1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập

112 801 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Tác giả Nguyễn Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 467 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn .***.…….

Ngời hớng dẫn : TS Nguyễn Hoài Nguyên

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nga

Lớp : 47B2 - Ngữ văn

Vinh, 2010

Mở đầu

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam từ sau đổi mới từ 1990 đến nay đã

có nhiều nỗ lực cách tân đáng ghi nhận “Vấn đề không

phải viết về cái gì, mà viết nh thế nào” Nhà văn là ngời tổ

chức ngôn từ tạo nên hình tợng nghệ thuật, chỉnh thể tácphẩm, nên đã có ý thức sử dụng ngôn ngữ bộc lộ cá tính sángtạo, tài năng của mỗi tác giả

Trong việc tìm hiểu một tác phẩm văn học, có thể xuấtphát từ nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau Nghiên cứu tácphẩm văn học xuất phát từ góc độ ngôn ngữ đang là một xuthế đợc nhiều ngời quan tâm, bởi lẽ nếu chỉ xuất phát từ bềmặt miêu tả của tác phẩm thì khó có thể đánh giá đợc mộtcách cặn kẽ, đầy đủ chiều sâu t tởng, mạch ngầm của tácphẩm Với thể tạp văn, dung lợng ngôn từ không lớn, nhngchúng phải phản ánh đợc một lát cắt, một vấn đề thể hiệnbản chất của hiện thực cuộc sống Đi vào hệ thống ngôn ngữtạp văn của một tác giả có thể khám phá đợc nhiều điều thú

vị, bởi những tính thẩm mĩ, hình tợng gắn với các đặc

tr-ng của thể loại và đặc biệt là tính cá thể, nhữtr-ng dấu ấncủa cá tính sáng tạo, đóng góp của nhà văn đối với ngôn ngữdân tộc Bởi lý do đó, tìm hiểu tạp văn Nguyễn Quang Lập,chúng tôi đi từ phơng diện đặc điểm ngôn ngữ nghệthuật

Nguyễn Quang Lập từng có thời gian tham gia Quân

đội, làm công tác văn hóa, xuất bản, ông cho ra đời những

tác phẩm chính: Một giờ trớc lúc rạng sáng, Tiếng gọi nơi mặt

trời lặn, Những mảnh đời đen trắng (tiểu thuyết), Đời cát,

Trang 3

Thung lũng hoang vắng (kịch bản phim) và nhiều kịch bản

sân khấu, kịch bản điện ảnh, tản văn Mới đây ông cho ra

đời cuốn Ký ức vụn, tập sách đợc tác giả khiêm tốn: tự nhận chỉ là Kí ức vụn Nhng là ngời nổi tiếng nên những bạn văn

của ông mà chúng ta bắt gặp cũng quá nổi tiếng nh BùiGiáng, Phùng Quán, Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Trần Đăng Khoa,Nguyễn Trọng Tạo, Với giọng văn hài hớc, hơi bậy và sex,kiểu khẩu văn nên rất sống động chuyện đời, chuyện văn,

Phải nói rằng, blog là trợ thủ đắc lực cho nhà văn quảngbá tác phẩm của mình Nguyễn Quang Lập là nhà văn lớntuổi đã nhanh bén duyên với blog và nó là con đờng nhanhnhất đa tạp văn của ông đến với độc giả

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tợng nghiên cứu

Đề tài này, chúng tôi không có điều kiện khảo sát toàn

bộ sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Lập Chúng tôi chọn

68 tạp văn của ông, gồm tập Kí ức vụn (Nhà xuất bản hội nhà

văn - Trung tâm văn hóa, ngôn ngữ Đông Tây) Đây là mộtcuốn tạp văn gồm 59 chuyện, ngoài ra còn những tạp văn mà

chúng tôi thu thập đợc trên blog Quê Choa của nhà văn.

Chúng tôi nghiên cứu các tạp văn này trên bình diện từ ngữ

và một số biện pháp tu từ, một số đặc điểm về sử dụngcâu văn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hớng đến các nhiệm vụ sau:

Trang 4

a Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ và một số biệnpháp tu từ trong tạp văn của Nhà văn Nguyễn Quang Lập.

b Tìm hiểu đặc điểm sử dụng câu văn trong tạp vănNguyễn Quang Lập Từ đó, đa ra nhận định về những

đóng góp của Nguyễn Quang Lập về sử dụng chất liệu ngôn

từ trong tạp văn của ông

3 Lịch sử vấn đề

Tạp văn Nguyễn Quang Lập đã có nhiều những bài báo,bài nhận xét Nhng cha có một công trình nghiên cứu côngphu Chúng tôi điểm qua một số đánh giá nh sau:

Tác giả Ngô Ngọc Ngũ Long có bài: “Nguyễn Quang Lập

đợc công chúng biết đến nhiều ở lĩnh vực điện ảnh và sânkhấu, nhiều hơn là văn học” Đây là bài viết tác giả nhận xét

về tập Kí ức vụn Tác giả cho rằng: Mỗi câu chuyện đợc kể

bằng lối văn nói rất “bọ” của vùng quê Quảng Bình, một lốivăn tuy viết bằng chữ trên giấy mà ngời đọc có cảm giác nhmình đang đợc nghe kể bằng vô số âm thanh hài hớc lạtai, Tác giả còn so sánh với cách kể rặt tiếng địa phơngNam Bộ của Nguyễn Ngọc T, với cách kể của Nguyễn QuangLập đợc nâng lên một nấc thang nữa của lối văn nói đầy ắpchất cời của dân gian

Tác giả Nguyễn Anh Thế đã nhận xét về cách viết tạpvăn của nhà văn Nguyễn Quang Lập giống nh truyện củaAzitNexin ở khả năng buộc ngời ta phải bật cời bởi những từ

ngữ và tình huống truyện, còn tạp văn Ký ức vụn của nhà

văn Nguyễn Quang Lập khiến ngời ta bật cời bởi cái cời ấynhiều khi tự nhiên nh thể chất gây cời không cần nằm trong

Trang 5

ý nghĩa câu chuyện mà nằm ngay trong lớp vỏ chữ Điềunày khiến ta bất ngờ và khó lý giải Tại sao Nguyễn QuangLập lại sử dụng tiếng địa phơng nhuần nhuyễn đến vậy”.Tác giả còn nhận xét: “Mỗi một bài viết ngời đọc lại nhận đợcdăm ba chi tiết độc đáo đến kỳ dị, mà cha ai viết hoặc ch-

a ai dám viết Nguyễn Quang Lập đã đi sâu vào đời sống,viết với một góc nhìn lệch đi 30 độ để thấy đợc đằng saucái vốn sống, đang hiện hữu ấy là gì?” Tác giả đã nghiên

cứu cuốn tạp văn Kí ức vụn của nhà văn Nguyễn Quang Lập trên bình diện về nghệ thuật ngôn từ và nội dung của Kí ức

vụn gây cời về ý nghĩa xã hội sâu sắc Tác giả còn thống kê

trong cuốn sách trên dới 300 trang, nhà văn đã dựng đợckhông dới 50 thân phận trong ấy mỗi thân phận một cuộc

đời, mỗi thân phận một niềm vui, bất hạnh riêng Tác giảkhẳng định cứ khi đọc cũng thấy vui vui vì thấy một phần,một mảnh cuộc đời mình trong đó

Tác giả Nguyễn ái Học nhận xét: Kí ức vụn gọi là tạp văn

là hợp lý nhất vì nó là những câu chuyện về mọi mặt củacuộc sống, nh những chuyện về quê hơng, chiến tranh, sựtrả giá cách làm ngời, chuyện thơ văn rồi những cảm xúc

đau thơng, mỉa mai Đọc Kí ức vụn tác giả có cảm giác

Nguyễn Quang Lập ngồi chơi trò Rubich Nguyễn Quang Lậpngồi viết văn nh không phải ngồi viết mà là ngồi kể chuyện

cũ và cứ thế sự sống hiện ra nh nó vốn có

Nhng mỗi câu chuyện của ông bao giờ cũng vút lên một

điều gì đó nhức nhối rng rng với lối viết văn ngắn gọn hiện

đại

Trang 6

Tác giả Minh Thơn nhận xét: “Nguyễn Quang Lập là

ng-ời có tài trong cách kể chuyện sử dụng khẩu ngôn linh hoạt vàdân dã Điều đó giúp anh đợc bạn đọc thích nhất là nhữngngời mà hiện nay hay nói là buôn da lê Anh cũng khéo kếthợp sử dụng lối kể chuyện dân gian trong tiếu lâm, sự hóm

hỉnh và trào lộng và tính thông tấn trong các bài viết Kí ức

vụn có năm phần, nhng tôi thích những bài viết về những

con ngời lam lũ ở quê, họ có những cá tính, cả sự không trọn

vẹn về thân thể Tôi thấy có mình ở Thơng nhớ mời ba

đồng cảm ở sự day dứt khi hồn quê xa vắng Tập sách nàyNguyễn Quang Lập lạm dụng nhiều những câu văn mà ngời

ta cho là tục, đôi khi quá liều, dẫn đến sự tự nhiên chủnghĩa Đúng nh tên tập sách, nhng những mảnh kí ức củaNguyễn Quang Lập tởng là vụn vặt nhng chúng nói lên rấtnhiều khía cạnh của xã hội, của văn chơng và điều đó đáng

để bạn đọc suy ngẫm” Tác giả đã đi vào nhận xét chi tiết

một số câu chuyện trong tạp văn Kí ức vụn của Nguyễn

Quang Lập Tác giả Ngô Minh lấy tít bài viết của mình "Uachầu chầu Nguyễn Quang Lập”, đây là một từ mà Nguyễn

Quang Lập đã sử dụng rất nhiều trong Quê Choa Tác giả giới

thiệu về nhà văn Nguyễn Quang Lập và cuộc đời t của nhàvăn Là một ngời bạn, tác giả đã đánh giá rất khách quan tàinăng của Nguyễn Quang Lập, khẳng định đợc bản lĩnh vàthái độ nhà văn của Nguyễn Quang Lập tác giả viết: “Tôichọn mãi cái tít bài cho bài viết về Nguyễn Quang Lập Đọc lại

Kí ức vụn, bỗng lóe lên, đây rồi: “ua chầu chầu Nguyễn

Quang Lập, Tôi và Lập cùng ở Huế từ năm 1987, cùng vô hội

Trang 7

nhà văn một lần, lại cùng quê nên anh em thân thiết lắm Bởi

thế mà trên conentry (bạn văn) trên blog Quê choa, sau này chọn thành Kí ức vụn, thỉnh thoảng Lập lại nhắc Ngô Minh

nói thế này, Ngô Minh nói thế khác Có tay mọt sách, gặp ở

Đông Hà liền bắt tay tôi lắc lắc: Em đọc Kí ức vụn không có

bài riêng về anh nhng hình bóng Ngô Minh trong ấy đậmlắm, thế là mình đợc thơm lây cái nổi tiếng của Lập rồi ”Tác giả còn khẳng định Nguyễn Quang Lập ngoài đời làmột ngời rất vui tính và hóm hỉnh Những tính cách ấy đã

làm nên một Nguyễn Quang Lập trong Kí ức vụn chân thành

mà xót xa Chắc chắn Nguyễn Quang Lập sẽ đợc ghi danh làngời đầu tiên khởi xớng dòng văn học khẩu văn, tạo ra mộtkhẩu văn mới thời hiện đại, khẩu văn phơng ngữ, nói tục cũng

là một cái thật làm nên phong cách Nguyễn Quang Lập

Tóm lại, điểm lại các bài viết về tác phẩm NguyễnQuang Lập, đa số các ý kiến đánh giá cao những đóng gópcủa ông trên bình diện văn học cha có một công trình nàotìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Quang Lập từ phơng diệnngôn ngữ học, vì vậy đề tài của chúng tôi đã lựa chọn hớngtiếp cận còn bỏ ngỏ này

Trang 8

tôi đã sử dụng thêm phơng pháp tổng hợp để khái quát cácvấn đề thành các quy luật mang tính chung, điển hình.

4.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu

So sánh tạp văn Nguyễn Quang Lập với một số tác giảkhác nh Lỗ Tấn (Trung Quốc), Nguyễn Khải, Nguyễn Ngọc Tnhằm làm nổi bật những nét riêng của ngôn ngữ tạp văn,những đóng góp của Nguyễn Quang Lập trên văn đàn

5 Cái mới của khóa luận

Đây là đề tài đầu tiên tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữtạp văn Nguyễn Quang Lập Đề tài bớc đầu có những nhận

định về đóng góp của Nguyễn Quang Lập về phơng diện

sử dụng sáng tạo ngôn ngữ trong sáng tác tạp văn và khẳng

định sự đa dạng về phong cách ngôn ngữ Nguyễn QuangLập trong nền văn học đơng đại Việt Nam

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóaluận gồm 3 chơng:

Ch

ơng 1 : Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Ch

ơng 2: Từ ngữ và một số biện pháp tu từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập.

Ch

ơng 3 : Một số đặc điểm về câu trong tạp văn Nguyễn Quang Lập.

Trang 10

Ch ơng 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIấN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật đợc xây dựng trên cơ sở ngônngữ tự nhiên, lấy ngôn ngữ tự nhiên làm chất liệu biểu hiện

Do đó, nếu coi ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống kí hiệunguyên cấp (hệ thống kí hiệu thứ nhất) thì ngôn ngữ nghệthuật là hệ thống kí hiệu thứ cấp (hệ thống kí hiệu thứ hai).Cái biểu hiện của kí hiệu ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm cảhình thức âm thanh và ý nghĩa sự việc lôgic của kí hiệutrong ngôn ngữ tự nhiên Cái đợc biểu hịên chính là các lớp ýnghĩa hình tuợng Nh vậy, kí hiệu trong ngôn ngữ nghệthuật là một dạng kí hiệu phức hợp Đây chính là trờng hợp

mà “hệ thống thứ nhất sẽ đợc dùng làm bình diện thể hiệnhoặc làm cái biểu đạt cho hệ thống thứ hai” R.C.Hjelmslevgọi loại kí hiệu học này là kí hiệu học hàm biểu; hệ thốngthứ nhất là phơng diện vật biểu, hệ thống thứ hai là phơngdiệm hàm biểu (Dẫn theo Trịnh Bá Đĩnh, chủ nghĩa cấutrúc và văn học, Nxb Văn học, H, 2002) Do đó, mối quan hệgiữa cái biểu hiện và cái đợc biểu hiện trong kí hiệu nghệthuật không phải võ đoán mà là có lí do Trớc hết, một từtrong ngôn ngữ nghệ thuật là mối quan hệ chặt chẽ giữa ýnghĩa sự vật lôgic và ý nghĩa hình tợng Chẳng hạn, trong

ca dao Việt Nam, từ “thuyền” chỉ ngời ra đi (ngời con trai),

từ “bến” là chỉ ngời ở lại (ngời con gái):

Trang 11

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

ý nghĩa hình tợng nói trên liên quan mật thiết đến ýnghĩa sự vật : “thuyền” chỉ phơng tiện đi lại trên sông nớc,còn “bến” chỉ nơi đỗ của thuyền (bến sông, bến bờ,…).Mặt khác, ý nghĩa hình tợng của một kí hiệu trong ngônngữ nghệ thuật còn đợc quy định bởi những nhân tố thẩm

mĩ nh: chủ thể sáng tạo, đối tợng đợc nói đến, hoàn cảnhvăn hóa,…

Tóm lại, giá trị của một kí hiệu ngôn ngữ nghệ thuậtchủ yếu đợc qui định bởi những mối quan hệ bên ngoàingôn ngữ Sự thực hiện chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật

là sự thống nhất của mối quan hệ tiếp đoạn, quan hệ tuyếntính trong văn bản ngôn từ và các nhân tố này Dĩ nhiên,những mối quan hệ này là mang tính hàm ẩn, không biểuhiện một cách tờng minh, trực tiếp

1.1.2 Phong cách nghệ thuật

Sự phân chia các phong cách chức năng dựa trên cácphạm vi giao tiếp đặc trng và chức năng của ngôn ngữ trongtừng phạm vi này Theo cách phân loại truyền thống, ngônngữ hoạt động tơng ứng với 6 phong cách chức năng: phongcách sinh hoạt, phong cách khoa học, phong cách chính luận,phong cách báo chí, phong cách hành chính và phong cáchnghệ thuật Phong cách nghệ thuật là sự hiện thực hóa củamột kiểu hoạt động giao tiếp đặc thù: giao tiếp nghệ thuật.Hoạt động lời nói nghệ thuật không diễn ra trong một khônggian - thời gian mang tính xác định, cụ thể tạm thời Trongphạm vi hoạt động giao tiếp nghệ thuật, các nhân tố của

Trang 12

hoạt đông giao tiếp vợt ra khỏi tính hữu hạn, tạm thời của nó

để trở thành những nhân tố thẩm mĩ của hoạt động sángtạo

Trong phạm vi nghiên cứu phong cách nghệ thuật, theonghĩa rộng nhất có thể hiểu phong cách là một tổng thể cácyếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên đặc trng củamột đối tợng: “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cảcác kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, vàchứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diệnmột thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả”[Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong TruyệnKiều, Nxb KHXH, H, 1985, trang 22] Nh vậy, phong cách ngônngữ nghệ thuật là tất cả những mối quan hệ giữa bộ phận

và toàn thể biểu hiện đặc trng nổi bật của một thời kì,một thể loại, một tác giả hay một tác phẩm nhất định Vậy

là, có vấn đề của phong cách thời đại, phong cách thể loại,phong cách tác giả, tác phẩm Nói đến phong cách, dĩ nhiên,không thể không nói đến thủ pháp nhng trớc hết phong cáchkhông phải là tổng số các thủ pháp mà là sự phản ánh thụcảm thực tế, phản ánh thế giới quan và t duy hình tợng Từgóc độ ngôn ngữ học có thể xác định phong cách chính là

sự lựa chọn, kết hợp các phơng tiện ngôn từ nhằm đạt đúngnhững hiệu lực biểu đạt nhất định trong những hoàn cảnhgiao tiếp khác nhau Trong ngôn ngữ nghệ thuật, sự lựachọn, kết hợp các phơng tiện ngôn từ, tức là những yếu tố tạophong cách luôn gắn liền với quan điểm nghệ thuật, t tởng,cảm xúc và cá tính sáng tạo của nhà văn

Trang 13

1.1.3 Đặc trng của văn bản ngôn từ nghệ thuật

1.1.3.1 Tính cấu trúc, tính hệ thống của văn bản ngôn từ

Nói đến cấu trúc là nói đến các mối quan hệ của cácyếu tố trong hệ thống Văn bản nghệ thuật là một cấu trúc.Tính cấu trúc của văn bản nghệ thuật đợc thể hiện trongmối quan hệ hữu cơ giữa các thành tố: văn bản ngôn từ, hệthống hình tợng, các lớp nội dung ý nghĩa của tác phẩm nghệthuật Nh vậy, xét tính hệ thống, tính cấu trúc của ngônngữ nghệ thuật so sánh các mối quan hệ trực tiếp với tácphẩm, tác giả, trào lu văn học và môi trờng văn hóa, chúng ta

sẽ có một cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về đặc điểmphong cách của văn bản ngôn từ cũng nh phong cách tácphẩm, tác giả Việc đánh giá các yếu tố ngôn ngữ hay toànthể văn bản cũng nh phong cách một tác giả luôn luôn phải

đặt trong mối tơng quan với hệ thống

Trang 14

ngôn ngữ nghệ thuật đợc biểu hiện cụ thể trong những mốiquan hệ giữa thông tin sự vật - lôgic và thông tin hình tợng,quan hệ giữa mặt tạo hình và mặt biểu đạt của văn bảnngôn từ, quan hệ giữa chức năng miêu tả và chức năng thẩm

mĩ trong văn bản ngôn từ, quan hệ giữa thông tin về đối ợng và thông tin về chủ thể trong văn bản ngôn từ Tóm lại,tính hình tợng chính là sự hiện thực hóa chức năng thẩm

t-mĩ của ngôn từ nghệ thuật qua các thành phần thông tintrong văn bản ngôn từ ở tất cả các cấp độ Không thể tách rờitính hình tợng của ngôn ngữ với vấn đề hình tợng nh là mộtkiểu nhận thức, biểu hiện đặc trng của tác phẩm nghệthuật

1.1.3.3 Tính cá thể hóa của văn bản ngôn từ

Tính cá thể hóa của ngôn ngữ nghệ thuật chính là

đặc điểm phong cách tác giả đợc thể hiện trên văn bảnngôn từ Sự cá thể hóa đợc thực hiện qua những thao tácngôn từ, các thủ pháp mà tác giả vận dụng để xây dựnghình tợng Tính cá thể hóa của ngôn ngữ tác giả vừa biểuhiện qua những chi tiết, những thao tác lựa chọn và kết hợp

cụ thể trong văn bản ngôn từ vừa là đặc điểm chung củatất cả những chi tiết, kiểu lựa chọn, kiểu kết hợp này trongmối quan hệ với chỉnh thể văn bản ngôn từ Theo Đinh TrọngLạc: “ngôn ngữ riêng của một nhà văn, bút pháp riêng của mộtnhà văn không phải là một sự kiện rời rạc bao gồm một số lợng

đổi mới so sánh các cấp độ Nó là sự tự chệch của một cáitoàn thể có hệ thống, so với cái toàn thể của ngôn ngữchung” [Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H, 2002, tr

Trang 15

8] Nh vậy, tính cá thể hóa không tách rời tính cấu trúc, tính

hệ thống của văn bản nghệ thuật Dấu ấn phong cách ngônngữ tác giả đợc xác lập dựa vào những nhân tố nh: quanniệm của tác giả về đời sống và con ngời, những yếu tố ảnhhởng đến bút pháp của tác giả, hệ thống hình tợng trong tácphẩm, các thủ pháp biểu hiện hình tợng và nội dung t tởng,

sự vận dụng ngôn ngữ qua các thao tác cụ thể

1.1.4 Ngôn ngữ văn xuôi tự sự

1.1.4.1 Phân biệt hình thức tổ chức ngôn từ trong văn xuôi và thơ

Những đặc trng thể loại, theo cách nhìn truyền thống,thể hiện ba nhân tố cơ bản: đối tợng biểu hiện, phơng thứcbiểu hiện và phơng tiện biểu hiện, trong đó nhân tố đối t-ợng biểu hiện có vai trò quyết định hai nhân tố sau Trongtác phẩm văn xuôi tự sự, đối tợng biểu hiện chính là các vấn

đề, các sự kiện, các biến cố, của đời sống hiện thực mangtính khách quan ở đây, chúng ta phải luôn luôn thừa nhậnrằng bất kì đối tợng nào đợc biểu hiện trong tác phẩm nghệthuật nói chung đều chỉ có vẻ khách quan, hay chính xáchơn chúng đợc khách quan hóa Nh vậy, ta có một sự thốngnhất chặt chẽ giữa đối tợng và phơng thức biểu hiện Sựthống nhất đó cũng đợc thể hiện trong tác phẩm trữ tìnhnhng theo một chiều hớng ngợc lại: đối tợng biểu hiện của thơtrữ tình là thế giới tinh thần chủ quan của nhà thơ Đối tợngcủa thơ là những hứng thú tinh thần, là vơng quốc vô hạncủa tinh thần, một sự kiện, một biến cố, nếu có, khi đi vàothơ trữ tình cũng đợc nội cảm hóa, chủ quan hóa Do đó,

Trang 16

cách tổ chức ngôn từ trong văn xuôi tự sự và thơ trữ tình cónhiều điểm khác nhau Ngôn từ trong văn xuôi tự sự có hìnhthức tổ chức theo lối mô phỏng ngôn ngữ tự nhiên: cách sửdụng từ ngữ, cách kết hợp các kiểu câu, theo “cái nôm na”

nh Hêgel đã gọi Để đảm bảo sự khách quan hóa đối tợngbiểu hiện, ngôn ngữ của tất cả các phong cách chức năngthuộc lời nói phi nghệ thuật đều có thể đợc mô phỏng và tổchức lại trong văn xuôi tự sự nhằm thực hiện chức năng thẩm

mĩ Trong khi đó, ngôn ngữ trong thơ trữ tình là “ngônngữ quái đản” (Phan Ngọc), nghĩa là bất quy tắc đi chệch

ra ngoài mọi qui phạm của ngôn ngữ tự nhiên, là thứ ngônngữ lấy thẩm mĩ làm cứu cánh Ngôn ngữ thơ có vần điệu,tiết tấu, chia dòng, chia khổ, giàu nhạc tính nhằm thể hiệncái đợc nội cảm hóa của nhà thơ, thể hiện cảm xúc, thi hứng,tiếng nói nội tâm của nhà thơ Do đó, ngôn ngữ thơ là

“ngôn ngữ trong ngôn ngữ” (Valery), là “ngôn ngữ lấy cái

đẹp làm đối tợng” (R.Jakobson)

1.1.4.2 Các kiểu kết cấu lời nói của văn xuôi tự sự

Do mô phỏng hình thức tổ chức lời nói tự nhiên nêntrong văn xuôi tự sự có sự tổng hòa của các kiểu lời nói (lờitrực tiếp, lời gián tiếp, nửa trực tiếp, tơng ứng với lời nhânvật, lời ngời kể chuyện và những lời trung gian), có sự phatạp giọng điệu và các hình thức cấu trúc ngôn từ: đối thoại,

độc thoại, độc thoại nội tâm, nhại giọng, Tất cả các kiểu lờinói này đều có một vai trò nhất định và tơng tác với nhautrong kết cấu lời nói của toàn bộ tác phẩm Ngợc lại, trong thơtrữ tình, chỉ có một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnh toàn

Trang 17

bộ thế giới nghệ thuật: kiểu lời độc thoại trực tiếp của nhânvật trữ tình (hóa thân của chủ thể trong tác phẩm).

Từ sự tổng hòa các kiểu lời nói khác nhau, tác phẩm vănxuôi tự sự luôn hớng tới sự biểu hiện những cách nhìn nhữngquan điểm khác nhau thông qua những giọng điệu khácnhau trong các cấu trúc lời nói Nếu nh tính ớc lệ trong sử thi,truyện cổ tích, không có khả năng tạo ra những giọng

điệu khác nhau thì trong văn xuôi tự sự hiện đại luôn cónhững cấu trúc lời nói biểu thị những điểm nhìn, nhữngthái độ, những t tởng trái ngợc nhau

1.2 Vài nét về thể loại tạp văn

1.2.1 Nhận diện thể loại

“Tạp văn là những áng văn, tiểu phẩm có nội dungchính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ vănvừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô

đọng phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tợng xã hội”;

“chẳng hạn nh tạp văn của Lỗ Tấn đợc ông gọi là dây thầnkinh cảm ứng, là chân tay tiến công và phòng thủ là daogăm và mũi lao, có thể cùng các bạn đọc mở ra một con đờngmáu để sinh tồn” Phần lớn tạp văn mang yếu tố châm biếm,trào lộng, đả kích Có loại nhằm vào kẻ địch với đòn “giễucợt chết ngời” đánh trúng chỗ hiểm, có loại nhằm vào khuyết

điểm của ngời cùng đội ngũ, vạch đúng sai lầm, trào phúng,thành khẩn, trị bệnh của ngời

ở Việt Nam trớc cách mạng tháng tám, nhiều nhà vănkiêm nhà báo đã viết tạp văn nh Ngô Tất Tố, Ngô Đức Kế,Huỳnh Thúc Kháng Sau cách mạng tháng tám nhiều bài văn

Trang 18

chính luận ngắn, hóm hỉnh trên các báo chí ta cũng là tạpvăn” [14, tr.294]

Trong “Từ điển văn học” (tập 2), Nnb KHXH, H, 1984 lại

có tới hai định nghĩa về tạp văn

Định nghĩa 1: Tạp văn là những áng văn nghị luận có tính nghệ thuật, phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tùy cảm, tiểu phẩm, bình luận ngắn Đặc điểm nổi bật là ngắn gọn (Trang 333).

Định nghĩa 2: Tạp văn là những bài văn lớn của nhà văn Trung Quốc - Lỗ Tấn, viết theo một thể loại đặc biệt bao gồm những bài cảm nghĩ nhỏ, luận văn, tùy bút th từ, nhật

kí, hồi ức (Trang 333)

Trơng Chính trong lời giới thiệu tạp văn tuyển tập, Nxbvăn học, H, 1963 cũng đa ra cách hiểu của mình về tạp văn

nh sau: Tạp văn là một thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn trong

ba mơi năm hoạt động văn học của ông, nhng thật ra không phải là một thể loại mới Xét nguồn gốc và phong cách của nó thì tạp văn chính là kế thừa và phát triển hình thức tán văn trong văn học cổ điển Trung Quốc.

Lơng Duy Thứ thì cho rằng: “Tạp văn là một thể loại vănhọc nảy sinh từ cuộc cách mạng t tởng và văn hóa Ngũ Tứ làthành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn qua hai mơi năm hoạt độngvăn nghệ”

[Lơng Duy Thứ, Giáo trình văn học Trung Quốc Nxb Giáodục, H, 2007]

Dơng Tấn Hào viết: “Theo nghĩa đen thì hai chữ “tạpvăn” dùng để chỉ những thể văn đoản thiên không đồng

Trang 19

một thể với các tập thi ca, tản văn, tiểu thuyết và bi kịch đãthịnh hành từ xa Ngày nay bản chất thứ tạp văn đã biến tớng

và danh từ đó hiện giờ đã chuyên chỉ lối văn đoản thiênnhững thiên tạp trở giàu về tính cách tranh đấu”

[Thai Mai, tạp văn trong văn học Trung Quốc ngày nay,Nxb Mới, 1945, Tr 21]

Lê Xuân Vũ: Tạp văn là một hình thức văn học mới, nảymầm từ cách mạng văn học và t tởng Ngũ Tứ, là thành tựu

đặc biệt của Lỗ Tấn trong văn nghệ, là kết tinh của ba mơi

năm chiến đấu văn học của ông Tạp văn hoặc Tạp cảm là tên

do chính Lỗ Tấn đặt cho nó [34, tr.143]

Tất cả cách hiểu, cách định nghĩa về tạp văn đã nêutrên đều đã gọi đợc đúng tính chất và đặc điểm cơ bảnnhất, khái quát nhất về thể loại tạp văn nói chung Khái niệmtạp văn của Lỗ Tấn: “Thật ra tạp văn không phải là phải hàng

mới bây giờ trớc kia đã có rồi” Phàm là văn chơng nếu xếp

loại mà xếp bất kể thể gì, mọi thể đều xếp một chỗ cả,thế là thành tạp [3, tr 229]

Theo chúng tôi tạp văn là một thuật ngữ nằm trong hệthống các thuật ngữ “tạp văn”, “tạp chí”, “tiểu thuyết”,… cónguồn gốc từ Trung Quốc Do tập quán gốc gác của ngờiTrung Quốc là tập quán tự diễu, thậm xng nên nhiều thuậtngữ khoa học mang màu sắc biểu cảm, đánh giá Vậy nên,nội dung thông tin khách quan - một thuộc tính căn bản củathuật ngữ khoa học đã vô tình bị phơng hại Theo cách hiểunguyên nghĩa thể “tiểu thuyết” là những thứ vụn vặt,chuyện nhỏ, đợc coi là loại văn chơng không nghiêm túc,

Trang 20

trong khi đó, các ngôn ngữ Âu Mĩ gọi là “roman” là thể tự sự

có dung lợng trang viết lớn, có quy mô về không gian, thờigian tự sự lớn nhất “Tạp chí” có nghĩa nh là việc ghi chépnhững chuyện vụn vặt, không kén chọn, tạp nham, nhng khi

ta dùng trong “tạp chí khoa học”, “tạp chí cộng sản”,…thì nó

là một loại ấn phẩm hoàn toàn nghiêm túc, đúng đắn Theo

đó, “tạp văn” tức là loại văn ghi chép những chuyện tản mạn(tơng tự cách gọi đó còn gọi là “tản văn”) Từ “tạp văn” vốnxuất hiện trong sách “Văn tâm điêu long” của Lu Hiệp nhngdùng để chỉ chung các thể loại văn chơng Tạp văn với t cách

là một thể văn chính thức ra đời vào cách mạng Ngũ Tứ(1917- 1924) chỉ những bài luận văn ngắn, giàu tính chiến

đấu, thờng xoay quanh một số vấn đề xã hội, lịch sử, vănhóa, chính trị,….Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn,

đa dạng, phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời những vấn

đề bức xúc trong xã hội bằng những ý kiến đánh giá rõ ràng

và sắc sảo Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Lỗ Tấn là tácgiả đợc đánh giá có nhiều thành tựu ở thể tạp văn Suốt cuộc

đời hoạt động và sáng tác của mình, Lỗ Tấn dùng nhiều tâmhuyết để viết tạp văn, đồng thời để nâng t tởng và nghệthuật của thể loại này lên một tầm cao mới, khiến tạp vănthành một bộ phận quan trọng trong lịch sử văn học hiện đạiTrung Quốc

Tạp văn thờng gắn với báo chí ở Việt Nam, trớc cáchmạng tháng tám, một số nhà văn kiêm nhà báo nh Huỳnh ThúcKháng, Ngô Tất Tố, Phan Khôi,… cũng từng sáng tác nhiều tạpvăn Sau cách mạng, nhiều bài văn chính luận ngắn gọn nh-

Trang 21

ng hãm hØnh ®¨ng trªn mét sè b¸o còng thuéc thÓ lo¹i t¹pv¨n Tuy kh«ng cã thµnh tùu thËt næi bËt nhng thÓ t¹p v¨n ®-

îc nhiÒu nhµ v¨n thö søc §ã lµ c¸c t¸c gi¶ §ç Chu, NguyÔnKh¶i, B¨ng S¬n, NguyÔn Träng T¹o, NguyÔn Quang LËp,…

1.2.2 §Æc ®iÓm t¹p v¨n

Do bối cảnh xã hội ngày nay phát triển, con người bị chi phối bởi nhiềuyếu tố của đời sống xã hội Nên văn chương muốn đi vào đời sống phải làmón ăn dễ tiêu nên hình thức ngắn gọn súc tích Tạp văn có thể là những ángvăn giàu chất trữ tình cũng có thể hiện về tình cảm chính luận Nhưng điểmmẫu chốt ở trong đó bao hàm một thái độ đánh giá của cá nhân người viết

Trong văn học Việt Nam có một số tác giả đã thành công ở thể tạp vănnhư: Ngô Tất Tố, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Khải, Tạp văn của Nguyễn

Khải từ đầu thời kỳ đổi mới cho đến Nhµn đàm của Hoàng Phñ Ngọc

T-êng Những năm cuối của thập niªn 90 đã cho thấy thÓ lo¹i t¹pv¨n cã khả năng theo sát các vấn đề chính trị, xã hội với tính chính luận sắcbén, triết lý sâu sắc, gần đây cïng với các thể loại khác tạp văn đang trởthành mỗi quan tâm của nhiều độc giả Nó như một món ăn tinh thần hàngngày, cần thiết và có xu hướng được lựa chọn hơn ở các cây bút tạp văn ngàycàng có mặt nhiều trên các tờ báo và nhiều cuốn sách ra mắt với sự góp mặtcủa đầy đủ các thế hệ Nguyễn Khải (Tạp văn), Đỗ Chu (Tản mạn trước đÌn),Nguyên Ngọc (Tản mạn nhớ và quên, Lắng nghe cuộc sống, Nghĩ dọc đường)

Tạ Duy Anh (Ngấu hứng sáng chiều tối), Nguyễn Ngọc Tư (Tạp văn), MặcCan (Tạp bút)

Với sự phát triển mạnh mẽ của thời đại thông tin và diễn biến của nhịpsống hiện đại, tạp văn trở thành thể loại có ưu thế bởi tính chất ngắn gọn, cóthể chớp được một ý nghĩa, một khoảng khắc suy tư, một thoáng liên tưởngmang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, nhờ đó mà nó đến được những khía

Trang 22

cạnh khỏ sâu xa một cỏch bất ngờ và tỏc động trực tiếp đến tư duy, tỡnhcảm, cảm xúc của người đọc Khi hướng tới tạp văn, văn học đó chỳ ý hơnđến tớnh tư tưởng trong nhận thức cỏc vấn đề xó hội và sự đa dạng hoỏ quanniệm của cỏch thể hiện suy nghĩ độc lập và cỏch kiến giải riờng Tạp văn cúdung lượng ngắn, nờn dễ kớch thớch khả năng suy nghĩ, đối thoại của độc giả.Cũng chớnh vỡ vậy, tạp văn đũi hỏi ở người viết sự tinh tế và sắc sảo cũng như

sự sỏng tạo trong lối viết Một lý do nữa mà tạp văn trở nờn hấp dẫn, đú lànhững vấn đề của hoàn cảnh xó hội phức tạp, sự đan xen của nhiều nền vănhoỏ, sự đảo lộn cỏc giỏ trị quan điểm riờng của mỗi người Sự phản hồi củamỗi cỏ nhõn và cũng là nhu cầu bộc lộ của bản thõn của mỗi nhà văn núi nhưMạc Ngụn: văn khi đó viết truyện, tiểu thuyết, thường phải làm ra vẻ chữngchạc hoặc thần bớ, độc giả rất khú nhỡn thấy bộ mặt thật của anh ta thụng quacuốn truyện, song đối với loại văn chương tạp nham mà ta có thểgọi là tạp văn khi viết tác giả thường quen dấu giếm, cho nêndung mạo thật sự của anh ta rất dễ lộ ra

(Tạp văn Mạc Ngụn - Vừ Toỏn dịch, NXB VH, H, 2006)

Từ khoảng 1974, tạp văn Nguyễn Khải trờn bỏo nhõn dõn vớinhững suy ngẫm cảnh báo về một triết lý sống

VD: kẻ vụ trỏch nhiệm đang hỡnh thành nhất là sự thức nhõn về khoảngcỏch thế hệ như "Một người ủng hộ lực lượng trẻ, chỳng tụi chăm súc nhữngtài năng, núi về một ngưũi bạn trẻ … đó được dư luận đún nhận nồng nhiệt.Tiếp tục gắn bú với tạp văn ở chặng đường kế tiếp theo, khi cụng cuộc đổimới đang diễn ra sụi nổi Nguyễn Khải thể hiện những trải nghiệm cỏ nhõn vềcon người và thời gian, cả những hoài nghi và xỏc tớnh một cỏch chõn thành

nhất Nhàn đàm của Hoàng Phủ Ngọc Tường thực chất là những bài tạp

văn đưa ra những kiến giải riờng của nhà văn về cuộc sống xó hội nhõn tỡnh

Trang 23

thế thái Mà qua đó ta được gặp một con người dồi dào vốn sống, vốn vănhoá, tri thức và đồng ý thức trách nhiệm.

Là những trang viết sâu sắc giàu trí tuệ cũng như cảm xúc dư luận, suy

tư về văn hoá, phong tục cảnh sắc thiên nhiên đất nước và con người như

“Tản mạn trước đèn” tạp văn §ç Chu… Là thể loại tự do nhưng sự linh hoạt

trong nghệ thuật viết cũng chính là một thế mạnh tạo nên sức hấp dẫn của tảnvăn đổi mới

Tạp văn lµ thÓ lo¹i đa giọng điệu châm biếm, hài hước và giàu tínhtriết luận Dung lượng ngắn nhưng tạp văn có sức nén lớn, dồn chứa tư tưởng

và quan điểm của người viết tác động trực tiếp đến người đọc một cách hiệuquả Với tư cách là một thể loại nhạy bén, tạp văn có khả năng đáp ứng mộtcách cao nhất nhu cầu đặc biệt được nói sự thật, hệ quả tất yếu của tính dânchủ Khả năng đối thoại, đề xuất những kiến giải riêng trên cơ sở trải ngiệmcủa cá nhân đã tạo nên chiều sâu nhận thức và sức hấp dẫn của thể loại đócũng chính là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên tính mở của tạpvăn trong thời kỳ bïng nổ th«ng tin hiện nay

Trang 24

Nguyễn Quang Lập là hội viên của hội nhà văn Việt Nam

1987, Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Hội điện ảnh ViệtNam và Hội nhà báo Việt Nam

Ông là một ngời thông minh, hóm hỉnh, nói năng tếutáo, có khi bốc đồng nhng rất thật bụng, là ngời thắng tínhnên ông không ít những ngời ghét Sau đại hội nhà văn trẻlần III (1987) ở Hà Nội, các nhà văn đợc tham quan nhà máyThủy điện Hòa Bình đang xây dựng Trên xe, nhà văn đã

kể chuyện tếu làm mọi ngời cời nghiêng ngả Những chuyện

nh nhà văn Huế ngu ngơ lặn lội vô Sài Gòn mua thuốc bổcho vợ uống để vợ “múp”, sờ cho mát tay lại mua phải thuốctăng trọng lợn; chuyện xây nhà lầu cho văn nghệ sĩ khôngcần xây hố xí v.v Ông là ngời thẳng tính nên trong cuộc

sống không ít ngời ghét Trong bài báo viết về “cái tâm nớc

bọt” của ông ít ngời trong ngành điện ảnh gần đây, ông

kể : “Vơng Đức xa làm phim cỏ lau, tìm trợt mặt một diễnviên đóng vai nữ phụ, mừng hơn cha chết sống lại Cô nàynói em từ chối nhiều vai rồi, nhng vai này hay lắm khổ mấy

em cũng làm Cô này lại nói Quảng Trị là chiến trờng ba emchiến đấu chết em cũng đi Vơng Đức nghe suýt trào nớcmắt Đến khi nói truyện tiền nong, cô đòi một đồng tiềncao ngất, gấp đôi vai diễn chính, Vơng Đức cũng cắn răngnghe theo Tởng thế là xong, đến ngày vi hành cô gọi điện

đòi thêm một đồng tiền cao ngất nữa, nói tiền bảo hànhcho bộ giò của cô Vơng Đức nghe suýt té xỉu, đành thankand bye ngời đẹp cùng với cái tâm nớc bọt của cô” Viết thật

Trang 25

nh vậy dễ bị ngời ta ghét Nhng nh thế mới chinh phục đợc

độc giả ngày càng khó tính

Năm 1986 - 1988, ông sống trong một gian phòng bốnmét vuông vừa kê đủ cái giờng ngủ ở 22 - Lê Lợi - Huế Giữalúc đó, ông gặp cô gái Ba Đồn Nguyễn Thị Hồng (nay là vợcủa ông) vừa đi lao động ở Liên Xô về, có khuôn mặt trắngtrẻo, lúm đồng tiền, phúc hậu lại cùng quê ông xây dựng gia

đình trong thời gian đó

Năm 1989, ở Huế xảy ra chuyện tranh luận giữa nhữngngời ủng hộ tiền chiến (những bài hát của Văn Cao, DơngThiệu Tớc, Nguyễn Văn Thơng trớc 1945) và những ngời chonhạc tiền chiến là nhạc vàng Ông luôn ủng hộ phổ biến nhạctiền chiến

Năm 1999, Nhà văn đã bị tập tễnh do một vụ tai nạngiao thông

Năm 2007, bắt đầu tiếp xúc với blog, làm chủ nhân

blog Quê choa, chỉ hơn một năm Quê choa trở thành blog có

số lợng ngời truy cập gần 500.000 lợt Những mẩu truyện nh

đùa nh thật đợc đa lên blog từng ngày để thăm dò phản ứngcủa độc giả, và ông đã thực sự cảm thấy an tâm, hào hứngtrong cuộc thử nghiệm lối văn chơng mới mà theo ông gọi là

Khẩu văn đã đợc sự hởng ứng nồng hậu của các c dân mạng.

Blog của nhà văn Nguyễn Quang Lập đợc gọi là chiếu rợu Quêchoa Năm 2008 sau những thành công về kịch bản cho các

bộ phim, ông đã thành lập công ty Scripts, một công tychuyên về kịch bản là công ty về kịch bản đầu tiên ở ViệtNam

Trang 26

Nhận định về nghề tác giả nói: Tôi luôn xác định rõ

đối tợng của mình là khán giả từ 25 tuổi trở lên và những ngời có văn hóa cao Họ xem phim tôi để nghiền ngẫm và suy tởng chứ không phải chỉ giải trí thuần túy Đời cát và Thung lũng hoang vắng sở dĩ thành công vì tôi xác định

đúng đối tợng phục vụ và mục đích làm phim là để cống hiến cho nghệ thuật chứ không thuần túy là câu khách

1.3.1.2 Quá trình sáng tác

Nguyễn Quang Lập đợc công chúng biết đến nhiều ởlĩnh vực điện ảnh, sân khấu hơn là văn học Ông làm thơ từnăm 20 tuổi, cho đến năm 30 tuổi thì bắt đầu viết vănxuôi, viết kịch, phim rất nhiều

Tác phẩm của ông trải dài trong nhiều mảng bao gồmvăn học, kịch, kịch bản điện ảnh v.v Trong lĩnh vực văn

học có những tác phẩm nh: Một giờ trớc lúc rạng sáng (tập truyện ngắn, 1986), Kỷ niệm thời trai trẻ (1988), Ngời thổi

kèn Trom pet, Những mảnh đời đen trắng (tiểu thuyết,

1989), Tiếng gọi nơi mặt trời lặn (Tập truyện ngắn, 1989),

Mời tám truyện ngắn Nguyễn Quang Lập (1997) đợc đánh

giá là đã khiến cho ngời đọc phải chùng lòng,

Về kịch bản: Mùa hạ cay đắng, Trên mảnh đất đời

ng-ời Vào tháng 10 năm 2005, Nhà hát kịch Hà Nội công diễn vở

“Những linh hồn sống” với kịch bản của ông khắp ba miền

Bắc - Trung - Nam Việt Nam

Kịch bản điện ảnh Đời cát (giải vàng liên hoan phim

châu á - Thái Bình Dơng, giải Bông sen vàng liên hoan phim

Việt Nam lần thứ 13 và nhiều giải thởng khác) Thung lũng

Trang 27

hoang vắng (giải Fipresci, Bông sen bạc tại liên hoan phim

Việt Nam lần thứ 13) cũng trong liên hoan phim Việt Nam lần

thứ 13, với thành công của Đời cát và thung lũng hoang vắng,

Nguyễn Quang Lập đợc trao giải nhà biên kịch xuất sắcnhất

Cuốn tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng (1989)

ra đời với bao lời khen, cùng với búa rìu d luận Có nhà phê

bình cho rằng nhà văn đang phủ nhận, bôi đen, cời cợt đối

với lịch sử Nhng cái mà nhà phê bình gọi là phủ nhận, cời cợt

ấy chính là cái chất ngời thật - con - ngời nhân loại trongtừng nhân vật mà ông đã phát hiện ra Vì nhân vật ôngmang đến cho nền văn học Việt Nam thờng là những nhânvật éo le, bi kịch, thậm chí kì dị, ai cũng mang đầy mìnhnhững mất mát, đau khổ trong chiến tranh Mà chuẩn mực

đạo đức thẩm mĩ khi đó ta tốt - địch xấu, ta thắng - địchthua nên nhà văn bị búa rìu d luận rất nhiều Phải nói rằngNguyễn Quang Lập là một trong những nhà văn đa cáchnhìn mới về chiến tranh với tất cả những bi thơng, đau đớnvốn nh nó đã xảy ra vào truyện Nhờ thế mà bức tranh hiệnthực chiến tranh trở nên chân thật, sinh động

Văn đàn thời gian qua dờng nh xáo động bởi cuốn tạp

văn chọn lọc của nhà văn Nguyễn Quang Lập có nhan đề Kí

ức vụn do nhà xuất bản Hội nhà văn phối hợp với trung tâm

văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản Sau hai mơi năm, kể

từ khi cuốn Những mảnh đời đen trắng, Nguyễn Quang Lập

mới lại ra sách, điều đó khiến bạn bè văn chơng, bạn đọc

mừng cho ông Thực ra Kí ức vụn đã đợc tác giả công bố trên

Trang 28

blog của mình Chính những bài viết đó khiến blog Quê

choa của Nguyễn Quang Lập đợc nhiều ngời chú ý, hàng vạn

ngời truy cập mạng để đọc tác phẩm của ông Kí ức vụn là sự góp nhặt một số bài viết ông đã phổ biến trên blog Quê

choa và đợc chia làm từng phần nh những ngăn đời của tác

giả:

Những ngời bạn khó quên, buồn vui một thủa, ngời từng gặp, Thơng nhớ mời ba, Bạn văn Mỗi chuyện đợc kể bằng

giọng văn rặt chất “bọ” của những ngời cùng quê Quảng

Bình, một lối văn tuy viết bằng chữ trên giấy mà ngời đọc

cứ có cảm giác nh mình đang đợc nghe kể bằng vô số thanh

âm hài hớc, lạ tai bằng những con chữ ngổn ngang tợnghình nh có thể lật sấp, lật ngửa trang giấy lên So với cách kểrặt tiếng địa phơng Nam Bộ của Nguyễn Ngọc T, cách kểcủa Nguyễn Quang Lập đợc nâng thêm một nấc thang nữacủa lối văn nói đầy ắp chất cời của dân gian Ông nói tục tựnhiên đến lạ, tự nhiên đến mức nh đó là truyện ăn ngủbình thờng của ngời đời, vì nó sử dụng quá thờng xuyên nên

nó bỗng trở thành một thứ gần nh độc quyền trong văn ông

Tạp văn của ông dờng nh là những câu chuyện rất thậtcủa tác giả vì lồng trong từng mẩu chuyện, bao giờ cũng cóbóng dáng của “Cu Lập” trong đó Nhng thực hay h đó làchuyện của nhà văn Vấn đề là chuyện kể thuyết phục đợcngời đọc và ngời ta tin tất cả những gì đợc viết trên tranggiấy chính là chuyện của cuộc đời thực Và bên cạnh cuộc

đời ấy là những ngời “bạn văn” nh tác giả gọi, những ngời đi

qua cuộc đời và để lại ít nhiều ấn tợng với ông, nhiều mẫu

Trang 29

đợc vẽ bằng lối biếm họa cố hữu, với những nét đậm nhạtnhấn nhá trên từng tính cách của từng ngời Viết về kí ức,nhng Nguyễn Quang Lập đã không đặt quá khứ lên bệ thờ

mà vừa giễu nhại, vừa cợt nhả, lại vừa bao bọc cái kí ức ấytrong một không gian đầy chất thơ và tự bóc mẽ mình trong

Đại ca, cũng có khi giễu cợt thói hám danh, sĩ diện của những

ngời dân làng mình trong Hot boy I, Hot boy II, diễu cái tinhthần tiết hạnh khả phong của các bà, các cô có chồng đikháng chiến nhng hằng đêm vẫn tằng tịu với anh Cu Đô, mặccái áo rộng thùng thình không thèm mặc quần cho đỡ mấtthời gian hành sự, giễu cái láu giấu dốt của các nhà văn bạnmình trong “Niệu liệu pháp” Hay cời hóm hỉnh đôn hậu,tán dơng cái tinh thần phồn thực mạnh mẽ của dân ta khi viết

về ông bảy vợ, chị nhiều chồng (Đa phu) Đó là những mảnhvụn khiến ngời ta vừa bật cời sảng khoái vừa phải suy ngẫm

về cuộc đời Những kí ức của Nguyễn Quang Lập không chỉ

là những cợt nhả và giễu cợt Văn của ông bớt bông hơn và trởnên sâu lắng khi viết về những kí ức một đi không trở lại,hay có chăng trở lại cũng chỉ có thể hắt lên một cái bóng yếu

ớt nhỏ nhoi về sự hiện diện tội nghiệp và đầy bâng khuângcủa dĩ vãng Đó là những mảnh vụn khiến ngời ta bật khóc,

và chính tác giả cũng không giấu giếm mình đã khóc Đó lànhững mảnh vụn kí ức năm hào, kí ức về chị Du, về cô giáoDạ Thi, về con chó John, thơng nhớ vỉ hè, kí ức về mối tình

đầu đẹp và mộng nhng cũng găm đầy cỏ may Tạp văncủa Nguyễn Quang Lập đợc bao bọc trong một chất thơ cảm

động của quá khứ, không chỉ là chất thơ từ những cảnh sắc

Trang 30

thiên nhiên một thời thơ ấu Nó thơ hơn, bởi nó là kí ức củanhững gì đã mất Mảnh vụn thứ ba trong kí ức của NguyễnQuang Lập là những kí ức vẫn đang chảy thành dòng đếnhiện tại Nó không bị nỗi mất mát nào chặn lại Đó là những

kí ức về những ngời bạn đến giờ vẫn còn gặp gỡ, kí ức vềnhững bạn văn thân thiết, những bữa nhậu trắng đêm cònkéo dài từ quá khứ đến tận bây giờ, những ngời bạn tri kỉ

mà quá khứ vẫn sắt son nh hiện tại

Bằng ngôn ngữ đôi lúc “tng tng”, “cù rờ cù rựng” và dùng cả những từ ngữ nằm trong “vùng cấm kị” đến mức “tầm

bậy tầm bạ” Nhng thật kỳ lạ, nếu thiếu những ngôn ngữ ấy

thì các mảnh kí ức sẽ vắng hẳn nét riêng trong văn chơng

của “bọ Lập” Nhà văn tâm sự “Sau khi cời song, ngời ta nhận

ra chút gì đó ngậm ngùi, đăng đắng là cách tôi vẫn hay làm” Và đúng vậy khi đến với tạp văn của ông, có những

mảnh kí ức khiến ngời ta bật cời, nhng cái cời ấy bao giờcũng đan lồng một nỗi rng rng Cái thanh khiết ở mỗi con ng-

ời chính là họ đã sống và cảm nhận đúng ý nghĩa cuộc đờicủa họ Nhng cái bất hạnh của mỗi cuộc đời chính là sựnghiệt ngã của lằn roi số phận

Giá trị tạp văn Nguyễn Quang Lập đợc kết tinh lên từnhiều nhân tố: đó là việc lựa chọn đề tài, chủ đề, là khảnăng phản ánh hiện thực quá khứ và năng lực sử dụng ngônngữ nh những tín hiệu nghệ thuật mang đậm cá tính sángtạo của nhà văn

Từ góc độ ngôn ngữ học, đề tài này, chúng tôi hy vọng

đa ra những nhận xét mang tính chất bớc đầu về ngôn ngữ

Trang 31

tạp văn Nguyễn Quang Lập, một trong những yếu tố tạo nên

sự thành công của nhà văn Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát từngữ, các biện pháp tu từ và câu văn để rút ra đặc điểm sửdụng thể hiện cá tính sáng tạo của tác giả

1.4 Tiểu kết chơng 1

Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật đã đợc lý giải trong sự

so sánh với ngôn ngữ tự nhiên (phi nghệ thuật) Ngôn ngữ tạpvăn là một loại hình quan trọng trong ngôn ngữ nghệ thuật

Nó mang những đặc điểm dễ dàng nhân diện ở mặthình thức, ngữ nghĩa và vai trò trong việc hình thànhphong cách nhà văn

Nhà văn Nguyễn Quang Lập là một cây bút trởng thànhtrong quân đội có sự sáng tạo dồi dào, độc đáo Ông đã cónhững thành công trên nhiều lĩnh vực, điện ảnh, sân khấu,tiểu thuyết đặc biệt tạp văn thể hiện ở việc khai thác đềtài, sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tợng nghệ thuật

Ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập “Cù rờ cù rựng”, “tầm

bầy tầm bạ”, thô tục Nhng đằng sau đó là sự ngầm ngùi,

đăng đắng ẩn chứa những nội dung ngữ nghĩa sâu sắc

và giàu tính triết lí về cuộc đời

Trang 32

vị tạo nên từ, cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩakhác nhau của từ.

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ đợcvận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựngnên câu” [10, tr.165]

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ

âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; đợc vậndụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.” [10,tr.170]

Trang 33

“Từ là đơn vị đặc biệt có thể diễn đạt một nội dungtối thiểu đầy đủ và phân biệt với các đơn vị ngôn ngữkhác

Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng

độc lập mang nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp Chúng ta gọi

từ là đơn vị trung tâm, vì từ có đầy đủ những tiêu chuẩncủa đơn vị ngôn ngữ cơ bản và là đơn vị quan trọngnhất.”

(Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb

GD, H, 1968, tr 33 - 34)

“Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ Nó là một đơn

vị hoàn chỉnh tức các bộ phận thành tố của nó kết hợp thànhmột khối thống nhất chặt chẽ không rời rạc hay nói nh Xmia -nit - xki là có tính định hình” [32, tr 17]

“Từ là một đơn vị cụ thể của ngôn ngữ Khi nói đếnmột ngôn ngữ là phải nghĩ ngay đến từ vì ngôn ngữ màkhông có từ thì không tồn tại đợc Với t cách là một công cụgiao tiếp, trớc hết ngôn ngữ phải là một công cụ bằng từ”

(Nguyễn Văn Tu, Khái luận ngôn ngữ học, Nxb GD, H,

1960, tr 147)

“Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng

là một hình thức ngữ pháp đợc các thành viên của một tậpthể hiểu nh nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh

và hình thức Tuy vậy âm thanh và hình thức chỉ là nhữngphơng tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng cha phải là từ.Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới

có khả năng biểu đạt t tởng.”

Trang 34

(Đỗ Hữu Châu, Giáo trình Việt ngữ (tập 2, từ hội học),Nxb GD, H, 1962, tr 3)

Theo sự suy nghĩa của chúng tôi, từ là đơn vị cơ bản

của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp [30, tr 64]

“Trong ngôn ngữ, từ là ngữ đoạn có tính chất địnhtên, một số tính chất định chức hoặc chỉ có tác dụng hỗ trợ

(Nguyễn Nguyên Trứ, Một số suy nghĩ xung quanh việcxác định từ láy đôi trong tiếng Việt hiện đại, “Ngôn ngữ” 3,

H, 1970, tr 58)

“Từ giống cụm từ cố định ở chỗ chúng đều đợc táihiện dới dạng làm sẵn, khi sử dụng trong lời nói; chúng đã cố

định về thành phần và cấu trúc, đều bền vững về ngữnghĩa và tính chất tu từ - biểu cảm Điều khác nhau giữachúng là thành phần cấu tạo: cụm từ cố định gồm từ hai thực

từ trở lên, còn từ thì đợc cấu tạo bằng hình vị.”

(Trơng Đông San, Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt,

“Ngôn ngữ” 1, H, 1974, tr 2)

Trang 35

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ởtrong câu: Nhng không phải bất kì một từ nào cũng là một

“Tất cả những đặc điểm từ pháp, cú pháp quan trọng

đó đều bắt nguồn từ một đặc điểm gốc mà mọi ngời

đều biết là từ tiếng Việt không có biến hóa hình thái”.(Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H,

1975, tr 45)

“Trong tiếng Việt từ không biến hóa hình thái”

(Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H,

Trang 36

(Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, NxbKHXH, H, 1976, tr 104)

“Từ là một hình thái ngôn ngữ tự do, không thể chia

thành những hình thái tự do nhỏ hơn Ví dụ: Tay, chân,

chim, nhà v.v Theo định nghĩa trên đây, những đơn vị

sau đây không thể xét chúng nh là một từ đợc: hòa bình,

(Lê Văn Lý, Cách thức cấu tạo và tổ hợp của từ ngữ Việt

Nam, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, về mặt từ ngữ,

Trang 37

(Lu Văn Lăng, Xác định quan niệm từ ngữ trong tiếng

Việt, “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, về mặt từ

ngữ”, Nxb KHXH, H, 1981, tr 12)

“Từ ngữ không phải là đơn vị nhỏ nhất, mà là ngữ

đoạn, nên đều có khả năng dùng tách biệt (hai đặc điểmnày mật thiết với nhau) Nhng đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhấtmới là từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất Nói cáchkhác từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất”

(Lu Văn Lăng, Xác định quan niệm từ ngữ trong tiếng

Việt “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, về mặt từ

ngữ”, Nxb KHXH, H, 1975, tr 12)

“Đặc điểm cơ bản của từ giúp ta dễ phân biệt từ vớicác đơn vị cấu tạo từ là hình (trong từ vựng) và tiếng (trongngữ pháp) là khả năng dùng tách biệt”

(Lu Văn Lăng, Xác định quan niệm từ ngữ trong tiếng

Việt, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, về mặt từ ngữ,

Nxb KHXH, H, 1981, tr 12)

“Để khỏi phải tham gia vào cuộc tranh luận về vấn đề

từ là gì, chúng ta tạm thời chấp nhận định nghĩa sau đây

về từ của tiếng Việt: từ của tiếng Việt là một hoặc một số

âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữpháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định,tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trongtiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [6, tr.14]

“Từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của lời nói, có tính

độc lập”

Trang 38

(Nguyễn Thiện Giáp, Tính độc lập không độc lập của

đơn vị ngôn ngữ, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, về

(Lu Vân Lăng, Vị trí của từ và những đơn vị cấu tạo

từ trong hệ thống ngôn ngữ “ngôn ngữ” 3, H, 1984, tr 52)

“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ýnghĩa dùng để tạo câu nói: nó có hình thức của một âmtiết, một “chữ” viết lời” [13, tr 72]

“Bất kì đơn vị nào, lớn nhất trong hệ thống của mộtngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu thì đều là từ (3)

(3) Đây là nói những đặc trng chủ yếu của từ, hình vị

và các đơn vị khác Thực ra có rất nhiều trờng hợp trunggian” [6, tr 6]

“Từ là đơn vị ngôn ngữ mà bắt đầu từ nó ngôn ngữmới thực hiện chức năng giao tiếp và chức năng

Trang 39

(Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ tiếng Việt,

d Nhng nó lại là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn

vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu [6, tr 7]

“Từ là một đơn vị hai mặt: mặt hình thức và mặt ýnghĩa Mặt hình thức theo chúng tôi, là một hợp thể củamột số thành phần: thành phần ngữ âm (còn gọi là ngoạibiểu), thành phần cấu tạo (còn gọi là cấu trúc của từ) vàthành phần ngữ pháp”

Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ tiếng Việt,

NXB KHXH, H, 1986, tr 21)

“Từ tiếng Việt là những phân đoạn ngữ âm cố định,bất biến, phản ánh một cách trực tiếp theo quan hệ 1/1 số l-ợng hình vị và phơng thức cấu tạo; toàn bộ ứng với một hoặcmột số từ - ngữ nghĩa gồm một khuôn từ loại và những nétnghĩa riêng cho mỗi từ và ứng với một tập hợp những đặc

điểm ngữ pháp chủ yếu mà ngoài từ phù hợp với mỗi từ - ngữnghĩa Đó là những đơn vị trong hệ thống từ vựng tiếngViệt - và nhỏ nhất để tạo câu, chứa đựng trong bản thânnhững cấu trúc từ - ngữ nghĩa, từ - cấu tạo và từ - ngữ pháp,chúng cho nhiều từ khác cùng loại”

Trang 40

(Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ tiếng Việt,

Nxb KHXH, H, 1986, tr 138)

“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố

định bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong mộtphơng thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuântheo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhấttrong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu”

(Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ tiếng Việt,

Nxb KHXH, H, 1986, tr 139)

2.1.2 Sử dụng từ địa phơng

2.1.2.1 Khái niệm từ địa phơng

Lâu nay, trong giới ngôn ngữ học có rất nhiều quanniệm khác nhau về khái niệm từ địa phơng Ngời ta đã đặt

ra nhiều tiêu chí khác nhau để xác lập về định nghĩa

ph-ơng ngữ và từ địa phph-ơng

Trong các giáo trình ngôn ngữ học đại cơng, giáo trình

từ vựng học, có nhiều tác giả đa ra định nghĩa về từ địaphơng Khi định nghĩa về ngôn ngữ địa phơng thì có sựphân biệt với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ văn hóa Có thểthấy rõ hai tiêu chí nổi bật mà các tác giả thờng nhắc đếnkhi định nghĩa về từ địa phơng đó là:

- Từ ngữ đó là biến thế của ngôn ngữ toàn dân.

- Phạm vi sử dụng bị hạn chế.

“Từ địa phơng là những từ dùng trong các phơng ngữ, các thể ngữ.” [19, tr 24]

“Từ địa phơng không ở trong ngôn ngữ văn học màthuộc về tiếng nói của một vùng nhất định Chúng mang

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê tần số xuất hiện từ địa phơng trong tạp văn NguyÔn Quang LËp - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng th ống kê tần số xuất hiện từ địa phơng trong tạp văn NguyÔn Quang LËp (Trang 38)
Bảng thống kê từ láy trong tạp văn Nguyễn Quang Lập - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng th ống kê từ láy trong tạp văn Nguyễn Quang Lập (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w