1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm sinh học các quần thể thạch sùng đuôi sần (hemidactylus frenatus schlegel, 1836) ở yên mô, nho quan (ninh bình) và bỉm sơn (thanh hóa)

96 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm sinh học các quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) ở Yên Mô, Nho Quan (Ninh Bình) và Bỉm Sơn (Thanh Hóa)
Tác giả Đỗ Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Xuân Quang, TS. Cao Tiến Trung
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Động vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ sinh học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

biệt về những biến dị quần thể cùng với đặc điểm sinh học của loài sống trongđiều kiện khí hậu khác nhau.Vì những lý do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm sinh học các quần thể Thạ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

- -đỗ thị hằng

ĐặC ĐIểM SINH HọC CáC QUầN THể

Chuyên ngành: động vật

Mã số: 62.42.10

Luận văn thạc sĩ sinh học

Ngời hớng dẫn khoa học:

pgs.ts hoàng xuân quang

TS Cao tiến trung

để phõn loại mà điều cơ bản là phải thấy được mức độ và xu hướng biến đổicỏc đặc điểm hỡnh thỏi sinh lý của cỏ thể trong từng cơ thể gắn liền tới đờisống quần thể, hoặc quan hệ giữa cỏc quần thể khỏc nhau bởi địa hỡnh khớ

Trang 2

hậu Chính những hiểu biết này sẽ làm sáng tỏ thêm về ý nghĩa lý luận, cũngnhư giá trị thực tiễn của những dẫn liệu mô tả đơn thuần về mặt hình thái-phân loại các đặc trưng của loài Ngay trong một quần thể của một loài khó cóthể tìm thấy hai cá thể là hoàn toàn giống nhau về kiểu hình Nói cách kháccác biến dị quần thể và biến dị cá thể luôn luôn phát sinh và có ý nghĩa khácnhau đối với sự tồn tại và phát triển của loài Mặt khác, những nghiên cứutheo hướng này sẽ góp phần vào việc xác định sự phân bố của động vật, cungcấp thêm tư liệu cho hướng nghiên cứu phân tích đặc điểm hình thái sinh họcquần thể.

Việt Nam là một nước có điều kiện khí hậu và điều kiện tự nhiên kháphức tạp Hệ động vật, thực vật rất phong phú và mang nhiều sắc thái đặcbiệt Sự đa dạng về kiểu hình ở động vật chủ yếu được thể hiện qua nhữngđặc điểm hình thái, giải phẫu, đặc điểm sinh học Cho đến nay, theo kết quảđiều tra cho thấy ở nước ta có khoảng 176 loài ếch nhái, 369 loài bò sát(Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2009) [46], trong số đó có loài thạch sùng

đuôi sần (Hemidactylus frenatus) Đây là loài phân bố rộng rãi trên thế giới

như Ấn Độ, các khu vực nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Malaysia, và

ở Việt Nam chúng cũng phân bố khắp nơi Đã có nhiều công trình nghiên cứu

về hình thái, phân loại thạch sùng đuôi sần của các tác giả Trần Kiên, NguyễnVăn Sáng, Hồ Thu Cúc (1987), Hoàng Xuân Quang (1993) [22] Gần đây cócông trình nghiên cứu của Ngô Thái Lan, Trần Kiên (2000) [14] về thạch

sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) ở miền bắc nước ta Tuy nhiên các

công trình nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái quần thể còn ít ở tỉnhNinh Bình và Thanh Hoá, nơi có điều kiện khí hậu khác nhau nhất là sự daođộng của nhiệt độ ngày, đêm và mùa, là những yếu tố tạo nên nhiều điểmkhác biệt của các quần thể Vì vậy nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài này

ở Thanh Hóa và Ninh Bình là rất cần thiết, nhằm thấy được thấy được sự khác

Trang 3

biệt về những biến dị quần thể cùng với đặc điểm sinh học của loài sống trongđiều kiện khí hậu khác nhau.

Vì những lý do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm sinh học các

quần thể Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) ở

Yên Mô, Nho Quan (Ninh Bình) và Bỉm Sơn (Thanh Hoá)”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và biến dị quần thể thạch sùng đuôi

sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) ở khu vực Bỉm Sơn - Thanh Hoá

và Yên Mô, Nho Quan - Ninh Bình

- Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái và sinh học của quần thể

- Bổ sung tư liệu này góp phần giảng dạy môn sinh thái học ở cáctrường phổ thông và đại học

- Xem xét các biến dị theo sinh cảnh cũng như ở các khu phân bố địa lýđộng vật của các quần thể

3 Đối tượng nghiên cứu

Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836)

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm màu sắc, các tính trạng hình thái và phân tích

biến dị hình thái các quần thể thạch sùng đuôi sần

- Nghiên cứu đặc điểm sinh sản: Sự phát triển cơ quan sinh sản, thời giansinh sản của thạch sùng đuôi sần

- Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng: Xác định thành phần thức ăn, xácđịnh độ no của thạch sùng đuôi sần

- Nghiên cứu hoạt động ngày đêm, hoạt động mùa của thạch sùng đuôisần

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lược sử nghiên cứu ếch nhái bò sát trên thế giới và việt nam

1.1.1 Lược sử nghiên cứu ếch nhái bò sát trên thế giới

Ếch nhái bò sát từ lâu là đối tượng khai thác cơ bản của con ngườichúng được sử dụng làm thực phẩm hàng ngày, làm dược liệu bồi bổ cơ thểcũng như các sản phẩm mỹ nghệ khác Bắt đầu từ việc khai thác sử dụng đãdẫn đến sự ra đời của các công trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát Nhữngcông trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát có từ thời cổ đại Aristote (384- 322

tr CN) Tuy nhiên phải từ sau thế kỷ XIX việc nghiên cứu ếch nhái bò sátmới được tiến hành một cách có hệ thống

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Terentiev (1961), nghiêncứu hệ thống phân loại, nguồn gốc, quy luật phân bố và sự phân bố của cácnhóm ếch nhái bò sát trên toàn trái đất Smith M A (1943) [51], nghiên cứukhu hệ bò sát Ấn Độ, Ceylon, Mianma và cả Đông Dương thống kê được 400loài Nghiên cứu về hình thái giải phẫu, đặc điểm sinh học, tập tính hoạt độngcủa ếch nhái bò sát có các công trình nghiên cứu của Angus d’ A ballair(1975) [38], Coleman Goin(1962) [47]

Năm 1958 Taylor E H [48] xây dựng hệ thống phân loại ếch nhái bòsát ở Thái Lan Trong đó nhóm ếch nhái 6 họ 2 bộ, nhóm bò sát 11họ 3 bộ.Daltel J.C (1983) [44] nghiên cứu khu hệ bò sát Ấn Độ thống kê 116 loàithuộc 21 họ Trong đó nhóm cá sấu có 3 loài, nhóm rùa 26 loài, nhóm thằnlằn 39 loài Các tác giả Pope C (1935) [50], Er-Mizhao và Kraig Adler (1993)[49] nghiên cứu khu hệ bò sát Trung Quốc có 209 loài Trong đó rùa có 23loài, 6 họ, 15 giống; rắn 120 loài, 9 họ, 59 giống; thằn lằn có 66 loài, 6 họ, 21giống Đặc biệt nghiên cứu ếch nhái bò sát khu vực Đông Nam Á năm 1997của tác giả Ulrich Manthey và Wolfgang Grossman [47] đã mô tả làm khoá

Trang 5

định loại cho 353 loài Trong đó có 93 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ và 260loài bò sát thuộc 20 họ, 2 bộ Bên cạnh việc nghiên cứu các khu hệ ếch nhái

bò sát trên các khu vực rộng lớn, việc nghiên cứu cũng được tiến hành ở cácnhóm chuyên biệt Deuve, (1970) nghiên cứu rắn ở Lào thống kê được 64loài rắn thuộc 6 họ

Siant Girons H, (1972) nghiên cứu các đặc điểm sinh thái, sinh học củarắn, xây dựng hệ thống định loại rắn ở Campuchia gồm 61 loài, 9 họ, 34giống Cho đến nay song song với việc nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát cácnhà nghiên cứu còn đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm sinh thái của các quần thểnhững loài chuyên biệt

1.1.2 Lược sử nghiên cứu ếch nhái bò sát Việt Nam

Trước đây, những công trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát ở Việt Nam

do người nước ngoài tiến hành và công bố chung với vùng Đông Dương:Tirant (1985), Boulenger (1903), Mocquard (1906), Smith (1921, 1923,1924 ), Parker (1934) Nhưng đáng chú ý nhất là công trình của Bourret Rtrong khoảng thời gian từ 1924 - 1944 đã đề cập nhiều tới ếch nhái bò sátĐông Dương, trong đó có Việt Nam, có tới 177 loài và lòai phụ thằn lằn; 254loài và loài phụ rắn; 44 loài và loài phụ rùa đã được thống kê và mô tả [40]

Từ năm 1954 sau khi hòa bình lặp lại công tác điều tra động vật trong

đó có ếch nhái bò sát được tiến hành ở Miền Bắc Nhiều công trình được côngbố:

Năm 1960, Giáo sư Đào Văn Tiến [42] nghiên cứu khu hệ động vật cóxương sống ở Vĩnh Linh thống kê nhóm ếch nhái bò sát có 12 loài Năm 1977nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khóa định loại ếch nhái ViệtNam và công bố 87 loài ếch nhái thuộc 3 bộ 12 họ Năm 1979 tiếp tục thống

kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [35]

Trang 6

Nguyễn Văn Sáng, (1981) [27] nghiên cứu khu hệ rắn trên toàn miềnbắc đã thống kê phát hiện 89 loài thuộc 36 giống, 6 họ, 1 bộ, trong đó có 14loài rắn độc.

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, (1985) [7] báo cáo danhlục khu hệ ếch nhái bò sát Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài ếch nhái.Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩakinh tế của các loài.Có thể xem đây là đợt tu chỉnh đầu tiên về danh sách ếchnhái bò sát ở nước ta

Từ năm 1990 trở lại đây việc điều tra thành phần loài ếch nhái bò sát ởcác khu hệ địa phương vẫn được tiếp tục:

Hoàng Xuân Quang (1993, 1995) [22, 24] điều ta thống kê danh sáchếch nhái bò sát ở các tỉnh bắc trung bộ gồm 94 loài bò sát xếp trong 59 giống

17 họ và 34 loài ếch nhái xếp trong 14 giống 7 họ Tác giả đã bổ sung chodanh lục bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài.Bên cạnh đó kèm theo sự phân tích sự phân bố địa hình sinh cảnh và quan hệvới các khu phân bố ếch nhái bò sát trong nước

Ngô Đắc Chứng (1995) [3] thống kê danh sách ếch nhái bò sát VườnQuốc Gia Bạch Mã gồm 49 loài thuộc 15 họ, 3 bộ, họ có số loài nhiều nhất là

họ Ranidae (11 loài ) và họ Colubridae (11 loài) Có 3 loài ếch nhái và 8 loài

bò sát được xem là quý hiếm Nguyễn Văn Sáng (1995) nghiên cứu khu hệếch nhái bò sát Tây Nguyên có 42 loài ếch nhái, 7 loài rùa, 37 loài thằn lằn,

57 loài rắn Có ít nhất 10 loài mà các tác giả chưa định được tên hoặc ở dạngphụ

Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Nguyên Bình, (1995) [29]nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát ở vùng Ba Vì xác định được 8 loài ếch nháithuộc 4 họ, 1 bộ và 54 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ Việc điều tra chưa thật

Trang 7

đầy đủ và hoàn tất nhưng số loài xác định được chiếm 18,26% tổng số loàiếch nhái bò sát có ở Việt Nam

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Nguyên Bình(1995) [28] đã xác định ở rừng Tam Đảo có 75 loài bò sát thuộc 46 giống, 14

họ , 2 bộ chiếm 24,64% số loài bò sát đã biết ở Việt Nam

Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc [30] công bố danh lục ếchnhái bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài ếch nhái (chưa kể 14 loài

bò sát và 5 loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục) Đây là đợt tu chỉnh thànhphần ếch nhái bò sát Việt Nam được coi là đầy đủ hơn cả từ trước đến nay

Nhiều công trình nghiên cứu được công bố sau đó về khu hệ ếch nhái

bò sát những địa phương khác nhau :

Lê Nguyên Ngật, (1997) lập danh sách các loài ếch nhái bò sát ở vùngnúi Ngọc Linh – Kon Tum gồm 53 loài (17 loài ếch nhái thuộc 2 bộ , 6 họ , 7giống và 36 loài bò sát thuộc 2 bộ , 14 họ, 27 giống ) chiếm 15,59% tống sốloài ếch nhái bò sát đã biết ở Việt Nam, sinh cảnh rừng thứ sinh tập trungnhiều loài nhất (30 loài), có 16 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam

Bryan Stuart, Hoàng Xuân Quang (1998) [41] khảo sát khu hệ ếch nhái

bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát công bố 53 loài thuộc 42 giống, 19

họ, 4 bộ

Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999) [25] nghiên cứu về khuphân bố ếch nhái bò sát ở Nam Đông – Bạch Mã - Hải Vân xác định có 23loài ếch nhái thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 41 loài bò sát thuộc 31 giống, 12

họ, 2 bộ Phân tích các yếu tố địa động vật ếch nhái bò sát tác giả cho biết yếu

tố Trung Hoa là thành phần chủ yếu trong địa động vật ở khu hệ này (chiếm23,43%)

Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Trường Sơn(2000) [34] bước đầu thống kê khu hệ ếch nhái bò sát ở vung núi Yên Tử

Trang 8

được 19 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ và 36 loài bò sát thuộc 13 họ, 3 bộchiếm 16,18% tổng số lòai hiện biết trên cả nước.

Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế (2000) [26] nghiên cứu khu hệ ếchnhái bò sát khu vực Chúc A (Hương khê, Hà Tĩnh) công bố 53 loài, thuộc 40giống, 18 họ, trong có 18 loài ếch nhái và 35 loài bò sát Mức độ đa dạng về

số loài ếch nhái bò sát ở Chúc A không thua kém các vùng khác

Đinh Thị Phương Anh, Nguyễn Minh Tùng (2000) [1] thống kê khu hệếch nhái bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (Đà Nẵng) điều tra có 34loài ếch nhái xếp trong 16 họ, 1 bộ và 25 loài bò sát xếp trong 12 họ, 3 bộ

Các công trình nghiên cứu về khu hệ ếch nhái bò sát, rải rác có phântích các đặc điểm hình thái và sinh thái của các loài, bên cạnh đó còn có cácnghiên cưu về hình thái các quần thể cũng được tiên hành ở nột số nhóm kể

cả nghiên cứu gây nuôi có giá trị kinh tế cao

Trần Kiên (1985) nghiên cứu sinh thái học và ý nghĩa kinh tế của rắn

hổ mang Châu Á ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam Tác giả dựa trên các đặcđiểm sinh thái khẳng đinh ý nghĩa to lớn của rắn hổ mang trong việc gây nuôi

Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến (1997) [12] nghiên cứu đăc điểm và thờigian biến thái của ếch đồng trong điều kiện nuôi, chia giai đoạn phát triển củaếch đồng thêm 6 giai đoạn ngoài 46 giai đoạn như đã chia trước đây

Rõ ràng khu hệ ếch nhái bò sát ở Việt Nam còn có nhiều vấn đề cầnđược quan tâm nghiên cứu Bên cạnh các nghiên cứu thông thường cần đi sâuvào tiếp cận các phương pháp mới nhất là các phương pháp nghiên cứu vềquần thể

1.2 Tình hình nghiên cứu giống Hemidactylus ở các khu vực lân cận và

Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu giống Hemidactylus ở khu vực lân cận

* Ở Thái Lan

Trang 9

Theo Taylor E H (1963) [48] thống kê có 2 loài thuộc giống Hemidactylus

* Vùng Nam Á (Malaysia, Indonesia, Brunei):

Manthey Urich và Grossmann Wolfgang (1996) [47] thống kê có 2 loài:

+ Hemidactylus frenatus + Hemidactylus garnotii

* Vùng Bắc Á và nam Miến Điện (Myanma) và lân cận

Theo Bourret (1943) [40]có 4 loài:

+ Hemidactylus brooki + Hemidactylus bowringii + Hemidactylus garnotii + Hemidactylus karenorum

1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống Hemidactylus ở Việt Nam

Từ năm 1954 công tác điều tra động vật trong đó có nhóm ếch nhái bòsát đã được tiến hành ở miền bắc nước ta và có nhiều công trình được công

bố Công trình của Đào Văn Tiến (1960) [42] đề cập kết quả điều tra ếch nhái

bò sát ở Vĩnh Linh (Quảng Trị) với 7 loài rắn, 2 loài rùa, và 4 loài thằn lằn,

trong đó có 1 giống Hemidactylus.

Trang 10

Tài liệu của Bourrret (1943) [40] có thống kê các loài giống

Hemidactylus ở Bắc và Nam Đông Dương, trong đó có Việt Nam là:

- Hemidactylus bowringii (chỉ có ở bắc Đông Dương)

Darevxki I.S, Kupriyanova L.A và Roschchin V.V (1984) [43] trên cơ

sở nghiên cứu những đặc điểm về hình thái phân tích kiểu nhân và điện di đồ,

các tác giả đã khẳng định được ở Việt Nam có 1 loài mới là: Hemidactylus

vietnammesis là loài tam bội toàn cái (3n = 60, n=20) và theo các tác giả này

loài Hemidactylus vietnamensis trước đây ở Việt Nam được ghi nhận là

Trang 11

Nhìn chung, những nghiên cứu về giống Hemidactlus nói chung và loài

Hemidactylus frenatus nói riêng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu thống kê

thành phần loài và khu phân bố Gần đây các công trình nghiên cứu của NgôThái Lan, Trần Kiên, (2000) về đặc điểm hình thái và phân tích biến dị của 3

quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) ở phía bắc nước ta [14].

Năm 2001, cũng với các tác giả trên nghiên cứu sự lột xác và sự tái

sinh đuôi của thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus).

Năm 2000, Phan Thị Hoa nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái

của 6 quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) ở Nghệ An và Hà

Tĩnh[37]

Năm 2002, Trần Kiên, Ngô Thái Lan nghiên cứu sự sinh sản của thạchsùng đuôi sần trong điều kiện nuôi

Nguyễn Thị Hường (2002) nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái hai

quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) ở Đông Sơn và Triệu

Sơn - Thanh Hóa

Trần Thị Kim Ngân (2003) nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái 3

quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) ở Đô Lương, Con

Cuông và Thành phố Vinh Nghệ An

Trang 12

1.3 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực Ninh Bình

Ninh Bình có tọa độ địa lý từ 19055’39” (cửa sông Đáy thuộc bãi CònThoi, huyện Kim Sơn) đến 20026’25” vĩ độ Bắc (xóm Lạc Hồng, xã XíchThổ, huyện Nho Quan) và 105032’27” (núi điện thuộc Rừng Quốc gia CúcPhương) đến 106010’15” kinh độ Đông (bến đò Mười thuộc xã Xuân Thiện,huyện Yên Khánh)

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 1387,3km2 Dân số năm 1999 là 891,4nghìn người, mật độ dân cư 637 người/km2 Đây là tỉnh có mật độ dân cư thưanhất vùng đồng bằng sông Hồng

Là một bộ phận của đồng bằng sông Hồng, nên Ninh Bình nằm trong đớikhí hậu gió mùa chí tuyến á đới có mùa đông lạnh khô Nằm ở vị trí từ

19055’39” đến 20026’25” vĩ độ Bắc, lãnh thổ nhận được một lượng bức xạmặt trời lớn với tổng xạ 110 – 120kcal/cm2/năm và cán cân bức xạ cao 87,2kcal/cm2/năm Chính điều đó tạo cho Ninh Bình có một nền nhiệt cao, vớinhiệt độ trung bình năm 23,20C – 23,40C Tổng nhiệt hoạt động trong nằmvào khoảng 85000C

Ninh Bình có chế độ nhiệt phân ra hai mùa: mùa đông kéo dài từ tháng

XI đến tháng IV năm sau, mùa hạ từ tháng V đến tháng X Mùa đông thường

có gió mùa Đông Bắc lạnh làm cho số tháng có nhiệt độ trung bình xuốngdưới 180C tới 2 – 3 tháng Khu vực đá vôi Cúc Phương lạnh hơn cả Ở đây đã

có tháng nhiệt độ trung bình thấp dưới 150C

Với lượng mưa phong phú, hệ thống sông ngòi của Ninh Bình có mật độkhoảng 0,6 – 0,9 km/km2 Sông ngòi có lượng nước khá dồi dào, dòng chảytrung bình đạt 30 l/s/km2 Mạng lưới sông suối của tỉnh phân bố tương đốiđều gồm hàng chục con sông lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 1000km.Một số con sông chính là sông Đáy, sông Bôi, sông Nho Quan, sông Hoàng

Trang 13

Long, sông Đằng, Sông Vác, sông Vân Những sông này có độ sâu trung bìnhtrên 1,0m và độ rộng lòng sông trên 10m.

1.3.2 Điều kiện tự nhiên khu vực Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh cực bắc của trung bộ nước ta có vị trí địa lý: 19018’

-20040 vĩ độ bắc, 104022 - 146005 kinh độ đông

Phía bắc giáp với ba tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Ninh Bình; phía nam vàtây nam kề Nghệ An; phía tây nối với tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía đông mở raphần giữa của vịnh bắc bộ thuộc biển đông với đường bờ biển của giải đấtliền lớn hơn 120km Với vị trí đó Thanh Hóa mang đặc điểm khí hậu Bắc Bộ

có mùa đông ngắn, lạnh và khô, đầu xuân ẩm ướt Đồng thời Thanh Hóa cũngmang những tính chất riêng biệt của khí hậu Trung Bộ Do có vĩ độ thấp hơnBắc Bộ lại có địa hình phức tạp nên ảnh hưởng của những đợt gió lạnh mùađông bắc đến muộn Nhiệt độ trung bình năm từ 220 đến 230 Giữa miền núi

và đồng bằng có sự chênh lệch rõ rệt, vào tháng 7 ở vùng núi 27,60C nhưngđồng bằng 28,90C Lượng mưa trung bình năm là 1700mm, độ ẩm tương đối

là 85 – 87%

Trang 14

Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu về khí hậu thủy văn khu vực nghiên cứu

Trang 15

1.4 Cơ sở lý luận

1.4.1 Vấn đề loài

Thuật ngữ “loài” (species) thường được gắn bằng một tên gọi để chỉmột nhóm đối tượng giống nhau nào đó Thuật ngữ này được đưa vào sinhhọc lần đầu tiên bởi John Ray (1686) trên quan điểm sinh vật không đổi Tiếp

đó C Linne (1735), xem loài là hình thức tồn tại phổ biến của giới thực vật vàđộng vật, là đơn vị cơ bản của phân loại học Cho đến nay, có rất nhiều quanniệm về loài được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau

Trong phân loại học, các nhà phân loại xác định nên loài hình thái.Theo quan điểm này, mỗi loài là một nhóm cá thể có những tính trạng ổn định

và đồng nhất; giữa hai loài có sự gián đoạn về một tính trạng hình thái nào đó

Trên quan điểm di truyền học:

Ở các sinh vật sinh sản giao phối có thể xem loài là một quần thể haymột nhóm quần thể có những tính trạng chung về hình thái sinh lý, có khuphân bố xác định, trong đó các cá thể có khả năng giao phối với nhau và cách

ly sinh sản với nhóm quần thể khác

Ở các sinh vật sinh sản vô tính có thể xem loài là một dòng vô tính cónhững tính trạng tương tự, thích nghi với môi trường theo kiểu giống nhau,chiếm cứ những khu vực xác định có chung một lịch sử phát triển [8]

Quan niệm sinh học về loài: Sự hình thành khái niệm loài sinh học làmột bước tiến quan trọng trong học thuyết về loài, được đưa ra bởi Buffon vànhiều nhà tự nhiên học và phân loại học khác ở thế kỷ 19 Quan niệm nàykhẳng định loài có tính thực tế độc lập, bao gồm các quần thể và có tính toàn

bộ về di truyền được hình thành trong quá trình lịch sử tiến hóa Loài sinh họcđược xem như một đơn vị sinh sản, một thể thống nhất về hình thái, về ditruyền không một thực thể nào trong giới vô cơ có được 3 dấu hiệu đó

Trang 16

Trên quan điểm lý thuyết này Mayr (1963) đã định nghĩa: “Loài lànhững nhóm quần thể tự nhiên giao phối với nhau và được cách ly sinh sảnvới những nhóm khác cũng như vậy” [16].

1.4.2 Khái niệm về quần thể (population)

Có hai quan điểm chính thống đề cập tới khái niệm quần thể: Quanđiểm của những nhà sinh thái học và quan điểm của những nhà di truyền học

và tiến hóa Theo quan điểm di truyền học thì “quần thể là một nhóm cá thểhoặc các nhóm cá thể cùng loài, trong đó các cá thể có thể trao đổi thông tin

di truyền, sống trong một khoảng không gian xác định, quan hệ giữa chúng đãđược hình thành trong lịch sử và hình thành nên những đặc điểm về mật độ,sức sinh sản, tỷ lệ tử vong, phân bố theo tuổi, thể năng sinh học, phân bốtrong phạm vi lãnh thổ và kiểu tăng trưởng” Theo quan điểm của các nhàsinh thái học lại cho rằng “quần thể (quần thể địa phương) tức là quần xã củacác cá thể có thể lai với nhau, sống ở một địa phương nhất định Tất cả nhữngthành phần của một quần thể địa phương nhất định đều mang những phần củamột vốn gen chung, được xác định như một nhóm cá thể tìm thấy trong nhữngđiều kiện mà hai cá thể bất kỳ của nhóm này có thể lai với nhau với một xácsuất bằng nhau và sinh sản ra con cháu có khả năng sinh sản (Mayr, 1971)[16] Trên phương diện sinh thái học, mỗi quần thể được phân biệt bởi nhữngtính chất đặc trưng của nó Các tính chất đó là:

- Mật độ quần thể: Là số lượng cá thể của quần thể tỷ lệ với đơn vịkhông gian nơi quần thể cư trú, được biểu thị bằng số lượng cá thể hay sinhkhối của quần thể trên đơn vị diện tích hay thể tích Mật độ quần thể cũng rấtbiến đổi, song những biến đổi đó có giới hạn

- Biến động quần thể: Là sự biến đổi số lượng cá thể của quần thểtrong khoảng thời gian nhất định

Trang 17

- Tỉ lệ sinh đẻ: Là khả năng gia tăng cuẩ quần thể, được biểu thị dướidạng chỉ số tỉ lệ giữa số cá thể mới được sinh ra trên đơn vị thời gian.

- Tỷ lệ tử vong: Cũng được biểu thị bởi số lượng cá thể bị chết trênmột đơn vị thời gian nhất định

- Cấu trúc thành phần tuổi: ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh đẻ cũng như tỷ lệ

tử vong Tương quan giữa các nhóm tuổi khác nhau trong quần thể quyết địnhkhả năng sinh sản của chúng trong từng thời điểm

Trên quan điểm di truyền học thì mỗi quần thể (giao phối) được đặctrưng bởi tỷ lệ thành phần kiểu gen và tần số tương đối của các alen về mộtgen nào đó,tỷ lệ này có tính chất ổn định và trong khoảng thời gian nhất định,tạo nên trạng thái cấn bằng của nó

Biến dị cá thể ttrong quần thể gồm hai dạng: Biến dị di truyền và không

di truyền Biến dị không di truyền có ý nghĩa thích nghi Theo Mayr (1963) cóthể phân tích biến dị không di truyền thành 4 dạng sau:

- Biến dị cá thể theo thời gian

+ Biến dị theo tuổi

+ Biến dị theo mùa của cá thể

Trang 18

+ Biến dị theo mùa của các thế hệ

- Biến dị của bầy (cấp nhóm chức năng côn trùng)

- Biến dị sinh thái

+ Biến dị sinh cảnh (kiểu ngoại hình sinh thái)

+ Những biến đổi tạm thời do điều kiện bên ngoài

+ Biến dị được xác đinh bởi loài chủ (loài sống ký sinh)

+ Biến dị phụ thuộc vào mật độ quần thể

+ Biến dị tương quan sinh trưởng

- Biến dị tổn thương

+ Do vật ký sinh gây ra

+ Do tổn thương ngẫu nhiên

Các điều kiện biến dị trong quần thể đã tạo nên hiện tượng đa hình củaquần thể, thuật ngữ này dùng để chỉ những biến dị di truyền không liên tụctrong quần thể Những biến dị này làm cho các quần thể trong loài khác nhau

và tạo nên hiện tượng đa kiểu của loài Loài được gọi là đa kiểu nếu nó gồmnhiều loài phụ

Trang 19

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 3/2009 đến tháng 11/2009 tại các địađiểm:

- Khu vực Bỉm Sơn - Thanh Hoá: gồm các phường: Ngọc Trạo, Bắc Sơn,Lam Sơn

- Khu vực Yên Mô, gồm các xã Yên Nhân, Yên Phong, Yên Từ

- Khu vực Nho Quan - Ninh Bình gồm: Thị trấn Nho Quan, Thị trấn Rịa,

xã Gia Sơn

Số mẫu thu và nghiên cứu ở các địa điểm được thống kê qua bảng 2.1

Bảng 2.1 Địa điểm thu mẫu nghiên cứu và số mẫu

Đực Cái

1 Yên Mô (Yên Nhân, Yên Phong, Yên Từ) 29 26

2 Nho Quan (TT Nho Quan, TT Rịa, Gia Sơn) 27 29

3 Bỉm Sơn (P.Ngọc Trạo, P.Bắc Sơn, P.Lam Sơn) 26 24

Ngoài ra đề tài còn tiến hành phân tích 30 mẫu hiện có ở phòng thí nghiệmđộng vật, khoa sinh học, trường đại học Vinh thu ở thị trấn Con Cuông (NghệAn)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Sử dụng phương pháp thu mẫu bò sát truyền thống như dùng vợt đểbắt, định hình mẫu bằng cồn 750, thu mẫu một tuần ba lần vào ngày thứ 2, thứ

5 và chủ nhật

- Mẫu thu được đánh số etiket và ghi các chỉ số như:

Trang 20

+ Địa điểm bắt

+ Ngày, giờ bắt

+ Sinh cảnh

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái

- Xác định đặc điểm hoa văn của đầu, thân, đuôi và chia thành các dạngmàu sắc khác nhau

- Phương pháp nghiên cứu biến dị đặc điểm hình thái:

+ Hệ số sai khác

SDb SDa

Ma Mb CD

Trong đó: + CD là hệ số sai khác giữa hai quần thể a, b

+ Ma, Mb là giá trị trung bình ở mỗi quần thể+ SDa, SDb độ lệch toàn phương trung bình của các tính trạng+ Hệ số biến thiên

*100

S CV

X

Trong đó: + CV là hệ số biến thiên

+ S độ lệch toàn phương trung bình của các tính trạng + X là giá trị trung bình của các tính trạng

- Phương pháp so sánh quan hệ về các tính trạng hình thái giữa cơ thể đực

và cơ thể cái trong quần thể hoặc giữa các quần thể với nhau theo phân phốiStudent (T)

- Phương pháp phân tích các đặc điểm hình thái trong phòng thínghiệm:

+ Dài thân (SVL): Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt+ Dài đuôi (TailL): Chiều dài từ lỗ huyệt đến hết đuôi+ Dài đầu (HL): Chiều dài giữa hai đuôi mắt

+ Rộng đầu (HW): Bề rộng của đầu tại nơi rộng nhất

Trang 21

+ Dài chi trước (ShinL): Chiều dài từ gốc chi trước đến mút ngóntay dài nhất

+ Dài chi sau (ForeaL): Chiều dài từ gốc đùi đến mút ngón chândài nhất

+ Dài nách - bẹn (TrunkL): Chiều dài từ nách đến mép trước củagốc đùi

+ Rộng đuôi (Tailw): Chiều rộng tại gốc đuôi+ Cao đầu (HH): Nơi cao nhất của đầu, từ trên chẩm đến mặtdưới hàm

+ Dài ổ mắt (OrbL): Chiều dài của ổ mắt+ Dài đùi (CrusL): Chiều dài từ gốc đùi đến khớp gối+ Chiều dài mõm trước tai (SnEar): Từ mút mõm đến trước tai + Số vảy môi trên (SL): Số lượng tấm mép trên một bên

+ Số vảy môi dưới (IL): Số lượng tấm vảy môi dưới ở một bên+ Chiều dài mõm trước mắt (SnEye: Khoảng cách từ điểm trước của mắt đến mút mõm

+ Chiều dài sau mắt trước tai (EyeEar): Từ điểm sau của mứt đếntrước tai

+ Số bản mỏng ở dưới ngón I chi trước (FIS): Đếm số lượng bảnmỏng ở bên phải và trái ngón I chi trước

+ Chiều dài mũi trước mắt (NarEye): Từ mũi đến điểm trước củamắt

+ Số bản mỏng ở dưới ngón IV chi sau (TIVS): Đếm số lượngbản mỏng ở bên phải và trái ngón IV chi sau

+ Trọng lượng (P): Khối lượng cơ thể tính bằng gam

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học quần thể

Trang 22

2.2.3.1 Phương pháp nghiên cứu sinh sản

- Xác định giới tính

- Đếm số lượng trứng

- Đo kích thước các loại trứng và dịch hoàn

2.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu dinh dưỡng

- Xác định thành phần thức ăn: Những mẫu vật sau khi định hình được giảiphẫu dạ dày, xác định thức ăn có trong dạ dày Thành phần thức ăn được phânloại đến bộ (theo phương pháp chuyên gia), thống kê theo tỉ lệ tần số gặp

- Độ no: Giải phẫu dạ dày, xác định thời điểm thu mẫu với độ no tính theocông thức của Terentiev (1961)

+ Pn là trọng lượng thức ăn có trong dạ dày

2.2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hoạt động

- Hoạt động ngày đêm: Quan sát và đếm số lượng cá thể ra kiếm ăntrong thời gian từ 18h- 23h

- Hoạt động theo tháng: Đếm tổng số cá thể hoạt động trong các thờigian quan sát trong các tháng

2.4 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel

Trang 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Vị trí phân loại của loài

Lớp bò sát Reptilia

Bộ có vảy Squamata

Phân bộ Thằn lằn Lacertilia

Họ Tắc kè Gekkonidae

Giống Hemidactylus L OKen, 1817

Loài Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836

Tên Việt Nam: Thạch sùng đuôi sần, mối dách, thằn lằn

Mô tả:

Tấm cằm hình tam giác, lỗ mũi tròn, tấm mõm hình chữ nhật có hai cặptấm sau cằm, cặp thứ nhất tiếp xúc với tấm mép trên thứ nhất, cặp thứ hai tiếpxúc với mép trên thứ hai Có 7 -11 tấm mép trên và 6 -10 tấm mép dưới

Vảy trên lưng nhỏ, vảy dưới ngực và bụng có dạng tròn, ở đầu vảy nhỏnhất Con đực có gốc đuôi phình to và có từ 12 đến 17 lỗ đùi mỗi bên, có 3 –

5 bản mỏng dưới ngón I chi trước và 6 -11 bản mỏng dưới ngón IV chi sau,vảy xung quanh khe huyệt bé Đuôi tròn có 6 dãy mấu dọc

Lưng có màu nâu sẫm, xám hoặc vàng nhạt với các dạng hoa văn khácnhau Bụng trắng đục hoặc vàng nhạt

Phân bố: Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Sơn La,Hòa Bình, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, QuảngNam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước, Ninh Thuận,Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus

frenatus) như: Ngô Thái Lan và cộng sự, (2000) [14]; Hoàng Xuân Quang,

Trang 24

1993[22], Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Trần Kiên (1985) [7]; NguyễnVăn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) [8]; Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn QuangTrường, Nguyễn Trường Sơn (2000) [34]; Nguyễn Văn Sáng, Hoàng XuânQuang (2000) [32]; Đào Văn Tiến (1979) [35]; Nguyễn Quang Trường (2000)[37].

3.2 Đặc điểm hình thái của các quần thể nghiên cứu

3.2.1 Tính trạng màu sắc

3.2.1.1 Sự phân bố các dạng màu sắc trong từng quần thể

Chúng ta thấy rằng mỗi một cá thể bất kỳ đều chịu tác động của chọn lọc

ở từng giai đoạn của chu kỳ sống của mình Đồng thời do mỗi một nhóm tuổiphải được thích ứng với vai trò đặc thù trong chu kỳ sống, hoàn thành nhữngnhiệm vụ đặc thù như phát tán, sinh trưởng và sinh sản

Theo Mayr [16], màu sắc của mỗi loài sinh vật được xem là một tínhtrạng đa hình và sự sai khác về các dạng màu sắc giữa cá thể đực và cái trongmỗi quần thể hoặc giữa hai quần thể với nhau được kiểm soát bởi những gen

và ít nhiều bị phân biệt nhau trong sự biểu hịên kiểu hình Sự biến đổi màusắc này có ý nghĩa rất lớn đảm bảo cho cơ thể thích nghi với nhiều yếu tốkhác nhau trong môi trường sống, đó cũng chính là dấu hiệu làm cho loài tồntại trong những điều kiện nhất định

Ngoài ra, những sự sai khác về màu sắc còn được lý giải bởi tầm quantrọng của những điều kiện môi trường khác, cụ thể đó là nền giá thể, chế độchiếu sáng, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời, sự đồng nhất ánh sáng của mỗisinh cảnh

Kết quả nghiên cứu tại các khu vực Bỉm Sơn - Thanh Hoá, khu vực Yên

Mô, Nho Quan - Ninh Bình chúng tôi thu được kết quả về tính trạng màu sắc

và hoa văn của TSĐS như sau:

Trang 25

- Dạng C1: Toàn thân màu trắng nhạt (hay vàng nhạt), một số có các vệthơi ngả sang màu vàng sẫm nhưng rất nhỏ và không rõ.

- Dạng C2: Thân có màu nâu xám không có hoa văn

- Dạng C3: Toàn thân màu xám nhạt có hoa văn rõ (trên lưng có nhữngđốm trắng)

- Dạng C4: Thân màu vàng nhạt trên lưng có những đốm đen lớn xếpthành 2 hoặc 3 hàng dọc, đuôi có các vệt ngang màu đen

- Dạng C5: Thân màu xám không có hoa văn

- Dạng C6: Thân màu xám chì, không có hoa văn hoặc hoa văn không rõ

- Dạng C7: Toàn thân có màu đen xám trên lưng có những chấm trứngnhỏ

- Dạng C8: Toàn thân có màu xám đen, đuôi có các vệt ngang màu đenxám

a Quần thể thị xã Bỉm Sơn Thanh Hóa (QT III)

Trong số 50 mẫu thu được, có 26 cá thể đực và 24 cá thể cái, phân bốthành 6 dạng màu sắc C1, C2, C3, C4, C5, và C8 Tỷ lệ phân bố các màu sắcđược ghi trong bảng 3.1 và biểu đồ 3.1

Trang 26

Bảng 3.1 Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực và cái trong quần thể TSĐS ở

Bỉm Sơn - Thanh Hóa

màu sắc

Đực N=26

Giữa các cá thể đực và cái thì dạng màu C1 là phổ biến nhất ở cá thể đực(14 cá thể, 53,8%), trong khi đó dạng C3 là phổ biến ở cá thể cái (8 cá thể,chiếm 33,33%)

Trang 27

12 22

8 14

Biểu đồ 3.1 Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực và cái trong quần thể

TSĐS ở Bỉm Sơn – Thanh Hóa

b Quần thể Yên Mô - Ninh Bình

Mẫu thu được gồm 55 cá thể phân thành 5 dạng màu sắc khác nhau C1,C3, C5,C6, C7, trong đó hoàn toàn không có dạng màu sắc C2, C4, C8 Kếtquả thống kê các dạng màu sắc ở quân thể Yên Mô - Ninh Bình được thểhiện ở bảng 3.2, biểu đồ 3.2

Trang 28

Bảng 3.2 Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực cái trong quần thể TSĐS

ở Yên Mô - Ninh Bình

màu sắc

Đực N=29

Như vậy, ở quần thể này dạng màu sắc C1 là ưu thế Dạng màu sắc C5,C6, C7 là những màu ít phổ biến hơn Số liệu trong bảng 3.2 cũng cho thấy ởmỗi dạng màu sắc sự phân bố số lượng cá thể đực và cái gần như theo tỷ lệngang nhau

Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của Ngô Thái Lan, Trần Kiên (2000)[14] chúng tôi thấy màu vàng nhạt, trên lưng có những đốm đen lớn xếp thành

ba hàng dọc lưng, trên đuôi có những vạch ngang màu đen không gặp trongquần thể Yên Mô Các dạng màu còn lại đều bắt gặp ở quần thể này

Trang 29

Biểu đồ 3.2: Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực cái trong quần thể TSĐS

ở Yên Mô - Ninh Bình

Quần thể Nho Quan

Có 5 dạng màu sắc ở quần thể Nho Quan đó là các dạng C1, C2, C3,C6, C8 được thống kê qua bảng 3.3, và biểu đồ 3.3

Trang 30

Bảng 3.3 Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực cái trong quần thể TSĐS

ở Nho Quan - Ninh Bình

màu sắc

Đực N=27

0 0

5.36

0 8.93

Biểu đồ 3.3: Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực cái trong quần thể TSĐS

ở Nho Quan - Ninh Bình

Kết quả so sánh các dạng màu sắc qua bảng 3.3 và biểu đồ 3.3 cho thấy:

Ở quần thể này, dạng màu sắc C3 chiếm ưu thế cả ở cá thể đực (44,44% ) và

Trang 31

ở cá thể cái (34,48% ) Ở dạng màu sắc C1 các cá thể cái chiếm tỉ lệ cao hơn(31,03%) so với cá thể đực (25,93%) Dạng màu sắc ít gặp nhất là C6 (3,7% ởđực và 6,9% ở cái) và dạng C8 (7,41% ở đực và 10,34% ở cái)

3.2.1.2 So sánh sự sai khác về màu sắc giữa các quần thể

So sánh sự sai khác về các dạng màu sắc giữa các quần thể TSĐS, kếtquả nghiên cứu được thể hiện qua bảng 3.4

Bảng 3.4: So sánh sự sai khác về màu sắc của TSĐS 3 qu n thở 3 quần thể ần thể ể

Mặc dù vậy cũng có dạng màu sắc chiếm ưu thế trong từng quần thể Ởquần thể Bỉm Sơn (Thanh Hoá) dạng màu C1 và C2 chiếm ưu thế Dạng C6chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,00%) Quần thể Yên Mô - Ninh Bình: Dạng C1, C5chiếm ưu thế (34,55%, 29,09%) Quần thể Nho Quan – Ninh Bình: Dạng C1,C3 chiếm ưu thế (28,57%, 39,28%) Các dạng còn lại chiếm tỷ lệ gần tươngđương nhau

Trang 32

Sự khác nhau giữa các dạng màu sắc của ba quần thể còn có thể lý giảibằng những chọn lọc ổn định Trong một quần thể bất kỳ các quá trình tái tổhợp và quá trình phân ly nhất định sẽ dẫn tới vô số các cá thể chệch hướng ởmặt này hay mặt khác so với kiểu hình Chọn lọc ổn định nhấn mạnh mộtthực tế là chọn lọc tự nhiên có xu hướng loại trừ ra khỏi quần thể những cáthể đi lệch hướng điều đó cũng lý giải tại sao quần thể này lại có dạng màusắc nhiều hơn quần thể kia.

Ngoài ra những sai khác về màu sắc còn được lý giải bởi tầm quantrọng của những điều kiện môi trường khác, cụ thể như nền giá thể, chế độchiếu sáng, nhiệt độ, độ ẩm, sự đồng nhất ánh sáng của mỗi sinh cảnh Thểhiện ở các quần thể vùng đồng bằng (quần thể Yên Mô và quần thể Bỉm Sơn)dạng màu trắng hoặc vàng nhạt chiếm ưu thế hơn dạng màu sẫm, còn ở quầnthể miền núi (quần thể Nho Quan) thì dạng màu sẫm chiếm ưu thế

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Có 8 dạng màu cơ bản trong quần thể TSĐS (Hemidactylus frenatus)

được nghiên cứu, phổ của những dạng màu này là liên tục Sự có mặt củanhững kiểu hoa văn khác nhau về hình dạng (vệt hay đốm tròn), màu hoa văn(trắng, xấm, đen…) đã tạo nên sự đa dạng về màu sắc các cá thể Những dạngmàu này cũng đã được mô tả trong các quần thể TSĐS ở các địa điểm khác

- Mỗi quần thể có một phổ riêng các dạng màu với những tỷ lệ đặctrưng, trong đó có một hoặc hai dạng màu chiếm ưu thế (về số lượng); cácdạng màu còn lại ở đa số quần thể chiếm tỷ lệ tương đương về mặt thống kê.Các dạng màu chiếm ưu thế trong mỗi quần thể liên quan mật thiết với cácđặc điểm sinh cảnh của quần thể đó Các quần thể cùng khu vực phân bố địa

lý - động vật có những nét tương đồng về dạng màu ưu thế và tỷ lệ phân bổcác dạng màu khác; Những quần thể vùng núi trung du thường có độ đa dạngcao về màu sắc

Trang 34

Sơn - Thanh Hoá

So sánh sự sai khác về đặc điểm hình thái giữa cá thể đực và cái trongquần thể TSĐS ở Bỉm Sơn (Thanh Hoá), kết quả được thể hiện ở bảng 3.5

Bảng 3.5 So sánh các tính trạng giữa cá thể đực và cá thể cái ở quần thể

Bỉm Sơn (Thanh Hoá)

Ghi chú: * các tính trạng sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê

Kết quả so sánh về các tính trạng hình thái giữa các cá thể đực và cáitrong quần thể này có sự sai khác rõ ở các tính trạng dài thân (đực 50,0 mm;cái 48,3 mm; T 2,49; P < 0,05), dài đuôi (52,8 mm và 50,8 mm; T 1,79; P <0,05), chiều dài nách bẹn (26,2 mm và 25,4 mm; T 1,71; P < 0,05), khối

Trang 35

lượng cơ thể (4,6g và 3,7g; T 1,67; P < 0,05), còn các tính trạng khác sai kháckhông đáng kể Từ số liệu trong bảng có thể thấy rằng có 4 tính trạng này có ýnghĩa về mặt thống kê với độ tin cậy 95% chứng tỏ rằng chiều dài thân, khốilượng cơ thể của các cá thể đực vượt trội cá thể cái, nhưng tính trạng chiềudài đuôi và chiều dài nách bẹn của cá thể cái lại lớn hơn cá thể đực kết quảnày phù hợp với nghiên cứu của Trần Kim Ngân (2002), Nguyễn Thị Hường(2003) nghiên cứu TSĐS ở Nghệ An và Thanh Hóa Mặc dù các tính trạngkhác không có ý nghĩa về mặt thống kê nhưng chúng có hệ số biến thiên khálớn ở cá thể đực và cái, trong 20 tính trạng trên có 7 tính trạng có hệ số biếnthiên nhỏ hơn 15 ở cả đực và cái (chiếm 35%) đó là các tính trạng: Dài đuôi,dài đuôi, dài ổ mắt, dài nách bẹn, dài mõm trước mắt, số vảy môi trên, số bảnmỏng ngón IV chi sau Có 8 tính trạng có hệ số biến thiên từ 15 trở lên(chiếm 40%) đó là các tính trạng: Rộng đuôi, dài đầu, rộng đầu, dài ống tay,dài mõm trước tai, dài mũi trước mắt, dài sau mắt trước tai, số bản mỏng ngón

I chi trước Qua đó cho thấy mức độ biến thiên của các tính trạng giữa cá thểđực và cái là tương đương nhau

3.2.2.2 Đặc điểm hình thái giữa cá thể đực và cá thể cái ở quần thể Yên

Mô - Ninh Bình

So sánh sự sai khác về đặc điểm hình thái giữa cá thể đực và cái trongquần thể TSĐS ở Yên Mô - Ninh Bình, kết quả được thể hiện ở bảng 3.6

Trang 36

Bảng 3.6 So sánh các tính trạng giữa cá thể đực và cá thể cái trong quần

thể Yên Mô - Ninh Bình

Ghi chú: * Các tính trạng sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê

Qua bảng 3.6 cho thấy giữa cá thể đực và cái ở quần thể này có 4 tính trạngsai khác có ý nghĩa về mặt thống kê (chiếm 20%), đó là các tính trạng: Dài thân(48.3mm; 49.4mm; T 1,90; P < 0,05), dài đuôi (49,2 mm và 54,1 mm; T 3,20; P <0,0025), dài nách bẹn (25,2mm và 22,7mm; T 2,60; P < 0,01), khối lượng cơ thể(4,2g và 3,5g; T 2,56; P < 0,01) Các tính trạng khác có sự sai khác nhưng không

có ý nghĩa và không đáng kể như: dài đầu (12.5mm; 13.0mm; T 0,57; P > 0,05),cao đầu (5.0mm; 5.2mm; T 0,32; P > 0,05), dài ổ mắt (3.2mm; 3.3mm; T 0,25; P

> 0,05), dài mõm- trước mắt (5.5 mm; 5.8mm; T 0,50; P > 0,05), sau mắt trước tai(15.0 mm; 15.0mm; T 0,98; P> 0,05)

Trang 37

Từ số liệu bảng 3.6 cho thấy trong 20 tính trạng nghiên cứu thì có 12 tínhtrạng có hệ số biến thiên nhỏ hơn 15 giữa cá thể đực và cái (chiếm 50%) đó là cáctính trạng: Dài thân, dài đuôi, dài đầu, rộng đầu, dài nách bẹn, dài đùi, dài ốngchân, dài ống tay, dài mõm trước tai, mõm trước mắt, dài sau mắt trước tai, số bảnmỏng ngón I chi trước, có 3 tính trạng ở cả đực và cái có hệ số biến dị từ 15 trởlên (chiếm 25%) đó là tính trạng: Rộng đuôi, dài mũi trước mắt, số vảy môi trên

3.2.2.3 Đặc điểm tính trạng hình thái giữa cá thể đực và cá thể cái ở quần thể Nho Quan – Ninh Bình

So sánh sự sai khác về đặc điểm hình thái giữa cá thể đực và cái trong

quần thể TSĐS ở Nho Quan – Ninh Bình, kết quả được thể hiện ở bảng 3.7

Bảng 3.7 So sánh các tính trạng giữa cá thể đực và cá thể cái trong quần thể

Nho Quan – Ninh Bình

Trang 38

Cũng tương tự quần thể Yên Mô và quần thể Bỉm Sơn, trong quần thểnày có 5 tính trạng có sự sai khác giữa đực và cái và có ý nghĩa về mặt thống

kê đó là các tính trạng: Dài thân (50,7mm và 49,1mm; T 1,74; P < 0,05), Dàiđuôi (46,0mm và 52,1mm; T 3,78; P < 0,0005), Cao đầu (4,3mm và 5,1mm;

T 2,25; P < 0,05) , Dài từ nách đến bẹn (22,5mm và 26,4mm; T 3,41; P <0,001), Khối lượng cơ thể (g) (4,8g và 3,6g; T 1,85; P < 0,05) Các tính trạngkhác ở đực và cái biểu hiện giống nhau về mặt thống kê Từ số liệu bảng 3.7cho thấy các tính trạng có hệ số biến thiên rất lớn như dài đuôi ở con cái,rộng, cao đầu ở con đực

Từ những dẫn liệu trên đây chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

+ Ở cả 3 quần thể nghiên cứu trong số 20 tính trạng được khảo sátthường thì chỉ có 4 tính trạng có sự sai khác về mặt thống kê giũa cá thể đực

và cái trong quần thể, đó là các tính trạng dài thân, dài đuôi, dài nách bẹn vàkhối lượng cơ thể

+ Điều chung nhất về sự sai khác thống kê giữa cá thể đực và cái trong 3quần thể là giá trị trung bình ở các cá thể đực lớn hơn cá thể cái hiện tượngnày xảy ra hình như có tính quy luật

+ Các tính trạng không có ý nghĩa về mặt thống kê giữa đực và cái trongmỗi quần thể đều có giá trị mx nhỏ chứng tỏ rằng chúng khá ổn định ở cácquần thể khác nhau Những nhận xét này của chúng tôi phù hợp với kết quảnghiên cứu của các tác giả: Ngô Thái Lan, Trần Kiên (2000) [15] cho rằngchiều dài thân và khối lượng cơ thể ở các cá thể đực luôn lớn hơn cá thể cái

về mặt thống kê, các tính trạng khác thì không quan sát thấy hiện tượng này

3.2.3 So sánh đặc điểm các tính trạng hình thái giữa các quần thể

3.2.3.1 Quần thể Yên Mô và quần thể Bỉm Sơn

So sánh sự sai khác về đặc điểm tính trạng hình thái hai quần thể TSĐS

ở Bỉm Sơn - Thanh Hoá và Yên Mô - Ninh Bình, kết quả được thể hiện ởbảng 3.8

Trang 39

Bảng 3.8 So sánh tính trạng giữa hai quần thể TSĐS Bỉm Sơn – Thanh Hoá

và Yên Mô – Ninh Bình

(*) Sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê

Căn cứ vào giá trị T và P thu được trong bảng có thể nhận thấy rằngtrong 20 tính trạng nghiên cứu, giữa hai quần thể này có sự sai khác về mặtthống kê ở 7 tính trạng (chiếm 35%) gồm:

Dài thân (47,6mm và 50,3mm; T 1,99; P < 0,05), dài đuôi (50,7mm và51,8mm; T 2,02; P < 0,01), rộng đuôi (4,5mm và 4,0mm; T 2,29; P < 0,025),dài nách bẹn (25,8mm và 23,9mm; T 2,45; P < 0,01), dài ống chân (7,20mm

và 6,9mm; T 3,21; P < 0,0025), dài mũi trước mắt (5.74mm; 4.49mm; T 6,48;

Trang 40

P < 0,0005), tính trạng khối lượng cơ thể (g) (4,64g và 3,84g; T 2,27; P <0,01).

Hai quần thể này đại diện cho các quần thể đồng bằng ở hai khu vựckhác nhau thuộc khu phân bố lưỡng cư bò sát đồng bằng Bắc Bộ - ThanhNghệ Tĩnh (theo Trần Kiên, Hoàng Xuân Quang, 1993) Hai quần thể nàycách nhau bởi dãy núi Tam Điệp nhưng sự sai khác các tính trạng có ý nghĩa

về thống kê không nhiều (30%)

Các tính trạng khác có sự sai khác giữa hai quần thể này nhưng chưa ởmức có nghĩa

3.2.3.2 Quần thể Nho Quan và quần thể Bỉm Sơn

So sánh sự sai khác về đặc điểm hình thái hai quần thể TSĐS ở Bỉm Sơn

- Thanh Hoá và Nho Quan - Ninh Bình, kết quả được thể hiện ở bảng 3.9

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu về khí hậu thủy văn khu vực nghiên cứu - Đặc điểm sinh học các quần thể thạch sùng đuôi sần (hemidactylus frenatus schlegel, 1836) ở yên mô, nho quan (ninh bình) và bỉm sơn (thanh hóa)
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu về khí hậu thủy văn khu vực nghiên cứu (Trang 15)
Bảng 3.1. Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực và cái trong quần thể TSĐS ở Bỉm Sơn - Thanh Hóa - Đặc điểm sinh học các quần thể thạch sùng đuôi sần (hemidactylus frenatus schlegel, 1836) ở yên mô, nho quan (ninh bình) và bỉm sơn (thanh hóa)
Bảng 3.1. Sự phân bố màu sắc ở các cá thể đực và cái trong quần thể TSĐS ở Bỉm Sơn - Thanh Hóa (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w