Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Trờng đại học vinh
ngô thị hợi
đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ cây và hoa trong ca dao
Chuyên ngành: ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
pgs TS Phan mậu cảnh
Vinh - 2009
Trang 2Xin cảm ơn sự động viên giúp đỡ của những ngời thân, gia đình, bạn
bè đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến quý báu để chúng tôi hoàn thành luận văn này.
Vinh, tháng 01 năm 2010
Tác giả
Ngô Thị Hợi
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phơng pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chơng 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 6
1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 6
1.1.1 Về thuật ngữ ngôn ngữ 6
1.1.2 Về thuật ngữ văn hóa 8
1.1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 11
1.2 Đặc điểm các loài cây, loài hoa trong đời sống và trong nghệ thuật 12
1.2.1 Đặc điểm các loài cây trong đời sống 12
1.2.2 Đặc điểm cây trong nghệ thuật 14
1.2.3 Đặc điểm của hoa trong đời sống 16
1.2.4 Đặc điểm của hoa trong nghệ thuật 19
1.3 Đặc điểm của ca dao và thế giới thực vật trong ca dao 21
1.3.1 Về khái niệm ca dao 21
1.3.2 Xuất xứ ca dao 23
1.3.3 Nội dung và phận loại ca dao 24
1.3.4 Nghệ thuật của ca dao 25
1.3.5 Những biểu hiện cụ thể của cây và hoa trong ca dao 27
Trang 4Chơng 2 Đặc điểm ngữ pháp của các từ ngữ chỉ cây và
hoa trong ca dao ngời Việt 29
2.1 Số liệu thống kê và phân loại 29
2.1.1 Số liệu thống kê 29
2.1.2 Phân loại tên các loài cây, loài hoa 30
2.2 Đặc điểm về khả năng kết hợp của các từ ngữ chỉ cây và hoa trong ca dao Việt Nam 35
2.2.1 Khả năng kết hợp của các từ ngữ chỉ cây 35
2.2.2 Khả năng kết hợp của các từ ngữ chỉ hoa 42
2.3 Các cấu trúc thờng gặp trong ca dao Việt Nam về cây và hoa 49
2.3.1 Các cấu trúc thờng gặp về cây trong ca dao 49
2.3.2 Các cấu trúc thờng gặp về hoa trong ca dao 54
Chơng 3 Đặc điểm về ý nghĩa của từ chỉ các loài cây, loài hoa trong ca dao 59
3.1 ý nghĩa thực của từ ngữ chỉ các loài cây, loài hoa 59
3.1.1 ý nghĩa thực của từ ngữ chỉ cây 59
3.1.2 ý nghĩa thực của từ ngữ chỉ hoa 62
3.2 ý nghĩa tợng trng của từ ngữ chỉ tên các loài cây, loài hoa 64
3.2.1 ý nghĩa tợng trng của từ ngữ chỉ cây 66
3.2.2 ý nghĩa tợng trng của từ ngữ chỉ hoa 80
3.3 Liên hệ so sánh cách sử dụng từ ngữ chỉ tên các loài cây, loài hoa trong ca dao và trong thơ ca 95
3.3.1 Cách sử dụng từ ngữ chỉ các loài cây trong ca dao và trong thơ ca .95
3.3.2 Cách sử dụng từ ngữ chỉ các loài hoa trong ca dao và trong thơ ca .101
3.4 Vai trò của cây và hoa trong việc thể hiện đặc trng văn hoá của ngời Việt 110
Kết luận 119
Tài liệu tham khảo 121
Trang 5Mở đầu
1 lý do chọn đề tài
1.1 Ca dao là một loại hình nghệ thuật có vị trí rất quan trọng đối với
ngời Việt Nam, là một gia tài vô cùng quý báu đang hiện hữu và nuôi dỡngmọi thế hệ con ngời trên đất nớc Việt Nam Ca dao đã trở thành nguồn t liệuvô cùng quý báu và phong phú cho các nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữhọc
1.2 Trên phơng diện ngôn ngữ - văn hóa, đề tài của chúng tôi tìm hiểu
“Đăc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ cây và hoa trong ca daoViệt Nam” là muốn khám phá những giá trị văn hóa dân tộc ẩn chứa trong thơ
ca dân gian Đồng thời do vị trí đặc biệt của ca dao trong kho tàng văn hóadân gian cũng nh trong lòng độc giả thởng thức, cho nên việc tìm hiểu ca daotrong bất kỳ phơng diện nào cũng đợc xem là một bớc khám phá rất có ýnghĩa Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao từ nhiều góc độ, vàviệc đi sâu tìm hiểu về tên các loài cây, loài hoa xuất hiện trong ca dao là mộthớng đi khá thú vị, cần đợc khai thác
Chính vì những lý do trên nên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao từ nhiều góc độ khácnhau, văn học dân gian, văn hóa, thi pháp, ngôn ngữ - văn hóa Tuy nhiênchúng tôi quan tâm đến những đề tài, những công trình nghiên cứu liên quan
đến thiên nhiên, thế giới thực vật trong ca dao Và bớc đầu có những thống
kê sơ lợc sau:
Năm 1978, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân
ca Việt Nam rằng: “Nhân dân mợn những vật vô tri để nói lên tâm sự mình,
mợn những chim muông cho nó tính ngời, và mợn cả một số cây để ví với
ng-ời này, ngng-ời nọ” [45 - 71] “Những cây lan, huệ, trúc, đào, liễu, mận, mai trongvăn học dân gian đều là những hình ảnh để ngời phụ nữ trẻ trung gửi gắm tâm
sự của mình, liên hệ số phận của mình”.[45 - 73]
Năm 1992, trong Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính phân loại các
biểu tợng trong ca dao trên cơ sở sự phong phú đa dạng của hiện thực kháchquan Theo tác giả bên cạnh các biểu tợng đợc hình thành bởi thế giới các vậtthể nhân tạo còn có biểu tợng gắn kết các hiện tợng tự nhiên, đó là: Các hiện
Trang 6tợng tự nhiên nh (trăng, sao, mây, gió), thế giới thực vật nh (cỏ, cây, hoa, lá),thế giới động vật nh (rồng, phợng, chim, muông).[31 - 130]
Năm 1998, trong Những thế giới nghệ thuật ca dao của Phạm Thu Yến,
thiên nhiên đợc miêu tả mang chức năng nghệ thuật rõ nét: Khi là “một khônggian nghệ thuật đầy gợi cảm nh: Một đêm trăng sáng, cánh đồng lúa chín,rặng tre, con đò, bến sông, cầu ao”, và có lúc là “đối tợng rất cần thiết giúpcon ngời biểu thị tình cảm”.[63 - 121]
Năm 1999, tác giả Nguyễn Ngọc Điệp trong bài Tìm hiểu nguồn gốc
biểu tợng trong ca dao Việt Nam (kỷ yếu khoa học khoa ngữ văn, ĐHSP Hồ
Chí Minh) đã phân chia các biểu tợng chủ yếu hình thành từ ba nguồn sau:
- Những biểu tợng xuất phát từ phong tục tập quán của con ngời ViệtNam, từ quan niệm dân gian, tín ngỡng dân gian: Trầu cau, cây đa, vuôngtròn
- Những biểu tợng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc:Thúy Kiều - Kim Trọng, Ngu Lang - Chức Nữ, dây tơ hồng, ông Tơ bàNguyệt, trăng già
- Những biểu tợng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hằng ngày của nhândân: Hoa sen, hoa đào, con cò, con bống, trăng, thu
Năm 2000, Nguyễn Phơng Châm có bài viết về Biểu tợng hoa sen trong
văn hóa Việt Nam, trong đó tác giả dẫn ra nhiều ví dụ là các bài ca dao tiêu
biểu về hoa sen để phân tích Tác giả chỉ ra nghĩa biểu tợng gần gũi nhất củahoa sen trong ca dao là biểu tợng cho sự trong sạch thanh cao, cho sự thẳngthắn vơn lên
Năm 2001, Nguyễn Phơng Châm lại có các bài viết về Biểu tợng hoa
hồng, hoa đào trong ca dao Đến năm 2002, Đỗ Thị Hòa có bài viết Vài nét về biểu tợng hoa trong ca dao ngời Việt Cũng trong năm 2002, tác giả Hà Thị
Quế Hơng có bài viết Hàm ý biểu trng của từ ngữ chỉ hoa và tên hoa trong ca
dao Tác giả đã chỉ ra những nghĩa biểu trng cơ bản của từ chỉ hoa và tên các
loài hoa trong ca dao là: Biểu trng cho cái đẹp, biểu trng cho hình ảnh của
ng-ời phụ nữ, biểu trng cho con ngng-ời nói chung
Năm 2003, Nguyễn Phơng Châm có bài nghiên cứu và nhận xét về Biểu
tợng thực vật trong ca dao ngời Việt Tác giả nhận định rằng: “Thiên nhiên nói
chung và cỏ cây hoa lá nói riêng tràn ngập trong ca dao và làm cho những lời
ca dao trở nên mềm mại, bay bổng, xanh ngắt tình đời”.[15 - 52]
Trang 7Năm 2006, Đặng Thị Diệu Trang bảo vệ luận án tiến sĩ Thiên nhiên
trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ Trong đó, tác giả đã đề cập đến hình
tợng thiên nhiên thực vật với một bảng thống kê công phu tên gọi các loài cây
có xuất hiện trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ và có những phân tích
đánh giá thỏa đáng
Nh vậy, có thể khẳng định rằng: Thiên nhiên nói chung và thế giới thựcvật nói riêng trong ca dao đã là những đề tài nghiên cứu đợc tác giả của nhiềucông trình khoa học đề cập đến ở một số khía cạnh khác nhau Đó là nhữngnguồn t liệu có giá trị cho đề tài của chúng tôi Vì thế, đề tài của chúng tôi là
sự kế tục những kết quả nghiên cứu của các bậc tiền bối
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về ca dao và từ ngữ chỉ cây và hoa đợc sử dụng trong ca dao
- Tìm ra những biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hóa dân tộc trong cách
sử dụng các từ ngữ chỉ cây và hoa trong các lời ca dao
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc những mục đích trên, nội dung nghiên cứu của đề tài này tậptrung giải quyết một số vấn đề sau:
- Nhiệm vụ đầu tiên là tổng hợp các tài liệu và tiến hành khảo sát sựxuất hiện của từ ngữ chỉ tên cây và hoa trong ca dao
- Phân tích và miêu tả hoạt động ngữ pháp của từ ngữ chỉ cây và hoa
- Phân tích và miêu tả những ý nghĩa cụ thể của từ ngữ chỉ cây và hoa
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Chúng tôi chọn những từ ngữ tên gọi các loài cây, loài hoa xuất hiệntrong ca dao để khảo sát, nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 8Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích dựa trên nguồn t liệu
chính là tổng hợp quyển Kho tàng ca dao ngời Việt (2 tập) do Nguyễn Xuân
Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên) (2000), NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chơng:
Chơng 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2 Đặc điểm ngữ pháp của các từ ngữ chỉ cây và hoa trong ca
dao ngời ViệtChơng 3 Đặc điểm về ý nghĩa của từ ngữ chỉ các loài cây, loài hoa
trong ca dao
Trang 9Chơng 1
Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.1.1 Về thuật ngữ ngôn ngữ
Ông tổ của nghành ngữ học đã chỉ ra rằng: “Những ngôn ngữ(langage) là gì? Đối với chúng tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngônngữ (langue): Nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ, tuy
là bộ phận cốt yếu Nó vừa là sản phẩm xã hội chấp nhận, để cho phép các cánhân vận dụng năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy tắc tấtyếu đợc tập thể xã hội chấp nhận để cho phép cá nhân vận dụng năng lựcnày ” [49 - 30]
Fde Saussure còn phân biệt ngôn ngữ với lời nói về các mặt: Ngôn ngữmang tính xã hội, mang tính chất chung, trừu tợng và đợc quan niệm nh là ổmáy, bao gồm các đơn vị, quan hệ giữa các đơn vị và mạng lới cấu trúc tổngthể của các đơn vị đó Ngôn ngữ chính là một kho tàng đợc thực tiễn nói năngcủa những ngời cùng thuộc một cộng đồng lu lại, nó không có mặt đầy đủtrong một ngời nào đó mà chỉ tồn tại trong quần chúng
Theo từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biênthì “Ngôn ngữ là hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợpchung mà những ngời trong cùng một cộng đồng dùng làm phơng tiện để giaotiếp với nhau”.[47 - 666]
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu tồn tại trong bộ óc của những ngờicùng nói một thứ tiếng Nó chỉ đợc thể hiện ra trong lời nói và bằng lời nói.Ngôn ngữ là cái mã chung cho một cộng đồng, nó làm cho “Hình ảnh thínhgiác” ăn khớp với những khái niệm Ngôn ngữ là một hệ thống đơn vị vật chấtphục vụ cho việc giao tiếp giữa ngời với ngời Nó đợc phản ánh trong ý thứccủa tập thể và trừu tợng khỏi những t tởng và tình cảm của mỗi cá nhân
Tuy nhiên, ngôn ngữ và lời nói là hai khái niệm có mối quan hệ mậtthiết qua lại với nhau Vì ngôn ngữ là cái có tính chất xã hội nhng luôn baohàm cái có tính chất cá nhân, có nh vậy chúng mới thực hiện đợc chức nănggiao tiếp Ngôn ngữ là sản phẩm mà ngời nói ghi nhận một cách thụ động, sảnphẩm tàng trữ nhờ có ký ức dới dạng tiềm năng Vậy sự chiếm lĩnh ngôn ngữ
và làm chủ ngôn ngữ chỉ là sự vận dụng những năng lực tàng trữ duy nhất ấy
Trang 10của trí óc con ngời Do đó mọi hoạt động ngôn ngữ đều thuộc phạm vi lời nói,hành động cá nhân, hành động có ý thức, tự do và sáng tạo của cá nhân.
Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội, một sản phẩm tập thể đợc xây dựngtrong quá trình lao động sản xuất của xã hội Nó tồn tại dới dạng tiềm năngtrong bộ óc của mỗi thành viên cộng đồng nh một pho từ điển mà các bản in
đều giống nhau, đợc phân phối cho từng cá nhân Vậy ngôn ngữ là phơng tiệnchung cho mọi ngời, cho tất cả ngời nói lẫn ngời nghe và hoạt động nh mộtthể chế đặc biệt với tính chất bắt buộc Mỗi cá nhân không tự mình sáng tạo rangôn ngữ và cũng không thể thay đổi nó Cá nhân phải trải qua một quá trìnhhọc tập mới nắm bắt đợc nó và sử dụng nó một cách có hiệu quả
Nh vậy ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngời
và xã hội loài ngời, nếu nh không có xã hội tất yếu sẽ không có ngôn ngữ vàngợc lại Ngôn ngữ là phơng tiện cũng là đối tợng nghiên cứu của nhiềunghành khoa học khác nhau nh tâm lý học, sinh lý học, vật lý học, toán học vàlogic học
Theo GS Nguyễn Nhã Bản: “Ngôn ngữ đợc hình thành từ thế kỷ nàysang thế kỷ khác, đợc tích lũy, tàng trữ hàng ngàn năm, chính là điều kiệngiúp cho xã hội phát triển Hơn thế trong thời đại ngày nay ngôn ngữ chính
là chiếc cầu nối dính, bắc qua các dân tộc, xã hội khác nhau trên thế giới.Hay nói khác đi, ngôn ngữ vừa là tiền đề vừa là kết quả của sự phát triển xãhội” [3 - 12]
Tác giả đã phân tích, chỉ ra những biểu hiện và làm rõ: Ngôn ngữ là mộthiện tợng xã hội, bản chất xã hội hiện ra rõ nhất khi so sánh âm thanh ngônngữ với tín hiệu âm thanh động vật Ngôn ngữ chỉ đợc sinh ra và phát triểntrong xã hội loài ngời và xuất phát từ nhu cầu giao tiếp giữa ngời với ngời Khitách con ngời ra khỏi cộng đồng xã hội, nếu không đợc trao đổi, nói năngtrong một thời gian dài con ngời cũng mất luôn ngôn ngữ Esapir đã kết luận:
“Tiếng nói là một di sản của tập thể, có tính chất thuần túy lịch sử một sảnphẩm của tập quán lâu đời của xã hội” Quan trọng hơn ngôn ngữ là hiện tợngxã hội, ngôn ngữ không mang tính giai cấp, không thuộc thợng tầng kiến trúchay hạ tầng cơ sở Nó là sản phẩm của tập thể, là tài sản xã hội: Nó phục vụcho mọi giai cấp, là công cụ giao tiếp cho mọi ngời
Ngôn ngữ có nhiều chức năng nhng nó có hai chức năng cơ bản nhất làchức năng giao tiếp và chức năng phản ánh V.B Kasevich viết: “Chức năng
Trang 11giao tiếp là chức năng thứ nhất còn chức năng phản ánh là chức năng thứ hai,
đồng thời cả hai chức năng này đều có liên hệ chặt chẽ với nhau”
Nh vậy theo VI Lênin có thể khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là phơng tiệngiao tiếp quan trọng nhất của con ngời” Ngôn ngữ cũng là công cụ phản ánh
và truyền đạt t tởng, đúng nh kết luận của C Mác: “Ngôn ngữ là hiện thực trựctiếp của t tởng”
1.1.2 Về thuật ngữ văn hóa
Cho đến nay trên thế giới có hàng trăm định nghĩa khác nhau về vănhóa Có hiện tợng nh vậy là do tính đa diện của chính “Văn hóa” Mặt kháccác nhà nghiên cứu cũng thờng tách văn hóa ra từ những mặt khác nhau phùhợp với mục đích nghiên cứu của riêng mình Và chúng ta có thể dựa vàonhiều tiêu chí khác nhau của văn hóa để đa ra các khái niệm khác nhau về vănhóa
Nếu xét về nguồn gốc, xuất xứ tên gọi chúng ta có thể thấy rằng: Vốn
dĩ văn hóa có từ Châu Âu để dịch từ Culture của tiếng Anh, tiếng Pháp và từKultur của tiếng Đức, những từ này bắt nguồn từ chữ La Tinh Cultus vớinghĩa gốc là trồng trọt (đợc dùng theo hai nghĩa Caltus agri là “trồng trọtngoài đồng”, và cultus animi là “trồng trọt tinh thần”, tức là sự giáo dục, bồidỡng tâm hồn con ngời)
Nh vậy nếu xét theo nghĩa gốc, văn hóa gắn liền với giáo dục đào tạocon ngời, một tập thể con ngời để cho họ có đợc những phẩm chất tốt đẹp cầnthiết cho toàn thể cộng đồng
Phan Ngọc lại giải thích thuật ngữ này dựa vào ngôn ngữ Phơng Đông,
cụ thể là tiếng Hán Theo hớng tìm hiểu này ta thấy nghĩa gốc của “văn” là cái
đẹp do màu sắc tạo ra Từ nghĩa này, suy rộng ra, “văn” có nghĩa là hình thức
đẹp đẽ, biểu hiện trong lễ nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ c xử lịch
sự Nó biểu hiện thành một hệ thống quy tắc ứng xử đợc xem là đẹp đẽ, “văn”
do đó trở thành một yếu tố then chốt của chính trị và lý luận, thu hút nhữngngời dị tộc theo ngời Hán bằng chính cái văn của nó Từ những nghiên cứu thú
vị đó: “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” đa ra thuật ngữ: “Văn hóa làmối quan hệ giữa thế giới biểu tợng trong óc một cá nhân hay một tộc ngời vớimột thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân hay tộc ngời này mô hình hóa theocái mô hình tồn tại trong biểu tợng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan
hệ này, đó là văn hóa dới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa
Trang 12chọn riêng của cá nhân hay tộc ngời, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân haytộc ngời khác [42 - 17].
Cùng đồng tình với quan điểm trên, tác giả Trần Ngọc Thêm đã đa ra
định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ có giá trị vật chất và tinh thần docon ngời sáng tạo ra tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tơngtác giữa con ngời, giữa môi trờng tự nhiên và xã hội của mình” [57 - 27]
Chúng tôi nhận thức văn hóa trên cơ sở tiếp thu nhiều ý kiến, nhiềuquan niệm trong đó có cách định nghĩa của Bách khoa toàn th Liên Xô đã gợi
mở ra nhiều hớng suy nghĩ: “Khái niệm văn hóa dùng để chỉ trình độ pháttriển về vật chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, họ tộc cụ thể (ví dụ:Văn hóa cổ, văn hóa Maya, văn hóa Trung Quốc ) theo nghĩa hẹp, văn hóachỉ liên quan tới đời sống tinh thần của con ngời.”
Nh vậy hiện tợng văn hóa bao gồm hai yêu tố: Văn hóa vật chất và vănhóa tinh thần Văn hóa vật chất có thể đợc hiểu là toàn bộ kết quả vật chất
“nhìn thấy đợc” của lao động con ngời Còn văn hóa tinh thần là sự sản xuất,phân phối và tiêu dùng các giá trị tinh thần (nói theo thuật ngữ của chính trị,kinh tế học) với t cách là một hiện tợng văn hóa, bao gồm nhiều giá trị vậtchất và tinh thần, văn hóa đã và đang đợc một cộng đồng ngời tích lũy Nó
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành từng cá nhân con ngời riêng lẻ
Trong mối quan hệ với con ngời, văn hóa chia ra hai loại: Văn hóa xãhội và văn hóa cá nhân UNESCO xác định “Văn hóa hôm nay có thể coi làmột tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúcquyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm ngời trong xã hội Văn hóabao gồm nghệ thuật và văn chơng, những lối sống, những quyền cơ bản củacon ngời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngỡng Vănhóa đem lại cho con ngời khả năng suy xét về bản thân”
Nghiên cứu về văn hóa, tác giả Phan Ngọc chỉ ra “ dân tộc nào cũng
có văn hóa, bất kỳ cái gì ta hình dung cũng có mặt văn hóa, dù đó là cây cối,khí trời đến phong tục, cách tổ chức xã hội, các hoạt động sản xuất vật chất vàtinh thần, các sản phẩm của các hoạt động ấy” [42 - 14]
Định nghĩa trên đã đề cập đến vấn đề đặc trng dân tộc của văn hóa Cóthể thấy rằng cả nhân loại cùng nói bằng “ngôn ngữ” nhng mỗi một dân tộc lại
có một ngôn ngữ riêng của mình Điều này liên quan đến vấn đề phân biệt haikhái niệm văn hóa và văn minh Văn minh liên quan đến mặt động, sự tác
động của con ngời với thế giới tự nhiên, cải tạo và phát triển chúng Trên thực
Trang 13tế, có những dân tộc có trình độ văn minh cao nhng có thể có nền văn minhthấp, và có đất nớc lạc hậu lại có nền văn hóa cao Nh vậy đặc trng văn hóa cótính dân tộc, còn văn minh lại mang tính quốc tế Văn hóa và văn minh cònkhác nhau ở tính lịch sử Trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì vănminh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển của vănhóa
Chung quy lại văn hóa là tất cả những gì do con ngời sáng tạo ra Vìcuộc sống sinh tồn con ngời sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạthằng ngày Toàn bộ sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa
1.1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Có thể nhận thấy rằng ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ dân tộc và vănhóa dân tộc có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chúng phát triển trong
sự tác động qua lại lẫn nhau Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đợc đềcập tới từ cuối thể kỷ XIX, bắt đầu từ công trình của nhà ngôn ngữ học ngời
Đức W.V.Hum boldt
Hoạt động ngôn ngữ và hoạt động văn hóa là những hoạt động tinhthần, giúp cho xã hội phát triển chúng đều có lịch sử lâu dài và song hành tồntại Ngôn ngữ là phơng tiện, cầu nối mở rộng giao lu trao đổi, hiểu biết về vănhóa giữa các cộng đồng ngời Ngôn ngữ là phơng tiện cũng là tiền đề giúp chovăn hóa phát triển
Ngôn ngữ là một thành tố của văn hóa nhng là thành tố quan trọng củavăn hóa vì ngôn ngữ không chỉ biểu thị văn hóa mà còn có chức năng giao tiếp
và chức năng t duy Ngôn ngữ không tồn tại ngoài văn hóa mà là điều kiệnthiết yếu cho sự phát triển của văn hóa
Trong nhân chủng học xã hội, ngôn ngữ đợc xem nh một yếu tố hay bộphận hữu cơ của văn hóa Đồng thời trong ngôn ngữ học thế giới có một xu h-ớng phổ biến là nghiên cứu văn hóa tơng tự nh nghiên cứu ngôn ngữ
Trong quá trình phát triển ngôn ngữ dân tộc và văn hóa dân tộc luônluôn nơng tựa lẫn nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngợc lại “Quanniệm của mỗi dân tộc về thế giới đợc khúc xạ độc đáo trong bức tranh ngônngữ của mình Bức tranh ngôn ngữ ấy lại có ảnh hởng trở lại đến sự tri giác
đặc thù đối với hiện thực của những ngời thuộc cộng đồng văn hóa - ngôn ngữtơng ứng” [3 - 133 ]
Trang 14Tuy nhiên ngôn ngữ vẫn là thành tố độc lập của văn hóa, chiếm vị trí
đặc biệt trong nền văn hóa dân tộc Có thể xem ngôn ngữ là một trong nhữngthành tố đặc biệt nhất, rõ ràng nhất của bất kỳ nền văn hóa nào Ngôn ngữ làchỗ lu trữ, bảo tồn và thể hiện rất rõ đặc điểm của văn hóa Đó là biểu hiệncho chức năng lu trữ của ngữ nghĩa Ngợc lại văn hóa cũng có vai trò nhất
định đối với ngôn ngữ, văn hóa đi vào ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ có giá trịnhất định Chính những đặc thù của văn hóa đợc biểu hiện trong ngôn ngữ đãquy định đặc trng văn hóa dân tộc của hành vi nói năng ở những ngời thuộccộng đồng văn hóa ngôn ngữ khác nhau
1.2 Đặc điểm các loài cây, loài hoa trong đời sống và trong nghệ thuật
1.2.1 Đặc điểm các loài cây trong đời sống
Việt Nam là một nớc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nênthảm thực vật phát triển mạnh mẽ, cây cối quanh năm xanh tơi Trong cuốn
“Thiên nhiên Việt Nam”, tác giả Lê Bá Thảo đã thống kê và đa ra số liệu:Rừng bao phủ đến 43,8% diện tích đất nớc, ớc tính có 12.000 loài, cây trồnggồm đến hơn 200 loài (trong số 270 loài thấy có mặt ở Đông Nam á) Trongcuốn “Đại nam nhất chí thống” phần thổ sản, các soạn giả viện Hán Nôm đãliệt kê đợc 44 giống lúa tẻ, 38 tên giống lúa nếp đợc trồng ở Việt Nam (tính
đến giữa thế kỷ XIX), ngoài ra còn 20 loại ngũ cốc, 19 loại rau, 32 loại câycho quả
Do đặc điểm của môi trờng tự nhiện và thực vật chiếm một vị trí quantrọng đặc biệt trong đời sống, sinh hoạt, văn hóa của ngời Việt Nam Trongthực tế thực vật gắn bó với con ngời Việt Nam trong mọi hoạt động thiết yếunhất của cuộc sống Trớc hết là những biểu hiện trong những bữa ăn hàngngày Hai thành phần cơ bản không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của ngời dânViệt đó là cơm và rau - hai thành phần ấy đều có nguồn gốc từ thực vật Quantrọng không kém là ngôi nhà ở Thuở xa, con ngời sống trong những ngôi nhà
đơn sơ, giản dị đợc dựng lên bởi những chất liệu có nguồn gốc từ thực vật nhtranh, tre, nứa, lá các bức vách quanh nhà cũng đợc trộn bởi bùn non và rơmrạ đã phơi khô Rồi những mái đình - ngôi chùa nơi sinh hoạt văn hóa, tôn giáo,tín ngỡng - thuở sơ khai cũng đợc xây dựng từ cây gỗ lấy ở rừng núi, làng quêthân thuộc Các bức tợng, bức tranh trng bày thờ cúng ở những chốn linhthiêng, trang trọng ấy phần lớn cũng đợc dệt bởi cây lá quê hơng nh cây cói,cây trúc Trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của ngời dân Việt thời xa và
Trang 15ngay cả thời nay cũng không thể thiếu thực vật Để phục vụ cho nhu cầu ănuống, ngời dân Việt đã sử dụng rơm rạ, củi, có nguồn gốc từ thực vật để đunnấu, sử dụng các loài cây thực vật để chế biến nớc uống - một phần thiết yếucủa cơ thể, của cuộc sống Trong đời sống sinh hoạt ngời Việt còn sử dụng gỗcủa các thân cây to để làm giờng, tủ, bàn ghế phục vụ cho đời sống của mình
Nh vậy để tiến hành mọi hoạt động, ngời Việt xa đã coi thế giới thực vật quanhmình là phơng tiện, là nguyên - vật liệu, là những công cụ khó có gì thay thế.Vậy mới biết thiên nhiên nói chung, thế giới thực vật nói riêng có tầm quantrọng rất lớn đối với ngời dân lao động Việt Nam
Không chỉ thế, đời sống tinh thần của ngời Việt cũng mang đậm dấu ấncủa thế giới thực vật Một trong những tín ngỡng cổ sơ nhất của ngời Việt còn
lu giữ đến tận ngày nay là tục thờ cây Trong đó cây lúa là loài đợc tôn sùngnhất, biểu hiện rõ nét ở một hệ thống tín ngỡng phong phú nh: Thờ thần lúa,hồn lúa, mẹ lúa Ngoài ra, còn một số loài cây, hoa quả nh: Cây cau, câu đa,cây đề, cây gạo, quả bầu, hoa sen cũng đợc nhân dân Việt Nam đề cao tônthờ
Cả đời sống vật chất và tinh thần của ngời dân Việt gắn bó với thực vật
nh vậy nên ở con ngời Việt Nam đã hình thành một nét tâm lý đặc trng làthích sống gần gũi, chan hòa, hớng đến với sự giao hòa với thiên nhiên, hoatrái, cỏ cây Bản thân cây cỏ, hoa trái vốn chỉ có đời sống thực vật nhng đãtồn tại đồng hành với con ngời đất Việt từ ngàn đời, trở thành một phần khôngthể thiếu trong đời sống của họ Ngời dân lao động xem cỏ cây là bầu bạn, là
ân nhân vì đã mang lại biết bao giá trị cho cuộc sống của con ngời Nên đãthổi linh hồn vào cây cỏ hoa trái, gửi gắm vào chúng biết bao tâm t, ớc vọng,tình cảm thiết tha Thế giới thực vật trở nên sống động, trở thành một thế giớibiểu tợng giàu ý nghĩa Nh vậy, hình ảnh cây trái đã trở thành biểu tợng tựnhiên, quá trình thích nghi, sử dụng và cả tấm lòng biết ơn vô hạn đối vớithiên nhiên
1.2.2 Đặc điểm cây trong nghệ thuật
Thiên nhiên nói chung, cây cối nói riêng không chỉ gắn bó với con ngờitrong cuộc sống, mà nó còn đi vào trong các sáng tác nghệ thuật Nó là nguồncảm hứng, là chất liệu trong các tác phẩm nghệ thuật nói chung, các sáng tácvăn học, các tác phẩm điêu khắc cũng nh nghệ thuật tạo hình nói riêng
Trớc hết trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thiên nhiên đã đi vào trong
ca dao, dân ca cổ truyền với t cách là một yếu tố cấu tứ rất đa dạng Khi thì
Trang 16d-ới dạng thời gian, khi thì dd-ới dạng không gian, nhng đặc biệt hơn cả là thiênnhiên xuất hiện trong ca dao dới dạng cây cỏ… “trúc xinh trúc mọc bờ ao”, “trúc xinh trúc mọc bờ ao”,
“rau muống bắt cuống rau răm”, “làm giàn cho mớp nó leo” Việc thiên nhiênxuất hiện nhiều và đa dạng nh vậy trong ca dao và dân ca cổ truyền phản ánh
sự gắn bó của ngời nông dân Việt Nam với môi trờng thiên nhiên vốn cũng làmôi trờng lao động, môi trờng sinh sống của họ Từ sự kế thừa ca dao, dân ca
cổ truyền, nền văn học viết sau này cũng đã lấy cây cối làm đề tài, chủ đề chotác phẩm văn học Đã có rất nhiều nhà thơ, nhà văn mang thiên nhiên cây cốivào trong tác phẩm của mình nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ với nhiều bàithơ viết về cây tùng, cây bách, cây thông, cây trúc… “trúc xinh trúc mọc bờ ao”,
Ví dụ nh: “Hoa liễu chiều xuân cũng hữu tình
Ưa mày vì bởi tiết mày thanh
Đã từng có tiếng trong trời đấtQuân tử ai chẳng mảng danh”
(Trúc - bài 1 - Nguyễn Trãi)Hay: “ Trúc thông hiên vắng trong khi ấy”
( Ngôn chí - bài 4)Nguyễn Du - tác giả của “Truyện Kiều” nổi tiếng cũng đã mợn hình
ảnh của cây cối để tả cảnh, tả tình:
Cỏ non xanh rợn chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoa
( Truyện Kiều - Nguyễn Du)Không chỉ xuất hiện nhiều trong văn học trung đại mà trong văn học hiện
đại cây cũng thành đề tài chính cho rất nhiều tác phẩm nổi tiếng nh: Tác phẩm
“cây tre Việt Nam” của Thép Mới, “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy… “trúc xinh trúc mọc bờ ao”,
Tre xanh, xanh từ bao giờChuyện ngày xa đã có bờ tre xanhThân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi
( Tre Việt Nam - Nguyễn Duy)Thiên nhiên nói chung, cây cối nói riêng còn có vai trò quan trọngtrong nghệ thuật kiến trúc của ngời Việt Thiên nhiên ảnh hởng không nhỏ
đến phong cách dân tộc của kiến trúc Việt Ngôi nhà Việt Nam luôn gắn liềnvới thiên nhiên, cây cối Bố cục kiến trúc, hình thức của ngôi nhà luôn thểhiện đợc tính thâm nhập, tính hoà hợp giữa môi trờng bên trong với thiên
Trang 17nhiên bên ngoài Những ngôi nhà trơ trụi, không cây cối với những mảng ờng lớn, những mảng cửa kính lớn nh một số nhà máy công trình công cộng
t-đều xa lạ đối với ngời Việt Ngôi nhà của ngời Việt luôn thể hiện vai trò tolớn của cây cối trong nghệ thuật kiến trúc, với những cây dừa quanh ao,những rặng vải, rặng nhãn hai bên vờn nhà, những hàng cau trớc và sau vờn,những giàn hoa lý, hoa giấy, những cây đại trớc cổng nhà gợi đợc nhiều hìnhtợng độc đáo và đã ăn sâu vào tiềm thức, vào tình cảm dân tộc ta hàng thế kỷnay
Cây không chỉ gắn bó với văn học nghệ thuật, với kiến trúc mà còn gắn
bó với nghệ thuật tạo hình Nghệ thuật tạo hình có những đặc thù về tính dântộc và cấu trúc thiên nhiên trong nghệ thuật tạo hình cũng tạo nên tình cảmdân tộc: Rặng tre trồng quanh thôn xóm, từ con đờng trồng muỗm, ngọn đồiken sít tre pheo Và những cánh đồng nhiều kiểu, nhiều thế, nhiều màu sắccủa đất nớc ta đã gợi lên sức sống của dân tộc Chính vì thế mà không ít tácphẩm hội họa đợc các tác giả đa vào tranh của mình hỉnh ảnh các loại cây cối
Ví dụ: Bức “Tát nớc đồng chiêm” tác giả Trần Văn Cẩn đã đa vào trong tranhmột cuộc sống mới dâng lên trong lòng cảnh vật Việt Nam với đồng lúa,luống rau xanh, vói hình ảnh con cò và khóm tre quen thuộc Đặc biệt nhất làkhóm tre đang mùa thay lá Tác giả Nguyễn Văn Tỵ cũng có bức “Nhà tranhcây mít”, rồi hàng loạt các tác phẩm tranh dân gian truyền thống cũng lấy đềtài từ cây cối nh tranh “Trâu sen”, tranh “Hứng dừa”
Ngoài ra cây cối còn gắn bó với nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ của
ng-ời Việt Trong các công trình nh: Đình chùa, miếu mạo, nhà cửa và các vậtdụng khác chúng ta đều thấy hình ảnh của các loài cây nh cây tùng, cây bách,cây tre, cây trúc Đặc biệt hơn trong thời đại ngày nay, khi nhu cầu thởngthức cái đẹp ngày càng cao thì một số loài cây đã đợc đa vào trong nghệ thuậtchơi cây cảnh của ngời dân Việt
1.2.3 Đặc điểm của hoa trong đời sống
Trong đời sống hoa là một hiện tợng tự nhiên của quá trình phát triểncủa sinh vật Đó là hiện tợng tiếp nhận hoạt động của trời, bao gồm hoạt độngsoi chiếu ánh sáng, hoạt động của ma và sơng đồng thời là sự phát triển từ đất
và nớc
Khi nói về đặc điểm của các loài hoa trớc hết chúng ta thờng nghĩ ngay
đến màu sắc, đặc điểm hình dạng, cấu tạo của hoa Đó là đặc điểm chungnhất, khái quát nhất của hoa, nhng đó cũng là đặc điểm cụ thể riêng biệt của
Trang 18tất cả các loài hoa Bời vì trong thế giới muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đãtạo ra trong thế giới này, mỗi một loài có một màu sắc riêng biệt, có đặc điểmhình dạng, cấu tạo riêng không có loài hoa nào giống loài hoa nào.
Trong đời sống có rất nhiều loài hoa khác nhau, có loài hoa gắn liền với
đời sống con ngời nh: Hoa đào, hoa mai, hoa hồng, hoa cúc, hoa sen Đây lànhững loài hoa gắn liền và tồn tại song song với nét đẹp văn hóa ngày lễ, ngàytết của ngời việt Nam Trong ngày tết cổ truyền của ngời Viêt Nam hoa đào làloài hoa mang tính chất đặc trng của ngày tết ở miền Bắc, và ngợc lại ở miềnNam hoa mai là loài hoa biểu trng cho ngày tết Bên cạnh ngày tết cổ truyềnthì vào ngày rằm, ngày giỗ các loài hoa nh hoa cúc, hoa sen là các loài hoa th-ờng đợc dùng để cúng lễ Ngoài ra hoa hồng là loài hoa không thể thiếutrong các ngày lễ lớn ở Việt Nam Đó là loài hoa gắn liền với tình yêu đôi lứa
Không chỉ là những loài hoa gắn bó với con ngời, gắn liền với nét đẹpvăn hóa của dân tộc mà còn có những loài hoa dại, loài hoa mọc một cách tựnhiên không đợc con ngời quan tâm để ý tới Những loài hoa này thờng mọchoang bên đờng, mọc ở núi non hoang dã, làm hàng rào nh: Hoa trinh nữ (haycòn gọi là hoa thẹn), hoa mua, hoa sim, hoa dâm bụt
Trong thế giới muôn vàn loài hoa của tự nhiên ấy ta thờng bắt gặp một
số loài hoa nh sau:
* Hoa Đào:
Hoa mọc đơn độc, nở cùng với lúc cây ra lá, khác với loài hoa mơ nởsau khi cây ra lá Cuống hoa rất ngắn, gần nh không có cuống Đài có ốnghình chuông, thùy hình đứng, có nhiều lông Tràng hình trứng ngợc, màuhồng Nhị nhiều, từ 35 - 40 nhị, đài bằng cánh hoa Hoa nở vào mùa xuân
đúng vào dịp tết Nguyên Đán Đào có hai loại.: Đào Nhật Tân hoa to, đẹp,cánh màu hồng đậm gọi là “Bích đào”, ngoài ra còn có giống đào hồng nhạtgọi là “Đào phai”
* Hoa Hồng:
Còn gọi là hoa hờng Cây bụi, cành non, có nhiều gai cong mập Hoahợp thành ngũ thức ở đỉnh hoặc đơn độc ở nách lá Hoa to, cánh hoa lớn, màusắc đa dạng: Đỏ, trắng, hồng, cam có mùi thơm Đế hoa lõm, lá đài có mặtngoài nhẵn, mặt trong có lông, cánh hoa lõm do nhị hoa biến đổi thành, xếpthành nhiều lớp Nhị hoa, chỉ nhị nhẵn, bao phấn hình bầu dục, vòi nhụy thờngngắn hơn nhị Lá noãn nhiều, rời và nằm trong đế hoa Đế hoa về sau tạothành một quả giả hình trứng ngợc Ra hoa quanh năm
* Sen Hồng:
Trang 19Cây có thân hình trụ mọc trong bùn, lá mọc lên khỏi mặt nớc, có cuốngdài Hoa to màu trắng hay đỏ hồng, lỡng tính nhiều nhị Nhị có phần phụ gọi
là gạo sen, có hơng thơm ngát, dùng để ớp chè Nhiều tâm bì rời đựng trong
đế hoa lọc thành gơng sen Ra hoa trong suốt mùa hè đến mùa thu thì tàn lụi
* Hoa Nhài:
Cây bụi, cụm hoa mọc ở ngọn, lá bắc hình sợi chỉ Hoa màu trắng, thơmngát, nở về đêm Đài có lông, ống hình chuông, mời thùy hình dải Tràng cóhình khỏe, thờng có mời thùy, nhụy ngắn, bầu cụt, đầu nhụy không vợt quácác thùy đài Ra hoa vào mùa hè, thu Đợc trồng phổ biến làm cảnh Hoa dùng
ớp chè
* Hoa Chanh:
Hoa chanh mọc riêng lẻ hay thành chùm nhỏ 2-3 chiếc Mỗi hoa cónăm cánh, phía trong cánh hoa màu trắng, phía ngoài phớt tía hay tím Đàihình tam giác, nhị nhiều, ra hoa vào mùa xuân
Nh vậy có thể thấy rõ một điều rằng, hoa có vai trò ý nghĩa rất lớn trong
đời sống con ngời Đối với nhiều ngời hoa là thú vui, là sở thích là cuộc sốngcủa họ Chính vì thế mà họ su tầm chăm sóc hoa, trồng hoa làm cây cảnh, họdồn hết tâm huyết cho hoa Còn trong cuộc sống bề bộn hằng ngày với bao lotoan mệt mỏi thì hoa là món ăn tinh thần, hoa đem lại sự tơi trẻ cho đời Cuộcsống của chúng ta sẽ mất đi d vị, mất đi sự mềm mại, lãng mạn nếu nh không
có các loài hoa
Có một nhà văn đã nói: “Cuộc đời là gì? là một chiếc xe bò thô kệchnhng lại chất đầy những bó hoa ngạt ngào hơng sắc”
Hoa chính là thứ tô điểm không thể thiếu trong cuộc sống Hoa tợng
tr-ng cho vẻ đẹp diễm lệ khôtr-ng thể chối cãi đợc của thế giới này, mặc dù trotr-ngthế giới ấy con ngời đã từng phải nếm muôn vàn đắng cay đau khổ
Trang 20Là một sản phẩm kỳ diệu của thiên nhiên, không những có sắc mà lại
có hơng Hoa có thể so sánh đợc với ngọc Nhng khác với Ngọc và sinh độnghơn Ngọc, hoa mang trong mình sự sống mơn mởn
Hoa còn là cầu nối đa con ngời xích lại gần nhau hơn, làm cho con ngờitrở nên mềm mại hơn, tình cảm hơn Ngoài ra hoa còn là hình thức để trang trítrong nhà, trong bàn tiệc, trong phòng họp
Hoa là một hình thức thẩm mỹ của cuộc sống, hoa biểu tợng cho cái
đẹp, cho sự hoàn hảo, chính vì vậy khi con ngời tặng hoa cho nhau, đó là hìnhthức họ tặng nhau vẻ đẹp, sự hoàn hảo và cả tình yêu thơng tràn đầy
Nói chung hoa có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống con ngời,hoa làm cho con ngời ta đẹp hơn, trong sáng hơn và hoàn mỹ hơn
1.2.4 Đặc điểm của hoa trong nghệ thuật
Trong sáng tạo nghệ thuật hoa đã trở thành một đối tợng để miêu tả, đểsáng tạo Hoa biểu tợng cho cái đẹp, cái hoàn mỹ, mà nghệ thuật phản ánh cái
đẹp, cho nên hoa trở thành đối tợng của nghệ thuật, là hình mẫu phát triển củanghệ thuật Hoa xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật Dới conmắt ngời, hoa cũng có cảm xúc, cũng cời nói, lả lơi đùa cợt, cũng tơi vui sầumuộn, cũng “yêu” và than thở, dỗi hờn y hệt nh tính tình của một ngời congái, cho nên có thể ví “thế giới hoa” với “thế giới của các nàng con gái”
Tuy nhiên cũng không ít các bậc hiền nhân quân tử ví mình với một loàihoa nào đó, nh hoa sen, hoa cúc, hoa bạch mai bởi vì họ cảm thấy ngoài vẻ
đẹp hình thức những thứ hoa ấy tợng trng cho tâm hồn thanh cao thánh thiện
Ngoài phụ nữ có lẽ các nhà thơ cổ kim là ngời yêu hoa hơn cả Bằngnhững cảm xúc vô cùng tinh tế sâu sắc, họ đã phát hiện đợc thế giới bên trongcủa các loài hoa, viết lên những vần thơ tuyệt diệu
Phải chăng thơ ca rực rỡ muôn màu và thơm tho ngàn thuở một phầnkhông nhỏ nhờ vào hơng sắc của các loài hoa Đã có rất nhiều tác phẩm thơcủa các tác giả nổi tiếng viết về hoa Đó bao gồm những nhà thơ nổi tiếng thếgiới nh Tagor, Puskin, Đỗ Phủ và cả các nhà thơ trong nớc nh: Nguyễn Trãivới một loạt bài thơ viết về hoa “Hoa đào”, “Hoa dâm bụt”, “Hoa sen”, “Hoamai”, “Hoa nhài” Xuân Quỳnh: “Hoa cúc”, “Bao giờ ngâu nở hoa” NguyễnBính: “Đóa hoa hồng” hoa còn là đối tợng miêu tả, sáng tạo của ca dao,nghệ thuật điêu khắc và hội họa
Trang 21Khi đi vào các tác phẩm nghệ thuật, hoa thờng mang ý nghĩa tợng trng.
Đó là ý nghĩa chủ quan của ngời nghệ sỹ Các nhà nghệ sỹ đã mợn hình ảnhcủa hoa để bộc lộ t tởng tình cảm của mình
Hoa mang ý nghĩa tợng trng cho cái đẹp Trong hầu hết các tác phẩmthơ ca kim cổ khi viết về hoa là viết về cái đẹp, vẻ đẹp nguyên sơ thánh thiệncủa các loài hoa Vẻ đẹp của hoa tợng trng cho vẻ đẹp con ngời, vẻ đẹp củahình thức và cả tâm hồn Điều đó có nghĩa là hoa biểu trng cho cái đẹp chừngmực
Ngoài ra hoa còn biểu trng cho các ý tởng thẩm mỹ khác Nghệ thuậtcắm hoa cũng mang lại một ý nghĩa tợng trng rất đặc biệt Hoa còn là biểu tr-
ng cho trạng thái thiên trờng trên mặt đất Thánh Jran dela Goix coi hoa làhình ảnh của những đức tính của tâm hồn và bó hoa - tập hợp của những bônghoa - là hình ảnh của sự hoàn hảo tinh thần Với Navalis hoa là biểu tợng củatình yêu và sự hài hòa đặc trng cho bản chất nguyên khởi Bản chất này đồngnhất với biểu tợng của thời thơ ấu và theo một cách nào đó cùng với trạng tháithiên trờng trên mặt đất Bông hoa còn là biểu tợng của tính không bền vững,không phải là tính hay thay đổi, ý vốn dĩ là thuộc tính của phụ nữ mà là sựkhông bền vững thuộc về bản chất của con ngời đợc tạo ra để tiến hóa liên tục,
và cũng là biểu tợng một cách hết sức đặc biệt cho đặc tính thoáng qua của sắc
đẹp Những bông hoa còn đợc biểu tợng cho những linh hồn của ngời chết và
đặc biệt hoa còn biểu trng cho một trung tâm tinh thần, ý nghĩa của nó đợcxác định tùy theo màu sắc, nó làm lộ rõ sự định hớng của những xu hớng tâm
lý Màu vàng mang biểu tợng mặt trời, màu đỏ biểu tợng cho máu, màu xanhbiểu tợng điều không thực tế, mộng mơ Những sắc thái tâm lý biến đổi đadạng vô cùng
1.3 Đặc điểm của ca dao và thế giới thực vật trong ca dao
1.3.1 Về khái niệm ca dao
Ca dao, dân ca Việt Nam cũng nh các loại hình nghệ thuật khác đợcsáng tạo nên do nhu cầu của hiện thực đời sống lịch sử, xã hội của các thànhphần c dân trên lãnh thổ Việt Nam qua các thời đại
Cũng nh việc định nghĩa nhiều thuật ngữ khoa học khác thì thuật ngữ
“ca dao” cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhng nhìn chung các nhànghiên cứu thờng thống nhất rằng ca dao là một thể thơ dân gian đợc dân
Trang 22chúng sáng tác theo thể thơ lục bát là chủ yếu Trong quyển “Từ điển TiếngViệt” của Hoàng Phê có viết:
1 Thơ ca dân gian truyền miệng dới hình thức những câu hát, khôngtheo một điệu nhất định
2 Thể loại văn vần, thờng làm theo thể lục bát, có hình thức giống nh
ca dao cổ truyền [47 - 93]
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, và nó đợc dùng với nhiều nghĩarộng hẹp khác nhau Trớc đây ngời ta còn gọi ca dao là “phong dao” vì cónhững bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phơng, mỗi thời đại Xéttheo nghĩa gốc của từ nguyên thì “ca” là bài hát có khúc điệu đợc quy định rõrệt, còn “dao” là bài hát ngắn không có giai điệu chơng khúc Nếu chỉ hiểu cadao có ý nghĩa nh vậy thì về cơ bản ca dao và dân ca trùng nghĩa với nhau,không cần phân biệt và không thể phân biệt đợc Nhng trên thực tế danh từ cadao đã ngày càng rời xa nghĩa gốc và ngày cáng sống với nghĩa phát sinhnhằm chỉ phần lời của dân ca Tính xác định của ca dao ngày càng gắn liềnvới sự thu hẹp của nó Không phải toàn bộ phần lời trong dân ca đều là cadao mà nó chỉ có bộ phận lời thơ của dân ca Đó là phần lời cốt lõi có kết cấubền vững, ổn định và có tính trữ tình (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đ ahơi) Mặt khác ca dao cũng không bao giờ là phần lời của vè trữ tình, vè tự
sự, vè kể vật, kể việc, những bài hát dặm mang tính chất vè Do đó không thểnói chung ca dao là phần lời thơ của dân ca cũng không thể nói ca dao là thơdân gian Bởi vì khái niệm “thơ dân gian” rất rộng, bao gồm phần lời thơ củatất cả các loài dân ca và lời thơ trong các hình thức sáng tác dân gian khác
Vậy có thể nói: Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơsdân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng đợc hìnhthành tơng đối ngắn của ngời Việt Theo các tác giả chấp bút chơng III: Cadao, dân ca trong bộ giáo trình về “văn học dân gian” của trờng Đại học sphạm thì: “Ca dao là những bài hát có hoặc không có chơng khúc, sáng tácbằng văn vần dân tộc (thờng là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạttình cảm”
Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể đợc lu truyềnbằng miệng và đợc phổ biến rộng rãi trong nhân dân
Khi nói đến sáng tác tập thể có nghĩa là có câu có bài do một ngời xớnglên, sáng tác lần đầu hay thêm bớt sửa chữa ngay tại chỗ, hoặc là đợc truyềnmiệng và đợc ngời khác sửa chữa thêm bớt sau Có khi từ địa phơng này sang
Trang 23địa phơng khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, và cứ nh thế câu ca dao đợcthêm bớt, sửa chữa cho tới khi hoàn chỉnh cả lời lẫn ý.
Thuật ngữ “ca dao” đợc hiểu là “câu hát dân gian không có điệu khôngtheo một nhịp điệu nhất định” Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho rằng: “ xung quanh vấn đề ca dao, hiện tợng có nhiều điều cần đợc làm sáng tỏ cả vềhọc thuật cũng nh về yêu cầu nâng cao chất lợng nghệ thuật và nội dung cadao mới” Trớc hết để chọn lựa ca dao từ kho tàng ca hò ví hát dân gian, cho
đến nay trong giới nghiên cứu còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nhngchủ yếu nhìn theo ba xu hớng sau:
1 Ca dao gồm hầu hết các thể loại thơ ca: Các thể đồng giao, phơngngôn, tục giao, hát trống quân, quan họ, hát huê tình, các điệu hò, điệu lý
Đều từ một gốc là ca dao, chỉ có thêm tên gọi cụ thể hơn mà thôi và khôngbao hàm yếu tố diễn xớng
2 Ca dao là phần tinh túy trong kho tàng thơ ca dân gian đợc trauchuốt, chọn lọc kỹ, nó thờng là những câu, những bài hay, bóng bẩy, trữ tình
và thuần thục về ngôn từ
3 Ca dao là những sáng tác văn chơng đợc phổ biến rộng rãi trong dânchúng, lu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bềnvững về phong cách
1.3.2 Xuất xứ ca dao
Trong sinh hoạt văn học dân gian, có một bộ phận quan trọng là sinhhoạt ca hát Lĩnh vực ca hát dân gian của ngời Việt vô cùng rộng lớn, phongphú và đa dạng, bao gồm hàng trăm thể điệu với hàng ngàn những biếndạng khác nhau Mỗi thể điệu, cũng nh mỗi biến dạng của nó đều mangtính địa phơng và đều có tên gọi riêng do nhân dân của từng địa phơng đặt
ra một cách tự phát và mang tính tập thể Ví dụ: Hát xoan (Phú Thọ), hátquan họ (Bắc Ninh), hát giặm, hát ví (Nghệ Tĩnh), hò mái nhì, mái đẩy(Bình Trị Thiên)
Vì không có nhu cầu nghiên cứu tổng quát nên nhân dân nói chungkhông có xu hớng tạo ra những danh từ mang tính khái quát hóa cao nói về cahát dân gian Mà chỉ thấy một số ít danh từ có tính khái quát hoá ở mức độthấp, nh “hát huê tình”, “hát giao duyên”, “hát đối” chỉ chung cho các loại
đối ca nam nữ có hầu hết ở các địa phơng
Việc tạo ra những danh từ, những thuật ngữ chuyên môn có tính kháiquát và xác định cao trong lĩnh vực sáng tác dân gian cũng nh trong các lĩnh
Trang 24vực khác, nói chung đó là công việc của giới trí thức, gắn liền với nhu cầunhận thức vào hoạt động nghiên cứu của họ Căn cứ vào th tịch hiện có thì từcuối thế kỷ XVIII, giới trí thức – nho sĩ nớc ta trong thời phong kiến đã dựavào các tài liệu Hán học, nhất là “kinh thi” để tạo ra một số danh từ Hán Việtchỉ chung toàn bộ lĩnh vực ca hát dân gian (chủ yếu là phần lời), nh “phongdao”, “phong thi” (hoặc “quốc phong”, “phong sử” ) Đầu thế kỷ XX, xuấthiện thêm danh từ “ca dao”, song song tồn tại với danh từ “phong dao” Saucách mạng tháng 8 (1945), khái niệm ca dao, dân ca đợc sử dụng chính thứctrong bộ su tập công phu của nhà văn Vũ Ngọc Phan: “Tục ngữ, ca dao, dân caViệt Nam” và các giáo trình Đại học tổng hợp, Đại học s phạm Hà Nội Danh
từ “phong dao” ngày càng ít đợc dùng vì cơ bản nó đồng nghĩa với “ca dao” màtính khái quát lại thấp hơn, cho nên danh từ “ca dao” đợc dùng rộng rãi và trởthành thuật ngữ chính thức trong hoạt động nghiên cứu văn học dân gian
1.3.3 Nội dung và phận loại ca dao
Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Viêt Nam xem dồidào thắm thiết sâu sắc đến mức độ nào thì đi vào tìm hiểu ca dao Ca dao ViệtNam là những bài tình tứ, là khuôn thớc cho lời thơ trữ tình của ta Tình yêucủa ngời Việt Nam biểu hiện trong ca dao nhiều mặt Tình yêu lứa đôi, tìnhyêu gia đình, tình yêu làng xóm, tình yêu đồng ruộng, tình yếu đất nớc, tìnhyêu lao động, tình yêu giai cấp, tình yêu thiên nhiên, tình yêu hòa bình Không những thế, ca dao còn biểu hiện t tởng đấu tranh của nhân dân ViệtNam trong cuộc sống xã hội
Nh vậy ngoài biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của conngời, ca dao còn phản ánh ý thức lao động sản xuất của nhân dân lao động vàtình hình xã hội thời xa về các mặt kinh tế, chính trị Bởi thế ngời ta nói: Nộidung của ca dao chủ yếu là trữ tình
Vì ca dao phát triển một cách phong phú qua nhiều thế kỷ và gắn bó sâusắc với mọi mặt đời sống của nhân dân nên việc phân loại ca dao vô cùngphức tạp Việc phân loại ca dao chủ yếu dựa vào đặc điểm nội dung và hìnhthức nghệ thuật về lời thơ trong ca dao Chức năng chủ yếu của mỗi loại dân
ca đợc thể hiện trong mỗi thành tố của nó (lời, nhạc, điệu bộ)
Vận dụng tổng hợp các tiêu chí chính phụ khác nhau (chức năng, đềtài, đặc điểm thi pháp ) có thể phân ca dao thành các loại chính sau đây: Cadao trẻ em, ca dao lao động, ca dao đấu tranh giai cấp, ca dao ru con, ca daotrữ tình
Trang 251.3.4 Nghệ thuật của ca dao
Nói đến nghệ thuật của ca dao chúng ta thấy có rất nhiều vấn đề phảinói tới nh vấn đề phơng tiện (tức là ngôn ngữ), thể thơ và kết cấu
Ca dao là một trong những lĩnh vực văn hóa thể hiện rõ nhất, đậm đà,sâu sắc bền vững nhất tính dân tộc
Tính dân tộc của ca dao đợc thể hiện trong nhiều phơng diện, yếu tốkhác nhau nh: Đề tài, chủ đề, thể thơ Nhng quan trọng nhất và cơ bản nhất là
ở ngôn ngữ
Không có ngôn ngữ dân tộc thì cũng không có cơ sở và điều kiện sángtạo và xây dựng nên các thể thơ dân tộc nhờ biết dựa vào ngôn ngữ dân tộc,khai thác và sử dụng ngôn ngữ dân tộc đúng với đặc điểm và quy luật pháttriển của nó mà nhân dân ta qua nhiều thế hệ đã tạo nên một nền thơ ca dângian phong phú đậm đà bản sắc dân tộc Và chính nhờ nền thơ ca dân gianphong phú ấy đã góp phần làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng phong phú đ-
ợc củng cố và phát triển hơn Đó là quy luật phổ biến của mối quan hệ qua lạigiữa văn học và ngôn ngữ các dân tộc
Ngôn ngữ trong ca dao vừa có tính dân tộc lại vừa có tính địa ph ơng vìvậy nó rất đa dạng phong phú lại vừa thống nhất
Khi sáng tác ca dao, nhân dân đã lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ theoyêu cầu của nghệ thuật thơ ca để bộc lộ tình cảm và những cảm xúc thẩm mỹ
mà ngôn ngữ thông thờng trong giao tiếp hàng ngày không thể nói rõ, chínhxác đợc Vì thế ngôn ngữ trong ca dao vừa giống vừa khác với ngôn ngữ tronggiao tiếp hàng ngày Ngôn ngữ trong ca dao rất giàu sắc thái biểu cảm, tínhchất biểu trng, ớc lệ, ẩn dụ, tợng trng
1.3.4.2 Thể thơ trong ca dao
Ca dao là phần lời của dân ca, do đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh
ra từ dân ca Các thể thơ trong ca dao cũng đợc dùng trong các loại văn dângian khác nhau nh: Tục ngữ, câu đối, vè có thể chia các thể thơ trong ca daolàm bốn loại chính sau:
Trang 26- Thể lục bát: Đây là thể thơ sở trờng nhất trong ca dao Nó bao gồmmỗi câu hai dòng hay hai vế trên sáu âm tiết, dới tám âm tiết Thể thơ này đợcphân thành hai loại là lục bát chính thể và lục bát biến thể.
- Thể song thất lục bát: Tuy không đợc dùng nhiều trong ca dao bằngthể lục bát, nhng song thất lục bát là một thể thơ dân gian bắt nguồn từ dân ca,mang cốt cách dân tộc độc đáo
- Thể vãn: Thể vãn bao gồm vãn hai, vãn ba, vãn bốn, vãn năm tức làcác thể thơ đơn giản thờng đợc dùng trong đồng giao và những lời ca khẩnnguyện
1.3.4.3 Kết cấu của ca dao
Phạm vi kết cấu của ca dao rất rộng, bao gồm sự tổ chức thanh điệu,vần, nhịp, tổ chức nội dung cấu tạo, ý, tứ, đoạn mạch, độ ngắn dài Vì vậy sựnghiên cứu lý giải một cách toàn diện các phơng diện khác nhau của kết cấu
ca dao là rất khó và đến nay mới chỉ có một số nhận xét bớc đầu về một số
ph-ơng diện nhất định Xét theo quy mô (độ dài ngắn) có thể phân ca dao (chủyếu là ca dao lục bát, bộ phận lớn nhất của ca dao) thành ba loại chính
+ Loại ca dao ngắn từ một đến hai câu
+ Loại ca dao trung bình từ ba đến năm câu
+ Loại ca dao dài từ sáu câu trở lên
Xét theo phơng thức thể hiện diễn đạt từ ca dao, có ba phơng thức thểhiện đơn và ba phơng thức thể hiện kép:
- Trần thuật kết hợp với đối thoại
- Trần thuật kết hợp với miêu tả
- Kết hợp cả ba phơng thức: Trần thuật, miêu tả, kết hợp
1.3.5 Những biểu hiện cụ thể của cây và hoa trong ca dao
Ca dao là một loại hình nghệ thuật có vị trí rất quan trọng đối với ngờiViệt Nam Thế giới các biểu tợng thể hiện trong ca dao rất đa dạng và phongphú Một trong những biểu tợng tiêu biểu trong ca dao là biểu tợng thực vật
“thiên nhiên nói chung và cỏ cây hoa lá nói riêng tràn ngập trong ca dao, làm
Trang 27cho ca dao trở nên mềm mại bay bổng, xanh ngắt tình đời” [15 - 54] Tuynhiên không phải mọi loại cây, loại hoa trong thế giới tự nhiên đều trở thànhbiểu tợng trong ca dao Trong ca dao, có một số loài cây, loài hoa chỉ xuấthiện trong vai trò gợi hứng, tạo khung cảnh, không liên quan đến nội dungchính của lời ca dao Nghĩa là chúng chỉ mang ý nghĩa biểu vật Đáng lu ýnhất là sự xuất hiện của các loài cây, loài hoa có ý nghĩa biểu niệm
Qua khảo sát thống kê 12.487 lời ca dao của “Kho tàng ca dao ngờiViệt” chúng tôi thấy có 2.019 lời ca dao nói về tên các loài cây, 925 lời ca daonói về tên các loài hoa Trong đó có 140 loài cây và 72 loài hoa xuất hiện, có
12 loài cây hoa đợc sử dụng trong vai trò là biểu tợng thực vật với tần số xuấthiện cao Cụ thể trầu cau 293, đào 103, trúc mai 102, tre 76, liễu 62, đa 58,nhài 36, lý 34, khế 25, ngô đồng 23… “trúc xinh trúc mọc bờ ao”,
Nội dung mà các lời ca dao có tên các loài cây, loài hoa thờng phản ánh
có nhiều nội dung khác nhau: Đó là những lời ca dao nói về tình yêu, ca dao
về lao động sản xuất, ca dao về ca ngợi quê hơng đất nớc, ca dao về thân phậncủa ngời phụ nữ
Tiểu kết:
Từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá chúng tôi đi tìm hiểu đặc điểm ngữpháp - ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cây và hoa trong ca dao và nhận thấy Bằngnhững loài cây, loài hoa trong đời sống hằng ngày, cha ông ta xa đã sử dụngchúng trong những lời ca dao và lấy đó làm những phơng tiện ngôn ngữ đắcdụng trong việc tạo lập lời ca với t cách là một loại hình đơn vị đặc sắc củavăn hoá Việt Nam Các loài cây cỏ, hoa lá đợc sử dụng với tần số cao để gắnliền với không gian văn hoá Việt Nam
Tìm hiểu đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cây và hoatrong ca dao, là chúng ta đã chỉ ra cách, lối diễn đạt ngôn từ của ngời dân lao
động xa, nhằm nhận thức rõ hơn t duy văn hoá về thiên nhiên nói chung, vềthế giới thực vật nói riêng của ngời dân Việt
Trang 28Chơng 2
Đặc điểm ngữ pháp của các từ ngữ chỉ cây và hoa
trong ca dao ngời Việt
2.1 Số liệu thống kê và phân loại
2.1.1 Số liệu thống kê
Có thể nói rằng tên gọi các loài cây, loài hoa đã đợc nhân dân ta đa vào
sử dụng trong kho tàng thơ ca dân gian khá phổ biến và rất phong phú Nó trởthành một đặc điểm tiêu biểu và rất độc đáo để cho chúng ta tìm hiểu Thếgiới các biểu tợng thể hiện trong ca dao cũng rất phong phú và đa dạng Nó cóthể bắt nguồn từ các hiện tợng tự nhiên nh: Trăng, sao, hoa, lá, bớm, ong, mâyma cũng có thể là các vật thể nhân tạo nh thuyền, bến, áo, khăn, đình,chùa Để so sánh tợng trng cho tình cảm, tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hơng
đất nớc của ngời dân lao động thì hình ảnh các loài cây, loài hoa cũng đợc tácgiả dân gian sử dụng khá nhiều
Khi khảo sát cuốn “Kho tàng ca dao ngời Việt” 2 tập của Nguyễn XuânKính, Phan Đăng Nhật, nhà xuất bản văn- hóa thông tin, chúng tôi thấy rằng têncác loài cây, loài hoa xuất hiện trong ca dao đã đem lại những điều độc đáo và
ý nghĩa Nó góp phần thể hiện sự đặc sắc trong nghệ thuật biểu hiện của ca dao,cũng nh tâm t tình cảm của con ngời Việt Nam bao đời nay
Qua khảo sát thống kê, chúng tôi thấy tần số xuất hiện của tên gọi cácloài cây, loài hoa trong ca dao là khá lớn Cụ thể nh sau: Khi thống kê trongcuốn “Kho tàng ca dao ngời Việt” với 12.487 bài ca dao thì có 2.019 bài cadao nói về tên gọi các loài cây chiếm 16,2%, 925 bài nói về tên gọi các loàihoa chiếm 7,4% Có những loài cây, loài hoa xuất hiện rất nhiều lần trong rấtnhiều bài ca dao khác nhau, và cũng có những bài ca dao nói về rất nhiều têncủa các loài hoa, loài cây Tên các loài cây, loài hoa xuất hiện nhiều trong cadao cho thấy nó thể hiện dụng ý rất lớn, đồng thời cho thấy cách sử dụng rấtkhéo léo và độc đáo tên gọi các loài cây, loài hoa trong ca dao của các tác giảdân gian Mặt khác các tác giả dân gian đã sử dụng một cách phong phú, đadạng tên gọi của nhiều loài cây, loài hoa khác nhau Trong tổng số 2019 bài
ca dao nói về tên gọi các loài cây thì có tới 140 loài cây xuất hiện có nhữngloài cây đợc sử dụng trong vai trò là biểu tợng thực vật xuất hiện với tần sốcao nh cau, trầu, trúc, mai, tre còn trong 925 bài ca dao có tên gọi các loài
Trang 29hoa thì có 72 loài hoa đợc nói đến, cũng có những loài hoa xuất hiện với tần
số cao, có loài hoa xuất hiện với tần số thấp
2.1.2 Phân loại tên các loài cây, loài hoa
2.1.2.1 Phân loại tên các loài cây
Sau khi thống kê tên các loài cây xuất hiện trong ca dao chúng tôi cóbảng phân loại cơ bản nh sau:
Trang 30TT Tên cây xuất hiện Số lần TT Tên cây xuất hiện Số lần
2.1.2.2 Phân loại tên các loài hoa
Qua khảo sát chúng tôi thấy tên các loài hoa đợc các tác giả dân gian đavào ca dao rất phong phú Trong tổng số 925 câu ca dao nói về rên các loàihoa thì có 72 loài hoa đợc nói tới, có loài hoa xuất hiện với tần số cao, có loàihoa xuất hiện với tần số thấp và chúng tôi phân ra thành hai loại theo tính chấtbình thờng và quý hiếm nh sau:
Bảng 2.4 Phân loại tên các loài hoa bình thờng
1 Hoa nhài:
- Miếng trầu em đệm hoa nhài
Miếng cau em bổ có mời hai đạo bùa
- Càng thắm thì lại càng phai
36
Trang 31Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu
- Trách chàng chẳng giám trách ai
Trách chàng chê nụ hoa nhài không thơm
- Mẹ anh nh cánh hoa nhài
Nh chùm hoa sói nh tai hoa hồng
2 Hoa lý:
- Tóc em dài em cài hoa lý
Miệng em cời có ý anh thơng
- Gái Dự Quần đẹp nh hoa lý
Trai Thanh Tân có ý mà theo
- Đứng xa ngỡ hoa thiên lý tây
Vợt hồ sang hái phải cây muội nồi
33
3 Hoa sen:
- Hôm qua tát nớc đầu đình
Bỏ quên cái ao trên cành hoa sen
- Đi ngang thấy búp hoa sen
Muốn vào mà bẻ sợ không quen chúa nhà
- Đi ngang thấy búp hoa đào
Muốn vào mà bẻ sợ bờ rào lắm gai
- Em nh hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tơng giao hỡi chàng
12
7 Hoa sim:
- Tìm gì hoa ổi hoa sim
Mà anh lận đận đi tìm đờng xa
- Hoa sim hoa mua nở trên rừng bạc bội
Nhợc bằng hoa lúa nở nội đồng không
Trang 32- Thân cô nh hoa gạo trên cây
Chúng anh nh đám cỏ may bên đờng
- Nhất thơm hoa huệ hoa mai
Hoa lan, hoa cúc ai mà chẳng a
- Cời nh huệ nở sao tình nh vôi
19
2 Hoa lan:
- Nhà ngời những trúc cùng thông
Hoa lan, hoa huệ, hoa hồng nở ra
- Ngồi chậu lan em bấm nhị lan
Em gái đang độ lấy anh ngoan mà nhờ
17
3 Hoa mẫu đơn:
- Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ
Đôi ta trinh tiết đợ23232 ờ lấy nhau€ờ lấy nhau
- Tốt tơi là hoa mẫu đơn
Còn anh mớp đắng nó đang đến mùa
8
4 Hoa quế:
- Chào chàng mến cảnh vờn hoa
Một sân lan quế một nhà trúc mai
- Còn mùi hoa quế hoa chanh
Đủng đỉnh trên cành có kém gì ai
7
5 Hoa phù dung:
- Nào là cây hoa phù dung
Hoa sim hoa ổi đèo bòng làm chi
- Tiếc đám phù dung mọc chung rừng rậm
Cũng tỷ hoa lài cắm bãi cứt trâu
3
6 Hoa hồi:
- Thiếp sắm cho chàng cái tiểu hoa chanh
Đôi đầu chữ thọ xung quanh hoa hồi
3
7 Hoa vạn thọ:
- Sai hoa vạn thọ mặc dầu
Còn anh hoa mớp đi đâu bây giờ
1
8 Hoa hải đờng:
- Hải đờng đứng ở bên sau
1
Trang 33* Biểu hiện:
Chủ ngữ có thể biểu hiện phong phú về từ loại và về cấu trúc
- Về từ loại: Chủ ngữ có thể do danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ… “trúc xinh trúc mọc bờ ao”,
đảm nhiệm
- Về cấu trúc: Chủ ngữ có thể là từ, cụm từ hay kết cấu C-V
- Về vị trí: Thông thờng, chủ ngữ thờng đứng trớc vị ngữ, nhng do mục
a Không trực tiếp làm vị ngữ Do đó khi làm vị ngữ phải có hệ từ là
(câu khẳng định) hoặc không phải, không phải là (câu phủ định), không đặtsau các từ nh: Đừng, hãy, sẽ
b Có thể kết hợp với một trong những từ loại sau đây và đợc từ loại này
xác định, hạn chế: số từ (một, hai ), đại từ chỉ số (tất cả), lợng từ (những,các ), phó danh từ (con, cái ), đại từ chỉ định (này, kia, ấy )”
[C326 - 420]
Trang 34Đào liễu em ơi một mình
Đôi vai gánh chữ chung tình đờng xa
Trầu này đợi khách hằng nga
Để đờng đi lại hai ta muôn đời
[T1604 - 2377]
Trang 35Khi tên các loài cây đảm nhận chức vụ ngữ pháp trong câu thì các vếtrong lời ca dao trở nên rõ ràng, rành mạch, dễ xác định và dễ phân biệt.
Nh vậy các từ ngữ tên gọi của các loài cây khi đứng đầu câu làm chủngữ dù ở dạng cấu tạo nào thì nó cũng có tác dụng định danh đối tợng mộtcách chính xác, cụ thể Nó tác động trực tiếp tới nhận thức của ngời đọc, gợicho họ nhiều liên tởng, nhiều suy nghĩ khi đọc ca dao
2.2.1.2 Tên các loài cây làm vị ngữ
“Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu hai thành phần Vịngữ thờng nêu lên hành động, tính chất, tình hình của chủ ngữ
* Biểu hiện:
Vị ngữ đợc biểu hiện phong phú về từ loại, cấu trúc
- Về từ loại: Vị ngữ thờng do động từ, tính từ đảm nhận Ngoài ra vị ngữcòn do các từ loại khá đảm nhận nh danh từ, só từ, đại từ
- Về cấu trúc: Vị ngữ có thể do mọt từ, cụm, kết cấu C – V đảm nhận
[ 36 – 108]
“Vị ngữ là một thành phần chủ yếu của câu song phần, về mặt ngữ phápphụ thuộc vào chủ ngữ, thờng đợc động từ, danh từ, tính từ hay tính động từdiễn đạt đặc trng (Hoạt động, trạng thái, thuộc tính, tính chất) của sự vật biểu
Trong ca dao tên gọi các loài cây chủ yếu là danh từ vì vậy danh từkhông trực tiếp làm vị ngữ do đó khi làm vị ngữ phải có quan hệ từ là (câukhẳng định) hoặc không phải, không phải là (câu phủ định), không đặt sau các
từ nh: Đừng, hãy, sẽ
Cũng giống nh khi đảm nhận chức vụ chủ ngữ, khi đảm nhận chức vụ vịngữ thì kiểu cấu tạo của các từ ngữ chỉ tên cây rất phong phú và đa dạng.Chúng ta có thế thấy rõ dạng thờng gặp nhất là dạng cụm danh từ
Cây đa là cây đa cũBến đò là bến đò xa
Trang 36Tiện đây ăn một miếng trầu
[T382 - 22132]
Thân em nh ớt chín câyCây tơi ngoài vỏ cây cay trong lòng
[T385-2132]
Những bài ca dao đợc trích dẫn trên đã gợi cho ta những ý nghĩa biểu
tr-ng về các loại cây đợc nhắc đến: Lúa nếp tơ, lúa nếp cau, ớt chín cây trên cơ
sở những đặc tính của mỗi loài cây đó trong thực tế Nghĩa biểu trng nảy sinh
và đợc chúng ta cảm nhận nhờ những mối liên hệ giữa các sự vật so sánh, đóchính là sự tơng đồng về thuộc tính của các đối tợng mà các tác giả dân gian
đã phát hiện đợc Lúc này ý nghĩa của toàn bộ lời ca dao bị chi phối bởi vế
đem ra so sánh tức là bộ phận vị ngữ trong câu mà thành phần chính là cácdanh từ tên gọi của các loài cây trong ca dao
Trang 37Nh vậy khác với từ ngữ chỉ tên của các loài cây khi giữ chức vụ chủngữ là thờng tạo ra kiểu câu miêu tả, tồn tại, thì tên các loài cây khi giữ chức
vụ vị ngữ thờng là bộ phận quan trọng tạo nên kiểu câu định nghĩa, câu phán
đoán, và chúng biểu thị ý nghĩa đồng nhất của các sự vật, đối tợng đợc nói
đến ở chủ ngữ Khi đảm nhiệm vai trò là vị ngữ trong lời ca dao, các từ ngữchỉ tên gọi các loài cây có vai trò to lớn đối với ngôn bản ca dao đó Các từngữ chỉ tên cây tồn tại trớc hết với vai trò là những yếu tố tạo lập câu, là mộttrong hai thành phần nòng cốt của câu Nhng quan trọng hơn, khi ở vị trí là
vị ngữ của câu, chúng còn là yếu tố quan trọng tạo nên ý nghĩa của văn bản
Xét về cấu tạo bổ ngữ của từ có thể là một từ hay một cụm từ hoặc mộtcụm chủ vị Về mặt từ loại, bổ ngữ của từ có thể là danh từ, vị từ, số từ, đại từ
“Câu tỉnh lợc còn đợc gọi là câu rút gọn, là những câu trong đó có mộthoặc hai thành phần chính bị lợc bỏ đi mà vẫn hiểu đợc nhờ hoàn cảnh giaotiếp cụ thể các thành phần vắng mặt có thể đợc khôi phục lại nhờ vào hoàncảnh giao tiếp” [ 64 - 41]
“Câu tồn tại là câu biểu thị sự có mặt, sự tồn tại, sự hiện diện của sự vậthiện tợng đó là những câu chỉ ý nghĩa tồn tại, xác định của tính chất bộphận, điạ điểm, mức độ, trạng thái” [64 - 41]
Ví dụ: Có trầu mà chẳng có vôi
Có anh mà chẳng có tôi cũng buồn
Với t cách là làm bổ ngữ cho vị từ, các từ ngữ chỉ tên gọi các loài câyxuất hiện ở trong lời ca dao đầy đủ thành phần nòng cốt và cả ở dạng câu
Trang 38tỉnh lợc, câu tồn tại Nó cũng đa dạng phong phú giống nh khi làm chủ ngữ
và vị ngữ
Khi bổ ngữ là một từ đơn thì ta thấy nó xuất hiện ở các dạng câu sau:
- Câu bình thờng:
Trúc nhớ mai Thuyền quyên nhớ khách
Trang 39Tên các loài hoa đa vào sử dụng trong ca dao có những đặc điểm khácnhau, có cách thức sử dụng khác nhau dẫn đến việc những từ ngữ chỉ hoa vàtên các loài hoa đợc sử dụng với những chức vụ ngữ pháp khác nhau trongcâu ở đây qua khảo sát thống kê chúng tôi nhận thấy rằng “Hoa” là tên bộphận của “cây” và cũng giống nh từ ngữ chỉ cây thì từ ngữ chỉ hoa cũng thờng
là danh từ hay cụm danh từ, và chúng có khả năng đứng một mình độc lập
đảm nhận các chức vụ ngữ pháp sau
2.2.2.1 Chức vụ chủ ngữ
“Chủ ngữ là thành phần chính của câu hai thành phần Chủ ngữ thờngnêu lên nhân vật, sự vật, sự việc, hiện tợng, chủng loại… “trúc xinh trúc mọc bờ ao”, có quan hệ với vịngữ theo quan hệ tờng thuật”.[36 -107]
Vì từ ngữ chỉ tên các loài hoa là danh từ hoặc cụm danh từ cho nên trớchết chúng thờng đảm nhận chức vụ chủ ngữ trong câu thơ dân gian để nhằmnêu rõ hiện tợng, để phân tích chỉ rõ đặc điểm vốn có của sự vật”
Ví dụ: Hoa sen // mọc bãi cát lầm
[H133 - 1199]
Từ ngữ chỉ hoa khi làm chủ ngữ của câu, nó có thể là một từ đơn hay từláy, là những đơn vị không thể chia tách ra thành những thành phần cấu tạonhỏ hơn có nghĩa đợc
Cúc // mọc bờ giếng cheo leo
[C1925 - 732]
Bồng Bồng// đổ lộc ra hoa
CN VN
Một đàn vợ lính trảy ra thăm chồng
Trang 40Có khi là từ ghép chính phụ (hay nghép phân nghĩa - Theo Đỗ Hữu Châu)
Ví dụ: Hoa hồi // nó đắng nó cay
Hoa gạo // nó nở hồng hồng
CN VNMùi thơm chẳng có trông mong nỗi gì
Hoa sói // nó nở nh ri
CN VN
Ai mà qua đấy bớc đi chẳng rời
Hoa xuân thơm nhất trên đờiVua quan cũng chuộng, ớc ao sở cầu
Hoa nhài thoang thoảng thơm lâuNhững các cô hầu bẻ lấy cầm chơi
[H133 - 1199]
Có thể thấy các từ ghép: Hoa hồi, hoa lý, hoa gạo, hoa sói, hoa nhài Thìhình vị phân nghĩa “Hồi”, “lý”, “gạo”, “sói”, “nhài” khi dùng một mình cũng