Hiện nay, các công trình nghiên cứu về Cao BáQuát, có thể nói cơ bản Cao Bá Quát được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ văn học, sử học, triết học, và ở mỗi bình diện đều có những đóng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỜI TÂN
VINH - 2010
Trang 3Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của
TS Lê Thời Tân trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo, các
GS, PGS, TS Khoa Ngữ Văn, Khoa Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại Học Vinh; Lãnh đạo UBND huyện Như Xuân - Thanh hóa, Ban Giám đốc Trung tâm GDTX Như Xuân - Thanh Hóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Xin cảm ơn gia đình và người thân, cảm ơn sự động viên, khích lệ của bạn bè và đồng nghiệp.
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Lê Bá An
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng 1
3 Mục đích nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Lịch sử vấn đề 2
6 Cấu trúc luận văn 13
Chương 1 CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CAO BÁ QUÁT 14
1.1 Một số phận nhà nho đặc biệt 14
1.2 Một sự nghiệp văn chương lớn 18
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT 22
2.1 Ngôn chí: Thay đời đổi thế, hiến thân cho nghiệp lớn 22
2.2 Thuật hoài: Niềm riêng tình đời 41
2.3 Kí sự: Cuộc sống dân tình và sự thực mục sở thị 60
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT 74
3.1 Quan điểm của Cao Bá Quát về nghệ thuật 74
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát .77
3.2.1 Không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát 77
3.2.2 Thời gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát 86
Trang 53.3 Các nhóm thi tứ và các thể thơ căn bản trong thơ chữ Hán Cao
Bá Quát 91
Trang 63.3.2 Các thể thơ 92
3.3.2.1 Thơ cổ thể 93
3.3.2.2 Thơ luật 95
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cao Bá Quát là một nhà nho có số phận đặc biệt - “loạn thần tặctử” của thời đại phong kiến Thơ ông bộc lộ tài năng đặc biệt và chí hướngmưu đồ thay triều đổi đại
1.2 Từ trước tới nay, Nguyễn Du được coi là người viết thơ chữ Hán nhiềunhất trong văn học trung đại (Nguyễn Du có 249 bài) Thống kê khảo cứu sáng tácthơ chữ Hán Cao Bá Quát cho tới nay dù thất tán đi nhiều nhưng số lượng cònlại vẫn là rất lớn - gần nghìn rưỡi bài Một di sản thơ ca lớn như vậy đủ đểcho ta hình dung được một phong cách tác gia, khái quát được một số các đặcđiểm tiêu biểu trên các phương diện nội dung chủ đề và hình thức nghệ thuật
1.3 Điều đáng mừng là di sản thơ chữ Hán Cao Bá Quát cho đến nay
đã được sưu biên và xuất bản tập trung Các dịp kỉ niệm ngày mất ngày sinh
và hội thảo chuyên đề được tổ chức khá quy mô tạo điều kiện cho việc tìmhiểu tiếp xúc ngày càng sâu rộng hơn đối với tác gia này Cao Bá Quát cũng
là tác gia có thơ trích giảng trong chương trình trung học
Đây chính là những lí do khiến chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiêncứu này
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứuchính sau:
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp khảo sát - thống kê
- Phương pháp tổng hợp - phân tích
- Phương pháp phối hợp các tri thức khoa học liên ngành
Tất cả các phương pháp trên được quán triệt trong quan điểm lịch sử đểsoi chiếu vấn đề Qua đó, thấy được cái riêng của tác giả để đánh giá nhận xétmột cách đúng đắn
sự tương xứng với sự nghiệp thơ văn ông để lại cho đời
Thơ chữ Hán là một thành công lớn trong sự nghiệp văn chương củaông Hệ thống hóa và phân tích các đặc điểm nội dung nghệ thuật thơ chữHán Cao Bá Quát là một việc làm cần thiết Tuy vậy, việc tìm hiểu các đặcđiểm nội dung nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát hiện chỉ mới dừng ởmiêu tả phân tích bước đầu Các nhà nghiên cứu phê bình chủ yếu mới đưa ramột vài nhận định tổng quát Vì vậy, việc tìm hiểu “Đặc điểm nội dung nghệthuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát” vẫn là một công việc có nhiều triển vọng
Trang 9Đánh giá về thơ chữ Hán Cao Bá Quát, trên trang web http://www.
vietvan.vn Trần Trung viết “Chu Thần - Cao Bá Quát, một hiện tượng hiếm
quý trong thơ trung đại Mà, có lẽ cho đến nay, người đời vẫn chưa đánh giámột cách sâu sắc, đích thực về ông - nhất là mảng thơ Hán tự Nếu gọi rađiệu hồn riêng trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, có thể khái quát trongmấy chữ này chăng: Một hồn thơ phóng khoáng, đôn hậu và cũng đầy kiêuhãnh, sâu sắc” [46] Từ trước tới nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu vềcon người, cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Cao Bá Quát Tuynhiên, trong quá trình nghiên cứu về ông, còn gặp phải một số khó khăn, đó làtác phẩm mất mát nhiều Vì vậy khó có thể nhận định một cách toàn diện, màkhông tránh khỏi sự thiên lệch Hơn nữa một số tác phẩm của ông chưa rõthời gian sáng tác Đó là chưa kể đến việc chép sai, chép sót, chép nhầm củangười này thành người khác Hiện nay, các công trình nghiên cứu về Cao BáQuát, có thể nói cơ bản Cao Bá Quát được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc
độ văn học, sử học, triết học, và ở mỗi bình diện đều có những đóng góp đángghi nhận là khẳng định được Cao Bá Quát - một nhân vật lịch sử kiệt xuất,một tài năng văn học lỗi lạc…
Tất nhiên, với tầm vóc một Cao Bá Quát được khẳng định như vậy,nghiên cứu về Cao Bá Quát vẫn còn là những nghiên cứu có tính chất bướcđầu Riêng về phương diện văn học, chủ yếu là những công trình xoay quanhcuộc đời thăng trầm với con đường khoa cử công danh của Cao Bá Quát, đếntài thơ lỗi lạc, đến chí khí cứng cỏi, tinh thần phảng kháng quyết liệt, cái nhìnhiện thực sắc sảo, tiến bộ của ông về hiện thực đương thời Nó được thể hiệnrất rõ trong sự nghiệp thơ văn của ông Vì thế, các nhà nghiên cứu chỉ mới tậptrung khai thác những vấn đề này Để xác lập vai trò của Cao Bá Quát trongtiến trình lịch sử văn học dân tộc với tư cách là một tác gia có những đónggóp quan trọng trong tiến trình này Đó cũng là những vấn đề chúng tôi quan
Trang 10tâm theo đuổi với mong ước có những đóng góp thiết thực trong việc nghiêncứu một trong những tác gia độc đáo nhất trong lịch sử văn học dân tộc.
Cao Bá Quát là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trướctới nay, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu.Thời kỳ trước năm 1975, có lẽ do tình hình học thuật nói chung có phần thiếu
ổn định do những tác động chính trị xã hội bấy giờ nên việc nghiên cứu Cao
Bá Quát, cũng như nhiều tác gia văn học khác gặp nhiều khó khăn Về văn
học sử cũng chỉ có vài công trình như Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản, Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ XIX (1951) của
Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng, trong đó công trình của NghiêmToản hầu như không nhắc gì đến Cao Bá Quát, còn Nguyễn Tường Phượng
và Bùi Hữu Sủng xếp Cao Bá Quát vào “khuynh hướng hưởng lạc” [30, 42],với cách nhìn nhận không có gì mới so với một số nhận định có từ trước đấy
Thời kỳ 1954 - 1975, đất nước bị chia cắt nhưng nhìn chung ở cả haimiền, sinh hoạt học thuật đều có bước ổn định, Cao Bá Quát được quan tâmnghiên cứu giới thiệu, ở miền Nam có phần sớm hơn Một trong nhữngnguyên nhân ở miền Nam Cao Bá Quát được quan tâm sớm hơn, theo chúngtôi, vì ông là tác giả được giảng dạy ở bậc trung học và có trong chương trìnhthi tú tài Từ sau 1955, gắn với yêu cầu trên, ở miền Nam hàng loạt nhữngcông trình khảo luận, luận đề về Cao Bá Quát phục vụ cho luyện thi tú ra đời,tiêu biểu như “Luận đề về Cao Bá Quát” (1957) của Nguyễn Duy Diễn, “Cao
Bá Quát, thân thế - văn chương luận đề” (1958) của Bằng Phong và NguyễnDuy Diễn, “Khảo luận về Cao Bá Quát” (1959) của Doãn Quốc Sỹ và Việt
Tử, “Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ” (1959) của Lam Giang,
‘Khảo luận thi văn Cao Bá Quát” (1959) và “Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ”(1960) của Thuần Phong … những bộ văn sử đáng chú ý của giai đoạn này
như Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, quyển 2, (1963) của Phạm Thế
Trang 11Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng đều xét Cao Bá
Quát như một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.Đồng thời đó là hàng loạt bài viết về Cao Bá Quát trên các tạp chí có tiếng
đương thời như Văn hoá nguyệt san, Bách khoa thời đại, Văn học, Nghệ thuật,
Sáng tạo, Giáo dục phổ thông Nhìn chung thư mục nghiên cứu về Cao Bá
Quát trong giai đoạn này là dồi dào, nhưng đáng tiếc là những đóng góp thật sự
về Cao Bá Quát cả về phương diện lịch sử lẫn văn học vẫn chưa có là bao
Về phương diện tiểu sử Cao Bá Quát, các tác giả không cung cấp thêm
gì mới, hầu hết họ đều dựa vào cuốn Cao Bá Quát danh nhân truyện ký
(1940) của Trúc Khê, một quyển danh nhân truyện ký có xu hướng tiểu sử
hoá giai thoại, để làm căn cứ nhận định, đánh giá về Cao Bá Quát Có ngườinhư Lam Giang đặt vấn đề rất nghiêm túc về việc phê phán tài liệu nhưngtrong tập khảo luận của mình, ông lại sử dụng rất nhiều giai thoại để xác địnhCao Bá Quát là một “danh sĩ phong lưu”, một “cuồng sĩ” [12, 25] Phạm ThếNgũ trong bộ văn học sử của mình cũng không tránh được vết mòn này Điều
đó phản ánh những hạn chế nhất định về quan điểm và phương pháp nghiêncứu Phần lớn các tác giả vẫn chịu ảnh hưởng cách nhìn nhận về Cao Bá Quát
có từ trước 1945, tách con người hành động và sáng tác thơ văn thành haihiện tượng riêng biệt, như Phạm Văn Sơn quan niệm “văn thơ là một chuyện,hành động lại là một chuyện khác” [33, 430] và gần như lặp lại nguyên ý
tưởng của Lê Thanh từ năm 1940 trong bài “Hậu tự” sau cuốn Cao Bá Quát
danh nhân truyện ký của Trúc Khê Phạm Văn Sơn viết tiếp: “Ông có làm
loạn chăng nữa thì việc này chỉ là một việc nhỏ trong nhiều việc nhỏ khác màthôi” [34, 432] Bằng Phong và Nguyễn Duy Diễn cũng viết: “Ấy thế mà vìnhìn nhầm cái tài từ chương văn nghệ sang cái tài kinh bang tế thế, Cao BáQuát đã thất bại thảm thương trong cuộc khởi nghĩa” [32, 142] Quan điểm vàphương pháp tư tưởng như trên dẫn đến việc không chú ý đúng mức đến tính
Trang 12tư tưởng của văn thơ Cao Bá Quát, thực tế các tác giả không tránh được cáinhìn phiến diện về thơ văn ông, cuộc đời ông Về văn chương, ai cũng nhất tríCao Bá Quát là một nhà thơ tài năng, độc đáo, nhưng họ chủ yếu đi vào khíacạnh ngông nghênh, tài tử của Cao Bá Quát, và dĩ nhiên các giai thoại văn học
về tài ứng đối chơi chữ của ông lại được xem như những minh hoạ đắc địa.Tính phiến diện cũng thể hiện khá rõ ở sự lúng túng trong việc cố gắng xếpCao Bá Quát vào một khuynh hướng nào đó: lý tưởng, tình cảm, hoặc kiêuhãnh, nhàn hạ, hưởng lạc, hoặc bi quan, yếm thế… Ở một số công trình, cáctác giả cố gắng hướng đến một cái nhìn toàn diện nhưng thực ra cũng khôngtránh được sự lắp ghép từ những mảng, những mảnh rời vụn có tính chất bềngoài, chẳng hạn như cách viết của Lam Giang mà chúng tôi đã nêu, hoặcnhư của Phạm Thế Ngũ khi nêu ra mấy khía cạnh tư tưởng Chu Thần qua divăn chữ Nôm: 1 Kiêu ngạo cố cùng; 2 Trào đời phẫn uất; 3 Lãng mạn thanhcao; 4 Hành lạc yếm thế [27, 551] Về cuộc đời, tư tưởng và hành động Cao
Bá Quát, các tác giả đều tập trung lý giải, đánh giá con đường và tính chất củahành động chống triều đình của Cao Bá Quát Hầu như ai cũng chú ý đến bốicảnh của thời đại Cao Bá Quát, nhưng rất tiếc vẫn thiếu một quan điểm biệnchứng lịch sử trong mối quan hệ giữa thơ văn với con người Cao Bá Quát đểnhìn nhận đánh giá Chung quy có hai hướng nhận định chính: một là coi Cao
Bá Quát là người có tài lỗi lạc đến mức ngông nghênh lại không được trọngdụng nên sinh ra chán nản, bực tức và “khởi loạn” (Hà Như Chi, NguyễnAnh, Thái Bạch …); hai là coi Cao Bá Quát là một nhà cách mạng, coi cuộcdấy binh ở Mỹ Lương là khởi nghĩa (Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Duy Diễn,Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử,…) Cả hai hướng nhận định đều có phần bất cập.Hướng thứ hai có chú ý đến tư tưởng “cách mạng” qua lý tưởng “NghiêuThuấn”, “Võ Thang” của ông, nhưng lập luận còn thiếu thuyết phục vì chưaquan tâm đúng mức; hoặc chưa có điều kiện để nghiên cứu có tính hệ thống
Trang 13nhân sinh quan tích cực của Cao Bá Quát dẫn đến hành động khởi nghĩa củaông Thêm vào đó, cái nhìn của các tác giả theo hướng này cũng thiếu tínhlịch sử khi lý giải nguyên nhân các cuộc khởi nghĩa hoặc “dấy loạn” trongthời đại phong kiến ở Việt Nam.
Trong quá trình đánh giá, chúng ta không thể bỏ qua những khó khănthực sự, trước hết về mặt tư liệu rất phức tạp như mọi người đều biết, và cũngnhiều công trình khảo luận chỉ nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể là phổbiến kiến thức, luyện thi… nên cũng không vượt quá được tính chất giảngbình, sơ lược Tuy vậy về tổng quan, có thể nói quá trình nghiên cứu, giớithiệu về Cao Bá Quát ở miền Nam trước 1975 có những đóng góp nhất định.Vấn đề Cao Bá Quát được đặt ra liên tục và có tính thời sự Về mặt tư liệu thơvăn Cao Bá Quát, ngoài những bản dịch có từ trước Cách mạng tháng Tám,một số tác giả các công trình khảo luận đã dịch và giới thiệu thêm những tác
phẩm khác của ông Về phương diện này có công trình Cao Chu Thần thi tập
trích dịch (1971) của Sa Minh Tạ Khúc Khải - một công trình dịch thuật khácông phu gồm 234 tác phẩm vừa văn xuôi, vừa thơ Tiếc rằng vấn đề công tácvăn bản không được dịch giả đặt ra nên công trình này chưa hoàn toàn đápứng sự mong đợi của độc giả Dù sao, cơ sở tài liệu này đã hơn hẳn so vớitrước, tuy nhiên, sau Tạ Thúc Khải không có ai đặt vấn đề nghiên cứu về Cao
Bá Quát
Miền Bắc thời kỳ 1954 - 1975, cùng với công trình Sơ thảo lịch sử văn
học Việt Nam (1960), có thể nói bài viết của Nguyễn Huệ Chi - “Tìm hiểu
nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát” (1961) đã đánh dấu mộthướng nghiên cứu mới trên quan điểm mác xít Đấy là sự khắc phục cái nhìncòn phiến diện từ trước để trên quan điểm mới “xác định được mối liên hệvốn rất chặt chẽ giữa thơ văn Cao Bá Quát và cuộc đời chìm nổi của ông”, đểtìm hiểu “tư tưởng thống nhất đã chi phối các quá trình khác nhau của cuộc
Trang 14đời ông” [3, 22] Quan điểm nghiên cứu này vừa khoa học vừa có ý thức tíchcực trong việc thúc đẩy quá trình nghiên cứu, xử lý tư liệu thơ văn Cao BáQuát Điều đó thể hiện rõ qua các bài viết của Tảo Trang - “Một số tài liệu vềthơ văn Cao Bá Quát” (1963), Chu Thiên - “Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa
Mỹ Lương” (1963), Hoa Bằng - “Cao Bá Quát với cuộc khởi nghĩa chốngtriều Nguyễn” (1854 - 1856), Vũ Khiêu - “Đọc Cao Bá Quát nhân 160 nămngày sinh của nhà thơ” (1969), bài nói chuyện của Xuân Diệu - “Đọc thơ Cao
Bá Quát” (1971) nhân dịp kỷ niệm 160 năm ngày sinh Cao Bá Quát và lần thứ
100 ngày sinh Trần Tế Xương… Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã rất thậntrọng trong việc sử dụng tư liệu thơ văn Cao Bá Quát, nhất là đối với các giaithoại, và xuất phát từ thơ văn Cao Bá Quát, mặc dù khó tránh khỏi vài trườnghợp còn vướng mắc, để tìm hiểu nhiều khía cạnh tâm hồn, tư tưởng của Cao
Bá Quát, khẳng định sự nổi dậy của Cao Bá Quát là “cuộc khởi nghĩa trămphần trăm” (Hoa Bằng) Có thể nói, lần đầu tiên Cao Bá Quát được nhìn nhậnđúng tầm vóc với tư cách là một nhân vật lịch sử, và lần đầu tiên được hiệndiện chân thực, sinh động là một con người “thành thật trong cuộc đời”, “biếtyêu, biết ghét đúng mức” (Nguyễn Huệ Chi), là con người “chí khí và tâmhuyết” (Xuân Diệu), là nhà thơ có quan niệm văn học đúng đắn và có nhữngđóng góp mới mẻ trong lịch sử văn học dân tộc Năm 1970 đánh dấu mộtbước tiến mới trong việc nghiên cứu, xử lý và công bố tư liệu thơ văn Cao Bá
Quát với công trình Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, gồm 156 bài, một công trình
tập thể, được biên dịch công phu cùng với lời giới thiệu 40 trang của VũKhiêu đánh giá cao Cao Bá Quát trên nhiều phương diện Giáo sư NguyễnLộc xác định: “Chính nhờ giới thiệu rộng rãi thơ chữ Hán của Cao Bá Quátnhư thế, nên việc đánh giá nhà thơ trong giới nghiên cứu cũng như đông đảocông chúng mới ngày càng được chính xác” [22, 349] Sáu năm sau, quyểnsách được tái bản có bổ sung, đây cũng chỉ là công trình bước đầu về tư liệuthơ văn Cao Bá Quát
Trang 15Tình hình nghiên cứu về Cao Bá Quát sau năm 1975, trong điều kiệnnước nhà thống nhất, Cao Bá Quát được nghiên cứu có quy mô hơn, nhấtquán về quan điểm và phương pháp nghiên cứu đã được gợi mở ở miền Bắctrước đó Những công trình văn học sử cũng có những bước tiến đáng kểtrong việc nghiên cứu có tính toàn diện về Cao Bá Quát, tiêu biểu như côngtrình “Văn học sử” của tập thể tác giả Đại học Sư phạm (1978), của NguyễnLộc (1978), của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1980) Điểm chung ởcác công trình văn học sử này là tác giả đã tiếp tục hướng nghiên cứu có từtrước qua các bài viết của Nguyễn Huệ Chi (1961) và lời giới thiệu của Vũ
Khiêu trong tập Thơ chữ Hán Cao Bá Quát (1970), đã đi sâu thêm vào những
khía cạnh phong phú của con người và thơ văn Cao Bá Quát Đặc biệt làNguyễn Lộc đã dành một số trang thích đáng, trong khuôn khổ của một côngtrình lịch sử văn học, để nghiên cứu về nghệ thuật thơ của Cao Bá Quát mộtcách có hệ thống từ quan niệm văn học đến những đặc điểm về phong cáchnghệ thuật của ông Đây là đóng góp mới xét trong lịch sử nghiên cứu Cao Bá
Quát đến lúc đó Về công trình chuyên biệt, không kể Tác phẩm Cao Bá Quát
(1982) của Nguyễn Nghiệp - một tác phẩm danh nhân truyện ký nhưng có
nhiều đóng góp vì được viết nghiêm túc, đáng kể còn có công trình Cao Bá
Quát, con người và tư tưởng (1980) của Nguyễn Tài Thư Là nhà nghiên cứu
lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong công trình này, Nguyễn Tài Thư “chỉ nghiêncứu về con người và tư tưởng của Cao Bá Quát” [41, 6] Nhưng nghiên cứucon người và tư tưởng Cao Bá Quát qua thơ văn, Nguyễn Tài Thư cũng đã cónhững đóng góp quan trọng trong lịch sử nghiên cứu Cao Bá Quát trên bìnhdiện sử học, văn học, vì như ông cũng xác định “giải quyết được nó sẽ có điềukiện sáng tỏ những vấn đề khác của Cao Bá Quát” [42, 7] Quan niệm phươngpháp nghệ thuật của Cao Bá Quát có nguồn gốc ở phương pháp tư duy chungcủa ông, tác giả Nguyễn Tài Thư cũng đã chú trọng đi vào nghiên cứu đặc
Trang 16trưng thơ Cao Bá Quát trên bình diện phong cách tư tưởng, sắc thái tình cảm
và ngôn ngữ hình tượng Về phương diện tư tưởng, Nguyễn Tài Thư đã cốgắng xác lập đóng góp của Cao Bá Quát trong sự phát triển của lịch sử dântộc, tập trung ở khía cạnh là nhà tư tưởng của phong trào nông dân, có quanniệm tiến bộ về lịch sử và nhân sinh… Nhiều vấn đề trong chuyên luận này có
lẽ còn phải bàn luận thêm, nhưng nhìn chung, đặt Cao Bá Quát trong tiếntrình lịch sử tư tưởng của dân tộc để xác định những nét riêng, những đónggóp mới của Cao Bá Quát là cách làm khoa học, có ý nghĩa phương pháp luậncho nghiên cứu toàn diện Cao Bá Quát
Các công trình khác rất đáng chú ý dù không phải là công trình chuyên
biệt về Cao Bá Quát, đó là công trình Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam
(1995) của Trần Ngọc Vương Một Cao Bá Quát - tài tử, đã được nói đến khá
nhiều ở miền Nam trước 1975 nhưng với cái nhìn hời hợt, phiến diện TrầnĐình Hượu trước đó và Trần Ngọc Vương trong công trình này đã xác lậpđược cái nhìn khoa học trên cơ sở khảo sát các tác giả, trong đó có Cao BáQuát, để nêu ra những đặc trưng có tính loại hình học của một kiểu tác giảgiai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Từ góc nhìn này, TrầnNgọc Vương đã ghi nhận “Nguyễn Du và Cao Bá Quát có lẽ là hai tác giả tiêubiểu nhất” cho loại hình nhà Nho “coi tài năng, trước hết là tài năng văn học,
là thước đo quan trọng” [48, 109] và họ “chỉ có thể lưu lại tên tuổi mình như
và chỉ như những nhà thơ xuất sắc” [49, 110] Đây là hướng tiếp cận đầy triểnvọng cho phép đi sâu hơn vào việc nghiên cứu Cao Bá Quát trên nhiều bìnhdiện mà trước hết là một Cao Bá Quát với tư cách là một tác gia văn học cótính tiêu biểu cho một loại hình, một khuynh hướng văn học đặc sắc trong lịch
sử văn học Việt Nam trung đại
Năm 2005, Ngô Thị Anh trong khóa luận tốt nghiệp có tên Hình tượng
con người “dưới đáy” trong sáng tác của Cao Bá Quát (Khoa Ngữ Văn
Trang 17Trường Đại học Vinh), đã tiếp cận và chỉ rõ hình tượng con người dưới đáytrong sáng tác của Cao Bá Quát Khóa luận đã nêu được hình tượng con ngườidưới đáy trong xã hội thời bấy giờ, và bi kịch dưới đáy của chính Cao BáQuát Đồng thời khóa luận đã khẳng định nghệ thuật biểu hiện con người dướiđáy, đấy là sự vận dụng thủ pháp tự sự một cách linh hoạt sắc sảo, nghệ thuậtngôn từ, giọng điệu [1].
Cũng năm 2005, Phạm Thị Hoài Thương trong khóa luận tốt nghiệp với
tên Cảm hứng nhân văn trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát (Khoa Ngữ Văn
Trường Đại học Vinh), đã chỉ ra cảm hứng nhân văn trong thơ chữ Hán củaCao Bá Quát Đấy là sự khẳng định mạnh mẽ tài năng và phẩm chất cá nhân,phê phán xã hội phong kiến thối nát, tình cảm sâu sắc tha thiết đối với giađình quê hương, lòng đồng cảm mênh mông với những người dân cùng khổ,niềm trân trọng đối với những biểu hiện nhân văn trong lối sống Âu Tây [44]
Thật mừng và đáng chú ý là công trình Cao Bá Quát về tác gia và tác
phẩm (2007), do Nguyễn Hữu Sơn và Đặng Thị Hảo tuyển chọn và giới thiệu.
Đây là công trình sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu các công trình nghiên cứu
về Cao Bá Quát Công trình này sưu tầm những bài viết về vấn đề tiểu sử vàvăn bản, vấn đề Cao Bá Quát trong bối cảnh thời đại và đặc sắc thơ văn Cao
Bá Quát Đây là công trình tổng hợp, giúp cho việc nghiên cứu và tìm hiểu vềCao Bá Quát được thuận lợi hơn
Cao Bá Quát còn được các nhà nghiên cứu ngoài nước quan tâm Trong
bộ Văn học Việt Nam - Sơ thảo (1971), nhà Việt Nam học người Nga N I.Niculin đánh giá rất cao Cao Bá Quát và xác định một nét đáng chú ý của Cao
Bá Quát, coi “Cao Bá Quát (1809 - 1855) là một nhân vật có tính chất tượngtrưng thực sự đứng giữa ngưỡng của một giai đoạn mới trong lịch sử ViệtNam” [26, 343] Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp trong Sứ thần Việt NamCao Bá Quát và nhận thức của ông qua chuyến đi công cán “Vùng Hạ Châu”
Trang 18(1996, 1997) đã sử dụng thêm 7 bản dịch mới thơ do Cao Bá Quát làm trongkhi đi “Dương trình hiệu lực” (Phan Đại Doãn dịch) cùng những bài dịch đãphổ biến để tìm hiểu khá sâu sắc nhận thức của Cao Bá Quát khi tiếp xúc với
“vũ trụ bao la” Vấn đề không mới nhưng đã giúp có cái nhìn toàn diện hơn
về một bước chuyển quan trọng trong tư tưởng của Cao Bá Quát trong quátrình tự nhận thức - khám phá của ông
Đặc biệt một điều rất đáng mừng vào ngày 7/10/2008 tại trung tâm VănMiếu Quốc Tử Giám Hà Nội Hội nhà văn Việt Nam và Viện Văn học đã phốihợp tổ chức Hội thảo khoa học về Cao Bá Quát, nhân kỷ niệm 200 năm ngàysinh nhà thơ (1808-2008) Tham gia Hội thảo có 14 bản tham luận chủ yếutập trung vào 3 chủ đề chính như sau: 1.Cuộc đời, cốt cách, tư tưởng người trithức Cao Bá Quát có các bản tham luận: “Cao Bá Quát và Nguyễn Công Trứ-hai cốt cách và thân phận tri thức trong mở đầu triều Nguyễn” (GS PhongLê); “Cao Bá Quát - nhật ký trong đêm thế kỷ” (nhà văn Xuân Cang); “Thựcchất thái độ của Cao Bá Nhạ đối với Ca Bá Quát qua Tự tình khúc và Trầntình văn” (TS Đặng Thị Hảo); “Cao Bá Quát - một hành nhân cô độc của vănhọc Việt Nam thế kỷ XIX” (ThS Quách Thu Hiền): 2 Quan niệm văn họccủa Cao Bá Quát có các bản tham luận: “Quan niệm văn học của Cao BáQuát” (GS Trần Đình Sử); “Quan niệm văn chương, học thuật của Cao BáQuát” (PGS.TS Tạ Ngọc Liễn); “Cao Bá Quát viết phê bình, lý luận” (nhàthơ Ngô Văn Phú); “Cao Bá Quát với hoa mai’ (nhà thơ Ngô Văn Phú): 3 Giátrị thơ văn và vị trí Cao Bá Quát trong văn chương và lịch sử có các thamluận: “Thơ Cao Bá Quát đồng hành cùng chúng ta” (PGS.TS Phan Văn Các);
“Cao Bá Quát thiên tài kỳ vỹ” (PGS.TS Mai Quốc Liên); “Từ Thiên CưThuyết đến sự thể hiện con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát” (PGS.TS.Nguyễn Hữu Sơn); “Cao Bá Quát trong bảo tàng văn học Việt Nam” (TS.Nguyễn An) Đây là Hội thảo khoa học khẳng định vị trí và vai trò của Cao
Bá Quát trong tiến trình văn học dân tộc
Trang 19Thật khó có thể bao quát hết được tư liệu nghiên cứu về Cao Bá Quát,cũng như những vấn đề các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết Chúng tôichỉ dám xem những điều nêu trên là có tính phác thảo về một bức tranh khá
đa dạng của quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Cao Bá Quát từ trước tới nay.Như vậy tình hình nghiên cứu về Cao Bá Quát, các công trình chủ yếu tậptrung vào vấn đề lịch sử con người Cao Bá Quát, còn văn chương Cao BáQuát chủ yếu tập trung vào việc dịch thuật tác phẩm và vấn đề văn bản Vềnội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán các công trình chỉ mới bước đầu tìm hiểu,cho nên việc đi sâu tìm hiểu phân tích “Đặc điểm nội dung nghệ thuật thơ chữHán Cao Bá Quát” là rất cần thiết để làm rõ thêm đặc sắc thơ chữ Hán Cao BáQuát trong nền Văn học Việt Nam
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu phần Kết luận và phần Tài liệu tham
khảo, phần nội dung gồm có 3 chương.
Chương 1 Con người và sự nghiệp văn chương Cao Bá Quát
Chương 2 Đặc điểm nội dung thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Chương 3 Đặc điểm hình thức nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Trang 20có truyền thống nho học Người cha thân sinh ra Cao Bá Quát muốn hai anh
em sau này lớn lên sẽ trở thành trụ cột của triều đình, nên lấy tên của hai hiền
sỹ đời Chu (Trung Quốc) cũng là hai anh em sinh đôi đặt tên cho con mình.Cao Bá Quát là người thông minh tài giỏi, đậu cử nhân từ rất sớm (khoa TânMão 1831 đời Minh Mệnh), nhưng sau đấy trượt thi Hội Năm 1841, vào kinhgiữ chức Hành Tẩu ở Bộ Lễ, tháng tám năm đó được cử làm sơ khảo trườngthi Thừa Thiên Cao Bá Quát cùng với một người bạn là Phan Nhạ dùng muộiđèn chữa lại một số bài văn hay nhưng bị phạm huý Việc bại lộ, bị hạ ngụckết tội “Giảo giam hậu” (Chém nhưng giam lại xét sau) Sau được xét lại vàchỉ bị cách chức Năm 1844 đi “dương trình hiệu lực”, phục dịch phái đoàncủa triều đình đi công cán ở Hạ Châu (Tân Gia Ba), do tả tham tri Bộ Hộ ĐàoTrí Phú dẫn đầu, ông được đi phục dịch để lấy công chuộc tội Khi về đượcgiữ chức cũ một thời gian, sau đó bị thải hồi, ông trở về sống với gia đình ởtỉnh thành Thăng Long, thường ngao du xướng hoạ thơ với Trần Văn Vi, DiệpXuân Hiên… Năm 1847, Cao Bá Quát lại được triệu vào kinh đô Huế làmviệc ở viện Hàn Lâm Thời gian này ông thường xướng hoạ thơ văn với cácquan chức tại triều đình như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Siêu, NguyễnHàm Ninh, Bùi Ngọc Quỹ…thời gian này ông đã tận mắt chứng kiến nhữngcái xấu xa của đám vua quan ở triều đình và ông không tiếc lời châm biếm đả
Trang 21kích họ Năm 1851, ông rời kinh đô Huế đi nhận chức giáo thụ phủ Quốc Oai,Sơn Tây Thời gian này vùng Sơn Tây hạn nặng, lại có nạn châu chấu, mấtmùa đời sống nhân dân khó khăn, họ nổi lên chống lại triều đình Năm 1853ông thôi chức giáo thụ, liên lạc với quần chúng nhân dân Mượn tiếng là phù
Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, còn ông tự xưng Quốc sư kêu gọi nhân dânđứng lên khởi nghĩa Cuộc khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát chết, dòng họCao bị chu di, kết thúc một sự nghiệp, một cuộc đời sóng gió, nhưng mangđầy tính nhân văn
Trong lịch sử các triều đại phong kiến việt nam, có hai cái án tru diđược thi hành đối với hai con người có tài nhưng cuộc đời đầy sóng gió, chìmnổi đấy là Nguyễn Trãi và Cao Bá Quát, đây cũng là hai cái án gây nhiềutranh cải và xót thương trong lịch sử Cao Bá Quát sống trong một giai đoạnlịch sử đầy biến động, ông cũng giống như một số nho sỹ tài tử đương thời,
họ thấy được xã hội ấy đang tan vỡ, mọi giá trị bị đứt đoạn không thể nào cứuvãn Vì vậy, họ không kế thừa được những giá trị có sẵn, điểm tựa duy nhất làchính bản thân mình Cao Bá Quát là người trong số đó Cuộc đời sóng gió,chìm nổi nhiều nhưng Cao không chịu lùi bước trước cuộc đời, trái lại Caophản kháng chống lại triều đình một cách cương quyết Ẩn đằng sau sự phảnkháng ấy là một tấm lòng nồng hậu, bao dung Cho nên, trong sáng tác vănchương của ông, đặc biệt là thơ chữ Hán có cái nhìn sắc sảo, cận cảnh về xãhội Việt Nam lúc bấy giờ
Với sự nhạy cảm của một tri thức trước vận mệnh của dân tộc Trưởngthành và lớn lên từ Nho học, nhưng ông không chịu khép mình vào khuônkhổ ấy Nhưng chính Nho học đã hình thành một Cao Bá Quát với khí tiếtthanh cao, tâm hồn liêm khiết, luôn có ý thức tu dưỡng bản thân Cho nêntrước hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ, ông phản ứng mạnh mẽ sự tàn bạo củavua quan, thông cảm sâu sắc với cuộc sống người dân bị áp bức bóc lột Vua
Trang 22quan bất tài, chỉ lo ăn chơi hưởng thụ Cuộc sống nhân dân ngày càng nghèođói, hạn hán, mất mùa diễn ra liên miên Triều đình nhà Nguyễn vẫn không cóchính sách gì để làm cho cuộc sống của dân được ấm no, hạnh phúc Hơn nữa
họ lại quay lưng lại với những người tàì, có lòng nhiệt huyết, hết mình vìnước, vì dân Cao là người có tài, và muốn đem tài của mình ra giúp dân giúpnước Tâm huyết của Cao, nhà Nguyễn không màng tới, và ông không tin vàotriều đình nữa Không được triều đình trọng dụng, ông luôn trăn trở về chílàm trai Rồi như Nguyễn Công Trứ nói:
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
(Bài Ca Ngất Ngưỡng)Hay:
Đã mang tiếng ở trong trời đấtPhải có danh gì với núi sông
(Đi Thi Tự Vịnh)
Tư tưởng ấy đã làm nên một Cao Bá Quát “quyết xoay bach ốc lại lâuđài” Cao Bá Quát có một trái tim trong sáng, với một khí tiết thanh cao nhưđúng con người Cao
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.
(Mười năm bàn đạo ngao du, khó như tìm gươm cổ;
Một đời ta chỉ cúi đầu bái lạy hoa mai)
So với các nhà nho cùng thời đại, Cao có một cuộc đời lận đận, longđong rất nhiều Có cuộc sống nghèo khổ từ bé, tuy đậu cử nhân rất sớm (đậu
Á Nguyên, nhưng khi triều đình xét lại bị đánh xuống cuối bảng), nhưng thiHội mấy lần đều hỏng Thi hỏng một phần do cá tính của Cao không chịukhép mình vào khuôn khổ Nho Giáo, cộng với việc ông có tài nên nhiều
Trang 23người ghen ghét mà đánh hỏng Khi làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, khátkhao được gặp người tài, dẫn tới hành động chữa bài thi và bị hạ ngục, bắtgiam Sau được xét lại thoát chết nhưng từ đấy Cao Bá Quát phải sống chịucảnh quản thúc, giam lỏng Phải phục dich phái đoàn của triều đình đi HạChâu để lấy công chuộc tội, sau một thời gian về nước, vì có tài ông lại đượctriệu vào triều làm ở Viện Hàn Lâm, chủ yếu là làm công việc sắp xếp lại thơcho vua Tự Đức, một công việc nhàm chán, không thích hợp với cá tính củaCao Thời gian này ông làm thơ châm biếm, đả kích không tiếc lời đối vớitriều đình Năm 1851 bị đẩy đi làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây một nơi
xa xôi hẻo lánh đối với triều đình lúc bấy giờ Như hổ được trở về rừng, Cao
đã đứng hoàn toàn về phía quần chúng nhân dân, chống lại nhà Nguyễn “Cácthiên tai đưa đến sự đói khổ cho dân chúng, cùng sự cai trị thối nát của thamquan ô lại làm dân chúng oán giận đã là những lý do chính cho sự khởi loạncủa Cao Bá Quát, người sĩ có tính hiên ngang, không phục nhà Nguyễn màvẫn tưởng nhớ tới nhà Lê” [20] Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương nổ ra, tất cả tâmhuyết một đời của Cao được thể hiện trên lá cờ của nghĩa quân
Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn Mục Dã, Minh Điều hữu Võ Thang.
(Ở Bình Dương và Bồ Bản không có những vị vua hiền như Nghiêu Thuấn;
Ở Mục Dã, Minh Điều phải có những vua lập nghiệp bằng cách lật đổ triềuđình mục nát như Võ Vương và Thành Thang)
Do chuẩn bị chưa xong, bị lộ, cuộc khởi nghĩa phải diễn ra trước so với
dự định Chính vì thế, cuộc khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát chết trong khichiến đấu với quân triều đình, dòng họ Cao bị chu di “Trước đây, nhiềungười cho rằng Cao Bá Quát là một người khinh bạc, kiêu ngạo và nhất là cógiấc mộng đế vương Nhưng tác phẩm của ông, không hề thấy một tư tưởnghay một phong cách nào như thế! Nói đến tình quê hương, tình bạn bè, nghĩa
vợ chồng, Cao Bá Quát lúc nào cũng chân thành tha thiết” [17]
Trang 24Có thể nói suốt đời Cao Bá Quát là cuộc hành trình không nghỉ, lúc naonức, phấn khởi, tràn đầy hy vọng, khi chán nản ê chề, nhưng kết quả cuốicùng vẫn không tìm được đường đi đúng đắn cho mình, không tìm được chínhmình là ai, và phải làm một điều gì để thực hiện khát vọng suốt một đời Làmột tài năng lớn mà không được trọng dụng, thậm chí bị đẩy ra ngoài lề, bị tùđầy, tra tấn rồi bị giết hại Là người giàu lòng yêu nước, thương dân, từngnhiều lần khóc thương cho số phận những con người nghèo khổ bị đọa đầydưới đáy xã hội Bản án kia chỉ làm sáng tỏ thêm tấm lòng vì dân, vì nước,nhân cách cứng cỏi, cương trực, tấm lòng nhân hậu, thắm thiết của một nhàthơ tài trí khác thường.
1.2 Một sự nghiệp văn chương lớn
Từ trước tới nay, Cao Bá Quát được nhắc tới trong nhiều truyền thuyết,tài năng văn chương của ông được đánh giá rất cao với tiền Hán, thịnh Đường
và được coi như thần thánh Nhân dân ta truyền tụng “Văn như Siêu, Quát vôtiền Hán” hay “Thần Siêu, thánh Quát”
Hiện nay ở kho sách cổ của thư viện khoa học trung ương còn giữ được
12 tập thơ, và 21 bài văn xuôi của Cao Bá Quát Đây là một tài sản vô cùngquý giá mà ông để lại cho đời Một điều đáng tiếc là do chịu án chu di, nênmột phần lớn văn chương ông bị thiêu huỷ hoặc thất lạc Dưới triều Nguyễn,Cao bị xem là “tặc tử, loạn thần” nên không ai dám cất giữ những gì liên quanđến Cao, kể cả những người bạn thân của Cao như Nguyễn Văn Siêu (PhươngĐình) cũng không để lại một dấu tích gì liên quan đến Cao Hiện nay, chúng
ta đã sưu tầm được gần nghìn rưỡi bài thơ chữ Hán, và 21 bài văn xuôi (chủyếu là sáng tác bằng chữ Nôm: Bài phú Tài tử đa cùng, một ít bài hát nói, thơđường luật và câu đối) Nổi tiếng nhất trong thể loại văn xuôi này là bài Tài tử
đa cùng phú, nói lên chí nam nhi, giãi bày tâm trạng trong cảnh nghèo và thổ
lộ vài ý kiến của ông về hoàn cảnh xã hội đương thời
Trang 25Trong lời giới thiệu thơ chữ Hán Cao Bá Quát, GS Vũ Khiêu viết:
“Thơ văn Cao Bá Quát còn lại với chúng ta chính vì thơ văn ấy đã có giá trị
về tư tưởng và nghệ thuật được nhiều người ghi chép và cất dấu, tinh thần củaông chống bọn phong kiến nhà Nguyễn đã được nhân dân quý trọng” [18].Cao Bá Quát là một nhà thơ và cũng là một người lãnh tụ phong trào nôngdân khởi nghĩa đầu thế kỷ XIX Qua cuộc đời Cao Bá Quát và những truyềnthuyết về ông, ta thấy Cao là một người có bản lĩnh Và văn chương của ôngthể hiện rõ điều ấy Trong sáng tác của mình, Cao Bá Quát có một cái nhìnriêng về cuộc sống, không tuân theo cái nhìn của Nho giáo Ông thấm thíađược cái nghèo, nên ông khinh bỉ những ai sống khom lưng, uốn gối để mưucầu danh lợi Ông không tin vào triết lý tuần hoàn hay định mệnh Ông tin vàochính mình và hành động theo quan điểm sống của mình Sống dưới triềuđình chứng kiến sự bất lực, thối nát của vương triều này “Văn thơ của ôngluôn luôn có một sự truyền tụng mãnh liệt Dẫu vẫn theo khuôn sáo và lề lốitầm chương trích cú của văn chương cổ điển, những tình ý được phô diễntrong văn thơ ông đều chứng tỏ những suy tư và xúc động chân thành của mộtngười đã trải nhiều day dứt trong hoàn cảnh xã hội đương thời” [47] Cao BáQuát đã đứng về phía nhân dân, để bảo vệ họ Khi còn là quan trong triều
đình, ông suy nghĩ rất nhiều, rồi quyết định phải hành động Trong bài Dư hốt
ư mộng trung vãng thám tuần phủ, ám tưởng kinh trung cố nhân hoặc đương hữu niệm ngã giả, nhân ký tuần phủ kiêm Trình Đôn Nhân phạm tử (Ngẫu
nhiên nằm mơ đến thăm ông tuần phủ, nghĩ thầm có lẽ các bạn ở kinh cũng cóngười đang nhớ mình, nhân gửi bài này cho ông tuần phủ đồng thời gửi ôngPhạm Đôn Nhân)
Dĩ bất nhẫn văn Hoàng Điểu phú, Khả năng độc ký Ngoạ Long ngâm?
(Đã không nỡ nghe bài thơ Hoàng Điểu,
Lẽ nào chỉ gửi gấp vào khúc ngâm của Ngoạ Long?)
Trang 26Trong sáng tác của Cao Bá Quát, ông luôn luôn đề cao cái đẹp Cái đẹptheo quan điểm của ông là sự thanh cao, thuần khiết Cái đẹp ông theo đuổi là
suốt một đời chỉ cúi lạy trước hoa mai mà thôi Trong bài Tài Mai thể hiện rõ
điều này
Thi tương mai tử trịch sơn gian, Nhất ác thanh tư ký bích loan.
Ký thủ lai thời xuân sắc hảo,
Dữ nhân công tác hoạ đồ khan.
(Thử đem một hạt mai ném lên trên núi,Một nắm giống thanh tao gửi lên ngọn đá xanh
Hãy nhớ lấy: sau này khi về xuân tươi tốt,
Sẽ thành một bức tranh cho mọi người xem chung.)Đối với hoàn cảnh xã hội, trước sự áp bức của vua quan ngày một tànnhẫn Cao Bá Quát đã thể hiện sự oán hận, ước mơ và quyết tâm của mình
Xích nhật hằng hà đạo?
Thương sinh thán kỷ hồi?
(Mặt trời đỏ lẫn đi đằng nào?
Để dân đen than thở mãi?)
(Đối vũ)Nhìn chung, sáng tác văn chương của Cao Bá Quát, đã theo đúng lýtưởng của nhà Nho, đem hết khả năng ra giúp đời, nhưng giúp theo một quanđiểm của riêng Cao Không bằng con đường quan trường, đó là sự xoá bỏvương triều cũ, lập nên một vương triều mới Một vương triều đem lại hạnhphúc, ấm no cho nhân dân Mặc dù không thực hiện được, nhưng tấm lòngcủa Cao Bá Quát thật cao cả, hợp lòng dân
Đánh giá về sự nghiệp văn chương của Cao Bá Quát sách Văn học 11
và Ngữ văn 11 nâng cao viết:
Trang 27“Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn Thơ ông phong phú trong nội dungcảm hứng; tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương xứ sở, với người thân, sựđồng cảm nhân ái với những con người lao khổ; niềm tự hào với quá khứ lịch
sử dân tộc và thái độ phê phán mạnh mẽ đối với xã hội đương thời” [8, 19] “Đặc biệt qua thơ văn, Cao Bá Quát còn bộc lộ một tâm hồn phóngkhoáng và một trí tuệ sáng suốt, tiếp nhận những hương vị, những màu sắcmới lạ khác với cái nhìn truyền thông Nhờ tất cả những điều ấy mà thơ vănông mới mẻ, phóng khoáng, chú trọng tình cảm riêng của con người, đượcngười đương thời rất mến mộ” [36, 45]
Nhân dân và lịch sử thật công bằng Ông bị triều đình nhà Nguyễn giếthại như một kẻ tội phạm nguy hiểm nhất; những bài văn thơ, kể cả vài búttích còn lại trên bức hoành phi ở quê hương cũng bị tiêu hủy nhưng chínhnhân dân đã bí mật lưu giữ những bài viết của ông như những di sản văn hóatinh thần của dân tộc Nhưng cũng do yêu quý tài năng, phẩm chất, chí khícủa ông nên cùng với những tác phẩm đích thực của ông được lưu truyền, còn
có phần thêm vào thuộc lĩnh vực giai thoại dân gian, người đời sau thật khóphân biệt đâu là phần đích thực do ông viết, đâu là phần giai thoại dân gian.Ông đã qua đời trong hoàn cảnh như vậy mà còn tới gần nghìn rưỡi bài vănthơ được coi là của ông, được lưu giữ Chỉ riêng điều này đã nói lên rất nhiều
về lòng yêu quý, sự kính trọng của các thế hệ đối với ông Nhân dân và lịch
sử đã hiểu ông rất rõ và đánh giá đúng về con người ông "Chiếc thân bảy
thước coi là ngắn - Mà chí nghìn thu vẫn sống lâu" Hai câu này dù là lời của
ông trước lúc bị hành hình hay người đời tặng cho ông, đã như lời tiên đoánchính xác về con người và những gì ông để lại cho nhiều thế hệ sau này
Trang 28Chương 2
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
2.1 Ngôn chí: Thay đời đổi thế, hiến thân cho nghiệp lớn
Tư tưởng của con người là sản phẩm của hoàn cảnh sống từng conngười Đi tìm nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng một con người là
vô cùng quan trọng Hoàn cảnh sống chúng tôi nói đến ở đây là môi trườnggiáo dục, là hoạt động thực tiễn của chính bản thân người ấy Như vậy, đểthấy được tư tưởng của Cao Bá Quát, chúng tôi căn cứ vào cuộc đời và sựnghiệp của ông Sự nghiệp của Cao Bá Quát ở đây là sự nghiệp văn chương.Đúng như quan điểm văn là người, có nghĩa là trong toàn bộ sáng tác văn thơcủa Cao Bá Quát sẽ bộc lộ hết tư tưởng con người ông
Có thể nói toàn bộ sáng tác văn chương của Cao Bá Quát chủ yếu làthơ chữ Hán Đọc thơ chữ Hán của Cao chúng tôi thấy trong tư tưởng củacon người này luôn bộc lộ tư tưởng muốn “thay triều đổi đại”, “quyết xoaybạch ốc lại lâu đài” Đấy là chí của một người làm trai, đem cả cuộc đờimình lo cho giang sơn đất nước Cái chí ấy của Cao Chu Thần nó vượt xahơn so lớp nho sỹ cùng thời với Cao, tư tưởng ấy là sự đổi mới trong cáchnhìn nhận, đánh giá xã hội đương thờì Tư tưởng ấy của Cao càng được trảinghiệm, hun đúc khi cuộc đời của ông gặp nhiều sóng gió, thăng trầm, đặcbiệt là khi bị giam cầm, tra tấn và sau chuyến đi “Dương trình hiệu lực” về
Từ đó Cao đã thấy rõ bộ mặt thối nát của triều đình nhà Nguyễn, mà quantrọng hơn cả ông đã thấu hiểu, cảm thông với cuộc sống nghèo khổ bị áp bứcbóc lột của người dân Từ sự phản kháng kịch liệt Cao đã đi đến hành độngđứng lên khởi nghĩa dành lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.Tấm lòng đấy của Cao thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao, như SóngHồng ca ngợi
Trang 29Dấu xưa nay biết đâu tìm?
Thương ai bảy nổi ba chìm nước non.
Trăng kia khi khuyết khi tròn, Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi.
Nguyễn Huệ Chi khẳng định: “Thơ văn Cao Bá Quát là sự ánh xạ khá
rõ nét con người và cuộc đời ông Có thể nói, ở hoàn cảnh xã hội Việt namnửa đầu thế kỷ XIX, dưới mọi ràng buộc của những thứ lễ giáo tín điều đángđược phục hồi trở lại, làm cho một xã hội đi vào quy củ và khép chặt lại trongguồng quay của hệ thống, Cao Bá Quát vẫn trội lên như một sức mạnh vượt rangoài mọi sự kìm hãm, ông là một con người dồi dào sinh lực, một con người
có tài năng đột xuất và ý chí khác thường” [4]
Chu Thần Cao Bá Quát sinh ra vào cuối thập kỷ thứ nhất của thế kỷXIX, lúc này triều đình nhà Nguyễn đã cơ bản hoàn thiện hệ thống chính trịcủa mình Đất nước tạm thời yên ổn, con người sống không còn phải lo cảnhgiặc dã Giang sơn ta thời bấy giờ đã thu về một mối, mọi người có thể tự do
đi từ Bắc vào Nam Những thay đổi ấy đã tác động mạnh mẽ đến người dân,
họ có cơ sở để ước mơ xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc.Nhưng chính sách của nhà Nguyễn thì hoàn toàn trái lại, nó không đem lạihạnh phúc ấm no cho nhân dân, nó đã kìm hãm, nó đã làm cho cuộc sốngnhân dân nghèo đói và lạc hậu Sau khi lập được vương triều trong cả nước,triều đình nhà Nguyễn ra sức phục hồi vị trí thống trị của nho giáo Họ đãbiến Nho giáo trở thành hệ thống chính trị tư tưởng duy nhất của đất nước.Nhà Nguyễn nghĩ ngay tới việc chấn chỉnh Nho giáo bằng cách tổ chức lạichế độ khoa cử Cũng lên tiếng là chiêu mộ nhân tài, những người đi thi đỗđạt, được bổ dụng làm quan Chính điều ấy đã tác động vào tư tưởng, tinhthần của người dân, đặc biệt trước hết là tầng lớp nho sỹ, và cũng chính chế
độ khoa cử ấy đã làm cho không ít nho sỹ ước mơ về tiền đồ sáng sủa của
Trang 30mình Họ ra sức học tập, thi cử, đậu đạt, để được ra làm quan phò vua giúpnước, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân
Sống trong hoàn cảnh như vậy, chàng trai họ Cao cũng không còn conđường nào khác, là tiến thân bằng con đường khoa cử Cao Bá Quát đã miệtmài kinh sử ngay từ nhỏ, để hy vọng lớn lên lều chõng đi thi, để bước chânvào con đường công danh sự nghiệp Là một người có tài thông minh, nhanhnhẹn, cộng với việc Cao sống trong một gia đình có trưyền thống Nho học,được người cha định hướng cho ngay từ bé Gia đình họ cao đặt rất nhiều hyvọng vào hai anh em sinh đôi Cao Bá Quát và Cao Bá Đạt sẽ thành tài, làmquan giúp cho triều đình và lo cho thiên hạ Năm mới 12 tuổi Cao Bá Quát đãcắp lều chõng cùng với các bậc đàn anh lớn tuổi lên Hà Nội đi thi Hương
“Tân tỵ phát hương tuyển - Thuỳ thiều ngận trưởng giả - Hướng định dũng sở
tiền - Lạc bút kinh tứ hoạ” (Năm Tân tỵ bắt đầu đi thi Hương, Tóc còn trái
đào đã theo chân các bậc người lớn, Hướng về phía địch thủ mạnh dạn tiến
lên - Đưa ngòi bút làm cho người xung quanh phải khiếp sợ - Năm mươi vần
Nước trong leo lẻo cá đớp cá.
Lúc ấy Cao Bá Quát thấy hai tay mình đang bị trói, nên đối ngay:
Trời nắng chang chang người trói người.
Hay: Khi trả lời một vị đốc học ra cho ông một vế câu đối để hỏi
Nhi, tiểu sinh, hà xứ đắc lai, cảm thuyết trình Chu sự nghiệp (Mấy đứa
học trò nhỏ, từ đâu đến mà giám nói chuyện Trình Tử, Chu Công?)
Trang 31Cao Bá Quát đối:
Ngã, quân tử kiến cơ nhi tác, dục vì Nghiêu Thuấn quân dân (Ta, người
quân tử xem thường mà hành động, muốn làm cho vua và dân trở nên vua vàdân đời Nghiêu Thuấn)
Hay lưu truyền rằng; Cao Bá Quát thường nói: Trong thiên hạ có bốn
bồ chữ, mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi là Cao Bá Đạt và bạn tôi là NguyễnVăn Siêu chiếm một bồ, còn bồ thứ tư chia cho mọi kẻ khác
Qua những câu chuyện truyền tụng là của Cao Bá Quát Chúng ta thấy
là ngay từ bé, ông có một giọng văn hùng hồn, ý tứ mạnh mẽ, cậu bé Cao đã
có trí lớn, nó đã lộ rõ trong những việc làm và hành động của Cao Đây chính
là sự chuẩn bị tư tưởng đầu tiên cho hành trang tư tưởng của Cao Bá Quát, để
về sau hiến thân cho nghiệp lớn
Lều chõng đi thi từ khi còn rất bé, đậu cử nhân rất (khoa Tân Mão1831) Đạt được học vị cử nhân, Cao chưa dừng lại ở đấy, ông tiếp tục đi thiHội và thi Đình, hy vọng sẽ đỗ Tiến sĩ, sẽ được ra làm quan, để thực hiện mơước của một trang nam tử “Trời phú cho ông tài năng, ông lại có một vốn họcthức dày dặn, với lối học riêng mình tạo lấy” [31] Và như thế, ông đã đi vàokinh đô Huế để thi Hội Trên đường vào kinh đô Huế đi thi Hội, trước nhữngcon người đầy hào khí, và thiên nhiên hùng vĩ của giang sơn đất nước, diễn ratrước mắt ông Với những người khác trên con đường tiến kinh, đây là hyvọng về sự đỗ đạt, sự sung sướng khi nghĩ tới chiếc bằng Tiến sĩ, nghĩ tới việcvinh quy bái tổ, tức là lo cho danh lợi cá nhân Còn đối với Cao là sự nghiệpcông danh, hay là sự cảm phục trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước? Nhưngvới chàng trai họ Cao, một người giàu nghị lực, đầy chí khí, mà đặc biệt làgiàu trí tưởng tượng, ham học hỏi hiểu biết, thì đấy chỉ có thể là hào khí củanon sông, khiến cho Cao phải có trách nhiệm lớn lao với đất nước này Nhữngtình cảm ấy thể hiện rất rõ trong thơ ông
Trang 32Lòng lưu luyến man mác khi ra tới cổng làng, từ biệt các học trò, để lênđường đi thi Hội.
Du du từ cố quốc Man man hướng trường lộ Xuất giao thiên vi lương Hành sắc đái sơ vũ
Đệ tử tống ngã hành
(Lòng rời rợi từ biệt nơi quê nhà
Đi trên con đường dài thăm thẳm
Ra khỏi làng trời hơi lạnhTrên đường đi, mưa sa lất phấtCác học trò tiễn ta đi)
(Phó nam cung xuất giao môn, biệt chư đệ tử)
Từ biệt xong các học trò ở cổng làng, lên thuyền xuôi vào Nam, trướccảnh thiên nhiên hai bên bờ sông, Cao đã lộ rõ chí lớn của mình
Ngã dục đăng cao sầm Hạo ca ký vân thuỷ
(Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kiaHát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước)
(Quá Dục Thuý sơn)
Trang 33Trên đường đi trọ lại ở Lạc Sơn, ông đã từng suy nghĩ và đặt câu hỏicho cuộc đời mình.
Thiếu niên tật tẩu chung hà sự?
Uý lộ man man trước lữ hoài!
(Tuổi trẻ chạy vạy rồi biết có nên việc gì không?
Con đường ghê sợ còn dài, cứ vướng vít lòng người lữ khách!) (Lạc Sơn lữ trung)
Tâm hồn của Cao lúc nào cũng mở rộng như muốn bao trùm lấy cả đấttrời này, khi đứng trên núi Hoành Sơn nhìn bể
Hải khí quyển sơn, sơn như chỉ, Sơn bắc, sơn nam, thiên vạn lý.
(Hơi bể quyện vào núi, núi lởm chởm như ngón tay,Phía bắc núi, phía nam núi, suốt nghìn muôn dặm)
(Hoành Sơn vọng hải ca) Càng mở rộng lòng mình, Cao càng ý thức được con đường công danhmình đang đi Biết là sẽ không bao giờ nhàn? Nhưng vẫn “đi đây” Đấy chính
là sự chuẩn bị tâm lý tốt nhất cho sự nghiệp “hiến thân cho nghiệp lớn”
Công danh nhất lộ kỷ nhân nhàn?
Quan cái phân phân ngã hành hỹ!
(Trên đường công danh đã mấy ai nhàn?
Mũ lọng nhộn nhịp, ta cũng đi đây!)
(Hoành Sơn vọng hải ca) Khi vào tới sông Minh Lương đã tới Quảng Trị, Cao thấy sông núi, bãi
cát mịt mùng, cung điện nơi nơi (Quá Quảng Trị tỉnh) Trước cảnh ấy Cao tự
hào một phần, một phần ông cho thấy mình là người nhạy cảm trước mọi sựviệc trong cuộc sống
Cao Bá Quát thấy được cái gì có lợi cho dân, cái gì có hại cho dân
Trang 34Sơn hải chỉ nghi Tề cận lợi
(Thấy núi cùng bể, ngờ như nước Tề chỉ chăm cái lợi trước mắt)
(Quá Quảng Trị tỉnh)Khi vào kinh đô Huế, nơi phồn hoa của những lợi danh, tâm hồn Caochất chứa nhiều tâm sự khó nói lên thành lời Đây cũng là sự diễn biến tâm lýbình thường của một con người có trái tim với chí khí lớn, và một khí tiếtthanh cao
Hương thuỷ mộ trào sinh thiển lại, Trản sơn hồi chiếu đạm không lâm.
Huân phong đa dữ nhàn phương tiện Xuy khỡi cô liêm nhất bán tâm.
(Nước thuỷ triều ở sông Hương xuống, bãi cát ngập nông,Cánh rừng vắng trên Hòn Chén, nắng chiều đã lạt
Gió nồm thường giúp người ta mọi sự thoải mái,
Đã thổi cuốn bức rèm treo làm lòng ta nhẹ đi một nữa.)
(Thôn cư vãn cảnh)Trong chuyến đi thi Hội ở Huế lần đầu này, một con người đầy tài năngtriển vọng như Cao trượt Cao hỏng thi làm mọi người phải băn khoăn, mộtngười có tài văn chương như ông thi không đỗ, thật khó có câu trả lời? Cao từgiã kinh đô
Rời Huế trở về đất Bắc, ông không hề thất vọng, ông vẫn vui, trênđường về ông vẫn làm thơ ca tụng những vẻ đẹp của đất nước Cao Bá Quátvẫn suy nghĩ triều đình nhà Nguyễn vẫn còn biết dung nạp người tài, để xâydựng đất nước giang sơn giàu đẹp Ba năm sau chàng trai này lại vẫn lềuchõng vào kinh đô Huế đi thi, nhưng rồi điều ông không mong muốn vẫn xảy
ra, hỏng thi Hội lần hai
Nhân sinh thiếu tráng tri hà dụng?
Lưỡng độ nan hành thích giá cô.
Trang 35(Cuộc đời lúc trai trẻ biết có làm được gì?
Hai lần đi vào nam chỉ là nghe tiếng chim giá cô.)
(Hoạ nhữ nguyên lập giáo thụ “ngũ thập tự thọ”)Hỏng thi hai lần, nhưng Cao vẫn còn niềm tin để tiếp tục cuộc hànhtrình đi tìm công lý Hy vọng vẫn không tắt trong con người ông, Cao BáQuát vẫn còn những tia sáng trông vào triều đình nhà Nguyễn Và ông lại tiếptục khăn gói lên đường vào kinh ứng thí, để rồi người khách bên đường này,vẫn là một người khách thơ cô tịch Hoa sen cũng phải ái ngại cho ngườikhách thơ này
Thập đắc hồng liên hoả tự hồi Phương tâm toàn vị hướng nhân khai Chỉ ưng hàm tiếu cô ngâm khách
Hà sự tam niên nhất độ lai
(Nhặt lấy hoa sen đỏ tròng vào tay áo mang vềNhụy thơm của nó chưa mở ra với ai
Nó chỉ mỉm cười với người khách thơ cô tịchChẳng biết có việc gì mà cứ ba năm đến một lần)
(Tạp hứng)Rồi kết quả lần này vẫn không như Cao Bá Quát mong đợi, vẫn như hailần trước, lại thất bại Đây là những va chạm, thất bại đầu tiên trong cuộc đờicủa Cao, mà đặc biệt là với triều đình nhà Nguyễn Sau lần này Cao lại vềquê, tưởng như đã yên phận, nhưng ông không như thế, ông vẫn luôn sôi nổi
và tin vào con đường mình đã chọn
Năm 1841, Thiệu Trị Nguyễn Miên Tông lên ngôi, có ý trọng ngườitài, Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế, bổ làm hành tẩu Bộ Lễ Bâygiờ ông được chứng kiến thực tế, tai nghe, mắt thấy những gì diễn ra trongtriều đình Đến tháng tám năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảotrường thi Thừa Thiên Quá vui khi được tiếp xúc với người tài, ông cùng
Trang 36với bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn chữa những bài thi phạm huý Việc bại
lộ ông bị bắt giam, và ông phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệtnhất trong cuộc đời làm quan Bị kết tội nhưng được giam chờ xét lại, ôngphải chịu những tra tấn cực hình, đau đớn về thể xác Nhưng cái nhà tù kiachỉ tra tấn và giam được thể xác Cao, còn ý chí, tinh thần của ông không có
gì có thể giam cầm nổi
Nhãn khan cao điểu độc phàn lung
(Mắt nhìn những con chim có sức bay cao mà bị nhốt trong lồng)
(Tức sự)Khi bị giam cầm, tù tội tư tưởng con người Cao Bá Quát đã thổ lộ hếttrong thơ của ông Đấy là sự khẳng định một tính cách, một bản lĩnh của ông.Lúc này ông không còn tin vào triều đình kia nữa rồi
Kiếm lạc Phong thành dạ hữu quang Mạc hướng danh sơn tống di thảo
(Thanh gươm vùi dưới đất Phong thành ban đêm vẫn có ánh sáng Không nên đem bản thảo gửi vào nơi danh sơn nữa)
(Cấm sở cảm tự, túng bút ngẫu thư)
Trong bài Ký hận Cao Bá Quát có viết:
Thư thành hận tự không đề huyết Tửu tuý ly bôi tức mộng hồn
(Chữ “hận” viết xong cứ khóc hoài đến nỗi trào máuChén “phân ly” nhắp say là hồn vào cõi mộng) Chữ “hận” ở đây là chí làm trai chưa thành, vì lúc này ông đang bịgiam cầm “Hồn vào cõi mộng” ở đây là cõi không còn nhà giam, không còntriều đình kia nữa chăng? Chúng ta cũng phần nào hiểu được ý của Cao, cõimộng ở đây là cuộc sống ấm no, hạnh phúc không riêng mình ông, mà cho tất
cả mọi người
Trang 37Trong bài Trường giang thiên (Một thiên vịnh cái gông dài), lời tiểu dẫn Cao Bá Quát viết: “Trường giang! trường giang! Tri ngã hồ? Ngô vô
thích vu nhĩ dã.” (Gông dài! Gông dài! Mày biết ta chăng? Ta cũng chẳng hợp
gì với mày đâu.”) Thiên vịnh cái gông dài này, ông không nhận mình làngười có tội Vì ông xem hành động chữa bài thi của mình, là một việc thiện,
và ông thấy mình chưa hề vì con đường công danh mà phải cúi đầu Kết thúcthiên này ông có nói:
Hà dương giá tác vân thê khứ, Nhất tiếu thừa phong ổn sấn hưu.
(Ước gì đem gông này bắc làm cái thang mây,Cười xoà một tiếng, cưỡi gió mà lên cho rảnh!)Vẫn là một cái nhìn đầy lạc quan của Cao Bá Quát
Trong bài Đằng tiên ca (Bài ca cái roi song), bị tra tấn đau đớn như
vậy, nhưng càng đau đớn bao nhiêu lòng ông như cứng rắn lại, ông như đứngthẳng lên Sau đấy ông miên mam bất tỉnh, nhưng khi tỉnh dậy ông lại làm thơ
“Thập nguyệt thập thất nhật, thừa Lễ Bộ nghiêm tấn hậu, cưỡng bệnh mạn
chí tứ thủ” (Ngày 17 tháng 10, sau khi Bộ Lễ tra tấn nghiêm ngặt, rồi gượng
đau viết luôn 4 bài) Ban đêm ông thường suy nghĩ giữa trời đất nhốt một anh
tù làm thơ, tâm lực thì vẫn còn nhưng bị giam cầm nằm một chỗ không chịu
nổi (Độc dạ cảm hoài).
Trong bài Bệnh trung (Trong lúc ốm), ông đã nói rõ cái bệnh của mình.
Át đồng bất thức Duy Ma bệnh, Sát vấn yên vi sấu tổn vô?
Cứ hỏi luôn rằng: “vành đai lưng có gầy đi phần nào không?”)
Trong bài Tội định (Khép tội rồi), trước cái chết, ông suy nghĩ rất
nhiều Muốn thoát chết là phải hành động, như con thỏ tinh ranh phải biết đào
ba cái hang, chim chích không làm tổ ở một cành
Trang 38Giảo thỏ năng tam quật, Tiêu liêu khỡi nhất chi?
(Con thỏ tinh ranh còn biết đào ba cái hang,Chim chích làm tổ trong rừng đâu phải chỉ có một cành?)Khi Cao Bá Quát bị chuyển sang giam ở ngục Thừa Thiên, ông đã làm
ngay bài thơ “Chính nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục toả
cấm" (Ngày 21 tháng giêng, bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên), ông viết:
Phóng bộ học hành ngâm Thuỳ tỵ Ly tao ông?
(Thử phóng bộ học lối “vừa đi vừa hát”
Giữa mình với Khuất Nguyên hỏi ai thực là ông Ly tao?)Sống trong cảnh tù tội, bị giam hãm, nhưng những gông, roi không thể làm lu mờ đi tấm lòng của Cao Ông vẫn một lòng đau đáu vì giang sơn đấtnước, lo cho cuộc sống của nhân dân được ấm no hạnh phúc Đầu năm1844,ông phải phục dịch phái đoàn của triều đình do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn
đi công cán ở Hạ Châu Đi cùng đoàn, ngoài Đào Trí Phú trưởng đoàn còn cóphó đoàn Trần Tú Dĩnh (Trần Ngộ Hiên), đoàn viên Lê Bá Đĩnh (Lê TrựcHiên)… Cao Bá Quát với thân phận là người bị đi đày, lấy công để chuộc tội
Là người có tài văn chương, nên các viên quan cùng đoàn đều coi trọng vàkính nể Cao Mang trong mình một tâm sự lớn, ông đi với một sự quan sát,ghi nhận thực tế, tận mắt chứng kiến một nền văn minh khác xa nước ta thờibấy giờ Khác với cảnh Cao lều chõng vào Huế đi thi Ngồi trên thuyền lớn,trong một buổi sáng Cao thấy cảnh thật là hùng vĩ
Nhất bích ngưng vi giới, Trùng vân nhiễu tác thành.
Viễn phong xung hải tập, Cao lãng tiếp thiên binh.
Trang 39(Một màu xanh biếc đọng lại làm giới hạn,Từng lớp mây vây quanh như những bức thành.
Ngọn núi đằng xa đứng nhô ra ngoài bể,Làn sóng dâng cao, tiếp đến tận ngang trời)
(Châu trung hiểu vọng phụng trình
đồng châu chư quân tử)Khi thuyền được thuận buồm xuôi gió, ông đã viết ngay đưa cho cácbạn cùng thuyền Có những cuộc hoan du như thế này mới thấy cá lớn nghìndặm, kiến thức của mình thật nhỏ bé, và ông đã thả hồn mình cho sông núi,trời mây Hay khi gặp một chiếc thuyền của người Tây, ông đã thấy được sựkhác biệt, nó hiện đại hơn ta, ông tả nó như một con rồng
Cao yên quán thanh không,
Tả tác bách xích đôi, Yêu kiều thuỳ thiên long, Cương phong xuy bất khai.
(Khói ùn ùn tuôn lên trời xanh,Toả ra thành một đống cao hàng trăm thước,Ngoằn ngoèo như con rồng trên trời sa xuốngGió mạnh thổi cũng không tan.)
(Hồng mao hoả thuyền ca)Hiện đại như thế, nhưng khi vào Biển Đông, hướng mũi thuyền vàonước ta thì hãy coi chừng, kẻo bị một tiềm lực vô cùng mãnh liệt đốt cháy
Quân bất kiến: Vỹ- lư chi thuỷ hối Ốc Tiêu, Kiếp hoả trực thướng thanh vân tiêu.
Khai châm đông khứ thận tự giới, Bất tỷ tây minh triêu mộ trào.
Trang 40(Các người không thấy: khi nước ở vũng Vỹ - lư rót vào tảng đá Ốctiêu,
Thì ngọn lửa dữ dội bốc lên thẳng tới mây xanh
Mở kim nam châm đi sang phía Đông thì phải cẩn thận dè chừng!
Không thể coi như bể Tây, sớm hôm có nước triều đều đặn!)
(Hồng mao hoả thuyền ca)
Trong bài Tiểu ẩm hý bút (Uống rượu chơi viết đùa), chúng ta thấy rõ
tấm lòng ông, đang ở xa giang sơn đất nước, nhưng lúc nào ông cũng hướng
về tổ quốc
Dạ gian ức đắc quy phi mộng,
Do ký tiền thân bản thị chu.
(Ban đêm nghĩ đến giấc mơ bay về,Còn nhớ rằng kiếp trước mình là chàng Trang Tử)
Tư tưởng của một con người muốn “thay triều đổi đại” lúc nào cũng
thường trực trong ông Trong bài Thuyền hồi quá Bắc Dữ, dư bảo bệnh sổ
nhật hỹ Dạ bán đăng tường tử vọng, thê nhiên độc hữu hương quan chi cảm, Nhân giản Trần Ngộ Hiên (Thuyền về qua đảo Bắc Dữ, Ta đã ốm nằm mất
vài ngày rồi Nửa đêm lên chỗ cột buồm trông ra bốn phía, Chạnh lòng nhớquê, viết đưa cho ông Trần Ngộ Hiên), ông viết:
Bệnh hạc thương hồng vọng dĩ cô, Sáp linh kim tạm tá bằng đồ.
(Chim hạc ốm, chim hồng đau, hy vọng đã chừng lại,Nay lại chắp cánh tạm mượn đường bay của chim bằng)
Con người của Cao Bá Quát luôn mở rộng lòng mình với thiên nhiên
vạn vật Sáng thì lên núi Hoành Sơn để ngắm nhìn giang sơn đất nước (Đăng
Hoành Sơn), chiều thì lại về tắm ở khe Bàn Thạch, nhặt lấy một nơi một viên