1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác minh tài sản để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

98 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác Minh Tài Sản Để Thi Hành Án Dân Sự Theo Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Nguyễn Ngọc Hân
Người hướng dẫn TS. Lê Vĩnh Châu
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Tình hình nghiên cứu đề tài (8)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài (10)
  • 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu (10)
  • 5. Đóng góp của luận văn (12)
  • 6. Kết cấu luận văn (12)
  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC MINH TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (12)
    • 1.1. Khái niệm về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (14)
    • 1.2. Ý nghĩa của xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (19)
    • 1.3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (23)
      • 1.3.1. Cơ sở lý luận của quy định về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (23)
      • 1.3.2. Cơ sở thực tiễn về quy định của xác minh về tài sản trong thi hành án dân sự (26)
    • 1.4. Nguyên tắc thực hiện xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (29)
      • 1.4.1. Nguyên tắc xác minh tài sản thi hành án một cách trực tiếp, nhanh chóng kịp thời, đúng thời hạn luật định (29)
      • 1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 (35)
      • 1.5.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2008 (37)
      • 1.5.3. Giai đoạn từ năm 2008 đến nay (41)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH TÀI SẢN (13)
    • 2.1. Chủ thể xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (46)
      • 2.1.1. Người được thi hành án (46)
      • 2.1.2. Chấp hành viên (51)
      • 2.1.3. Thừa phát lại (55)
    • 2.2. Xác minh tài sản thi hành án trong một số trường hợp cụ thể (61)
      • 2.2.1. Xác minh đối với tài sản là Quyền sử dụng đất, nhà ở (61)
      • 2.2.2. Xác minh đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu (62)
      • 2.2.3. Xác minh đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu (63)
      • 2.2.4. Xác minh tài sản là thu nhập của người phải thi hành án (64)
      • 2.2.5. Xác minh tài sản là tiền (65)
      • 2.2.6. Xác minh tài sản là giấy tờ có giá (66)
    • 2.3. Bất cập, vướng mắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh tài sản trong (67)
      • 2.3.1. Về chủ thể xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (67)

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài

Xác minh tài sản trong thi hành án dân sự là khâu thiết yếu và bắt buộc, đóng vai trò quan trọng trong quy trình thi hành án Một bản án cần có trình tự, thủ tục cụ thể để được thi hành thực tế, do đó, các nhà làm luật đã ban hành các quy định phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi Công việc xác minh tài sản không chỉ là bước đầu tiên mà còn là yếu tố quyết định cho kế hoạch thi hành bản án, vì vậy lĩnh vực này luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu từ các chuyên gia luật và những người làm công tác thi hành án.

Xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THA) là một vấn đề mới được quy định rõ ràng trong Luật THADS Trước và sau khi Luật THADS được ban hành, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý tập trung vào vấn đề này.

Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp, được Nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 2010, nghiên cứu phương pháp và cách áp dụng hiệu quả các trình tự thủ tục trong thi hành án dân sự Tài liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tác giả nghiên cứu đề tài, đồng thời các vấn đề thảo luận trong công trình dựa trên Luật THADS năm

2008, vì vậy các khía cạnh pháp lý được qui định trong Luật THADS năm 2014 và có sự thay đổi so với luật THADS năm 2008 chưa được đề cập

"Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà

Giáo trình do Nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2016 tập trung vào nghiên cứu các điều luật thi hành án dân sự và quy trình thực hiện THADS Mặc dù công trình này được biên soạn để phục vụ giảng dạy tại các cơ sở đào tạo Luật trong nước, nhưng không đề cập đến việc đánh giá thực tiễn hay đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Do đó, tác giả cần chú trọng làm rõ các khía cạnh này trong nghiên cứu của mình.

Bài viết "Bàn thêm về nghĩa vụ thông tin, xác minh về tài sản, điều kiện thi hành án của đương sự khi yêu cầu thi hành án" của Bùi Thái Bình, đăng trong số chuyên đề về THADS của Tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2010, nêu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan trong việc khai báo và cung cấp thông tin chính xác Điều này không chỉ đảm bảo tính minh bạch trong quá trình thi hành án mà còn góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự (THADS) và chấp hành viên (CHV) là chủ đề chính của luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Thị Hồng Suy, được trình bày tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013 Luận văn này làm rõ các vấn đề liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm phối hợp, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác trong quá trình thi hành án nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng trong hệ thống pháp luật.

Bài viết của tác giả Lê Thị Lệ Duyên (2012) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã phân tích vai trò và ý nghĩa của quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành án dân sự (THADS) Tác giả nêu rõ căn cứ pháp lý cho mối quan hệ này, đồng thời chỉ ra nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan THADS cùng với trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc hỗ trợ thi hành án Ngoài ra, bài viết cũng nhấn mạnh mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS địa phương và các cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan trong quá trình thực hiện THADS.

Vấn đề xác minh tài sản đang được quy định rõ ràng trong luật và các nghị định, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp mà pháp luật chưa lường trước Quá trình xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) gặp nhiều khó khăn và bất cập Do đó, việc nghiên cứu sâu và rộng về vấn đề này là cấp thiết.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật thi hành án dân sự hiện nay cho thấy còn nhiều thiếu sót và khoảng trống pháp lý, gây khó khăn cho công tác thi hành án Tác giả tập trung làm rõ cơ sở lý luận về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự năm 2014, đồng thời phân tích các tài liệu pháp luật liên quan để chỉ ra những khó khăn và hạn chế trong quá trình xác minh tài sản Dựa trên thực tiễn áp dụng pháp luật, bài viết đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự.

Các văn bản luật được sử dụng chủ yếu như sau:

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự (Luật số 64/2014/QH14) được ban hành ngày 25/11/2014, cùng với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 17/2017/QH14) ngày 20/11/2017, đã tạo ra khung pháp lý quan trọng cho hoạt động thi hành án Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự, và Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 hướng dẫn các thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự Bên cạnh đó, Nghị định số 01/2016/NĐ-CP ngày 05/01/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến thi hành án và bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả áp dụng các phương pháp khoa học như phân tích, tổng hợp, liệt kê và duy vật biện chứng để khảo sát việc xác minh tài sản trong thi hành án dân sự Qua đó, tác giả đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự.

Tác giả áp dụng phương pháp phân tích xuyên suốt luận văn, đặc biệt tập trung vào các mục 1.1, 1.2, 1.3 của chương 1, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung liên quan đến việc xác minh tài sản trong quá trình thi hành án dân sự.

Phương pháp lịch sử được áp dụng chủ yếu trong mục 1.4 của chương 1 nhằm khái quát quá trình hình thành và phát triển của luật thi hành án dân sự qua các thời kỳ.

Phương pháp so sánh được áp dụng trong các chương của luận văn, đặc biệt tại tiểu mục 1.5.2 của mục 1.5, chương 1 Mục đích của việc so sánh này là để phân tích vị trí, vai trò và quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng quản trị (CHV) ở các quốc gia khác nhau so với Việt Nam.

Trong chương 2, các phương pháp tổng hợp và phân tích được áp dụng ở các mục 2.1, 2.2, 2.3 và 2.4 nhằm làm rõ những bất cập hiện có, đồng thời đưa ra những kiến nghị thiết thực để khắc phục những vấn đề này.

Đóng góp của luận văn

Luận văn là một nghiên cứu khoa học có hệ thống, tập trung vào việc xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) Bài viết cung cấp cho người đọc những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn liên quan đến THADS, giúp nâng cao hiểu biết về lĩnh vực này.

Luận văn này sẽ nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận mới liên quan đến xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) tại Việt Nam Bằng cách phân tích và đánh giá thực tiễn trong quá trình xác minh tài sản, bài viết sẽ đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xác minh tài sản trong THADS.

Các nghiên cứu khoa học tiếp theo trong lĩnh vực xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) có thể tham khảo luận văn này như một tài liệu hữu ích.

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC MINH TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Khái niệm về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự

Xác minh tài sản trong thủ tục thi hành án dân sự (THADS) là bước quan trọng theo quy định của pháp luật, giúp đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và các phán quyết từ Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng như Trọng tài thương mại Giai đoạn này không thể thiếu để đảm bảo quyền lợi và thực thi công lý trong thực tế.

Xác minh tài sản trong THADS có vai trò quan trọng trong quá trình

Kết quả xác minh THADS sẽ nâng cao hiệu quả thi hành án liên quan đến tài sản, giúp giảm thiểu tình trạng bản án bị tồn đọng Đây là cơ sở để Chấp hành viên tổ chức thi hành phán quyết của Tòa án theo đúng quy định pháp luật Dựa vào kết quả xác minh, Chấp hành viên sẽ xử lý hồ sơ theo các hướng: ủy thác, đình chỉ, án chưa có điều kiện thi hành, hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án theo quy định.

Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì ‘‘Xác minh’’ là làm cho rõ sự thật qua thực tế và chứng cứ cụ thể 1

Xác minh là quá trình tìm kiếm chứng cứ và tài liệu liên quan nhằm làm rõ một vấn đề cụ thể Việc này có thể được thực hiện bởi nhiều đối tượng khác nhau.

Theo Nguyễn Lân (1998) trong "Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam", các chủ thể có thể khác nhau tùy thuộc vào từng vụ việc, mục đích và yêu cầu chứng minh cụ thể.

Tài sản được định nghĩa là vật, tiền, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản, bao gồm cả bất động sản và động sản Theo Điều 105 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, tài sản có thể là hiện tại hoặc hình thành trong tương lai.

Xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) là quá trình tìm kiếm chứng cứ và tài liệu liên quan đến tài sản của người phải thi hành án Điều này được thực hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến tài sản của họ.

Thủ tục xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) là một bước quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của các hoạt động tiếp theo trong toàn bộ quy trình Quy trình này có những đặc điểm riêng biệt cần được chú trọng.

Thứ nhất, việc xác minh tài sản THADS được thực hiện tại nhiều thời điểm và nhiều địa điểm khác nhau

Việc xác minh tài sản trong quá trình thi hành án (THA) diễn ra tại nhiều thời điểm khác nhau, đặc biệt là ngay sau khi có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Chấp hành viên cần nhanh chóng xác minh các tài sản liên quan đến người phải thi hành án để đảm bảo việc thực hiện bản án Biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người được thi hành án cho đến khi vụ án được giải quyết Để thực hiện xác minh, chấp hành viên có thể liên hệ với các cơ quan địa phương như ủy ban nhân dân, công an hoặc các tổ chức liên quan.

Theo Điều 44 Luật THADS năm 2014, trong vòng 10 ngày sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh Trong trường hợp chưa có điều kiện thi hành án, Chấp hành viên cần xác minh ít nhất 06 tháng một lần Nếu sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn không đủ điều kiện, cơ quan THADS sẽ thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả Việc xác minh sẽ được thực hiện lại khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Việc xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) diễn ra tại nhiều địa điểm khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng cần xác minh Cụ thể, khi xác minh hiện trạng nhà đất, địa điểm thực hiện là tại địa phương nơi có nhà đất Đối với việc xác minh chủ sở hữu phương tiện giao thông, quy trình diễn ra tại phòng cảnh sát giao thông Còn khi xác minh về tiền và tài khoản, việc này được thực hiện tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Thứ hai, việc xác minh tài sản THA có thể do Chấp hành viên, người được

THA hoặc Thừa phát lại tiến hành thực hiện

CHV là ngạch công chức được Nhà nước giao quyền tổ chức thi hành các bản án và quyết định Theo Điều 20 Luật THADS năm 2014, CHV có nhiệm vụ xác minh tài sản và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Cụ thể, khoản 4 điều 20 quy định rằng CHV phải yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ và tài sản của người phải thi hành án, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc xử lý vật chứng, tài sản và các công việc khác liên quan đến thi hành án.

Theo Điều 44 của Luật THADS năm 2014, Chấp hành viên (CHV) có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án (THA) của đương sự Cụ thể, trong vòng 10 ngày kể từ khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành không thực hiện, CHV phải tiến hành xác minh Đối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc xác minh phải được thực hiện ngay lập tức.

Như vậy, có thể thấy việc xác minh điều kiện THADS là trách nhiệm của CHV và trách nhiệm đó được quy định cụ thể trong Luật THADS năm

Luật THADS năm 2014 quy định rằng người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án (THA) Người được THA có thể tự xác minh tài sản của người phải thi hành án và cung cấp thông tin cần thiết cho cơ quan THADS Nếu muốn cơ quan THA thực hiện xác minh, người được THA phải chứng minh rằng họ đã cố gắng nhưng không có kết quả và chịu chi phí xác minh theo quy định của Luật THADS năm 2008 Tuy nhiên, Luật THADS năm 2014 đã sửa đổi, loại bỏ nghĩa vụ này, chuyển thành quyền tự xác minh hoặc ủy quyền cho người khác, mở ra hướng mới cho công tác xác minh điều kiện THA Quy định này thể hiện sự tiến bộ, có lợi cho người được THA và phù hợp với thực tiễn trong công tác xác minh.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 và Điều 30 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ, Thừa phát lại có quyền xác minh tài sản thi hành án dân sự (THADS) khi có yêu cầu từ đương sự.

Theo Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến thi hành án dân sự, bao gồm tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định pháp luật Việc bổ nhiệm Thừa phát lại được thực hiện bởi Bộ trưởng Bộ Tư pháp dựa trên đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.

Ý nghĩa của xác minh tài sản trong thi hành án dân sự

Xác minh tài sản của người phải thi hành án (THA) là bước quan trọng để chấp hành viên thực hiện các biện pháp tiếp theo trong quá trình tổ chức thi hành án, bao gồm việc xử lý các yêu cầu từ đơn.

2 Đinh Thanh Hương (2013), Xác minh điều kiện Thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Việc xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại các loại án, bao gồm án có khả năng thực hiện và án chưa đủ điều kiện thực hiện Đồng thời, nó cũng giúp thống kê các án tồn đọng và các án đã được thực hiện trên thực tế Những biện pháp như ủy thác, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, áp dụng biện pháp đảm bảo và biện pháp cưỡng chế THA đều phụ thuộc vào quá trình xác minh tài sản, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các quyết định thi hành án.

Xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại án một cách chính xác và rõ ràng, từ đó nâng cao hiệu quả công việc và giảm thiểu số án tồn đọng Điều này giúp giảm áp lực cho cơ quan thi hành án, vì họ không phải tốn nhiều thời gian và công sức vào việc nghiên cứu các án chưa đủ điều kiện thực hiện THA.

THADS được chia thành hai loại: án dân sự có điều kiện thi hành và án dân sự chưa có điều kiện thi hành, dựa trên quy định về điều kiện THADS Việc xác minh tài sản THADS đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại án dân sự, giúp xác định rõ ràng liệu án có điều kiện thi hành hay không Quá trình xác minh tài sản cần thực hiện đầy đủ các quy trình thủ tục theo quy định để đảm bảo tính chính xác trong phân loại Điều này không chỉ giúp cơ quan THADS tập trung vào các án có điều kiện thi hành mà còn giảm thiểu án tồn đọng, tiết kiệm thời gian và chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả công tác thi hành án.

Thứ hai, thực thi và bảo đảm quyền lợi cho người được THA

Trong giao dịch dân sự, các bên có quyền thực hiện trên cơ sở tự do, tự nguyện, cam kết và thỏa thuận theo ý chí của nhau, được pháp luật bảo vệ Điều 3 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định rõ về nguyên tắc này.

Mọi cá nhân và pháp nhân đều có quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử dưới bất kỳ lý do nào Pháp luật bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tất cả mọi người một cách công bằng.

2 Cá nhân, pháp nhân xác lập thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực

4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

5 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự’’

Quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự của cá nhân và pháp nhân được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật thông qua cơ chế tài phán Khi có mâu thuẫn xảy ra do một bên không tôn trọng cam kết, tranh chấp phát sinh và các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Để giải quyết tranh chấp, các bên phải cung cấp thông tin, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, vì giao dịch dân sự dựa trên nguyên tắc tự do và tự nguyện Việc quy định trách nhiệm của người được thi hành án trong việc xác minh điều kiện thi hành án được coi là cách bảo vệ quyền lợi của họ, bởi vì việc thi hành án phụ thuộc vào điều kiện thực tế, và người được thi hành án cần chủ động tìm kiếm thông tin để đảm bảo quyết định của Tòa án được thực hiện.

Thứ ba, xác minh tài sản THADS góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc THA

Căn cứ vào kết quả xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS), cơ quan thi hành án (CHV) sẽ thực hiện các biện pháp tiếp theo như biện pháp đảm bảo và cưỡng chế, nhằm thúc đẩy quá trình thi hành án nhanh chóng Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện quyết định của Tòa án, tài sản của họ có thể bị áp dụng các biện pháp đảm bảo và cưỡng chế, đồng thời họ sẽ phải chịu phí phát sinh trong quá trình xác minh Việc quy định xác minh điều kiện trong THADS không chỉ nâng cao ý thức của người dân về trách nhiệm và quyền lợi của mình mà còn khuyến khích họ chủ động hơn trong việc thực hiện bản án và quyết định của Tòa án.

Xác minh tài sản trong thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện bản án, giúp giải quyết nhanh chóng các vụ án, giảm thiểu tình trạng án tồn đọng và tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thống pháp luật Việt Nam Kết quả xác minh tài sản có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án và các quyết định tác nghiệp của cán bộ thi hành án Việc này không chỉ giảm thiểu án tồn đọng mà còn nâng cao trách nhiệm và chất lượng trong tổ chức thi hành án.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự

1.3.1 Cơ sở lý luận của quy định về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự

Cơ quan THADS thực hiện xác minh tài sản là một bước quan trọng trong tổ chức thi hành án Pháp luật THADS quy định về xác minh điều kiện trong THADS dựa trên những cơ sở lý luận vững chắc.

Thứ nhất, Từ việc đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế

THA là giai đoạn quyết định quan trọng, đảm bảo việc thi hành án được thực hiện nghiêm minh và bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân Để quyết định THA có hiệu lực, người phải THA cần có tài sản hoặc thu nhập Việc xác minh điều kiện THA của người phải THA, bao gồm tài sản và thu nhập, là cần thiết để cơ quan THA thực hiện các bước tiếp theo Pháp luật quy định quy trình xác minh tài sản THADS nhằm đảm bảo tính hiệu quả và nghiêm minh trong việc chấp hành pháp luật của công dân.

Thứ hai, từ yêu cầu thực tiễn trong công tác THADS

Nước ta là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, nơi các quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật Quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là người được thi hành án dân sự, đã được nhấn mạnh trong nhiều văn bản pháp lý Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định rõ về việc bảo vệ những quyền này.

1 Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật;

2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng (Điều 14)

Bộ luật Dân sự bảo đảm quyền dân sự của các chủ thể, với nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp Khi quyền lợi của chủ thể bị xâm phạm, họ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp theo quy định pháp luật, buộc bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường tổn thất gây ra.

Các văn kiện và nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của xã hội hóa trong công tác thi hành án (THA) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã chỉ ra rằng cần thực hiện xã hội hóa trong công tác tư pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực THA, nhằm giảm bớt gánh nặng cho cơ quan THA Nhiều tư nhân hiện nay có khả năng thực hiện các nhiệm vụ như gửi bản án, đôn đốc thực hiện THA và xác minh điều kiện THA, phù hợp với nhu cầu xã hội và sự phát triển kinh tế Nghị quyết số 49/NQ-TW cũng khẳng định việc từng bước xã hội hóa và quy định hình thức thủ tục cho tổ chức ngoài nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án Đồng thời, nghị quyết này đề cập đến việc nghiên cứu chế định Thừa phát lại, với kế hoạch thí điểm tại một số địa phương và đánh giá thực tiễn sau vài năm để có bước tiếp theo.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công việc trong hoạt động thi hành án (THA) là ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước, nhằm hoàn thành công việc THA nhanh chóng, giảm thiểu án tồn đọng và đảm bảo thực thi các bản án của Tòa án Xã hội hóa được coi là một bước tiến mới trong hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao trách nhiệm của cá nhân và tổ chức đối với THA, đồng thời huy động nguồn nhân lực phong phú phục vụ cho sự phát triển xã hội Đảng và Nhà nước đang chú trọng đổi mới một số hoạt động tư pháp để tăng cường hiệu quả trong THA, trong đó xã hội hóa sẽ chuyển giao một số công việc THADS cho các tổ chức ngoài nhà nước thực hiện.

Công tác thi hành án (THA) bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, và nếu chỉ giao cho cơ quan THA thực hiện sẽ dẫn đến quá tải và chậm trễ trong quá trình thi hành án, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự Do đó, cần phân chia công việc để đảm bảo THA thực hiện đúng quy định pháp luật và trả lại lợi ích hợp pháp cho đương sự Việc huy động nguồn lực trong hoạt động tư pháp sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công tác THA Chính vì vậy, xã hội hóa một số hoạt động trong THA là rất cần thiết, đặc biệt là để nâng cao hiệu quả trong hoạt động thi hành án.

Pháp luật về thi hành án dân sự (THADS) quy định việc xác minh tài sản nhằm đảm bảo rằng các quyết định của Tòa án có đủ điều kiện để thi hành thực tế, từ đó hạn chế thời gian và chi phí cho những bản án chưa đủ điều kiện thực hiện Điều này cũng thể hiện chủ trương xã hội hóa trong hoạt động thi hành án, một vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh trong các văn kiện, nghị quyết.

1.3.2 Cơ sở thực tiễn về quy định của xác minh về tài sản trong thi hành án dân sự

Nếu không nắm rõ kiến thức pháp luật, người dân thường nghĩ rằng khi tranh chấp được Tòa án giải quyết, quyền lợi của họ sẽ được khôi phục một cách tự động Tuy nhiên, thực tế, quá trình thi hành án (THA) không đơn giản như vậy Nhiều người không hiểu rằng việc THA cần phải xác minh các yếu tố như tài sản, thu nhập và giấy tờ liên quan Khi yêu cầu cơ quan THA, nhiều người cảm thấy không hài lòng vì thủ tục rườm rà, nhưng để thực thi bản án, các điều kiện cần được làm rõ Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện, việc cưỡng chế tài sản phải tuân theo quy trình nghiêm ngặt của Luật thi hành án Dân sự, điều này tiêu tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí.

Trong quá trình thi hành án dân sự (THADS), quyền của các đương sự được xác lập từ bản án hoặc quyết định của Tòa án và có thể được thực hiện qua nhiều phương thức khác nhau Các đương sự có quyền tự thỏa thuận về việc thi hành án và có thể từ bỏ quyền lợi theo bản án Cơ quan THA chỉ can thiệp khi các bên không đạt được thỏa thuận Điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là yếu tố quan trọng, vì người được thi hành án cần nắm rõ thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án để làm cơ sở cho việc THA Do đó, quy định trước đây yêu cầu người được thi hành án phải biết rõ về tài sản và thu nhập của người phải thi hành án để cung cấp thông tin chính xác cho cơ quan THA là hợp lý.

Thực tiễn áp dụng Luật THADS năm 2008 đã phát sinh nhiều bất cập, đặc biệt là việc người được thi hành án gặp khó khăn trong việc xác minh và cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án Điều này dẫn đến việc Chấp hành viên phải thực hiện xác minh, kéo dài thời gian thi hành án và gây tốn kém cho người được thi hành án, đồng thời làm giảm hiệu quả công tác THADS Luật THADS năm 2014 đã chuyển trách nhiệm xác minh tài sản sang cho Chấp hành viên và cơ quan THADS, một thay đổi cần thiết trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên, tác giả cho rằng khi Việt Nam sửa đổi Luật THADS năm 2014 và ban hành Luật về đăng ký tài sản, việc yêu cầu người được thi hành án có nghĩa vụ xác minh như quy định của Luật THADS năm 2008 sẽ là giải pháp hợp lý hơn.

Thừa phát lại, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tư pháp cho cơ quan THA và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh Họ có nhiệm vụ thi hành án, xác minh điều kiện THA, lập bằng, tống đạt văn bản và các giấy tờ của Tòa án Thừa phát lại hoạt động độc lập với cơ quan THADS của Nhà nước, và khi có tranh chấp, người được THA có thể gửi đơn yêu cầu đến cơ quan THA hoặc văn phòng Thừa phát lại Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Thừa phát lại cũng đã có vai trò quan trọng trong THADS, không được từ chối đơn yêu cầu THA, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án Sắc lệnh ngày 10/10/1945 đã quy định giữ các luật lệ cũ, miễn là không trái với nền độc lập của Việt Nam Văn phòng Thừa phát lại đã đóng góp đáng kể cho hoạt động tư pháp, đảm bảo bản án Tòa án được thi hành, giảm án tồn đọng và duy trì tính nghiêm minh của pháp luật.

Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định rằng Thẩm phán huyện thực hiện nhiệm vụ THA dưới sự chỉ đạo của Chánh án Ở miền Bắc, Thừa phát lại không còn tồn tại, trong khi miền Nam vẫn duy trì chức năng này, hỗ trợ cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng và THA Qua các giai đoạn phát triển, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thừa phát lại đã có sự thay đổi, nhưng vai trò của họ trong THA vẫn rất quan trọng Để nâng cao hiệu quả công tác THA, cần tiếp tục quy định rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn của Thừa phát lại, đặc biệt trong việc xác minh tài sản và điều kiện THADS Những quy định chặt chẽ sẽ giúp Thừa phát lại phát huy năng lực, đảm bảo quyền lợi cho các bên, giảm tải công việc cho cơ quan THA, và nâng cao hiệu quả trong công tác THADS.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH TÀI SẢN

Chủ thể xác minh tài sản trong thi hành án dân sự

2.1.1 Người được thi hành án

Khoản 2 Điều 3 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”

Thực tế hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án, cụ thể:

Khái niệm "người được thi hành án" xuất hiện khi cơ quan THADS tiếp nhận yêu cầu thi hành án, đánh dấu sự bắt đầu của quá trình tổ chức thi hành án Yêu cầu này không chỉ kích hoạt quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, mà còn đặc biệt ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án theo nội dung bản án hoặc quyết định của Tòa án, ngoại trừ trường hợp họ tự tổ chức thi hành án Do đó, thời điểm này là lúc khái niệm người được thi hành án chính thức được hình thành.

Khái niệm người được thi hành án chỉ phát sinh sau khi thời gian tự nguyện thi hành án kết thúc, trừ trường hợp tẩu tán tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Trong thời gian tự nguyện thi hành án, cá nhân và tổ chức có quyền lợi theo bản án, quyết định chưa thể yêu cầu thực hiện bản án đó.

Khái niệm người được thi hành án xuất hiện từ sớm, ngay khi bản án hoặc quyết định có hiệu lực thi hành, hoặc trong trường hợp cần thi hành ngay Dù là cá nhân hay tổ chức, quyền lợi có thể được tự đôn đốc thi hành hoặc thông qua cơ quan có thẩm quyền Trong các vụ án dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình, các bên được gọi là nguyên đơn và bị đơn; trong án hình sự, có các tên gọi như bị can, bị cáo, và người bị hại Sau khi bản án được thi hành, bên hưởng quyền lợi được gọi là bên được thi hành án, trong khi bên có nghĩa vụ thi hành được gọi là bên phải thi hành án.

Theo Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, khi có nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một số người yêu cầu thi hành, cơ quan thi hành án sẽ thanh toán cho những người đã yêu cầu theo tỷ lệ tương ứng Nếu tài sản của người phải thi hành án không đủ để thực hiện nghĩa vụ, số tiền còn lại sẽ được gửi vào ngân hàng với kỳ hạn 01 tháng Đồng thời, cơ quan thi hành án sẽ thông báo và ấn định thời hạn không quá 01 tháng cho những người chưa yêu cầu thi hành án, trừ khi đã hết thời hiệu Điều này cho thấy khái niệm người được thi hành án có thể phát sinh ngay cả khi cá nhân hoặc tổ chức chưa yêu cầu thi hành án.

Người được thi hành án được đề cập nhiều trong Bộ luật tố tụng dân sự năm

Năm 2015, Luật THADS năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2014 Khái niệm người được thi hành án đã gây ra nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều có lý lẽ riêng Tác giả ủng hộ quan điểm thứ ba, cho rằng người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích liên quan đến bản án, quyết định thi hành Khái niệm này được xác định từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành hoặc được cho thi hành ngay, khi quyền lợi của một bên đã được xác định và nghĩa vụ của bên kia cũng được thiết lập, tạo nên mối quan hệ giữa các bên trong quá trình thi hành án.

Xét từ góc độ nghiên cứu khoa học, người được thi hành án dân sự (THADS) là con người, do đó, quyền của họ cũng thuộc về quyền con người Trong các giai đoạn khác nhau trước và trong quá trình thi hành án, người được THADS có những tâm lý và yêu cầu khác nhau Vì vậy, cần đáp ứng các yếu tố và điều kiện phù hợp ở mỗi giai đoạn, đảm bảo rằng người được THADS có thể thụ hưởng đầy đủ và toàn diện các quyền lợi hợp pháp của mình.

Quyền của người được thi hành án dân sự (THADS) là khả năng khôi phục và thụ hưởng đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Điều này bao gồm cả những quyền và lợi ích được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án, cũng như các quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

Theo Điều 44 Luật THADS năm 2008, người được thi hành án có nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và phải chịu chi phí xác minh Tuy nhiên, Luật THADS sửa đổi đã thay đổi quy định này, chuyển nghĩa vụ thành quyền xác minh tự nguyện hoặc ủy quyền cho người khác, đồng thời bỏ nghĩa vụ nộp chi phí xác minh Theo luật mới, trách nhiệm xác minh thuộc về Chấp hành viên, và chi phí xác minh sẽ do Ngân sách Nhà nước chịu Để khuyến khích người được thi hành án tích cực cung cấp thông tin, nhà nước sẽ miễn, giảm phí thi hành án Nếu người được thi hành án cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án mà cơ quan thi hành án có thể xử lý, họ sẽ được miễn, giảm phí tương ứng với giá trị tài sản thu được.

Luật THADS năm 2008 đã có sự đột phá quan trọng khi quy định người được thi hành án (THA) có nghĩa vụ xác minh điều kiện tài sản của người phải THA khi có đơn yêu cầu Chỉ khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh, người được THA mới có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án (CHV) tiến hành xác minh Họ có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau để xác minh tài sản và thu nhập của người phải THA, như tìm hiểu qua mối quan hệ trước đó, yêu cầu thông tin từ các cá nhân, tổ chức liên quan, hoặc nhờ dịch vụ xác định tài sản Điều này phản ánh tính chất tự do trong giao dịch dân sự và sự cần thiết của thỏa thuận trong việc thi hành án Nếu các bên không tự thỏa thuận, cơ quan THA sẽ đóng vai trò trung gian để giải quyết tranh chấp, đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ theo bản án Do đó, việc quy định trách nhiệm xác minh tài sản của người phải THA là hợp lý, nhằm bảo vệ quyền lợi của người được THA và tránh phụ thuộc vào cơ quan THADS.

Luật THADS năm 2014 đã điều chỉnh quy định về xác minh điều kiện thi hành án, chuyển từ nghĩa vụ sang quyền của người được thi hành án Cụ thể, người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự Hiện nay, trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án thuộc về cơ quan thi hành án dân sự.

Sự thay đổi trong Luật THADS năm 2014 phản ánh thực tế tại Việt Nam, nơi người được thi hành án thường gặp khó khăn trong việc xác minh khả năng thi hành án của người phải thi hành án Để đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án và tăng cường hiệu quả của công tác thi hành án, trách nhiệm xác minh này đã được chuyển giao cho Chấp hành viên (CHV) Tuy nhiên, quy định này không hoàn toàn phù hợp với bản chất của thi hành án, vì việc bảo vệ quyền lợi tư nhân chỉ được thực hiện khi có yêu cầu, và người yêu cầu cần chứng minh khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Hơn nữa, tình trạng tồn đọng công việc tại các cơ quan THADS hiện nay chủ yếu do khối lượng công việc lớn mà mỗi CHV phải xử lý, dẫn đến việc quy định mới này gia tăng gánh nặng cho họ.

Nhà nước chỉ bảo vệ quyền lợi khi có yêu cầu, và người yêu cầu phải cung cấp thông tin cũng như điều kiện thi hành án Người thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực về tài sản và các điều kiện thi hành án, đồng thời phải cung cấp đầy đủ giấy tờ liên quan khi được yêu cầu bởi cơ quan có thẩm quyền, và sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó.

Người yêu cầu thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin và điều kiện thi hành án, trong khi người phải thi hành án cần kê khai trung thực tài sản và điều kiện thi hành Theo Điều 52 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, cũng như thi hành án dân sự.

4 Khoản 5, Điều 44 Luật THADS năm 2014

Theo Khoản 1, 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, mức xử phạt đối với hành vi không kê khai trung thực tài sản trong trường hợp phá sản doanh nghiệp hoặc hợp tác xã dao động từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng.

Xác minh tài sản thi hành án trong một số trường hợp cụ thể

2.2.1 Xác minh đối với tài sản là Quyền sử dụng đất, nhà ở Đất đai, nhà ở là loại tài sản đặc biệt, thường có giá trị lớn nên pháp luật có quy định chặt chẽ về quyền sở hữu đối với nhà ở, quyền sử dụng đất Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh qua các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã và người phải THA để đưa ra các căn cứ xác thực, chính xác nhất

Theo Điều 110 Luật THADS năm 2014, người phải thi hành án chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thuộc trường hợp được cấp giấy vẫn có thể bị kê biên quyền sử dụng đất Khi không thể xác minh qua Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Chấp hành viên cần xác minh qua Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản Do đó, khi lập kế hoạch xác minh hoặc tiếp xúc với đương sự, Chấp hành viên cần xác định tình trạng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng đất để tiến hành các bước tiếp theo Địa điểm xác minh tài sản thường bao gồm nơi có nhà, đất, nhà của người phải thi hành án, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân cấp xã, do đó việc xác minh sẽ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể mà Chấp hành viên lựa chọn địa điểm phù hợp.

Nội dung xác minh tài sản bao gồm quyền sở hữu, sử dụng nhà đất, người quản lý tài sản, tình trạng cầm cố, thế chấp, tranh chấp, và khả năng phân chia tài sản Đối với người phải thi hành án có gia đình, Chấp hành viên cần xác định xem tài sản là sở hữu chung hay riêng của vợ hoặc chồng Để làm rõ quyền sở hữu, cần xác định thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu và thời điểm kết hôn của người phải thi hành án Việc xác định chính xác thời điểm này giúp tránh bỏ sót tài sản hoặc xử lý nhầm tài sản không thuộc sở hữu của họ Nếu người phải thi hành án thông báo về việc đã bán, chuyển nhượng, tặng cho nhà đất, Chấp hành viên có quyền yêu cầu xuất trình hợp đồng và giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của các giao dịch đó.

2.2.2 Xác minh đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu

Theo Điều 106 BLDS năm 2015 về quy định đăng ký quyền sở hữu :

1 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản

2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác

3 Việc đăng ký tài sản phải được công khai

Bộ luật dân sự quy định rằng việc đăng ký tài sản là bắt buộc đối với bất động sản Đối với động sản, việc đăng ký không bắt buộc, trừ một số trường hợp cụ thể mà pháp luật yêu cầu phải đăng ký.

- Đăng ký phương tiện nội thủy địa

- Đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Đăng ký xe, máy chuyên dùng thi công đường bộ

- Đăng ký quyền sở hữu tàu bay

- Đăng ký phương tiện giao thông đường sắt

- Đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

- Đăng ký tài sản là vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

Trong quá trình thi hành án, tài sản thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án (THA) có thể không được đăng ký đúng tên tại cơ quan chức năng Theo quy định, Chấp hành viên (CHV) chỉ được kê biên hoặc xử lý tài sản của người phải THA nếu có chứng cứ xác thực Để xác định quyền sở hữu tài sản, CHV cần tiến hành xác minh thông qua người phải THA, cơ quan đăng ký quyền sở hữu, hoặc người liên quan Việc xác minh này cũng phụ thuộc vào loại tài sản và cơ quan có thẩm quyền đăng ký Nếu người phải THA đã cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh quyền sở hữu, CHV không cần xác minh thêm Nội dung xác minh bao gồm xác định chủ thể sở hữu, người quản lý, tình trạng tài sản và các thông tin liên quan như cầm cố, thế chấp.

2.2.3 Xác minh đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu

Tài sản là động sản không đăng ký quyền sở hữu dễ bị tẩu tán, khiến Chấp hành viên (CHV) khó xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án (THA) Khi phát hiện tài sản do người phải THA nắm giữ, CHV coi đó là tài sản của họ trừ khi chủ sở hữu đích thực chứng minh điều ngược lại Đối với tài sản sinh hoạt gia đình như tivi, tủ lạnh, máy giặt, cần chú ý đến địa điểm xác minh Nếu xác minh tại nơi người phải THA sinh sống, tài sản có thể được mặc định là của họ Tuy nhiên, nếu xác minh tại nơi người phải THA cho người khác thuê hoặc đang thuê, CHV cần kiểm tra rõ ràng quyền sở hữu của các tài sản đang sử dụng.

Các tài sản động sản không đăng ký quyền sở hữu thường gặp khó khăn trong việc xác minh và bảo vệ Do đó, cần thực hiện các biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn việc vận chuyển hoặc tẩu tán tài sản ra khỏi nơi cư trú của người phải thi hành án.

2.2.4 Xác minh tài sản là thu nhập của người phải thi hành án

Thu nhập là khoản tài sản tính bằng tiền mà cá nhân, doanh nghiệp hoặc nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động khác Nó bao gồm tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản và lợi nhuận kinh doanh Thu nhập có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau như lao động, sở hữu giấy tờ có giá trị, thừa kế hoặc quà tặng.

Theo Điều 78 của Luật Thi hành án dân sự, thu nhập của người phải thi hành án bao gồm lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và các nguồn thu nhập hợp pháp khác.

Khi bản án của Tòa án yêu cầu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (THA) hoặc quy định nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ, việc xác minh thu nhập là bước đầu tiên mà Chấp hành viên (CHV) cần thực hiện Nếu người phải THA không có tài sản để thi hành nghĩa vụ, thu nhập sẽ được xem là tài sản để THA CHV phải xác minh thu nhập thông qua người phải THA và các cơ quan, tổ chức quản lý thu nhập của họ Việc xác minh này bao gồm các loại thu nhập như lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp, mất sức lao động, cùng với mức thu nhập, thời gian và phương thức chi trả.

Khi xác minh tài sản và thu nhập của người phải thi hành án, chấp hành viên cần tiến hành xác minh tại nơi cư trú của họ và trụ sở cơ quan, tổ chức quản lý thu nhập Việc xác minh qua cơ quan, tổ chức này cần chú ý đến thẩm quyền của người cung cấp thông tin để đảm bảo tính chính xác và hợp pháp của dữ liệu thu nhập.

Việc xác minh thu nhập của người phải thi hành án dân sự (THADS) gặp nhiều khó khăn do liên quan đến nhiều chủ thể và mối quan hệ khác nhau Để có chứng cứ và tài liệu xác minh chính xác, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân với cơ quan thi hành án.

2.2.5 Xác minh tài sản là tiền

Bộ luật dân sự năm 2005 và 2015 xác định tiền là tài sản, chỉ công nhận loại tiền có giá trị đang lưu hành hợp pháp Tiền không chỉ là công cụ thanh toán đa năng mà còn là phương tiện tích lũy tài sản và thước đo giá trị Do đó, khi cơ quan thi hành án (CHV) xác minh tài sản của người phải thi hành án, việc xác minh tiền của họ cũng là cần thiết, vì tiền có giá trị ngang giá và được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn hoặc chi trả.

Bất cập, vướng mắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh tài sản trong

2.3.1 Về chủ thể xác minh tài sản trong thi hành án dân sự

- Người được thi hành án

Việc xác minh tài sản trong thi hành án (THA) đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến các quy trình và thủ tục tiếp theo Tuy nhiên, khi người được THA thực hiện xác minh, họ có thể gặp phải một số bất cập cơ bản.

Thứ nhất, việc xác minh của người được THA thực sự đủ cơ sở pháp lý cho

CHV có quyết định thực hiện các trình tự và thủ tục tiếp theo hay không? Theo thực tiễn áp dụng, pháp luật quy định rằng người cung cấp thông tin phải được xác minh lại nếu CHV thấy cần thiết.

Dù có quy định về trách nhiệm xác minh tài sản của người được thi hành án, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về Chấp hành viên (CHV), khiến cho việc công nhận kết quả xác minh của người được thi hành án trở nên khó khăn Điều này dẫn đến việc quy định này chỉ mang tính hình thức, không có giá trị pháp lý cao và chỉ có ý nghĩa tham khảo ở một mức độ nhất định.

Ý thức nhận thức pháp luật của đại đa số người dân Việt Nam còn hạn chế, và cơ quan THADS chưa tổ chức chuyên nghiệp để hỗ trợ người dân trong việc thực hiện các thủ tục pháp lý Do đó, kết quả xác minh thường thiếu cơ sở pháp lý đầy đủ, vì chúng được thực hiện bởi những chủ thể thiếu kinh nghiệm và trình độ chuyên môn, dẫn đến khó khăn trong việc công nhận và thi hành.

Việc minh bạch tài sản tại nước ta còn nhiều bất cập, với khó khăn trong việc xác minh tài sản của các cơ quan chức năng Nhiều tổ chức và cá nhân từ chối cung cấp thông tin với nhiều lý do khác nhau Các cơ quan như tư pháp cấp xã, công an xã và tổ dân phố có thể cung cấp thông tin khách quan và chính xác, nhưng việc xác minh đồng thời từ các chủ thể này gặp nhiều thách thức trong thực tế.

Xác minh tài sản để thi hành án (THA) là một nhiệm vụ phức tạp và khó khăn do khối lượng án lớn và thời gian hạn chế của cán bộ thi hành án (CHV) Việc đi lại khó khăn ở nhiều tỉnh làm cho quá trình xác minh tài sản kéo dài hơn, đặc biệt là trong các trường hợp liên quan đến yếu tố nước ngoài, khi mà tình trạng nhân thân và tài sản khó xác định Hệ thống quản lý đăng ký tài sản và kiểm soát vốn, thu nhập qua ngân hàng cũng gây khó khăn cho việc xác minh, dẫn đến việc CHV thường phải phối hợp với các cơ quan chính quyền địa phương, như tư pháp xã, để hỗ trợ trong quá trình này.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, việc quy định người được thi hành án (THA) có quyền xác minh thông tin là hợp lý Điều này giúp khắc phục những hạn chế hiện tại, rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả trong công tác THA.

Nếu người được thi hành án (THA) không thể xác minh do khoảng cách xa, chi phí cao hoặc điều kiện khó khăn, thì việc xác minh có còn ý nghĩa? Đồng thời, người phải THA thường có xu hướng tẩu tán tài sản và che giấu nguồn thu nhập, thậm chí trốn tránh Do đó, để nhận lại lợi ích hợp pháp, người được THA cần yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thực hiện xác minh.

Mặc dù Luật THADS đã quy định rõ ràng về quyền xác minh tài sản thi hành án và quyền của người được thi hành án, nhưng vẫn còn nhiều bất cập Một trong những vấn đề chính là người được thi hành án không được trao quyền năng nào, dẫn đến khó khăn trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành án.

Pháp luật về thi hành án dân sự cần đảm bảo rằng người được thi hành án có quyền truy cập thông tin về tài sản của người phải thi hành án Đồng thời, cần có các biện pháp để cân bằng giữa quyền được biết thông tin của người được thi hành án và quyền bảo mật đời tư cá nhân của người phải thi hành án.

Cần thiết phải có quy định riêng về việc xác minh của người được thi hành án, bao gồm quyền yêu cầu thông tin từ các cơ quan hữu quan và quyền phối hợp với các cơ quan công quyền để điều tra thông tin và xác minh tài sản.

Theo Điều 44 Luật THADS năm 2014, chấp hành viên có nhiệm vụ xác minh, nhưng thực tế cho thấy nhiều chấp hành viên chưa xây dựng kế hoạch xác minh đầy đủ Biên bản xác minh thường thiếu thông tin chi tiết về tài sản, thu nhập và điều kiện kinh tế, dẫn đến việc không đủ căn cứ ra quyết định thi hành án Ngoài ra, một số chấp hành viên còn không tuân thủ trình tự, như không xuất trình thẻ ngành và không xác minh tại các cơ quan chức năng liên quan đến tài sản và giao dịch bảo đảm.

Trong nhiều trường hợp không rõ địa chỉ, biên bản xác minh thường ghi nhận rằng đương sự đã bỏ địa chỉ, không có tài sản liên quan, và không có thông tin đầy đủ về người phải thi hành án Có những trường hợp chấp hành viên không phối hợp xác minh với cơ quan công an hoặc trại giam, dẫn đến biên bản xác minh mang tính chất đối phó và chất lượng kém Biên bản xác minh cần thể hiện rõ công việc, nghề nghiệp, thu nhập, tài sản, mối quan hệ với người thân và thái độ chấp hành pháp luật của người phải thi hành án Đặc biệt, trong hồ sơ xác minh để thi hành án trả nhà, việc xác minh chưa chặt chẽ có thể dẫn đến hiểu lầm về mức độ chống đối và tài sản của người bị cưỡng chế Đối với án tín dụng ngân hàng, xác minh tài sản trên đất còn sơ sài, gây ra sự khác biệt với hồ sơ thế chấp và dẫn đến vi phạm trong xử lý.

Lượng án phải thi hành lớn, khối lượng công việc nhiều mà số lượng Chấp hành viên, thư ký chưa đáp ứng yêu cầu giải quyết lượng án trên 11

Ông Phạm Văn Khá ở xã Đông Xuyên – Tiền Hải đã bị phạt 20.000.000 đồng theo Quyết định số 23/QĐ-THA ngày 21/12/2004 Ngày 02/12/2004, cơ quan thi hành án Tiền Hải xác minh ông Khá có 400m² đất ở, 120m² đất vườn và 190m² đất ao được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vào ngày 06/06/2005, cơ quan thi hành án thông báo áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên một phần đất để thi hành án Tuy nhiên, đến ngày 29/9/2005, chỉ sau 3 tháng 23 ngày, cơ quan đã xác minh tại Ủy ban nhân dân xã và kết luận ông Khá không có tài sản gì để thi hành án, đồng thời không có biên bản xác minh chuyển nhượng đất, dẫn đến việc không có điều kiện thi hành án.

Mặc dù các sai phạm của CHV không lớn, nhưng chúng đã ảnh hưởng đến hiệu quả của bản án và làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật THADS Nguyên nhân chính của những sai phạm này là do sự cẩu thả, thiếu chặt chẽ, cũng như năng lực và trình độ của CHV trong công tác xác minh tài sản THA.

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Ngọc Bản (2012), “Một số vấn đề liên quan đến việc phối hợp trong công tác thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2012, tr.51-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề liên quan đến việc phối hợp trong công tác thi hành án dân sự”
Tác giả: Trần Ngọc Bản
Năm: 2012
3. Bùi Thái Bình, "Bàn thêm về nghĩa vụ thông tin, xác minh về tài sản, điều kiện thi hành án của đương sự khi yêu cầu thi hành án", Số chuyên đề về THADS của Tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về nghĩa vụ thông tin, xác minh về tài sản, điều kiện thi hành án của đương sự khi yêu cầu thi hành án
5. Bộ Tư pháp, "Một số lưu ý đối với chấp hành viên trong việc thông báo thi hành án, thụ lý thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án", Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ Chấp hành viên, Tổng cục THADS, tháng 11 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lưu ý đối với chấp hành viên trong việc thông báo thi hành án, thụ lý thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án
6. Lê Thị Lệ Duyên (2012), “Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10/2012, tr.20-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự
Tác giả: Lê Thị Lệ Duyên
Năm: 2012
7. Lê Thu Hà (2011), “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam”
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
8. Lê Thị Hồng Hạnh (2008), Mối quan hệ giữa các cơ quan trong thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.20, 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa các cơ quan trong thi hành án dân sự
Tác giả: Lê Thị Hồng Hạnh
Năm: 2008
9. "Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự”, Học viện Tư pháp", Nhà xuất bản Thống kê, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự”, Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
10. "Giáo trình Luật tố tụng dân sự", Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
11. Nguyễn Văn Hiệp (2003), “Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
12. Đinh Thanh Hương (2013), “Xác minh điều kiện thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xác minh điều kiện thi hành án dân sự”
Tác giả: Đinh Thanh Hương
Năm: 2013
13. Nguyễn Quang Huy (2017), “Sự phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Quang Huy
Năm: 2017
14. Nguyễn Thị Khanh, "Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự ", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự
15. Lê Doãn Lâm (2017), “Công tác phối hợp trong thi hành án dân sự và những bài học kinh nghiệm”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 9/2017, tr.12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phối hợp trong thi hành án dân sự và những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Lê Doãn Lâm
Năm: 2017
16. Hoàng Thế Liên, Nguyễn Thanh Thúy (2001), “Những vướng mắc trong cơ chế phối hợp thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2001, tr.11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc trong cơ chế phối hợp thi hành án dân sự
Tác giả: Hoàng Thế Liên, Nguyễn Thanh Thúy
Năm: 2001
17. Đỗ Thị Lý (2010), “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình”, Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình
Tác giả: Đỗ Thị Lý
Năm: 2010
18. Cao Thị Luyến, (2018), “Trách nhiệm phối hợp trong việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm phối hợp trong việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự”
Tác giả: Cao Thị Luyến
Năm: 2018
19. Phạm Ngọc Nghinh (2008), “Cơ chế phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 9/2008, tr.10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự
Tác giả: Phạm Ngọc Nghinh
Năm: 2008
20. Trần Mạnh Quân (2013), “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Trần Mạnh Quân
Năm: 2013
21. Lê Hồng Suy (2013), Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
Tác giả: Lê Hồng Suy
Năm: 2013
22. Nguyễn Bích Thảo, Nguyễn Thị Hương Giang (2018) “Hoàn thiện cơ chế xác minh điều kiện thi hành án dân sự ở Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 34, Số 1, tr.1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế xác minh điều kiện thi hành án dân sự ở Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm