lắc loi (19)
X 1 Dù cày (1), 2 Thanh ngang (2, 5), 3 Lắc loi (3, 4, 6, 8, 14, 15, 17,
19), 4 Triêng cày (7, 9, 10), 5 Đòn gánh (11), 6 Thang lang (12, 13, 16), 7 Lắc ngang (18), 8 Lủng láng (20, 21, 22, 23, 24)
XI 1 Dù éc (1), 2 Dù (2, 3, 4, 7, 10), 3 Jù (5, 8, 16), 4 Dù cải (6), 5
Rù (9, 11, 13, 14), 6 éc (12, 15, 21, 22, 23, 24), 7 ét (17, 18), 8 ách (19, 10)
XII 1 Dây giữ cổ trâu (1), 2 Nài (2), 3 Nịêt (3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 13, 16),
4 Dợ choàng cổ (9), 5 Liệt (11), 6 Chạc niệt (12), 7 Dợ niệt (14), 8 Nịt (15),
9 Dây ớm (17), 10 Chạc Troóng (18), 11 Yếm ách (19), 12 Chạc óng (20, 21,
22, 23), 13 óng (24)
XIII 1 Đỏi dù (1), 2 Dây cày (2, 4, 5, 10, 11, 17), 3 Đỏi cày (3), 4
Cọng cày (6), 5 Dây kéo cày (7), 6 Dợ cày ( 8, 9, 13, 14, 15,16), 7 Chạc cày (12, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24)
b) Tên gọi các bộ phận của bừa (bừa đạp)
Trang 38I 1 Neng (1), 2 Răng (2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17,
18, 19, 20, 21, 22, 23, 24), 3 Tăng (8)
II 1 Thân bừa (1, 6, 7, 8, 17) Bàn bừa (2), 3 Thanh bừa (3, 4), 5 Bản
bừa (5, 11), 6 Bả bừa (9), 7 Thăn bừa (10), 8 Mạ bừa (12, 13, 14, 15, 16, 18,
19, 20, 21, 22, 23, 24)
III 1 Thân ngắn (1), 2 Thân nối (2), 3 Choang (3, 6, 7, 8, 12, 13, 14,
15, 16, 22, 23), 4 Thanh ngang (4, 5), 5 Chốt bừa (9), 6 Thân ngang (10), 7 Thang (11, 21), 8 Thang lang (17), 9 Lẻ ngang (18), 10 Thông ngang (19, 20),
11 Thoen (24)
IV 1 Tay cầm (1), 2 Chạc cầm (2), 3 Dây choang (8), 4 Dây bừa) (4,
6), 5 Quai (5), 6 Dợ choang (8), 7 Choang bừa (9, 17), 8 Nãi bừa (10), 9 Dây nhắc (11), 10 Chạc túm (12), 11 Dây nài (13, 16), 12 Dợ nài (14), 13 Nài bừa (15), 14 Chạc xét (18), 15 Chạc cầm (19), 16 Dây néo (20), 17 Chạc xoang (21), 18 Chạc nài (22, 23), 19 Chạc núm (24)
V 1 Báp bừa (1), 2 Tai bừa (2, 4, 5, 7, 8, 12, 13, 14, 15, 16, 17), 3
Khoá đỏi (3), 4 Trốôc bừa (6), 5 Mấu bừa (9), 6 Chốt ngang (10), 7 Chốt
Trang 39(11), 8 Lắc loi (18), 9 Chực đứng (19), 10 Chực (20, 21), 11 Quai seng (22,
23, 24)
VI 1 Đỏi bừa (1), 2 Chạo (2), 3 Đỏi (3), 4 Dây buộc trâu (4), 5 Dây
nài (5), 6 Triêng bừa (6), 7 Dây bừa (7, 10, 11, 17), 8 Dợ bừa (8, 9, 15, 16), 9 Chạc bừa (12, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24), 10 Dây rù (13), 11 Dợ rù (14)
VII 1 Dù éc (1), 2 Dù (2, 3, 4, 7, 10), 3 Jù (5, 8, 16), 4 Dù cải (6), 5
Rù (9, 11, 13, 14), 6 éc (12, 15, 21, 22, 23, 24), 7 ét (17, 18), 8 ách (19, 10)
VIII 1 Dây giữ cổ trâu (1), 2 Nài (2), 3 Nịêt (3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 13,
16), 4 Dợ choàng cổ (9), 5 Liệt (11), 6 Chạc niệt (12), 7 Dợ niệt (14), 8 Nịt (15), 9 Dây ớm (17), 10 Chạc troóng (18), 11 Yếm ách (19), 12 Chạc óng (20, 21, 22, 23), 13 óng (24)
c Tên gọi cho các bộ phận của bừa xốc
Ngời Quảng Bình có nơi gọi loại bừa có hình vẽ nh sau là bừa xôốc có
nơi gọi là bừa đè Do địa hình, thổ nhỡng nên riêng huyện Quảng Ninh nguời
làm nông không dùng loại bừa này (tơng ứng từ 6 -11)
Trang 40I 1 Trục bừa (1, 2, 3, 4), 2 Bản bừa (5), 3 Cấy mạ (12), 4 Mạ bừa (13,
14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 22, 23, 24), 5 Thân bừa (21)
II 1 Thanh đứng (1, 4, 5), 2 Thanh đựng (2, 3), 3 Choang (12, 13, 16),
4 Lẻ chốông (14), 5 Thang lang (17), 6 Trực (18), 7 Chực đứng (19), 8 Chực (20), 9 Thang bừa đứng (21), 10 Cống (22), 11 Cóng bừa (23, 24)
II ’ 1 Thanh ngang (1, 2, 3, 4, 5), 2 Tay cầm (12, 20), 3 Lẻ ngang (13),
4 Thang bừa nằm (21), 5 Lẻ cầm ((14, 15, 16), 6 Tay bừa (17, 18), 7 Thông nằm(19), 8 Tay vịn (22, 23, 24)
III 1 Tai bừa (1, 2, 12,13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20), 2 Choang bừa (3,
4, 5), 3 Cọng bừa (21), 4 Chực bừa (22, 23, 24)
IV 1 Khoá trục (1, 3), 2 Khoá (2, 4, 5), 3 Niệt trục (12), 4 Dây niệt mạ
bừa (13, 16, 17), 5 Lộ răng bừa (14), 6 Niệt bừa (15), 7 Khung (18), 8 Khâu (19, 20, 22, 23, 24), 9 Nịt chân bừa (21)