Trong sáng tác Nam Cao, “ngôn ngữ nhân vật không bị thôn tính bởi ngôn ngữ tácgiả”, “ngôn ngữ ít nhiều phức điệu, tổ chức đợc nhữngmạng lới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ
Trang 1mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trần thuật là một phơng diện cơ bản của tự sự, chiphối mạnh mẽ mạch vận động của tác phẩm cùng bố cục, kếtcấu tác phẩm, cho ta nhìn thấy vị trí, góc nhìn của ngờitrần thuật và mọi diễn biến tâm lý, hành động nhân vật,diễn biến cốt truyện Trần thuật đợc nhắc đến từ xa, trongcác công trình nghiên cứu lý luận văn học hay các công trìnhnghiên cứu về văn xuôi nghệ thuật, đặc biệt là các sách bàn
về lý luận văn học hay thi pháp học Tuy vậy, ở Việt Nam, còn
ít thấy những công trình nghiên cứu toàn diện về trần thuật.Trong bối cảnh hiện nay, khi mà ngành tự sự học ở ta mới đợc
mở ra, thì việc tìm hiểu những đặc điểm của ngôn ngữtrần thuật của một tác giả tiêu biểu trong văn học hiện đại nhNam Cao là một vấn đề thực sự có ý nghĩa
1.2 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung,trào lu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 nói riêng, NamCao là một trong những gơng mặt xuất sắc nhất Sự xuấthiện của ông đã mang đến một luồng sinh khí mới cho vănxuôi Việt Nam hiện đại Bằng tài năng và tâm huyết tronglao động sáng tạo, Nam Cao đã khẳng định đợc vị trí vàphong cách nghệ thuật độc đáo của mình Riêng về truyệnngắn, ông đợc suy tôn là cây bút bậc thầy Vị trí cao cả nàykhông phải nhà văn nào cũng vơn tới đợc Chính vì vậy, trongchơng trình Ngữ văn phổ thông hiện hành (cả trung học cơ
sở và trung học phổ thông), số lợng tác phẩm truyện ngắncủa Nam Cao đợc đa vào giảng dạy, học tập khá nhiều…Việc
Trang 2tìm hiểu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của NamCao lại càng trở nên cần thiết Những kết quả nghiên cứu sẽgóp phần nhất định vào việc thúc đẩy việc nâng cao chất l-ợng dạy học tác phẩm của Nam Cao trong nhà trờng.
1.3 Văn xuôi Việt Nam hiện nay đang trong quá trình
đổi mới về mọi phơng diện, trong đó có sự cách tân vềngôn ngữ Một số tác giả đã gặt hái đợc những thành công,nhng cũng không ít cây bút đang loay hoay tìm cho mìnhmột lối viết, một giọng điệu, một văn phong riêng Việc tìmhiểu thấu đáo các phơng diện trong nghệ thuật tự sự, trong
đó có ngôn ngữ trần thuật ở di sản của những bậc thầy trongquá khứ nh Nam Cao vừa có giá trị thúc đẩy sự tìm kiếmnhững phơng thức biểu hiện mới, vừa giúp ngời nghiên cứunhận diện, đánh giá một cách thỏa đáng những hiệu quả
đích thực của những cách tân
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề ngôn ngữtrần thuật trong truyện ngắn Nam Cao trớc Cách mạng làm
đề tài luận văn thạc sĩ Hy vọng, bằng những kết quả tìmhiểu cụ thể, luận văn sẽ ít nhiều đáp ứng những yêu cầu củanghiên cứu và dạy học Ngữ văn đang đợc đặt ra
2 Lịch sử vấn đề
Nam Cao là một tác gia lớn của văn học Việt Nam Tácphẩm của ông, vì vậy, có sức thu hút lớn đối với giới nghiêncứu Số lợng công trình nghiên cứu (gồm các chuyên luận vàbài viết) về Nam Cao đã lên đến con số trên 200 Đặc biệt làtrong thập niên cuối của thế kỉ XX đã diễn ra hai cuộc Hộithảo khoa học về nhà văn Nam Cao Tháng 11/1991, Viện Vănhọc phối hợp với Hội nhà văn, Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh và Tr-
Trang 3ờng Đại học S phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học nhân 40năm ngày mất của Nam Cao (1951 - 1997) Đến tháng10/1997, Hội thảo khoa học nhân 80 năm ngày sinh Nam Cao(1917 - 1997) do Viện Văn học tổ chức đã khẳng định rõ vịtrí và vai trò của nhà văn trong lịch sử văn học Việt Nam hiện
đại Bằng chứng cao nhất cho sự đánh giá và công nhận củabạn đọc đối với sự nghiệp sáng tác của Nam Cao đó là việcnhà nớc tặng giải thởng Hồ Chí Minh cho nhà văn D âm củacác cuộc Hội thảo là các bài viết, các công trình mới về Nam
Cao tiếp tục đợc khai thác và đợc in trên Tạp chí Văn học
những năm 1997 - 1998 Tất cả những điều nói trên cho thấyNam Cao đã đợc đặt vào vị trí xứng đáng trong lịch sử vănhọc dân tộc
Thành tựu nghiên cứu về di sản văn học của Nam Cao rấtphong phú Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm lạinhững công trình, bài viết có liên quan đến ngôn ngữ nghệthuật trong tác phẩm của nhà văn hiện thực xuất sắc này
Trong lời đề tựa Đôi lứa xứng đôi (Nxb Đời mới, 1941), Lê
Văn Trơng đã có những nhận xét sắc sảo: “Giữa lúc ngời ta
đang đắm mình trong những truyện tình thơ mộng và hùanhau phụng sự cái thị hiếu tầm thờng của độc giả, ông NamCao đã mạnh dạn đi theo một lối riêng Những cạnh tài của
ông đã đem đến cho văn chơng một lối văn mới, sâu xa,chua chát và tàn nhẫn; thứ tàn nhẫn của con ngời biết tin ở tàimình, ở thiên chức của mình.” [62, tr.493] Vũ Bằng, bạn viếtcùng thời với Nam Cao cũng đã cảm nhận: “May mắn làm saotôi lại đợc đọc một truyện của Nam Cao và ngay mấy câu
Trang 4đầu tôi đã thích thú vì lối hành văn với những câu kệch cỡm,nghịch ngợm, có khi dớ dẩn, nhng đậm đà có duyên.” [62,tr.12].
Đến năm 1952, trong hàng loạt bài có tính chất tởngniệm nhà văn liệt sĩ Nam Cao, bài viết của Nguyễn Đình Thi
đã phát hiện thêm về “lối văn mới đậm đà bản sắc bìnhdân nhng không rơi vào chỗ thô tục” [62, tr.46] của tác giả
Chí Phèo
Năm 1979, trong cuốn Nhà văn, t tởng và phong cách,
Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định ở Nam Cao “cái sâu sắcphong phú của ngòi bút phân tích tâm lý” và “lối kể chuyệnbiến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhânvật mà dắt dẫn mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm” [58,tr.220] Nhận xét về quan điểm trần thuật của Nam Cao,
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Khái luận có những phát hiện:
“Văn kể chuyện của Nam Cao biến hoá linh hoạt, thờngchuyển qua chuyển lại giữa quan điểm tác giả và quan điểmnhân vật” [55, tr.42]
Trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập V), Nguyễn Hoành
Khung nhận định: “Cách kể chuyện của Nam Cao rất sinh
động, có duyên, lời kể của tác giả thờng xen lẫn độc thoại nộitâm của nhân vật, có chuyện đợc kể theo quan điểm của
nhân vật (Truyện tình, Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà…) Chọn quan điểm nhân vật, nhà văn vừa kể chuyện,
vừa miêu tả tâm lý, tính cách một cách kín đáo, tự nhiên,câu chuyện diễn ra thêm chân thực, sinh động, mới mẻ Phải
có khả năng đi sâu vào đời sống bên trong con ngời mới cóthể kể chuyện theo cách kể này” [40, tr.81]
Trang 5Có không ít bài viết đề cập tới sự đối nghịch các sắc
thái trong văn Nam Cao Lê Đình Kỵ trong bài Nam Cao con
ng-ời và xã hội cũ đã nhận ra “văn xuôi trớc Cách mạng cha có ai có
đợc ngòi bút sắc sảo, gân guốc, soi mói nh của Nam Cao”[62, tr.58] và “văn Nam Cao lạnh lùng mà sôi nổi, tàn nhẫn mà
độ lợng, chua chát mà thông cảm (…) Văn Nam Cao không ru
mà lay tỉnh, không ve vuốt mà nh quất vào ngời”, “có cái gìbên trong rậm rực, ngùn ngụt nh muốn nổ bùng ra ngoài” [62,tr.61] Phan Diễm Phơng cảm thấy lối văn kể chuyện củaNam Cao là “vừa kể chuyện vừa kể tâm trạng, truyện ngắnNam Cao có thể ôm vào mình những cặp đặc điểm đốinghịch: sắc lạnh và tình cảm, tỉnh táo nghiêm nhặt và chanchứa trữ tình” [65, tr.426] Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh lạinhận xét: “văn Nam Cao là phức hợp, là tổng hoà những cực
đối nghịch: bi và hài, trữ tình và triết lí, cụ thể và khái
quát” [2, tr.364] Trong chuyên luận Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao (Nxb Văn học, 1999), Vũ Khắc Ch-
ơng cũng đã đi sâu khảo sát nghệ thuật kể chuyện của NamCao và đã chỉ ra hai phơng thức kể chuyện cơ bản của nhàvăn là dẫn truyện bằng đờng dây tâm lý và đảo lộn trình
Trang 6không ai giống ai” [62, tr.434]; “giọng điệu Nam Cao khó trộnlẫn giữa những nhà văn khác Giọng chua chát mỉa mai, daydứt trầm lắng trớc nhân tình thế thái (…) giọng điệu chứa
đầy tinh thần phản tỉnh (…) giọng triết luận (…) không triết
lý suông” [79, tr.10] Từ năm 1975, Phan Cự Đệ đã chứng minh
qua Chí Phèo, sắc thái song thanh của ngôn ngữ ngời kể
chuyện Ông khẳng định văn Nam Cao không đơn giọng,không chỉ rộng (đa giọng) mà cả sâu (khai thác tiếng nóibên trong) Về sau, các nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, PhanDiễm Phơng, Bùi Việt Thắng cũng có những nhận xét rất
đáng lu ý về lối hành văn Nam Cao Trong sáng tác Nam Cao,
“ngôn ngữ nhân vật không bị thôn tính bởi ngôn ngữ tácgiả”, “ngôn ngữ ít nhiều phức điệu, tổ chức đợc nhữngmạng lới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bêntrong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí củanhững sự đan xen và nhoè lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy
” [62, tr.123]; lối văn kể chuyện của Nam Cao nhiều lúc
“chuyển hoá từ ngôn ngữ ngời kể chuyện sang ngôn ngữnhân vật, thực chất vẫn là ngôn ngữ ngời kể chuyện, nhnghiện ra dới dạng thức độc thoại nội tâm của nhân vật” [65,tr.426]; và “ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ ngời kể chuyện
cứ đan bện vào nhau nhiều khi khó phân biệt” [79, tr.10].Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nét tinh tế và rất đặc
sắc trong ngôn ngữ trần thuật Nam Cao, đó là lời nửa trực tiếp.
Dõi theo lịch sử vấn đề nghiên cứu Nam Cao, chúng tôithấy, ở những giai đoạn trớc, các nhà nghiên cứu, phê bình cónhững phát hiện sâu sắc về t tởng, về nội dung trong sáng
Trang 7tác Nam Cao Càng về giai đoạn sau, các nhà nghiên cứu càng
có ý thức hơn và tập trung khám phá nghệ thuật, phong cách
và thi pháp của nhà văn Những phơng diện trong ngôn ngữtrần thuật Nam Cao cũng đã đợc một số nhà nghiên cứu, phêbình bớc đầu quan tâm tìm hiểu, nhng cha thực sự có côngtrình nào dày dặn, có chiều sâu, hệ thống Tình hình đócàng khích lệ chúng tôi mạnh dạn triển khai vấn đề trongkhuôn khổ một luận văn thạc sĩ
3 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ nội dung khái niệm ngôn ngữ trần thuật, vai tròcủa lời trần thuật trong truyện ngắn, trên cơ sở đó, xác lậpcái nhìn bao quát về lời trần thuật trong truyện ngắn củaNam Cao trớc cách mạng
- Khảo sát lời trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao trêncác bình diện: từ ngữ, cú pháp, các biện pháp tu từ; đối sánhvới đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm của một số tác giảcùng thời để thấy những nét riêng biệt, độc đáo trong lời vănnghệ thuật của Nam Cao
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những tác phẩm viếttrớc Cách mạng của Nam Cao ở thể loại truyện ngắn Nghiêncứu đặc điểm ngôn ngữ trần thuật Nam Cao trong một sựthống nhất xuyên suốt, toàn diện sẽ cho ta thấy rõ hơn nhữnggiá trị của sáng tác Nam Cao và đóng góp to lớn của nhà văncho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
5 Phơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các
ph-ơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 8- Phơng pháp thống kê ngôn ngữ học.
- Phơng pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp
- Phơng pháp đối chiếu
- Phơng pháp hệ thống
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm
có 3 chơng:
Chơng 1: Khái niệm ngôn ngữ trần thuật Ngôn ngữ trần
thuật trong truyện ngắn Nam Cao trớc Cách mạng
Chơng 2: Từ ngữ trong lời trần thuật trong truyện ngắn
Nam Cao trớc Cách mạng
Chơng 3: Câu văn và các biện pháp tu từ trong lời trần
thuật ở truyện ngắn Nam Cao trớc Cách mạng
Sau cùng là Tài liệu tham khảo
Chơng 1 khái niệm ngôn ngữ trần thuật.
ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn
nam cao trớc cách mạng 1.1 Ngôn ngữ trần thuật
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ trần thuật
Trang 9Trong tác phẩm tự sự, “trần thuật là phơng diện cơ bảncủa phơng thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyếtminh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vậttheo cách nhìn của một ngời trần thuật nhất định Vai tròcủa trần thuật rất lớn” [26, tr.307]; “trần thuật tự sự bao giờcũng đợc tiến hành từ phía ngời nào đó, một loại ngời môi giớigiữa các hiện tợng xảy ra… linh hồn của sự trần thuật thờng là
“vô trọng lợng và vô hình” nhng đồng thời lời nói của ngờitrần thuật thì không chỉ có tính tạo hình mà còn có ýnghĩa biểu hiện Lời ấy không chỉ cho thấy đặc điểm củakhách thể trần thuật mà còn cho thấy cả bản thân ngời nói ”[3, tr.287]; “trần thuật là thành phần lời của tác giả, của ngờitrần thuật hoặc của một ngời kể chuyện… Trần thuật là ph-
ơng thức chủ yếu cấu tạo nên tác phẩm ở việc kể, miêu tả cáchành động và các biến cố trong thời gian; mô tả chân dung,hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất… bàn luận;lời nói bán trực tiếp của các nhân vật…” [3, tr.338] Ngôn ngữtrần thuật do vậy là ngôn ngữ nhà văn dùng để xây dựngcâu chuyện, là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ
ý của nhà văn
Ngôn ngữ trần thuật giữ một vị trí vô cùng quan trọngtrong hệ thống phơng thức tự sự, nó là sự thể hiện trên nềnhiện thực toàn bộ t tởng, tình cảm của nhà văn, giọng điệutác phẩm, cấu trúc tác phẩm Qua ngôn ngữ trần thuật, ngời
đọc nhận ra phong cách, cá tính của tác giả Đối với nhà văn,ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là sự khúc xạ của ngôn ngữ
đời sống Song đây là thứ ngôn ngữ đã đợc lựa chọn, đợc
Trang 10sắp xếp và đợc cách điệu hoá theo ý muốn chủ quan của nhàvăn.
Ngôn ngữ trần thuật (lời ngời kể chuyện) là phần lời độcthoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm ngời kểchuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống đợcmiêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn
và sử dụng các phơng tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ
Chẳng hạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, bên cạnh việc
sử dụng các từ ngữ tả thực sắc sảo, vẽ ra thần sắc của từngnhân vật, tình huống, nhiều lúc, nhà thơ còn sử dụng các từtao nhã, quý phái theo nguyên tắc hoán dụ để miêu tả nh :
“thu thuỷ, xuân sơn”, “hoa cời ngọc thốt”, “trong ngọc trắng ngà”, “mai cốt cách, tuyết tinh thần” đồng thời xây dựng lời
trần thuật, cô đúc dới hình thức tiểu đối, đối xứng, trùng
điệp, hài hoà, có khả năng gây ấn tợng cảm xúc mạnh: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”, “Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng”… Những đặc điểm này cho thấy tác giả
không chỉ tái hiện chân thật cuộc sống, mà còn muốn miêutả một cách thẩm mĩ, trang trọng, cổ điển
Ngôn ngữ trần thuật chẳng những có vai trò then chốttrong phơng thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiệnphong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tínhcủa tác giả
Ngôn ngữ trần thuật có thể có một giọng (chỉ nhằm gọi
ra sự vật) hoặc có hai giọng (nh lời nhại, mỉa mai, lời nửa trựctiếp…) thể hiện sự đối thoại với ý thức khác về cùng một đối t-ợng miêu tả
Trang 11Ngôn ngữ trần thuật dới hình thức lời ngời kể chuyệnngoài đặc điểm nh trên còn mang thêm các sắc thái, quan
điểm bổ sung do lập trờng, đặc điểm tâm lí, cá tính củanhân vật - ngời kể chuyện mang lại
1.1.2 Phân biệt ngôn ngữ trần thuật với ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ trần thuật (lời ngời kể chuyện) và ngôn ngữnhân vật (lời nhân vật) đều là các thành phần cơ bản củangôn ngữ nghệ thuật Mỗi thành phần lại có những đặc
điểm và chức năng riêng Trong tác phẩm văn xuôi tự sự, tuỳthuộc vào chức năng của mỗi kiểu lời và khả năng vận dụngcủa mình, mỗi nhà văn lại vận dụng và phát huy các kiểu lời
ấy ở những mức độ khác nhau
Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhânvật trong tác phẩm, đợc biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữthông qua sự lựa chọn của nhà văn nhằm mục đích tái hiệnmột cách sinh động tính cách, đặc điểm của nhân vật.Trong tác phẩm nghệ thuật, nhà văn có thể cá thể hoá ngônngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu,dùng từ hay lời phát âm đặc biệt của nhân vật, sử dụng cácyếu tố tình thái thể hiện sắc thái ngôn ngữ địa phơng, cácyếu tố từ ngữ mang dấu ấn văn hoá riêng của từng lớp ngời nhtrí thức tiểu t sản, nông dân, ngời buôn bán… Lời trực tiếpnày có lúc đợc thể hiện dới dạng ngôn ngữ bên ngoài - ngônngữ thành tiếng, có lúc dới dạng ngôn ngữ bên trong - ngônngữ không thành tiếng Dù tồn tại dới dạng nào, hoặc đợc thểhiện bằng cách nào, ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng phải
đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tính khái
Trang 12quát Nghĩa là, một mặt, mỗi nhân vật có ngôn ngữ mang
đặc điểm riêng có “lời ăn tiếng nói” riêng, mặt khác, ngônngữ ấy lại phản ánh đợc đặc điểm về nghề nghiệp, tâm lý,giai cấp, trình độ văn hoá của một tầng lớp ngời nhất định
Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ của ngời kể chuyện,
kể lại những diễn biến của câu chuyện Hình thức trầnthuật là một phơng diện cơ bản của phơng thức tự sự để giớithiệu, khái quát, thuyết minh miêu tả đối với nhân vật Tiêuchí phân biệt ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật tr-
ớc hết chính là ở điểm này
Nếu ngôn ngữ của nhân vật là lời trực tiếp của nhânvật trong tác phẩm thì ngôn ngữ trần thuật là những lời giántiếp Về mặt hình thức, ngôn ngữ nhân vật sử dụng đadạng các kiểu câu khác nhau, còn ngôn ngữ trần thuật sửdụng kiểu câu trần thuật là chủ yếu Nếu nh tiếng nói củatác giả giúp ngời đọc hình dung đợc tâm lý của nhân vậtqua cách kể lại sự việc, biến cố, miêu tả diễn biến nội tâm…,thì tiếng nói của nhân vật gồm lời đối thoại và lời độc thoại
sẽ giúp ngời đọc trực tiếp "nhìn thấy" tâm trạng của nhânvật
Ngời kể chuyện xuất hiện khi câu chuyện đợc kể bởimột nhân vật cụ thể trong tác phẩm, có thể xuất hiện trực
tiếp xng tôi hoặc xuất hiện gián tiếp qua nhân vật nào đó
trong tác phẩm (ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba) Chức năng củangời kể chuyện là dẫn chuyện, gắn kết sự kiện, tạo nên quátrình hình thành, phát triển của cốt truyện… qua đó, bộc lộquan điểm, cách đánh giá của mình về con ngời, cuộc đời
và hiện thực đợc nói tới Lời ngời kể chuyện có khi tham gia
Trang 13tranh luận, đối thoại cùng nhân vật Lời ngời kể chuyện gồm:lời kể, lời tả, lời bình luận trữ tình.
Lời kể chiếm tỉ lệ lớn trong lời nói của ngời kể chuyện,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc dẫn dắt, chú giải,kết nối sự kiện, phụ họa cho lời nhân vật Với các đặc điểm
về trình tự kể và nhịp điệu kể, lời kể liên quan đến điểmnhìn, thời gian và kết cấu tác phẩm Có lúc dẫn dắt hành
động nhân vật, kể lại hành động hoặc phân tích, giảithích…
Lời tả cũng là kiểu lời chiếm tỷ lệ lớn Lời tả tái hiện thế
giới vật thể, thiên nhiên và con ngời từ đời sống đợc tái hiệntrong tác phẩm Qua lời tả, quan điểm, thái độ, cái nhìn củatác giả về đời sống đợc bộc lộ bởi nó ngầm chứa thông điệp,
ý chỉ của ngời trần thuật, thể hiện năng lực quan sát và tàinăng tái tạo hiện thực, quan niệm thẩm mĩ của tác giả
Lời bình trữ tình (lời trữ tình ngoại đề) đợc coi là lời
trực tiếp của tác giả, nằm ngoài cốt truyện, không có mối liên
hệ với ngôn ngữ nhân vật về mặt hình thức Kiểu lời nàybộc lộ trực tiếp ý nghĩ, tình cảm, quan niệm của tác giả vềhiện thực đợc phản ánh Hình thức của dạng lời này thờng làmột ngữ đoạn, một đoạn văn, có thể mở đầu bằng cảm thán
và kết thúc bằng dấu chấm lửng hoặc có khi xen kẽ với lời kểhoặc lời tả của ngời dẫn chuyện Kiểu lời này mang tính ớc
lệ, đại diện cho cách nhìn, t tởng, có mối quan hệ mật thiếtvới hình tợng tác giả nhng không hoàn toàn đồng nhất với tácgiả
Ngôn ngữ nhân vật (lời nhân vật): ngôn ngữ nhân vậtkhông phải bao gồm những tín hiệu rời rạc, ngẫu nhiên, mà
Trang 14đợc tạo lập nh một hệ thống đi vào tơng tác với các hệ thốngkhác trong văn bản văn học Nó có giá trị khi liên kết với cácyếu tố văn học khác, và hoạt động nh một bộ phận hữu cơcủa tổng thể hệ thống theo một cơ chế nhất định Ngônngữ nhân vật là phơng tiện hữu hiệu để miêu tả từ bêntrong nội tâm nhân vật, bên cạnh cách thức miêu tả từ bênngoài Lời nhân vật bao gồm: lời đối thoại và lời độc thoại.
Lời đối thoại là lời trong cuộc giao tiếp xuất hiện nh là
phản ứng đáp lại lời nói trớc “Lời đối thoại bộc lộ thuận lợi nhấtkhi hai bên đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phơng và khôngcông khai, không bị câu thúc, trong không khí bình đẳng
về mặt đạo đức của ngời đối thoại Lời đối thoại thờng kèmtheo động tác, cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn củanhiều ngời” [26, tr.128-129] Hình thức của đối thoại lànhững phát ngôn trực tiếp đợc nói ra trong một ngữ cảnhnhất định Có đối thoại một chiều tức là hồi đáp tiêu cực, nh-
ng hình thức cơ bản nhất vẫn là “mặt đối mặt” với các vận
động hội thoại cơ bản nh trao đáp, tơng tác… Trong tác phẩmvăn học, nhiều khi, lời đối thoại của các nhân vật đợc tác giảtruyền đạt dới hình thức nguyên vẹn trực tiếp, đợc hình thứchoá bởi các dấu câu để phân biệt với lời ngời kể chuyện(ngôn ngữ trần thuật)
Lời độc thoại là kiểu lời không đòi hỏi sự đáp lại “Bề
ngoài lời độc thoại không bị ai ngắt quãng, nhng có khi bịngắt bởi ngời đối thoại tởng tợng Lời nói này thờng xuất hiệntrong tình trạng con ngời cô đơn và bị biệt lập về mặt tâm
lý, hoặc giao tiếp với thần linh, ngời chết, mang tính chất ớc
lệ rõ rệt…” [26, tr.129] Độc thoại xuất hiện với nhiều lý do: do
Trang 15va chạm trong đối thoại, do cô đơn, do căng thẳng về tâm
lý, hoặc giao tiếp với một thế giới tởng tợng… Qua độc thoại,thế giới nội tâm nhân vật đợc bộc lộ
Độc thoại nội tâm là lời phát ngôn của nhân vật nói vớichính mình, thể hiện quá trình tâm lý, mô phỏng hoạt
động cảm xúc, suy nghĩ của con ngời trong dòng chảy trựctiếp của nó Độc thoại nội tâm đợc truyền đạt gần nh không
có sự can thiệp của tác giả, phản ánh cả sự ý thức và vô thứccủa nhân vật Dòng ý thức là biểu hiện đặc biệt của độcthoại nội tâm Hình thức độc thoại này kéo theo một loạt yếu
tố nghệ thuật nh: câu văn không theo trật tự cú pháp chuẩn,
đảo ngợc thời gian, thời gian đồng hiện hoà trộn thực h, hiệntại, quá khứ, tơng lai… ở phơng Tây, dạng lời này xuất hiệnnhiều trong sáng tác của Doxtoiepxki, Faulkner; ở Việt Nam,manh nha trong sáng tác của Nam Cao, đến giai đoạn sau
1975 xuất hiện phổ biến hơn
1.1.3 Chức năng của ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm tự sự
Tự sự là một trong ba phơng thức (cùng với trữ tình vàkịch) đợc dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học.Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảmnhận chủ quan về nó, thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sốngtrong toàn bộ tính khách quan của nó
Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mởrộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiệnbiến cố xảy ra trong cuộc đời con ngời Trong tác phẩm tự sựnhà văn cũng thể hiện t tởng và tình cảm của mình Nhng ở
Trang 16đây t tởng và tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắcvào sự kiện và hành động bên ngoài của con ngời tới mứcgiữa chúng dờng nh không có sự phân biệt nào cả Nhà văn
kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho ngời
đọc có cảm giác rằng hiện thực đợc phản ánh trong tác phẩm
tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển,tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ýmuốn của nhà văn
Phơng thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố
và hành vi con ngời làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câuchuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên, tác phẩm tự
sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một
hệ thống nhân vật đợc khắc hoạ đầy đủ nhiều mặt hơnhẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm tự sự, cốttruyện đợc triển khai, nhân vật đợc khắc hoạ nhờ một hệthống chi tiết nghệ thuật phong phú đa dạng, bao gồm chitiết sự kiện xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhânvật, chi tiết tính cách, ngoại cảnh, đời sống, văn hoá, lịch sử Thậm chí, còn có những chi tiết liên tởng, tởng tợng, hoang đ-ờng mà không nghệ thuật nào tái hiện đợc
Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan
đã đặt trần thuật vào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giớinghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo
ra hình tợng ngời trần thuật
Trần thuật có một vai trò rất lớn trong tác phẩm tự sự.Trần thuật thông báo về các biến cố, các tình tiết nh thôngbáo về một cái gì đó đã xảy ra và đợc nhớ lại, đồng thời môtả hoàn cảnh hành động và dáng nét các nhân vật, nhiều khi
Trang 17còn thêm cả lời bàn luận Thành phần ngôn từ trần thuật củatác phẩm tự sự tơng tác một cách tự nhiên với các đối thoại và
độc thoại của các nhân vật Trần thuật có khi choán hết toàn
bộ lời văn, tạm thời loại bỏ các phát ngôn của các nhân vật; cókhi đợc thẩm thấu tinh thần các phát ngôn của chúng, tạo nênnhững lời nói nửa trực tiếp; có khi nó hạn chế các đối đáp,các phản ứng của nhân vật; có khi tự nó rút xuống mức tốithiểu, hoặc tạm thời biến mất, nhờng chỗ cho dòng độc thoạitriền miên của nhân vật… Xét về chỉnh thể, trần thuật giữvai trò chủ đạo trong tác phẩm tự sự, gắn bó tất cả những gì
đợc tác phẩm miêu tả Các đặc điểm của tự sự phần lớn bịquy định bởi các đặc điểm của trần thuật
Trần thuật tự sự đợc dẫn dắt bởi ngời trần thuật Đó làhình thái của hình tợng tác giả trong tác phẩm văn học nghệthuật, là ngời mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tácphẩm văn xuôi Ngôn ngữ trần thuật (lời trần thuật) khôngchỉ mô tả đối tợng phát ngôn mà còn mô tả chính ngay kẻmang lời nói; hình thái tự sự đánh dấu lối nói và lối tri giácthế giới, đánh dấu nét độc đáo của ý thức ngời trần thuật.Ngời đọc thờng chú ý đến yếu tố biểu cảm của trần thuật,tức là chú ý đến chủ thể trần thuật (hoặc “hình tợng ngờitrần thuật”) Ngôn ngữ trần thuật không chỉ có vai trò to lớn
mà còn có chức năng quan trọng trong tác phẩm tự sự Đó làcác chức năng sau: tạo tình huống, xây dựng cốt truyện, kếtcấu tác phẩm; miêu tả ngoại cảnh; khắc hoạ nhân vật; dẫnthoại; bình luận, trữ tình ngoại đề
1.1.3.1 Tạo tình huống, xây dựng cốt truyện, kết cấu tác phẩm
Trang 18Tự sự là một trong ba loại chính của văn học Cũng nhkịch, tự sự tái hiện hành động diễn ra trong thời gian vàkhông gian, tái hiện tiến trình các biến cố trong cuộc đời cácnhân vật Nhng khác kịch, trong tự sự, vai trò tổ chức củatrần thuật cực kỳ nổi bật Nhờ trần thuật, nhà văn thông báo
về các biến cố, các tình tiết nh thông báo về một cái gì đó
đã xảy ra và đợc nhớ lại, mô tả hoàn cảnh hành động, dángnét các nhân vật và có khi còn đa đợc vào truyện cả nhữnglời bình luận
Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ nhà văn dùng để xâydựng câu chuyện, là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ
có chủ ý của nhà văn Hay nói một cách khác, nhà văn sử dụngngôn ngữ trần thuật để trình bày các chi tiết, sự kiện, tìnhhuống, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật mộtcách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất
định Thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, màchức năng của nó không chỉ là kể việc Nó bao hàm cả việcmiêu tả đối tợng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhânvật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tácgiả
Trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc bố cục, kếtcấu tác phẩm Hay nói cách khác, kết cấu văn bản nghệ thuậtcủa tác phẩm văn học là sự tổ chức ở bình diện trần thuật.Tác phẩm dù kể theo trình tự nhân quả hay liên tởng, kểnhanh hay chậm, kể ngắt quãng rồi bổ sung, thì trần thuật
là một hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đa hành động lời nóinhân vật vào đúng vị trí của nó để ngời đọc có thể lĩnhhội theo đúng ý định của tác giả (mối quan hệ giữa câu
Trang 19chuyện và cốt truyện) ở đây có sự khác biệt về thời gian, sự
tổ chức trật tự sự kiện và nhịp điệu câu chuyện Khoảngcách, góc độ của lời kể đối với cốt truyện tạo thành cái nhìn.Mối quan hệ thái độ của ngời kể đối với các sự kiện đợc kểcũng nh với ngời nghe, ngời kể ở “trong truyện” hay “ngoàitruyện”, ở giữa ngời nghe hay cách xa họ lại tạo thành giọng
điệu của trần thuật Bố cục của trần thuật hình thành với sựtriển khai cái nhìn, đan cài, phối hợp, luân phiên các điểmnhìn Có điểm nhìn gần gũi với sự kiện, lại có điểm nhìncách xa trong không gian và thời gian Có điểm nhìn ngoài,hoặc nhìn xuyên qua nội tâm nhân vật Có cái nhìn nhânvật, sự kiện từ một nền văn hoá khác “Kết cấu của trần thuật
đợc hình thành bằng việc khai triển, bằng những tơng tác vàphối hợp các “điểm nhìn” Các nhân tố nh: thể loại, thể tàitác phẩm; khuynh hớng và trờng phái văn học mà tác giả candự; lập trờng xã hội, t tởng, dân tộc của tác giả - đều ảnh h-ởng đến tính chất của trần thuật.” [3, tr.339]
Nhà văn dùng ngôn ngữ trần thuật tổ chức các sự kiện cụthể theo một kết cấu nhất định để tạo nên cốt truyện Cốttruyện thực chất là cái lõi diễn biến của truyện từ xảy ra cho
đến kết thúc Tổ chức cốt truyện thuộc phạm trù cách kể một khâu trọng yếu của nghệ thuật tự sự Với loại tự sự, cốttruyện là vấn đề thiết yếu và việc tổ chức, sắp xếp nó nhthế nào để mang lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất là cả mộtcâu chuyện lớn của sáng tạo nghệ thuật Chiều sâu trong tácphẩm của nhà văn Nam Cao không nằm ở cốt truyện đơngiản (không nhiều sự kiện, đặc biệt là những sự kiện lớn lao,bất ngờ và kịch tính) mà nằm ở chính những câu triết lý,
Trang 20-khái quát rất nhân bản, mộc mạc mà không thô vụng, khuônsáo đợc chắt lọc và rút ra từ cuộc sống
Sự lựa chọn các phơng thức trần thuật phù hợp với kết cấu,
đặc điểm cốt truyện cũng là một yếu tố quan trọng làm nêngiá trị của một tác phẩm, thể hiện cá tính riêng của từng tácgiả Các phơng thức trần thuật thì cực kì nhiều vẻ và mỗinhà văn lại lựa chọn cho mình các phơng thức trần thuật khácnhau để phù hợp với nội dung tác phẩm
1.1.3.2 Miêu tả ngoại cảnh
Miêu tả ngoại cảnh thuộc lời tả là một trong những thànhphần của lời ngời kể chuyện Lời tả tái hiện thế giới vật thể,thiên nhiên và con ngời từ đời sống hiện hữu vào trong tácphẩm, tạo tính chân thực cho tác phẩm Qua lời tả, quan
điểm, thái độ, cái nhìn của tác giả về đời sống đợc bộc lộbởi nó ngầm chứa thông điệp, ý chỉ của ngời trần thuật, thểhiện năng lực quan sát và tài năng tái tạo hiện thực, quanniệm thẩm mĩ của tác giả Gorki nói: “Trong truyện, nhữngcon ngời đợc tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡcủa tác giả, tác giả luôn luôn ở bên cạnh họ, tác giả mách chongời đọc biết rõ cần phải hiểu nhân vật nh thế nào, giảithích cho ngời đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những
động cơ bí ẩn phía sau những hành động của các nhân vật
đợc miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng của họ bằng những
đoạn mô tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh, và nói chung làluôn luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích củamình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi rất khéo léonhng lại rất võ đoán - mặc dù ngời đọc không nhận thấy
Trang 21những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mốitơng quan của họ…”.
Thành phần miêu tả của văn tự sự có chức năng tái hiện
và phân tích các sự vật, hiện tợng tĩnh tại (nh phong cảnh,chân dung, tâm trạng, môi trờng, ngoại hình, đồ vật) hoặccác hiện tợng lặp đi lặp lại đều đặn (nh ăn uống, sinh hoạt,làm việc, phong tục tập quán) Đây là thành phần giàu chấttạo hình, làm cho văn học có thể sánh với hội hoạ, điêu khắc,cung cấp những bức tranh hấp dẫn, sinh động về hiện thực,vừa giàu khả năng lý giải tờng tận
Miêu tả ngoại cảnh (đồ vật, môi trờng, phong cảnh…)không những làm cho tác phẩm giàu tính chất tạo hình màcòn là một phơng tiện quan trọng để thể hiện tâm lí nhân
Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy màtrông ra, đến bao giờ chết thì thôi.” Tất cả những ngôn từ,hình ảnh trên đã diễn tả thật hay về một thứ ngục thất tinhthần, nó không giam hãm thân xác Mị, nhng nó cách li tâmhồn cô với cuộc đời, nó cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng là một bậc thầy thể hiện
tâm lí ở đây, các nhân vật chính đều có những khát
Trang 22khao, dục vọng, hiện ra âm thầm vào lúc vắng ngời hoặc là
để lộ ra ngoài ý muốn của nhân vật
1.1.3.3 Khắc hoạ nhân vật
Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả trong tác phẩmbằng phơng tiện văn học Chức năng của nhân vật là kháiquát những quy luật của cuộc sống con ngời, thể hiện nhữnghiểu biết, những ao ớc và kỳ vọng về con ngời Nhà văn sángtạo ra nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất
định và quan niệm về các cá nhân đó Nói cách khác, nhânvật là phơng tiện khái quát các tính cách, số phận con ngời vàcác quan niệm về chúng
Nhân vật tự sự đợc khắc hoạ đầy đặn, nhiều mặtnhất, hơn hẳn các nhân vật trữ tình và kịch Nhân vật tự
sự có thể đợc miêu tả cả bên trong lẫn bên ngoài, cả điều nói
ra và điều không nói ra, cả ý nghĩ và cái nhìn, cả tình cảm,cảm xúc, ý thức và vô thức, cả quá khứ, hiện tại, tơng lai
Nhân vật văn học chỉ xuất hiện qua sự trần thuật, miêutả bằng phơng tiện nghệ thuật Nhân vật đợc miêu tả chủyếu bằng chi tiết Đó là những biểu hiện mọi mặt của con ng-
ời mà ngời ta có thể căn cứ để cảm biết về nó Hêghen xemchi tiết nh những con mắt trổ những cửa sổ để ngời tanhìn vào nhân vật Văn học dùng chi tiết để miêu tả chândung, ngoại hình, tả hành động, tâm trạng, thể hiện nhữngquá trình nội tâm Văn học cũng dùng chi tiết để mô tả ngoạicảnh, môi trờng, đồ vật xung quanh con ngời
Có thể miêu tả nhân vật một cách trực tiếp, nhng cũng
có thể miêu tả một cách gián tiếp qua sự cảm nhận của mọingời xung quanh đối với nhân vật, qua đồ vật, môi trờng mà
Trang 23nhân vật sống Nhân vật còn đợc thể hiện bằng các phơngtiện kết cấu, bằng các phơng tiện ngôn ngữ, bằng các phơngthức miêu tả riêng của thể loại.
Sự thể hiện nhân vật văn học bao giờ cũng nhằm kháiquát một nội dung đời sống xã hội và một quan niệm sâusắc, một cảm hứng, một tình điệu tha thiết với cuộc đời Vìvậy sự thể hiện của nhân vật phải đợc xem xét trong sự phùhợp với nội dung nhân vật, đồng thời phù hợp với kiểu loại nhânvật Phơng thức, biện pháp thể hiện đối với nhân vật chính,nhân vật phụ, nhân vật chính diện và nhân vật phản diệnkhông thể giống nhau Đối với nhân vật chính, nói chung, nhàvăn dùng toàn bộ cốt truyện, sử dụng các sự kiện, hành độngtrọng yếu, nét bút sắc cạnh Đối với nhân vật phụ, các sự kiện,chi tiết không thể làm che mờ nhân vật chính Đối với cácnhân vật chính diện, nhà văn thờng dùng các biện phápkhẳng định, đề cao, thi vị hoá hoặc lãng mạn hoá, tô đậmcác hành động tốt đẹp Đối với các nhân vật phản diện, ngời
ta thờng dùng các biện pháp vạch mặt, tố cáo, châm biếm,mỉa mai, lố bịch hoá
Trong khắc họa nhân vật tính cách, việc miêu tả tâm
lí, cá tính đóng vai trò cực kì quan trọng và ngôn ngữ trầnthuật bao gồm cả ngôn ngữ nhân vật cũng là một biện phápmiêu tả tâm lí, xuất hiện nh là một yếu tố của quá trìnhmiêu tả tâm lí nhân vật Nhà văn nhiều khi không chỉ khaithác nội dung ý nghĩa của lời nói, mà còn khai thác cả cảmgiác đạo đức đối với lời nói nữa Sự thể hiện tâm lí có thểnêu bật đợc cá tính sinh động của nhân vật và qua đó, kháiquát mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh
Trang 241.1.3.4 Dẫn thoại
Lời dẫn thoại là một trong những phơng thức trần thuậtcủa tác giả trong truyện Nó có chức năng cơ bản là dẫn dắt,báo trớc sự xuất hiện, sự tồn tại của lời nói nhân vật, khiến cholời thoại xuất hiện không đột ngột mà luôn gắn với một chủthể, tình huống, ngữ cảnh nhất định Vì thế, lời dẫn thoạikhông chỉ đóng vai trò chuyển tiếp, nối liền giữa các sựkiện, mà còn có thể cung cấp những thông tin về hành độngnói năng, tâm trạng, tính cách nhân vật, giúp ngời đọc hiểu
rõ hơn nội dung các phát ngôn Đồng thời, các đặc điểm vềcách thức trần thuật lời thoại nói riêng và sử dụng ngôn ngữnói chung của tác giả cũng đợc thể hiện rõ nét
Ngôn ngữ học hiện nay phân biệt hai hình thức dẫnthoại cơ bản: trực tiếp và gián tiếp Tuy nhiên, sự dẫn thoạikhông chỉ là dẫn các đơn vị hội thoại nh cách hiểu lâu nay
T tởng, cảm nghĩ của nhân vật hoặc của chính tác giả cũng
có thể đợc dẫn, là vì chúng phải có hình thức biểu hiệnbằng ngôn ngữ Cho nên khái niệm dẫn thoại sẽ đợc mở rộngkhông chỉ bao gồm lời thoại mà còn dẫn cả ý nghĩ nữa ýnghĩ cũng có khả năng đợc dẫn trực tiếp và gián tiếp
Dẫn thoại trực tiếp là sự thể hiện lời nói cụ thể với các từ
và cấu trúc cú pháp chân thực của nó đợc tái hiện nguyên vẹntrong thoại dẫn Chẳng hạn:
“Cô ta nói:
- Ngày mai tôi sẽ lại đến đây”
Dẫn thoại gián tiếp là lời của ngời nói đợc đa vào mộtcâu có liên từ “rằng” Ví dụ: “Cô ta nói rằng cô ta sẽ trở lại
đây ngày hôm sau”
Trang 25Lời dẫn thoại có thể nằm trớc câu thoại, giữa câu thoạihay sau câu thoại Dù ở vị trí nào thì lời dẫn thoại cũng cóchức năng cơ bản là dẫn dắt, báo trớc sự tồn tại của lời nóinhân vật
Lời dẫn thoại có chức năng mang tính dự báo, miêu tảcách thức nhân vật nói năng và thể hiện tính đặc trng trongngôn ngữ trần thuật của tác giả trớc khi xuất hiện lời thoại
Lời dẫn thoại luôn hiện diện trong truyện ngắn - thể loại
tự sự tái hiện sự kiện, quan hệ, diễn biến cuộc đời nhân vật.Tuỳ theo ý đồ nghệ thuật, cách thức tổ chức cốt truyện,phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn, dạng lời nói này có sựhiện diện rất khác nhau
Lời dẫn thoại thờng có cấu tạo ngắn gọn, súc tích Nó ờng tập trung ở các kiểu câu phổ biến là câu đơn, câughép và các kiểu câu mở rộng
th-1.1.3.5 Trữ tình ngoại đề
Trữ tình ngoại đề chính là lời trực tiếp của tác giả, là
“một hình thức ngôn từ tác giả; là ngôn từ của tác giả kiêmngời trần thuật, bị tách ra ngoài “đi lạc” sự miêu tả các sựkiện trong cốt truyện, nhằm bình luận và đánh giá về chúng,hoặc về những việc khác, không trực tiếp gắn với hành động
của tác phẩm” [3, tr.228] Ví dụ ở Truyện Kiều của Nguyễn
Du, trong mạch kể chuyện, thỉnh thoảng tác giả dừng câuchuyện lại để cất lên những lời bình luận, cảm thán củamình Vừa thuật xong việc Thuý Kiều nhảy xuống sông Tiền
Đờng tự vẫn, tác giả giành một đoạn 10 câu thơ lục bát:
“Th-ơng thay cũng một kiếp ngời/ Hại thay mang lấy sắc tài mà chi/ Những là oan khổ lu ly/ Chờ cho hết kiếp còn gì là
Trang 26thân! ” Đó là một trong số rất nhiều đoạn ngoại đề trữ tình
ở văn bản Truyện Kiều Trữ tình ngoại đề trực tiếp đi vào
thế giới t tởng của tác giả, giúp vào việc xây dựng hình tợngtác giả nh một ngời trò chuyện “tâm giao” với độc giả
Trữ tình ngoại đề là một trong những yếu tố ngoài cốttruyện, “một bộ phận của ngôn ngữ ngời kể chuyện trong cáctác phẩm thuộc loại hình tự sự, trong đó tác giả hoặc ngời kểchuyện trực tiếp bộc lộ những t tởng, tình cảm, quan niệmcủa mình đối với cuộc sống và nhân vật đợc trình bày quacốt truyện” [26, tr.318-319] Trữ tình ngoại đề có thể là lời
mở đầu của tác phẩm (chẳng hạn, lời mở đầu của Truyện Kiều, của Lục Vân Tiên), có thể là lời gói ở cuối tác phẩm (chẳng hạn, lời gói ở cuối Truyện Kiều) Trữ tình ngoại đề có
thể là những đoạn văn, đoạn thơ nằm xen vào giữa quátrình diễn biến của các sự kiện và nhân vật trong cốttruyện, từ khi cốt truyện đợc bắt đầu triển khai cho đếnkết thúc
Trữ tình ngoại đề là một phơng tiện quan trọng giúptác giả soi sáng thêm nội dung t tởng của tác phẩm: bộc lộ đầy
đủ, tập trung hơn thái độ, sự đánh giá của mình đối vớinhân vật cũng nh những quan niệm nhân sinh của mình.Nếu tác phẩm là nơi kí thác của tác giả, thì trữ tình ngoại
đề là một trong những yếu tố quan trọng, qua đó, tác giảthể hiện trực tiếp những điều muốn nhắn gửi của mình
đến ngời đọc Hình thức của dạng lời trữ tình ngoại đề ờng là một ngữ đoạn, một đoạn văn, có thể mở đầu bằngcảm thán và kết thúc bằng dấu chấm lửng hoặc có khi xen kẽvới lời kể hoặc lời tả của ngời dẫn chuyện Kiểu lời này mang
Trang 27th-tính ớc lệ, đại diện cho cách nhìn, t tởng, có mối quan hệmật thiết với hình tợng tác giả nhng không hoàn toàn đồngnhất với tác giả.
1.2 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao trớc Cách mạng
1.2.1 Truyện ngắn trong văn nghiệp của Nam Cao
Nam Cao bắt đầu viết năm 1937, ông viết đủ các thểloại nhng gặt hái đợc nhiều thành công nhất là thể loại truyệnngắn Thể loại truyện ngắn đã đạt tới trình độ cao vớinhững cách tân độc đáo của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam,
Vũ Trọng Phụng… Nam Cao là ngời tham dự tiến trình ấy vàochặng cuối Và có thể nói, đến những truyện ngắn của NamCao thì sự cách tân thể loại mới mang tính chất toàn diện vàtriệt để, thực sự đa truyện ngắn lên vị trí cao nhất, hoàntất quá trình hiện đại hoá thể loại truyện ngắn từ đầu thế
kỉ XX đến năm 1945
Từ đầu thế kỉ XX, cùng với sự biến đổi sâu sắc của xãhội Việt Nam, văn học cũng có những biến đổi rõ rệt theo h-ớng hiện đại hoá Công cuộc hiện đại hoá văn học thể hiện trớcnhất ở phơng diện hình thức nghệ thuật Hiện đại hoá vănhọc đợc bắt đầu bằng sự hình thành của nền văn xuôi quốcngữ
Nam Cao là nhà văn đại diện cho khuynh hớng hiện thựcvào giai đoạn cuối Nhng ông không nói những cái ngời ta đãnói, không tả theo lối ngời ta đã tả mà ông có sự sáng tạotrong cách viết Các nhà văn nói chung thờng sử dụng mộtgiọng điệu chủ đạo phù hợp với thái độ nghệ thuật của mình.Trớc Nam cao có một Vũ Trọng Phụng tả chân sắc sảo, một
Trang 28Nguyễn Công Hoan trào phúng đôi khi pha chút kịch hề, mộtThạch Lam trầm lặng, tinh tế, Tô Hoài thiên về những nétsinh hoạt phong tục Đến lợt mình, Nam Cao đã góp vào mộtphong cách truyện ngắn riêng, một chất giọng riêng khôngtheo lối ngời ta đã tả “Ông đã dám bớc vào làng văn với nhữngcạnh sắc của riêng mình” [62, tr.30].
Bên cạnh dòng chảy chung của sự phát triển ngôn ngữvăn xuôi quốc ngữ mà Nam Cao thừa hởng, phải kể đến nộilực của chính nhà văn Kiến thức mà ông thu nhận đợc có tác
động lớn tới mục tiêu sáng tác của ông Điều đó đã trở thành
động lực giúp nhà văn trởng thành và vợt lên sự hà khắc của
đời sống để vơn lên Ta thấy sáng tác của Nam Cao không
đều, không phải tác phẩm nào cũng hay, cũng xuất sắc nhngkhông bao giờ thấy Nam Cao viết dễ dãi Văn ông vì thế, vừabình dị, chân thực nhng cũng rất sâu xa, trí thức Gânguốc, sống động nhng không xô bồ, dễ dãi; tinh tế, uyểnchuyển mà không sáo… Với học vấn, ý chí và sự tinh nhạy, mỗilần cầm bút nhà văn đều có ý thức lựa chọn phơng thức diễn
đạt vừa để phù hợp với đối tợng miêu tả, vừa qua ngôn ngữ cóthể truyền tải những vấn đề sâu sắc, phồn tạp của cuộcsống, của con ngời - những điều mà nhiều khi chỉ nằm trongcảm nhận, ở khoảng lặng… những điều không thể viết ra
Suốt gần nửa thế kỉ, văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đã
đạt đợc những thành tựu lớn lao trong quá trình hiện đại hoánền văn học dân tộc Công cuộc hiện đại hoá đợc tiến hànhdần từng bớc, với sự đóng góp của nhiều tác giả trên nhiềulĩnh vực Là ngời kết thúc một trào lu văn học, cũng là ngời đisau cùng trong công cuộc hiện đại hoá văn học, Nam Cao vừa
Trang 29kế thừa, vừa phát huy cá tính sáng tạo của mình đã kết thúc
vẻ vang và hoàn thiện công việc hiện đại hoá văn học nớc nhà.Nam Cao không tiếp thu truyền thống một cách thụ động màtrên cơ sở đó đã kế thừa trong sự phát triển và đã nắm bắt,lĩnh hội một cách nhạy cảm những biến đổi và dao độngcủa thời cuộc và con ngời để lựa chọn một phong cách truyệnngắn cho riêng mình Điều Nam Cao đặc biệt quan tâmtrong viết truyện ngắn là phân tích, lí giải thế giới nội tâmcủa nhân vật Có thể nói, trong lĩnh vực này, ông là cây bútbậc thầy
Từ sắc diện mới mẻ trong cảm hứng phê phán chung củavăn học hiện thực phê phán, Nam Cao có cái nhìn mới và đ-
ơng nhiên phải có ngôn ngữ mới cho sáng tác của mình Ngônngữ trần thuật của Nam Cao là ngôn ngữ ít nhiều có tínhchất phức điệu, một thứ ngôn ngữ phong phú nh hiện thựccuộc sống
Là một nhà văn thực sự có tài, có tâm huyết, Nam Cao
đã thể hiện một khả năng sắc bén trong việc nắm bắt,khám phá những tầng sâu của cuộc sống, của con ngời, đồngthời thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ chân thực của ông
về cuộc sống và con ngời - đó là khả năng tự biểu hiện củatác giả, nó giúp ngời đọc hiểu tác giả và hiểu đợc hệ thốngngôn ngữ mà ông sử dụng
Ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao giản dị nh nội dungcủa các truyện mà tác giả miêu tả Nam Cao a lối đặt câungắn gọn, biểu đạt ý tình một cách chính xác, bình dị Tácgiả tránh sự cầu kì, phô trơng khi vận dụng ngôn ngữ
Trang 30Ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm văn học vừa là
ph-ơng tiện biểu đạt nội dung vừa là sự phản ánh ngôn ngữ đờisống Nó thể hiện trí tuệ, sức sáng tạo, cá tính… của nhà văn.Trong tác phẩm văn học, nó không đơn thuần là phơng tiệnbiểu đạt mà còn là hình thức mang tính nội dung Nghiêncứu ngôn ngữ trần thuật là một phơng diện quan trọng trongviệc nghiên cứu tác giả với t cách là nghệ sĩ của một loại hìnhnghệ thuật Qua ngôn ngữ trần thuật của Nam Cao, ngời đọc
có thể thấy dấu ấn tài năng của tác giả Có nhiều yếu tố tạonên ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao Từhoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nớc với biết bao biến động
và đổi thay, từ sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đến nhữngkhai phá của lớp nhà văn đi trớc, Nam Cao vừa nhạy cảm nắmbắt, vừa phát huy cá tính sáng tạo của mình và đã trở thànhngời kết thúc vẻ vang và hoàn thiện công cuộc hiện đại hoávăn học nớc nhà
1.2.1 Nhận diện ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao trớc Cách mạng
1.2.1.1 Chủ ngôn của lời trần thuật
Chủ ngôn của lời kể chuyện chính là nhân vật kểchuyện Nhân vật kể chuyện hay còn gọi là ngời kể chuyện
ở ngôi thứ ba là ngời kể chuyện xuất hiện gián tiếp qua nhânvật nào đó trong tác phẩm (ngời kể chuyện không đợc biểuthị trực tiếp bằng đại từ ở ngôi thứ nhất) Ngời kể chuyện ởngôi thứ ba (nhân vật kể chuyện) cùng với ngời kể chuyện ởngôi thứ nhất (ngời kể chuyện xuất hiện trực tiếp xng “tôi”hoặc “chúng tôi”) là hai yếu tố cấu thành nên hình tợng ngời
kể chuyện
Trang 31Nhân vật kể chuyện (ngời kể chuyện ở ngôi thứ ba)xuất hiện tơng đối nhiều trong truyện ngắn Nam Cao.
Chẳng hạn trong truyện Từ ngày mẹ chết Đây là một truyện
kể ở ngôi thứ ba, và ngời kể chuyện là Ninh Ninh kể vềchính những tình cảm thơng nhớ, đau khổ của mình kể từngày mẹ Ninh chết Trong truyện không có sự xuất hiện trựctiếp của ngôi thứ nhất, chỉ có sự xuất hiện trực tiếp của ngôithứ ba, đợc cụ thể hoá bằng tên riêng (Ninh) với những cảmnhận, suy nghĩ và tâm trạng buồn thơng, nhớ nhung ngời mẹ
đã mất Nh vậy, trớc hết Ninh là chủ thể của câu chuyện đợc
kể lại, là chủ ngữ trong câu, cô thuộc về hiện thực đợc nói
đến Mặt khác, Ninh cũng không phải là ngời kể chuyện xngbằng tên, có một ngời nào đó nữa quan sát Ninh, kể về Ninh
ở đây, ngời kể chuyện đã ẩn đi, đứng dằng sau nhân vật
và các sự kiện để kể, bằng cách đẩy nhân vật ra trớc độcgiả Vì thế, trớc mắt độc giả không thấy ngời nói, chỉ thấy
hiện thực đợc trình bày Hay trong Bài học quét nhà, nhân
vật kể chuyện là Hồng Hồng kể về những kỉ niệm vui vẻ củahai bố con Đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất trong cuộc
đời của Hồng ở đây Hồng là chủ thể của câu chuyện đợc
kể lại nhng Hồng cũng không phải là ngời kể chuyện xng bằngtên mà có một ngời kể chuyện đã ẩn đi quan sát Hồng và kể
về Hồng
Những biến cố không bao giờ có thể tự thân kể lể đợc
về mình Phải có một ngời khác làm công việc ghi biên bản,
kể lại những điều đó Cái ngời ghi biên bản trong trờng hợpnày chính là ngời kể hàm ẩn Trong những trờng hợp nh thếnày, ngời kể hàm ẩn thờng mợn điểm nhìn của nhân vật để
Trang 32kể chuyện Và anh ta đã hoà vào nhân vật đến mức ta khóphân biệt đợc giọng kể của anh ta với giọng kể của nhân vật.
Và thờng thì chỉ nghe thấy giọng nhân vật Thực chất là
ng-ời kể chuyện hàm ẩn này đã mợn giọng nhân vật để kể Có
nh vậy, anh ta mới dễ dàng thâm nhập vào đời sống nội tâmcủa nhân vật Kiểu kể này tạo nên ở độc giả những cảm giáctrực tiếp, gần gũi với thế giới nhân vật, khiến chúng ta không
có cảm giác đang nghe kể mà là đang đợc chứng kiến trựctiếp
Không giống với các nhà văn khác, khi viết ở ngôi thứ bachỉ giữ một thái độ đứng ngoài hoặc đứng trên nhân vật,Nam Cao đã đa thanh hoá giọng điệu tự sự Điều này hoàntoàn phù hợp với cái nhìn con ngời nhiều chiều, đa diện, phứctạp của nhà văn Thờng thấy trong sáng tác của ông sự đanxen, hoà trộn giữa các giọng điệu: giọng tác giả, giọng ngời
kể, giọng nhân vật này, giọng nhân vật khác… Điều đặcbiệt là sự hoà trộn ấy thể hiện ngay trong cùng một đoạn vănngắn Có thể kiểm chứng điều này ở bất cứ truyện ngắnnào của Nam Cao
Đặt điểm nhìn vào bên trong nhân vật, bắt các nhânvật tự nói lên bằng chính giọng điệu của mình, lời văn ấy tự
nó đã mang tính đa thanh đầy hấp dẫn Bởi vì sự truyền
đạt điểm nhìn có tác dụng đa ngời đọc nhập cuộc vào vớinhân vật Nhà văn không chỉ truyền điểm nhìn mà còntruyền điểm cảm xúc, điểm tình cảm, cảm hứng tình
điệu Chính sự phối hợp hoà đồng nhiều giọng điệu, nhiều
điểm nhìn đã tạo ra những thế giới nội tâm vô cùng phongphú Đây là một trong những nét đặc sắc của ngôn ngữ
Trang 33nghệ thuật Nam Cao Nó đem lại cho thế giới nghệ thuật của
ông một sức hấp dẫn kỳ lạ: vừa tự nhiên, vừa gần gũi, vừa gây
đợc sự đồng cảm sâu sắc, lại vừa tạo ra đợc khả năng đốithoại rất tiêu biểu của ngòi bút ấy
1.2.2.2 Dung lợng lời trần thuật trong tơng quan với lời nhân vật
Lời kể chiếm tỉ lệ lớn trong lời nói của ngời kể chuyện,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc dẫn dắt, chú giải,kết nối sự kiện, phụ họa cho lời nhân vật Lời kể có lúc dẫndắt hành động nhân vật, kể lại hành động hoặc phân tích,giải thích…
Lời nhân vật là phơng tiện hữu hiệu để miêu tả từ bên
trong nội tâm nhân vật bên cạnh cách thức miêu tả từ bênngoài Lời nhân vật bao gồm: lời đối thoại và lời độc thoại
Đọc văn Nam Cao, một điều dễ nhận thấy trong tơngquan giữa lời kể và lời nhân vật đó là lời ngời kể chuyệnchiếm u thế hơn lời nhân vật Văn của ông dày đặc chữ,kín dòng, ít khoảng trống So với các nhà văn hiện thực cùngthời khác, trong sáng tác của Nam Cao, lời đối thoại ngắn gọn,
đặc biệt, chiếm dung lợng hạn chế so với lời trần thuật Trongtruyện ngắn của mình, Nam Cao không chịu dựng lên nhữngbức tranh xã hội rộng lớn với một thế giới nhân vật đông đảo
mà trong đó nhân vật chính thờng có những dục vọng mãnhliệt, đồng thời là trung tâm của những mối quan hệ xã hộiphức tạp Nhân vật trong truyện ngắn của ông không nhiều.Chúng chỉ đợc đếm trên đầu ngón tay ở mỗi truyện Nhngcái ông nói đợc nhiều và quan tâm nhiều nhất chính là chiềusâu nội tâm, là diễn biến tâm lý phức tạp cùng những câu
Trang 34triết lý sống đợc đúc rút và kiểm nghiệm trong cuộc sống
đời thờng của mỗi con ngời Tất cả những nội dung ấy đợcbiểu đạt đắc địa nhất bằng lời trần thuật
Lời nhân vật đối thoại trong truyện ngắn Nam Caokhông nhiều, lời thoại thờng ngắn, và trớc lời thoại bao giờcũng có lời dẫn thoại của vai kể Lời dẫn thoại của Nam Caokhông phải là lời mách bảo mà thờng chuyển hoá thành lờimiêu tả tâm lý, tâm trạng nhân vật Trớc lời thoại thờng cómột loạt lời miêu tả tâm lý, tâm trạng nhân vật, nên lời thoạinhiều khi nh là một sự buột lời khi nhân vật đang trong dòngtâm tởng, hoặc để lảng tránh tâm trạng thực… Nó không bịphụ thuộc vào lời dẫn thoại
Lời nhân vật đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao ít
và thờng nhằm tới việc mở ra chiều sâu tâm lý nhân vật nênthờng hớng tới lời độc thoại nội tâm Nghĩa là sau đối thoại,nhân vật thờng chìm vào độc thoại nội tâm, bộc lộ quanniệm, cách nhìn và thái độ của mình Hình thức này xuấthiện ở hầu hết các tác phẩm viết về đề tài trí thức và một
số tác phẩm viết về nông dân Trái lại với hình thức lời đốithoại thì lời độc thoại nội tâm xuất hiện rất nhiều trongtruyện ngắn Nam Cao đặc biệt xuất hiện nhiều nhất trongcác tác phẩm viết về đề tài trí thức
Với dung lợng lời kể lớn, văn Nam Cao đã thể hiện đợcchiều sâu trạng thái tâm lý tình cảm của nhân vật Đâycũng là một trong những yếu tố làm nên nét riêng trong lờitrần thuật của truyện ngắn Nam Cao
1.2.2.3 Cá biệt hoá trong lời trần thuật
Trang 35Tính cá biệt hoá của ngôn ngữ nghệ thuật chính là đặc
điểm phong cách tác giả đợc thể hiện trên văn bản ngôn từ
Nó thể hiện qua những thao tác ngôn từ, các thủ pháp mà tácgiả vận dụng để xây dựng hình tợng Ngôn từ nghệ thuật đ-
ợc cá biệt hoá khi nó mang dấu ấn phong cách tác giả (tức làmang quan niệm của tác giả về đời sống, con ngời; nhữngnhân tố ảnh hởng đến bút pháp tác giả; hệ thống hình tợngtrong tác phẩm; thủ pháp thể hiện hình tợng và nội dung t t-ởng; sự vận dụng ngôn ngữ qua các thao tác…)
Ngôn từ nghệ thuật đạt tới tính cá biệt (có phong cách)phải thể hiện đợc nhân cách, tâm hồn, t tởng của nhà vănthông qua những thao tác lựa chọn từ vựng, phơng thức tổchức, giọng điệu… của họ Một tác giả có phong cách ngônngữ riêng biệt, độc đáo phải là ngời có quan niệm nghệthuật riêng, cái nhìn riêng đối với đời sống, với con ngời vàphải đợc biểu đạt bằng một giọng điệu riêng, tiếng nói riêngcủa mình Nguyễn Công Hoan đã dùng giọng điệu châmbiếm, hài hớc để thể hiện quan niệm cuộc đời nh một sânkhấu hài kịch và con ngời nh những tên hề trên sân khấu hổlốn ấy của mình Tô Hoài lại dùng giọng điệu dí dỏm, suồngsã, tự nhiên để truyền tải một cách tiếp cận đời sống dung dịvới “cảm hứng nhân văn đời thờng”
Nam Cao lại khác, trong các truyện ngắn của mình tácgiả không chỉ dừng lại biểu hiện cái bề ngoài của con ngời vàhiện thực cuộc sống, mà luôn ra sức tìm tòi, khẳng địnhnhững ẩn khuất trong con ngời và những ảnh hởng của môitrờng, hoàn cảnh tới con ngời Nhạy bén và sâu sắc trongnhận thức cuộc sống, xót thơng, nâng niu mọi sự sống, Nam
Trang 36Cao diễn đạt chúng bằng tất cả những rung cảm có ở trongmình “vừa tỉnh táo, nghiêm ngặt, vừa sắc lạnh, gân guốc,vừa thắm thiết, trữ tình” [40] Những yếu tố ấy đã tạo nênsắc thái giọng điệu riêng biệt trong sáng tác Nam Cao: kháchquan tàn nhẫn bên ngoài mà thơng xót, thơng cảm bên trong;triết lý, suy ngẫm sâu xa; mỉa mai, hài hớc mà đầy chuachát… Các sắc thái ấy cũng không ngự trị độc lập trong mộttác phẩm mà thờng có sự đan xen, phối hợp tạo nên chiều sâu
và có sự đa dạng phong phú trong nhận thức của nhà văn.Cũng chính điều này đã tạo nên màu sắc cá biệt hoá tronglời kể chuyện ở truyện ngắn Nam Cao
Truyện ngắn trớc Cách mạng tháng Tám của Nam Cao làtruyện tâm lý Ngay từ những dòng mở đầu của mỗi truyện,Nam Cao đã dẫn ta nhập ngay vào những dòng đang suynghĩ của nhân vật Tính chất “đang suy nghĩ”, “đang đốithoại”, “đang độc thoại”, “đang nói chuyện ở trong tâm t-ởng” là một đặc trng phong cách truyện ngắn của Nam Cao.Tác giả không kể lại những suy nghĩ của nhân vật, nhân vậtcũng không tự suy nghĩ nh một dòng ý thức tuôn chảy, nhânvật cũng ít phân tích những trạng thái tâm lý, cảm xúc màdờng nh nhân vật đang nói to lên, đang nói toạc ra, đang mở
toang cánh cửa tâm hồn của mình (Chí Phèo, Trẻ con không
đợc ăn thịt chó, Từ ngày mẹ chết, Đời thừa…).
Văn Nam Cao là sự phức hợp tổng hoà những đối nghịch
bi và hài, trữ tình và triết lý, cụ thể mà khái quát Là một nhàvăn giàu tính nhân đạo, Nam Cao đã dũng cảm đối mặt vớicái ác, cái bất công đang đè nặng lên những ngời nông dânthấp cổ bé họng, những ngời trí thức nghèo Giọng văn êm
Trang 37dịu nhẹ nhàng với những nỗi buồn man mác của lối văn lãngmạn hình nh không còn hợp nữa Tác giả đã tự tìm tòi chomình một chất giọng khác, một chất giọng "rất Nam Cao".
Truyện ngắn Nam Cao còn đợc kể bằng giọng đậm màusắc triết lý Có thể nói, Nam Cao hầu nh xa lạ với những gì là
to tát, cao siêu Những sự việc bình thờng, xoàng xĩnh,những con ngời bé nhỏ, ngời thừa, hầu nh suốt đời bị gắnchặt vào những bi kịch nhân sinh nho nhỏ tụ vào các trangsách của Nam Cao, và ông rủ rỉ kể về chúng một cách kỹcàng nh không biết nản Nam Cao không bao giờ chịu kể quaquýt, sơ sài Ông phân tích mổ xẻ, lần đến tận ngọn nguồn
sự việc, cảnh ngộ Và khi đã khảm đợc vào tâm trí ngời đọcthật nhiều những chi tiết có vẻ vụn vặt về các số phận, cảnh
đời rồi, ông nhẹ nhàng đa ra những câu khái quát, triết lý,vừa bất ngờ, nhng lại thật hiển nhiên
Tóm lại, toàn bộ sáng tác của Nam Cao đều mang mộtgiọng điệu riêng, giọng điệu của một trái tim nhân hậu,giọng điệu của một trái tim biết đau với nỗi đau của nhânloại, biết xót thơng, đồng cảm với những số phận cực khổ,giọng điệu của một văn sĩ rất mực tài hoa Đặc điểm nổibật là ông kể với một giọng điệu vừa sắc lạnh gân guốc, vừachan chứa yêu thơng, vừa tỉnh táo nghiêm ngặt vừa tha thiếttrữ tình Trong Nam Cao vừa có tiếng cời trào lộng, vừa cótiếng khóc thơng nghẹn ngào Đó là tiếng cời và tiếng khóctrong cùng một tâm hồn phẫn uất, yêu thơng nhng bế tắc.Tâm hồn đó tạo nên phong cách rất Nam Cao
1.2.2.4 Tính chất đa thanh trong lời trần thuật
Trang 38Trong truyện ngắn của mình, Nam Cao đã không viếtvăn nh nhiều ngời đã viết Nam Cao không đơn giản dùng lời
lẽ của mình để kể một câu chuyện về một nhân vật nào
đó Còn bản thân nhân vật ấy lại là kẻ “câm lặng” Hoặcnếu nhân vật ấy có nói thì nói lời tác giả Tác giả gắn mộtcách lỏng lẻo lời của mình vào miệng nhân vật Loại lời ấy, rõràng không đợc phát ra từ trong “cổ họng”, mà chỉ phát ra từ
“chót lỡi đầu môi” của nhân vật Trong tác phẩm của mình,Nam Cao đã để các nhân vật “tự do ngôn luận”, “tự do t t-ởng”, tự do tranh biện; tranh biện với nhau, tranh biện vớimình, và tranh biện với cả tác giả của nó Nhiều khi, tác giảtuy không phải là nhân vật nhng cứ xông thẳng vào cuộc Tácgiả vừa khêu gợi, vừa xúi giục, vừa tranh cãi với nhân vật, đểcùng tìm ra chân lí Nh vậy, công cuộc đi tìm chân lí củaNam Cao, rốt cuộc, không phải mợn các hình nhân rồi khoáclên vai nó chiếc áo t tởng đã may sẵn của mình, mà khó khănhơn nhiều Với Nam Cao, chân lí nảy sinh trong các cuộc thảoluận, tranh luận
Xuất phát từ cái nhìn cuộc sống và con ngời không đơngiản, một chiều, sáng tác của Nam Cao có những sắc tháitình cảm đối nghịch nên tác phẩm của ông cùng lúc vang lênnhiều tiếng nói, không đơn giọng Trong mỗi sáng tác đều có
sự hoà trộn nhiều giọng điệu trên cái nền của giọng chủ âm
ở đây đó trong các tài liệu nghiên cứu, ngời ta đã chỉ ratính không đơn giọng trong sáng tác của nhà văn hiện thựctài ba này Luận văn muốn đa đến một sự khẳng định rõrệt hơn tính chất phức điệu của sáng tác Nam Cao, khẳng
định sáng tác của ông đã cơ bản xoá đợc thế quyền uy của
Trang 39ngời kể chuyện Sử dụng nhiều điểm nhìn và vận dụng linhhoạt sự vận động các điểm nhìn, sáng tác Nam Cao đã đạttới đa thanh, nhiều giọng điệu.
Với Nam Cao, lời ngời kể chuyện lại không phải đơnthuần chỉ có một hình thức: lời tác giả, giọng nhân vật vôhình, hay hữu hình, mà hầu hết lại là một phức hợp các loạigiọng, các loại tiếng nói, với sự phối hợp và chuyển hoá qua lạimột cách uyển chuyển và tinh vi Sự phối hợp này chặt chẽ vànhuần nhuyễn đến mức ta khó có thể tách ra đoạn nào tronglời ngời kể chuyện là đích thực tiếng nói tác giả, đoạn nào
đích thực là tiếng nói ngời kể chuyện ngôi thứ nhất, đoạnnào đích thực là tiếng nói nhân vật thứ ba vô hình, đoạnnào đích thực là tiếng nói nội tâm nhân vật Bởi vì, khôngphải tác giả chắp nối khéo léo những đoạn, những khúctiếng nói khác nhau theo chiều ngang, làm thành lời văn củamình Mà là một sự hoà quyện xuyên thấm vào nhau theochiều dọc của chuỗi lời nói Thỉnh thoảng có một thứ giọngnào đó trỗi dần lên hơn một chút, sau đó lại trở về trạng tháibình thờng lúc nào không ai hay
Để thúc đẩy mạch tự sự vận hành, chuyển hoá với tốc độnhanh, ngôn ngữ trần thuật của Nam Cao không chỉ là chỗnhiều giọng trong một giọng, nhiều tiếng nói trong một tiếngnói, mà còn là ở chỗ sự chuyển hoá qua lại một cách tự nhiên từgiọng này qua giọng khác tạo ra một sự giao thoa, nhoè lẫngiữa các giọng nhng vẫn trên gam màu chung là giọng trầnthuật Đặc sắc, biến hoá và sinh động nhất trong các loạigiọng kể đấy là sự chuyển hoá từ lời trần thuật của tác giảsang lời độc thoại nội tâm của nhân vật, là sự chuyển hoá từ
Trang 40độc thoại nội tâm của nhân vật sang lời trần thuật của tácgiả Sự chuyển hoá đó thật độc đáo và nhuần nhuyễn, khiến
ta không thấy tác giả đang thuyết minh về nhân vật mà chỉthấy tác giả đang gợi cho nhân vật tự ý thức về mình
Nếu lấy bất cứ một tác phẩm nào trong sáng tác của NamCao để phân tích, ta cũng thấy trong đó có rất nhiều sắcthái giọng điệu khác nhau Mỗi một tiếng nói trong tác phẩmgắn với từng nhân vật, từng bi kịch, tâm trạng… làm chosáng tác Nam Cao mang tính đa thanh rõ rệt Việc sử dụng
và kết hợp tinh tế các giọng cho ta thấy nếu sử dụng giọng
điệu khác cho nhân vật này hoặc câu chuyện này thì sẽkhông phù hợp Chẳng hạn, nếu kể về cuộc sống của Dì Hảo
(Dì Hảo) và Dần (Một đám cới) bằng giọng điệu khách quan
lạnh lùng thì ngời đọc không thể cảm nhận đợc hết nỗi khổcủa những ngời phụ nữ bất hạnh Hoặc kể về quá trình bào
mòn nhân tính của anh Cu Lộ (T cách mõ), về sự tha hoá của Chí Phèo (Chí Phèo) bằng giọng điệu buồn thơng, ngời đọc sẽ
không thấy hết đợc sức mạnh của hoàn cảnh tác động đếnnhân cách của con ngời, không thấy đợc bản lĩnh của ngòibút hiện thực Nam Cao, không thấy đợc thái độ của một nhàvăn hiện thực chân chính trớc sự bất lực, đầu hàng hoàncảnh của con ngời…
Giọng điệu Nam Cao không chỉ thể hiện cách nhìncuộc sống, cảm hứng phê phán xã hội của nhà văn mà còn xuấtphát từ nhiệt hứng khám phá chiều sâu bên trong và khẳng
định mọi khát vọng chân chính của con ngời Sử dụng một
hệ thống giọng điệu phong phú, Nam Cao phản ánh một hiệnthực nh nó vốn có Từ cái nhìn cuộc sống nhiều chiều, tác