- Đặng Nguyên và Thu Hà 2002, Quản lý công nghệ trong nền kinh tế tri thức, Nxb Hà Nội; - Lê Hồng Hạnh, Đinh Thị Mai Hương 2004, Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐÌNH HUY
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận văn là khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào trước đây Các thông tin tham khảo trong Luận văn đều được tác giả trích dẫn một cách đầy đủ và chính xác
TÁC GIẢ
NGUYỄN THANH CÓ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
bộ xuyên Thái Bình Dương
Chương trình hành động số 2198/CTHD/BKHCN-BVHTTDL- BNNPTNT-BTC-BCT-BCA-BTTTT- TANDTC-VKSNDTC
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 8
1.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp 8
1.1.1 Vài nét cơ bản về lịch sử lập pháp quyền sở hữu công nghiệp 8
1.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp và các yếu tố cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp 13
1.2 Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp 18
1.2.1 Các dạng vi phạm sở hữu công nghiệp 18
1.2.2 Các biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp 19
1.2.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp 25
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 29
2.1 Thực trạng vi phạm vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua 29
2.1.1 Thực trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp và tình hình xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua 29
2.1.2 Nguyên nhân của thực trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua 36
2.2 Giải pháp khắc phục vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian tới 38
2.2.1 Giải pháp hoàn thiện các văn bản pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 38
2.2.2 Giải pháp khác góp phần khắc phục vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 44
2.2.2.1 Nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 44
2.2.2.2 Củng cố tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan chức năng của tỉnh Kiên Giang liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 47
2.2.2.3 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp và đảm bảo phối hợp hoạt động hiệu quả với các cá nhân, tổ chức khác ngoài tỉnh trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7A Văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam 54
B Văn bản quy phạm pháp luật 54
C Sách, đề tài khoa học, tạp chí, luận văn, tham luận hội thảo, website 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc, có tiềm năng phát triển kinh tế vào loại nhóm cao ở miền Tây Tỉnh có ngư trường rộng lớn 63.290 km2, bờ biển dài khoảng 200 km với trên 140 đảo lớn nhỏ, bao gồm 05 quần đảo (An Thới,
Bà Lụa, Hải Tặc, Nam Du và Thổ Châu), trong đó có hơn 40 đảo có cư dân sinh sống, đặc biệt là đảo Phú Quốc - mệnh danh “Đảo Ngọc” Kiên Giang có sản vật, sản phẩm biển đa dạng và phong phú Bên cạnh, nước mắm Phú Quốc, những sản vật, sản phẩm khác của các địa phương trong tỉnh cũng nổi tiếng trong vùng nhưng những sản vật, sản phẩm này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Một mặt, hầu hết những sản vật, sản phẩm này không có nhãn hiệu bảo hộ nên bị giới hạn trong marketing, tiếp thị, khuyến mãi… Vả lại, những hàng hóa có giấy chứng nhận bảo hộ thì lại bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nên những sản vật, sản phẩm chưa có cơ hội phát triển hiệu quả
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) nói riêng ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển nền kinh tế cả nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng Theo quy định của pháp luật Việt Nam, QSHCN là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý QSHCN là một bộ phận quyền
sở hữu trí tuệ, là thành quả sáng tạo của con người về khoa học, kỹ thuật Các hành
vi xâm phạm QSHCN bao gồm: hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh; hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; hành vi cạnh tranh không lành mạnh và một số hành
vi khác vi phạm trật tự quản lý nhà nước về lĩnh vực QSHCN… Những năm gần đây, hoạt động đảm bảo thực thi QSHCN đã được các cơ quan chức năng tỉnh Kiên Giang quan tâm nhiều hơn, bước đầu thu được những kết quả nhất định, nhiều vụ vi
Trang 9phạm QSHCN được phát hiện, xử lý kịp thời Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm QSHCN còn nhiều, tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp Các vi phạm QSHCN xảy ra trong mọi lĩnh vực như: sao chép, nhái nhãn hàng hóa, thực phẩm, thuốc bảo vệ thực vật… ở khắp các địa bàn của tỉnh Kiên Giang
Thủ đoạn vi phạm QSHCN rất đa dạng, tinh vi trong thực tế, nhưng sự vi phạm bất kỳ hoặc thủ đoạn vi phạm bất kỳ cũng nhằm mục đích cuối cùng là lừa dối người tiêu dùng, tránh sự trừng trị của luật pháp Tuy nhiên, thủ đoạn lợi dụng đặc điểm riêng có của QSHCN, lợi dụng sơ hở, khoảng trống của luật pháp để vi phạm sở hữu công nghiệp (SHCN) là thủ đoạn nguy hiểm nhất Vi phạm QSHCN, xét về bản chất là hành vi bất hợp pháp Do đó, đấu tranh phòng, chống loại hành vi này không hiệu quả sẽ đem lại nhiều hậu quả xấu, trước mắt nó đem lại hậu quả cho người sản xuất, người tiêu dùng cũng như hạn chế, kìm hãm hoạt động sáng tạo như
đã trình bày trên Ngoài những thiệt hại này, vi phạm QSHCN còn gây rối loạn trật
tự quản lý kinh tế và ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Với các quốc gia khác trên thế giới, vi phạm QSHCN sẽ bị phạt rất nặng, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên ở nước ta, vi phạm này chủ yếu chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt vấn đề đền bù thiệt hại dân sự chưa được coi trọng Bên cạnh đó, ở một số địa phương, trong đó có tỉnh Kiên Giang việc thực hiện nhiệm vụ bảo hộ QSHCN của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa đầy
đủ và tích cực Một số quy định, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành còn chưa thống nhất, gây khó khăn cho cơ quan thực thi; nhiều vi phạm QSHCN chưa được phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời…
Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 Luật Sở hữu trí tuệ là một trong những cơ sở để Việt Nam, nước thứ 150 được xét gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 11/01/2007 Ngày 22/9/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 105/2006/NĐ-
CP “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về
Trang 10bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ” và Nghị định 106/2006/NĐ-CP “Quy định các hành vi vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả” Đến năm 2009, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Gần đây nhất là việc Quốc hội Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 có phần về SHCN… Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều điểm bất cập như: Quy định về QSHCN còn mang nặng tính nguyên tắc chung, chưa đầy đủ và thiếu cụ thể; quy phạm pháp luật về bảo hộ QSHCN chồng chéo, trùng lặp; hành vi xâm phạm QSHCN chưa được quy định tập trung, thống nhất mà còn rải rác ở quá nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực khác nhau làm phát sinh nhiều kẽ hở, nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng; việc quy định về trình tự, thủ tục thực hiện xử lý vi phạm QSHCN theo pháp luật hiện hành chưa đầy đủ, rõ ràng dẫn đến thời gian xử lý vụ việc kéo dài, không hiệu quả Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về SHCN là yêu cầu bắt buộc, nhằm đưa pháp luật về QSHCN có vị trí tương xứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam và tạo hành lang pháp lý xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm QSHCN
Đồng thời, nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử lý với vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang là một yêu cầu cấp bách, cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong hiện tại cũng như tương lai
Với những lý do nêu trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang - Thực trạng và giải pháp khắc phục” làm Luận văn Tốt nghiệp Cao học Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 11- Đặng Nguyên và Thu Hà (2002), Quản lý công nghệ trong nền kinh tế tri thức, Nxb Hà Nội;
- Lê Hồng Hạnh, Đinh Thị Mai Hương (2004), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia;
- Phan Xuân Dũng (2004), Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam - Thực trạng
và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia;
- Nghiêm Ngọc Tú (2004), Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Thống kê;
- Đinh Văn Thanh (2004), Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự, Nxb
Công an nhân dân;
- Lê Văn Phát (2004), Giải pháp bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ;
- Lê Nết (2005), Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Thu Thủy, Mạnh Linh và Minh Đức (2005), Thành công nhờ thương hiệu,
Nxb Văn hóa - Thông tin;
- Cục sở hữu trí tuệ (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Nxb Bộ Văn hóa
Thông tin;
- Lê Bộ Lĩnh (2006), Vòng đàm phán Doha nội dung, tiến triển và những vấn
đề đặt ra cho các nước đang phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
- Bùi Thị Dung Huyền (2010), Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ trong tình hình mới, Đề tài cấp cơ sở, Trường Đại học luật
Hà Nội;
Ngoài các công trình nêu trên trực tiếp liên quan đến bảo vệ QSHCN, trong thời gian qua còn rất nhiều bài viết về QSHCN đăng trên báo, tạp chí trong nước, các bài tham luận trong hội thảo quốc tế về QSHCN, cụ thể như:
Trang 12- Phạm Đình Chướng, Quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển, Báo Nhân dân
điện tử ngày 24/4/2000;
- Shinichiro Suzuki (2004), Vai trò của sở hữu trí tuệ, Tham luận tại Hội
thảo vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo, TP.Hồ Chí Minh;
- Nguyễn Thanh Tâm (2006), Tính thương mại của sở hữu công nghiệp,
Thông tin chuyên đề, trang thông tin Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, ngày 5/12/2006;
- Lê Linh, Luật bảo hộ đặc sản địa phương, Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh
Tóm lại, các công trình, bài viết của các tác giả nêu trên chỉ đề cập đến bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và có đề cập bảo vệ QSHCN nhưng chỉ dừng lại ở một góc độ chung nhất Chưa có công trình nào đề cập đến những giải pháp khắc phục vi phạm SHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang một cách hệ thống, toàn diện Vì vậy, tác giả thấy rằng cần thiết tiến hành nghiên cứu về thực trạng vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua và những giải pháp khắc phục loại vi phạm này trong thời gian tới
Trang 133 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những nhận thức chung về QSHCN và
vi phạm QSHCN; thực trạng vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khắc phục vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn của vi phạm QSHCN
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nội dung: Với đặc thù địa bàn tỉnh Kiên Giang, tác giả tập trung nghiên cứu những vi phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý;
+ Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng đổi mới đồng bộ thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc bảo hộ QSHCN đã được trình bày trong các văn kiện của các kỳ Đại hội, Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phân tích, tổng kết thực tiễn được sử dụng đồng thời với các phương pháp quy nạp, hệ thống hóa các vấn đề cần nghiên cứu ở mức độ phù hợp để hoàn thành mục tiêu của đề tài
Trang 146 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn này là một công trình nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm cơ
sở lý luận và thực tiễn về vấn đề khắc phục vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng và cả nước nói chung
Lợi ích thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu trong hoạt động học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên những người nghiên cứu khoa học quan tâm đến vấn đề này; đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử
lý vi phạm QSHCN của các cơ quan chức năng tỉnh Kiên Giang
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận về quyền sở hữu công nghiệp và vi phạm quyền sở hữu
công nghiệp;
Chương 2: Thực trạng và giải pháp khắc phục vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ VI PHẠM QUYỀN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Vài nét cơ bản về lịch sử lập pháp quyền sở hữu công nghiệp
Thuật ngữ sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được xuất hiện trong luật của
nước Pháp đầu thế kỷ XIX, lúc bấy giờ khái niệm QSHCN là quyền sở hữu của người sáng chế và ngăn cấm việc sử dụng sáng chế mà không xin phép chủ nhân của nó
Ngày 19/3/1474, văn bản có tính chất pháp lý đầu tiên về sáng chế được ban hành ở thành phố Vơnigiơ (Italia) Tuy chưa phải là Bộ luật sáng chế quốc gia nhưng văn bản trên có ý nghĩa lịch sử quan trọng và có tác dụng bảo hộ đối với các sáng chế Ngày 15/9/1594, nhà bác học Galile được cấp bằng sáng chế về thiết bị
nâng nước lên cao để tưới ruộng Thời hạn có hiệu lực bảo hộ là 10 năm Luật
Sáng chế đầu tiên được ban hành ở nước Anh vào năm 1624 Bất kỳ ai có sáng chế đạt yêu cầu luật định đều có quyền được công nhận là tác giả và được cấp bằng sáng chế Sau nước Anh, nhiều nước đã ban hành luật sáng chế của mình: Luật Sáng chế của Mỹ ban hành năm 1790; Luật Sáng chế của Pháp ban hành năm 1791; Luật Sáng chế của Bỉ ban hành năm 1854; Luật Sáng chế của Nga ban hành năm 1870; Luật Sáng chế của Đức ban hành năm 1877; Luật Sáng chế của Nhật ban hành năm
1885 Cuối thế kỷ XIX, khái niệm SHCN được mở rộng, nó không chỉ là các quyền liên quan đến đối tượng của sản xuất công nghiệp mà tất cả các đối tượng của ngành sản xuất kinh doanh khác
Ở Việt Nam, sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ chính trị hàng đầu cách mạng Việt Nam là xây dựng Tổ quốc gắn liền bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển khoa học kỹ thuật để xây dựng đất nước được đặc biệt chú ý, Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học, kỹ
Trang 16thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt1
Đường lối chính sách của Đảng nêu trên đã được thể chế bằng hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật Ngoài quy định tại Điều 43, Điều 72 trong Hiến pháp năm 1980, trong thời kỳ này Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp quy để điều chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khoa học
Trong lĩnh vực SHCN, Nghị định của Chính phủ số 31-CP ngày 23/1/1981 ban hành Điều lệ cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất và sáng chế là văn bản pháp
lý đầu tiên của Việt Nam quy định chi tiết cụ thể về sáng chế Tiếp theo Nghị định
31, văn bản thứ hai về SHCN là Nghị định số 197-HĐBT, ngày 14/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hóa các quy định về SHCN Việt Nam trong thời kỳ này đều thể hiện rõ nét sự tiếp thu tinh thần Sắc lệnh số 19, ngày 30/6/1919 của Lênin Các đối tượng của QSHCN được sử dụng như công sản
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành Đại hội VI của Đảng đã thực hiện chính sách cải cách
mở cửa, trong đó có đổi mới cơ chế về quản lý khoa học - công nghệ Nhằm thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, từ năm 1987 - 2001, Nhà nước Việt Nam ban hành nhiều văn bản pháp luật trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nói chung, trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và SHCN nói riêng
Năm 1989, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về Sở hữu công nghiệp Bắt đầu từ 01/7/1996, các quan hệ mới phát sinh về sở hữu trí tuệ được điều chỉnh theo chương I, II phần sáu của Bộ luật Dân sự 2015 Sau đó là các Nghị định 63/CP của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp và Nghị định 76/CP về quyền tác giả; Nghị định 54/2000/NÐ-CP của Chính phủ về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại
và bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan sở hữu công nghiệp Nghị
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, tr 23
Trang 17định 42/2003/NÐ-CP của Chính phủ về bảo hộ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và nhiều văn bản có liên quan
Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực, Việt Nam phải chấp nhận luật lệ, điều kiện mà các nước, các Tổ chức quốc tế trong đó có Tổ chức thương mại thế giới đưa ra, đặc biệt là các luật lệ, điều kiện về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Với tinh thần đó, Nhà nước Việt Nam chủ động ban hành, sửa đổi hàng loạt văn bản pháp lý phù hợp yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế, trong đó có các văn bản liên quan đến SHCN, cụ thể như:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đây là đạo luật làm nền tảng cho các đạo luật khác nói chung và các đạo luật về sở hữu trí tuệ nói riêng Trong Hiến pháp năm 2013 có nội dung trực tiếp quy định về SHCN, đó là: Điều 40: "Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó"
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015), ghi nhận những nguyên tắc cơ bản, những vấn đề chung nhất
- Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009
- Luật Chuyển giao công nghệ được Quốc hội Khóa XIV thông qua tại kỳ ngày 19/06/2017
Trang 18Ngoài những đạo luật nêu trên điều chỉnh trực tiếp các quan hệ trong lĩnh vực SHCN, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt đạo luật và văn bản dưới luật có liên quan, như: Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Công nghệ thông tin
Ngoài những văn bản trực tiếp quy định mang tính chất ghi nhận, hướng dẫn
về SHCN nêu trên, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến bảo vệ QSHCN như:
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Trong Bộ luật Hình sự, một số điều quy định liên quan đến SHCN, như: “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” (Điều 192); “Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” (Điều 226);
- Luật Hải quan được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014;
- Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005;
- Luật Công an nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014
Do yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và QSHCN nói riêng, Việt Nam là một trong những nước tham gia các công ước quốc tế về SHCN từ rất sớm: tham gia công ước Paris về bảo hộ SHCN ngày 08/3/1949; Thỏa ước Marid
về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa ngày 08/3/1949 Ngày 02/7/1976, không lâu sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam tham gia vào Công ước Stockholm về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và chính thức trở thành thành viên của Tổ chức này
Ngày 10/3/1993, Việt Nam tham gia Hiệp ước Washington về hợp tác sáng chế Ngày 7/7/1999, Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và Hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trang 19Ngày 26/11/2001, Việt Nam ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ (BTA), 15 giờ ngày 10/12/2001 Hiệp định có hiệu lực (trước khi ký BTA, Chính phủ Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ký kết Hiệp định
về thiết lập quan hệ quyền tác giả)
Vừa qua, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ký Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam ngày 07/11/2006 và Việt Nam trở thành thành viên chính thức đầy đủ thứ 150 của WTO vào tháng 01/2007 Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đòi hỏi phải tuân thủ các luật lệ của tổ chức này, trong đó có Hiệp định
về các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs - Agreement on Trade related of Intellectual Property Rights) có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, được coi là hệ thống bảo hộ toàn cầu đối với quyền sở hữu trí tuệ
Việc Việt Nam tham gia WTO, thực thi Hiệp định TRIPs đòi hỏi các quy định về sở hữu trí tuệ cũng như thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải đáp ứng yêu cầu của WTO - yêu cầu mà các nước phát triển giữ vai trò chi phối mà không có một ngoại lệ nào, trừ ân hạn về lộ trình thực hiện Với tư cách là thành viên của WTO từ 07/11/2006, Việt Nam phải tuân thủ Hiệp định về những vấn đề liên quan tới thương mại quyền sở hữu trí tuệ
Với tư cách thành viên của ASEAN, tháng 12/1995, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN ký hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ, trong đó xác định phạm vi hợp tác, bao gồm: bản quyền và các quyền liên quan; bằng sáng chế nhãn hiệu hàng hóa; kiểu dáng công nghiệp; chỉ dẫn địa lý; thông tin mật và sơ đồ mạch tích hợp…
Như vậy, trong tiến trình lập pháp về sở hữu trí tuệ nói chung và SHCN nói riêng, về cơ bản, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có hệ thống pháp luật quốc nội đầy đủ, và tham gia hầu hết các hiệp ước, công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ như quốc gia khác có nền kinh phát triển trên thế giới
Trang 201.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp và các yếu tố cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp
- Quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), đối tượng QSHCN bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh 2
Trên cơ sở đặc điểm của đối tượng SHCN, pháp luật Việt Nam có chế độ pháp lý khác biệt nhất định cho hai loại đối tượng bảo hộ QSHCN Nhóm đối tượng mang tính sáng tạo bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; nhóm mang các dấu hiệu
phân biệt đặc trưng bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
Quyền sở hữu công nghiệp là một quyền đối với một loại hình thành chủ yếu
từ lao động sáng tạo, do đó pháp luật Việt Nam, cũng như pháp luật quốc tế đều thừa nhận QSHCN bao gồm quyền nhân thân và quyền về tài sản đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Quyền về nhân thân là các quyền gắn liền với các lợi ích về tinh thần Quyền nhân thân thuộc về người đã tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bằng lao động sáng tạo của mình, bao gồm quyền được đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ do Nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
2 Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ 2005, Khoản 4, Điều 4
Trang 21Quyền tài sản đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, về chủ sở hữu các đối tượng đó, bao gồm quyền sử dụng, cho phép hoặc cấm người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn, quyền về tài sản bảo hộ hữu hạn được ấn định cụ thể theo quy định của luật pháp
- Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến các đối tượng sau:
Nhãn hiệu được chia làm nhiều loại: Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng chung cho các thành viên của một tổ chức; Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà
chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch
vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính của của hàng hóa, dịch vụ
mang nhãn hiệu đó; Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng
ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự
nhau hoặc có liên quan với nhau; Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu
dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam
+ Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý
Trang 22có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ Chỉ dẫn địa
lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có
nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh
và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp
- Nội dung quyền sở hữu công nghiệp
Cũng như quyền sở hữu tài sản khác, nội dung QSHCN bao gồm ba quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ thể đối với đối tượng quyền
Đối tượng của QSHCN có đặc tính vô hình, vì vậy, trong các quyền năng của QSHCN thì quyền sử dụng là quyền năng quan trọng nhất Chủ sở hữu đối tượng QSHCN không thể cất giấu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp… vì sự cất giấu đồng nghĩa với sự vô hiệu của quyền này Người có quyền SHCN chỉ có thể khai thác lợi ích của quyền này bằng cách cho phép người khác khai thác, sử dụng theo ý chí của mình Chính vì vậy, trong ba quyền năng, thì quyền sử dụng đối tượng QSHCN là quyền năng quan trọng nhất QSHCN là một dạng của quyền sở hữu trí tuệ, kết quả, thành quả sáng tạo của một cá nhân, của tổ chức Sự sáng tạo này chỉ có thể đạt được trên nền tảng, kết quả sáng tạo, tri thức của nhân loại Suy cho cùng, một cá nhân không thể độc lập sáng tạo, thành quả sáng tạo của một người là sự tiếp nối, kế thừa của những thế hệ trước, của người đi trước
Chính vì những lẽ nêu trên mà QSHCN bao giờ cũng có giới hạn chung như các quyền dân sự khác, đó là: Khai thác QSHCN không trái pháp luật, tôn trọng đạo
Trang 23đức truyền thống tốt đẹp, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Ngoài giới hạn chung này, việc khai thác, sử dụng QSHCN có giới hạn mang tính đặc trưng sau:
- Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 3
Bộ, cơ quan ngang bộ có quyền nhân danh Nhà nước sử dụng hoặc cho phép chủ thể khác sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý của mình nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền Việc thực hiện quyền này của Bộ, cơ quan ngang bộ phải theo đúng quy định của luật pháp
- Quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp 4
Nếu trước ngày đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp của một người được công bố mà đã có người sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập (người có quyền sử dụng trước) thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc
đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
- Thực hiện các nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm: Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí và sử dụng sáng chế, nhãn hiệu 5
3 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 133
4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 134
5 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 135, 136
Trang 24Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu đó Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì quyền sở hữu nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định pháp luật
Khi được yêu cầu, chủ sở hữu sáng chế cơ bản có nghĩa vụ cho phép người khác sử dụng sáng chế của mình để thực hiện sử dụng sáng chế phụ thuộc nếu sáng chế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và
có ý nghĩa kinh tế lớn Sáng chế phụ thuộc là sáng chế được tạo ra trên cơ sở một sáng chế khác (gọi là sáng chế cơ bản) và chỉ có thể sử dụng được với điều kiện phải sử dụng sáng chế cơ bản
Trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có quyền yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả và điều kiện thương mại hợp lý Nếu chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đó cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế cơ bản theo quy định pháp luật
- Giới hạn về không gian, thời gian bảo hộ đối với QSHCN
Về nguyên tắc chung, QSHCN chỉ được bảo hộ nếu tuân thủ các quy định của pháp luật của một quốc gia và chỉ được bảo hộ trong phạm vi quốc gia đó QSHCN chỉ được bảo hộ ở các quốc gia khác nếu chủ thể quyền có chỉ định đăng
ký tới các quốc gia đó hoặc theo thỏa thuận giữa các quốc gia với nhau theo hiệp ước song phương hoặc đa phương
Trang 251.2 Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
1.2.1 Các dạng vi phạm sở hữu công nghiệp
Vi phạm được đề cập ở đây là vi phạm các quy định quản lý nhà nước về SHCN Để quản lý lĩnh vực SHCN, Nhà nước đề ra các biện pháp quản lý như các quy định trong việc xác lập QSHCN, bản quyền tác giả, trong hoạt động dịch vụ và trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực SHCN Các quy định quản lý này nhằm đảm bảo sự ổn định, thống nhất trong quản lý nhà nước Vì vậy, cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định ở mức độ dân sự, hành chính hay hình sự Yếu tố vi phạm đối tượng QSHCN là những thể hiện cụ thể kết quả của các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hoá Chính những yếu tố này là căn cứ để khẳng định hành vi xâm phạm quyền Các yếu tố vi phạm quyền cũng thể hiện rất đa dạng phụ thuộc vào đối tượng QSHCN
Theo quy định pháp luật Việt Nam, các hành vi xâm phạm QSHCN bao gồm: Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh; hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; hành vi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; hành vi cạnh tranh không lành mạnh và một số hành vi khác vi phạm trật tự quản lý nhà nước về lĩnh vực SHCN pháp luật Tuy nhiên, vi phạm QSHCN xảy ra trên thực tế chủ yếu ở các dạng: Vi phạm quy định về đăng ký xác lập QSHCN; xâm phạm bí mật kinh doanh; khai thác, sử dụng trái pháp luật các đối tượng QSHCN
Vi phạm quy định về đăng ký xác lập QSHCN có thể là vi phạm thuộc về phía chủ thể quản lý nhà nước về QSHCN hoặc vi phạm do các chủ thể khác không
có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về QSHCN Vi phạm của các chủ thể có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước QSHCN trên thực tế đã có xảy ra, nhưng không nhiều và nó đều xuất phát từ các lỗi do nhận định sai từ sự thiếu các thông tin cần thiết, và sự vi phạm ngày càng hạn chế, ít dần Vi phạm quy định về đăng ký, xác lập QSHCN là một hình thức chiếm đoạt, làm thiệt hại đến lợi ích của chủ
Trang 26SHCN, thông qua việc lạm dụng trình tự, thủ tục, thẩm quyền đăng ký bảo hộ đối tượng QSHCN, gian dối để được đăng ký trước người có quyền nộp đơn theo quy định của pháp luật Đăng ký, xác lập QSHCN là việc quan trọng làm xuất hiện QSHCN về mặt pháp lý Nhìn chung, không đăng ký QSHCN thì không có QSHCN
và đương nhiên cũng không làm xuất hiện quyền bảo vệ QSHCN Đăng ký QSHCN
là tiền đề để bảo vệ QSHCN, là căn cứ pháp lý phòng ngừa xâm phạm QSHCN
Ngoài ra, Vi phạm về SHCN là những hành vi khai thác, sử dụng đối tượng SHCN trái phép, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho người có quyền sở hữu đối tượng SHCN Đây là dạng vi phạm QSHCN mà trước đây được gọi là sản xuất, kinh doanh hàng nhái, hàng giả Vi phạm khác về SHCN là sự tiếp nối, là mục đích của vi phạm về đăng ký xác lập QSHCN, vi phạm bí mật kinh doanh Hành vi khai thác, sử dụng trái phép đối tượng QSHCN của người khác dưới dạng hàng giả, hàng nhái diễn ra trên thực tế hết sức đa dạng và phức tạp, trong đó xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa diễn ra phổ biến, chủ yếu nhất
1.2.2 Các biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định của Luật SHTT, hiện nay Việt Nam có bốn biện pháp đảm bảo thực thi QSHCN, đó là: Biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện pháp hình sự và biện pháp kiểm soát tại biên giới
Biện pháp xử lý vi phạm QSHCN được pháp luật quy định cụ thể theo từng cấp độ vi phạm, cụ thể:
- Xử lý hành vi vi phạm QSHCN bằng biện pháp hành chính trong các trường hợp:
+ Hành vi xâm phạm này gây ảnh hưởng tiêu cực, gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;
+ Mặc dù chủ sở hữu bản quyền đã gửi thông báo bằng văn bản (công văn) yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm nhưng bên vi phạm vẫn tiếp tục hành vi vi phạm của mình;
Trang 27+ Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật sở hữu trí tuệ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;
+ Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này
- Xử lý hành vi vi phạm QSHCN bằng biện pháp dân sự trong trường hợp: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHCN gây ra yêu cầu Bao gồm cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Để xác định hành vi xâm phạm QSHCN, cần phải xác định yếu tố xâm phạm đối với đối tượng SHCN tương ứng Yếu tố xâm phạm là sự thể hiện cụ thể kết quả của các hành vi xâm phạm quyền đối với các đối tượng SHCN Yếu tố xâm phạm là căn cứ quan trọng nhất để khẳng định hành vi đó là hành vi xâm phạm
Việc xác định một hành vi là hành vi xâm phạm QSHCN phải có đầy đủ các căn cứ sau: Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ QSHCN theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và Nghị định 99/2013/NĐ-CP; có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét; người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể QSHCN và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan
có thẩm quyền cho phép theo quy định; hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam
Theo quy định tại Điều 202 của Luật SHTT, để xử lý tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm QSHTT nói chung, tòa án có quyền áp dụng các biện pháp dân
sự bao gồm: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh
Trang 28doanh hàng hóa xâm phạm QSHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm là việc Tòa án quyết định buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN chấm dứt ngay hành vi xâm phạm theo yêu cầu của người khởi kiện (ví dụ: buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu chấm dứt việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó) Tòa án có thể quyết định buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN chấm dứt hành vi xâm phạm trong bản án hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong đó Tòa án phải nêu cụ thể các QSHCN bị xâm phạm và các hành vi xâm phạm QSHCN, đồng thời Tòa án cũng quy định rõ những việc người
có hành vi xâm phạm QSHCN phải thực hiện và không được thực hiện để thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa Theo quy định của BLTTDS thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay Do đó nếu người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc chấm dứt hành vi xâm phạm QSHCN khiếu nại quyết định đó thì trong thời hạn khiếu nại, giải quyết khiếu nại
họ vẫn phải thi hành quyết định Đối với trường hợp Tòa án quyết định trong bản án việc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm QSHCN mà bản án đó bị kháng cáo, kháng nghị thì phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay Do vậy, cần căn cứ vào quy định cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật cho thi hành ngay phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và quy định của BLTTDS để tuyên trong bản án, quyết định là: Quyết định buộc chấm dứt hành vi xâm phạm QSHCN được thi hành ngay mặc dù bị kháng cáo, kháng nghị Buộc xin lỗi, cải chính công khai cũng là một biện pháp được quy định tại Luật SHTT Đây là biện pháp do Tòa án quyết định trong bản án, quyết định về việc buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khôi phục danh
dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng cho chủ thể QSHCN bị xâm phạm Việc buộc xin lỗi, cải chính công khai nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của tác giả và
Trang 29khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí để thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó mà thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì tòa án công nhận sự thỏa thuận của họ Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện thì Tòa án căn cứ vào tính chất hành vi xâm phạm và mức
độ, hậu quả do hành vi đó gây ra quyết định về nội dung, thời lượng xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện Việc xin lỗi, cải chính công khai có thể được thực hiện trực tiếp tại nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương, báo địa phương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số liên tiếp Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp được Tòa án quyết định áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa
vụ đối với chủ thể QSHCN Đây là biện pháp dân sự được áp dụng khi người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ thể QSHCN
Một biện pháp dân sự quan trọng khác được sử dụng khi có hành vi xâm phạm QSHCN xảy ra đó là biện pháp buộc bồi thường thiệt hại Điều 117 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Theo Điều
110 Luật cạnh tranh 2018 thì: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Theo đó, người có hành vi xâm phạm QSHCN
mà gây thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần cho chủ thể QSHCN thì phải bồi thường Thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHCN được bồi thường bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó thiệt hại về vật chất bao gồm: các tổn thất về tài sản; mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận; tổn thất về cơ hội kinh
Trang 30doanh; chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại Thiệt hại về tinh thần bao gồm: các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín danh tiếng gây ra cho tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí Thiệt hại về vật chất và tinh thần là
sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể QSHCN Theo đó, được coi là tổn thất thực tế nếu có đủ các căn cứ sau đây: lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại; người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích; có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra
sự giảm sút, mất lợi ích đó
Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHCN với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể QSHCN Tòa án xem xét quyết định buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện nêu trên mà không phụ thuộc vào việc chủ thể quyền có yêu cầu hay không có yêu cầu Khi quyết định buộc tiêu hủy hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHCN, Tòa án sẽ quyết định trách nhiệm của người có hành vi xâm phạm QSHCN phải chịu chi phí cho việc tiêu hủy đó
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHCN nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây ra được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của doanh nghiệp vi phạm phải bồi thường cho người bị thiệt hại (có thể là đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, hay thậm chí là Nhà nước) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
Trang 31hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm QSHCN là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”6 Hiện nay, Bộ Luật dân sự năm 2015 đã quy định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại, theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi
có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người
bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu; Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại các Điều 360 và Điều
361 Bộ Luật dân sự 2015 “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”, thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra bao gồm những thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí
6
Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015, Khoản 1 Điều 584
Trang 32hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh
- Xử lý hành vi vi phạm QSHCN bằng biện pháp hình sự trong trường hợp: Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp hành
vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Biện pháp này được ghi nhận tại điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp hình sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
- Các biện pháp kiểm soát tại biên giới liên quan đến vi phạm QSHCN bao gồm:
+ Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm QSHCN là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu QSHCN thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính
+ Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm QSHCN
là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể QSHCN nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan
1.2.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, những cơ quan sau đây có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHCN: Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHCN, cụ thể: