Hay nh tác giả Trần Cơng nhận xét: Càng ngày sự kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện ở Ma Văn Kháng càng nhuần nhụy cùng với văn chơng trong sáng và duyên dáng cùng với các thủ pháp nghệ th
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết một mình một ngựa của Ma văn kháng
Luận văn thạc sĩ ngữ văn Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
động viên, khích lệ của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo hớng dẫn vàxin gửi đến thầy cô tổ Ngôn ngữ, gia đình, đông nghiệp và bạn bè lời cảm ơn chânthành nhất
Vinh, tháng 12 năm 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứ
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1 Những vấn đê chung liên quan đến đề tài
1.1 Thể hoại tiểu thuyết và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết
1.1.1 Về thể loại tiểu thuyết
1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết
1.2 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Một mình một ngựa
1.2.1 Vài nét về Ma Văn Kháng và sáng tác của Ma Văn kháng
1.2.2 Về tiểu thuyết Một mình một ngựa
1.3 Tiểu kết chương 1
Chương 2 Đặc điểm dùng từ và các phép tu từ trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng
2.1 Từ trong ngôn ngữ và trong sử dụng
2.1.1 Từ trong ngôn ngữ
a Khái niệm
Trang 3Chương 3: Đặc điểm câu văn và hình thức diễn đạt
trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
3.1 Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
3.1.1 Một số vấn đề về câu và câu trong văn bản nghệ thuật
3.1.1.1 Một số vấn đề về câu
3.1.2 Đặc điểm cấu tạo câu văn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa3.1.2.1 Câu đơn
a Câu bình thường
a1 Câu đơn tối giản:1C – 1V
a2 Câu đơn có thành phân phụ
a3 Câu đơn có nhiều chủ ngữ hoặc nhiều vị ngữ
b.Câu đơn đặc biệt
b1 Câu đặc biệt tự thân
b2 Câu tách biệt trong ngôn bản
3.1.2.2 Câu ghép
3.2 Hình thức diễn đạt trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
3.2.1 Dùng nhiều thành ngữ, quán ngữ
3.2.2 Dùng nhiều điển tích, điển cổ, danh ngôn, xen thơ văn
3.2.3 Dùng tiếng dân tộc thiểu số chen vào giữa câu
3.3 Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ luôn là yếu tố thứ nhất của tác phẩm văn học Đằng sau lớp vỏ ngônngữ là những giá trị nhân văn nhân bản, là tinh thần trách nhiệm của ng ời cầm bút.Nhà văn là ngời tổ chức ngôn từ để tạo nên hình tợng nghệ thuật, tạo nên chỉnh thểtác phẩm Ngôn từ của mỗi tác phẩm văn học, vì thế mang đậm dấu ấn phong cáchcủa chính ngời tạo ra nó Đồng thời, ngôn từ cũng là nơi in đậm dấu ấn thể loại củamỗi tác phẩm Tìm hiểu nội dung t tởng tác phẩm, phong cách thể loại, phong cáchtác giả thông qua đặc điểm ngôn từ trong tác phẩm là một hớng đi đã đợc khẳng
định
1.2 Sau 1975, nên văn học Việt Nam bớc vào thời kì đổi mới toàn diện từ cảm hứngsáng tác, quan niệm nghệ thuật về con ngời cho đến phơng diện ngôn ngữ Nhữngthành tự của văn học thời kỳ này là rất đáng ghi nhận với sự đóng góp của nhiềutác giả, trong đó không thể không nhắc đến Ma Văn Kháng – tác giả đã gây đợckhông ít sự chú ý, từng làm xôn xao d luận qua hàng loạt truyện ngắn và tiểuthuyết Tiểu thuyết nói riêng và những sáng tác của Ma Văn Kháng nói chung đã
và đang vận động theo hớng hiện đại hóa Đặc biệt, Ma Văn Kháng còn đợc chú ý
Trang 5với t cách là một trong những tác giả tiêu biểu có nhiều đóng góp quan trọng về
ph-ơng diện ngôn ngữ
1.3 Tiểu thuyết Một mình một ngựa đợc Ma Văn Kháng viết từ năm 2007 Đây là
cuốn tiểu thuyết thứ 13, cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông Và năm 2009, tiểuthuyết này đợc hội nhà văn Hà Nội trao giải nhất Đây là vinh dự cho nhà văn lãolàng Ma Văn Kháng, đồng thời cũng chứng minh ông vẫn là một cây bút hàng đầucủa văn học đơng đại Việt Nam Góp phần làm nên thành công đó có nhiều yếu tố,nhng trớc hết phải kể đến ngôn ngữ Ma Văn Kháng, Với lối kể chuyện hóm hỉnh
đã tạo nhiều điểm nhấn ấn tợng cho ngôn ngữ tiểu thuyết Một mình một ngựa.
Đề tài nghiên cứu Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng của chúng tôi chắc chắn sẽ góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng của
một nhà văn lớn đã ở độ tuổi xa nay hiếm
2 Lịch sử vấn đề.
Là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại, chủ nhân của rất nhiềugiải thởng có giá trị, bởi thế, cho đến nay đã có rất nhiều công trình, bài viết về MaVăn Kháng cũng nh những sáng tác của ông Có thể kể tên một số tác giả nh Phong
Lê, Việt Dũng, Đỗ Phơng Thảo, Nguyễn Thị Tiến, Lã Nguyên, Đỗ Hải Ninh, TrầnCờng, Nguyễn Long Khánh, Đào Tiến Phi, Phạm Mai Anh, Ngô Trí Cờng, HoàngThị Thúy…
Nhận xét về các sáng tác của Ma Văn Kháng, giáo s Phong Lê đã khẳng định: có thể nói đến một thơng hiệu Ma Văn kháng từ M“ M a mùa hạ trở về sau làm nên một” trở về sau làm nên một
dấu ấn riêng, khác biệt với nhiều ngời Đặc biệt là ngôn ngữ, nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ, áp cận vào thì hiện tại, tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng
và trớc đó là Tô Hoài Đó là hai trong số ít ngời viết có đợc một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng Hay nh tác giả Trần Cơng nhận xét: Càng ngày sự kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện ở Ma Văn Kháng càng nhuần nhụy cùng với văn chơng trong sáng và duyên dáng cùng với các thủ pháp nghệ thuật đã đợc vận dụng một cách thuần thục…Các tác giả nh Lã Nguyên với khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn, Đỗ Phơng Thảo với các công trình Quan niệm về văn chơng nghệ thuật của Ma Văn Kháng và cốt truyện trong tiểu thuyết thế sự đời t của Ma Văn Kháng
Trang 6đã đi sâu tìm hiểu về quan niệm sáng tác, cốt truyện, nội dung t tởng trong các sáng tác của Ma Văn Kháng.
Ngoài các công trình của tác giả là những giáo s, phó giáo s, nhà nghiên cứu phêbình văn học đã kể trên thì có rất nhiều công trình là luận văn, luận án, hay bài báocủa các sinh viên, các tác giả trẻ cũng nghiên cứu về Ma Văn Kháng, có thể kể tên
một số nh: Phạm Mai Anh (1997) với Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau 1980 Đào Tiến Phi ( 1999) với Phong cách truyện ngắn Ma Văn Kháng trong truyện ngắn sau 1975 Hoàng Thị Thúy ( 2000) với Sáng tác của Ma Văn Kháng từ thập kỳ 80 lại nay Hà Thị Thu Hà ( 2003) với Thi Pháp truyện ngắn
Ma Văn Kháng sau 1975 Ngô Trí Cờng ( 2004) với Ngôn ngữ hội thoại nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng …
Năm 2009, tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng đoạt giải thởng Hội nhà văn Hà Nội Trớc sự kiện này, rất nhiều tờ báo: Thể thao văn hóa, Ngời lao động, baodaiviet.vn…đã có bài giới thiệu về tiểu thuyết này Tuy nhiên, phần
lớn trong số đó mới chỉ dừng lại ở mức độ trao đổi phỏng vấn Đáng chú ý là bài
viết của tác giả Đỗ Hải Ninh với tiêu đề: Khuynh hớng tự truyện tiểu thuyết “ MMột mình một ngựa của Ma Văn Kháng ” trở về sau làm nên một ( Nhận đọc tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, Nxb phụ nữ, H.2009) đăng trên báo Văn nghệ tháng 9/2009.
Đây đợc xem là bài viết độc lập đầu tiên bàn về tiểu thuyết Một mình một ngựa.
Tác giả Đỗ Hải Ninh khẳng định: Không có nhiều đột phá, cách tân trong nghệ
thuật tự sự nhng Một mình một ngựa với cách kể chuyện hóm hỉnh, tạo đợc những
điểm ấn tợng … Di từ cái cá thể đến tính phổ quát, với ý thức tạo dựng thế giới hình
ảnh, Ma Văn Kháng đã đem lại cho câu chuyện kể về đời mình những màu sắc của tiểu thuyết trong sự kết hợp hài hòa với tự nguyện.Tác giả cũng đã chỉ ra những hạn
chế của tác phẩm: Tuy nhiên, tác phẩm sẽ thành công hơn nếu khai thác hết chiềusâu ở nhân vật, chẳng hạn nhân vật Yên, từ sự xuất hiện khá ấn tợng ở đầu truyện,
có thể khám phá thể giới tâm hồn của nhân vật đầy sức sống này nhiều hơn nữa
Đôi chỗ còn sa vào dẫn giải dài dòng khiến cho tác phẩm nghiêng về tính luận đề,
lộ ý tởng
Ngoài ra, một số bài viết khác cũng rất đáng lu ý nh:
Trang 7Hình tợng ngời kể chuyện trong tiểu thuyết “ MMột mình một ngựa của Ma” trở về sau làm nên một
Văn Kháng của tác giả Hoàng Thị Huế và Nguyễn Thị Khánh Thu đăng trên
phongdiep.net
Một mình một ngựa - Một mình một phong cách của tác giả Việt Hà đăng
trên báo Văn Nghệ công an số 113 ra ngày 5/0/2009
Đọc tiểu thuyết “ MMột mình một ngựa của Ma Văn Kháng ” trở về sau làm nên một của tác giả
Nguyễn Long Kháng, in trong tập phê bình Điện ảnh – Văn học Sóng hát nhọc nhằn của chính tác giả, Nxb Văn học,2010.
Điểm qua các công trình nghiên cứu về Ma Văn Kháng cũng nh những sángtác của ông, chúng tôi nhận thấy hầu hết các công trình này đều xuất phát từ góc độ
lí luận văn học, còn nhìn từ góc độ ngôn ngữ thì còn rất khiêm tốn ý thức đợc vấn
đề ngôn ngữ trong sáng tác của Ma Văn Kháng nói chung và tiểu thuyết Một mình một ngựa nói riêng còn nhiều trầm tích thú vị, chúng tôi quyết định chọn tiểu thuyết Một mình một ngựa, một cuốn tiểu thuyết mới nhất của Ma Văn Kháng đã
đợc giải nhất của hội nhà văn Hà Nội làm đối tợng nghiên cứu Vì vậy, chúng tôi
chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Một mình một ngựa.
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Một mình một ngựa- cuốn tiểu thuyết mới nhất của Ma Văn Kháng (Nxb Phụ nữ,
H.2009)
Do xuất phát từ những đặc điểm nào nổi trội và đặc điểm nào ít nổi trội, vàcũng do dung lợng của một nhà văn, chúng tôi không thể đi hết các đặc điểm trêntất cả các bình diện từ ngữ, câu, các ghép tu từ, hình thức diễn đạt Để đảm bảo về
độ sâu, tránh dàn trải trong nghiên cứu, chúng tôi chỉ chọn ba bình diện nổi bật
trong Một mình một ngựa là đặc điểm dùng từ, đặc điểm dùng câu và hình thức
diễn đạt để nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ nổ bật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa về các phơng diện từ ngữ, câu văn và hình thức diễn đạt.
Trang 8- Rút ra những đặc trng trong phong cách ngôn ngữ Ma Văn Kháng thể hiện
trong Một mình một ngựa Qua đó so sánh ngôn ngữ của Ma Văn Kháng và ngôn ngữ trong các tác phẩm trớc đây của ông với ngôn ngữ của tiểu thuyết Một mình một ngựa để thấy đợc sự đổi mới của nhà văn này.
Đây là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết
Một mình một ngựa, tác phẩm mới nhất của Ma Văn Kháng Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm nhận định Cái tên Ma Văn Kháng luôn gắn liền với những tác phẩm đỉnh cao Những đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Một mình một ngựa đợc rút ra sẽ góp làm rõ và hoàn thiện hơn về phong cách ngôn ngữ cũng nh
những đóng góp của một nhà văn đợc coi là xuất sắc của nền văn học đơng đạiViệt Nam Công trình cũng là những t liệu bổ ích phục vụ cho việc dạy học tácphẩm của Ma Văn Kháng trong nhà trờng
6 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm có ba chơng:
Chơng 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm chung từ trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma
Văn Kháng
Chơng 3: Đặc điểm câu văn và hình thức diễn đạt tiểu thuyết Một mình một ngựa.
Trang 9Chơng 1 1.1 Thể loại tiểu thuyết và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết
1.1.1 Về thể loại tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại quan trọng của văn học, là loại hình tiêu biểu, căn bảncủa văn xuôi ở mỗi thời kỳ văn học, của mỗi trào lu văn học, là hành trang nhiềukhi là chủ yếu của các cây bút văn xuôi
ở Châu Âu, thuật ngữ Roman tơng đơng với tiểu thuyết, và là tên gọi chung
cho những tác phẩm chứa hai yếu tố chính: phiêu lu và ái tình Riêng nớc Anh, tiểu thuyết đợc gọi là Novel ( có nghĩa là Truyện mới)
Trong văn học Phơng Đông, danh từ Tiểu thuyết xuất hiện khá sớm nhằm
phân biệt với hai thể loại cơ bản khác là Đại thuyết và Trung thuyết Đại thuyết là kinh sách của các thánh nhân viết nh Kinh thi, Kinh th của Khổng Tủ, đó là loại
sách mang nặng tính triết học, gần nh chân lí, kiểu khuôn vàng thớc ngọc và rất
khó đọc.Trung thuyết do các thiền s, sử gia thực hiện nh Sử kí của T Mã Thiên Còn Tiểu thuyết, vốn chỉ những chuyện vụn vặt, đời thờng Những chuyện ấy cùng với
cổ tích, ngụ ngôn là những mầm mống của tiểu thuyết phơng Đông Thủy Hử và Hồng Lâu Mộng là một trong những số đó Theo quan niệm trớc đây, đặc biệt là quan niệm của Trung Quốc và Nhật Bản, tiểu thuyết gồm hai loại chính là tiểu thuyết đoản thiên hay truyện ngắn, thậm chí là vi hình tiểu thuyết ( truyện cực ngắn, truyện siêu ngắn hay truyện trong lòng bàn tay) và tiểu thuyết trờng thiên
( truyện dài) Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam khi nói đến tiểu thuyết, độc giả ờng hiểu đó là tác phẩm truyện dài
Trang 10th-Là một thể loại văn chơng duy nhất “ M đang chuyển biến và còn cha địnhhình” trở về sau làm nên một { 2,23}, cách hiểu về thể loại tiểu thuyết cho đến nay vẫn cha có sự thốngnhất, đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu Hêghen cho rằng: “ M Tiểu thuyết là sử thihiện đại” trở về sau làm nên một Với quan niệm này, chúng ta thấy Hêghen nhìn tiểu thuyết từ góc độkinh tế hàng hóa, ông nhấn mạnh đến quy mô và điều kiện của tiểu thuyết.Bielinxki gọi tiểu thuyết là‘‘ Sử thi của đời tư” do chỗ nú‘‘ miờu tả những tỡnhcảm, dục vọng v à những biến cố thuộc đời sống riờng tư và đời nội tõm của conngười” Trong tiểu thuyết, sự trần thuật tập trung vào số phận của một cỏ nhõntrong quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của nú Sự trần thuật ở đõy cũn được triểnkhai trong khụng gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu củanhõn cỏch ễng cũn cho rằng‘‘ tiểu thuyết là sự tỏi hiện thực tạo với sự thật trầntrụi của nú” M Bakhtin cũng cho rằng:‘‘ tiểu thuyết là một thể loại gắn liền vớithời kỡ hiện đại trong lịch sử, là sự thể hiện cuộc sống dưới gúc độ đời tư” {2,24}.
Ở Việt Nam, bàn về khỏi niệm Tiểu thuyết cũng đó và đang là vấn đề gõy nhiều tranh cói Người đõu tiờn đưa ra khỏi niệm Tiểu thuyết là Phạm Quỳnh vào
năm 1921: “ Tiểu thuyết là một loại truyện ngắn viết bằng văn xuụi, đặt ra để tảtỡnh tự người ta, phong tục xó hội hay là những sự lạ tớch kỳ, đủ làm cho người đọc
Trang 11Theo Từ điển tiếng Việt, tiểu thuyết là truyện dài bằng văn xuôi có dung
lượng lớn, với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm vi lịch sử xã hội rộng lớn{50,958}
Tuy chưa có sự thống nhất trong quan niệm về thể loại, song nhìn chung,hầu hết các nhà nghiên cứu khi bàn đến tiểu thuyết đều cho rằng tiểu thuyết lànhững truyện tương đối dài, là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhânvật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề vềcuộc sống con người Ngoài ra, tiểu thuyết còn chú ý đến miêu tả suy tư, diễn biếntình cảm, mọi chi tiết về mối quan hệ giữa người với người
Lịch sử hình thành và phát triển của tiểu thyết đã để lại cho nền văn học thếgiới những thành tựu rực rỡ: từ những tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đếnnhững tác phẩm đồ sộ của tiểu thuyết hiện thực phê phán phương Tây; từ dòngchảy của tiểu thuyết sử thi hoành tráng trong văn học Nga đến những nguồn mạchvăn chương hiện thực huyền ảo châu Mỹ - Latinh, sự trỗi dậy và vượt thoát truyềnthống của những nền văn học châu Á,…Những mô hình ấy đã tạo dựng nên diệnmạo đặc biệt phong phú của tiểu thuyết trong suốt thời kì đã qua tính từ khi hìnhthành thể loại
Ở Trung Quốc, tiểu thuyết xuất hiện rất sớm Vào thời kỳ Nguyễn – Tần
( thế kỷ 3 -4), tiểu thuyết đã manh nha dưới dạng những tác phẩm chi quái, chi phân Sang đời nhà Đường, xuất hiện thể loại truyền kì, đời Tống lại có thêm dạng thoại bản…Tất cả đều có thể coi là tiền thân của tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại.
Từ đời Minh, văn học Trung Quốc nói chng và văn xuôi nói riêng phát triển rực rỡ
với những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy Hử của Thị Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Kim Bình của
Tiếu Tiếu Sinh…Đời Thanh, bước phát triển của tiểu thuyết chương hồi đã đạt tới
Trang 12thời điểm hoàng kim qua hàng loạt danh tác như Nho lâm ngoại sử ( chuyện làng nho) của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần Thời hiện đại, tiểu
thuyết Trung Quốc vượt thoát những thể loại truyền thống, do ảnh hưởng lớn từcác trào lưu văn học phương Tây đương thời với sáng tác của các tác giải như LỗTấn, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn…
Tại Nhật Bản, vượt qua sử kí, tùy bút và nhật kí, hình thức sơ khai của tiểuthuyết đã xuất hiện từ những thế kit 6 -8, ban đầu là sự tập hợp thành chương
những bài ca ballad, truyện kể do các pháp sư mà gảy đàn biwa lưu truyền khắp đảo quốc Cùng với những sáng tạo khởi đầu là Takatori monogatari, tiểu thuyết Nhật Bản, mà hình thức của thể loại được gọ bằng tên monogatari, đi được một nửa chặng đường đến Ise monogatari v à đạt đỉnh cảo với Geji monogatari Geji monogatari trở thành ngôi sao băng chói sáng của văn chương cổ điển Nhật Bản,
được đánh giá là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loài, mà rất
nhiều thế kỉ về sau với Sagoromo monogatari, Yowa no nezame, Hamatats Chunagon monogatari, Torikaebaya monogatari, văn học Nhật Bản vẫn không thể
sản sinh được một tác phẩm tự sự nào có vị trí và có giá trị như nó Từ thế kỷ 19,khi xã hội Nhật bản không ngừng bước theo mô hình phương Tây, những tác phẩmnổi tiếng của thể loại tiểu thuyết phương Tây đương thời được dịch thuật theohoặc phóng tác tràn lan trong thời Minh Trị đã phát triển tiểu thuyết Nhật Bản theonhững khuynh hướng sáng tác hiện đại, và những tiểu thuyết tiền hiện đại đầu tiên
có dạng thức tự thuaajtt, còn gọi là tâm cảnh tiểu thuyết vào cuối thời Minh Trị.
Ở phương Tây, tiểu thuyết có mầm mống ban đầu với các tác phẩm tự sự
viết bằng tiếng Roman, thường là thể loại anh hùng, đó là những tiểu thuyết kị sĩ
với những biến cố và những tình huống phi thường Tuy nhiên, nhìn từ nguồn gốccủa thể loại, các nhà nghiên cứu có tể truy nguyên về tận thời Hy Lạp, khi bên
Trang 13cạnh những tác phẩm trường ca cổ đại với cảm hứng về cái chung và cái anh hùng
là chủ đạo, vẫn có những tác phẩm lấy cảm hứng từ con người riêng lẻ, và Bielinsk
đã rất có lí khi cho rằng “tiểu thuyết hình thành khi vận mệnh con người, mọi mốiliên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức” và “ đời sống cá nhân bất luậnthế nào cũng không thể là nội dung của anh hùng ca Hi Lạp, nhưng lại có thể là nộidung của tiểu thuyết” Trên nền móng của hình thái tư duy khám phá những vấn đêbản chất của hiện thực thông qua sự tái hiện số phận cá nhân đã có từ thời Hi Lạp
đã xuất hiện những thể loại văn chương thời trung đại châu Âu theo thể tài hiệp sĩ,
như chuyện Tristan và Iseult Thời kì Phục Hưng đã tạo cơ sở thuận tiện nhất cho
sự phát triển tiểu thuyết: chất tiểu thuyết bộc lộ trong các tác phẩm thể truyện như
của G.Boccacciio, thể trường ca của M.Boiardo, L.Ariosto, T.Tasso và thể kịch với
W.Shakespeare Những tiểu thuyết đích thực gắn với những tìm tòi tư tưởng triết líchỉ xuất hiện vào cuối thời kì Phục Hưng với Đon Kihôtê Sau thời Phục Hưng, khivăn học tao nhã là chủ đạo thì xu hướng phát triển của tiểu thuyết chỉ bộc lộ rõ
trong các sáng tác thuộc loại tiểu thuyết du đãng, khai thác các đặc điểm trào
phúng, sự hư cấu tự do, vai trò của kinh nghiệm cá nhân tác giả trong sáng tạonghệ thuật ( các tác phẩm của F Rabelais, Erasmus von Rotterdam, d’Aubigné, M
Montaigne…) và tiểu thuyết tâm lý đầu tiên với sáng tác của bà La Fayette Sang
thời đại Khai Sáng và thời cận đại, từ thế kỉ 19, tiểu thuyết đã đi một chặng đường
dài với sự hình thành các kết cấu chính Truyện hiệp sĩ Des Grieux và nàng Mannon Lescault ( 1731) của Prevost kết hữu cơ được hai thể tài tâm lý và du đãng S.Richardson với Clarisse Harlow 9 1747), J.J.Rousseau với Nàng Hesloise mới ( 1761) đưa ra những mẫu mực của tiểu thuyết tình cảm, đồng thời củng cố vai trò chủ đạo của tiểu thuyết luận đề H.Fielding, T.Smollett đã đóng góp cho sự hình thành nguyên tắc điển hình hóa của tiểu thuyết t hiện thực, làm tiền đề cho
Trang 14sựu nở rộ tiểu thuyết của chủ nghĩa hiện thực phát triển mạnh sau đó với Balzac,
Zola, Stendhal, Flaubert, Ch Dickens, Ư.Thackerlay (tiểu thuyết hoàn cảnh, tiểu thuyết hướng tâm) Tiểu thuyết sử thi của L.Tolstoi với sự trần thuật đạt được chiều
rộng và tính bao quát, sự mô tả đời sống nội tâm nhân vật như một quá trình tâm lý
nội tại lần đầu tiên cho phép tiểu thuyết tái hiện được “ biện chứng tâm hồn” Tiểu thuyết đối thoại của Dostovski với con người đời tư được đặt trong tương quan với
cả thế giới… Thế kỉ 20, tiểu thuyết phương Tây phát triển trong sự đa dạng đối
nghịch nhau về nhiều mặt, bên cạnh những thành tự của tiểu thuyết hiện thực với
khuynh hướng hiện thực phê phán hoặc khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa,hướng sáng tác mới của M.Proust, J.Joyce, F.Kafka lại cho thấy một loạt cácnguyên tắc tiểu thuyết vốn đã thành truyền thống trước kia bị biến đổi: độc thoại
nội tâm bao trùm các tác phẩm như một thủ pháp của tiểu thuyết dòng ý thức; sự
xáo trộn liên tục các bình diện thời gian và không gian, các mảng đời sống hiệnthực hòa quyện cùng huyền thoại, xuất hiện người kể chuyện không toàn năng khitrong lời kể có cả cái biết lẫn cái không biết, các khách quan lẫn chủ quan Các vấn
đề về ngôi và thời của lời trần thuật và các điểm nhìn trần thuật trở thành chìa khóa
cho việc đọc tiểu thuyết theo khuynh hướng phức điệu, đa thanh Bên cạnh đó, các
trào lưu tư tưởng đương thời như hiện tượng học, thuyết phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, phân tán học, hậu hiện đại, phê bình nữ quyền, hậu thực dân cũng góp phần tạo ra những dạng thức như phản tiểu thuyết, tiểu thuyết mới, hoặc làm nảy sinh tư
tưởng về nhân vật biến mất, hoặc tiểu thuyết cáo chung…
Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn xuôi cổ
như Việt điện u linh, Lĩnh nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyện kì amnj lục, Truyện kì tân phả thế kỳ 14 – 18 đã đặt những nền móng sơ khai cho tư duy
thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần thoại, cổ
Trang 15tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thường Thế kỉ 18 cho thấy, sự nở rộ
thể loại tự sự với các tác phẩm như Thượng kinh kí sự ( ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút ( tùy bút) của Phạm Đình Hổ và đặc biệt là Hoàng Lê Nhất Thống Chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên
của Việt Nam có giá trị văn học đực sắc Hoàng Lê Nhất Thống Chí tái hiện mộtcách sống động bức trang xã hội rộng lớn thời vua Lê chúa Trịnh thông qua kết cấuchương hồi tương tự như thời Minh – Thanh ở Trung Hoa Yếu tố đời tư và mạch
tự sự trong các truyện nôm khuyết danh và hữu danh đương thời như Hoa tiên, Nhi
độ mai, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa và Truyện Kiều cũng ít nhiều
góp phần thúc đẩy sự phát triển của thẻ loại Tuy nhiên, phải đến những năm 30của thế kỷ 20, văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất củathể loại hiện đại Cùng với trào lưu thơ mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930 –
1945 có những bước tiến vượt bậc và thành ự lớn với hai khuynh hướng sáng tác:
nhưng cây bút nổi tiếng của Tự lực văn đoàn, những người đã thúc đẩy sự hình
thành thể loại như Nhất Linh, Khái Hưng, Thách Lam và những nahf văn hiện thựcphê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Haon,Nguyên Hồng…Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc ( chống Pháp và chống Mỹ),đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam ngày càng đông đảo ( Nguyễn Huy Tưởng,
Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc…)
Ít nhiều tiểu thuyết Việt Nam có thành tựu tiệm cận với thể loại tiểu thuyết sử thi
vốn mang đề tài hoành tráng và dung lượng đồ sộ, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi là
một thí dụ Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam sang trang mới với những sángtác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, NguyễnViệt Hà…có nôi dung sâu sắc hơn về thân phận con người và hình thức có dấuhiệu manh nha hệ hình văn chương hậu hiện đại
Trang 16So với các thể loại khác, tiểu thuyết xuất hiện muộn hơn Không những thế,
nó còn là một thể loại văn chương đang chuyển viến và còn chưa định hình Bởivậy, việc nghiên cứu tiểu thuyết đã và đang là một yêu cầu chủ yếu, luôn có tínhthời sự của lí luận văn học
Nếu như các thể loại khác là những khách thì thể đã bị hoàn bị, đã thànhhình cố định và rõ ràng, luôn giữ được tính ổn định và tính quy phạm trong tất cảcác thời kì phát triển cổ điển của chúng; những biến dạng theo thời đại, trào lưu vàtrường phái có tính ngoại vi và không đụng chạm đến cái nòng cốt thẻ loại đã rắnchắc cảu chúng ta thì tiểu thuyết lại là thể loại văn chương duy nhất đang chuyểnbiến và còn chưa định hình Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại vàchúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó Chính vìvậy mà “ đối với tiểu thuyết, lí luận văn học bộc lộ một sự bất lực hoàn toàn…Vớivấn đề tiểu thuyết, lí thuyết thể loại đứng trước sự tất yếu phải xây dựng tận gốc{2,31} M.Bakhtin đã đưa ra một sự so sánh thật ấn tượng: “ Nghiên cứu các thểloại khác tựa hồ nghiên cứu những từ ngữ; nghiên cứu tiểu thuyết giống nhưnghiên cứu những sinh ngữ, mà lại là sinh ngữ trẻ” {2,24}
Vào nửa cuối thể kỳ XIV, ở châu Âu, người ta bắt đầu thấy một sự quan tâmsát sao đến tiểu thuyết với tư cách là một thể loạic hủ đạo Nhưng việc nghiên cứuhầu như hoàn toàn tập trung vào các vấn đề bố cục và đề tài Những vấn đề thuộcphong cách trong đó có ngôn ngữ tiểu thuyết chỉ được đề cập đến một cách nhântiện và được luận giải hoàn toàn vô nguyên tắc Các nhà lí luận tiểu thuyết nhưFielding, Wieland, Hegel…đã phê phán từ quan điểm tiểu thuyết các thể loại khác
và mối quan hệ của chúng với hiện thực: lối anh hùng hóa khiên cưỡng, tính ước
lệ, tính “ thơ” hẹp hòi và không có sự sống, tính đơn điệu trìu tượng, tính hoàn bị
Trang 17và biến ở các nhân vật Đồng thời đặt ra những yêu cầu và cũng có thể xem nhưkhẳng định về đặc trưng của tiểu thuyết như sau:
1 Tiểu thuyết không được có tính “ thở” nhưu là tính thơ ở các thể loại vănchương khác
2 Nhân vật tiểu thuyết không được “ anh hùng” cả theo nghĩa sử thi lẫn theonghĩa bi kịch của từ ấy: nó phải kết hợp trong nó cả những nét chính diện lẫn phảndiễn, cả thấp kém lẫn cao thượng, cả nực cười lẫn nghiêm trang
3 Nhân vật phải được miêu tả không phải như đã hoàn tất và cố định mànhư một nhân vật biến chuyển, đổi thay, được cuộc sống dạy dỗ
Tiểu thuyết trong thế giới hiện nay phải trở thành một cái gì y như anh hùng
ca trong thế giới cổ đại/ Dẫn theo Bakhtin,34/
Bản thân Bakhtin lại cho rằng, có ba đặc điểm cơ bản làm cho tiểu thuyếtkhác biệt về nguyên tắc với tất cả các thể loại khác: 1/ tính ba chiều có ý nghĩaphong cách học tiểu thuyết, gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểuthuyết; 2/ sự thay đổi cơ bản các tọa độ thời gian của hình tượng văn học trong tiểuthuyết; 3/ khu vực mới, nơi xây dựng hình tượng văn chương tiểu thuyết, chính làkhu vực xúc tiếp tối đa với cái hiện tại ( đương đại) ở thì không hoàn thành của nó{2,36} Tác giả đã có những luận giải khá thuyết phục cho từng luận điểm củamình bằng lập luận và bằng sự so sánh đối chiếu với sử thi, một trong những thểloại gần gũi với tiểu thuyết nhất và hoàn bị nhất về nòng cốt thể loại
Ở nước ta, việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết xuất hiện khá sớm với công
trình Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh trên tạp chí Nam Phong năm 1921 Sau
đó các công trình chuyên khảo về tiểu thuyết: Theo dòng ( 1641) của Thạch Lam, Khảo về tiểu thuyết (1941) của Vũ Bằng Ngoài ra, còn có một số công trình cũng bàn về một số vấn đề của tiểu thuyết như Phê bình và Cảo luận ( 1938) của Thiếu
Trang 18Sơn, Nhà văn hiện đại ( 1942) của Vũ Ngọc Phan, Viết và đọc tiểu thuyết ( 1961)
của Nhất Linh…Ở các công trình này, nhiều vấn đê lí luận về tiểu thuyết được đặt
ra với một cái nhìn đa diện, đa chiều như: quan niệm về tiểu thuyết, nhân vật vàphương thức xây dựng nhân vật tiểu thuyết, cốt truyện trong tiểu thuyết…Tuyđiểm nhìn và phạm vi nghiên cứu mỗi công trình có khác nhau nhưng với sự cómặt của chúng, lịch sử nghiên cứu thể loại tiểu thuyết đã bước đầu hình thành avfđặt nền móng cho việc nghiên cứu tiểu thuyết sau này
Ở đây, chúng tôi xin chỉ đi sâu vào tìm hiểu một khía cạnh của tiểu thuyết có
liên quan đến luận văn, đó là ngôn ngữ tiểu thuyết.
1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết.
Việc nghiên cứu tiểu thuyết như một thể loại thi ca độc lập đã được các nhà
lí luận quan tâm từ lâu Song, ngôn ngữ tiểu thuyết – một trong những vấn đềthuộc phong cách học, thì phải đến những năm 20 của thế kỉ XX mới thực sự bắtđầu bằng các công trình về phong cách học của một số nhà tiểu thuyết và một sốcuốn tiểu thuyết riêng lẻ Đã có năm kiểu tiếp cận ngôn từ tiểu thuyết trong phongcách học của các nhà lí luận thời bấy giờ
1/ Người ta chỉ phân tích “ bè” của tác giả trong tiểu thuyết, tức là lời trựctiếp của tác giả được phân định với độ chuẩn xác khác nhau dưới góc độ tính tạohình và tính biểu cảm thi ca thông thường và trực tiếp ( những ẩn dụ, so sánh, sựlựa chọn từ ngữ,…)
2/ Sự phân tích phong cách học về tiểu thuyết như một chỉnh thể nghệ thuật
bị đánh tráo bằng việc mô tả ngôn ngữ của nhà tiểu thuyết theo tinh thần ngôn ngữhọc trung tính
Trang 193/ Trong ngôn ngữ của nhà tiểu thuyết, người ta lấy ra những yeus tô đặctrưng cho việc trào lưu văn học – nghệ thuật nào mà ngườ ta liệt nhà tiểu thuyếtvào đó ( chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa ấn tượng…).
4/ Trong ngôn ngữ tiểu thuyết, người ta tìm hiểu những biểu hiện cá tính tácgiả, tức là người ta phân tích ngôn ngữ ấy như phong cách cá nhân của nhà tiểuthuyết này hay nhà tiểu thuyết kia;
5/ Tiểu thuyết được xem như một thể văn hùng diện và các thủ pháp của nóđược phân tích dưới giác độ hiệu quả hùng biện/ Dẫn theo {2,88}
Với những cách tiếp cận ấy, có thể thấy diện mạo đặc thù của thể loại tiểuthuyết về mặt phong cách học nói chung, đặc điểm của lời văn tiểu thuyết nói riêngđược nhắc đến trong các công trình lí luận tiểu thuyết buổi ban đầu ấy vẫn chưađược được làm sáng rõ và chưa được đặt ra một cách thật có nguyên tắc TheoBakhtin, tất cả những kiểu phân tích phong cách học ấy “ ít nhiều đều xa rời nhữngđặc điểm của thể loại của tiểu thuyết, xa rời những điều kiện tồn tại đặc thù củangôn từ trong tiểu thuyết” {2,89} Bởi lẻ “ chúng thâu tóm ngôn ngữ và phongcách nhà tiểu thuyết không phải như ngôn ngữ và phong cách tiểu thuyết, mà hoặcnhư những biểu hiện của một cá tính nghệ thuật nhất định, cuối cùng, như một hiệntượng của ngôn ngữ thi ca nói chung” {2,89}
Nhìn chung, nghiên cứu tiểu thuyết – một “ thể loại văn chương đangchuyển biến và còn chưa định hình”, các nhà nghiên cứu không chỉ ít gặp bất cậpkhi bàn về khái niệm tiểu thuyết mà việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyếtnói riêng, đặc trưng thể loại tiểu thuyết nói chung còn có những khó khăn nhấtđịnh Dựa vào đặc điểm của thể loại tiểu thuyết ( cũng như nghệ thuật ngôn từ,cùng với những thành tựu của các nhà nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ nghệ thuậtthì xét tổng thể, ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ
Trang 20tiểu thuyết trước hết cũng mang những đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật nóichung.
- Về hệ thống tín hiệu
Ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ thống tín hiệu tự nhiên, mang tính toàn dân
Nó được xác định như cái mã chung, phổ biến giúp con người diễn đạt suy nghĩ,tình cảm, là công cụ của quá trình giao tiếp và tư duy Nhà văn sử dụng ngôn ngữ
để tạo nên tác phẩm nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, làvật liệu xây dựng nên những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật So với thứvật liệu ban đầu ấy, ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là một phứctạp hơn rất nhiều Mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một phương tiệnbiểu hiện tham gia vào bộc lộ nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm Có thểnói, ngôn từ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng thuộc hệ thốngtín hiệu thứ hai, còn ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ nhất, là cơ sở
để cấu thành ngôn ngữ tiểu thuyết, ngôn ngữ nghệ thuật ( cấu thành hệ thống tínhiệu thứ hai)
Trang 21Ngược lại, trong ngôn ngữ nghệ thuật, chức năng thẫm mĩ xuất hiện ở bình diệnthứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai Chức năng thẫm mĩđược hiểu khác về chất: chức năng nghệ thuật – hình tượng.
Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật nên nó mang đậm tính truyềncảm Đó là khả năng đem đến cho người đọc, người nghe những cảm xúc buồn,vui, yêu, ghét, hài lòng hay bực tức, giận dữ…Đây chính là điều làm nên điểmmạnh của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng Bởi nókhơi gợi cảm xúc ở người tiếp nhận, ít nhiều tạo ra sự giao hòa, đồng cảm giữangười tiếp nhận với chủ thể sáng tạo nên tác phẩm
Ngôn ngữ tiểu thuyết mặc dù mang đầy đủ đặc điểm vốn có của ngôn ngữnghệ thuật nói chung như tính hình tượng, tính cấu trúc, tính truyền cảm, tính cụthể hóa…nhưng vẫn có những đặc thù riêng của thể loại Ngôn ngữ của tác phẩmtrữ tình ( thơ ca) là ngôn ngữ giàu nhạc tính, biểu hiện ở vần, nhịp và sự hài hòacân đối Đó là ngôn ngữ thấm đậm cảm xúc của chủ thể sáng tao, là ngôn ngữ đánhdấu sự tồn tại của chủ thể trữ tình trong khi đó ngôn ngữ tiểu thuyết lại là ngôn ngữ
kể chuyện, mang tính khách quan
Tiểu thuyết là một loại văn tổng hợp Bởi lẽ, như Nguyễn Đình Thi nhận xét:người viết tiểu thuyết vẽ lên hình ảnh của sự vật như một họa sĩ và đi vào trongtâm hồn các con người mà diễn đạt những tình cảm vô hình như một nhà thơ hoặcmột nhạc sĩ Người viết tiểu thuyết điều khiển các nhân vật và cho các nhân vật vachạm nhau như một người viết kịch hoặc một người đạo diễn điện ảnh Người viếttiểu thuyết kể lại các sự việc như một phóng viên tìm hiểu, đánh giá sự việc nhưmột nhà bình luận Có thể nói, trong tiểu thuyết có đủ các loại văn và có cả cácngành nghệ thuật nữa {56,306}
Trang 22Tiểu thuyết là thể loại có khả năng dung nạp những thể loại khác, chẳng hạnnhật kí, thơ, phụng sự, thư từ… tiểu thuyết cũng “ hấp thu vào bản thân nó mọi yếu
tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêmtúc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ” {22,278}
Tất cả những điều đó làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết mang một màu sắc kháchẳn với các thể loại khác: vừa đạm tính nghệ thuật nhưng cũng rất đỗi bình dị nhưlời nói hàng ngày
1.2 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Một mình một ngựa
1.2.1 Vài nét về Ma Văn Kháng và sáng tác của Ma Văn Kháng
Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng 12năm 1936 Quê gốc của Ma Văn Kháng ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hànội Ông tham gia quân đội từ tuổi thiếu nhi, được cử đi học ở Khu học xá NamNinh, Trung Quốc Năm 1963, sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm, ông lên dạyhọc ở Tây Bắc 22 năm sống và làm việc ở Lào Cai, ông đã trải qua nhiều môitrường công tác: giáo viên, hiệu trưởng trường trung học, thư kí cho bí thư tỉnh ủy,phóng viên, phó tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh Trong một lần đi làm thuếnông nghiệp, ông bị ốm nặng ở một làng đồng bào Giáy, may nhờ một vị cán bộhuyện ủy địa phương tìm thầy thuốc chữa khỏi cho Vị này họ Ma Khỏi bệnh, ôngkết nghĩa với ân nhân mình và lấy bí danh Ma Văn Kháng Cái tên Ma Văn Kháng
từ đó gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông
Hơn 20 năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, ông đã tận dụng những vị trí củamình để quan sát cuộc sống từ dưới lên, từ trên xuống, từ ngoài vào, từ trong ra
Có thể nói, Ma Văn Kháng khá am hiểu lối sống, phong tục, văn hóa của đồng bàocác dân tộc thiểu số nơi đây Hàng ngàn trang sách của ông quện đặc tình yêu conngười, tình yêu thiên nhiên vùng Tây Bắc Thời gian đầu những năm 60, Lào Cai
Trang 23nói riêng và miền núi nói chung còn giữ được nhiều vẻ hoang sơ với những tập tụcsinh hoạt cổ xưa Với lòng hiếu kì của tuổi trẻ; với đầu óc am hiểu, ham khám phácủa một trí thức, với trái tim nồng nhiệt của một con người cầm bút, Ma VănKháng vồ vập mảnh đất lạ bằng một tình yêu say đắm Bút danh Ma Văn Khángphần nào đã nói lên tình yêu mà ông dành cho vùng đất giàu tình nghĩa ấy, đồngthời, từ trong tâm khảm, nhà văn đã coi Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình.
Ma Văn Kháng viết văn để giải bày những suy nghĩ riêng của ông về sốphận, về con người, về những gì ông từng biết, từng trải qua hay suy ngẫm chiệmnghiệm Văn là đời, văn là người, điều này đặc biệt chính xác với Ma Văn Kháng
Ông tâm sự: Có sự tương hợp giữa sự thành nhân và đắc đạo văn chương Chặng
đường đời dài mấy chục năm qua của ông đã chứng minh cho sự tương hợp ấy.Ông luôn có ý thức tự rèn luyện mình để viết văn Nhưng viết văn là để rèn luyệnmình Chu kì chuyển đổi đó không ngừng vận hành trong cuộc sống hàng ngày củaông Từ cậu học trò ngơ ngác đã trở thành nhà văn Ma Văn Kháng được bạn đọcmến mộ, là một trong những nhà văn tiêu biểu của thế hệ chống Mỹ Ông làm việckhông mệt mỏi, đi không mệt mỏi Sau mỗi chuyến đi, đầu óc ông lại ngùn ngụtnhững ý tưởng mới về lẽ sống, về sáng tạo…
Từ truyện ngắn đầu tay có tên là Phố cụt ( 1961), tính đến thời điểm này,ông đã công bố gần 20 đầu sách, chủ yếu là thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết
Đáng chú ý như: Đồng bạc trắng hoa xòe ( tiểu thuyết – 1979), Mưa mùa hạ ( tiểu thuyết – 1982), Vùng biển ải ( tiểu thuyết – 1985), Mùa lá rụng trong vườn ( tiểu thuyết – 1985),Côi cút giữa cảnh đời ( tiểu thuyết – 1989), Đám cưới không có giấy giá thú ( tiểu thuyết – 1989), Chó Bi, Đời lưu lạc ( tiểu thuyết – 1992), Ngược dòng nước lũ ( tiểu thuyết – 1999), các tập truyện ngắn: Ngày đẹp trời (1986), Vệ sĩ của Quan Châu (1988), Trái chín mùa thu (1988), Heo may gió lộng
Trang 24(1992), Trăng soi sân nhỏ (1994), Ngoại thành ( 1996), Vòng quay cổ điển ( 1997)
…và gần đây nhất, năm 2008, ông vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết mang tính
chất tự truyện Một mình một ngựa.
Các nhà nghiên cứu thường nhận xét rằng, cho đến nay, ngòi bút của MaVăn Kháng chủ yêu đi về trên hai miền đất chính: cuộc sống, phong tục của ngườidân miền núi, đặc biệt là vùng biên ải, nơi “ đầu sóng ngọn gió” và những đa đoan,phức tạp của đời sống thành thị trong cuộc chuyển mình mãnh mẽ của đất nướcthời hậu chiến Đó không pải là những đề tài mới Ngay từ những năm năm mươi,
Tô Hoài đã viết rất hay về miền núi Tây Bắc Bản thân Ma Văn Kháng không có ýđịnh nói lời đầu tiên, và càng không có ý định lặp lại lời nói của những người đi
trước Trong truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, Ma Văn Kháng đã để cho một nhân vật nghĩ thế này…Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể mình
ở chiều sâu tâm hồn, chứ đâu phải là đi hót lấy cái váng bọt nổi trên mặt của ngoại vật “ Đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn” Ma Văn Kháng đã chính thức
tạo cho mình một tiếng nói riêng
Nhiều sáng tác được Ma Văn Kháng viết ra như là để đối thoiaj, tranh biệnvới các ý thức xã hội, ý thức nghệ thuật của thời đại Đọc Ma Văn Kháng theeysxuyên suốt những trang văn một triết luận đời sống hết sức nhất quán.Triết luận ấylấy tình người, tính người và sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện vềcon người và cuộc đời PGS.TS Lã Nguyên đã nhận xét trong một bài viết củamình rằng: “Ma Văn Kháng là nhà văn của cái đẹp trong dòng đời sinh hóa, bình
dị, hồn nhiên, cái đẹp trong niềm hạnh phúc được làm người với ý nghĩa đích thựccủa nó chứ không phải cái gì khác”
Nếu như trước thập kỉ 80, những trang viết của Ma Văn Kháng in đậm dấu
ấn của một thời lãng mãn thì những trang viết của ông sau này thể hiện sự bứt phá,
Trang 25thay đổi đáng kể về tư duy nghệ thuật Cái nhìn mang hơi hướng sử thi đã nhườngchỗ cho cái nhìn thế sự tỉnh táo và sắc nét hơn Cuộc sống giờ đây không còn đơntuyến mà đa tuyến, nhiều chiều Cái “ Cõi nhân sinh bé tí” hóa ra chẳng đơn giảnchút nào Ở đó, cái xấu xen lẫn cái tốt, ma quỹ chen lẫn với thánh thần Không chỉquan tâm đến thân phận con người nhiều hoàn cảnh, nhiều quan hệ khác, thậm chíđối lập nhau, Ma Văn Kháng còn có ý thức mở rộng liên hệ nghiên cứu về con
người Ông nhìn thấy cả phần con và phần người Cái nhìn này xuất phát từ quan
niệm của nhà văn: phải chú ý đầy đủ hơn sự “ bí ẩn” của con người và thể hiện nótrong tính đa dạng, toàn vẹn như nó vốn có Cũng bởi thế, Ma Văn Kháng nóinhiều về đời sống bản năng, cái yếu tố hoặc dìm chết con người trong vòng dụckhôn cùng hoặc khiến con người thăng hoa trong hạnh phúc Vấn đề quan trọngnhất của mỗi cá nhân là cái đích mà họ hướng tới Nếu cái đích ấy là đúng hạnhphúc sẽ mỉm cười: nếu cái đích ấy lầm lạc thì cuộc đời là chuỗi tai họa Có thể nói,cùng với những cây bút nhạy cảm như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải… MaVăn Kháng đã góp phần thổi vào văn học Việt Nam sau 1975 một luồng sinh khímới: phải thoát khỏi tình trạng bao cấp về tư tưởng, phải nhìn thẳng vào hiện thực
và viết về nó bằng cái nhìn in đậm chính kiến cá nhân của người cầm bút
Về quan niệm về văn chương nghệ thuật của Ma Văn Kháng.
Ma Văn Kháng không phải là một nhà văn kiên nhẫn, biết giấu kín ý đồnghệ thuật của mình để bắt người đọc phải lần tìm, phải trăn trở Ông luôn thẳngthắn công khai thừa nhận về vấn đề tư tưởng cốt yếu trong sáng của mình rồi dẫndắt người đọc theo một lộ trình được sắp xếp sẵn để họ tự lý giải về cuộc sống, vềđời người, về thân phận Khảo sát ý kiến trực tiếp của Ma Văn Kháng về nghề văn,nhà văn cũng như cách thể hiện gián tiếp qua nhân vật trong sáng tác của ông, cóthể hình dung quan niệm về văn chương nghệ thuật của Ma Văn Kháng như sau:
Trang 26Văn chương nghệ thuật, theo ông, là một nghề cao quý, một duyên phận đòihỏi sự tâm huyết, dấn thấn hết mình của người nghệ sĩ “ Văn chương, nó là cáiduyên trời cho Muốn cũng không được mà không muốn cũng không được”{35,290} Viết văn là một công việc không hề đơn giản, làm nhà văn không phải làmột nghề nghiệp thông thường, ở đó, tuổi đời và tuổi nghề không phải là một sựđảm bảo cho thành công:‘‘Văn chương là một hoạt động nặng nhọc quá sức người,một nghề cực khó, thành bại, sa sẩy chỉ trong gang tấc, nhiều khi như là có duyênthì có lộc‘‘ kẻ đón người đưa” [ 35,10 ] Nhà văn cho rằng, văn chương đòi hỏigắt gao về tài năng và công phu lao động nghệ thuật:‘‘ Văn chương cũng giốngnhư sống ở đời Không phải vác mai đi đào khi thÊy người ta ăn khoai Chân đếcủa văn chương, hồn cốt của nó là tình yêu lớn Thiếu nó ta rất giống một loài nấmsặc sỡ, phù phiếm và độc hại‘‘[35] Ma Văn Kháng đã đặt văn chương trông quan
hệ gắn bó với cuộc sống, với chủ thể sáng tạo, với người đọc trong tiểu thuyết
Ngược dòng nước lũ, nhà văn đã để cho một nhân vật của mình nghĩ: Văn chương
‘‘ là mảnh đất lưu giữ hình bóng cuộc đời” Văn chương là tấm gương phản ánhhiện thực, là nơi lưu giữ hình bóng cuộc đời và linh hồn văn chương phải luôn làmột tình yêu lớn của nhà văn với cuộc đời
Viết văn là‘‘ đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”, vì lẽ đó, nhà văn phải đối diệnvới chính mình, trải lòng mình ra với mọi người qua tác phẩm Con đường duynhất nối kết nhà văn với độc giả chính là tác phẩm văn học và duy nhất như vậy.Với Ma Văn Kháng, thử thách đầu tiên của người cầm bút chính là đối mặt với nỗi
cô đơn trong sáng tạo Và vì lẽ đó, sáng tạo văn chương là một thử thách nghiệtngã bởi không phải ai cũng có can đảm đối mặt với nỗi cô đơn Theo ông,‘‘ nhàkhoa học tự nhiên có thể cần đến sự yên tĩnh để làm việc Còn nhà văn, họ cần đến
sự vò xé tâm hồn Họ cần thời gian để bày tỏ sự vò xé”[35] Nhà văn viết về cuộc
Trang 27đời thông qua lăng kính chủ quan của họ, họ cần có thời gian đối thoại với mình
mà cảm nhận đến kiệt cùng nỗi đau khổ và niềm hạnh phúc của người khác
Viết văn đòi hỏi tài năng của người nghệ sĩ sáng tạo ngôn từ:‘‘ Tài năng là điềukhông thể thiếu làm nên một nhà văn theo đúng nghĩa của từ này Cho nên, mặc
dù ai cũng có thể nói viết được ít nhiều, nhưng không phải bất cứ ai cũng trở thànhnhà văn”[48] Và điều đáng nói chính là ở chỗ không thể nào tạo ra được tài năng
kể cả khi người ta hết sức cố gắng để tạo nên nó bằng thời gian và nghị lực Dovậy, văn chương ở trên sức người bình thường Và nhà văn, người cầm bút phảichú trọng những điều gì? Theo Ma Văn Kháng, điều kiện tiên quyết là sự trảinghiệm đời sống Sống rồi hãy biết, cuộc sống thực sẽ là sự đảm bảo chắc chắn chomọi hư cấu, sáng tạo được thỏa sức tung hoành Sống tâm huyết, gắn bó với những
gì mình nung nấu quan sát, ngẫm ngợi, đó là con đường của nhà văn, bởi “ chỉ cóthể miêu tả được cuộc sống sau khi đã sống ở trong nó một cách thực sự và hếtlòng tới mức quên hẳn chức nghiệp của mình” {35,309}
Thể loại là một vấn đề mà Ma Văn Kháng quan tâm Không chỉ có cáchphân định rất nghị sĩ theo kiểu: “ Nếu tiểu thuyết là một cô gái đẹp lỗng lẫy thuầnthục thì truyện ngắn là cô thiếu nữ có cái duyên ngầm, cái duyên bẩm sinh”{2,358}, nhà văn còn đưa ra những suy nghĩ rất đáng quý về truyện ngắn và tiểuthuyết, đặc biệt là suy nghĩ về chính quá trình sáng tác và về tác phẩm của mình.Bàn về truyện ngắn, Ma Văn Kháng xác định vai trò, vị trí của nó đối với một đờivăn “ Truyện ngắn có thể coi là nơi trường văn trận bút để thử tài…Truyện ngắn làthứ nhập môn Nó là cửa lớn để đi vào làng văn Có thể vì nó cũng khó viết, khó vìngắn mà lại phải có cái duyên ngầm lặn trong chữ nghĩa, cách kết, giọng kể”{35,358}
Trang 28Có thể nói, Ma Văn Kháng là một trong số không nhiều cay bút sung sứchiện nay trình bày một quan niệm thẳng thắn và sâu sắc về nghề văn và nhà văn, vềlao động nghệ thuật Nhiều suy nghĩ của ông là những suy nghĩ đáng trân trọng,được chắt lọc từ tâm hồn nghệ sĩ tha thiết với văn chương nghệ thuật và có tráchnhiệm với nghề nghiệp, với cuộc đời Quan niệm đó chi phối hầu hết trong sáng táccủa nhà văn, ẩn hiện trong hầu hết những trang văn ông viết.
Đóng góp của Ma Văn Kháng trên phương diện ngôn từ đã được giáo sư
Phong khẳng định trong một bài viết của mình: Có thể nói đến một thương hiệu
Ma Văn Kháng từ Mưa mùa hạ trở về sau, làm nên một dấu ấn riêng, khác biệt với nhiều người, mọi chất liệu hiện thực kiểu Ma Văn Kháng Đặc biệt là ngôn ngữ, nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ - áp cận vào thì hiện tại tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng và trước đó là Tô Hoài, đó là hai trong số ít người viết có được một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng Tác giả Trần Cương trong bài viết Mùa lá rụng trong vườn - Một đóng góp mới của Ma Văn Kháng cũng nhận xét: Càng ngày, sự kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện ở Ma Văn Kháng càng nhuần nhụy với văn chương duyên dáng và trong sáng ( có gọt giũa nhưng không cầu kì, kiểu cách theo lối làm văn) cùng với các thủ pháp nghệ thuật đã được vận dụng một cách thuần thục như dùng ẩn dụ, so sánh, liên tưởng, lập thế tương phản, song hành,sử dụng đối thoại…tất cả những cái đó không bề bộn, rối rắm mà được điều hành nhịp nhàng cân đối bởi một tư duy nghệ thuật cần mẫn sắc sảo Tất cả những
nhận xét trên, có thể nói, gần như được kiểm chứng đầy đủ trong cuốn tiểu thuyếtMột mình một ngựa mà tác giả vừa cho ra mắt bạn đọc trong thời gian gần đây
Với những cống hiến hết mình cho văn nghiệp, tên tuổi cùng với những sángtác của Ma Văn Kháng đã được khẳng định bằng một loạt những giải thưởng cógiá trị
Trang 29- Giải B, Hội nhà văn (1986) dành cho tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn.
- Tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi, Hội nhà văn ( 1995)
- Giải thưởng văn học Đông Nam Á ( 1998) cho tập truyện ngắn Trăng soisân nhỏ
- Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội ( 2009) cho cuốn tiểu thuyết Mộtmình một ngựa
1.2.2 Về tiểu thuyết Một mình một ngựa
Trong một bài phòng vấn, Ma Văn Kháng tâm sự: Thật tình tôi đã định thôiviết tiểu thuyết Nhưng trong những ngày nghỉ ngơi, ngẫm lại đời mình, tôi bốngnhận ra còm một đoạn đời có chút ý nghĩa của mình bị chính mình lãng quên.Đoạn đời ấy chính là quãng thời gian mấy năm trời ông đã chuyển sang làm thư
ký cho bí thư tỉnh ủy trong 22 năm ở Lào Cai
Quyết định “ phải kể nốt những chuyện mình đã biết ở đoạn đời này” MaVăn Kháng muốn vẽ lại chân dung những con người mà ông đã được sống và làmviệc qua con mắt nhìn của một ông giáo, một tiểu trí thức, trong tinh thần thực sựcầu thị Nghĩa là, ông cố gắng gọi đúng tên sự vật, không tô hồng, huyền thoại hóa
họ và nhất là không tô đen bóp méo, phủ định sách trơn
Với cách viết mới, lấy cảm hứng từ niềm say mê trước vẻ đẹp kiêu hùng củacon người trước cuộc đời gian truân, còn nhiều khuyết tật, đầy mặc cảm cô đơn vàdạt dào sức sống mạnh liệt, nhà văn Ma Văn Kháng đã hoàn thành cuốn sách dày
370 trang chia thành 18 chương ( không đặt tên riêng)
Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh ở 0 tròn ( nơi sơ tán của cơ quan tỉnh ủyHoàng Liên trong những năm chống Mỹ) với các nhân vật trung tâm là nhữngngười cộng sản trong tỉnh ủy: năm ông thường vụ, năm ông trợ lí và gần chục cán
bộ văn phòng tỉnh ủy Tất cả đều là Đảng viên ở những vị trí quan trọng Bằng sự
Trang 30phát hiện nhạy bén, phân tích tâm lí vững vàng, nhận thức sắc sảo đặc biệt của nhàvăn chính luận…Ma Văn Kháng đã dẫn độc giả cùng Toàn ( một thầy giáo dạy văn– nhân vật chính của tiểu thuyết) thâm nhập, hòa đồng vào cơ quan đầu não củatỉnh Hoàng Liên, gặp gỡ tiếp xúc với từng người để hiểu cặn kẽ về họ từ ngoạihình, li lịch xuất thân, quá trình công tác, cái tốt lẫn cái xấu, những việc làm thănghoa bay bổng và cả những phút yếu lòng sa ngã xuống vực thẳm Ngòi bút Ma VănKháng thể hiện cái nhìn nghiêm khắc, thấu lí đạt tình như một công tố viên trongphiên tòa: ông môt xẻ, phân tích đúng sai, cân đo giữa công và tội và bằng lí lẽ cáiđầu lạnh duy ysc hí và trái tim nhân văn đậm tình người của mình Năm ôngthường vụ tỉnh ủy Hoàng Liên, năm con người cụ thể bằng xương bằng thịt, sốngđộng phức tạp và cũng rối rắm biết chừng nào Mỗi người phụ trách mỗi công việc,trong một hoàn cảnh riêng, tình cách đều mạnh mẽ, khác biệt Họ phần đông là bảothủ, cá nhân, cho mình là tài giỏi phi thường Mỗi người có cách lãnh đạo, xử lúriêng; đúng đắn, xuất sắc, sáng tạo đến mức anh hùng Nhưng cũng có những lúc,
họ lại sai lầm hiển nhiên, ấu trĩ, mông muội, hẹp hòi chó chấp nhận Như ông KéLanh, ủy viên thường vụ, trưởng ban tôn giáo, người Tày ở Lạng Sơn, theo cáchmạng từ năm 1945, xuất thân là cán bộ xã, văn hóa hết cấp II, một người nhiệt tình,hết lòng vì cách mạng nhưng do trình độ hạn chế nên ngộ nhận đến mức ấu trị.Đọc bất cứ bài báo, cuốn truyện, bài thơ nào cũng đều tìm thấy sự biến tướng,chống phá, bêu rếu cách mạng nên ông phê bình tòa báo, nhà xuất bản Đi khaimạc, đọc diễn văn, phát biểu ở hội nghị nào của tỉnh, ông đều mở đầu bằng những
bài thơ ông sáng tác theo kiểu “ bút tre” ngang phè, ngô nghê, đầu Ngô mình Sở
như hô khẩu hiệu: Tất cả cho sản xuất, đánh thắng giặc Mĩ xâm lược Nhất địnhphải dánh thắng lợi…Đó là ông Văn Hiến, thường vụ phụ trách nông nghiệp “ xuấtthân cố nông, chuyên làm thuê cuốc mướn, với hình hài còi cọc, mắt có lẹo, hồ trẻ
Trang 31lên khai hoang ở Mường Thông, lân la mãi mới xin được chân giám mã troongc oimấy con ngựa ở cơ quan huyện ủy Bản chất là một anh cố nông láu cá, tinh ma,biết tính toán cơ hội để leo dần lên đến chức vụ quan trọng này và đang mon men,rình thời cơ để thay quyền bí thưu tỉnh ủy của ông Quyết Đinh Rồi ông Vi VănĐinh thiếu tá tỉnh đội phó “được cái trắng trẻo, hiền lành, mặt mũi sáng sủa nêntrúng chủ tịch tỉnh” Nhưng đần lắm, lại nói lắm, đọc một cái baosc áo, diễn văn “ê
a hàng tiếng, chữ nọ xọ chữ kia”, thậm chí có hôm cô Tình văn thư soạn công vănđóng nhầm hai bản giống nhau nhưng ông vẫn đọc lại mà không hay biết Còn ôngĐoàn Văn Gia, ủy viên thường vụ, trưởng ban công nghiệp và quân sự tỉnh là “người con trai độc đinh của gia đình nhà nho nghèo, ông mắc tội “ bất hiếu hữutrác” vì không thể có con”, bà vợ ông vì quá khát khao làm mẹ nên đã ngủ vớithằng lái trâu hàng xóm mới ra tù, làm ông khổ, nhục…Vì nỗi buồn “vô tử vi đạt”sâu xa ấy àm ông đắm mình vào công việc để quên đi nỗi bất hạnh của mình Cuốicùng là ông Quyết Định, bí thư tỉnh ủy, ngoài 50 tuổi, nhân vật chính của tiểuthuyết được Ma Văn Kháng với cảm hửng sử thi, tập trung xây dựng làm sáng lên
“ hình ảnh người cộng sản anh hùng lẫm liệt với nhân cách đạo đức, tác phong điểnhình của người lãnh đạo đứng đầu tỉnh” Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, “lúctrai trẻ ông Quyết Định trong vai chính khách giữa vùng đất Pha Linh - một mìnhmột ngựa - một tuổi trẻ, một chiến mã, tâm hồn lãng mạn, đại diện cho Tổng bộViệt Minh thân cô thế cô, hiên ngang xuất hiện giữa các thổ ty, chúa đất, họ tộc ở
Ba Sơn, Mường Thông, Pha Linh thuyết phục họ tuân theo chính phủ trung ươnghội đủ 3000 dân binh hợp vệ quốc quân đánh đuổi bọn phản động uốc dân Đảng tạisào huyệt cuối cùng ở thị xã Hoàng Liên: Suốt cuộc đời mình, “ông Quyết Địnhmang cái uy thế của thế hệ mở đường, một mình một ngựa quả cảm xông pha; kẻthù sợ hãi ông, các đồng chí kính trọng ông ở nhiệt tình và phẩm chất cách mạng,
Trang 32quý mến ông ở đạo đức tư cách; sống khiêm nhường giản dị liêm khiết, khôngmang tu lợi, công bằng, vô tư…Là bí thư tỉnh ủy, người đứng đầy tổ chức Đảng bộtỉnh mà chủ nhân vật đi lấy củi góp cho bếp tập thể, vẫn vác cuốc lên nương trồngsắn, làm lúa nương để thực hiện chỉ tiêu lương thực giao cho đảng viên…Gần 20năm giữ cương vị bí thư tỉnh ủy, ông đã hoàn thành một kì tích: đặt chân lên đủ
1818 thôn, 124 xã…Ông là viên đạn đã ra khổi nòng đi theo một đường thẳng,không vân vi Ông là nhà cách mạng chuyên nghiệp, một lòng một dạ hướng tớimục tiêu đã định Ông là lịch sử đã hoàn thành” Có thể nói, Ma Văn Kháng đã xâydựng thành công chân dung thời sống trần trụi, đời thương nhưng mãnh liệt, mạnh
mẽ về lí tưởng, tính cách sống anh hùng, hấp dẫn đến mê hoặc về người công sảnqua nhân vật bí thư tỉnh ủy Quyết Định, một điều mà tiểu thuyết đương đại ViệtNam ít người làm được
Không nhiều nhưng cũng đủ để thấy được sự đa dạng và tính phức tạp cảumột tiểu thuyết xã hội Tất cả hiện lên qua cái nhìn “ khám phá” của Toàn, mọtthầy giáo dạy văn được điều về phòng làm thư kí cho bí thư tỉnh ủy, hàn ngày,được tiếp xúc với các ông thường vụ, các ông trợ lí của các ông thường vụ, rồinhững nhân viên văn phòng…Hình như, ở đây, ai nấy đều bị đặt nhầm chỗ Họphải làm những công việc không phù hợp khả năng của mình Họ phải sắm nhữngvai không vừa với phẩm chất vốn có Hàng loạt chuyện bi hài, dở khóc dở cười đãxẩy ra từ những con người bị đặt nhầm chỗ này Đó là những chuyện mà bếukhông phải là người “ trong chăn”, tác giả sẽ không biết và không thể kể lại mộtcách hoạt kê, thú vị đến thế
Xét về mặt bút pháp, tác phẩm tuân thủ theo những nguyên tắc kinh điển củatiểu thuyết: thời gian tuyến tính, ngôi xưng là ngôi thứ anh (anh), nhân vật điển
Trang 33hình trong hoàn cảnh điển hình, có mẫu thuẫn lớn nhỏ và giải quyết mâu thuẫn làthen chốt của tình huống truyện.
Cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn tự truyện Các sự kiện, tình huống, tâ, trạng,hàng động của nhân vật ông giáo Toàn về cơ bản chính là những gì tác giả đã nếmtrải Các nhân vật khác trong sách đều có nguyễn mẫu Nhưng tất nhiên, tất cả đãđược tiểu thuyết hóa theo yêu cầu của thể loại
Tự truyện là một thể loại hình thành và phát triển sớm trên thế giới, gắn liền
với những tên tuổi như L.Tônxtoi ( Thời thơ ấu), J.Rutxo (Tự thú)… Ở Việt Nam,
tự truyện xuất hiện trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 với Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn của Nam Cao…và đã làm
nên một cuộc cách mạng nghệ thuật ở những mức độ đậm nhạt khác nhau
Các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng từ Đám cưới không có giấy hôn thú, Ngược dòng nước lũ cho đến tiểu thuyết Một mình một ngựa dù mang một số dấu
hiệu của tự truyện những vẫn chưa hẳn là tự truyện theo quy ước của thể loại, đóchỉ là những tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện Khuynh hướng tự truyện trongtiểu thuyết giúp người đọc không chỉ giải mã con người tác giả và thời đại trảinghiệm sống và tựu thú chân tình Trong Một mình một ngựa, người đọc dễ cónhững liên tưởng giữa tác giả với nhân vật trong tiểu thuyết từ những trải nghiệmchân thực về đời sống và bản thân, chuyển hóa vào hình tượng nhân vật trong tácpjaamr làm cho cuốn tiểu thuyết đạm tính tự thuật Ở đây, ý thức tiểu thuyết đã bịchi phối bởi tinh thần tự truyện
Vấn đề tự truyện trong tiểu thuyết là vấn đề có ý nghĩa đối với văn họcđương đại bởi nó gắn với vấn đề cái tôi tác giả - sự khẳng định cái tôi cá nhânmạnh mẽ trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, sự tương tác và dung nạp lẫnnhau giữa các thể loại Cùng với quá trình đổi mới, yếu tố tự truyện xuất hiện ngày
Trang 34càng nhiều thể hiện nhu cầu được bộc lộ cái tôi, ý thức phản tỉnh và khuynh hướngnhận thức lại thực tại của dòng văn học tự vấn Với khuynh hướng tự truyện quatiểu thuyết Một minh một ngựa, Ma Văn kháng đã góp thêm một tiếng nói trongdòng văn hoch hướng nội hôm nay.
Tiểu thuyết Một mình một ngựa là một thành công lớn, một đỉnh cao trong
cuộc đời cầm bút của Ma Văn Kháng Tiểu thuyết xứng đáng với giải thưởng củaHội nhà văn Hà Nội năm 2009
trọng hàng đầu của văn học Trong nền văn học đương đại Việt nam, Ma VănKháng được coi là một nhà văn tiêu biểu, có nhiều đóng góp lớn Tiểu thuyết củaông từ tác phẩm đầu tay Đồng bạc trắng hoa xòe (1980) cho đến gần đây nhất Mộtmình một ngựa (2010) luôn lấy cảm hứng từ thân phận con người, từ cuộc sốngđầy biến động với tất cả niềm vui, nỗi buồn Ngôn ngữ tiểu thuyết của Ma VănKháng giàu nội lực, đó là thứ ngôn ngữ giản dị nhưng trong sáng tinh tế Tiếp tục
dòng sáng tác của các tiểu thuyết như: Vùng biên ải, Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy hôn thú… tiểu thuyết Một mình một ngựa lấy cảm hứng từ niềm say
mê trước vẻ đẹp kiêu hùng của con người giữa cuộc đời gian truân, còn nhiều
khuyết tật, đầy mặc cảm cô đơn và dạt dào sức sống mạnh liệt Có thể coi Một mình một ngựa là cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn tự truyện của cây bút văn xuôi Ma Văn Kháng Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Một mình một ngựa, có thể coi là biểu hiện
khá đầy đủ cá tình ngôn ngữ tiểu thuyết Ma Văn Kháng ở các chương tiếp theo,
Trang 35luận văn tập trung làm nổi bật những nét đặc sắc trong ngôn ngữ tiểu thuyết Một mình một ngựa.
CH Ư ƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM DÙNG TỪ TRONG TIỂU THUYẾT MỘT MÌNH MỘT NGỰA
ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ ngôn ngữ” {52} Quả đúng như thế,khi đi vào ngôn ngữ, các từ luôn được tái hiện như một đơn vị cơ sở nhất và tự baogiờ cũng là một trong những vấn đề trung tâm của nghiên cứu ngôn ngữ
Các từ trong một ngôn ngữ cụ thể đều có sự biến đổi và kết hợp trong câutheo một quy tắc ngữ pháp nhất định Tuy nhiên, rất khó có một khái niệm, mộtđịnh nghĩa thống nhất về từ Đó là hiệu quả của sự khác nhau về cách định hình, vềchức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũngnhư trong cùng một ngôn ngữ
Trang 36Các nhà nghiên cứu đã đưa ra hàng trăn định nghĩa về từ Ở đây chúng tôichọn định nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở xác định đơn vị từ trong tiểu thuyết
Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng.
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ýnghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định tuântheo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏnhất để cấu tạo câu{19,139}
Theo định nghĩa này, từ có ba đặc điểm
1/ Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa nhỏ nhất
2/ Có cấu tạo theo một kiểu phương thức ngữ pháp nhất định
3/ Có chức năng cấu tạo câu
Trong các đơn vị ngôn ngữ: âm vị, hình vị, từ,câu thì từ là đơn vị có thể địnhdanh, nhưng trong ngữ đoạn, từ còn có chức năng phân biệt nghĩa, bộc lộ ý nghĩanày thành yếu tốt cấu tạo giống như hình vị hoặc có thể đảm nhiệm chức năngthông báo khi trở thành câu Với thuộc tính nhiều chức năng, từ trở thành đươn vịchiếm vị trí trung tâm trong hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ
b Phân biệt từ tiếng Việt
b1 Phân loại từ về mặt cấu tạo
Có nhiều tác giả phân loại từ về mặt cấu tạo khác nhau do dựa vào các cơ sởkhác nhau Có người dựa vào số lượng âm tiết (hay tiếng) như Nguyễn Tài Cẩn,Diệp Quang Ban Có người dựa vào số lượng hình vị như Đỗ Hữu Châu, Đỗ ThịKim Liên Trong luận văn này, chúng tôi xin trình bày các loại từ xét về cấu tạodựa vào số lượng hình vị Dựa vào số lượng hình vị, có thể chia từ tiếng Việt thànhhai loại: từ đơn từ phức
Trang 37- Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Từ đươn có hai loại từ là đơnđơn và từ đơn đa tiết.Từ đơn đơn tiết là từ đơn có một hình vị đồng thời là một âmtiết Từ đơn đa tiết là từ đơn có một hình vị và nhiều âm tiết Đa số từ đơn tiếng iệt
là từ đơn âm: bàn, ghế, giường, tủ, sách, vở, ăn, mặc, đi, đứng, nghỉ,…
- Từ phức là những từ gồm hai hình vị trở lên Dựa vào phương thức cấu tạo
từ, có thể chia ra từ láy và từ ghép
+ Từ láy
Từ láy là những từ được cấu tạo dựa trên phương thức láy ngữ âm
Căn cứ vào số lượng âm tiết, có thể chia ra: từ láy đôi và từ láy ba (là sảnphẩm của lần láy thứ nhát)và từ láy tư (sản phẩm của lần láy thứ hai)
Ví dụ: Sạch sẽ, ngoằn ngoèo, chập chờn, lấp lánh, khúc khích…-> láy đôi.Sạch sành sanh, dửng dừng dưng, cỏn còn con…-> láy ba
Lạch bà lạch bạch, chập chà chập chờn, ngập ngà ngập ngùng -> láy tưCăn cứ vào bộ phận được láy, có thể chia ra: từ láy hoàn toàn và từ láy bộphận
Từ láy hoàn toàn là những từ láy có toàn bộ phận âm tiết giữ nguyên: xa xa,
xanh xanh, cao cao, hồng hồng…và từ láy toàn bộ có biến đổi âm điệu: tim tím, chầm chậm, nho nhỏ, lơ lớ, từa tựa…
Từ láy bộ phận gồm có từ láy phần vần: lẫm chẫm, chon von, lòng thòng, chênh vênh, lênh khênh, lòng khỏng…và từ láy phụ âm đầu: thấp thỏm, nhí nhảnh, ngổn ngang, nhá nhem, no nê, đanh đá…
Xét ở góc độ sử dụng thì từ láy có tính chất gợi tả, giá trị biểu cảm và giá trịphong cách
Từ láy là sự hòa phối ngữ âm, có tính chất trưng hóa ngữ âm của từ Có thểthấy ba cấp độ biểu trưng hóa ngữ âm trong vốn từ láy
Trang 381/ Từ láy biểu trung hóa ngữ âm giản đơn: chính là ngôn ngữ láy mà chúng
ta quen gọi là từ tượng hình, là những từ mà nghĩa của yếu tố gốc thường đã mờnghĩa
2/ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu (có tiếng, hình vị gốc)
3/ Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa, đây lànhững từ mà nghĩa của yếu tố và cấu tạo của khuôn vần chi phối tác động tạo ranghĩa của từ láy
+ ừ ghép
Từ ghép là từ được tạo thành bằng cách ghép hai hoặc hơn hai hình vị theomột kiểu quan hệ từ nhất định
Căn cứ vào quan hệ giữa các hình vị, có thể chia từ ghép thành hai loại:
Từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa
Từ ghép hợp nghĩa (còn gọi là từ ghép đẳng lập, từ ghép liên hợp, từ ghépsong song, từ ghép tổng hợp) thường gồm hai hình vị, có vai trò tương đươngnhau, không phụ thuộc nhau, cùng tạo thành một kết hợp mang tính khái quát:
ngày đêm, ăn ở, nhà cửa, bút nghiên, đèm sách, đau khổ, trước sau, tươi sáng…
Từ ghép phân nghĩa ( còn gọi là từ ghép chính phụ, từ ghép phụ nghĩa, từghép phân loại) thường gồm một hình vị mang nghĩa tổng loại chung ( về sự vật,hoạt động, thuộc tính) và hoặc một số hình vị đứng sau có tác dụng phân hóa
nghĩa: xe đạp, xe máy, xe công nông, xe xích lô…máy bay, máy cày, máy kéo, máy
nổ, máy khoan, áo bông, áo vải, áo len…tốt bụng, tốt tính, tốt nết, tốt phúc….mát lòng, mát tay, mát tính, mát đầu…nhà văn, nahf báo, nhà phê bình, nhà thơ…
b2 Phân loại từ về mặt nguồn gốc
Trang 39Tiếng Việt hiện nay, xét về nguồn gốc gồm lớp từ thuần Việt và từ vaymượn Lớp từ vay mượn được chia làm hai bộ phận: từ vay mượn gốc Hán và từvay mượn gốc Ấn Âu.
Chiếm số lượng nhiều nhất trong lớp từ vay mượn của tiếng Việt là những từHán Chúng là sản phẩm của quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng hán Sựtiếp xúc này diễn ra rất sớm, khoảng thế kỉ II trước và kéo dài cho đến tận ngàynay Do quá trình tiếp xúc lâu dài, lại được sử dụng nhiều nên nhiều từ trong số đó
đã được Việt hóa cao, thậm chí trong cảm thức của người Việt, chúng ta được xemnhư những từ thuần Việt
b3 Phân loại từ về phạm vi sử dụng:
Theo cách phân loại này có từ toàn dân và từ địa phương Từ toàn dân là vốn
từ được toàn dân sử dụng Từ địa phương là những từ chỉ được dùng ở phạm vimột địa phương nhất định
2.1.2 Từ trong sử dụng
Từ là đơn vị ngôn ngữ sẵn có, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ,tạo thành kho
từ vựng của mỗi ngôn ngữ Ở mỗi người, từ được tích lũy dần và tồn tại trong tiềmnăng ngôn ngữ, tạo nên vốn từ của từng người Trong kho từ vựng của ngôn ngữ
và trong vốn của từng người, từ tồn tại ở trong trạng thái tĩnh với các tiềm năngnhất định Khi các cá nhân thực hiện hoạt động và kết hợp với nhau thì các từ cầnthiết trong vốn từ được huy động và kết hợp với nhau thành các đơn vị lớn hơn(cụm từ, câu, văn bản) để thể hiện các nội dung giao tiếp và làm cơ sở để các cánhân đạt mục tiêu giao tiếp Chính trong quá trình tham gia vào các hoạt động giaotiếp, từ mới thực sự có cuộc sống sinh động, mới bộc lộ rõ và cụ thể hóa các thuộctính hay đặc điểm thuốc các bình diện khác nhau của nó và thậm chí co thể có
Trang 40những sự biến đổi và chuyển hóa đa dạng, phong phú hơn so với khi nó tồn tại ởtrạng thái tĩnh.
Từ nói riêng, ngôn ngữ nói chung là sản phẩm xã hội, là tài sản chung củanhân loại Mọi cá nhân đều được phép sử dụng cái kho báu đồ sộ đó Nhưng làmthế nào để tích lũy cho mình một vốn từ phong phú cũng như việc sử dụng như thếnào cho có hiệu quả, phát huy được tối đa tiềm năng của từ thì ở mỗi người lại có
sự khác nhau nhất định Nhà văn là những người chuyên dùng từ làm vật liệu choquá trình lao động của mình để tạo ra những sản phẩm nghệ thuật ngôn từ Ngoàiviệc cần cù tích lũy cho mình một kho từ thật rủng rỉnh, các nhà văn có tài năng vàtrách nhiệm thực sự còn luôn có ý thức làm mới, làm giàu cho ngôn ngữ của dântộc mình bằng việc sáng tạo ra những từ mới với hình thức ngữ âm mới hoặc đemđến cho từ có sẵn một ý nghĩa mới, một cách sử dụng mới Lịch sử đã ghi nhận sựđóng góp không mệt mỏi của những cây bút bậc thầy như Nguyễn Du, NguyễnTuân…đối với ngôn ngữ dân tộc Là một nhà văn thuộc thế hệ sau này, Ma VănKháng cũng luôn có ý thức làm giàu cho vốn từ của mình Ông được xem là haitrong số ít người viết có được một kho chữ rủng rinht để tiêu dùng (Phong Lê).Không những thế, mỗi từ ngữ được ông viết ra đều thể hiện rõ trách nhiệm cũngnhư thái độ trân trọng của người cầm bút đối với ngôn ngữ dân tộc
2.2 Các lớp từ đặc sắc trong tiểu thuyết một mình một ngựa
2.2.1 Lớp từ khẩu ngữ
2.2.2.1 Về lớp từ khẩu ngữ
Phân loại vốn từ của một ngôn ngữ là một trong những thao tác mà các nhàngôn ngữ thường quan tâm thực hiện Dựa vào các tiêu chí khác nhau, người tachia từ của một ngôn ngữ thành các lớp từ khác nhau Lớp từ khẩu ngữ là kết quảcủa việ phân loại từ theo phong cách sử dung