1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm phong kiến của nhà đường ở trung quốc

71 571 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm phong kiến của nhà Đờng ở Trung Quốc
Người hướng dẫn Th.S Hoàng Đăng Long
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 614 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà Đờng là một triều đại phong kiến phát triển tồn tại lâu dài gần 300 năm, chứng tỏ chế độ phong kiến Trung Quốc ở đầu đời Đờng đã giữ đợc thế ổn định khá lâu và để lại dấu ấn về văn h

Trang 1

Trờng đại học Vinh Khoa lịch sử

Giáo viên hớng dẫn: Th.S Hoàng Đăng Long

Vinh, 2006

Trang 2

A phần mở đầu.

1 Lý do chọn đề tài.

Trung Quốc là một trong những trung tâm văn hoá rực rỡ, phong phú và cổ

xa nhất của nền văn minh phơng Đông với bề dày lịch sử 5000 năm có sức sống mãnh liệt và ngoan cờng, thờng có sự tiếp nối và phát triển, nó là một kho tàng văn hoá văn minh hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu Nền văn hoá Trung Hoa

có lịch sử lâu đời và có những thành tựu xuất sắc đóng góp cho văn minh nhân loại với những sáng chế, phát minh nổi tiếng những triết lý siêu phàm và những

t tởng thao lợc quân sự thâm thuý, những bộ sử ký, binh th, thi tập Trung Quốc đợc một số nớc đầu t nghiên cứu với qui mô lớn nhằm đạt mục tiêu kinh

tế, khoa học, chính trị, văn hoá

Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ láng giềng thân thiết “núi liền núi, sông liền sông” và bằng cả chiều dài lịch sử “đồng văn, đồng chủng” Từ lâu giới sử học nói riêng ngời Việt Nam nói chung rất quan tâm nghiên cứu tìm hiểu lịch sử Trung Quốc, để không những hiểu biết lịch sử láng giềng mà còn giúp đỡ việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam

Qua quá trình nghiên cứu các nhà lịch sử Việt Nam đã cho ra đời hàng loạt các tài liệu tham khảo nghiên cứu các triều đại phong kiến Trung Quốc nhng chỉ mang tính chất thông sử chứ không làm nổi bật từng đặc điểm của từng triều

đại Nhà Đờng là một triều đại phong kiến phát triển tồn tại lâu dài gần 300 năm, chứng tỏ chế độ phong kiến Trung Quốc ở đầu đời Đờng đã giữ đợc thế ổn

định khá lâu và để lại dấu ấn về văn hoá cũng nh các lĩnh vực khác trong lịch sử phong kiến Trung Quốc và cả thời đại sau đó, cho nên đây là một vấn đề cần đ-

ợc quan tâm và nghiên cứu kĩ hơn

Nhà Đờng đã kế thừa những thành quả của các triều đại trớc và tạo đợc tiền

đề cơ bản cho các triều đại phong kiến sau Để tạo đợc những nét nổi bật trong thời đại của mình là do các ông vua biết trị nớc

Trang 3

Chính vì thế qua việc tìm hiểu các tài liệu đã có và sự góp ý của thầy cô giáo, bạn bè chúng tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu nhà Đờng để làm rõ những

đặc điểm phong kiến và nó tác động đến lịch sử phong kiến Trung Quốc nh thế nào và từ đó liên hệ với phong kiến Việt Nam để thấy đợc mối liên hệ đó

Phần lịch sử trung đại là một trong những nội dung quan trọng và thiết thực trong việc dạy học ở trờng phổ thông cho nên nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta củng cố lại kiến thức đã học và bổ sung thêm những kiến thức mới, tạo

điều kiện giúp tôi giảng dạy tốt hơn bộ môn lịch sử góp phần bé nhỏ vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đất nớc, bớc tập dợt làm quen với nghiên cứu khoa học

Chính lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Đặc điểm phong kiến

của nhà Đờng ở Trung Quốc” làm khoá luận tốt nghiệp cuối khoá.

Trần văn Giáp (biên dịch) “Lịch sử Trung Quốc từ thợng cổ đến trớc nha phiến chiến tranh” Nhà Xuất Bản Khu học xá Trung Ương, năm 1955 Với tác

phẩm này tình hình kinh tế và chính trị của từng triều đại Về nhà Đờng có sơ

Đờng, trung Đờng và hậu Đờng Trong tác phẩm đã nói lên sự phát triển của từng giai đoạn và bên cạnh đó chính trị ổn định ở giai đoạn đầu là sơ Đờng và từ giữa trung Đờng đi vào hỗn loạn và suy yếu

Ngô Vinh Chính, Vơng Miện Quý, Đại cơng lịch sử văn hóa Trung Quốc” (Lơng Duy Thứ ,dịch) Nhà Xuất Bản văn hoá thông tin 1994 Với nội

Trang 4

dung về các lĩnh vực thuộc văn hoá và sự đóng góp to lớn của nhà Đờng vào văn hoá Trung Quốc nói riêng và văn hoá phơng Đông nói chung, các chế độ khoa

cử, tuyển chọn quan lại ở đời Đờng đã đặt nền móng cho các triều đại phong kiến tiếp sau đó

Lê Đức Niệm , “Diện mạo thơ Đờng” Nhà Xuất Bản văn hoá thông tin,

Lê văn Quán, “Đại cơng lịch sử t tởng Trung Quốc” Nhà Xuất Bản Giáo

Dục 1997 Trong cuốn này ông thể hiện tính phong phú của t tởng văn hoá Trung Quốc hàng mấy nghìn năm luôn phát triển, mỗi thời có một hình thái khác nhau T tởng về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của nhà Đờng cũng nói đến

Will Durant “Lịch sử văn minh Trung Hoa” (Nguyễn Hiến Lê dịch) Nhà

Xuất Bản Văn Hoá Thông Tin

Lê Giảng “Các triều đại Trung Hoa” Nhà Xuất Bản Thanh Niên 2000.

Trần Trọng Kim “Nho giáo” quyển 3 Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí

Minh 2002

Các sách trên đều nói chung về tất cả các triều đại phong kiến Trung Quốc Trong đó đề cập đến các lĩnh vực của triều đình nhà Đờng là một vơng trều phong kiến cờng thịnh Vấn đề “Đặc điểm phong kiến của nhà Đ ờng ở Trung Quốc” cha đợc tập trung nghiên cứu Vì vậy dựa trên cơ sở tổng hợp và xử lý t

liệu chúng tôi hy vọng vấn đề này sẽ đợc trình bày trong luận văn của mình

Đây là lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu khoa học cho nên không tránh khỏi sự sai sót, kính mong đợc sự chỉ bảo của các thầy cô giáo

3 Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

Với đề tài: “Đặc điểm phong kiến của nhà Đ ờng ở Trung Quốc” thì phạm

vi nghiên cứu từ khi nhà nớc phong kiến ra đời khi nhà Tần đợc thành lập năm

211 TCN đến năm 1911 khi nhà Thanh sụp đổ chấm dứt chế độ phong kiến ở Trung Quốc Từ phạm vi trên đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Đại cơng lịch sử phong kiến Trung Quốc

- Nhà Đờng: Sự ra đời ,phát triển và suy vong (618 - 907)

- Tập trung vào các đặc điểm của phong kiến nhà Đờng để từ đó đa ra những kết luận chính xác và thấy đợc tác dụng, vai trò to lớn của triều đại phong kiến nhà Đờng đối với lịch sử Trung Quốc

4 Phơng pháp nghiên cứu .

Đây là một đề tài khoa học xã hội thuộc lĩnh vực chuyên sử nên phải xuất phát từ quan điểm lịch sử macxit và sử dụng phơng pháp tổng hợp, kết hợp với việc su tầm t liệu chọn lọc và xử lý t liệu với phơng pháp lịch sử, phơng pháp logic và phơng pháp so sánh

Chơng 1 Đại cơng lịch sử phong kiến Trung Quốc

1.1.Vài nét khái quát về lịch sử phong kiến Trung Quốc

1.2 Nhà Đờng; Sự ra đời, phát triển và suy vong

1.2.1 Sự ra đời 1.2.2 Sự phát triển

1.2.3 Sự suy vong

Trang 6

Chơng 2 Đặc điểm phong kiến của nhà Đờng ở Trung Quốc.

2.2.1 Cơ cấu giai cấp

2.2.2 Xác định quan hệ giai cấp cơ bản trong xã hội nhà Đờng 2.3 Chính trị

ơng 1 : Đại cơng lịch sử phong kiến trung quốc.

1.1 Vài nét khái quát về lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Lịch sử phong kiến Trung Quốc đã trải qua các triều đại nhng sự ra đời, phát triển và suy vong của từng triều đại lại khác nhau Lịch sử phong kiến Trung Quốc từng trải qua các triều đại sau:

- Nhà Tần(221 - 206TCN)

- Nhà Tây Hán (202- 8)

Trang 7

Nhà Tần đặt cơ sở cho việc tổ chức bộ máy nhà nớc phong kiến tập trung chuyên chế trung ơng tập quyền thống nhất chặt chẽ từ trung ơng đến địa ph-

ơng Cùng với việc thống nhất bộ máy chính quyền nhà Tần còn thống nhất kinh tế trong cả nớc bằng cách áp dụng các biện pháp của Thơng Ưởng trên phạm vi toàn quốc, bãi bỏ chế độ tỉnh điền, thống nhất tiền tệ, thống nhất đo l-ờng

Về chính trị thì nhà Tần chủ trơng thi hành đờng lối pháp trị tức là trị nớc bằng pháp luật Nhà Tần còn có tham vọng thống nhất về t tởng, ở lĩnh vực này Tần Doanh Chính phạm phải tội lớn là việc đốt sách chôn học trò

Những chính sách bạo ngợc của nhà Tần đã vấp phải sự chống đối của nông dân, mâu thuẫn xã hội trở nên sâu sắc dẫn đến khởi nghĩa nông dân do

Trang 8

Ngô Quảng và Trần Thắng lãnh đạo Các cuộc khởi nghĩa này đã làm cho nhà Tần nhanh chóng sụp đổ, Lu Bang lập ra một triều đại mới đó là nhà Hán.

Nhà Hán gồm có Đông Hán và Tây Hán Trong bộ máy chính quyền phong kiến nhà Tây Hán thi hành chính sách phân phong cho con cháu Lu Bang vốn là địa chủ bình dân sống ở điền giã có điều kiện nhìn thấy nỗi khổ cũng nh sức mạnh của nông dân nên Khi lên ngôi ông đã có những chính sách nhợng bộ nông dân, nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, chính sách đó

đã giải quyết hai vấn đề là ruộng đất và nô tỳ Thực hiện những chính sách ban

đầu có làm cho đất nớc mạnh lên song về lâu dài những chính sách đó vẫn tạo cơ sở cho chế độ cát cứ, phân tán của các thế lực phong kiến địa phơng Vấn đề ruộng đất và nô tỳ là nguy cơ sụp đổ của Tây Hán Bấy giờ Vơng Mãng thuộc dòng họ ngoại thích nổi dậy lật đổ nhà Hán dựng lên nhà Tân (8 - 23) Vơng Mãng tiến hành cải cách không triệt để, khởi nghĩa nông dân vẫn nổ ra Cuộc khởi nghĩa của quân Xích Mi, Lục Lâm làm nhà Tân bị lật đổ và Lu Tú dựa trên thành quả khởi nghĩa nông dân loại bỏ triệt để nhà Tân để lập nên nhà Đông Hán

Thời kỳ Đông Hán chính sách bành trớng xâm lợc đựơc đẩy mạnh hơn, về khách quân sự bành trớng ra ngoài một cách khẩn trơng với quy mô thời Tây Hán Buổi đầu nhà Đông Hán tập trung vào hai vấn đề đó là ruộng đất và nô tỳ thì mâu thuẫn giai cấp lắng xuống đợc xoa dịu đi

Cho đến thế kỷ II Đông Hán bớc vào suy tàn nguyên nhân là những vấn

đề lớn của xã hội nh ruộng đất và nô tỳ bùng nổ, mâu thuẫn xã hội nổi lên Năm

184 khởi nghĩa Trơng Giát nổ ra, các tập đoàn phong kiến đã lợi dụng thành quả của phong trào khởi nghĩa của nông dân dẫn đến cục diện ba tập đoàn: Nguỵ - Thục - Ngô thanh đoạt lẫn nhau đó là thời kỳ Tam Quốc, thời kỳ loạn lạc chia cắt

Nhà Tống gồm có Bắc Tống và Nam Tống Nhà tống kinh tế có phát triển lên nhng nền chính trị lại yếu, một số nhà chính trị tức thời muốn cải biến xã hội đã thực thi một số cuộc cải cách Trong đó tiêu biểu là cuộc cải cách của V-

ơng An Thạch - Tể tớng nhà Tống Chủ trơng tiến hành cải thiện đời sống nhân

Trang 9

dân để dân đủ khả năng đóng thuế khuyến khích khẩn hoang, chú trọng hơn về công tác thuỷ lợi: Ban hành luật thanh miêu, hạn chế vay nợ lãi Cuộc cải cách này bị phản đối kịch liệt đặc biệt là chính sách đo đạc lại ruộng đất, đánh thuế ruộng đất của quan lại Trong xã hội xuất hiện hai phái bảo thủ và phái cải cách, cộng với sự thất bại trong cuộc xâm lợc Đại Việt nên cuộc cải cách của Vơng

An Thạch hoàn toàn bị sụp đổ và khởi nghĩa nông dân nổ ra mạnh mẽ

Lúc bấy giờ ở Đông Bắc Trung Quốc xuất hiện tộc Nữ Chân mạnh lên đã tiêu diệt Khiết Đan lập nên nớc Kim chiếm cả vùng Đông Bắc, lợi dụng lúc Bắc Tống suy yếu đã đánh chiếm cả miền Bắc Trung Quốc Thời kỳ nớc Xiêm xâm lợc nhân dân lao động đã hăng hái chống lại ách xâm lợc nhng tầng lớp thống trị Bắc Tống nhu nhợc giữa phái chủ chiến và phái chủ hoà tranh đấu lẫn nhau

Đến khi vua Tống chạy xuống phía Nam thì một viên tớng của Bắc Tống tên là Nhạc Phi đã đánh Kim thắng lợi, nhng do lòng trung quân mù quáng nên lại kéo quân theo vua về phía Nam và bị Tần Lối hãm hại Thời kỳ Nam Tống kéo dài

150 năm hai nớc Kim - Nam Tống song tồn với nhau trên đất Trung Quốc

Chu Nguyên Chơng là thủ lĩnh của phong trào nông dân lập ra nhà Minh, xng hoàng đế hiệu là Minh Thái Tổ Nhà Minh đã chủ trơng giải phóng sức lao

động, khôi phục kinh tế nông nghiệp bằng hình thức chiêu dụng dân lu vong Dân không có ruộng đất để tổ chức khai hoang phục hoá, tu sửa các công trình thuỷ lợi quan trọng để phục vụ sản xuất nông nghiệp

Đến thời nhà Minh thì mầm mống kinh tế t bản đã xuất hiện Thời nhà Minh đã có sự hình thành thị trờng khu vực địa phơng trong chừng mực nhất

định đã có ở thị trờng cảc nớc Tổ chức sản xuất t bản chủ nghĩa ở Trung Quốc

là sự hình thành những công trờng thủ công t bản chủ nghĩa Bên cạnh đó là cho vay nặng lãi, hình thức này đã khá thịnh hành ở nông thôn Cũng qua hình thức này mà quan hệ tiền tệ càng xâm nhập vào nông thôn

Nhà Minh xây dựng bộ máy chính quyền tập trung chuyên chế cao độ là triều đại do nông dân lập ra nên nó càng rõ rệt Mọi quyền hành dồn cả vào hoàng đế, chia triều đình làm sáu bộ mỗi bộ trông coi một phần việc do hoàng

đế trực tiếp giao phó

Trang 10

Cuối thời Minh chính quyền trung ơng dần dần thối nát đã tăng cờng bóc lột nông dân làm sức mua của nông dân ngày một giảm sút Nhà nớc còn trọng nông ức thơng , thực chất là bảo vệ chế độ phong kiến nhất là chế độ ruộng đất Nhà nớc còn độc quyền một số mặt hàng công thơng nghiệp, vì thế công thơng nghiệp nhà Minh về khách quan có phát triển nhng bị nhà nớc kìm hãm cản trở nhất là những thành phần kinh tế mới xuất hiện.

ở thời Minh chủ nghĩa t bản đã bắt đầu xâm nhập vào năm 1517 Bồ Đào Nha đặt chân đến Quảng Châu sau đó là Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật đều lần lợt

đặt chân lên Trung Quốc, cũng là lý do kìm hãm quá trình tích luỹ t bản ở Trung Quốc

Mãn Thanh ở phía Bắc Trung Quốc do Mãn Châu lập ra trớc đó họ lập ra nhà Kim rồi nớc Kim bị Mông Cổ tiêu diệt phải quay lại xã hội thị tộc Ngô Tam Quế không theo Lý Tự Thành mà thần phục Mãn Thanh, khi Lý Tự Thành

đánh Ngô Tam Quế thì ngời Mãn Thanh mang quân cứu trợ đánh lại Lý Tự Thành Đợc Tam Quế dẫn đờng ngời Mãn Châu xâm lợc Trung Quốc lập nên triều đại phong kiến ngoại tộc ở đất nớc này

Ngời Mãn chủ trơng tập trung những trí thức uyên bác về trình độ nhằm tách họ với quần chúng nhân dân giam lỏng họ Với triều đình tất cả những quyền lực cao cấp đều do Mãn Thanh nắm giữ Mặc dù nhà Thanh luôn nêu cao Mãn - Hán một nhà

Trong thời kỳ này mầm mống kinh tế có từ trớc không còn đất nảy sinh mà

đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX mới dần xuất hiện trở lại chỉ khi có sự xâm nhập của thực dân phơng Tây Giai đoạn sau của nhà Thanh thì Anh, Pháp,

Mĩ, Đức, Nhật lần lợt đặt ảnh hởng của họ lên đất Trung Hoa Các thế lực thực dân phơng Tây và Nhật tìm cách tranh giành ảnh hởng của họ ở vùng thị trờng rộng lớn này Đến năm 1840 chiến tranh nha phiến nổ ra, biến xã hội Trung Quốc thành nửa thuộc địa, nửa phong kiến là niên hiệu kết thúc lịch sử phong kiến ở Trung Quốc Còn triều đại Mãn Thanh đến 1911 mới chấm dứt vai trò của nó

Trang 11

Chóng ta nhẹn thÊy rững lẺch sö phong kiỏn Trung Quèc trội qua cĨc triồu

ợÓi khĨc nhau Mçi triồu ợÓi ợố lÓi nhƠng dÊu Ên riởng cĐa mÈnh CĨc triồu ợÓi

ợỈ ợật riởng cho mÈnh bé mĨy nhÌ nắc ợố cai trẺ vÌ thùc thi mét sè biơn phĨp nhữm giội quyỏt mờu thuÉn trong xỈ héi Thêng thÈ mét triồu ợÓi nÌy thay thỏ bững triồu ợÓi khĨc, bững cĨc cuéc khẽi nghưa nỡng dờn do mét ngêi nÌo ợã

ợụng ợđu lỈnh ợÓo cuéc khẽi nghưa vÌ xng vŨng lẹp nởn triồu ợÓi mắi

LẺch sö phong kiỏn Trung Quèc còng khỡng nữm ngoÌi quy luẹt chung cĐa lẺch sö phong kiỏn, nã còng rèi r¾m vÌ tŨng ợèi phục tÓp; CŨ cÊu giai cÊp, ợÒng cÊp, thờn phẹn tõng cĨ nhờn cã thay ợăi qua cĨc triồu ợÓi nhng cĨc giai cÊp vÌ tđng lắp ợỈ tạn tÓi suèt cộ chiồu dÌi lẺch sö phong kiỏn Trung Quèc

1.2 nhÌ ợêng; sù ra ợêi, phĨt triốn vÌ suy vong.

ợÓi nÌy cßn cã thố kƯo dÌi thởm chót nƠa ớững nÌy lÓi khỡng lÌm ợîc nh thỏ, khi mÌ Tuú Dìng ớỏ giỏt cha vÌ lởn ngỡi hoÌng ợỏ (604 -618) ợỈ phĨ tan sù nghiơp cĐa DŨng Kiởn Trong suèt thêi gian trẺ vÈ cĐa mÈnh ỡng ợỈ gờy nởn nhƠng téi Ĩc tÌy trêi lÌm cho nhờn dờn vỡ cĩng khă cùc ợỈ dÉn ợỏn mờu thuÉn giƠa nhờn dờn vÌ ợẺa chĐ hỏt sục sờu s¾c, cho nởn cuèi ợêi Tuú phong trÌo nỡng dờn khẽi nghưa nh vò bỈo ợỈ lẹt ợă mét triồu ợÓi vỡ cĩng tÌn bÓo.Trong khi ợã ẽ NgoỈ CŨng mét cuéc khẽi nghườ nă ra do Lý Mẹt vÌ ớẹu Kiỏn ớục giÌnh nhiồu th¾ng lîi

NÙm 616 Tuú Dìng ớỏ sî hỈi trắc phong trÌo ợÊu tranh cĐa nỡng dờn miồn B¾c nởn ợỈ rêi kinh ợỡ Trêng An ợi xuèng Giang ớỡ

NÙm 617 Lý Uyởn (566 - 635) xuÊt thờn trong mét gia ợÈnh vâ cỡng ẽ Thiốm Tờy, cha lÌ Lý BÝnh lÌm quan cho nhÌ B¾c Chu tõng lÌm cĨc chục lắn,

mỦ lÌ chẺ cĐa hoÌng hẹu ớéc CŨ vî vua Tuú vÙn ớỏ Dắi thêi Tuú vÙn ớỏ ỡng

Trang 12

là một quan lại cao cấp cho nên đến cuối đời Tuỳ Dỡng Đế thì Lý Uyên đã nhận thấy tình hình nhà Tuỳ lung lay sắp đổ mà Tuỳ Dỡng Đế là ngời nghi kỵ hiếu sát, khó lòng khôi phục lại đợc và ngay chính bản thân ông cũng bị nghi

kỵ, ngờ vực Chính những lý do đó đã khiến Lý Uyên quyết định cùng với con trai của mình là Lý Thế Dân khởi binh dơng cờ chống nhà Tuỳ vào năm 617 Sau khi quyết định khởi nghĩa Lý Uyên đã nhờ giúp thêm binh mã và tháng

7 năm 617 Lý Uyên dẫn binh xuống phía Nam và lợi dụng lúc quân Ngoã Cơng

do Lý Mật chỉ huy đang bao vây Lạc Dơng, Lý Uyên chiếm Quan Trung và sau

đó đánh chiếm Trờng An rồi trụ ở đó

Thời gian đầu Lý Uyên lập Dơng Hựu (cháu của Tuỳ Văn Đế) làm vua bù nhìn và tôn Dỡng Đế làm thái thợng hoàng còn mình giữ chức đại đô đốc, thợng

th lệnh, đại thừa tớng, nắm giữ quân chính

Tháng 4 năm 618 Tuỳ Dỡng Đế bị bộ hạ giết chết tại Giang Đô và tháng 5 năm 618 Dơng Hựu đi tu, Lý Uyên lên ngôi hoàng đế đặt quốc hiệu là Đờng, hiệu là Vũ Đức đóng đô ở Trờng An

Nh vậy nhà Đờng ra đời trên cơ sở trải qua một cuộc tranh đấu vời nhà Tuỳ Khi nói đến sự ra đời của nhà Đờng thì ngời ta luôn nhắc đến ngời có công lập

ra nhà Đờng (618 – 907) đó là Lý Uyên - Đờng Cao Tổ Sau khi nhà Đờng đợc thành lập thì vẫn tập trung lực lợng để tiêu diệt những lực lợng còn lại của nhà Tuỳ và lực lợng của quân khởi nghĩa nông dân, tiếp theo đó là công việc cũng

cố lại triều chính nhằm xây dựng một chính quyền vững mạnh Cha con Lý Uyên ra sức cũng cố triều chính bằng việc rút kinh nghiệm từ các triều đại trớc

do thất bại vì nguyên nhân gì và từ đó ông có đợc bài học cho riêng mình Triều

đình phong kiến nhà Đờng ra đời năm 618 đã đánh dấu một mốc lịch sử của phong kiến Trung Quốc nó đợc đánh giá là một triều đại hng thịnh trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, sự lớn mạnh đó đợc thể hiện qua từng giai đoạn của nó

1.2.2 Sự phát triển của nhà Đờng

Nhà Đờng ra đời và tồn tại lâu dài trong lịch sử phong kiến Trung Quốc

điều đó chứng tỏ chế độ phong kiến của nhà Đờng ở Trung Quốc đã giữ đợc thế

Trang 13

ổn định rất lâu dài Nhng trên thực tế sự ổn định đó chỉ đợc xem là sự tơng đối, bởi vì ngay từ đầu nhà Đờng đã xảy ra những tranh chấp nội bộ sâu sắc giữ các con trai của Lý Uyên đó là Lý Thế Dân, Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát (bên cạnh đó còn có vụ đảo chính tiêu biểu là việc Võ Tắc Thiên phế truất Trung Tông rồi Tuấn Tông để tớc quyền hoàng đế đổi quốc hiệu là Chu) và chỉ kéo dài

đến thời Khai Nguyên (713 - 741) Trong hơn một trăm năm đó nhà Đờng phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, đó là giai đoạn sơ Đờng có khi còn gọi là sơ thịnh

Đờng

Sau khi lên ngôi cha con Lý Uyên, Lý Thế Dân là những ngời rất khôn khéo bài học về sức mạnh nông dân từ nhà Tuỳ vẫn còn đó, cha con ông phải dựa vào quan điểm “nhân vi bang bản" (dân là gốc của nớc) của Nho Giáo để

“trị nớc an dân" (thuyền có thể ví nh vua Nớc ví nh dân, nớc có thể nâng thuyền lật thuyền) Chính vì thế buộc ông phải thực hiện một số chính sách để

cải cách tất cả mọi lĩnh vực nhằm có lợi cho dân để xoa dịu mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ, những chính sách đó về khách quan có tác dụng thúc đẩy sản xuất đặc biệt là chế độ quân điền trong điều kiện thiếu ngời thừa đất và ban hành chế độ thuế khoá đó là tô, dung, điệu, những chính sách có lợi cho dân nh giảm lao dịch, hạn chế lãng phí, giảm nhẹ hình phạt đối với ngời dân, chọn quan lại thanh liêm, phát triển chế độ khoa cử tạo điều kiện cho sản xuất phát triển nên các ngành thủ công nghiệp và bên cạnh đó thơng nghiệp cũng không kém phần quan trọng, thành thị ra đời ở cuối nhà Đờng

Do đó chỉ sau mấy năm khi thực hiện chính sách này thì kinh tế nhà Đờng

đợc khôi phục và phát triển, dân tình ấm no cho nên chính trị tơng đối ổn định Hầu hết ruộng đất bỏ hoang đều đợc khai khẩn nhân khẩu không ngừng tăng lên Lịch sử Trung Quốc gọi thời kỳ này là “nền thịnh trị thời Trinh Quán"

Đờng Thái Tông còn có nhiều cử chỉ mua chuộc lòng ngời nh cùng các quan lại đi bắt sâu cắn lúa, cùng binh sẽ vác đất đấp hào, thăm hỏi bệnh binh, khóc lóc những ngời tử trận, thậm chí còn tự mình hút máu cho một viên đại t-ớng bị thơng Khi ở mặt trận áo của ông bị rách ông cũng không thay vì cho rằng áo của quân sĩ phần nhiều là rách rới không thể một mình mặc áo lành đợc

Trang 14

Những cử chỉ ấy đã khích lệ quần chúng nhân dân rất nhiều, do đó ai cũng hết lòng vì phận sự và ông cũng đợc mọi ngời ủng hộ Nh vậy Đờng Thái Tông là một ngời có tài năng về quân sự, chính trị và biết thu phục lòng dân Ông là vị hoàng đế nổi tiếng nhất đời Đờng và cũng là một trong những ông vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Nhà Đờng thịnh trị còn đợc đánh dấu bởi đời vua Đờng Huyền Tông (712

- 756) ở giai đoạn này sự cờng thịnh của nhà Đờng lại càng đợc thể hiện rõ nết nhiều hơn Đờng Huyền Tông tỏ ra là một ông vua có năng lực ông thi hành một số chính sách về chính trị và chỉnh đốn bộ máy chính quyền từ trung ơng

đến địa phơng, phái các vơng đi làm thứ sử ở các Châu để tránh xảy ra chính biến ở kinh đô Về kinh tế ông chú ý đến sản xuất và tiết kiệm, ngừng xây dựng một số công trình, cấm dệt gấm và tìm ngọc Đây đợc xem là giai đoạn mở đầu cho trung Đờng

Sau một thời gian thi hành chính sách đó thì trật tự xã hội ổn định, chính quyền vững vàng, kinh tế phát triển không ngừng Lúc này thuyền bè qua lại tấp nập và mậu dịch với nớc ngoài lấy Quảng Châu làm trung tâm rất phồn thịnh, các thành phố lớn nh Trờng An, Lạc Dơng, Khai Phong, Quảng Châu đều là những nơi có giao lu mậu dịch quốc tế rộng rãi Thành Trờng An thủ đô của nhà

Đờng có quy mô rất lớn, 120 đờng phố với hàng ngàn trạm dịch lộ, xe ngựa

ng-ời qua kẻ lại tấp nập ồn ào, mậu dịch quốc tế mở rộng và có hơn 40 nớc đặt quan hệ ngoại giao buôn bán với nhà Đờng

Do thơng nghiệp phát triển tiền tệ cũng đợc chú trọng, việc đúc tiền trở thành chuyên nghiệp và trong thời kỳ Đờng Huyền Tông trị vì là thời đại vơng triều Đờng khuyếch trơng đối ngoại của đế quốc Đờng Ngay từ thời Đờng Thái Tông đã đánh bại dân tộc Đột Quyết và cho hởng chế độ xng thần, đánh bại quân Hung Nô

Do thế lực mọi mặt của vơng triều Đờng đều mạnh đập tan mọi âm mu phản loạn, vơng triều Đờng đã cũng cố rừng ở phía Bắc và mở ra con đờng thông thơng với quốc tế lúc đó là Tây Vực Đồng thời chiếm các cứ điểm quan trọng Đông Quan để trấn áp các cuộc chống đối của các dân tộc Đột Quyết, Hồi

Trang 15

Hột, Hung Nô, đem cống nạp các thứ quý giá kể cả ngời cho triều Đờng Triều

đình chinh phục và mở rộng sang Tây Vực và từ đó quân Đờng luôn chiếm giữ bảo vệ con đờng sang Tây Vực

Trung Quốc và ấn Độ có mối quan hệ giao lu văn hoá và thơng nghiệp lâu dài cho nên văn hoá Trung - ấn ảnh hởng lẫn nhau làm cho cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân hai nớc thêm phong phú Đờng Huyền Trang đã sang

ấn Độ cầu kinh trong một khoảng thời gian khá dài, đây là một sự kiện giao lu văn hoá giữa hai nớc và từ đó có sứ thần hai nớc qua lại duy trì mối quan hệ lâu dài

Do Trung Quốc thời bấy giờ về giao thông đờng bộ, đờng biển phát triển văn hoá chính trị, kinh tế cũng phát triển mạnh mẽ đã ảnh hởng đến khoa học - công nghệ, văn học nghệ thuật nên đã mở rộng đợc phạm vi giao lu sang Châu

Âu Mặt khác sản vật và văn hoá đặc biệt là của văn hoá ấn Độ, Tây vực cũng xâm nhập vào Trung Quốc, ngoài ra t tởng tôn giáo cũng ảnh hởng đến đời Đ-ờng mà sự phồn vinh buôn bàn cũng kích thích đến sự phát triển công nghiệp của Trung Quốc Điều đó đã chứng tỏ thời kỳ đầu đối ngoại của đế quốc Đờng

mở rộng xu thế phát triển kinh tế văn hoá xã hội mạnh mẽ

Tuy nhiên những chính sách nói trên để dẫn đến sự phát triển của nhà ờng từ thời Đờng Thái Tông đến Đờng Huyền Tông và những kết quả tích cực

Đ-đó thì sử dụng nhằm thực hiện chính sách bành trớng xâm lợc với quy mô vô cùng to lớn Các vua đời Đờng đã mang quân xâm lợc rất nhiều nớc, trớc hết là các vùng Tân Cơng, Tây Tạng, Cao Ly và đặt ra An Tây đô hộ phủ, An Nam đô

hộ phủ cũng đợc thành lập vào năm 679 và tên An Nam cũng là có từ đó Quan

hệ buôn bán và chiến tranh xâm lợc đã làm cho sự giao lu về mọi mặt giữa Trung Quốc và nhiều nớc trên thế giới đợc mở rộng và thời Khai Nguyên đợc coi nh là đỉnh điểm của sự phát triển nhà Đờng

Đằng sau vẻ phồn vinh thịnh trị đó đã bắt đầu xuất hiện mầm mống suy thoái, sang thời Thiên Bảo (742 - 756) đợc xem nh là khởi điểm của thời trung

Đờng Những mầm mống đó phát triển mạnh mẽ, chế độ quân điền bị phá hoại

Trang 16

nghiêm trọng, bọn quan lu địa chủ ở các vùng nông thôn đã chiếm đoạt ruộng

đất đợc chia của nông dân lập nên các điền trang Những cuộc Nam chinh Bắc chiến hao ngời tốn của đã làm cho nhân dân và binh lính hết sức bất bình Thêm vào đó ở trong triều quan hoạn và gián thần giành giật nhau quyền lợi và thao túng triều chính đặc biệt từ ngày Đờng Huyền Tông say đắm Dơng Quý Phi nên không chú ý đến việc triều đình Chính vì vậy mà ở địa phơng các địa chủ tăng cờng vơ vét của dân, sự tranh giành nhau về ruộng đất và tài sản giữa các tiết độ

sứ ở địa phơng và triều đình Cho nên mâu thuẫn giữa hai thế lực này ngày càng gay gắt và mâu thuẫn nội bộ thống trị ngày càng sâu sắc, những ngời nông dân

là những ngời phải chịu nhiều khổ cực nhất

Đến đời Đờng Đức Tông vì quân phí quá lớn kho tàng của triều đình không

đủ chi cho nên đối với thơng nhân và ngời cho vay nặng lãi thì triều đình đã có những chủ trơng cớp đoạt, nên thơng nhân đã phẫn nộ bãi chợ để phản kháng Triều đình cớp bóc không đủ lại tăng tiền thuế, thơng nhân và ngời cho vay nặng lãi bị triều đình nhà Đờng cớp đoạt bằng thủ đoạn nâng giá và lấy lãi cao

và cuối cùng thất bại nên những ngời gánh chịu là nông dân và thợ thủ công, làm cho họ ngày càng đói khổ từ đói khổ bần cùng đó là mối nguy cơ đe doạ triều đình nhà Đờng Những chính sách nh vậy đã làm cho đời sống nông dân vô cùng cực khổ, không có cơm ăn và áo mặc khiến cho những ngời nông dân phải đứng lên biến thành cuộc khởi nghĩa nông dân năm 755 do An Lộc Sơn và

Sử Tử Minh khởi binh chống nhà Đờng hay còn gọi là vụ “loạn An – Sử” Sự kiện này cũng đánh dấu nhà Đờng từ chỗ thịnh trị chuyển sang suy yếu

Nh vậy chúng ta nhận thấy rằng nhà Đờng ra đời và trải qua giai đoạn phát triển thịnh trị, đánh dấu một mốc lớn của lịch sử phong kiến Trung Quốc Nó không những phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội mà văn hoá của nhà Đờng cũng đợc xem nh là một điểm sáng trong lịch sử Trung Quốc Với những đóng góp lớn ấy đều là do các ông vua biết “khoan th sức dân” và phục vụ quyền lợi cho nhân dân, nhng cuối đời các ông vua đều do phục vụ nhu cầu ăn chơi xa xỉ

và bỏ bê triều đình Nên theo quy luật những ngời nông dân lại là những ngời nghèo khổ nhất, họ lại bị bần cùng hoá khiến phải đứng lên đấu tranh để thay

Trang 17

thế triều đại này bằng một triều đại khác Từ thực tế đó chúng ta đã nhận thấy rằng nhà Đờng đã đến lúc đi vào suy vong

1.2.3 Sự suy vong của nhà Đờng.

“Vụ loạn An - Sử” là một cuộc nội chiến trong giai cấp thống trị nhà Đờng

mà hậu quả là làm cho nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ phải chịu những tai hoạ rất thê thảm Sau loạn An - Sử nhiều vùng trở nên hoang vắng và không có bóng ngời, đặc biệt là Lạc Dơng vì thành phố này không những bị quân phiến loạn giày xéo mà còn bị quân lính của triều đình nhà Đờng và quân Hồi Hột tàn sát cớp bóc, đốt phá đến nỗi c dân không còn quần áo để mặc phải dùng giấy để che thân

Từ khi loạn An - Sử xảy ra ở trong triều đình vua chỉ là bù nhìn, mọi quyền hành đều do các quan hoạn lũng đoạn Quan hoạn có thể tuỳ ý phế lập các vua và khống chế các quan, tiêu biểu cho sự lộng hành và thâm hiểm của quan hoạn trong thời kỳ này là Cừu Sĩ Lơng

Năm 835 tể tớng Lý Huấn, tiết độ sứ Phợng Tờng ở thiểm tây là Trịnh Chú

đã liên kết với nhau phao tin giả đã gây nên “vụ biến Cam Lộ” Cừu Sĩ Lơng ra lệnh giết chết hai quan lại

Ngoài những mâu thuẫn giữa các quan hoạn với nhau thì trong thời kỳ này còn diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai phái trong hàng ngũ quan lại, phái quan lại xuất thân từ quý tộc và phái quan lại xuất thân từ khoa cử do đó tình hình trong triều đình ngày càng trở nên hỗn loạn Thêm vào đó là tiết độ sứ ngày càng lớn mạnh ở các địa phơng và trở thành những lực lợng cát cứ độc lập không chịu sự quản lý của chính phủ trung ơng Đờng Huyền Tông đã dùng An Lộc Sơn ngời

Hồ làm tiết độ sứ ở Bình L, Phạm Dơng và Hà Đông Các lực lợng quân sự và kinh tế của triều Đờng đã dần dần suy yếu, vơng triều đã lợi dụng binh lực của các phiên tớng đề cao họ để phòng bị ngăn chặn các bộ tộc Khiết Đan, Hồi Hột

đang lăm le làm phản

Tể tớng Lý Lâm Phủ cũng muốn củng cố địa vị của mình nên cho rằng phiên tớng không biết chữ Hán không làm đợc tể tớng nên đã kiến nghị phiên t-ớng thay các quan văn làm tớng để dễ dàng khống chế Sự lớn mạnh của tiết độ

Trang 18

sứ và việc nắm toàn bộ lực lợng quân sự nên vơng triều Đờng đã dựa vào các tiết độ sứ có quân mạnh để phòng ngự biên cơng và trấn áp nhân dân trong nớc, cho nên quyền lực của các tiết độ sứ ngày càng tăng lên An Lộc Sơn tự mình thởng phạt và ngày càng kiêu ngạo xem lực lợng vũ trang của vơng triều Đờng chẳng đáng gì nên cấu kết với bọn quan lu quý tộc Hán nh Cao Thơng, Nghiêm Trang làm chủ, vạch kế hoạch phiến loạn Trong khi Đờng Huyền Tông đã rơi vào hố truỵ lạc sa đoạ, bỏ bê triều chính cho nên hầu nh quân đội của vơng triều

Đờng đều nằm trong tay các phiên tớng Khí giới quân mã cạn kiệt, lơng thực cạn kiệt nên quân của triều đình không thể đánh chác gì Do đó khi An Lộc Sơn khởi binh vây hãm Lạc Dơng, Đồng Quan trực tiếp uy hiếp tinh thần kinh thành Trờng An thì chúng mặc sức tàn phá kinh thành, cớp bóc của cải và bắt trai tráng nam nhi phải đi phục dịch, ngời già và trẻ con thì bị chém chết Sau đó An Lộc Sơn bổ nhiệm quan lại nguỵ quyền hòng đặt ách áp bức nhân dân, khiến nhân dân vùng lên tơng kế tựu kế giết bọn quan lại của giặc, kêu gọi quân lính

ơng nhng mãi vẫn không dẹp đợc loạn, Sử Triều Nghĩa đã tự sát Thế lực của Tiết Độ Sứ ngày càng đợc mở rộng và quyền thống trị của vơng triều Đờng ngày càng bị thu hẹp Tiết Độ Sứ đã chia cắt địa phơng cũng áp dụng chế độ cha truyền con nối, họ chết đi đất đai truyền lại cho con cháu cha chết con nắm binh quyền, bộ hạ đều làm tớng cho chủ soái Với những tình hình bị áp bức bóc lột nặng nề và tàn bạo nh vậy nông dân đành phải lu vong

Tình hình chính trị đen tối cuối đời Đờng đã trút mọi tai hoạ xuống đầu nông dân Trung Quốc, các chế độ quân điền bị phá hoại Sau loạn An - Sử khiến cho nông dân không còn ruộng đất còn giai cấp địa chủ đã giàu lại thu hết

Trang 19

ruộng đất vào tay họ khiến cho “kẻ giàu có hàng vạn mẫu, ngời nghèo không có chỗ đặt chân" [19,126] Bên cạnh đó thuế khoá cũng là vấn đề đè nặng lên đầu nhân dân khiến cho họ không thể chịu đựng nổi, đến mùa thu thuế tình trạng nhân dân phải dỡ nhà bán ngói, bán gỗ hoặc cầm vợ bán con để lấy tiền đóng thuế là chuyện thờng xuyên xảy ra Nhng đôi khi những thứ đó mới chỉ đủ dọn cơm thiết đãi bọn quan lại đến đòi thuế chứ cha có gì nộp vào kho nhà nớc Nếu gặp năm mất mùa thì nhân dân phải ăn lá hoè trừ cơm còn những ngời già không đi kiếm lá hoè ăn đành phải chịu chết đói Ngoài ra nhân dân còn phải chịu những nỗi khổ khác nh muối không có mà ăn, vì muối và rợu chè nhà nớc

đều độc quyền mua bán không thì quan hoạn lại tự do cớp bóc hàng hoá ngoài chợ Chính vì sự khổ cực đó là nguyên nhân trực tiếp các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra ở cuối đời Đờng

Năm 874 phong trào khởi nghĩa nông dân lớn bùng nổ ở Sơn Đông, bấy giờ ở vùng này đê Hoàng Hà bị h hỏng nạn lụt xảy ra liên tiếp và vụ thu năm đó hầu nh mất trắng Bên cạnh đó nhà nớc lại quản lý muối rất chặt, giá muối rất cao cho nên nhân dân rất đói khổ Trớc tình cảnh đó Vơng Tiên Chi đã lãnh đạo nông dân nổi dậy ở Trờng An, quân khởi nghĩa truyền hịch lên án nhà Đờng thối nát quan lại tham nhũng, thuế khoá nặng nề cho nên ngay từ buổi đầu mục

đích của cuộc khởi nghĩa là chống lại nền thống trị của nhà Đờng, chẳng bao lâu nghĩa quân đã chiếm đợc nhiều nơi ở Sơn Đông

Năm 875 Hoàng Sào là một ngời buôn muối khác cũng tụ tập đợc mấy nghìn ngời nổi dậy hoạt động ở Sơn Đông rồi ra nhập lực lợng khởi nghĩa của Vơng Tiên Chi Từ đó hàng ngũ của nghĩa quân phát triển rất nhanh chóng, địa bàn hoạt động cũng từ Sơn Đông mở rộng đến vùng Hà Nam, Hồ Bắc, An Huy trẻ già gái trai đều xung phong vào các đội quân chống lại triều đình nhà Đờng Vơng Triều Đờng đã phải phái đại tớng Vơng Vũ và Vơng Thí đem đại quân đi trấn áp, cuối cùng quân khởi nghĩa đã bị vây hãm Do sự bất đồng ý kiến giữa hai thủ lĩnh nên Vơng Tiên Chi ở lại Hồ Bắc còn Hoàng Sào đem quân lên vùng

Hà Nam, Sơn Đông Sự chia rẽ đó làm lực lợng của Vơng Tiên Chi yếu hẳn đi nên đến năm 878 Vơng Tiên Chi bị quân nhà Đờng đánh bại, bản thân Vơng

Trang 20

Tiên Chi và hơn năm vạn nghĩa quân bị giết chết Cũng từ đó Hoàng Sào trở thành ngời lãnh đạo chủ yếu của phong trào khởi nghĩa nông dân và cuộc khởi nghĩa của Hoàng Sào lãnh đạo kéo dài liên miên từ năm này qua năm khác.Năm 879 Hoàng Sào tiến quân đánh Quảng Đông và phá châu huyện, giết bọn quan lại, cải cách nền hành chính nên đợc quần chúng nhân dân tích cực ủng hộ Quân khởi nghĩa sau những trận chiến mệt mỏi đã quay về Quảng Đông nghỉ ngơi, triều đình đã yêu cầu tiết độ sứ ở Quảng Châu tìm cách dụ dỗ quân khởi nghĩa đầu hàng nhng không đợc Hoàng Sào tiếp tục tấn công Quảng Châu

và sau khi chiếm đợc Quảng Châu ông tự xng là “nghĩa quân Đô Thống" và phát th đi khắp nơi tuyên bố sẽ vào Quan Trung, cải cách các tệ nạn của chính quyền, vạch trần tội ác của bọn quan hoạn, bọn quan lại tham ô ngợc đãi dân lành và xoá bỏ tình trạng đen tôí trong chế độ khoa cử Hoàng Sào đã đề xuất cấm chỉ bọn quan lại huyện lệnh cớp bóc tài sản của nhân dân Tất cả những lời kêu gọi trên về cơ bản phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội đơng thời cho nên xã hội đã thừa nhận vai trò của nghĩa quân

“Hoàng Vơng khởi binh là vì bách tính Dân chúng cần ở đâu về chỗ ấy yên ổn không phải sợ hãi gì Nghĩa quân vốn là những ngời nông dân cho nên rất căm thù bọn quan lại hoàng thân, bắt đợc ai là giết ngay, thấy ngời nghèo

đói đi trên đờng là đem của cải cho ngay” [9, 200]

Sau khi chiếm đợc kinh thành Hoàng Sào tự xng là Hoàng Đế lấy quốc hiệu là Đại Tề, niên hiệu là Kim Thắng Quan lại nhà Đờng từ tam phẩm trở lên

đuổi về không cho làm nữa, từ tứ phẩm trở xuống vẫn giữ nguyên nh cũ Nhng chính quyền mới của Hoàng Sào là chính quyền không ổn định vì quân khởi nghĩa trải qua sáu năm chinh chiến Nam Bắc Tuy lật đổ đợc ách thống trị của vơng triều Đờng nhng vẫn cha phá hoại đợc cơ sở của nó Cơ cấu thống trị ở địa phơng cũng cha phá tan đợc vì cuộc chiến đấu của nghĩa quân dới dạng hình thức nổi lên ào ạt và cha xây dựng đợc một chính quyền mới vững mạnh vì khu vực mà Hoàng Sào khống chế đợc chỉ là kinh thành Trờng An

Trớc tình hình ấy giai cấp phong kiến tạm dẹp mâu thuẫn nội bộ để liên hợp với nhau đem quân bao vây Trờng An, cắt đứt đờng cung cấp lơng thực của

Trang 21

nghĩa quân nông dân khiến cho khởi nghĩa sợ không có lơng thực mà ăn, hoang mang dao động Thành phần của nghĩa quân thì đại bộ phận là nông dân và những ngời sản xuất nhỏ nên tính cách tản mạn, tổ chức lỏng lẻo, khi vào Trờng

An lại tiếp xúc với đời sống kinh tế thành thị sa đọa cho nên mệnh lệnh của Hoàng Sào ban bố ra không thể nhanh chóng thực hiện đợc Trong tình thế khó khăn đó hàng ngũ của quân khởi nghĩa lại bị chia rẽ

Năm 882 tớng trấn thủ Đồng Quan của Hoàng Sào phản biến đầu hàng, quân Đờng phản kích lại nghĩa quân thì Chu Ôn một tớng lĩnh quan trọng của nghĩa quân đầu hàng triều Đờng Tuy vậy nghĩa quân nông dân vẫn cầm cự đợc hơn hai năm

Năm 883 Hoàng Sào buộc phải rút khỏi Trờng An về tiếp tục chiến đấu ở vùng Hà Nam, quân Đờng vào Trờng An đốt phá tạo nên cảnh tợng cực kỳ bi thảm

Năm 884 lực lợng nghĩa quân về cơ bản đã tan rã, Hoàng Sào dẫn đội tuỳ tùng còn độ một nghìn ngời chạy lên ẩn ở Thái Sơn bị Thơng Nhợng đem quân truy lùng đến cùng, Hoàng Sào thế cùng lực kiệt phải tự sát tại Lang Hổ Cốc, cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào rầm rộ đã bị thất bại

Nh vậy phong trào khởi nghĩa của nông dân ở cuối nhà Đờng đã kéo dài trong vòng mời năm, trên một địa bàn rộng lớn từ Hà Bắc, Sơn Đông xuống đến Quảng Đông, Quảng Tây đã hành quân mấy vạn dặm và chiếm đợc kinh đô, thành lập chính quyền làm cho vua tôi nhà Đờng phải chạy khỏi kinh thành nh-

ng cuối cùng đã bị thất bại Cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào thất bại nhng nó đã ảnh hởng rất lớn đến đời sống nhân dân lao động đơng thời Quân khởi nghĩa đã tung hoành khắp vùng lu vực sông Hoàng Hà, lu vực Trờng Giang, lu vực Chu Giang và một số vùng khác, hoàn thành bớc đờng hành quân vĩ đại cha từng có

và đã chiếm lĩnh đợc Trờng An trung tâm thống trị lụi bại của vơng triều Đờng Mặc dù cha trực tiếp lật đổ đợc nền thống trị của vơng triều Đờng nhng phong trào này lại làm cho mâu thuẫn nội bộ của vơng triều Đờng càng thêm gay gắt Bọn quan hoạn và quan lu chia ra câu kết với phiên trấn nơi chúng làm ngoại

Trang 22

viện, nhà Đờng càng bị chia năm xẻ bảy Triều Đờng chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa mà thôi

Năm 901 Lý Mậu Trinh vào triều nắm chính quyền, Thôi Dận gửi th yêu cầu Chu Toàn Trung đem quân về kinh để giành lấy ngôi hoàng đế

Năm 902 Chu Toàn Trung đa quân vào bao vây Phợng Tờng “dân trong thành chết đói mỗi ngày đến mấy nghìn ngời, đến nỗi phải luộc thây xác chết

mà ăn” [19,130] Lý Mậu Trinh phải nộp đất đai cho Chu Toàn Trung và cuối cùng nộp vua Đờng cho Chu Toàn Trung

Năm 903 Chu Toàn Trung đa Đờng Cao Tông trở về Trờng An cấu kết với Tiết Độ Sứ thẳng tay giết chết tám trăm quan hoạn

Năm 907 Chu Toàn Trung phế truất Đờng Ai Đế tự xng là hoàng đế, nhà

Đờng tồn tại hai trăm chín tám năm đến đây bị chấm dứt

Ch

ơng 2 : Đặc Điểm Phong Kiến Của Nhà Đờng ở Trung Quốc

Trang 23

Trong khoảng 124 năm từ khi nhà Đờng ra đời đến năm Khai Nguyên thứ

29, đời Huyền Tông (741) thống nhất đợc trong nớc thì chính trị đợc tơng đối

ổn định, việc dùng binh ở ngoài luôn thắng lợi, kinh tế và xã hội nói chung đợc phát triển hơn cả thời Tuỳ Văn Đế của nhà Tuỳ Trên cơ sở của nền kinh tế phát triển thì chính trị và xã hội ổn định, văn hoá đã có những đóng góp to lớn trong

đó nổi bật nhất là các mặt t tởng, giáo dục, văn học, sử học và một số lĩnh vực khoa học - kỹ thuật Xã hội Trung Quốc thời đại trải qua cuộc phá huỷ trờng

kỳ từ thời Tam Quốc, Lỡng Tấn, Nam Bắc triều đến đời sơ Đờng bắt đầu khôi phục đợc Đến thời Khai Nguyên, Thiên Bảo thì tình thế phục hng đã đạt tới

Để bổ sung cho nền kinh tế tự nhiên phục vụ cho nhu cầu xa xỉ bóc lột của tầng lớp quý tộc quan lại

Các ngành kinh tế nó bổ sung cho nhau trên cơ sở nông nghiệp và thủ công nghiệp thì thơng nghiệp phát triển, càng về cuối nhà Đờng thơng nghiệp càng phát triển hơn Chính vì vậy cuộc sống của nhân dân đã có phần đợc cải thiện hơn, để hiểu rõ hơn chúng tôi sẽ đi vào cụ thể từng ngành

2.1.1 Nông Nghiệp.

Chính sách nhợng bộ cho nông dân để nhằm giảm nhệ áp bức và bóc lột

và mục đích là làm hoà dịu mâu thuẫn giai cấp.

Trang 24

- Tình hình nông nghiệp:

Đối với phơng Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng thì nông nghiệp

là ngành kinh tế quan trọng nhất Đây là một thành phần không thể thiếu của một quốc gia bởi nó là nhân tố ảnh hởng trực tiếp tới chính trị Thực tế đó đã cho chúng ta thấy rằng khi nhà Đờng đợc thành lập năm 618 sau đó Lý Thế Dân lên nối ngôi cha năm 627 lấy hiệu là Đờng Thái Tông, ông thờng bàn bạc với các đại thần về nguyên nhân diệt vong của nhà Tuỳ và nhận thấy lực lợng đấu tranh của nông dân rất lớn lao nên muốn củng cố nền thống trị phải giảm nhẹ

áp bức bóc lột đối với nông dân Trong lúc này nông dân đang đói khổ bởi những cuộc trấn áp tàn bạo và chịu đựng đau khổ do chính sách thống trị tàn bạo của Tuỳ Dạng Đế và chiến tranh liên miên nên nông dân rất đói khổ hợp nhau lại lật đổ triều đình nhà Tuỳ

Lý Thế Dân đã biết nắm lấy cơ hội này nhằm khôi phục lại nền kinh tế,

đặc biệt là nông nghiệp bằng chính sách nhợng bộ cho nông dân, nhằm giảm nhẹ áp bức bóc lột đối với nông dân mà mục đích là làm cho hoà dịu mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ Với những chính sách nhợng bộ ban đầu đó thì nông dân đã nhanh chóng thoát khỏi cảnh nghèo đói và mâu thuẫn giai cấp tạm thời lắng xuống, nông nghiệp lại càng phát triển, đặc biệt đến năm trị vì thứ

t của Đờng Thái Tông (năm 630) thì ngành nông nghiệp đã thu đợc nhiều kết quả lớn, mùa màng bội thu, dân tình yên vui “gạo mỗi đấu bốn năm tiền, cổng ngoài mấy tháng không đóng, ngựa bò đầy đồng, khách đi đờng mấy nghìn dặm không cần mang theo lơng thực” [19,177]

Sang đầu thế kỷ VIII dới thời Đờng Huyền Tông nền kinh tế Trung Quốc phát triển một cách toàn diện nói chung còn riêng nông nghiệp thì công cụ sản xuất càng đợc cải tiến, mạng lới thuỷ lợi đợc mở rộng, diện tích canh tác lại tăng thêm nhiều hơn, chẳng những ruộng hoang không còn nữa mà đất đồi núi cũng đợc khai phá Nông nghiệp ngày càng đợc phát triển, nông dân hăng hái lao động và nó đã thúc đẩy đến các ngành kinh tế khác phát triển theo, điều đó

đã làm cho nền chính trị ngày càng ổn định Do vậy đất nớc một lần nữa đất nớc lại xuất hiện cảnh thái bình thịnh vợng

Trang 25

Nhng từ giữa thế kỷ VIII về sau thì do Đờng Huyền Tông suốt ngày chìm

đắm trong sắc đẹp, nhất là say mê Dơng Quý Phi bỏ bê triều chính Nhân cơ hội

đó giai cấp địa chủ tăng cờng chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và chế độ quân điền bị tan rã, thế lực các tiết độ sứ ở các vùng biên cơng phát triển mâu thuẫn giai cấp cũng nh mâu thuẫn giữa trung ơng và địa phơng trở nên gay gắt Xã hội Trung Quốc có nhiều biến cố hết loạn An - Sử lại đến bị phá hoại nghiêm trọng, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ và đây cũng là nguyên nhân

để nhà Đờng đi vào suy vong một cách nhanh chóng, mãi đến nhà Tống mới khôi phục đợc

Nh vậy nhìn chung chúng ta thấy nền nông nghiệp thời Đờng có bớc phát triển vợt bậc hơn Các ông vua đã hết sức dùng những biện pháp để khôi phục

đất đai, thuỷ lợi và có những chính sách khoan nhợng cho nông dân nên có nhiều thành tựu trong nông nghiệp và đời sống nông dân luôn no đủ Nhng bên cạnh đó những chính sách đấy vẫn đang còn tính chất phong kiến nh chính sách quân điền hay chính sách tô, dung, điệu

- Chế độ ruộng đất

Chính sách quân điền

Đây đợc xem là chính sách nhợng bộ nông dân và để giảm bớt những mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân Nguyên nhân ra đời chính sách quân điền là do kết quả đấu tranh lâu dài 6, 7 thế kỷ trớc tức là nông dân

đấu tranh thờng xuyên đòi ruộng đất Chính sách quân điền là một chính sách tiến bộ nổi bật trong những chính sách của nhà Đờng nhợng bộ nông dân, chính sách đó có ý nghĩa và tác dụng đến sự thịnh suy của phong kiến nhà Đờng, là chính sách ở chừng mực nhất định và nó đã đáp ứng đợc nguyện vọng của nông dân

Nội dung chủ yếu của chính sách quân điền nh sau:

Lấy những vùng đất rộng lớn bị bỏ hoang trong thời chiến tranh để chia cho nông dân cày cấy, năm Vũ Đức thứ bảy (năm 624) đặt ra năm thớc là một

bộ, 240 bộ là một mẫu, 100 mẫu là một khoảnh, ngời tàn tật đợc cấp 40 mẫu,

đàn bà goá chồng đợc cấp 30 mẫu Những ngời tàn tật, những ngời goá chồng tự

Trang 26

lập làm một bộ thì đợc cấp thêm 20 mẫu, ngời làm công thơng nghiệp đợc nửa phần ruộng và hàng đinh nam.

Số ruộng cấp thì hai phần mời là thế nghiệp còn lại là ruộng khẩu phần, nh mỗi thanh niên trên 18 tuổi đợc chia 100 mẫu ruộng trong đó 20 mẫu “vĩnh viễn” thuộc quyền sở hữu của nông dân, 80 mẫu là ruộng “khẩu phần” sau khi nông dân chết phải trả lại cho nhà nớc Những nơi ở làng hẹp ít đất nhiều ngời thì mỗi thanh niên chỉ đợc chia 40 mẫu ruộng “khẩu phần” Hồi đầu nhà Đờng, nhân dân chết chóc lu tán, ruộng đất bỏ hoang nhiều, phải đem bán ruộng vĩnh nghiệp đợc tự nguyện đến làng nào rộng và cho phép bán cả ruộng khẩu phần Các ruộng đất có thể làm nhà cửa, dinh thự, cối xay nhng đi chỗ khác cũng đợc bán, riêng chỗ t nhân và sau khi đã bán ruộng đất đi thì không đợc xin cấp ruộng đất khác

Quan lại thì tuỳ theo chức tớc mà đợc cấp ruộng đất làm bổng lộc, nhất phẩm đợc 12 khoảnh, theo thứ bậc giảm dần xuống đến cửu phẩm thì đợc cấp 2 khoảnh, quan ở các tỉnh ngoài cũng theo phẩm mà đợc cấp Ruộng thởng công ban cho những ngời có chiến công ít nhất là đợc 60 mẫu, nhiều nhất là đợc 30 khoảnh Ruộng chức vụ ban cho các quan lại làm cho lơng bổng, ít nhất là 80 mẫu nhiều nhất là 12 khoảnh Chế độ quân điền không xâm phạm đến ruộng đất của địa chủ Bọn quý tộc quan liêu vẫn theo đẳng cấp mà đợc nhiều ruộng vĩnh viễn của vua ban cho đồng thời dựa vào quyền thế mà chiếm thêm nhiều ruộng

đất khác Trên cơ sở đợc cấp ruộng đất theo tiêu chuẩn nh nhau nhà nớc bắt nông dân phải chịu nghĩa vụ ngang nhau về thuế khoá và lao dịch Nhà Đờng quy định thành chế độ tô, dung, điệu

Chế độ thuế khoá: Tô, dung, điệu

Gắn liền với chính sách quân điền là chế độ nghiã vụ tô, dung, điệu của nông dân đối với nhà nớc Một thiết chế thống nhất cố định trong phạm vi quốc gia và nó có tác dụng hạn chế đợc sự nhũng nhiễu của quan lại địa chủ góp phần kích thích sức sản xuất của nông dân Tô, dung, điệu đợc định phép ở năm thứ bảy của Vũ Đức

Tô là thuế đánh vào ruộng khẩu phần, nông dân phải nộp bằng thóc lúa

Trang 27

Dung là thuế hiện vật thay cho nghĩa vụ lao dịch.

Điệu là thuế đánh vào đất trồng dâu, ngời nông dân phải nộp bằng tơ lụa hoặc bông vải

Các loại thuế ấy đợc quy định mỗi tráng đinh một năm phải nộp tô hai thạch (đấu) thóc, điệu hai mơi thớc lụa và ba lạng tơ, dung sáu mơi thớc lụa để thay cho hai mơi ngày lao dịch ở những nơi đất không trồng đợc dâu thì có thể dùng bông vải để thay thế, nếu gặp nạn lụt và hạn hán chính phủ sẽ tuỳ thiệt hại nặng nhẹ mà giảm thuế hoặc miễn thuế và việc bắt phu sẽ đợc tạm ngừng trong những ngày mùa

Đến năm 780 nhà Đờng quy định thuế theo hai vụ, tức là căn cứ vào ruộng

đất công với tài sản hiện có thì chế độ quân điền và tính chất phong kiến đợc thể hiện rõ rệt hơn Ruộng đất chỉ chia cho nông dân là đàn ông mà thôi nó khác với quân điền thời Bắc Chu là chia ruộng đất cho cả trâu bò và công cụ sản xuất Chế độ cũ là nô tỳ dựa vào phần lợng đinh đợc nhận phần ruộng, nộp thuế má, chế độ nhà Đờng lại không cấp ruộng đất cho nô tỳ, cũng không đánh thuế sức thặng d lao động của nô tỳ mà quy cả về chuyên hữu của chủ hộ

Thứ hai chế độ cũ đàn bà chỉ đợc nhận một số ruộng chỉ bằng một nửa số ruộng của đàn ông, ngời có vợ phải gánh gấp đôi (hay còn gọi là tô một giờng), ngời không có vợ (tô nửa giờng), chế độ bắt dân nghèo đành phải ở vậy không giám lấy vợ bởi tô thuế quá nặng mà không làm đợc mấy cho nên dân số tăng chậm ở thời nhà Đờng đàn bà không đợc ruộng không nộp thuế, cùng lao động

và chung sống với chồng để tăng thêm hiệu suất canh tác của ngời đàn ông,

điều đó có tác dụng lớn trong việc tăng nhân khẩu sau này

Từ chính sách quân điền đã dẫn đến tô, dung, điệu mà thực chất là quy chế hoá nghĩa vụ thần dân hình thức bóc lột, chính sách ruộng đất của nhà Đờng đã làm cho giai cấp của phong kiến lớn mạnh lên ở cả hai bộ phận ruộng đất công

và ruộng đất t

Nh vậy mục đích của chế độ quân điền là nhằm đảm bảo cho nông dân có ruộng đất cày cấy, do đó sẽ đảm bảo nguồn thuế khoá cho nhà nớc Sau khi thi hành chế độ quân điền những ngời nông dân không có hoặc ít ruộng đất, những

Trang 28

ngời đi lu tán trở về quê hơng đều đợc cấp ruộng đất Họ đã trở thành nông dân cày cấy ruộng đất công, thoát khỏi sự lệ thuộc vào địa chủ Hơn nữa do việc giao ruộng đất cho nông dân, toàn bộ ruộng đất bị bỏ hoang vì chiến tranh đã đ-

ợc canh tác trở lại đợc phát triển Vì vậy thu nhập của nhà nớc ngày càng tăng lên, đời sống nhân dân đợc cải thiện

Chính sách quân điền đợc thực hiện trong cả nớc nhng bên cạnh mặt tích cực thì còn có những hạn chế, nh chỉ thi hành ở miền Bắc và đến trung Đờng thì

sự chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ và thuế khoá nên nhiều ngời nông dân phải bỏ quê hơng đi tha phơng cầu thực Cùng với sự phát triển của ruộng

đất t thì số điền trang trong nớc nhiều hơn Thân phận của lực lợng lao động sản xuất chủ yếu trong các điền trang này gọi là trang khách, mối quan hệ giữa trang khách và địa chủ có phần gần gũi hơn trớc, ruộng đất của chùa quán cũng rất phát triển

Thời Đờng các ngành thủ công nghiệp ra đời từ trớc đều phát triển hết sức rực rỡ nh luyện kim, dệt vải lâu đời đã khẳng định đợc vị trí của mình ở khu vực

và thế giới Cộng vào đó là các ngành thủ công nghiệp mới nh in, đạo thuốc súng đã đóng góp cho vơng quốc Đờng có một nền văn hoá huy hoàng

Trên cơ sở tiến bộ của nền kinh tế thủ công nghiệp cả trong dân gian lẫn trong thủ công nghiệp nhà nớc đều phát triển tiến bộ lên, trong dân gian những

Trang 29

ngành nghề truyền thống tiến bộ hơn về kỹ thuật sản xuất, tổ chức sản xuất và

đây cũng là thời kỳ xuất hiện hàng hội, phờng hội, tức là đã tập những thợ thủ công cùng ngành nghề vào một đơn vị sản xuất là xởng thủ công ở cùng một địa

điểm khu vực, cùng sản xuất sản phẩm hợp nhau lại thành hàng hội hay phờng hội Đứng đầu hàng hội hay phờng hội là một thợ chính còn gọi là hàng lão hay thợ cả cùng năm đến bảy thợ phụ là thợ bạn, thợ học việc với nhau theo quan hệ gia trởng thầy và trò Nhằm để cạnh tranh với những thợ thủ công cùng ngành nghề đó nhng không có chân trong phờng hội Xởng thủ công phờng hội thờng tập trung ở các đô thị, ngoài ra còn có một số làng sản xuất thủ công truyền thống nh rèn, chạm, khắc

Thời trung Đờng về sau thành thị phát triển rất mạnh, do đó hàng hoá đã lu thông rộng rãi trong toàn quốc Đồng nghĩa với việc thị trờng đợc mở rộng là sự tăng lên nhanh chóng của các xởng thủ công, quy mô của các xởng cũng cứ thế lớn dần và một số lợng nhân công làm việc ngày một nhiều hơn Ngoài ra lúc bấy giờ do buôn bán phát triển, để làm giàu thêm một số thơng nhân đã giao nguyên liệu đến tận các gia đình thuê họ làm rồi trả công cho họ

- Tổ chức sản xuất thủ công nghiệp

Đầu tiên chúng ta phải nói đến ngành thủ công nghiệp lâu đời nhất đó là dệt vải, kéo sợi Lúc này dệt vải đã đạt đến trình độ rực rỡ nhất từ trớc tới nay, thời Đờng thì thủ công nghiệp đã sản xuất đợc lụa in hoa và thêu kim tuyến Vải vóc tràn ngập thị trờng trong nớc và bán ra nớc ngoài cũng nhiều hơn, trớc hết

đó là nghề dệt vải gia đình để tự túc quần áo cho nông dân theo sự phân công lao động “trai cày gái dệt” Trình độ cao hơn của nghề dệt đợc thể hiện qua từng tấm vải in hoa, thêu kim tuyến, đây là một loại vải đòi hỏi một trình độ kỹ thuật hết sức tinh tế mà không nơi nào có thể sánh đợc

Bên cạnh đó một ngành nghề thủ công nghiệp cũng ra đời sớm ở Trung Quốc và đến đầu thời nhà Đờng phát triển hết sức rực rỡ đó là nghề làm đồ sứ

Đờng Tam Thái là tên gọi chung về loại men gốm nhiều màu này (đỏ tơi, xanh lục, vàng), xuất hiện vào thời Đờng là sản phẩm tiêu biểu gốm sứ nó đã trở thành loại gốm sứ nổi tiếng khắp nơi trong và ngoài nớc với tên gọi mem Tam

Trang 30

Thái trứ danh Những loai đồ dùng bằng sứ trắng, trắng nh tuyết; đồ sứ xanh, xanh nh ngọc bích xuất hiện rất nhiều ở Trung Quốc “bức tợng ngựa Tam Thái với thân hình béo tốt gân cốt khoẻ khoắn ấy giúp chúng ta không chỉ biết đợc vai trò quan trọng của ngựa trong xã hội Đờng mà còn hình dung ra cảnh phồn vinh của thời thịnh Đờng” [22, 353] Men Tam Thái thời Đờng đã có một vị trí khá quan trọng trong nền nghệ thuật Trung Quốc nói riêng và nền nghệ thuật thế giới nói chung Hàng trăm năm nay ngời ta vấn nh đang chìm đắm trong vẻ

đẹp tuyệt luân, tuyệt mỹ của nó và đã xuất hiện rất nhiều cách chế tác gốm bắt chớc theo cách kỹ thuật của gốm Tam Thái thời Đờng và đến ngày nay trong lĩnh vực gốm Tam Thái thời Đờng cũng đang đợc bàn luận rất nhiều

Nghề thủ công mới nhất ở thời Đờng nhng lại có đóng góp to lớn cho con ngời đó là nghề in Trên thực tế thì cho đến mãi ngày nay việc xác định nghề in

đợc bắt đầu từ lúc nào ở Trung Quốc thì cha rõ nhng một điều chắc chắn rằng

đó là đến đầu nhà Đờng ở thế kỷ VII kỹ thuật in đã xuất hiện Đây là một nghề thủ công mới mẻ nhng có đóng góp to lớn cho xã hội loài ngời Bấy giờ nhà s Huyền Trang đã cho in một số lợng sách kinh lớn phổ biến để phân phát bốn phơng Vào năm 1966 các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra ở Trung Quốc một sản phẩm cổ nhất thế giới trong khoảng từ năm 704 - 751 đó là kinh Na Ni.Với kỹ thuật bằng in ván khắc đã giúp cho con ngời có nhiều bản in trong một thời gian ngắn thơ của Bạch C Dị và Nguyên Thận đem khắc ván và truyền tụng, phổ biến rất rộng rãi, Hột Can toàn làm truyện Lu Hằng đem in thành mấy nghìn bản gửi cho các quan trong triều Tuy còn nhiều bất cập và hạn chế nhng

kỹ thuật in bằng ván khắc cũng đợc sử dụng lâu dài và có nhiều đóng góp trong việc in ấn, lu trữ các vấn đề xã hội và tạo điều kiện cho con ngời phát triển và giữ gìn văn hoá Kỹ thuật in ván này không chỉ giúp cho ngời Trung Quốc có những văn bản, những tác phẩm mà nó còn đợc lu truyền sang các nớc khác

nh Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Philipin hay Châu âu.Với phơng pháp in này đã đợc sử dụng rất lâu ở nhiều nớc trên thế giới, mãi đến thế kỷ thứ XIV ngời Đức vẫn sử dụng phơng pháp này để in tranh ảnh Có thể nói với việc phát minh ra kỹ thuật in đó thì ngời Trung Quốc đã đóng góp phần công sức rất to

Trang 31

lớn vào việc giữ gìn, phát triển các vấn đề xã hội, văn hoá, lịch sử của nhân loại Chính những nền tảng in ấn thủ công này đã đặt nền tảng cho quá trình sáng tạo phát minh ra những máy in hiện đại sau này.

Nh vậy, chúng ta thấy rằng dới thời nhà Đờng các ngành thủ công nghiệp

ra đời từ trớc đều phát triển mạnh mẽ và rực rỡ Các nghề luyện kim, dệt vải, đồ

sứ, in đã khẳng định vị trí của nó ở khu vực và thế giới, nó đóng góp vào văn hoá những thành tựu đặc sắc, không những t nhân mà nhà nớc cũng kinh doanh sản xuất các ngành thủ công nghiệp và tình trạng ấy tồn tại rất lâu dài cho đến cuối xã hội phong kiến Đến cuối đời Đờng số xởng thủ công ngày càng nhiều, quy mô của các xởng đã khá lớn, có xởng dùng đến hàng chục thợ nhng tất cả

đều có sự quản lý rất chặt chẽ của nhà nớc phong kiến chuyên chế đối với thủ công nghiệp

Loại thứ nhất do nhà nớc độc quyền nắm giữ, nhà nớc nắm giữ mọi mặt hàng quan trọng nh khai mỏ, làm muối có khi độc quyền cả nấu rợu

Loại thứ hai là những xởng thủ công phờng hội vừa sản xuất vừa buôn bán dới hình thức nhà xởng đồng thời cũng là cửa hiệu

Loại thứ ba là buôn bán tại các chợ ở nông thôn

Nhìn chung thì hoạt động thơng mại dới thời nhà Đờng tập trung ở thành thị là nhiều Bởi vì thông thờng thành thị ở Trung Quốc nói riêng và ở phơng

Đông nói chung là dinh lữ, thủ phủ chính trị, quân sự, là nơi trú ngụ của tầng lớp quý tộc quan lại, của quân đội nên thành thị mang tính chất tiêu thụ, hởng

Trang 32

thụ hay còn gọi là mang tính chất ăn bám Thành thị ra đời ở nhà Đờng với các thành phố lớn trớc hết là các kinh đô của các triều đại nh Trờng An, Lạc Dơng vừa là trung tâm chính trị vừa là trung tâm kinh tế, thành phố Trờng An đợc chia làm hai khu vực và phát triển rất mạnh mẽ.

Từ thế kỷ VII Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài, nông nghiệp

và thủ công nghiệp đều phát triển nên thơng nghiệp cũng bớc vào một giai đoạn phát đạt, nhất là ngoại thơng Trong thời kỳ này Trung Quốc có quan hệ buôn bán với hầu hết các nớc Châu á Và thơng nhân nớc ngoài bằng đờng biển hoặc dùng lạc đà vợt sa mạc chở các hàng quý nh ngọc, hổ phách, mã não, ngà voi, sừng tê, thuỷ tinh, hồ tiêu, bông đến bán ở Trung Quốc và chở về nớc mình vàng bạc và những sản phẩm nổi tiếng của Trung Quốc nh lụa đồ sứ, chè, đồ

đồng, đồ sắt giấy bút

Thơng nghiệp của triều Đờng ngày càng phát triển mạnh “đời Đờng Thái Tông tiền lãi hàng năm là 98%, thời đầu năm Khai Nguyên vua Đờng Huyền Tông tiền lãi hàng năm là 84% , cuối năm Khai Nguyên là 60%, thời Vũ Tông

là 48%, kinh tế ngày càng phát triển thì số lợi tức ngày càng bị giảm sút dẫn

đến nền kinh tế của nhà Đờng đang ở vào giai đoạn dần phát triển” [10, 46] Nhng mà tiền nhà nớc chỉ cho bọn phú thơng vay còn dân nghèo thì bị bóc lột nặng nề và không đợc chút lợi ích gì trong khi mức lãi giảm thấp cả

- Chế độ (hay chính sách) thơng nghiệp

Tiền tệ:

Cuối đời Tuỳ thì tiền tệ nhỏ và nhẹ, đến năm Vũ Đức thứ bốn (621) bỏ tiền ngũ th, đúc tiền Khai Nguyên thông bảo, cứ mời đồng nặng một lạng, tính ra một nghìn đồng nặng sáu cân bốn lạng

Thời Hiến Tông bắt đầu có lối phi tức gọi là đổi chác, những ngời buôn bán đi đến kinh gửi tiền ở tiến tấu, viện ở các lộ (biện sự xứ đông kinh) và nơi các nhà giàu ở các quận, các sứ còn mình vào dinh các quan so đúng giấy tờ mà lấy tiền Triều đình muốn thu lợi về lối phi tiền nên đã cấm hẳn ở tiến tấu viện, không đợc gửi riêng nhau, bắt nhà buôn phải tới ba ty làm lối tiền, cứ một nghìn

Trang 33

đồng nhà nớc thu hối đoái là một trăm đồng, về sau lại có thay đổi theo đúng số tiền trao trả không thu tiền hối đoái.

Công giải bản tiền

Thời Trinh Quán tại các ty, các quận có đặt thứ bản tiền gốc công, mỗi ty

đặt ra chín ngời lãnh sự gọi tên là tróc tiền lãnh sự Năm vạn tiền gốc giao cho các nhà buôn to kinh doanh mỗi tháng thu tiền lãi bốn nghìn đồng, thế nghĩa là một năm thu tiền lời là 100% Ngời giàu kinh doanh tiền vốn, công thì đợc miễn trừ lao dịch, nhà nghèo có khi trả không hết nợ Thời Khai Nguyên đã thu một năm tiền thuế nhân dân để làm tiền gốc, giao cho ngời buôn to cho vay lãi, chiểu theo hàng tháng thu lãi để cung cấp cho các quan lại Quảng Châu hồi đó

là trung tâm buôn bán với nớc ngoài nên ai làm quan ở Quảng Châu đều tham ô làm giàu Đờng Châu là trung tâm thơng nghiệp trong nớc, ngời buôn bán trong

và ngoài nớc đi lại nh mắc cửi nhng và trung Đờng trở đi lại càng phồn thịnh hơn nữa

Tình trạng thơng nghiệp cuối thời nhà Đờng ngày càng phát triển về việc mậu dịch với nớc ngoài, với miền Bắc chủ yếu là các nớc Hồi Hột, Đột Quyết, Thổ Phồn thì Trung Quốc đem các hàng tơ lụa, trà đổi lấy ngựa, da thú, lông thú còn đối với các nớc miền Nam thì đem tiền đổi lấy các xa xỉ phẩm nh húng liều, ngà voi, châu ngọc Quảng Châu là cửa biển to nhất trong công cuộc buôn bán với ngoại quốc và ở đây có đặt ra thị bạc ty để trông coi việc buôn bán Các đô thị chính ở trong nớc là Dơng Châu, Khai Phong, Trờng An rồi đến Giang Lăng các triều quan phần nhiều làm các trang trại để ở tại Giang Lăng có tới ba mơi vạn nhà

Trang 34

Nhìn tổng quát về kinh tế nhà Đờng chung ta dễ dàng nhận thấy đợc nó

có sự phát triển vợt bậc từ nông nghiệp, thủ công nghiệp và thơng nghiệp và nó tác động lẫn nhau, điều đó chứng tỏ rằng kinh tế phát triển nó sẽ tác động đến những lĩnh vực khác nh chính trị, xã hội và văn hoá Bởi vậy các ông vua thời

Đờng đã thi hành một số chính sách nhằm khôi phục nền kinh tế đó Bên cạnh vấn đề này chúng ta cũng phải công nhận rằng sự phát triển của kinh tế công th-

ơng nghiệp ở thời nhà Đờng đi liền với nhu cầu xa xỉ bóc lột của tầng lớp quý tộc quan lại Sự phát triển công thơng nghiệp hoàn toàn mang tính chất phong kiến cha có biểu hiện chống đối lại nó Mặc dù bản chất của nó là nền kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc nhng sang thời nhà Đờng thì nó không còn đơn thuần nh thế

mà đã có sự kết hợp giữa ngành kinh tế tự nhiên với kinh tế hàng hoá giản đơn

để bổ sung cho nhu cầu xa xỉ Đến khi nền kinh tế hàng hoá phát triển lên thành nền kinh tế hàng hoá t bản thì nó mới có thể phá vỡ đợc nền kinh tế tự nhiên phong kiến

Sang thời hậu Đờng đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân đặc biệt là cuộc khởi nghĩa nông dân của Hoàng Sào, thực rằng xã hội dới thời hậu Đờng là nạn bao chiếm ruộng đất tăng lên ghê gớm dẫn đến tình trạng tập trung ruộng

đất ngày càng nhiều vào tay các điền trang, nông dân bị bóc lột tệ hại thờng phải nộp một nửa số sản phẩm và cộng với các khoản phụ khác, cộng với phu phen tạp dịch nên không ít những ngời nông dân bị bóc lột tệ hại thờng lâm vào cảnh thiếu tô nợ thuế Phong trào khởi nghĩa nông dân của Hoàng Sào với mục

đích chống lại nạn kiêm tinh báo chiếm ruộng đất chống lại quý tộc quan lại nên đây là cuộc khởi nghĩa thể hiện tính chất nông dân rõ rệt nhất so với các cuộc khởi nghĩa trớc đó thì cuộc khởi nghĩa nông dân của Hoàng Sào tiến bộ hơn nhiều, nó làm nhiệm vụ mà lịch sử yêu cầu là ngăn chặn nạn bao chiếm ruộng đất chống lại quan lại tham nhũng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhà nớc phong kiến và ngành kinh

tế công thơng nghiệp từ thế kỷ VII về sau thành thị ở Trung Quốc ngày càng xuất hiện nhiều hơn và ngày một phồn thịnh, những thành phố lớn nh Trờng An, Lạc Dơng vừa là trung tâm chính trị và vừa là trung tâm kinh tế Thành phố Tr-

Trang 35

ờng An chia làm hai khu vực, phía Bắc là kinh thành, phía Nam ở giữa là dinh thự các quan lại còn hai bên là chợ Đông và chợ Tây, mỗi nơi có 220 phờng hội công thơng nghiệp Cả thành phố có hơn 30 vạn hộ, khoảng 1,5 triệu ngời gồm

đủ mọi thành phần: Quý tộc, quan lại, tài tử giai nhân, thợ thủ công, dân buôn bán Ngoài ra ở Trờng An còn có rất nhiều ngời nớc ngoài mà chủ yếu là khách buôn ARập và Trung á, nhng vai trò của thành phố này đều bị nhà nớc quản lý rất chặt chẽ nên vai trò của nó rất hạn chế

định Tuy nhiên cuối thời trung Đờng khi mà Đờng Huyền Tông bỏ bê không chăm lo đến việc trị nớc thì xã hội lại bớc vào hỗn loạn và mâu thuẫn giai cấp lại diễn ra gay gắt và cơ cấu giai cấp lại bị phân hoá Do đặc điểm của nền kinh

tế và chế độ ruộng đất của nhà Đờng cho nên cơ cấu giai cấp hết sức phức tạp, ngoài hai giai cấp chủ yếu là địa chủ và nông dân, còn có tầng lớp thợ thủ công

2.2.1 Cơ cấu giai cấp

Cơ cấu quan lu phong kiến của nhà Đờng rất chặt chẽ, vừa chú ý đến hiệu quả làm việcvừa chú ý đến tài năng đức hạnh

- Giai cấp địa chủ

Đây là giai cấp chiếm hữu nhiều ruộng đất và bóc lột nông dân bằng địa tô,

ở Trung Quốc thời kỳ phong kiến giai cấp địa chủ bao gồm hai tầng lớp đó là: tầng lớp địa chủ quan lại và tầng lớp địa chủ bình dân, nó đợc xuyên suốt trong lịch sử phong kiến Trung Quốc Đến thời nhà Đờng mặc dù có bớc phát triển về cách tuyển chọn quan lại nhng vẫn tồn tại hai loại địa chủ

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Almanach(1999), Những nền văn minh thế giới. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh thế giới
Tác giả: Almanach
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội
Năm: 1999
[2]. Dơng Thu ái, Nguyễn Kim Hanh (2000), Truyện Thông Sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Thông Sử Trung Quốc
Tác giả: Dơng Thu ái, Nguyễn Kim Hanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội
Năm: 2000
[3]. Đặng Đức An (1998), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, Tập1. Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẩu chuyện lịch sử thế giới
Tác giả: Đặng Đức An
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 1998
[4]. Đặng Đức An, Phạm Hồng Việt (1975), Lịch sử trung đại thế giới. Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử trung đại thế giới
Tác giả: Đặng Đức An, Phạm Hồng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 1975
[5]. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (1996), Đại cơng triết học Trung Quốc. Nhà xuất bản Cảo Thơm Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nhà xuất bản Cảo Thơm Sài Gòn
Năm: 1996
[6]. Ngô Vinh Chính, Vơng Miện Quý (ngời dịch: Lơng Duy Thứ ) (1994), Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quốc. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quốc
Tác giả: Ngô Vinh Chính, Vơng Miện Quý (ngời dịch: Lơng Duy Thứ )
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin
Năm: 1994
[7]. Phơng Thị Doanh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên biểu lịch sử Trung Quốc
Tác giả: Phơng Thị Doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Néi
Năm: 2001
[8]. Lâm Hán Đạt, Tào D Chơng (ngời dịch: Trần Ngọc Thuận) (1998), Lịch sử Trung Quốc 5000 năm, tập 2. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc 5000 năm
Tác giả: Lâm Hán Đạt, Tào D Chơng (ngời dịch: Trần Ngọc Thuận)
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội
Năm: 1998
[9]. Lê Giảng (2000), Các triều đại Trung Hoa. Nhà xuất bản Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Trung Hoa
Tác giả: Lê Giảng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2000
[10]. Trần Văn Giáp (biên dịch) (1955), Lịch sử Trung Quốc từ thợng cổ đến trớc nha phiến chiến tranh. Nhà xuất bản Khu Học Xá Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc từ thợng cổ đến trớc nha phiến chiến tranh
Tác giả: Trần Văn Giáp (biên dịch)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khu Học Xá Trung Ương
Năm: 1955
[11]. Phan Khoang, Trung Quốc sử lợc. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc sử lợc
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin
[12]. Trần Trọng Kim (2002), Nho Giáo, quyển 3. Nhà xuất bản Thành Phố Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành Phố Hồ ChÝ Minh
Năm: 2002
[13]. Lịch sử Trung Quốc tóm tắt từ thợng cổ đến thời kỳ năm đời mời nớc (1992), (tài liệu tham khảo lu hành nội bộ). Nhà xuất bản Học Viện Quân Sự CÊp Cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc tóm tắt từ thợng cổ đến thời kỳ năm đời mời nớc
Tác giả: Lịch sử Trung Quốc tóm tắt từ thợng cổ đến thời kỳ năm đời mời nớc
Nhà XB: Nhà xuất bản Học Viện Quân Sự CÊp Cao
Năm: 1992
[14]. Lịch Sử Văn Hoá Trung Quốc, tập1. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Sử Văn Hoá Trung Quốc
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin
[15]. Phan Ngọc Liên (chủ biên),(2000), Từ Điển thuật ngữ lịch sử phổ thông. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2000
[16]. Đặng Thai Mai (1995), Xã hội sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội sử Trung Quốc
Tác giả: Đặng Thai Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 1995
[17]. Lê Đức Niệm (1995), Diện mạo thơ Đờng. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo thơ Đờng
Tác giả: Lê Đức Niệm
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin
Năm: 1995
[18]. Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La (1994), Lịch sử thế giới trung đại. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Tác giả: Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin
Năm: 1994
[19]. Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý, Lịch sử Trung Quốc, tập1. Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
[20]. Nguyễn Khắc Phi, Trơng Chính (1987), Văn học Trung Quốc, tập1. Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi, Trơng Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w