Hai là, theo Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 quy định thời điểm xác lập quyền sở hữu, cụ thể: Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
PHẠM THỊ THẢO XUYÊN
XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
PHẠM THỊ THẢO XUYÊN
XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HẢI AN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản” là kết quả của quá trình tổng hợp và nghiên cứu
nghiêm túc của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hải An Các bản án, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thảo Xuyên
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4 Luật Kinh doanh bất động sản LKDBĐS
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Kết quả của luận văn 5
8 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN 6
1.1 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu 8
1.1.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu 8
1.1.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu 9
1.1.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu 11
1.2 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 12
1.2.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 12 1.2.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 17
Trang 61.2.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 19
1.3 Các căn cứ xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 20
1.3.1 Căn cứ theo quy định pháp luật 20
1.3.2 Căn cứ theo thỏa thuận 21
1.3.3 Căn cứ theo thời hiệu 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN 28
2.1 Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu 29
2.2 Đối với động sản phải đăng ký quyền sở hữu 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3 THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN 53
3.1 Đối với bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu 53
3.2 Đối với bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển, xu hướng chung của các nước là toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều các hiệp định quốc tế được ký kết, một số hiệp định mà Việt Nam cũng là thành viên như là WTO, CPTPP, EVFTA,…qua đó có thể thấy thị trường ngày càng
mở cửa, khuyến khích hợp tác cùng phát triển cả trong và ngoài nước
Khi mối quan hệ về giao thương phát triển nhộn nhịp thì cùng lúc đó là sự ra đời của hợp đồng Hợp đồng được xem như một bằng chứng ghi nhận lại sự thỏa thuận của các bên trong một giao dịch Trong đó, hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng thông dụng nhất, phổ biến nhất và có số lượng giao dịch nhiều nhất khi các chủ thể tham gia vào thị trường Khi nhắc đến hợp đồng mua bán tài sản chúng ta thường quan tâm đến các vấn đề như: đối tượng của hợp đồng, giá cả và phương thức thanh toán, thời gian thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ của các bên, địa điểm giao tài sản, phương thức giao tài sản, tuy nhiên, mọi người lại ít đề cập đến vấn đề chuyển quyền sở hữu cũng như xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
là việc xác định thời điểm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của một bên và xác lập quyền sở hữu tài sản của bên còn lại trong quan hệ hợp đồng để từ đó xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên và cũng là cơ sở cho vấn đề chuyển rủi ro trong quan hệ hợp đồng Từ đó có thể thấy, khi không xác định rõ ràng thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ dễ dàng xảy ra nhiều hệ lụy khác nhau và tranh chấp phát sinh là điều không thể tránh khỏi
Vì vậy, để hạn chế những rủi ro và tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán tài sản thì các bên cần nắm rõ quy định pháp luật cùng với đó là việc phải quy định cụ thể, chi tiết về các điều khoản trong hợp
Trang 8đồng mua bán tài sản, nhất là việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Việc nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện những luận cứ, cơ sở khoa học
về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, là nhu cầu cấp thiết đối với công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta Từ đó đề xuất những giải pháp thích hợp cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản nói chung và việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản nói riêng Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản có một số sách tham khảo, luận văn, những công trình khoa học như là:
Quá trình tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả nhận thấy liên quan đến đề tài đã có một số công trình nghiên cứu khoa học đã được công
bố, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành luật nghiên cứu về đề tài như sau:
Dưới hình thức luận án, luận văn có những công trình:
- Lê Thị Ngọc Vân (2014), “Pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu”, Luận văn thạc sĩ – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đề cập
đến việc xác lập quyền sở hữu tài sản của chủ thể theo thời hiệu, chỉ ra thực trạng trong việc xác lập quyền sở hữu và đưa ra những giải pháp, khuyến nghị cho vấn đề này;
- Nguyễn Thị Kim Thoa (2018), “Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ – Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đi sâu nghiên cứu và phân tích căn cứ
Trang 9xác lập quyền sở hữu đối với đối tượng chính là tài sản không xác định được chủ sở hữu, tác giả không phân chia tài sản là động sản và bất động sản mà phân tích dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự
Dưới hình thức giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận khoa học có những công trình:
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), “Giáo trình pháp luật
về tài sản, quyền sở hữu tài sản và thừa kế”, PGS.TS Lê Minh Hùng chủ biên, Nxb
Hồng Đức Giáo trình khái quát về tài sản, chiếm hữu, quyền sở hữu tài sản, các quyền khác đối với tài sản, bảo vệ quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản bằng Luật dân sự, các quy định về thừa kế Chương 2 của giáo trình quy định cụ thể, chi tiết về quyền sở hữu tài sản;
- PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015”, Nxb Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã nêu ra những
điểm mới trong BLDS năm 2015 với BLDS trước đó, đánh giá những tiến bộ của BLDS năm 2015;
- TS Nguyễn Ngọc Điện (2016), “Giáo trình Luật dân sự - Tập 1”, Nxb Chính
trị quốc gia Giáo trình có nội dung bao quát các quy định của BLDS Việt Nam Trong
đó, tại chương 2 chủ yếu phân tích các quy định về quyền sở hữu, quyền năng của quyền sở hữu và căn cứ xác lập quyền sở hữu, đồng thời đưa ra những đánh giá của tác giả đối với các quy định này;
- PGS.TS Nguyễn Văn Cừ, PGS.TS Trần Thị Huệ (2015), “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015”, Nxb Công an nhân dân Tác phẩm đã phân tích và
chỉ ra được điểm hạn chế trong quy định của luật dân sự đối với quyền sở hữu đối với tài sản
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành luật có các bài viết có nội dung liên
quan đến đề tài như: PGS.TS Đỗ Văn Đại (2019), “Thời điểm chuyển quyền sở hữu bất động sản ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2019
Trang 10Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu trên đều chưa tập trung nghiên cứu, đánh giá thực tiễn về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản, cũng như chưa đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc ký kết cũng như thực hiện hợp đồng mua bán tài sản
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam; chỉ ra những điểm hợp lý, tiến bộ cũng như những vấn đề còn tồn tại trong pháp luật hiện hành về vấn đề này để từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật theo hướng phù hợp với thực tiễn áp dụng
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lý luận khoa học và thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
5 Phạm vi nghiên cứu
Vì phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn khá rộng nên ngoài việc nghiên cứu
lý luận và luật thực định thì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số loại tài sản phổ biến và thông dụng, thường xuyên xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu, từ đó đưa ra các kiến nghị chứ không nghiên cứu tất cả các loại tài sản hoặc những tất cả quy định của pháp luật liên quan đến tài sản
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng kết hợp một
số phương pháp nghiên cứu khoa học như:
Trang 11Phương pháp phân tích: Nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền sở hữu và xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản, phân tích những bất cập để đưa ra hướng hoàn thiện
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp những quy định, kết quả phân tích từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Ngoài ra, luận văn cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Quy nạp, diễn dịch, thống kê, so sánh, đối chiếu thực tiễn để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu theo yêu cầu của luận văn
7 Kết quả của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản; Luận văn góp phần đánh giá tình hình thực thi pháp luật tại Việt Nam; Luận văn đưa ra những đề xuất và luận giải một số quan điểm, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và thực thi pháp luật về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Quá trình tồn tại của xã hội loài người luôn gắn liền với sự phân hóa tài sản trong việc chiếm giữ những của cải vật chất Cùng với đó là sự phân chia giai cấp, những người có quyền thế trong xã hội thấy rằng chỉ điều hành xã hội bằng phong tục tập quán sẽ không có lợi cho mình nên cần phải có một bộ máy quản lý với pháp luật là công cụ để bảo vệ sự chiếm hữu của cải vật chất cho mình và cho giai cấp mình Mối quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu của cải vật chất
đó làm phát sinh các quan hệ sở hữu Các quan hệ sở hữu này tồn tại một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội Khi Nhà nước và pháp luật ra đời, địa vị của giai cấp thống trị trong việc phân phối của cải vật chất trong xã hội được ghi nhận bằng những quyền năng hạn chế mà Nhà nước trao cho người đang chiếm giữ của cải vật chất đó1 Lúc này, các quan hệ sở hữu đã được điều chỉnh bằng pháp luật và hình thành nên quyền sở hữu của các chủ thể có tài sản
Theo Từ điển luật học, quyền sở hữu2 được định nghĩa như sau:
- Phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định
- Tổng hợp các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu tồn tại trong xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định (theo nghĩa khác quan)
- Các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu bao gồm những nhóm quy phạm về: Các hình thức sở hữu; căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền
sở hữu; cách thức, biện pháp dịch chuyển quyền sở hữu ở các hình thức sở hữu khác nhau; bảo vệ quyền sở hữu
1 TS Nguyễn Ngọc Điện (2016), “Giáo trình Luật dân sự - Tập 1”, Nxb Chính trị quốc gia, tr.109
Trang 13- Quyền của chủ thể đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (theo nghĩa chủ quan) bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật
Quyền sở hữu là chế định pháp luật dân sự, là quan hệ pháp luật dân sự, trong
đó các yếu tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, nội dung
BLDS năm 2015 quy định về quyền sở hữu tại Điều 158 như sau “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật” Theo quy định này, quyền sở hữu bao hàm các quyền
năng khác Khi một chủ thể có quyền sở hữu đối với một tài sản thì đồng nghĩa với việc sẽ có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản đó
Cùng với việc xác lập quyền sở hữu của chủ thể đối với tài sản thì các giao dịch dân sự sẽ được hình thành thông qua việc các chủ thể thực hiện các quyền năng của mình Chủ thể có quyền định đoạt tài sản của mình bằng việc mua bán hoặc tặng cho chúng Ví dụ như, ông A quyết định bán chiếc đồng hồ của mình cho ông B với trị giá 10 triệu đồng thì giao dịch giữa ông A và ông B đã hình thành một hợp đồng mua bán tài sản, và quyền sở hữu chiếc đồng hồ sẽ được chuyển từ ông A sang ông
B, tuy nhiên để đảm bảo hợp đồng này được thực hiện đúng quy định ta phải xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên, xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, xác định các thỏa thuận về giao hàng, nhận hàng và thanh toán3, đồng thời phải xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản Xác định thời điểm chuyển quyền
sở hữu là một nội dung quan trọng trong một giao dịch dân sự Do đó, để hiểu rõ hơn
về vấn đề này ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
3 Từ Điều 430 đến Điều 446 BLDS năm 2015: Quy định về hợp đồng mua bán tài sản
Trang 141.1 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu
1.1.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu
Chuyển quyền sở hữu là một sự kiện pháp lý quan trọng, và là mục đích cuối cùng của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu cũng là vấn đề pháp lý phức tạp vì liên quan đến nhiều yếu tố khác như thời điểm xác lập quyền sở hữu, thời điểm chấm dứt quyền sở hữu và trong nhiều trường hợp khác nhau với đối tượng khác nhau, chủ thể khác nhau thì thời điểm chuyển quyền sở hữu trong một giao dịch dân sự cũng khác nhau
BLDS năm 2005, tại Điều 168 quy định“Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản” đến BLDS năm 2015 tại Điều 161 quy định“Thời điểm xác lập quyền sở hữu” Có thể nhận thấy sự thay đổi trong quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam qua
các giai đoạn Một số chuyên gia đồng ý với sự thay đổi này, họ cho rằng về học thuật, khái niệm chuyển quyền sở hữu và xác lập quyền sở hữu là hai khái niệm có nội hàm khác nhau Thứ nhất, khái niệm “chuyển dịch” theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002 là “thay đổi hay làm thay đổi vị trí trong khoảng ngắn thể hiện trạng thái động của hiện tượng, sự vật, thể hiện sự biến đổi về chất hoặc
về lượng của sự vật, hiện tượng đó trong một khoảng thời gian rất ngắn mà không thể tính toán được bằng một đơn vị thời gian theo quy định” Còn khái niệm “xác lập” là lập nên trên cơ sở vững chắc, xác lập một quyền trên tài sản là sự phát sinh quyền của một chủ thể được pháp luật bảo hộ thể hiện trạng thái tĩnh Bởi vậy, dùng cụm từ
“thời điểm xác lập quyền sở hữu” vừa chính xác về mặt khoa học, vừa chính xác về ngôn ngữ4
4 Trần Thị Huệ (2016), “Những điểm nổi bậc về quyền sở hữu và những quyền khác trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại (https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/NHUNG-DIEM-MOI-
2015-6150/)
Trang 15NOI-BAT-VE-QUYEN-SO HUU-VA-NHUNG-QUYEN-KHAC-TRONG-BO-LUAT-DAN-SU-NAM-Mặt khác, không phải mọi trường hợp quyền sở hữu đối với tài sản đều được xác lập thông qua việc chuyển quyền sở hữu Trên thực tế có rất nhiều trường hợp một người được xác lập sở hữu không phải thông qua việc chuyển giao từ người khác như: Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ
sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, gia súc, gia cầm thất lạc…Do đó, khi sử dụng thuật ngữ “xác lập quyền sở hữu” sẽ hợp lý hơn vì nó bao gồm cả việc chuyển giao tài sản của các chủ thể và những trường hợp khác Có thể nói khái niệm xác lập quyền
sở hữu theo BLDS năm 2015 quy định rộng hơn, bao hàm nhiều trường hợp hơn so với khái niệm chuyển quyền sở hữu tại BLDS năm 2005
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cũng như sự thay đổi về quyền của các chủ thể khi thực hiện các giao dịch dân sự thì thời điểm chuyển quyền sở hữu được hiểu là thời điểm chấm dứt quyền sở hữu của một bên chủ thể và là thời điểm xác lập quyền
sở hữu của bên chủ thể khác khi tài sản được chuyển giao trong một giao dịch dân
sự
Theo quy định tại Điều 238 BLDS năm 2015: “Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể
từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao” Như vậy, thời
điểm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của chủ thể là từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao Đồng thời, theo quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu tại Điều 161 BLDS năm 2015 thì thời điểm xác lập quyền sở hữu của chủ thể được chuyển giao tài sản
Từ những phân tích trên, ta có thể xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm xác lập quyền sở hữu của chủ thể được chuyển giao
1.1.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu
Thời điểm chuyển quyền sở hữu có các đặc điểm sau:
Trang 16Một là, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tạo ra hai quyền đối lập của các chủ thể, nếu một bên xác lập quyền sở hữu thì bên còn lại sẽ chấm dứt quyền
sở hữu Ví dụ như, ông A bán cho ông B một chiếc xe đạp trị giá 1 triệu đồng và hai bên thỏa thuận thời điểm ông A giao xe đạp cho ông B, ông B thanh toán tiền cho ông A là ngày 01/6/2020 Vậy vào thời điểm này khi hai bên đã hoàn thành nghĩa vụ của mình tức là khi ông A đã giao xe và ông B đã thanh toán tiền thì ông B là chủ thể xác lập quyền sở hữu đối với chiếc xe đạp, cùng lúc đó ông A là chủ thể chấm dứt quyền sở hữu với chiếc xe đạp
Hai là, theo Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 quy định thời điểm xác lập quyền sở hữu, cụ thể: Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luật không
có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản
Như vậy, thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác định theo thứ tự sau:
- Xác định theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
- Trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên;
- Trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì là thời điểm tài sản được chuyển giao
BLDS năm 2015 ưu tiên áp dụng theo các quy định của pháp luật, nếu không
có luật quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu thì sẽ áp dụng theo thỏa thuận của các bên Các trường hợp còn lại xác định chủ yếu dựa vào thời điểm nắm giữ, chi phối tài sản của chủ thể Việc công nhận sự thỏa thuận của các bên về thời điểm xác lập quyền sở hữu đã mở rộng thêm quyền cho các bên trong các giao dịch chuyển
Trang 17giao quyền sở hữu, tạo điều kiện cho các bên tự do thống nhất với nhau về thời điểm
cụ thể trong việc chuyển giao quyền sở hữu
Ví dụ như: ông A tặng cho con trai của mình là B một chiếc xe đạp (xe đạp là động sản không phải đăng ký) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm tài sản
được chuyển giao Vì theo Khoản 1 Điều 458 BLDS năm 2015 “Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác” và Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 “…Trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu
là thời điểm tài sản được chuyển giao…” Đối tượng được tặng cho trong trường hợp
này là động sản không phải đăng ký, 2 bên chủ thể cũng không thỏa thuận thời điểm chuyển quyền sở hữu, do đó căn cứ vào những quy định trên ta có thể xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu chiếc xe đạp từ ông A cho B là thời điểm B nhận được chiếc xe đạp, tức là B trực tiếp chiếm hữu chiếc xe đạp này
Pháp luật đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản trong việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu, tạo điều kiện cho các chủ thể xác lập quyền sở hữu cũng như chấm dứt quyền sở hữu của mình một cách hợp lý và hợp pháp
1.1.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu
Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng, nó là ảnh hưởng rất nhiều đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan (người nhận chuyển quyền sở hữu và người chuyển quyền sở hữu), cụ thể như sau:
Một là, kể từ thời điểm quyền sở hữu được chuyển giao thì người được xác định là chủ sở hữu tài sản có mọi quyền năng đối với tài sản đó (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) Đồng thời, chủ sở hữu còn phải gánh chịu mọi trách nhiệm phát sinh từ việc quản lý, sử dụng tài sản đó, nếu có thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu phải bồi thường do tài sản của mình gây ra
Hai là, một trong những ý nghĩa quan trọng của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là để xác định ai là người chịu rủi ro về tài sản (như do thiên tai làm tài sản bị hủy hoại), chịu trách nhiệm về tài sản (như nhà đổ làm hỏng tài sản của người
Trang 18khác) Theo quy định tại Điều 162 BLDS năm 2015 thì: “Chủ sở hữu phải chịu rủi
ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác liên quan có quy định khác” Các Điều 603, 604, 605 BLDS năm 2015
cũng quy định chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do gia súc, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu của mình gây ra cho người khác
Ba là, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu cũng là căn cứ xác định
sự dịch chuyển của tài sản, sẽ làm tăng tổng giá trị tài sản của bên chủ thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản và sẽ làm giảm tổng giá trị tài sản của bên chủ thể chấm dứt quyền sở hữu tài sản trong một giao dịch dân sự
1.2 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
1.2.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Theo định nghĩa của Từ điển luật học thì hợp đồng mua bán tài sản5 là một loại hợp đồng dân sự thông thường, theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán
Đối tượng của hợp đồng mua bán có thể là vật và quyền tài sản Vật và quyền tài sản phải có thực và được phép giao dịch Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì phải được xác định bằng giá trị sử dụng, chủng loại, số lượng
và chất lượng Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên bán Chất lượng mua bán của vật do các bên thỏa thuận, nếu đã được đăng ký cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo các tiêu chuẩn đã được đăng ký hoặc theo quy định, khi không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại Giá cả, phương thức
5 Viện Khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb Từ điển bách khoa, tr.395
Trang 19thanh toán, thời gian thực hiện hợp đồng do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Giá cả cũng có thể do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên Các bên có thể áp dụng hệ số trượt giá khi có biến động về giá Bên bán có thể giao tài sản trước thời hạn nếu được bên mua đồng ý
Gần giống với định nghĩa của Từ điển luật học, Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định hợp đồng mua bán tài sản6 là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản
và trả tiền cho bên bán
Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng song vụ và là hợp đồng mang tính chất đền bù, mỗi bên trong hợp đồng mua bán tài sản đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Bên bán có nghĩa
vụ chuyển giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản
và trả tiền cho bên bán Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản
đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh chấp Đối với hợp đồng mua bán tài sản ngoài việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên thì việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu khi các bên thực hiện hợp đồng là điều vô cùng quan trọng
Quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tại một
số quốc gia cũng có nhiều điểm khác nhau như là:
BLDS Campuchia7 quy định tại Khoản 1 Điều 528 “Việc chuyển giao quyền
sở hữu của đối tượng trong hợp đồng mua bán sẽ căn cứ vào các nguyên tắc chung quy định tại Điều 133 (Thay đổi quyền về tài sản do thỏa thuận), Điều 134 (Điều kiện phản đối thay đổi quyền về tài sản), Điều 135 (Điều kiện hiệu lực trong việc chuyển giao quyền sở hữu bất động sản bằng thỏa thuận), Điều 160 (Xác lập quyền sở hữu bất động sản) và Điều 187 (Xác lập quyền sở hữu động sản)
6 Điều 430 BLDS năm 2015
7 Tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo BLDS, Bộ Tư pháp, tr.81
Trang 20Pháp luật Campuchia quy định việc chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán sẽ được xác định theo từng trường hợp cụ thể, từng loại tài sản khác nhau, đồng thời đảm bảo những nguyên tắc chung về quyền sở hữu Như vậy, căn cứ để xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản của sẽ được xác định theo từng trường hợp cụ thể
Quy định tại Điều 133 Luật HĐ Trung Quốc8 quy định “Quyền sở hữu đối tượng mua bán được chuyển vào thời điểm giao vật, trừ khi pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác” Pháp luật về hợp đồng của Trung Quốc thì
có quy định cụ thể về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán
là thời điểm giao vật, tuy nhiên trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên
có thỏa thuận khác (không vi phạm pháp luật) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu sẽ được xác định theo các quy định và thỏa thuận đó Có thể thấy, pháp luật về hợp đồng của Trung Quốc quy định khá rõ ràng về thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán
Pháp luật dân sự Nhật Bản quy định cụ thể từng trường hợp đối với việc xác lập quyền sở hữu9, và được xác định với hai đối tượng chính là động sản và bất động sản Đối với các quy định liên quan đến hợp đồng mua bán BLDS Nhật Bản tại Điều
555 BLDS Nhật Bản quy định “Việc mua bán sẽ có hiệu lực, khi một bên đồng ý chuyển giao quyền sở hữu cho bên kia và bên kia đồng ý thanh toán cho bên bán”
Như vậy, BLDS Nhật Bản chỉ quy định phải có sự chuyển giao quyền sở hữu của một bên chủ thể và đồng ý thanh toán của chủ thể còn lại, mà không đề cập đến việc
8 Tài liệu Ban Soạn thảo Luật Thương mại (sửa đổi), Bộ Thương mại, tr.23-24 (https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/wp-content/uploads/2018/04/V-Luat-hop-dong-Trung-Quoc_Ban- dich-TV-10.6.04-1.pdf)
9 Điều 239 đến Điều 248 BLDS Nhật Bản, Tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo BLDS, Bộ Tư pháp, tr.44-45
Trang 21chuyển quyền sở hữu như thế nào và thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác định như thế nào
Sự khác nhau trong quy định của các quốc gia về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là điều dễ hiểu vì nó chịu sự ảnh hưởng khác nhau về văn hóa,
xã hội, phong tục tập quán, đặc biệt là việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán còn phải nhằm mục đích phù hợp với từng tính chất, đặc điểm hoạt động kinh doanh của quốc gia đó Nhưng nhìn chung, sẽ được phân chia thành hai xu hướng đó là một số quốc gia sẽ không quy định cụ thể việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán mà dựa vào từng đối tượng tài sản cụ thể sẽ quy định thời điểm thông qua pháp luật chuyên ngành, số khác sẽ quy định trực tiếp thời điểm chuyển quyền sở hữu tại Bộ luật Dân sự Đối với Việt Nam, quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán thì có sự thay đổi qua các thời kỳ
BLDS năm 2005 quy định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu được quy định tại Điều 439 như sau:
“1 Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
2 Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng
ký quyền sở hữu đối với tài sản đó
3 Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.”
Việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản là mốc để xác định chủ sở hữu có quyền được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Ngoài ra, việc xác định về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu còn là căn cứ để xác định quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chuyển nhượng trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán tài sản Theo quy định tại Điều 439 Bộ luật
Trang 22Dân sự 2005 thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản được xác định như sau:
- Tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu: Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm chuyển giao tài sản nếu các bên không có thỏa thuận khác Điều đó
có nghĩa là các bên khi thực hiện hợp đồng mua bán tài sản có quyền được thỏa thuận
về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu
- Tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu Như vậy, với trường hợp này, các bên không được quyền thỏa thuận
về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu
Như vậy, trong hợp đồng mua bán tài sản phải thể hiện rõ đối tượng của hợp đồng là tài sản đủ điều kiện đưa vào giao dịch và thông tin về hiện trạng của tài sản khi đem vào giao dịch
Đến BLDS năm 2015 thì việc xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng được quy
định: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó” 10 Tuy nhiên, đối với hợp đồng mua bán tài sản thì BLDS
năm 2015 lại không quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu11, mà việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ được căn cứ theo quy định của pháp luật chuyên ngành Ví dụ như:
- Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, Luật Thương mại 2005 quy định “Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở
10 Điều 223 BLDS năm 2015
11 Điều 430 đến Điều 454 BLDS năm 2015 Quy định các điều khoản về hợp đồng mua bán tài sản
Trang 23hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao” 12
- Đối với hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, Luật Đất đai 2013 quy định “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ, góp vốn bằng QSDĐ phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính” 13
Có thể thấy, BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 có những quy định mở hơn về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản Dựa vào đặc điểm của từng loại tài sản cụ thể luật chuyên ngành sẽ có những quy định phù hợp với tính chất, điều kiện phát triển của tài sản đó Để xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản ngoài việc căn cứ vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, quy định pháp luật dân sự, ta còn phải căn cứ vào quy định của pháp luật chuyên ngành phù hợp với từng đối tượng được giao dịch trong hợp đồng mua bán tài sản
Như vậy, thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản được xác định kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (như là các tài sản được quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển giao kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó)
1.2.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Ngoài những đặc điểm cơ bản của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu thì việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
có các đặc điểm sau:
12 Điều 62 LTM năm 2005
13 Điều 188 LĐĐ năm 2013
Trang 24Một là, cũng giống với các loại hợp đồng khác, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản được áp dụng theo nguyên tắc: ưu tiên
áp dụng theo các quy định của luật chuyên ngành, nếu không có luật quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu thì sẽ áp dụng theo thỏa thuận của các bên Các trường hợp còn lại xác định vào thời điểm tài sản được chuyển giao
Căn cứ vào thời điểm tài sản được chuyển giao để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là giải pháp cuối cùng mà pháp luật đưa ra Có thể thấy việc tuân thủ quy định của pháp luật chuyên ngành và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch là đang là định hướng điều chỉnh của pháp luật hiện hành
Hai là, hợp đồng mua bán tài sản là một khái niệm rộng và bao hàm nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng, do đó việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hợp đồng này cũng được phân chia thành nhiều quy định khác nhau BLDS năm 2015 phân chia tài sản bao gồm hai loại cơ bản là động sản và bất động sản14
Tại Điều 106 Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể điều kiện có quyền sở hữu đối với bất động sản và động sản như sau:
“1 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản
2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác
3 Việc đăng ký tài sản phải được công khai.”
Từ các quy định trên có thể phân chia tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản thành các nhóm tài sản sau:
- Động sản: Động sản phải đăng ký và động sản không phải đăng ký
14 Khoản 2 Điều 105 BLDS năm 2015 “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Trang 25- Bất động sản: Bất động sản phải đăng ký và bất động sản không phải đăng
ký
Đối với từng loại tại sản khác nhau sẽ có quy định khác nhau trong việc thực hiện hợp đồng, như: khác nhau về hình thức hợp đồng, nghĩa thanh toán của bên mua, nghĩa vụ giao hàng của bên bán, thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền
sở hữu Do đó, để xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản phải xác định được loại tài sản giao dịch trong hợp đồng là động sản hay bất động sản
1.2.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa sau:
Một là, hợp đồng mua bán là phương tiện pháp lý tạo điều kiện cho công dân,
tổ chức trao đổi hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế nhiều thành phần, quan hệ mua bán phản ánh mối quan hệ kinh tế
về trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Từ đó tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân
Hai là, hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ bên bán sang bên mua nên việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán hàng hóa là vô cùng quan trọng, đảm bảo mục đích của hợp đồng được thực hiện và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được xác định một cách cụ thể, rõ ràng
Ba là, cũng giống như trong bất kỳ loại giao dịch dân sự hay loại hợp đồng nào khác, thì xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là một trong những điều kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của chủ sở hữu đối với tài sản, và là một trong những căn cứ để xác định thời điểm chuyển rủi ro
Trang 261.3 Các căn cứ xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản
1.3.1 Căn cứ theo quy định pháp luật
Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 đã quy định căn cứ để xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu là theo quy định của BLDS và các luật khác có liên quan Như vậy, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trước tiên phải tuân theo quy định của pháp luật, ngoài các quy định chung tại BLDS thì tùy vào từng đối tượng
cụ thể mà ta phải căn cứ quy định của pháp luật chuyên ngành như Luật Thương mại, Luật Đất đai, Luật Nhà ở,…
Ví dụ như Điều 12 Luật Nhà ở 2014 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở, có nội dung như sau:
“1 Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là
kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và
đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
…
3 Trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở với người mua thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua nhận bàn giao nhà ở hoặc kể từ thời điểm bên mua thanh toán đủ tiền mua nhà ở cho chủ đầu
tư Đối với nhà ở thương mại mua của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.”
Như vậy Luật Nhà ở quy định rõ thời điểm chuyển quyền sở hữu:
- Trường hợp mua bán nhà ở thông thường thì thời điểm chuyển quyền sở hữu
là ở thời điểm đã thanh toán đủ tiền mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Trang 27- Trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở với người mua thì thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm nhận bàn giao nhà hoặc thời điểm bên mua thanh toán đủ tiền mua nhà
- Trường hợp bên bán là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu được thực hiện theo pháp luật về kinh doanh bất động sản
Trong nhiều trường hợp, đối với các giao dịch dân sự hay hợp đồng thì sự tự
do thỏa thuận giữa các bên chủ thể sẽ được tôn trọng và ưu tiên áp dụng Tuy nhiên,
sở hữu và quyền sở hữu là một vấn đề quan trọng do đó sự điều chỉnh của pháp luật trong vấn đề này được đặt lên hàng đầu, nhằm tạo ra sự đảm bảo tốt nhất cho các chủ thể về quyền của mình cũng như hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình chuyển giao quyền sở hữu
Pháp luật quy định cụ thể thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản (cụ thể cho từng loại tài sản), cũng như việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu phải do pháp luật điều chỉnh đầu tiền mà không phải là tôn trọng hoàn toàn các thỏa thuận của chủ thể khi thực hiện hợp đồng là điều vô cùng hợp lý Vì chế định về sở hữu vô cùng quan trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến quyền và lợi ích các bên trong hợp đồng, nếu không xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu một cách rõ ràng vấn đề pháp lý liên quan khác có thể xảy ra Pháp luật dự liệu được các trường hợp có thể xảy ra trong các giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng mua bán tài sản nói riêng, từ đó đưa ra các quy định về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu vừa thể hiện sự tôn trọng sự tự do thỏa thuận của các bên nhưng cũng không quên đưa ra những quy định nền khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận đó
có điều bất cập (như quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014)
1.3.2 Căn cứ theo thỏa thuận
Hợp đồng là một sự kiện pháp lý trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên làm phát sinh sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Mặt khác, hợp đồng phải đảm bảo không trái với các quy định của pháp luật Các hợp đồng mua bán, tặng cho, cho vay, nếu được xác lập phù hợp với quy định của Bộ
Trang 28luật Dân sự thì những người được chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản đó Những tài sản theo quy định của pháp luật phải đăng ký, sang tên, xin phép thì quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm hoàn tất các thủ tục đó
Đối với các loại hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán tài sản nói riêng nếu được xác lập phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, thì người được chuyển giao tài sản thông qua các hợp đồng này có quyền sở hữu đối với tài sản đó và pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về thỏa thuận thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản Ví dụ như A ký với B một hợp đồng mua bán gạo, B có nghĩa vụ giao cho A 100 tấn gạo vào ngày 01/11/2020, địa điểm nhận hàng là tại nhà của B và A sẽ thanh toán tiền cho B trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được 100 tấn gạo, đồng thời trong hợp đồng có thỏa thuận cụ thể thời điểm chuyển quyền sở hữu 100 tấn gạo từ bên B sang bên A là thời điểm A nhận được 100 tấn gạo Như vậy, căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng thì xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong trường hợp này là khi bên mua nhận được hàng15
Tuy nhiên, trên thực tế việc thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng không phải lúc nào cũng tuân thủ các quy định của pháp luật vì nhiều lý do như: kiến thức pháp luật của các chủ thể còn kém, hay cố tình vi phạm pháp luật vì mục đích trục lợi
từ thỏa thuận đó,… Và hệ quả của những thỏa thuận vi phạm pháp luật đó đôi khi tạo thành những ngoại lệ trong hệ thống pháp lý nước ta
Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03/3/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định
15 Điều 62 LTM năm 2005
Trang 29bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất Như vậy, căn cứ vào dữ kiện thực tế đã xảy ra, Tòa án công nhận thỏa thuận của các bên trong hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, dù rằng
sự thỏa thuận của các bên tại thời điểm đó là chưa đúng với quy định của pháp luật
về chủ thể có quyền định đoạt tài sản Vì tính chất đặc thù của vụ án, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua ngày 06/4/2016 quyết định đưa vụ án này thành Án lệ số 04/2016/AL16 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Tuy các thỏa thuận vi phạm pháp luật có thể tạo ra các ngoại lệ nhưng đây vẫn
là những thỏa thuận mà pháp luật cấm, do đó để đảm bảo tối đa lợi ích các bên chủ thể trong hợp đồng mua bán tài sản có thể nhận được thì vẫn phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật
Chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hay xác định thời điểm chuyển quyền
sở hữu theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản là một điều khoản linh động của pháp luật nước ta Được quyền thỏa thuận làm giảm bớt sự cứng nhắc trong các quy định của pháp luật, cũng như thể hiện được sự tôn trọng tự do ý chí của các bên trong việc thực hiện các giao dịch mua bán tài sản
1.3.3 Căn cứ theo thời hiệu
Ngoài việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật thì việc căn cứ vào thời hiệu để xác định cũng là một phạm trù mà ta cần phải quan tâm Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc
16 Án lệ số 04/2016/AL về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ” (https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/an-le/13196/an-le-so-04-2016-al-ve-vu-an-tranh-chap-hop-dong- chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat)
Trang 30thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định17 Thời hiệu là căn cứ xác lập quyền sở hữu, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người chiếm hữu ngay tình, mặt khác trong các giao dịch dân sự có đối tượng giao dịch là tài sản thì tùy vào tính chất, đặc điểm của tài sản mà pháp luật quy định thời hạn phù hợp để xác lập quyền dân sự Đối với chủ thể chiếm hữu tài sản của người khác có căn cứ do pháp luật quy định thì sau một thời gian nhất định mặc nhiên được xác lập quyền sở hữu, đối với hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cần phải có điều kiện như chiếm hữu liên tục, công khai trong một thời hạn được quy định, hết thời hạn này người chiếm hữu ngay tình được quyền xác lập quyền sở hữu
Đối với việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản (hay xác lập quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản) theo thời hiệu, ta
có trường hợp hợp đồng mua bán tài sản đối với người chưa thành niên pháp luật quy định18:
“1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi
2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện
3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”
17 Điều 149 BLDS năm 2015
18 Điều 21 BLDS năm 2015
Trang 31Như vậy, đối với các giao dịch của người chưa thành niên ít nhiều phụ thuộc vào người đại diện theo pháp luật, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến bất động sản pháp luật quy định phải do người đại diện theo pháp luật xác lập (đối với trường hợp dưới 6 tuổi) hay phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (đối với người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi) Các giao dịch của người chưa thành niên không tuân theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 sẽ bị vô hiệu19, tuy nhiên trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015:
“Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi
đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
Khi người thành niên thừa nhận hiệu lực của giao dịch dân sự đã được xác lập khi người đó chưa thành niên thì giao dịch dân sự đó vẫn có hiệu lực Ví dụ như: Năm
2017, A (16 tuổi) ký hợp đồng bán căn nhà là tài sản riêng của A, trị giá 1 tỷ đồng cho B nhưng không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của A là ông C Hợp đồng được thực hiện theo đúng thỏa thuận của A và B cũng như tuân thủ đúng
19 Khoản 1 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp giao dịch vô hiệu “Khi giao dịch dân
sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”
Trang 32các quy định về mua bán nhà ở của pháp luật Đến tháng 1/2020, ông C phát hiện căn nhà đã được bán khi A chưa thành niên nên ông C yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng của A và B vô hiệu Đến 1/2020, A đã thành niên (trên 18 tuổi) và A thừa nhận đã xác lập giao dịch mua bán nhà với B một cách tự do, tự nguyện Như vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015 thì giao dịch giữa A và B không bị vô hiệu
Từ trường hợp trên có thể thấy, một số giao dịch dân sự được xác lập bởi người chưa thành niên không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật vẫn có hiệu lực khi hết thời hiệu (khi người thành niên đã trưởng thành), và thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trong trường hợp này được xác định tại thời điểm là người chưa thành niên
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quyền sở hữu là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
là hành lang pháp lý điều chỉnh đối tượng là tài sản Việc xác định quyền sở hữu nói chung và thời điểm chuyển quyền sở hữu nói riêng là điều cần thiết để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ sau đó được thực hiện đúng và đầy đủ trong các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong các hợp đồng mua bán tài sản
Trong luận văn này, nội dung Chương 1 đề cập đến những vấn đề cơ bản mang tính khái quát như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về thời điểm chuyển quyền sở hữu, xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản Đây là những lý luận chung, là nền tảng ban đầu để làm tiền đề cho việc nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật và thực trạng cũng như các vướng mắc cần có biện pháp khắc phục trong thực tế về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản ở các chương tiếp theo của luận văn
Trang 34CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN
Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội Căn cứ vào các điều kiện khác nhau tài sản được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau và một trong những cách phân loại phổ biến, dễ áp dụng nhất đó là phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được: Tài sản bao gồm động sản và bất động sản Động sản và bất động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
Điều 107 BLDS năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:
“1 Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”
Dựa vào sự phân loại tài sản này, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản cũng được chia thành hai đối tượng đó là động sản và bất động sản Trong đó, động sản rất đa dạng và phong phú, vì vậy tùy vào từng đặc điểm cụ thể của động sản mà sẽ có các quy định phù hợp để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu Để dễ dàng hơn trong việc xác định, ta sẽ chia động sản thành hai loại cơ bản để nghiên cứu và phân tích đó là: Động sản không phải đăng ký quyền sở hữu và động sản phải đăng ký quyền sở hữu
Trang 352.1 Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
Theo từ điển luật học20: “Động sản là tài sản có thể dịch chuyển hoặc di dời
từ nơi này sang nơi khác trong không gian nhất định mà vẫn giữ nguyên tính năng, công dụng”
Theo quy định của pháp luật thì động sản là những tài sản không phải bất động sản, BLDS đã liệt kê những loại tài sản được xem là bất động sản và dựa trên phương pháp loại trừ ta xác định được tài sản là động sản
Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất, giá trị tài sản cũng như cơ chế pháp lý điều chỉnh mà động sản được chia thành động sản phải đăng ký quyền sở hữu và động sản không phải đăng ký quyền sở hữu Trong đó, động sản không phải đăng ký quyền sở hữu là những động sản mà pháp luật không quy định chủ thể muốn xác lập quyền sở hữu phải thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là loại động sản mà pháp luật không muốn điều chỉnh quá nhiều về mặt pháp lý, các chủ thể sở hữu bất động sản không phải đăng ký sẽ là nhiều có toàn quyền quyết định về động sản này cũng như không chịu nhiều ràng buộc về mặt trình
tự, thủ tục khi thực hiện các giao dịch có liên quan với các chủ thể khác
Trong mối quan hệ mua bán giữa các cá nhân với cá nhân, tổ chức không phải thương nhân thì động sản hay động sản không phải đăng ký trong trường hợp này được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật dân sự Hợp đồng mua bán động sản không phải đăng ký của cá nhân với cá nhân, tổ chức là hợp đồng phổ biến, chủ yếu phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân như là mua lúa gạo, mua nhu yếu phẩm, mua thực phẩm,…Và trên thực tế, các hợp đồng này thường không được lập dưới hình thức văn bản, đây thường được xem là các giao dịch thông thường vì vậy không có quá nhiều các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như không có các thỏa thuận về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở
20 Viện Khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb Từ điển bách khoa, tr.271
Trang 36hữu tài sản, lúc này ta sẽ phải căn cứ vào quy định của pháp luật21 để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản: là thời điểm tài sản được chuyển giao
Trong mối quan hệ mua bán giữa các thương nhân thì động sản hay cụ thể là động sản không phải đăng ký được xem là một loại hàng hóa22 Khi các bên chủ thể
ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa là động sản không phải đăng ký thì ngoài sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, hợp đồng này còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật thương mại Trong LTM năm 2005 của Việt Nam, tại Chương II về mua bán hàng hóa23 quy định điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa, Điều 62 LTM năm 2005 quy định rõ thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm hàng hóa được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác Tương tự như quy định tại BLDS năm 2015, LTM năm 2005 cũng xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa (động sản không phải đăng ký) là thời điểm hàng hóa được chuyển giao
Khác với các giao dịch giữa cá nhân với cá nhân, khi tài sản được xem là hàng hóa trong các giao dịch thương mại và vì mục đích lợi nhuận thì các thỏa thuận liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ và quyền sở hữu là điều vô cùng quan trọng, nó được quy định trong hợp đồng một cách cụ thể và chi tiết Tuy nhiên, vì có liên quan đến lợi nhuận nên việc các chủ thể luôn có xu hướng mang phần lợi nhiều nhất về cho mình, do đó trong các điều khoản đã thỏa thuận tại hợp đồng cũng như trong quá trình thực hiện hợp đồng luôn tiềm ẩn các rủi ro cũng như việc xảy ra các tranh chấp Các tranh chấp liên quan đến giao dịch thương mại (hợp đồng mua bán hàng hóa) giữa các thương nhân thường xảy ra liên quan nhiều đến các vấn đề về thanh toán tiền hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa Tòa án có thẩm quyền sẽ căn cứ chủ yếu vào
21 Khoản 1 Điều 161, Điều 238 BLDS năm 2015
22 Khoản 2 Điều 3 LTM năm 2005
23 Từ Điều 24 đến Điều 73 LTM năm 2005
Trang 37pháp luật thương mại để giải quyết tranh chấp, ví dụ như, tại Bản án số 02/2020/KDTM-PT24 ngày 25/06/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có nội dung như sau: Doanh nghiệp tư nhân
NH ký hợp đồng mua bán các sản phẩm bi cầu cho Công ty cổ phần xây lắp, sản xuất
và kinh doanh vật liệu xây dựng TQ (Hợp đồng kinh tế số 18/HĐKT) Sau khi nhận
đủ số lượng hàng do NH giao, TQ phát hiện chất lượng các sản phẩm bi cầu này không đúng theo hợp đồng Công ty TQ đã nhiều lần yêu cầu NH tiến hành khắc phục tình trạng hàng hóa không đúng chất lượng nhưng không có kết quả, do đó công ty
TQ đã khởi kiện yêu cầu NH hoàn trả số tiền mà công ty TQ đã thanh toán theo hợp đồng kinh tế giữa hai bên vì lý do hàng hóa không đạt chất lượng Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm và phúc thẩm điều tuyên: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Buộc doanh nghiệp tư nhân NH phải trả cho công ty TQ số tiền là 468.018.680 đồng Như vậy, tranh chấp tại Bản án số 02/2020/KDTM-PT liên quan đến việc đảm bảo chất lượng hàng hóa được giao trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Ngoài các giao dịch thương mại nói trên, thì một trong các giao dịch thương mại được xem là vô cùng phức tạp đó chính là các giao dịch mua bán có liên quan đến yếu tố nước ngoài (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) Trong trường hợp, mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài hoặc có bên thứ ba làm trung gian thì ngoài các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các bên cần được lưu ý, còn có các vấn
đề về xác định quyền sở hữu hay xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu cần được xem như một điều khoản quan trọng và thỏa thuận trong hợp đồng vì đây là vấn đề rất dễ xảy ra các tranh chấp Khi bên mua và bên bán không trực tiếp thực hiện việc giao nhận hàng hóa mà thuê bên thứ ba thực hiện việc vận chuyển hàng hóa thì vấn
đề đặt ra là sẽ thời điểm chuyển giao hàng hóa là thời điểm nào? Là khi bên bán giao hàng cho bên vận chuyển hay khi bên mua nhận được hàng hóa để từ đó xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu (trong trường hợp các bên không thỏa thuận thời điểm
24 http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta524193t1cvn/chi-tiet-ban-an
Trang 38chuyển quyền sở hữu) Hay như trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa phải được vận chuyển từ Việt Nam sang nước khác hoặc ngược lại (xuất khẩu, nhập khẩu) thì vấn đề xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm nào đóng vai trò vô cùng quan trọng và không hề dễ dàng xác định vì hợp đồng còn chịu sự điều chỉnh của các công ước, điều ước quốc tế, pháp luật nước khác có liên quan ngoài các quy định của pháp luật Việt Nam Sự khác nhau về ngôn ngữ, về văn hóa,
về tập quán và các vấn đề liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm giữa hai bên trong hợp đồng là khác nhau, thậm chí là đối lập nhau, do đó việc bất đồng trong thỏa thuận cũng như trong thực hiện các nội dung của hợp đồng là điều rất dễ xảy ra và rủi ro xảy ra tranh chấp là rất cao
LTM năm 2005 không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù được giao kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những vấn đề, những tình huống có thể phát sinh trong thực tế Do đó, cần phải bổ sung cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó Vì hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nên luật điều chỉnh hợp đồng này có thể là luật nước bên bán, cũng có khi là luật nước bên mua… Nếu luật áp dụng là luật nước bên mua thì luật này là luật nước ngoài đối bên bán Khi đó bên bán phải có sự hiểu biết về nó, ít nhất bên bán phải hiểu rõ được luật này điều chỉnh quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể trong hợp đồng như thế nào Và ngược lại, đối với bên mua cũng vậy Như vậy, không chỉ bên bán và bên mua cần có sự hiểu biết để lựa chọn, để tuân thủ luật áp dụng mà ngay cả cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án hoặc trọng tài) cũng phải nghiên cứu vấn đề luật áp dụng cho hợp đồng
đó thì mới có thể làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình Có thể nói các tranh chấp liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế luôn là các tranh chấp gây đau đầu cho
cơ quan tư pháp của nước ta Trong một vụ án có thể sẽ có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình xử lý, Tòa án các cấp sẽ có nhiều góc nhìn, cũng như cách tiếp cận vấn đề khác nhau và một điểm đặc trưng nữa đó chính là có nhiều chủ thể có liên
Trang 39quan trong một vụ án, pháp luật được áp dụng cũng cần được đảm bảo không vi phạm các quy định quốc tế Để có thể hiểu rõ hơn về các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế, các tranh chấp có liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, từ đó rút ra được những điểm còn bất cập và đưa ra hướng giải quyết để hoàn thiện hơn các quy định có liên quan đến hợp đồng này, đặc biệt là vấn đề về quyền sở hữu hàng hóa Tác giả sẽ tiếp cận ở khía cạnh các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế này thông qua bản án cụ thể
Một trong những tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm có nội dung như sau: Ngày 03/9/2013 Công ty TNHH Classone (nguyên đơn) và Công ty TNHH Digitech Việt Nam ký Hợp đồng mua bán với thỏa thuận Công ty cung cấp thiết bị, vật liệu và phụ tùng lắp đặt Phòng sạch của Công ty TNHH Digitech Việt Nam dựa trên tiêu chuẩn và đặc tính kỹ thuật ghi chú trong Phiếu đóng gói hàng hóa với tổng giá trị Hợp đồng là 2.555.663 USD, giá FOB tại cảng Incheon, Hàn Quốc theo Incoterms 2010; hình thức thanh toán là chuyển khoản, thanh toán tạm ứng 60% giá trị Hợp đồng trước khi hàng lên tàu, số tiền còn lại 40% giá trị Hợp đồng sẽ thanh toán sau khi người mua (Công ty Digitech) nhận được hàng Ngày 06/3/2013, hai bên tiếp tục
ký Hợp đồng mua bán thiết bị, vật liệu, phụ tùng giá 320.573 USD với thỏa thuận: Công ty cung cấp, thiết bị, vật liệu cho Công ty TNHH Digitech Việt Nam và Công
ty TNHH Digitech Việt Nam thanh toán cho Công ty toàn bộ giá trị Hợp đồng ngay sau khi nhận được hàng Công ty TNHH Digitech Việt Nam đã thanh toán cho Công
ty Classone 02 lần bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng, tổng cộng 1.260.000 USD Sau đó, Công ty TNHH Digitech Việt Nam chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Digitech Việt Nam Ngày 02/4/2014, Công ty Cổ phần Digitech Việt Nam có văn bản
“Xác nhận công nợ” với nội dung Công ty Cổ phần Digitech Việt Nam còn nợ Công
ty Classone 1.616.200 USD theo Hợp đồng hai bên đã ký ngày 03/9/2013 và ngày 06/9/2013 Do đó, Công ty Classone đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH Digitech thanh toán 1.616.200USD cho Công ty theo đúng thỏa thuận
Trang 40Bị đơn là Công ty TNHH Digitech Việt Nam (tại thời điểm ký Hợp đồng mua bán, Công ty TNHH Digitech Việt Nam là Công ty thuộc sở hữu 100% vốn của Công
ty TNHH Digitech System tại Hàn Quốc) cho rằng việc mua bán hàng hóa để lắp đặt phòng sạch cho Nhà máy tại Việt Nam được ký kết bởi Công ty TNHH Digitech System (Công ty mẹ của Công ty TNHH Digitech Việt Nam) với Công ty TNHH Classone Năm 2015, Công ty TNHH Digitech System bị phá sản thì Công ty TNHH Classone đã yêu cầu Tòa án tại Hàn Quốc giải quyết vụ việc trên và Công ty TNHH Digitech System có văn bản kiến nghị ngày 25/11/2014 xác nhận về nội dung này Thực tế, chưa có căn cứ chứng minh Công ty TNHH Digitech Việt Nam nhận hàng tại cảng Hải Phòng theo hóa đơn xuất hàng do nguyên đơn trình bày Ông Lee Jong Pil không đủ thẩm quyền ký 02 Hợp đồng mua bán nêu trên Công ty có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký đề tên ông Lee Jong Pil tại văn bản “Xác nhận công nợ” ngày 02/4/2014, đề nghị Tòa án triệu tập ông Lee Jong Pil., Công ty TNHH Digitech System để làm rõ việc thanh toán cũng như xác nhận khoản nợ nêu trên
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày 30/9/2016 TAND tỉnh Hà Nam đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Buộc Công
ty TNHH Digitech Việt Nam trả 1.616.200 USD tương đương với 35,378 tỷ đồng Việt Nam theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng ngày 03/9/2013 và ngày 06/9/2013
Ngày 07/10/2016 Công ty TNHH Digitech Việt Nam kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm nêu trên Ngày 15/10/2016 Công ty TNHH Classone kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị bổ sung phần lãi suất theo quy định kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành mà bên bị đơn không thực hiện Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 312/2017/KDTM-PT ngày 26/10/2017 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
đã quyết định:
- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Digitech Leader Việt Nam nay là Công ty TNHH Essa Hi-Tech; chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Classone